1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Toà hành chính trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam của dân, do dân, vì dân

211 205 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở một góc nhìn rộng hơn về vị trí, vai trò của Tòa án, luận án “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam” của TS.Trần Huy Li

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN KIM LIỄU

TÒA HÀNH CHÍNH TRONG

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ

NGHĨA VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN KIM LIỄU

TÒA HÀNH CHÍNH TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 62.38.01.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS NGUYỄN VĂN ĐỘNG

2 TS TRẦN MINH HƯƠNG

HÀ NỘI - 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án là kết quả của quá trình nghiên cứu độc lập và chưa được người khác công bố

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trần Kim Liễu

Trang 4

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

QĐKLBTV : Quyết định kỷ luật buộc thôi việc

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÒA HÀNH CHÍNH TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN 13

1.1 Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân 13

1.2 Vai trò của tòa hành chính trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân 32

1.3 Những đảm bảo pháp lý cho tổ chức và hoạt động của tòa hành chính trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân 67

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 78

2.1 Thực trạng tổ chức của tòa hành chính hiện nay 78

2.2 Thực trạng hoạt động của Tòa hành chính 87

2.3 Những hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính 110

2.4 Nguyên nhân của những hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính 117

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TÒA HÀNH CHÍNH TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN 134

3.1.Quan điểm về phát huy vai trò của tòa hành chính trong Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân 134

3.2.Giải pháp để phát huy vai trò của tòa hành chính trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân 141

KẾT LUẬN 192 CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ năm 1995 Tòa hành chính (THC) được thành lập căn cứ trên cơ sở Luật Tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi (tháng 12/1995) và chính thức hoạt động

từ ngày 1 tháng 7 năm 1996 Việc tổ chức THC với tư cách là một tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân ở thời điểm những thập niên 90 của thế kỷ XX được xem là tương đối phù hợp, là giải pháp có tính tình thế, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thời cuộc Sau hơn 15 năm, câu chuyện về vị trí, vai trò của THC vẫn là chuyện cần bàn Đã đến lúc phải xây dựng mô hình mới cho THC, đúng với tính chất, vai trò của cơ quan này và tạo cơ chế thuận lợi để THC phát huy đúng vai trò của mình đối với Nhà nước và xã hội

Vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp đang là một trong những chủ trương lớn của Đảng và là nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị, hoàn thiện bộ máy nhà nước theo các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Nghị quyết số 08/NQ-TW (ngày 02 tháng 01 năm 2002) và Nghị quyết số 49/NQ-TW (ngày 02 tháng 6 năm 2005) của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách

tư pháp đến năm 2020 đang đặt ra hàng loạt vấn đề cần giải đáp, trong đó có vấn

đề tổ chức THC Thực trạng hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp trong đó có Tòa án nhân dân những năm qua còn nhiều hạn chế từ tổ chức đến thẩm quyền nhưng rất chậm được đổi mới THC không nằm ngoài bối cảnh chung đó với một đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử còn hạn chế về năng lực, thiếu kinh nghiệm Chính vì thế, từ năm 2005, Thanh tra Chính phủ đã xây dựng đề án thành lập cơ quan tài phán hành chính trực thuộc Chính phủ, độc lập với các cơ quan quản lý hành chính, chuyên thực hiện nhiệm vụ giải quyết các khiếu nại hành chính bằng con đường tố tụng Việc thành lập cơ quan này có căn nguyên

từ hoạt động kém hiệu quả của hệ thống THC sau hơn 10 năm thành lập

Bên cạnh đó, theo tinh thần Nghị quyết 49/NQ-TW về cải cách tư pháp,

đề án thành lập Tòa án khu vực cũng được triển khai nhằm đổi mới một cách căn bản tổ chức của hệ thống Tòa án nhân dân, đảm bảo cho Tòa án độc lập xét xử

và đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong hoạt động tư pháp Việc nghiên cứu để tìm kiếm những giải pháp cho tổ chức của THC là một yêu cầu quan

Trang 7

thế cải cách tư pháp nói chung, góp phần phát huy tối đa vai trò của nó đối với

xã hội

Từ năm 2010, hệ thống quy định pháp luật tố tụng hành chính có sự thay đổi căn bản với sự ra đời của Luật Tố tụng hành chính, thay thế cho Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 (sửa đổi 1998, 2006) Pháp luật thay đổi kéo theo hàng loạt các vấn đề cần phải được bàn luận và giải quyết, cụ thể là những giải pháp cần thiết để có thể thực thi được Luật Tố tụng hành chính một cách hiệu quả, để THC hoạt động hiệu quả nhằm đạt các mục tiêu mà nhà làm luật đã xác định

Ở một góc độ khác, khi đề cập đến đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử hành chính, có thể có những đánh giá mang nhiều sắc thái khác nhau kể cả tích cực và không tích cực Song, nhìn chung, tư duy lý luận pháp luật của đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử hành chính còn nhiều hạn chế Chính vì vậy mà việc nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận về vị trí, vai trò của THC trong bối cảnh hiện nay là rất cần thiết Bởi vì, việc luận bàn các vấn đề lý luận

về THC sẽ góp phần làm phong phú nhận thức tư tưởng của cán bộ, công chức Tòa án về tầm quan trọng của cơ quan này trong hệ thống xét xử nói riêng, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung Từ đó, họ có thể vận hành bộ máy này theo đúng mục tiêu mà Đảng và Nhà nước xác định cho Tòa hành chính

Như vậy, với nền tảng lý luận mới hiện nay, có thể nhận thấy sự tiềm ẩn một nhu cầu về sự tồn tại và phát huy vai trò của THC đối với Nhà nước và xã hội THC không chỉ là công cụ đảm bảo pháp chế trong Nhà nước XHCN như những năm đầu ra đời mà đã trở thành thiết chế không thể thiếu trong NNPQ XHCN Việt Nam Đó không chỉ đơn thuần là biện pháp áp đặt từ bên ngoài vào

để kiểm soát hệ thống hành chính mà chính là nhu cầu tự thân của nền hành chính để đảm bảo cho hành chính tự hoàn thiện mình, đáp ứng đòi hỏi của một NNPQ và trở thành công cụ mà người dân sử dụng để tự vệ

