Có thể nêu một số quan điểm sau: - Quan điểm thứ nhất: Tái thẩm là thủ tục tố tụng do Tòa án cấp trên thực hiện theo trình tự pháp luật quy định để xét lại bản án, quyết định hình sự đã
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐẶNG THỊ THÙY VÂN
THỦ TỤC TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Thị Thanh Mai
Hà Nội 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong một công trình khoa học nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đặng Thị Thùy Vân
Trang 31.1 Khái niệm thủ tục tái thẩm trong tố tụng hình sự 7
1.3 Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về thủ tục
Trang 4NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật được đặt ra là nhằm quản lý xã hội, đảm bảo quyền tự do, công bằng, bình đẳng và quyền được bảo vệ các lợi ích hợp pháp của công dân Nhưng để pháp luật thực hiện được đúng vai trò đó của mình không phải
là điều dễ dàng mà nó phụ thuộc vào hai yếu tố chủ chốt là xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật
Một trong các chủ thể thực hiện vai trò quan trọng trong thi hành pháp luật là các cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có Tòa án Nhà nước giao cho Tòa án vai trò “cầm cân nảy mực” nhưng không phải trong mọi trường hợp Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác đều có thể thực hiện tốt nhiệm
vụ của mình mà trong một số trường hợp, vì lí do khác nhau có thể dẫn đến những sai lầm trong điều tra, truy tố và xét xử
Mặc dù các quy định của pháp luật TTHS đã xác định cơ chế hai cấp xét xử vừa bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, vừa là điều kiện để Tòa án cấp trên trực tiếp khắc phục những sai sót có thể có của Tòa án cấp sơ thẩm Song trên thực tế cơ chế này cũng chưa bảo đảm chắc chắn mọi bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án các cấp hoàn toàn đúng Vì nhiều lý do khác nhau, vẫn còn tình trạng oan, sai, bỏ lọt tội phạm, quyết định hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng
Vì thế, để khắc phục những sai sót của bản án hoặc quyết định đã có HLPL của Tòa án khi phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định thì các bản án, quyết định đó sẽ được xem xét lại theo trình tự tái thẩm Đây là thủ tục tố tụng quan trọng đảm bảo cho vụ án hình sự được giải quyết đúng đắn
Trang 6Tái thẩm không phải là một cấp xét xử thứ 3 mà là thủ tục xét lại bản
án hoặc quyết định đã có HLPL của Tòa án Bản án hoặc quyết định đã có HLPL được xem xét lại trên cơ sở có kháng nghị của người có thẩm quyền khi phát hiện các tình tiết mới mà các tình tiết mới này chưa được xem xét và đánh giá ở trong các giai đoạn xét xử trước Tuy nhiên, liên quan đến tái thẩm còn nhiều vấn đề nảy sinh từ thẩm quyền tái thẩm, số lượng các bản án, quyết định được xem xét theo trình tự tái thẩm đến quá trình xem xét các bản án, quyết định theo trình tự này
Thủ tục tái thẩm đã được quy định trong pháp luật TTHS của nước ta
từ năm 1959 và dần được hoàn thiện qua BLTTHS năm 1988 và nay là 2003 Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành những quy định của BLTTHS về thủ tục tái thẩm đã bộc lộ những bất cập, khiến cho việc áp dụng các quy định về tái thẩm trong thực tế còn nhiều vướng mắc, hạn chế Mặc khác, những quy định của BLTTHS về tái thẩm còn chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích một cách đầy đủ và thống nhất Do những hạn chế trong quy định pháp luật
và thiếu hướng dẫn thi hành cần thiết của cơ quan có thẩm quyền nên vẫn còn
có những quan điểm khác nhau về bản chất và ý nghĩa của tái thẩm; sự phân biệt giữa thủ tục tái thẩm và thủ tục giám đốc thẩm còn chưa rõ ràng; không thống nhất trong nhận thức và áp dụng các điều luật cụ thể về tái thẩm Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vấn đề này còn ít, còn có những quan điểm không thống nhất Vì vậy, việc nghiên cứu tái thẩm một cách toàn diện về lý luận và thực tiễn là điều cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu
Theo chúng tôi tìm hiểu thì hiện nay chưa có luận văn thạc sỹ nghiên cứu về đề tài liên quan đến thủ tục tái thẩm Đã có một số công trình nghiên cứu về tái thẩm ở nhiều mức độ khác nhau:
Những nghiên cứu có tính đại cương khái quát có thể kể đến những phần
viết về tái thẩm trong các cuốn giáo trình Luật tố tụng hình sự của trường Đại
Trang 7học Luật Hà Nội; các cuốn Bình luận khoa học BLTTHS năm 1988 của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ tư pháp (1992) và Bình luận khoa học BLTTHS năm 2003 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (2004) Những
nghiên cứu về tái thẩm trong các tác phẩm này chủ yếu chỉ là phân tích các điều luật Do vậy, các vấn đề về tái thẩm tuy khá toàn diện nhưng lại không mang tính chuyên sâu
Bên cạnh đó, có những nghiên cứu của các tác giả lại đề cập đến từng nội dung của thủ tục tái thẩm đăng trên các tạp chí chuyên ngành như các bài:
Về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm trong BLTTHS năm 2003 của tác giả Vũ Gia Lâm (Tạp chí Luật học, Số 10, năm 2006); Những điểm mới trong bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi về phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm của TS Nguyễn Đức Mai (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện nhà
nước và pháp luật, Số 5 năm 2004); Thực trạng thi hành quy định của bộ luật
tố tụng hình sự về những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm
và hướng hoàn thiện của Nguyễn Văn Trượng (Tạp chí TAND, TANDTC, Số
20 năm 2010)…Các tác giả đã đề cập chuyên sâu đến một số vấn đề của tái thẩm, tuy nhiên đó chỉ là các vấn đề nhỏ lẻ, không mang tính toàn diện, sâu rộng về thủ tục tái thẩm
Cũng có những nghiên cứu chuyên sâu về tái thẩm như một số cuốn
sách của tác giả Đinh Văn Quế Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự - những vấn đề lý luận và thực tiễn, xuất bản năm 1997 và cuốn Thủ tục xét xử các vụ
án hình sự, nhà xuất bản Tư pháp Hồ Chí Minh năm 2003…Trong các cuốn
sách này, tác giả đã phân tích các quy định của BLTTHS về tái thẩm Tuy nhiên, tác giả chủ yếu tìm hiểu thủ tục tái thẩm dựa trên sự giải thích các quy định pháp luật về tái thẩm mà không chú ý nghiên cứu những vấn đề lý luận
về tái thẩm
Ngoài những nghiên cứu về tái thẩm trong TTHS Việt Nam như đã trình bày, còn có một số nghiên cứu về các vấn đề khác nhưng có đề cập đến tái
Trang 8thẩm như bài viết của tác giả Trần Văn Độ Một số kiến nghị về hoàn thiện thẩm quyền xét xử của tòa án các cấp (Tạp chí TAND, số 6, năm 2001), luận
án tiến sỹ Giám đốc thẩm trong TTHS Việt Nam của tác giả Phan Thị Thanh
Mai (2007) nghiên cứu về giám đốc thẩm có những phần nội dung liên quan đến tái thẩm (phân tích những điều luật được áp dụng chung ở thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm, so sánh giữa hai thủ tục…)…
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về thủ tục tái thẩm trong TTHS, luận văn đề xuất những giải pháp để khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn tái thẩm, nâng cao hiệu quả tái thẩm
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ một số vấn đề chung về tái thẩm trong TTHS như bản chất, khái niệm thủ tục tái thẩm, ý nghĩa của thủ tục tái thẩm
- Phân tích đánh giá những quy định về tái thẩm trong BLTTHS năm 2003; phản ánh thực tiễn thi hành những quy định của pháp luật TTHS về tái thẩm, xác định hạn chế vướng mắc trong thực tiễn tái thẩm hình sự và tìm hiểu những nguyên nhân của hạn chế vướng mắc đó, từ đó đưa ra những giải
pháp cụ thể để nâng cao hơn thủ tục tái thẩm trong thực tế
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề chung về thủ tục tái thẩm trong TTHS; pháp luật Việt Nam và một số nước về thủ tục tái thẩm; thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật TTHS về tái thẩm ở Việt Nam Tuy nhiên, do điều kiện và thời gian nghiên cứu có hạn cho nên luận văn cũng chỉ tập trung vào một số vấn đền sau:
- Về mặt lý luận, luận văn nghiên cứu khái niệm và ý nghĩa của tái thẩm
Trang 9- Đối với pháp luật TTHS Việt Nam về tái thẩm, tập trung nghiên cứu BLTTHS năm 2003
- Thực tiễn tái thẩm được xem xét trên phạm vi cả nước trong giai đoạn
05 năm từ năm 2005 đến 2010
5 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và lý luận về nhận thức của triết học Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối, chính sách của Đảng về vấn
đề cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền Trên cơ sở phương pháp luận, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia, phương pháp lịch sử, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn khi nghiên cứu đề tài này
6 Những đóng góp của luận văn
Đây là công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu toàn diện, có hệ thống vấn đề tái thẩm Những kết quả nghiên cứu của luận văn
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng sau:
Về mặt lý luận: Luận văn này là chương trình nghiên cứu chuyên khảo đề cập đến việc phân tích có hệ thống những nội dung cơ bản của thủ tục tái thẩm theo luật TTHS Việt Nam Góp phần thống nhất nội dung
về bản chất, ý nghĩa của thủ tục tái thẩm
Về mặt thực tiễn: Luận văn đã phân tích đánh giá một cách khoa học những quy định hiện hành về thủ tục tái thẩm và thực tiễn tái thẩm trong những năm gần đây; xác định những vướng mắc bất cập trong quy định của thủ tục tái thẩm cần được hoàn thiện Đồng thời, qua đó đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về thủ tục tái thẩm
Cơ cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Trang 10Chương 1: Những vấn đề chung về thủ tục tái thẩm trong tố tụng hình sự;
Chương 2: Thực tiễn thi hành quy định của BLTTHS năm 2003 về thủ tục tái thẩm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tái thẩm trong tố tụng hình sự
Trang 11án thực hiện hai cấp xét xử để đảm bảo cho vụ án được xét xử đúng người, đúng pháp luật Khi bản án của Tòa có HLPL thì nó có tính bắt buộc chung và phải được đưa ra thi hành kịp thời Mặc dù vậy, bản án hoặc quyết định đã có HLPL không phải lúc nào cũng đảm bảo tính hợp pháp và tính có căn cứ Đôi khi, nó còn vi phạm pháp luật nghiêm trọng Trong trường hợp đấy, để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách chính xác thì cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét lại các bản án hoặc quyết định đã có HLPL đó
Hiện nay, trên thế giới quan điểm của các nhà khoa học pháp lý đối với vấn đề xét lại bản án đã có HLPL là không giống nhau, thậm chí là trái ngược nhau Có quan điểm cho rằng: “Để đảm bảo uy tín của mình, để duy trì trật tự
xã hội, bảo đảm tính ổn định cho các quyết định của Nhà nước, Nhà nước phải tuyên bố rằng các quyết định, các bản án khi đã có hiệu lực thì sẽ là chân
lý, có tính bắt buộc đối với tất cả mọi người mà không cần phải kiểm tra hay phủ định” [34, tr 114] Ngược lại quan điểm trên, quan điểm khác lại cho rằng cần phải có cơ chế xét lại bản án hoặc quyết định đã có HLPL: “Khi cơ quan tư pháp thực hiện một hành động, một công dân phải được quyền kháng cáo; nếu quyền kháng cáo đến cấp cao nhất đã hết, phải có một cơ chế nào đó
để có thể có một luật mới có hiệu lực cao hơn luật hiện có theo cách giải thích
và áp dụng của Tòa án” [23, tr 200]
Trang 12Trong tư pháp hình sự của các nước cũng có quy định về thủ tục xét lại các bản án hoặc quyết định đã có HLPL để khắc phục những sai lầm trong hoạt động xét xử Tùy từng hệ thống pháp luật khác nhau mà các nước có quy định không giống nhau về vấn đề này như sau:
- “Có quốc gia quy định chỉ có một thủ tục để xét lại đối với bản án hoặc quyết định đã có HLPL kể cả về vấn đề áp dụng pháp luật và cả vấn đề tình tiết mới như ở Mỹ, Đức Có nước chỉ xét lại bản án hoặc quyết định đã có HLPL khi xuất hiện tình tiết mới (tái thẩm) như Na Uy” [15, tr.15] Ngược lại, có nước lại chỉ quy định thủ tục giám đốc thẩm mà không quy định về thủ tục tái thẩm như Trung Quốc [36]
- Một số nước phân biệt hai thủ tục khác nhau: thủ tục xét lại các bản án hoặc quyết định đã có HLPL khi có vi phạm trong việc xử lý vụ án và thủ tục xét lại các bản án hoặc quyết định đã có HLPL khi phát hiện tình tiết mới như: Nhật Bản [38], Nga [39], Hàn Quốc [40]
Ở Việt Nam, thủ tục xét lại bản án đã có HLPL được quy định tại Phần thứ sáu của BLTTHS năm 2003 gồm 2 chương 29 điều quy định về thủ tục giám đốc thẩm - thủ tục xét lại các bản án hoặc quyết định đã có HLPL khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án và thủ tục tái thẩm khi phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có HLPL
Về khái niệm thủ tục tái thẩm: Từ điển Tiếng Việt không có giải nghĩa
về “thủ tục tái thẩm” mà phải ghép nghĩa của các từ: “thủ tục” có nghĩa là
“những việc cứ thế phải làm theo một trật tự đã quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức”, “tái” có nghĩa là “lại một lần nữa” và từ
“thẩm” có nghĩa là “xét kỹ” [7, tr 781 - 718] Vì phải ghép nghĩa của từng từ như vậy nên rất khó để có thể hiểu chính xác, đầy đủ nghĩa của từ ghép Cho nên, không thể dùng việc giải thích của Từ điển Tiếng Việt như trên để đưa ra khái niệm về thủ tục tái thẩm
Trang 13Trong lĩnh vực khoa học pháp lý còn có những quan điểm khác nhau về khái niệm tái thẩm Có thể nêu một số quan điểm sau:
- Quan điểm thứ nhất: Tái thẩm là thủ tục tố tụng do Tòa án cấp trên thực hiện theo trình tự pháp luật quy định để xét lại bản án, quyết định hình sự
đã có HLPL bị người có thẩm quyền kháng nghị khi có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định
đó nhằm khắc phục sai lầm nghiêm trọng trong giải quyết vụ án [6, tr 15]
- Quan điểm thứ hai: Thủ tục tái thẩm là một giai đoạn của TTHS, trong
đó tòa án xét lại bản án hoặc quyết định đã có HLPL bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó [3, tr 473]
- Quan điểm thứ ba: Tái thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa
án đã có HLPL, nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện
có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà tòa không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó [21, tr 102]
Các khái niệm trên về cơ bản là khá thống nhất với nhau trong việc xác định tính chất, phạm vi của thủ tục tái thẩm Các khái niệm đều xác định tái thẩm có tính chất đặc biệt, đó là việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có HLPL bị kháng nghị để kiểm tra tính có căn cứ trong các bản án hoặc quyết định của Tòa án Quan điểm thứ nhất cho rằng: “tái thẩm là thủ tục tố tụng do Tòa án cấp trên thực hiện theo trình tự pháp luật quy định để xét lại bản án, quyết định hình sự đã có HLPL bị người có thẩm quyền kháng nghị khi có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó…” là không hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục tái thẩm Hiện nay, theo quy định của BLTTHS thì nếu phát hiện ra tình tiết mới thì chỉ cần nghi ngờ rằng những tình tiết này
có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có HLPL
Trang 14thì cơ quan có thẩm quyền đã có thể tiến hành kháng nghị tái thẩm Chứ
không nhất thiết phải làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án thì mới tiến hành
kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Ngoài ra, theo chúng tôi, việc xác định mục
đích của tái thẩm là “nhằm khắc phục sai lầm nghiêm trọng trong giải quyết vụ án” là chưa hợp lý, vì tái thẩm không phải là một cấp xét xử vì vậy không thể
trực tiếp sửa chữa, khắc phục những sai lầm trong giải quyết vụ án
Quan điểm thứ hai tiếp cận tái thẩm dưới góc độ là một giai đoạn tố tụng Nếu tiếp cận tái thẩm dưới góc độ này thì cần phải làm rõ các dấu hiệu đặc trưng
để xác định đó là một giai đoạn tố tụng và phân biệt giai đoạn này với giai đoạn khác Đó là những dấu hiệu về cơ sở phát sinh, nhiệm vụ, phạm vi chủ thể, quan