Trong bối cảnh nêu trên, việc nghiên cứu đề tài «Toà hành chính trong

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân» thực

sự mang tính cấp thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có giá trị thực tiễn cao

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về vị trí, vai trò của THC trong NNPQ XHCN Việt Nam, chúng tôi đã có dịp tiếp xúc với một số công trình nghiên cứu quan trọng, có giá trị cao

Trang 8

trong khoa học chính trị - pháp lý Năm 1992 Viện Nhà nước và Pháp luật chủ trì

và Giáo sư Đào Trí Úc đã chủ biên chuyên khảo “Tìm hiểu về Nhà nước pháp

quyền”, đây là công trình tóm lược tổng thuật các nghiên cứu về NNPQ trong

vài thập niên qua tại Pháp, Đức, Mỹ Cùng năm đó, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn

Duy Quý có bài “Một số suy nghĩ về vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở

nước ta” đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2 – 1992 Năm 1995, nhà

xuất bản Chính trị quốc gia phát hành cuốn “Những lý luận cơ bản về Nhà nước

và pháp luật” của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật Cuốn sách bàn về

nhà nước dưới khía cạnh pháp luật đã dành một phần nói về NNPQ XHCN Việt

Nam Năm 1997, Giáo sư Đào Trí Úc tiếp tục chủ biên công trình “Nhà nước và

pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới” được nhà xuất bản Khoa học xã

hội phát hành, chương 6 cuốn sách đã phân tích những đặc trưng của NNPQ của

dân, do dân, vì dân Cùng năm này, cuốn “Đại hội VIII Đảng cộng sản Việt Nam

và những vấn đề cấp bách của khoa học về Nhà nước và Pháp luật” do Giáo sư

Đào Trí Úc chủ biên đã tập hợp những bài viết của các nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực khoa học pháp lý như GS.TS Nguyễn Duy Quý, GS.TS Hoàng Văn Hảo, PGS.TS Đinh Văn Mậu, GS.TS Võ Khánh Vinh…Về NNPQ, không

thể không nói đến tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do

dân và vì dân” do nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành năm 1998 của

nguyên Bộ trưởng Bộ tư pháp Nguyễn Đình Lộc và tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí

Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam” của hai tác giả

Phạm Ngọc Anh và Bùi Đình Phong do nhà xuất bản Lao động ấn hành năm

2003 Hoặc quan điểm của TS Trần Hậu Thành trong “Cơ sở lý luận và thực

tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, Nxb Lý luận chính trị, năm 2005 Tác phẩm này tập trung

những nghiên cứu mang tính khái quát về quá trình hình thành và phát triển tư tưởng NNPQ trong lịch sử, một số quan điểm hiện nay về NNPQ, thực tiễn tổ chức Nhà nước theo hướng xây dựng NNPQ hiện nay trên thế giới TS Trần Hậu Thành đã chỉ rõ những mô hình tổ chức quyền lực theo cách phân chia quyền lực tuyệt đối và cách phân công, phối hợp quyền lực Trong tác phẩm này,

TS Trần Hậu Thành cũng phân tích những quan điểm và nội dung xây dựng NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Đặc biệt, tác giả của công trình này cũng đặc biệt quan tâm đến việc đưa ra những giải pháp đổi mới, kiện tòan bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng NNPQ XHCN trong đó có đề cập đến giải pháp kiện toàn bộ máy tư pháp Chúng tôi đã tham khảo những kết quả nghiên cứu của TS Trần Hậu Thành trong chương 1 để làm nổi bật rõ những vấn đề lý luận về NNPQ, về vị trí của hệ thống Tòa án trong cơ cấu quyền lực nhà nước, đặc biệt trong NNPQ

Ngoài ra, khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã được tiếp xúc với rất nhiều bài viết nghiên cứu trên các tạp chí Triết học, Lý luận Chính trị, Nhà nước và

Trang 9

khác nhau đã phản ánh quan điểm về việc xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam một cách rất rõ ràng và sâu sắc

Tìm hiểu về vị trí, vai trò của THC, chúng tôi có điều kiện tham khảo nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống Tòa án nhân dân Ngay từ năm 1996, Tòa án

nhân dân tối cao đã có đề tài nghiên cứu khoa học “Vị trí, vai trò và chức năng

của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước qua các thời kỳ cách mạng Việt Nam” (Mã số 95-98-048/ĐT) do PTS Trịnh Hồng Dương chủ nhiệm đề tài Đề

tài này đã đánh giá tổng quan về vị trí của Tòa án nói chung qua các thời kỳ cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến 1996 Ở một góc nhìn rộng hơn về vị trí, vai

trò của Tòa án, luận án “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp

theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam” của TS.Trần Huy Liệu đã

tập trung phân tích khái niệm cơ quan tư pháp, mối liên hệ giữa “Tòa án” với

“tài phán”, khẳng định vị trí, vai trò của hệ thống cơ quan tư pháp trong bộ máy nhà nước Việt Nam, lịch sử phát triển của hệ thống cơ quan tư pháp từ năm 1945 đến nay, thực trạng tổ chức của hệ thống Tòa án, Viện kiểm sát, các cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án Tuy nhiên, luận án của TS Trần Huy Liệu đề cập đến

hệ thống cơ quan tư pháp ở Việt Nam ở một phạm vi rộng và toàn diện, nhưng không nghiên cứu chi tiết về THC Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân còn được phân tích tương đối chi tiết thông qua các nhận định của PGS.TS Nguyễn Đăng

Dung, Ngô Vĩnh Bạch, Võ Trí Hảo, Bùi Ngọc Sơn trong tác phẩm “Thể chế tư

pháp trong Nhà nước pháp quyền”, NXB Tư pháp năm 2004 Trong tác phẩm

này vai trò của “thể chế tư pháp” được phân tích một cách sâu sắc từ nhiều góc

độ khác nhau Với tác phẩm này, một cách chắc chắn, các tác giả khẳng định vai trò của Tòa án với tư cách “một thể chế tư pháp độc lập trong hệ thống bộ máy Nhà nước” và đặc biệt nhấn mạnh vai trò của thể chế tư pháp với việc thực hiện các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền Qua việc tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của tập thể tác giả nói trên, chúng tôi có cơ hội khẳng định vai trò quan trọng của Tòa hành chính trong Nhà nước pháp quyền trên nền tảng lý luận

về vai trò của Tòa án nói chung đã được thể hiện trong các kết luận của công trình nghiên cứu này Để bổ sung thêm lý luận về vai trò của Tòa án và tính độc lập của Tòa án trong thực thi quyền lực nhà nước, chúng tôi tham khảo chương

VI tác phẩm “Nhà nước và trách nhiệm của Nhà nước” của PGS.TS Nguyễn

Trang 10

Đăng Dung, Nxb Tư pháp, năm 2006 và tác phẩm “Giám sát và cơ chế giám sát

việc thực hiện quyền lực Nhà nước ở nước ta hiện nay” do GS.TS Đào Trí Úc và

PGS.TS Võ Khánh Vinh (nay là GS.TS Võ Khánh Vinh) chủ biên, Nxb Công an nhân dân, năm 2003 Trong công trình này, quan điểm của tác giả Đặng Xuân

Đào và Mai Văn Quang trong bài “Vai trò của Tòa hành chính trong việc kiểm

tra, giám sát thực hiện quyền lực nhà nước” và “Một số vấn đề về kiểm tra của TAND đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước” của TS Nguyễn Trí Tuệ

có giá trị tham khảo cho phần lý luận về vai trò của Tòa hành chính

Bàn sâu về THC, từ những năm 1993 đến 2000 Thanh tra nhà nước có hai

đề tài “Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc thiết lập Toà án hành chính ở Việt

Nam” và đề tài “Toà án hành chính - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của

được thực hiện, tác phẩm “Thiết lập tài phán hành chính ở nước ta” của GS.TS

Nguyễn Duy Gia chủ biên (Nxb.Giáo dục, năm 1995) đã giới thiệu những quan điểm, nguyên tắc về thiết lập THC theo nghĩa là cơ quan tài phán hành chính ở

Việt Nam Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn

nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất tại Tòa

án nhân dân” (mã số 2001-38-036) của Tòa án nhân dân tối cao năm 2002 do

Phó viện trưởng Viện khoa học xét xử Nguyễn Văn Luận làm chủ nhiệm đề tài

và đề tài cấp cơ sở “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tăng thẩm quyền cho các

Tòa án quân sự giải quyết các vụ án kinh tế, hành chính và lao động” (mã số

2001-38-044) năm 2001 do Phó chánh án Tòa án quân sự Trung ương Trần Ngọc Trâm làm chủ nhiệm đề tài Hai công trình nghiên cứu này cũng đã nêu được một số vấn đề lý luận căn bản liên quan đến việc xác lập thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự Những ý kiến liên quan đến

cơ sở xác định thẩm quyền về căn bản có tính thống nhất và dựa trên những kết luận khoa học sẵn có trong giáo trình luật tố tụng hành chính của các cơ sở đào tạo luật Tương tự như hai công trình trên, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở

“Tăng thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính- những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2001 do Th.s Nguyễn Thị Thanh Thủy - Viện khoa học xét xử

TANDTC làm chủ nhiệm đề tài mặc dù không đi sâu phân tích những quan điểm, quan niệm về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND nhưng đã trực tiếp

sử dụng các số liệu thực tiễn để phân tích những điểm bất cập trong quy định pháp luật về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND và đã tập trung phân tích

cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tăng thẩm quyền của TAND trong xét xử hành chính Đó là những phân tích rất có giá trị tham khảo đối với chúng tôi khi thực hiện phần nghiên cứu của mình

Tiếp đó, phải kể đến công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Một số giải pháp

nâng cao hiệu quả, chất lượng giải quyết khiếu kiện hành chính tại Tòa án nhân

Trang 11

dân theo tinh thần cải cách tư pháp” của Tòa án nhân dân Tối cao, năm 2005 do

nhóm tác giả Ths Đặng Xuân Đào, Ths Lê Văn Minh và Vũ Tiến Trí thực hiện Công trình nghiên cứu này là một bức tranh khái quát về thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống TAND Dù những vấn đề lý luận liên quan đến THC chưa được thể hiện một cách sâu sắc ở công trình này nhưng chúng tôi đồng tình với các giải pháp được đề xuất trong đề tài như: những giải pháp tăng cường vai trò của Thẩm phán hành chính, những đòi hỏi đối với THC trong điều kiện mới, hoặc các biện pháp tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống tòa án hoặc tăng cường hợp tác quốc tế…

Gần đây nhất là cuốn chuyên khảo “Tài phán hành chính trong bối cảnh xây

dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” Đây là

sự tập hợp ý kiến của một số tác giả xoay quanh những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách nhất về nền tài phán hành chính ở Việt Nam Đồng chủ biên là PGS.TS Nguyễn Như Phát và PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương Sách do Nxb Khoa học xã hội ấn hành, năm 2010, với sự hợp tác và hỗ trợ của Viện KAS, Cộng hòa Liên bang Đức Các nội dung được trình bày trong công trình này xuất phát từ sự nhận thức chung rằng mặc dù về bản chất, tài phán hành chính là hoạt động xem xét và ra phán quyết có giá trị pháp lý nhằm giải quyết các tranh chấp hành chính hay các tranh chấp nảy sinh trong quá trình điều hành, quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, trong đó chủ yếu là việc xem xét, phán quyết

về tính đúng đắn của các quyết định hay hành vi hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước, nhưng trên thực tế đang tồn tại những cách quan niệm khác nhau về tài phán hành chính Sự phức tạp trong nhận thức lý luận về tài phán hành chính kéo theo những lúng túng và thiếu hiệu quả trong thực tiễn xây dựng

và thực thi cơ chế tài phán hành chính Đó là thực trạng không tương thích với đòi hỏi của quá trình tiếp tục xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay Các tác giả đã lần lượt đi sâu phân tích và đưa ra quan điểm mang tính lý luận về tài phán hành chính, về vai trò của cơ quan tài phán hành chính, các giải pháp để khắc phục tình trạng kém hiệu quả của thiết chế tài phán hành chính Tuy nhiên, đây là cuốn sách tập hợp các quan điểm khác nhau, các nghiên cứu ở các góc độ khác nhau về tài phán hành chính chứ không phải một công trình mang tính thống nhất về mặt lý luận và thực tiễn về Tòa hành chính Xung quanh vấn đề lý luận về Tòa hành chính, chúng tôi cũng có dịp nghiên cứu nhiều bài viết của các tác giả như GS.TS Đào Trí úc, GS Nguyễn Duy Quý, GS.TS Đoàn Trọng Truyến, PGS.TS Vũ Thư…bàn về khái niệm tài phán hành chính và cơ quan tài phán hành chính Đó là những bài viết được đăng tải trên các Tạp chí chuyên ngành uy tín như Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Thanh tra…đã căn bản đặt nền móng cho việc nghiên cứu lý luận về tài phán hành chính và cơ quan xét xử hành chính ở Việt Nam