hệ tố tụng, hoạt động tố tụng và những quyết định tố tụng đặc trưng của giai đoạn đó, quan điểm trên chưa làm rõ được tất cả những vấn đề đó
Quan điểm thứ ba thì lại trùng khớp với quy định của Điều 290 BLTTHS năm 2003 về tính chất của thủ tục tái thẩm Việc xác định tính chất của tái thẩm có ý nghĩa trong việc xác định các quy định khác của BLTTHS về thủ tục tái thẩm, giúp cho các nhà làm luật cũng như các nhà thực tiễn phân biệt
rõ tái thẩm với các trình tự xét xử khác, đặc biệt là với thủ tục giám đốc thẩm Tuy nhiên, nếu xác định tính chất của tái thẩm là khái niệm tái thẩm thì lại chưa đầy đủ để phản ánh hết các đặc điểm về đối tượng, mục đích, cơ sở phát sinh, thẩm quyền, thủ tục giải quyết của tái thẩm
Trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận thủ tục tái thẩm dưới góc độ là một thủ tục trong TTHS Để nắm bắt được bản chất của tái thẩm, từ đó hình thành khái niệm thủ tục tái thẩm đưới góc độ tiếp cận là thủ tục tố tụng trong TTHS thì cần phải xác định những dấu hiệu đặc trưng sau:
- Đối tượng của tái thẩm;
- Mục đích của tái thẩm;
- Cơ sở phát sinh tái thẩm;
- Thẩm quyền tái thẩm;
Trang 15Đối tượng tái thẩm
Đối tượng của tái thẩm là các bản án hoặc quyết định đã có HLPL nhưng
bị kháng nghị vì phát hiện ra những tình tiết mới Việc xác định đối tượng của thủ tục tái thẩm có vai trò quan trọng Đây là dấu hiệu để phân biệt sự khác nhau cơ bản về bản chất giữa thủ tục tái thẩm với các thủ tục xét xử sơ thẩm
và xét xử phúc thẩm Đối tượng tái thẩm có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, đối tượng của thủ tục tái thẩm cũng giống như đối tượng của
thủ tục giám đốc thẩm là bản án hoặc quyết định của Tòa án chứ không phải
là vụ án như ở cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Tòa án có thẩm quyền tái thẩm không xem xét, đánh giá và kết luận lại các vấn đề về nội dung của vụ
án vì điều đó đã được xem xét ở hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Việc xác định đối tượng của thủ tục tái thẩm đã xác định được tính chất cơ bản của tái thẩm, phân biệt sự khác nhau cơ bản về bản chất giữa tái thẩm với sơ thẩm
và phúc thẩm, xác định tái thẩm không phải là một cấp xét xử thứ ba mà là việc xét lại các bản án hoặc quyết định đã có HLPL của Tòa án
Thứ hai, bản án, quyết định là đối tượng của thủ tục tái thẩm phải là
những bản án, quyết định đã có HLPL Đó là những bản án sơ thẩm nếu không có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Hoặc là những bản án đã qua đủ hai cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm Theo BLTTHS nói riêng và khoa học pháp lý nói chung, các bản án, quyết định đã có HLPL có tính bắt buộc chung, không chỉ đối với những người có liên quan mà đòi hỏi phải được các
Trang 16cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân tôn trọng “Tuy nhiên, bản án, quyết định chỉ
có một hiệu lực nhất định và không có nghĩa là bản án, quyết định đó không thể bị yêu cầu xem xét lại” [15, tr 21] Một bản án hoặc quyết định đã có HLPL không có nghĩa là bản án, quyết định đó đã hoàn toàn đúng đắn, không
có sai lầm và nếu có sai lầm thì những sai lầm này cần phải được khắc phục Thủ tục tái thẩm chính là cơ chế để khắc phục những sai lầm đó Như vậy mới đảm bảo tính đúng đắn, có căn cứ của các bản án, quyết định của Tòa án
Thứ ba, không phải mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực đều là đối
tượng tái thẩm Đối tượng của thủ tục tái thẩm chỉ có thể là bản án, quyết định
đã có HLPL nhưng lại bị kháng nghị vì phát hiện ra những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết khi ra bản án hoặc quyết định đó
Mục đích của tái thẩm
Thủ tục tái thẩm là thủ tục pháp lý để xét lại tính có căn cứ của các bản
án, quyết định đã có HLPL của Tòa án Nếu bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án không có căn cứ thì sẽ bị hủy; khôi phục lại trình tự tố tụng để giải quyết lại vụ án hình sự nhằm khắc phục những sai lầm nghiêm trọng của Tòa
án trong việc xác định sự thật của vụ án, đảm bảo tính có căn cứ của các bản
án hoặc quyết định của Tòa án
Tòa án có thẩm quyền tái thẩm không xét xử lại vụ việc mà chỉ là xem xét tình tiết mới được phát hiện làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực bị kháng nghị Xem xét xem tình tiết mới đó có ý nghĩa như thế nào đối với vụ án, có làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hay quyết định bị kháng nghị hay không Qua đó kiểm tra tính có căn cứ của bản
án, quyết định bị kháng nghị
Cơ sở phát sinh thủ tục tái thẩm
Cơ sở làm phát sinh thủ tục tái thẩm là kháng nghị tái thẩm Theo quy định của BLTTHS hiện hành thì cơ sở làm phát sinh thủ tục tái thẩm chỉ có thể
là kháng nghị của người tiến hành tố tụng có thẩm quyền (Viện trưởng VKS
Trang 17cấp trên) Do tính chất đặc biệt của đối tượng tái thẩm nên kháng nghị tái thẩm cũng có những điểm khác biệt so với kháng nghị của các thủ tục khác:
Cơ sở phát sinh thủ tục tái thẩm khác cơ sở phát sinh thủ tục phúc thẩm
Cơ sở làm phát sinh thủ tục tái thẩm chỉ có thể là kháng nghị của những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền Pháp luật TTHS Việt Nam quy định mọi cơ quan, tổ chức và mọi công dân đều có quyền phát hiện những bản án, quyết định đã có HLPL không có căn cứ, không đúng pháp luật nhưng không quy định về quyền kháng cáo tái thẩm Còn đối với thủ tục phúc thẩm thì ngoài kháng nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì luật còn cho phép kháng cáo của bị cáo và các đương sự khác Đây là điểm đặc biệt của thủ tục phúc thẩm so với các thủ tục khác khi mà “một giai đoạn trong TTHS không chỉ phát sinh bởi những căn cứ mang tính quyền lực Nhà nước mà còn thể được phát sinh căn cứ vào ý chí của người dân” [15, tr 23]
Cơ sở phát sinh của thủ tục tái thẩm cũng khác với cơ sở phát sinh của thủ tục giám đốc thẩm Mặc dù cơ sở phát sinh đều là kháng nghị của những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền, tuy nhiên căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là khác nhau Nếu căn cứ kháng nghị của giám đốc thẩm là những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án thì căn cứ kháng nghị tái thẩm là những sai lầm trong việc xác định sự thật của vụ án
Sự thật của vụ án cần được xác định lại khi có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa
án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó Hay nói cách khác, những tình tiết mới được phát hiện này cho phép nghi ngờ tính xác thực của bản án hoặc quyết định đã có HLPL
Hiện nay, có quan điểm cho rằng không cần thiết phải chia làm hai thủ tục tái thẩm và giám đốc thẩm vì cho rằng giữa hai thủ tục này về cơ bản là không khác nhau, một số nước trên thế giới cũng quy định chung về hai thủ tục như Pháp [17], Đức [37] Tuy nhiên, cũng có nhiều quan điểm trái chiều,
Trang 18cho rằng vẫn cần phải chia làm hai thủ tục Thủ tục tái thẩm và giám đốc thẩm
là hai thủ tục khác nhau do đó sẽ có sự áp dụng khác nhau:
Căn cứ vào tính chất, đặc điểm, nguyên nhân của sai lầm trong bản án hoặc quyết định đã có HLPL mà người làm luật phân thành giám đốc thẩm hay tái thẩm Nếu sai lầm do yếu tố chủ quan trong việc xử lý vụ
án thì bản án, quyết định có HLPL có thể bị kháng nghị để giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm Nếu sai lầm do yếu tố khách quan khi phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định thì
vụ án có thể xem xét lại theo thủ tục tái thẩm Tính chất, hậu quả pháp lý
và cách thức khắc phục hai loại sai lầm nói trên không thể đồng nhất được [11, tr 2]
Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng tái thẩm và giám đốc thẩm là những thủ tục khác nhau về bản chất và đặc điểm cơ bản Không thể đồng nhất hai thủ tục này làm một được Do tính chất khác nhau nên các quy định