Trang 12

Bàn sâu về vấn đề thẩm quyền của THC là luận án “Thẩm quyền của Tòa án

nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính” của TS Nguyễn

Thanh Bình (năm 2002) Công trình này đã căn bản phân tích những cơ sở lý luận về thẩm quyền của THC, đưa ra rất nhiều kết luận sâu sắc về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụ án hành chính và kiến nghị một số phương

án tổ chức THC và cách phân cấp thẩm quyền xét xử hành chính cho các THC mang tính thuyết phục Tuy nhiên, luận án không tiếp cận dưới góc độ hệ thống

cơ quan độc lập mà nghiên cứu từ góc độ thẩm quyền của Tòa án nhân dân nói

chung và cũng chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp về “thẩm quyền” mà thôi

Nghiên cứu THC với tư cách là một tòa chuyên trách, độc lập thuộc Tòa án

nhân dân có luận án “Đổi mới tổ chức và hoạt động của THC đáp ứng yêu cầu

xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay” của TS Hoàng Quốc Hồng

(năm 2006) Trong luận án này, tiến sĩ Hoàng Quốc Hồng đã nghiên cứu, phân tích một số cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của THC, đặc điểm của THC trong hệ thống tòa án nhân dân, đánh giá tổng quát quá trình hình thành, phát triển, thực trạng tổ chức, hoạt động của THC đến năm 2006 từ đó rút ra những kết luận cần thiết cho việc đổi mới tổ chức, hoạt động của THC theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Là công trình nghiên cứu chuyên sâu về THC, nhưng luận án không đặt THC trong bối cảnh xây dựng NNPQ XHCN theo đó THC là một đòi hỏi tất yếu của NNPQ, là phương tiện để đáp ứng các yêu cầu của NNPQ mà tiếp cận THC dưới góc độ là một bộ phận thuộc Tòa án nhân dân để thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Chính vì vậy, chương 1, chương 2 của luận án này không nghiên cứu về NNPQ XHCN mà tập trung phân tích về tổ chức, hoạt động của THC Vấn đề NNPQ XHCN chỉ được

đề cập ở chương 3 một cách mờ nhạt như một yêu cầu cần đáp ứng khi đổi mới THC Vì thế, dù luận án cho thấy một bức tranh tương đối chi tiết về tổ chức, hoạt động của THC từ khi thành lập đến năm 2006, nhưng không gắn kết với lý luận về NNPQ và không đánh giá vị trí, vai trò của thiết chế này dưới góc độ lý luận về NNPQ XHCN

Ngoài những công trình nghiên cứu trọng tâm như các đề tài NCKH cấp Bộ, các luận án tiến sỹ, còn có hàng trăm bài báo, tạp chí trong đó có những bài viết chuyên sâu về THC như của tác giả Đặng Xuân Đào về thẩm quyền xét xử của THC, của tác giả Vũ Thư về Tư pháp hành chính, của các Thẩm phán, Chánh án bàn về tính phù hợp cũng như cách áp dụng các điều chi tiết của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính Những bài viết nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc bình luận những hạn chế cũng như vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định pháp luật tố tụng hành chính hiện hành, từ đó kiến nghị hướng sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật Đó cũng là điều thiếu vắng trong các công trình nghiên cứu về THC mà chúng tôi định hướng tập trung nghiên cứu trong luận án này để góp phần bổ sung và hoàn thiện lý luận về THC, khẳng

Trang 13

định vị trí, vai trò của thiết chế này trong NNPQ XHCN ở Việt Nam, đặc biệt

trong bối cảnh đổi mới tư pháp với yêu cầu phát huy tính độc lập của hệ thống

tòa án nói chung, THC nói riêng Cho đến nay, sau 15 năm ra đời, THC vẫn là

một thiết chế cần cho xã hội, công dân và THC cần tiếp tục phát huy vai trò

trong những năm tiếp theo Luận án cũng hướng đến việc kiến giải những giải

pháp căn bản để củng cố và phát huy vai trò của THC trong điều kiện môi trường

pháp lý luôn biến đổi và đầy thách thức

Như vậy, phần tổng quan nói trên cho thấy rằng các công trình nghiên cứu

liên quan đến THC tương đối đa diện, tiếp cận vấn đề Tòa hành chính ở các góc

độ khác nhau Sau 15 năm kiểm chứng sự tồn tại và phát triển của THC ở Việt

Nam, đặc biệt trong bối cảnh là từ năm 2005 Thanh tra Chính phủ đã có Đề án

về thành lập cơ quan tài phán hành chính, thì việc khẳng định vai trò xét xử hành

chính của THC là yêu cầu rất quan trọng Mặt khác, chúng ta đang trong giai

đoạn thực hiện cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49/NQ-TW, việc cải cách hệ

thống cơ quan tư pháp nói riêng, TAND nói chung là yêu cầu cấp bách càng đòi

hỏi một công trình nghiên cứu có thể đưa ra những giải pháp nhằm củng cố, phát

huy vai trò của THC trong những năm tiếp theo

Trong quá trình tìm hiểu về THC, bên cạnh những công trình trong nước,

chúng tôi cũng có dịp tiếp xúc với các công trình nghiên cứu của các tác giả

nước ngoài, chẳng hạn: Nhà nước pháp quyền (do Josef Thesing biên tập, Nxb

Chính trị quốc gia, 2004); The separations of powers from the classical age to

parliamentary democracy (Suri Ratnapala, Professor of Law and Director,

Centre for Public, International and Comparative Law, University of

Queensland), Luật hành chính (Jean –Michel de Forges, Nxb Khoa học xã hội

1995, người dịch Nguyễn Diệu Cơ); Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp

(Martin Lombard, Giáo sư trường Đại học Tổng hợp Panthéon –Assas – Paris và

Gilles Dumont, Giáo sư Trường Đại học Luật và Kinh tế Limoges, Nxb Tư

pháp, 2007), Luật hành chính một số nước trên thế giới (của Viện Khoa học

pháp lý dịch, Nxb Tư pháp, 2004), Tư pháp hành chính: lí luận, lịch sử và viễn

cảnh (nguyên bản tiếng Nga dịch sang tiếng Pháp: La jusstice administrative: La

théorie, l’histoire, la perspective)… các công trình này đã giới thiệu những quan

điểm, quan niệm trên thế giới về Nhà nước pháp quyền, tư pháp hành chính, đặc

trưng của hoạt động xét xử hành chính của một số nước trên thế giới mà điển

hình là các nước châu Âu, cách thức tổ chức Tòa án hành chính của các nước

này và nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử hành chính Các công trình

nghiên cứu này thực sự là những tài liệu có giá trị tham khảo để giúp tác giả có

những so sánh, đối chiếu và kiến giải những biện pháp áp dụng cho Việt Nam

trong việc củng cố vị trí và phát huy vai trò của THC trong thời gian tới

Trang 14

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Luận án có mục đích khẳng định vai trò của THC trong NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân đồng thời làm nổi bật những yêu cầu của NNPQ đối với THC nhất là trong việc bảo vệ hiệu quả quyền của công dân Luận án còn hướng đến mục tiêu quan trọng là đưa ra những giải pháp để phát huy vai trò của THC mà cụ thể là những giải pháp để đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan này, góp phần thực hiện những mục tiêu tốt đẹp của NNPQ XHCN Việt Nam

Luận án phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về THC trong NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân; đánh giá thực trạng vai trò của THC từ khi thành lập đến nay trên cơ sở phân tích thành tựu, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của cơ quan này Luận án cũng tập trung cho việc đề xuất các giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt động của THC trong NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay

Đề tài có nội dung rất rộng, bao trùm hết các vấn đề từ vị trí, vai trò đến tổ chức (cơ cấu tổ chức, nhân sự, vật lực…) và hoạt động của THC (thẩm quyền xét xử, thủ tục tố tụng…) Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả tập trung nghiên cứu các mảng vấn đề chính như: cơ sở lý luận về sự tồn tại của THC, căn cứ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của THC, nghiên cứu một số giải pháp cơ bản, cụ thể để đổi mới tổ chức, hoạt động của THC Trong mỗi mảng vấn đề, phạm vi nghiên cứu không chỉ giới hạn ở các quan điểm, các quy định pháp luật của Việt Nam mà tác giả có thể so sánh, đối chiếu với lý luận và luật pháp của một số nước trên thế giới, nhất là những nước có nền tài phán hành chính lâu đời như Pháp, Đức… để có quan điểm tổng hợp và toàn diện

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các vấn đề đặt ra, luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó có vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Đồng thời, luận án cũng dựa trên tư tưởng của Chủ tịch

Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, vai trò của Tòa án trong bộ máy nhà nước; bám sát quan điểm định hướng của Đảng về định hướng về cải cách tư pháp trong giai đoạn đổi mới

Trang 15

Đối với phần cơ sở lý luận, phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra những kết luận cơ bản về nền tảng chính trị -

xã hội cho việc tổ chức và hoạt động của THC;

Khi nghiên cứu những quan điểm về tổ chức và thẩm quyền cũng như nguyên tắc hoạt động của THC…tác giả sử dụng phương pháp so sánh và tổng hợp để đánh giá sự khác biệt trong quan điểm của các nước với quan điểm của Việt Nam về hệ thống cơ quan xét xử hành chính, làm cơ sở cho việc đưa kiến nghị

về giải pháp phát huy vai trò của THC

Trong phần đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của THC ở Việt Nam, phương pháp được sử dụng là phương pháp thống kê, phân tích, điều tra xã hội học để đánh giá số liệu

Việc sử dụng kết hợp các phương pháp là cần thiết trong quá trình thực hiện luận án để đảm bảo tính khoa học và thực tiễn của công trình nghiên cứu

5 Những đóng góp khoa học của luận án

Luận án là công trình chuyên khảo mang tính lý luận về vị trí vai trò của THC trong NNPQ XHCN Kết quả nghiên cứu của luận án mang đến một số đóng góp khoa học sau đây:

Thứ nhất, dưới góc độ lý luận về Nhà nước và pháp luật, luận án đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận về Nhà nước pháp quyền, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện hiện nay Luận án đã đúc kết được những thuộc tính căn bản nhất về NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân Các kết luận của luận án về NNPQ XHCN vừa có tính truyền thống vừa gắn với các vấn đề lý luận hiện đại về Nhà nước và pháp luật

Thứ hai, hệ thống hóa được các vấn đề lý luận liên quan đến quan niệm về Tòa hành chính; khái quát hóa và xây dựng được một số khái niệm căn bản như:

“Tòa hành chính”, “tài phán hành chính”; phân tích làm nổi bật những đặc trưng của THC, chỉ rõ vị trí và vai trò của THC trong bộ máy nhà nước nói chung và trong hệ thống Tòa án nhân dân nói riêng Luận án cũng là công trình đầu tiên đề cập một cách chi tiết về các đảm bảo pháp lý cho tổ chức và hoạt động của THC

để đáp ứng các yêu cầu của NNPQ XHCN

Thứ ba, ở một mức độ đáng kể, luận án đã phân tích và đánh giá được thực trạng tổ chức, hoạt động và đảm bảo pháp lý của THC từ khi thành lập đến nay;

Trang 16

phát hiện và đánh giá được những bất cập, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của THC và làm rõ được những nguyên nhân căn bản của những bất cập và hạn chế này Việc đánh giá một cách toàn diện về cơ cấu tổ chức, công tác nhân sự; hoạt động xét xử hành chính và công tác thi hành án hành chính từ những năm đầu bắt đầu thành lập cho đến nay đó là một đóng góp của luận án, vì đây là một nghiên cứu mang tính toàn diện về thực trạng của THC mà các công trình nghiên cứu trước đó chưa thực hiện được