về thẩm quyền kháng nghị, căn cứ, thời hạn và thủ tục kháng nghị của hai thủ tục này là khác nhau Cụ thể:
Thứ nhất, về chủ thể kháng nghị: Theo quy định của BLTTHS nước ta
hiện nay, thì chỉ duy nhất một loại chủ thể có quyền kháng nghị tái thẩm là Viện trưởng VKS Còn trong giám đốc thẩm, ngoài Viện trưởng VKS thì Chánh án Tòa án cũng có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm Bởi vì, trong thủ tục tái thẩm, căn cứ kháng nghị tái thẩm là những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định “Những tình tiết này khồng tồn tại trong hồ sơ vụ án, Tòa án không thể kiểm tra xác minh những tình tiết này thông qua hoạt động kiểm tra giám đốc nên không có điều kiện để có thể kháng nghị tái thẩm” [15, tr 31]
Thứ hai, về căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là việc phát hiện
tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết
Trang 19định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó Còn căn
cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án Đây cũng chính là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt giữa hai thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có HLPL là thủ tục tái thẩm với thủ tục giám đốc thẩm
Thứ ba, về cách xác định thời hạn kháng nghị tái thẩm Do tính chất
của các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm khác nhau, cách phát hiện và thủ tục kháng nghị khác nhau nên cách xác định thời hạn kháng nghị giữa hai thủ tục này cũng không giống nhau Thời hạn kháng nghị tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án tính từ khi phát hiện tình tiết mới còn thời hạn giám đốc thẩm tính từ khi bản án có HLPL Có sự khác biệt này, như giải thích của PGS Nguyễn Văn Hiên là do: nếu sai lầm
do chủ quan của Tòa án trong việc xử lý, đánh giá chứng cứ, áp dụng hình phạt, tội danh v.v trên cơ sở tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án thì thời hạn kháng nghị theo hướng bất lợi cho người bị kết án phải được hạn chế trong một thời gian ngắn nhất định tính từ ngày bản án có HLPL Đây là nguyên tắc mà luật tố tụng hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận Việc thu thập chứng cứ, phát hiện, chứng minh các tình tiết mới phải được tiến hành theo đúng thủ tục tố tụng từ khi điều tra Do đó thời hạn kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án phải tính từ khi phát hiện ra tình tiết mới và trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự [10, tr 17]
Thứ tư, về thủ tục kháng nghị tái thẩm cũng khác với giám đốc thẩm, do
căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là việc phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó Cho nên, tái thẩm bắt buộc phải
có thủ tục xác minh tình tiết mới trước khi kháng nghị còn giám đốc thẩm thì không có giai đoạn này Đây là điều rất khác nhau giữa giám đốc thẩm và tái thẩm về thủ tục tiến hành trong thực tiễn tố tụng
Trang 20Thẩm quyền tái thẩm
Thẩm quyền tái thẩm về cơ bản là xác định theo nguyên tắc là Tòa án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền tái thẩm bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án cấp dưới
Khi xét lại bản án, quyết định đã có HLPL thì Hội đồng tái thẩm không xác định lại sự thật của vụ án, cũng không có quyền ra bản án hoặc tự mình ra quyết định mới để thay thế cho bản án, quyết định bị kháng nghị của Tòa án cấp dưới Tòa án có thẩm quyền tái thẩm chỉ được phán quyết về bản án, quyết định bị kháng nghị; nếu thấy các tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định thì hủy bản án hoặc quyết định đó; ngược lại nếu thấy những tình tiết mới được phát hiện không ảnh hưởng đến bản án hoặc quyết định bị kháng nghị thì giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có HLPL; nếu có căn cứ đình chỉ vụ án thì hủy bản án hoặc quyết định đã có HLPL và đình chỉ vụ án
Thủ tục giải quyết
Do không xét xử lại vụ án về mặt nội dung mà chỉ xem xét tính có căn
cứ của bản án hoặc quyết định đã có HLPL của Tòa án, cho nên Tòa án có thẩm quyền tái thẩm chỉ xem xét việc xác định sự thật của vụ án của Tòa án cấp dưới là có căn cứ hay không trên cơ sở hồ sơ vụ án và các tình tiết mới được phát hiện và xác minh Trong giai đoạn này, Tòa án không thực hiện chức năng xét xử vụ án vì thế tái thẩm cũng giống như giám đốc thẩm được tiến hành theo thủ tục riêng biệt, khác hẳn so với thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm Một số nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử như các nguyên tắc xét
xử công khai, trực tiếp, bằng lời nói; nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của
bị cáo…không điều chỉnh hoạt động tái thẩm, giám đốc thẩm của Tòa án Tái thẩm là thủ tục pháp lý để đưa vụ án đã được xét xử, đã có HLPL nhưng có sai lầm được trở về xét xử lại từ đầu Cho nên thủ tục tái thẩm là một hình thức tố tụng nhằm tạo điều kiện pháp lý cho việc khôi phục lại trình tự tố tụng
Trang 21để giải quyết lại vụ án, mà “việc hủy bỏ một bản án hoặc quyết định đã có HLPL là một việc rất hệ trọng, chỉ có thể do Tòa án cấp cao hơn (hoặc cao nhất) tiến hành và theo theo một thủ tục nghiêm ngặt được quy định trong luật TTHS” [15, tr 35]
Qua việc phân tích dấu hiệu của tái thẩm, chúng tôi xin mạnh dạn đưa
ra khái niệm về thủ tục tái thẩm trong TTHS như sau: Thủ tục tái thẩm là hình thức pháp lý mà Tòa án có thẩm quyền áp dụng để xét lại bản án hoặc quyết định hình sự đã có hiệu lực phát luật bị người có thẩm quyền kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó, nhằm đảm bảo sự thật của vụ án được xác định khách quan, toàn diện và đầy đủ
1.2 Ý NGHĨA CỦA THỦ TỤC TÁI THẨM
1.2.1 Ý nghĩa chính trị, xã hội của thủ tục tái thẩm
- Ý nghĩa chính trị của thủ tục tái thẩm
Quy định về thủ tục tái thẩm là cơ chế đảm bảo nâng cao trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, đảm bảo thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, công bằng, bảo vệ triệt để các quyền cơ bản nhất của công dân Bên cạnh đó, chế định tái thẩm còn góp phần bảo đảm hiệu quả hoạt động và tính độc lập của các cơ quan tư pháp, qua đó, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân…đây là những nhân tố cơ bản của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay Đặc biệt là trong hoạt động tư pháp hình sự, nơi
mà hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng mang tính quyền lực Nhà nước rất cao, ảnh hưởng quyết định các quyền cơ bản của công dân như quyền sống, quyền tự do thân thể…
Có thể nói, bằng việc xét lại các bản án hoặc quyết định đã có HLPL khi xuất hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án
Trang 22hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định
đó, tái thẩm đã góp phần đảm bảo cho vụ án được giải quyết đúng đắn có căn cứ, đảm bảo cho pháp luật được áp dụng một cách đúng đắn và thống nhất trong hoạt động xét xử Pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh sẽ đảm bảo quyền công bằng cho người dân trước pháp luật, đảm bảo cho pháp luật ngày càng thể hiện và nắm giữ vai trò tối thượng trong đời sống nhà nước cũng như đời sống xã hội - đây là yếu tố tiên quyết trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
- Ý nghĩa xã hội của thủ tục tái thẩm
Phương châm chính của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm là chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không
để lọt tội phạm, không làm oan, sai người vô tội Nhưng trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự cho thấy vì những lý do khác nhau nên vẫn còn tình trạng oan, sai, để lọt tội phạm hoặc người phạm tội Nếu những sai sót và vi phạm này không được sửa chữa thì bản án hoặc quyết định đó của Tòa án sẽ ảnh hưởng đến nhiệm vụ của luật hình sự, không bảo vệ được lợi ích của xã hội, quyền lợi của mọi công dân Từ đó, khiến cho người dân mất lòng tin vào các cơ quan tư pháp cũng như mất lòng tin vào Đảng và Nhà nước Do vậy, BLTTHS quy định về thủ tục xét lại bản án hoặc quyết định đã