Thứ tư, luận án đã xây dựng và đề xuất một số quan điểm, nguyên tắc, giải pháp để phát huy vai trò của THC, trong đó phải kể đến giải pháp về mô hình mới của THC; những kiến nghị về hoàn thiện pháp luật trong đó có những đóng góp rất cụ thể để triển khai thực thi Luật Tố tụng hành chính 2010; những giải pháp về hoàn thiện đội ngũ cán bộ xét xử Các giải pháp được trình bày trong luận án có tính mới, có giá trị tham khảo cho các cơ quan Nhà nước trong quá trình tìm kiếm các giải pháp thực tế để hoàn thiện cơ chế tài phán đối với các khiếu kiện hành chính trong NNPQ XHCN Việt Nam, nhất là trong quá trình nghiên cứu thực hiện chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW và Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, phát triển lý luận về THC trong NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân Các kiến nghị của luận

án sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước – trọng tâm là

hệ thống cơ quan xét xử, trong đó có việc sửa đổi Hiến pháp và luật tổ chức TAND trong thời gian tới Những kiến nghị của luận án về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính có thể có giá trị tham khảo cho các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình triển khai thi hành luật Tố tụng hành chính 2010

Phần tổng hợp đánh giá về thực trạng tổ chức và hoạt động của THC có thể là tài liệu tham khảo cho sinh viên, cán bộ giảng dạy, các cơ quan nhà nước khi nghiên cứu, giảng dạy, học tập về THC

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 3 chương

Trang 17

Chương 1: Cơ sở lý luận về Tòa hành chính trong Nhà nước pháp quyền xã hội

chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Quan điểm và giải pháp để phát huy vai trò của Tòa hành chính trong

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì

dân

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÒA HÀNH CHÍNH TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

1.1 NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

1.1.1 Nhận diện Nhà nước pháp quyền

1 Nội hàm của khái niệm Nhà nước pháp quyền (NNPQ) trong lịch sử

học thuyết chính trị pháp lý được thể hiện tập trung ở tính thượng tôn của pháp

luật, được ghi nhận trong các tác phẩm của những triết gia nổi tiếng như

Socrates (469 - 399 TCN), Platon (427 - 374 TCN), Aristotle (348 - 322 TCN) hay Xixeron (106 - 43 TCN) Đó là những triết gia đầu tiên đưa ra ý niệm về NNPQ Tuy nhiên, phải bắt đầu từ John Lock (1632 - 1740), Charles de Secondat Montesquieu (1689 - 1755), Immanuel Kant (1724 - 1804) và Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 - 1831) thì “tính tối cao của pháp luật” trong nhà nước mới được đẩy lên thành tư tưởng về NNPQ

John Lock trong Chuyên luận thứ hai về chính thể công dân (The Second

Treatise of Civil Government, 1690) đã cho rằng các quyền tự do, bình đẳng, tư hữu là những quyền tự nhiên, không thể tước đoạt của con người và Nhà nước ra đời từ sự giao ước chung, để bảo đảm quyền tự nhiên, tránh sự tranh cãi giữa các

công dân John Lock là người khởi thảo một cách chính thức học thuyết phân

quyền [37, tr.74] Theo quan điểm của ông, lập pháp là quyền lực cao nhất trong

bộ máy nhà nước và thuộc về quyền hạn của Nghị viện, quyền hành pháp được trao cho nhà vua Nhân dân được xem như một lực lượng tiết chế sự lạm dụng quyền lực của Nhà nước Họ chính là người phân xử cuối cùng những tranh chấp

giữa lập pháp và hành pháp và giữa họ với lập pháp hoặc hành pháp bằng quyền

nổi loạn – nghĩa là dân chúng không trao toàn bộ quyền lực của mình cho lập

pháp mà khi có những sai lầm không thể nào chịu đựng được gây ra cho công

dân thì lúc đó nhân dân sẽ sử dụng quyền lực tối cao của mình bằng cách dựng

nên một chính quyền mới hoặc những người mới mà họ cho là tốt đẹp hơn [119,

tr.81] Chủ quyền của nhân dân (la suprême populaire) - quyền lực thuộc về nhân

Trang 19

dân và chủ quyền quốc gia (la suprême nationale) - quyền lực thuộc các đảng phái là hai khái niệm có sự phân định rõ ràng trong quan điểm của J.Lock Tư tưởng của J.Lock là đề cao tự do, giới hạn quyền lực nhà nước, xây dựng một cơ chế nhà nước hữu hiệu Đó chính là yếu tố cốt lõi của Nhà nước pháp quyền mà sau đó được Montesquieu tiếp tục phát triển với một bước ngoặt mới trong triết học chính trị

Montesquieu kịch liệt lên án chính thể chuyên chế Theo ông, trong chính

thể chuyên chế, “chỉ có một người cai trị mà không có luật pháp gì hết, chỉ theo

ý chí và sở thích của hắn ta mà thôi” [15, tr.47] Khi bàn đến nguyên tắc cũng

như thể chế pháp luật làm nên nền tảng giữ vững chính thể, ông cho rằng sự suy đồi trong mỗi chính thể bắt đầu từ sự sa đọa trong nguyên tắc, rồi thì những pháp luật công minh nhất cũng không còn hiệu lực thi hành Phân quyền là tự do chính trị trong quan hệ với hiến pháp Theo Montesquieu quyền lập pháp là quyền làm luật, sửa đổi hay hủy bỏ luật; quyền hành pháp là quyền quyết định thực thi các vấn đề đối ngoại, chiến tranh, quốc phòng, an ninh, kinh tế và tư pháp là quyền trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp Theo quan điểm của

Montesquieu là không nên có cơ quan tư pháp [37, tr.101] và các quan chức tư

pháp thường xuyên, cố định như lập pháp và hành pháp mà nên do đoàn thể cử

ra, trong một thời hạn nhất định Lí do là vì ông muốn xóa đi sự sợ hãi trong dân chúng đối với quyền tư pháp từ chế độ quân chủ Tuy nhiên, dù tư pháp không

cố định nhưng án văn và luật phải cố định đến từng điều cụ thể Khi bàn đến quan hệ giữa ba quyền, Montesquieu cho rằng chúng cần độc lập với nhau Nếu như quyền lập pháp và hành pháp nằm trong tay một cơ quan, cũng như khi quyền tư pháp không tách khỏi hai nhánh quyền lực kia thì sẽ không có tự do, còn nếu như quyền tư pháp nhập với quyền hành pháp thì Toà án sẽ có khả năng trở thành kẻ đàn áp Nghiêm trọng nhất và cuối cùng tất cả sẽ bị huỷ diệt nếu như cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nằm trong tay một cơ quan và không nên để một cá nhân “nhúng tay” vào cả hai quyền lập pháp và hành pháp Trong quan niệm của ông, ba nhánh quyền lực nhà nước dù độc lập nhưng ràng buộc lẫn nhau, tạo nên sự vận động chung của toàn bộ hệ thống nhà nước Toàn

bộ lý luận về phân quyền của Montesquieu đều nhằm hạn chế sự tham lam quyền lực và chế ước, chế định lẫn nhau giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước

Trang 20

Nếu như Hobbes chủ trương tập trung quyền lực tối cao vào tay nhà vua, John Lock đề cao vai trò của cộng đồng (sau khi “ký kết” khế ước xã hội, cộng đồng vẫn giữ quyền phán xử trong các tranh chấp giữa quyền lập pháp – hành pháp – tư pháp) thì Montesquieu không nói đến quyền lực tối cao, mà nhấn

mạnh rằng “chỉ có một quyền lực khả phân, một quyền lực nhà nước có kiểm

soát và sự kiểm soát đó được thực hiện bằng một cơ chế mà các thành phần của

nó nằm ngay chính trong cơ cấu của nhà nước” [37, tr.106] Đó chính là điểm

cốt lõi đẩy lý thuyết phân quyền của Montesquieu lên tầm của học thuyết về Nhà nước Montesquieu đi tiên phong trong việc đề ra và giải quyết những vấn đề cơ bản của lý luận về Nhà nước trong mối quan hệ với quyền lực của nó, là chính thể, lãnh thổ, đặc trưng và chức năng của Nhà nước

Với Montesquieu lần đầu tiên quyền lực nhà nước được xác định cụ thể và đầy đủ các thành phần cơ bản của bộ máy nhà nước – các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, cơ quan thực hiện quyền hành pháp và cơ quan thực hiện quyền

tư pháp Bằng cơ cấu tam quyền, các cơ quan quyền lực nhà nước ước chế lẫn nhau một cách khép kín, mỗi thành phần có quan hệ trực tiếp, vừa trung gian điều tiết với cơ quan khác và thành phần thứ ba của bộ máy Mối tương quan của các nhánh quyền lực đó sẽ ngăn ngừa tình trạng chuyên quyền đã từng xảy ra trong chế độ chuyên chế, ngăn chặm sự lạm quyền Sự kiểm soát quyền lực trong quan niệm của Montesquieu không đến từ bên ngoài mà nằm ngay trong chính

cấu trúc và quyền lực của nhà nước, được thực hiện một cách thường xuyên Đó

là sự kiểm soát tự thân của quyền lực nhà nước, tự Nhà nước kiểm soát Nhà nước, tự quyền lực kiểm soát quyền lực [37, tr.139] Đó là cuộc cách mạng về

quyền lực

Khi đề cập đến quyền lực nhà nước, Montesquieu luôn đặt nó trong quan

hệ với mặt đối lập của nó - các cá nhân trong xã hội Quan hệ giữa Nhà nước và công dân được Montesquieu giải quyết thông qua các vấn đề thuộc phạm vi của các phạm trù bình đẳng, tự do, dân chủ [37, tr.107] Nếu như Hobbes, J.Lock và

cả Rousseau sau này đều cho rằng bình đẳng được thiết lập bằng việc tạo lập một thỏa ước ngầm và vô hình thì Montesquieu chủ trương hiện thực hóa bình đẳng trong xã hội dựa trên pháp luật, bảo đảm bằng pháp luật và khi cần giảm bất bình đẳng trong xã hội thì ông không chủ trương kêu gọi về mặt đạo đức mà bằng sự điều tiết của nhà nước thông qua công cụ pháp luật Pháp luật đó phải là pháp luật dân chủ, tức là công cụ thực tế và hiệu quả đảm bảo cho nền dân chủ, cho

Trang 21

bình đẳng, tự do, công lý Dân chủ của Montsquieu là dân chủ pháp quyền [37, tr.115] trong đó vai trò đầu tiên là của Hiến pháp và sau đó là của một hệ thống

pháp luật dân chủ Nền dân chủ thực sự là một nền dân chủ được duy trì bởi một

bộ máy hành pháp và tư pháp mạnh, bảo đảm được sự bình đẳng, tự do và dân chủ của mọi công dân Quan niệm về dân chủ của Montesquieu đóng vai trò quan trọng trong học thuyết về quan hệ giữa công dân với Nhà nước mà cốt lõi

là nền pháp luật dân chủ và có hiệu quả Một điểm rất quan trọng trong học thuyết của Montesquieu về Nhà nước pháp quyền đó là: vấn đề tự do, bình đẳng, dân chủ của công dân được nâng lên thành quyền chính trị - xã hội của công dân

Đó không là quyền tự nhiên mà là quyền có được từ sự hiến định, pháp định và tồn tại trong thực tế Đây chính là nền móng cơ bản cho cả một quá trình nhận thức của nhân loại về quyền con người, quyền công dân và việc hiện thức hóa chúng Nhân dân tham gia vào kiểm soát nhà nước bằng quyền định đoạt nhân

sự của bộ máy nhà nước thông qua lá phiếu và thông qua quyền tự do ngôn luận

Đến thế kỷ 19, người Đức tự hào với Những cơ sở triết học cho học

thuyết về nhà nước pháp quyền của Immanuel Kant Trong tác phẩm này, Kant

cho rằng ý chí tự do của mỗi cá nhân là nguồn gốc của pháp quyền và đạo đức Pháp luật được làm ra để bảo vệ các quan hệ văn minh của con người Nhà nước trong toàn bộ hoạt động của mình phải dựa trên pháp luật Nhà nước là sự hợp nhất của những người biết phục tùng những đạo luật được xây dựng dựa trên nguyên tắc chủ quyền nhằm bảo vệ trật tự xã hội Theo quan điểm của Kant, Nhà nước trong đó có sự phân công quyền lực là NNPQ, ngược lại là Nhà nước độc

tài Sự điều hòa, phối hợp của ba nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

chính là khả năng ngăn chặn chế độ độc tài, chuyên chế Trọng tâm trong quan

điểm của Kant là nguyên tắc phân công quyền lực Chủ quyền của nhân dân chỉ

có thể thể hiện thông qua sự phân công quyền lực đó và nếu nhân dân có chủ quyền thì Nhà nước mới được gọi là “của nhân dân”