có HLPL để nhằm sửa chữa những sai sót đó Vì lẽ đó, thủ tục tái thẩm góp phần đảm bảo công bằng xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, góp phần đảm bảo uy tín của cơ quan tư pháp nói chung và của Tòa án nói riêng Đồng thời, với việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có HLPL theo thủ tục tái thẩm sẽ tránh được tình trạng oan, sai, xử lý đúng người, đúng tội, góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, ổn định trật
tự xã hội Như luật sư Đặng Văn Doãn đã viết: “Nếu công tác giám đốc thẩm, tái thẩm làm được tốt, nếu việc xét lại các bản án, quyết định đã có HLPL
Trang 23được làm đúng đắn, kịp thời thì đó là một đảm bảo vững chắc của việc nghiêm chỉnh thi hành pháp luật, củng cố tăng cường pháp chế, đấu tranh hiệu quả chống tội phạm, nâng cao uy tín của chính quyền và chế độ” [1, tr 10]
1.2.2 Ý nghĩa pháp lý của thủ tục tái thẩm
Tái thẩm có ý nghĩa pháp lý đặc biệt trong TTHS Thông qua thủ tục tái thẩm thì hiệu lực bắt buộc của các bản án hoặc quyết định đã có HLPL nhưng
có những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án mới có thể được hủy bỏ Qua đó khôi phục trình tự tố tụng đối với vụ án, để có thể xác định sự thật của vụ án Chính vì vậy, các quyết định của Tòa án có thẩm quyền tái thẩm hoặc là cơ sở pháp lý để khẳng định tính có căn cứ của bản án hoặc quyết định đã có HLPL (quyết định giữ nguyên bản án hoặc quyết định
đã có HLPL); hoặc là cơ sở hủy bỏ HLPL của bản án hoặc quyết định đã có HLPL, từ đó chấm dứt tố tụng đối với vụ án (quyết định hủy bản án hoặc quyết định có HLPL và đình chỉ vụ án); hoặc khôi phục lại trình tự tố tụng đối với vụ án (quyết định hủy bản án hoặc quyết định đã có HLPL để điều tra lại, xét xử lại) Tái thẩm là biện pháp tố tụng góp phần đảm bảo cho vụ án hình sự được giải quyết đúng đắn
1.3 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS NĂM 2003 VỀ THỦ TỤC TÁI THẨM
1.3.1 Tính chất của tái thẩm
Việc xác định rõ tính chất của tái thẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các quy định khác của BLTTHS về tái thẩm cũng như giúp cho việc phân định rõ thủ tục tái thẩm với các thủ tục tố tụng khác, đặc biệt là với thủ tục giám đốc thẩm Quy định về tính chất của thủ tục tái thẩm tại Điều 260 BLTTHS năm 1988 được kế thừa và giữ nguyên tại điều 290 BLTTHS năm
2003 như sau: “Thủ tục tái thẩm được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có HLPL nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó”
Trang 24Theo quy định trên, tính chất của thủ tục tái thẩm theo BLTTHS Việt Nam được xác định bởi các nội dung:
- Về đối tượng của thủ tục tái thẩm: bản án hoặc quyết định của Tòa án
đã có HLPL Hệ thống Tòa án của Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc hai cấp xét xử, Tòa án có thẩm quyền tái thẩm không xét xử lại vụ án mà chỉ xét lại tính có căn cứ của các bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có HLPL
- Theo luật TTHS Việt Nam, cơ sở pháp lý làm phát sinh thủ tục tái thẩm chỉ có thể là kháng nghị của những người có thẩm quyền theo các trình tự và thủ tục do BLTTHS quy định và không quy định về quyền kháng cáo tái thẩm
- Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có HLPL mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định
đó Tức là, những tình tiết này không hề có trong hồ sơ vụ án cho nên Tòa án không hề biết khi ra bản án hoặc quyết định đó Những tình tiết đã được biết đến trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố điều tra đến trước khi Tòa
án ra quyết định hoặc bản án đã có HLPL không được coi là các tình tiết mới Những tình tiết này phải có giá trị có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đó Nếu những tình tiết mới mà không có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án hoặc quyết định đã có HLPL của Tòa án thì không thuộc trường hợp phải xét lại theo thủ tục tái thẩm
1.3.2 Kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
1.3.2.1 Đối tượng của kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Tái thẩm là thủ tục đặc biệt của TTHS Theo đó, Tòa án có thẩm quyền tái thẩm không xét xử lại vụ án mà chỉ xem xét việc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án đúng hay không thông qua việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có HLPL Như vậy, theo quy định của BLTTHS Việt Nam, đối tượng của kháng nghị tái thẩm phải là các bản án, quyết định đã có HLPL
Trang 25Đồng thời, BLTTHS năm 2003 cũng chỉ rõ bản án, quyết định có HLPL là: Bản án sơ thẩm có HLPL kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm (Điều 238); bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có HLPL kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị (Điều 240); bản án phúc thẩm có HLPL kể từ ngày tuyên án (Điều 248); quyết định phúc thẩm có HLPL kể từ ngày ra quyết định Và những quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm
BLTTHS năm 2003 chỉ đưa ra điều kiện hạn chế đối tượng kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đó là quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC
1.3.2.2 Căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Thủ tục tái thẩm cùng với thủ tục giám đốc thẩm là những thủ tục tố tụng đặc biệt được quy định trong phần thứ sáu của BLTTHS năm 2003, là thủ tục xét lại các bản án hoặc quyết định đã có HLPL của Tòa án bị kháng nghị nhằm đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ của chúng Chính vì vậy giữa hai thủ tục này có nhiều điểm tương đồng, trong đó có nhiều quy định được áp dụng chung cho cả thủ tục tái thẩm và giám đốc thẩm như: quy định về đối tượng kháng nghị, thẩm quyền xét lại, thủ tục phiên tòa…Tuy nhiên, đây vẫn
là hai thủ tục khác nhau, và sự khác nhau cơ bản, rõ nét nhất giữa hai thủ tục
tố tụng này được thể hiện ở căn cứ kháng nghị Pháp luật quy định những tình tiết mới được phát hiện được coi là căn cứ kháng nghị tái thẩm phải là những tình tiết có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có HLPL mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó
Như vậy, điều kiện cần và đủ để một bản án hoặc quyết định đã có HLPL được đưa ra kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là phải có: Thứ nhất là phát hiện và xác minh được tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án hoặc quyết định Thứ hai Tòa án phải không biết được những tình tiết này khi ra bản án hoặc quyết định đó
Trang 26Chúng tôi đồng ý với quan điểm của TS Vũ Gia Lâm cho rằng: tình tiết mới phải là những sự kiện, tài liệu xuất hiện và tồn tại ngay tại thời điểm giải
quyết vụ án (ngay trong qua trình điều tra, truy tố và xét xử) chứ không thể là những tình tiết mới xuất hiện sau khi đã giải quyết vụ án Bởi vì, chỉ những tình tiết xuất hiện vào thời điểm tiến hành tố tụng đối với vụ án mới có thể khiến cho vụ án bị sai lệch so với thực tế khách quan, làm thay đổi nội dung của bản án hoặc quyết định mà đáng lẽ HĐXX phải đưa ra vào thời điểm đó Những tình tiết này đã được cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng làm chứng cứ
để đưa ra kết luận về vụ án mà không biết rằng các tình tiết (chứng cứ) đó không phản ánh hiện thực khách quan của vụ án [12, tr 19] Mặc dù vậy, việc xác định sự thật của vụ án không hề đơn giản có khi vượt quá khả năng nhận thức của của người tiến hành tố tụng nói riêng cũng như vượt quá trình độ nhận thức chung của toàn xã hội vào thời điểm ra bản án hoặc quyết định Cho nên, có thể một thời gian sau khi bản án hoặc quyết định đã có HLPL, khoa học công nghệ phát triển, thì mới phát hiện ra rằng những chứng cứ trước kia sử dụng để ra bản án hoặc quyết định đó là không đúng
Có quan điểm xác định rằng tình tiết mới để trở thành căn cứ kháng
nghị tái thẩm thì phải đạt yêu cầu cũng chính là chứng cứ, có ý nghĩa chứng minh trong vụ án hình sự Nghĩa là tình tiết mới được dùng làm căn cứ kháng nghị phải thỏa mãn những đặc tính của chứng cứ; tức là tình tiết đó là có thật, tồn tại khách quan, được thu thập đúng pháp luật, liên quan đến việc giải quyết vụ án (thay đổi cơ bản nội dung vụ án)1 Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng tình tiết mới để làm căn cứ tái thẩm không đồng nhất là chứng cứ xác định sự thật của vụ án Chẳng hạn, nếu có căn cứ cho thấy rằng lời khai của người làm chứng có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng sự thật, có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có HLPL (người làm chứng vì ghét A (người bị kết án) nên đã khai là nhìn thấy A xuất hiện tại
1
Xem thêm Trần Văn Độ, Nguyễn Mai Bộ “Khái niệm giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Toà án nhân dân, Toà án nhân dân tối cao, Số 15/2010, tr 14
Trang 27hiện trường vào thời điểm xảy ra vụ án nhưng thực chất A không có mặt tại hiện trường vào thời điểm xảy ra vụ án), thì người có thẩm quyền sẽ ra quyết định kháng nghị tái thẩm để xem xét lại bản án đã có HLPL kết tội A Nhưng
ai là người đã thực hiện tội phạm thì các cơ quan có thẩm quyền sẽ phải tiến hành điều tra, xác minh sự việc Trong trường hợp này tình tiết mới chỉ có ý nghĩa là tình tiết dùng để làm căn cứ kháng nghị tái thẩm đối với bản án kết tội
A - “tình tiết mới làm thay đổi hoặc làm mất giá trị chứng minh của chứng cứ
mà căn cứ vào đó Tòa án đã ra bản án, quyết định” [4, tr 4], chứ không phải là chứng cứ để xác định sự thật của vụ án
Không phải bất cứ tình tiết mới nào được phát hiện cũng đều có thể dùng làm căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm mà chỉ có những tình tiết có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định của HĐXX mới được dùng làm căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Tuy nhiên, thay đổi
như thế nào thì được coi là thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết
định đã có HLPL thì không hề có hướng dẫn cụ thể của các cơ quan có thẩm quyền Hầu hết các quan điểm hiện nay đều cho rằng: nếu các tình tiết mới được phát hiện sẽ khiến cho HĐXX thay đổi quan điểm về định tội danh, xác định khung hình phạt, truy cứu trách nhiệm hình sự, hay các quyết định về những vấn đề quan trọng khác được đưa ra tại phiên tòa như vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Sự thay đổi đó có thể theo hướng đối lập với các quyết định trong bản án hoặc quyết định của HĐXX thì coi là thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định: Bản án tuyên bị cáo phạm tội nhưng tình tiết mới lại cho phép xác định bị cáo không phạm tội hoặc ngược lại; trường hợp HĐXX đã quyết định mức hình phạt ở khung có cấu thành tăng nặng nhưng tình tiết mới lại cho thấy phải áp dụng hình phạt quy định ở khung có cấu thành giảm nhẹ hoặc ngược lại, kết tội đối với người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc ngược lại… Nếu những tình tiết mới được phát hiện không làm cho bản án hoặc quyết định đã có HLPL thay đổi cơ bản như quyết
Trang 28định hình phạt ở mức sai sót không đáng kể, việc kháng nghị đối với các bản án hoặc quyết định này là không cần thiết thì không được dùng làm căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Như vậy mới tránh được trường hợp kiến nghị tràn lan, bảo đảm tính ổn định cho bản án, quyết định đã có HLPL [12, tr 20]
Theo quy định tại Điều 290 BLTTHS năm 2003 thì ngoài việc quy định căn cứ kháng nghị phải là những tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định thì điều luật còn quy định những tình tiết này Tòa án phải không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó Theo quy định của BLTTHS thì sự “không biết” chỉ đặt ra với Tòa án hay cụ thể đó là HĐXX khi ra bản án hoặc quyết định qua hoạt động xét xử tại phiên tòa mà không đặt ra với các chủ thể tiến hành tố tụng khác (Cơ quan điều tra, VKS) trong quá trình điều tra và thực hành quyền công tố
Theo quy định tại Điều 291 BLTTHS năm 2003, những tình tiết được làm căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm như sau:
- Lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, lời dịch của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng sự thật;
- Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xét xử sai;
- Vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật;
- Những tình tiết khác làm cho việc giải quyết vụ án không đúng sự thật
Căn cứ thứ nhất: Lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, lời dịch của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng sự thật
Người làm chứng là người biết được các tình tiết có liên quan đến vụ án Theo quy định tại Điều 64 BLTTHS năm 2003, lời khai của người làm chứng được coi là nguồn chứng cứ quan trọng trong vụ án hình sự Luật TTHS cũng quy định người làm chứng phải có nghĩa vụ khai trung thực tất cả những tình
Trang 29tiết mà mình biết về vụ án, nếu không sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, trên thực tế, vì nhiều lý do, người làm chứng đã khai báo hoặc cung cấp những tài liệu không đúng sự thật cho cơ quan tiến hành tố tụng Các cơ quan tố tụng dựa vào những chứng cứ này để kết luận vụ án, khiến cho vụ án
bị xét xử sai Đến khi bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực mới phát hiện ra lời khai đó là không đúng sự thật Tuy nhiên, không phải lời khai nào không đúng sự thật của người làm chứng cũng trở thành căn cứ kháng nghị tái thẩm
mà phải là những lời khai có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng sự thật và những điểm quan trọng không đúng sự thật này có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có HLPL Trong trường hợp đó việc phát hiện lời khai của người làm chứng có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng sự thật mới được dùng làm căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
- Cũng giống như lời khai của người làm chứng, kết luận giám định cũng là nguồn chứng cứ quan trọng để giải quyết vụ án hình sự Về nguyên tắc, cơ quan giám định và người giám định phải sử dụng kiến thức chuyên môn của mình để thực hiện các yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng nêu trong quyết định trưng cầu giám định Kết luận giám định của hội đồng giám định, của giám định viên có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án Nếu sau khi bản án, quyết định đã có HLPL mà phát hiện ra rằng kết luận giám định không đúng sự thật, làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định của tòa án thì phải tiến hành kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
- Theo quy định tại Điều 24 BLTTHS, tiếng nói và chữ viết dùng trong TTHS là tiếng Việt Khi người tham gia tố tụng không nói được tiếng Việt hoặc trong vụ án có những tài liệu tiếng nước ngoài thì phải có người phiên dịch Vì vậy, người phiên dịch trong TTHS có vai trò rất quan trọng, nếu người phiên dịch lại dịch sai và bản dịch của họ không đúng sự thật sẽ khiến
Trang 30cho vụ án có thể bị xét xử sai Sau khi bản án, quyết định đó có HLPL mới phát hiện ra điều đó thì phải kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Căn cứ thứ hai: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã
có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xét xử sai
Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm là những người tiến hành tố tụng Kết luận của họ được đưa ra trên quá trình xem xét, đánh giá đầy đủ các chứng cứ khách quan của vụ án Nếu kết luận của những người trên không đúng sẽ khiến cho vụ án bị xét xử sai Tuy nhiên, không phải trường hợp sai nào cũng được coi là căn cứ để xét lại bản án theo thủ tục tái thẩm, chỉ có những kết luận không đúng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm làm cho vụ án bị xét xử sai mà Tòa án (HĐXX) không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó mới là căn cứ kháng nghị tái thẩm Tuy nhiên, căn cứ này chưa được thể hiện rõ ràng trong điều luật, không hiểu nguyên nhân nào làm cho người tiến hành tố tụng đưa ra kết luận không đúng
đó Trong trường hợp Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã có kết luận không đúng “nhưng khi đưa ra kết luận đó họ đã không hề biết và cũng không thể biết rằng kết luận của mình là sai” [12, tr 22] Họ đánh giá chứng cứ sai dẫn đến kết luận sai bởi họ đã dựa vào nguồn chứng cứ bị giả mạo trong vụ án để đưa ra những kết luận, mà không thể biết được rằng các tình tiết được sử dụng làm chứng cứ để đưa ra kết luận đó lại không đủ điều kiện để trở thành chứng cứ trong vụ án vì không thỏa mãn các thuộc tính của
nó - đó là phải đảm bảo thỏa mãn đầy đủ cả ba thuộc tính (điều kiện) bắt buộc của chứng cứ là : Tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp Nhưng như vậy lại trùng với căn cứ thứ nhất, thứ ba và thứ tư
Do đó, có thể hiểu căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm trong trường hợp này là do Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã
có kết luận không đúng Và chỉ những kết luận do có ý có tính chất phạm tội
Trang 31của những người này mà khi ra bản án Tòa án không biết được thì mới là căn
Hơn nữa, căn cứ thứ hai cũng lại rất dễ nhầm lẫn với căn cứ áp dụng thủ
tục giám đốc thẩm là: “kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án” (khoản 2 điều 273) Chính vì vậy
nhiều ý kiến hiện nay cho rằng căn cứ tái thẩm với giám đốc thẩm không rõ ràng Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thủ tục tái thẩm rất ít khi được thực hiện trong thực tế
Căn cứ thứ ba: Vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng
sự thật
Chứng cứ là một chế định rất quan trọng trong luật tố tụng nói chung và trong BLTTHS nói riêng Trong BLTTHS, để có cơ sở giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội cũng như bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, của tổ chức và công dân (kể cả bản thân người phạm tội) tránh được oan, sai, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải thu thập, kiểm tra, bảo quản, đánh giá và sử dụng chứng cứ một cách khách quan, toàn diện và hợp pháp Cũng giống như căn
cứ thứ nhất, căn cứ thứ ba này cũng là những nguồn chứng cứ quan trọng để giải quyết vụ án hình sự Để vụ án được xét xử một cách đúng đắn thì chứng
Trang 32cứ phải đảm bảo yêu cầu khách quan, liên quan và hợp pháp Khi vật chứng,
biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật sẽ dẫn đến việc Tòa án
sẽ ra bản án hoặc quyết định không đúng căn cứ pháp luật, khiến cho vụ án bị xét xử sai Căn cứ này mới được nhà làm luật bổ sung và coi là một căn cứ
độc lập so với tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật nhưng thật ra về bản chất thì nó cũng chỉ là sự cụ thể của tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật Hơn nữa, việc cụ
thể hóa căn cứ này cũng dễ gây nhầm lần với căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bởi: Biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật
là sản phẩm của hoạt động TTHS, do các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng quản lý Do đó, nếu trong trường hợp người tiến hành tố tụng cố tình làm giả mạo hoặc sai lệch các tài liệu này, HĐXX biết mà vẫn cố tình áp dụng dẫn đến vi phạm pháp luật nghiêm trọng khiến vụ án bị xét xử sai thì đây lại là căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chứ không phải căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Tuy nhiên, BLTTHS quy định căn cứ tái thẩm ngoài việc phát hiện ra những tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định
đã có HLPL thì còn phải đáp ứng điều kiện là Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó Tòa án ở đây chính là chỉ HĐXX, do vậy, nếu như có người tiến hành tố tụng cố tình giả mạo hoặc làm sai lệch biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án nhưng HĐXX không biết thì đó vẫn là căn cứ kháng nghị tái thẩm
Như vậy, để có thể làm căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thì biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác bị giả mạo hoặc làm sai lệch
sự thật đó phải không xuất phát từ chính hành vi của những người tiến hành tố tụng Những người tiến hành tố tụng không biết và Tòa án cũng không biết nên
Trang 33vẫn dựa vào những căn cứ đó để đưa ra kết luận không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án Hoặc người tiến hành tố tụng biết nhưng HĐXX (Tòa án) không biết thì vẫn là căn cứ để người có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm
Căn cứ thứ tư: Những tình tiết khác làm cho việc giải quyết vụ án không đúng sự thật
BLTTHS năm 1988 chỉ đưa ra ba trường hợp làm căn cứ kháng nghị bản
án, quyết định theo thủ tục tái thẩm là: Lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, lời dịch của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng sự thật; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xét xử sai; Vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật Ngoài những tình tiết
trên, BLTTHS năm 2003 còn đưa thêm: Những tình tiết khác làm cho việc giải quyết vụ án không đúng sự thật làm căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái
thẩm Những tình tiết khác ở đây là những tình tiết không liên quan đến ba căn cứ đã nêu trên, “đồng thời phải hiểu rằng là những tình tiết mới khác chứ không phải là bất cứ tình tiết khác nào cũng được vì như vậy là sẽ trùng với căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm” [22, tr 22] Chẳng hạn, trong trường hợp A bị xét xử về tội giết B nhưng sau đó phát hiện được những dấu hiệu cho thấy B vẫn còn sống (không có ai bị giết chết) thì việc phát hiện ra việc B còn sống có thể được dùng làm căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 291 BLTTHS năm 2003
So với Điều 261 BLTTHS năm 1988 thì Điều 291 BLTTHS năm 2003
bổ sung thêm căn cứ là: biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật và Những tình tiết khác làm cho việc giải quyết vụ án không đúng sự thật làm căn cứ kháng nghị khiến cho phạm vi kháng nghị tái thẩm được mở
rộng hơn
Trang 341.3.2.3 Thông báo và xác minh những tình tiết mới dược phát hiện
Điều 292 BLTTHS năm 2003 có quy định: Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi công dân có quyền phát hiện những tình tiết mới của vụ án và báo cho VKS hoặc Tòa án Viện trưởng VKS có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm ra quyết định xác minh những tình tiết đó Như vậy, nguồn thông tin để phát hiện sai lầm của các bản án đã có HLPL là những nguồn sau:
Phát hiện của người bị kết án và những công dân khác, sự phản ánh của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, cơ quan thông tin đại chúng Người bị kết án và mọi công dân có quyền phát hiện và thông báo những tình tiết mới cho Tòa án và VKS Luật TTHS cũng đã có quy định các cơ quan nhà nước,
tổ chức xã hội có quyền giám sát hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng (Điều 33 BLTTHS năm 2003) Khi nhận được thông tin của người bị kết án, cơ quan, tổ chức và các công dân khác thì Tòa án, VKS phải gửi những thông tin này cho Viện trưởng VKS có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm để ra quyết định xác minh những tình tiết đó Đây cũng là điểm khác nhau giữa thủ tục kháng nghị của giám đốc thẩm và tái thẩm, giám đốc thẩm không có thủ tục xác minh những tình tiết mới trước khi kháng nghị
Ngoài ra, các tình tiết mới còn được phát hiện bởi chính VKS thông qua báo cáo đề xuất kháng nghị của VKS các cấp và kết quả kiểm tra công tác nghiệp vụ [41, tr 25] Đây là quyền và cũng là nghĩa vụ của VKS trong quá trình thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát việc xét xử
Nếu sau khi thẩm tra mà thấy rằng những thông tin này phù hợp với một trong các căn cứ kháng nghị được quy định tại Điều 291 BLTTHS năm 2003 thì Viện trưởng VKS phải ra quyết định kháng nghị tái thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền để tiến hành xét lại theo thủ tục tái thẩm Còn ngược lại, nếu không có căn cứ kháng nghị thì Viện trưởng VKS phải trả lời cho cơ quan, tổ chức hoặc người đã phát hiện những tình tiết mới đó được biết rõ lý do của việc không kháng nghị Quy định này một mặt nâng cao hơn
Trang 35trách nhiệm của người có thẩm quyền đối với các yêu cầu của công dân Đồng thời việc giải thích lý do vì sao không kháng nghị cũng là cách để giải thích cho người dân có thể hiểu thêm các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục tái thẩm Qua đó góp phần tuyên truyền phổ biến pháp luật đến người dân Tuy nhiên, Điều 292 BLTTHS chỉ quy định rất sơ sài về trách nhiệm và thời hạn mà các cơ quan tiến hành tố tụng phải trả lời cho người hoặc cơ quan, tổ chức đã phát hiện trong trường hợp không kháng nghị
- Viện trưởng VKS quân sự Trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có HLPL của TAQS cấp dưới;
- Viện trưởng VKS nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có HLPL của TAND cấp huyện Viện trưởng VKS quân sự cấp quân khu có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có HLPL của TAQS khu vực
Theo quy định trên, chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thuộc về VKS Đây cũng là điểm khác biệt của thủ tục tái thẩm so với thủ tục giám đốc thẩm bao gồm cả chủ thể là Tòa án Sự khác biệt này là do chức năng kiểm sát xét xử của VKS “Có thể nói rằng, kháng nghị giám đốc thẩm và kháng nghị tái thẩm là quyền và nghĩa vụ của VKS, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm việc xét xử của Tòa án đúng người, đúng tội, đúng
Trang 36pháp luật” [Nguyễn Thị Bắc 1999 về công tác công tố và kiểm sát hoạt động
tư pháp ở hoạt động giám đốc thẩm]
Tòa án là chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm là dựa trên chức năng giám đốc xét xử của Tòa án cấp trền đối với hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới Thông qua hoạt động kiểm tra giám đốc, Tòa án cấp trên có điều kiện phát hiện những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong những bản
án hoặc quyết định có HLPL và kháng nghị giám đốc thẩm để xét lại các bản
án hoặc quyết định đó Tòa án không có quyền kháng nghị tái thẩm bởi quy định cần phải tiến hành xác minh có hay không có tình tiết mới và giá trị pháp
lý của các tình tiết này, mà Tòa án lại không có thẩm quyền tiến hành xác minh những tình tiết đó Việc xác minh tình tiết mới theo quy định của pháp luật chỉ được thực hiện bởi Kiểm sát viên của VKS Theo quy định của BLTTHS thì VKS mới có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đề ra yêu cầu điều tra và yêu cũng cơ quan điều tra tiến hành điều tra, cũng như trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 112) Hơn nữa “Tòa án không thể là người điều tra, xác minh rồi sau đó lại xét xử, đánh giá các tình tiết đó” [6, tr 15] Vì nếu làm như vậy sẽ không đảm bảo tính khách quan cho quá trình xét lại bản án hoặc quyết định đã có HLPL
So với quy định tại của BLTTHS năm 1988, thì quy định hiện hành đã
có một số sửa đổi bổ sung về chủ thể kháng nghị tái thẩm Theo đó, quy định
cụ thể hơn về chủ thể có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Điều 263 BLTTHS năm 1988 quy định Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có HLPL của TAND hoặc TAQS các cấp BLTTHS năm 2003 có sửa đổi chỉ quy định chung là Tòa án các cấp như vậy đã bao gồm cả TAND và TAQS Đồng thời, do quy định tại Điều 263 BLTTHS năm 1988 chỉ nói chung là những bản án hoặc quyết định
đã có hiệu lực của TAND và TAQS các cấp dẫn đến việc có một số ý kiến cho rằng quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC cũng có thể bị kháng
Trang 37nghị Khắc phục vấn đề này, Điều 293 BLTTHS năm 2003 đã quy định rõ
“ trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC” Việc bổ sung này trong BLTTHS năm 2003 không làm thay đổi thực chất vấn đề nhưng hoàn thiện hơn về kỹ thuật lập pháp, đảm bảo sự thống nhất với luật tổ chức TAND năm 2002
Quy định về chủ thể có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm của nước ta cũng khác một số nước, như BLTTHS CHLB Đức quy định: Chủ thể có thẩm quyền đưa ra yêu cầu mở thủ tục tái thẩm là những người có quyền kháng án phúc thẩm được quy định tại chương "Những quy định chung" (Điều 365) Như vậy, BLTTHS CHLB Đức công nhận quyền kháng cáo tái thẩm của người bị kết án bên cạnh quyền kháng nghị tái thẩm của cơ quan công tố
BLTTHS Cộng hòa Pháp cũng có quy định về quyền kháng cáo, kháng nghị tái thẩm thuộc về Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Người bị kết án hoặc người đại diện hợp pháp của người bị kết án; Nếu người bị kết án chết hoặc bị tuyên bố mất tích thì người kháng cáo tái thẩm có thể là vợ hoặc chồng, con cái hoặc cha
mẹ, người được di tặng một phần tài sản hoặc người được người bị kết án ủy quyền; Người kháng cáo có thể là Luật sư đại diện (Điều 623 BLTTHS Pháp)
1.3.2.5 Hiệu lực của kháng nghị tái thẩm
Sau khi bản án hoặc quyết định đã có HLPL thì phải đưa bản án, quyết định ra thi hành Việc kháng nghị tái thẩm không dẫn đến hậu quả làm cho bản án hoặc quyết định bị kháng nghị mất hiệu lực thi hành Tuy nhiên, Điều
294 BLTTHS năm 2003 có quy định: “Những người đã kháng nghị theo thủ tục tái thẩm có quyền tạm thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị” Tuy nhiên Điều 294 BLTTHS không quy định cụ thể trường hợp nào tạm đình chỉ Trong hướng dẫn của VKS cũng chỉ nói rằng “trường hợp cần thiết tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định đã bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thực hiện theo Điều 294 Bộ luật TTHS” [41, tr 27] nhưng thế nào là
“trường hợp cần thiết” thì lại cũng không có hướng dẫn Tuy nhiên, chúng ta
Trang 38có thể hiểu là trong những trường hợp cụ thể nếu thấy rằng việc thi hành bản
án hoặc quyết định đó sẽ có khả năng gây ra thiệt hại đáng kể cho người bị kết án, thì để đảm bảo quyền lợi cho người bị kết án, người kháng nghị có quyền ra quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định đó Quyết định tạm đình chỉ việc thi hành án đối với người bị kết án nào thì chỉ có hiệu
lực đối với người bị kết án đó
1.3.2.6 Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Điều 295 BLTTHS 2003 quy định:
- Việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án phải được tiến hành trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 23 của BLHS và thời hạn kháng nghị không được quá một năm, kể từ ngày VKS nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện”
Theo Điều 23 BLHS thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau: Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng; Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng; Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng; Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
- Tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án thì không hạn chế về thời gian và được tiến hành trong cả trường hợp người bị kết án đã chết và cần phải minh oan cho họ
- Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự Điều 308 BLTT Dân sự năm 2004 quy định thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm dân sự là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm dân sự [17]
BLTTHS năm 2003 chia thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm ra làm hai trường hợp là: tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án và trường hợp không có lợi cho người bị kết án Phân chia như vậy nhằm đảm bảo quyền