Lý luận về NNPQ được phát triển cao ở Heghen trong Triết học pháp

quyền Theo Hêghen, nhà nước chính trị thể hiện sự thống nhất quyền lực sống

động trên cơ sở phân hoá, khác biệt hợp lý của ba loại quyền lực: 1) Quyền của cái phổ quát (đại diện cho ý chí của tất cả các tầng lớp xã hội) - đó là quyền lập pháp 2) Quyền của cái đặc thù (giải quyết các vấn đề đặc thù, liên quan đến từng tầng lớp, trường hợp cụ thể trên cơ sở các luật lệ phổ quát do Nghị viện ban hành) - Đó là quyền hành pháp 3) Quyền của cái đơn nhất, đó là quyền của

Trang 22

nguyên thủ quốc gia, người ký các quyết định của Nhà nước và có một số quyền phủ quyết đối với Nghị viện

Nhà nước pháp quyền trước hết phải là một Nhà nước hợp lý trong đó, luật pháp nghiễm nhiên được đề cao, không cần bất cứ một áp lực nào Sự đề cao pháp luật chỉ là hệ quả chứ không phải là tiền đề của Nhà nước pháp quyền Theo Hêghen, Nhà nước hợp lý là Nhà nước mà trong đó, sự thống nhất giữa ý chí của cá nhân với quy luật phát triển tất yếu của xã hội được đảm bảo Muốn thế, đó phải là một Nhà nước trong đó sự thống nhất của quyền lực là sự thống nhất hữu cơ giữa Nghị viện, Chính phủ và Nguyên thủ quốc gia (theo Heghen thì

tư pháp chỉ là một thiết chế trong xã hội dân sự) Nhà nước này chỉ có thể được hình thành khi xã hội công dân đã ra đời Hai nền tảng cơ bản của NNPQ là gia đình và xã hội công dân Nhà nước pháp quyền là sự thống nhất biện chứng

“chân lý” của gia đình và xã hội công dân Trong NNPQ, tình yêu (gia đình), nhân quyền, đạo đức (xã hội công dân) và cái lý tính (Nhà nước chính trị) thống nhất với nhau

Một cách cơ bản, trên phương diện lý luận thì NNPQ là một học thuyết

chính trị - triết học xem pháp luật là nền tảng trong việc tổ chức và hoạt động

của bộ máy nhà nước, trong quan hệ giữa Nhà nước và xã hội, trong các quan hệ

xã hội Trên phương diện thực tiễn thì NNPQ là phương thức tổ chức dân chủ

của quyền lực nhà nước trong đó pháp luật là cơ sở cho việc thực hiện quyền

lực cũng như việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mọi chủ thể khác trong

xã hội

Nếu coi tư tưởng về NNPQ là một hệ thống các quan điểm lý luận khoa học khá hoàn chỉnh và thống nhất thì hệ thống đó bao gồm bốn phân hệ quan

điểm lý luận sau: phân hệ các quan điểm về phân chia quyền lực nhà nước, phân

hệ các quan điểm về quan hệ giữa Nhà nước với pháp luật, phân hệ các quan điểm về quan hệ giữa Nhà nước với công dân, phân hệ các quan điểm về quan

hệ giữa Nhà nước với xã hội công dân [27, tr.102]

Trong NNPQ khi nói đến quyền lực nhà nước, phải đề cập đến tính đặc trưng của chủ thể quyền lực Bản chất của mọi quyền lực nhà nước vẫn thuộc về bản chất của một giai cấp hay một thành phần xã hội giữ vai trò thống trị trong một thời đại lịch sử Nhà nước không chỉ được nhận thức là công cụ để cai trị mà còn được nhận thức là một bộ máy phục vụ liên quan đến số đông dân chúng Đó chính là lí do để nói rằng NNPQ gắn với cộng đồng và đó cũng là xuất phát điểm

Trang 23

của một Nhà nước của dân, do dân, vì dân Tất nhiên chúng ta hiểu rằng khái

niệm nhân dân có tính ước định Theo Tiến sỹ Lê Tuấn Huy trong Triết học

chính trị Montesquieu với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam thì ở

thời kỳ tồn tại Nhà nước tư sản, khái niệm nhân dân được hiểu là toàn bộ các thành phần xã hội nằm ngoài giai cấp phong kiến và cùng với việc củng cố địa vị giai cấp trong một Nhà nước mới, nhân dân dần thu hẹp đến mức quyền lực nằm trong tay thiểu số xã hội

Bên cạnh quyền lực nhân dân đóng vai trò là chủ thể gốc, trong NNPQ phải nói đến sự phân công quyền lực rành mạch Nhân dân cũng không thể thực hiện quyền lực của mình một cách tùy tiện mà chịu sự kiểm soát của thỏa ước xã hội thông qua Hiến pháp Chủ thể quyền lực không chỉ là Nhà nước, nhân dân

mà thậm chí từng cá nhân công dân đã tồn tại như một phần trong hệ thống quyền lực Có thể nói, trong NNPQ tồn tại một kết cấu đa chủ thể quyền lực

Tóm lại, trong nội dung cơ bản của tư tưởng tư sản về NNPQ, có thể thấy nổi lên mối quan hệ giữa Nhà nước - pháp luật - công dân, trong đó pháp luật giữ

vị trí trung tâm chi phối Nhà nước và công dân Chừng nào mà pháp luật điều chỉnh được cách thức tổ chức và hoạt động của Nhà nước, hoạt động của công dân và Nhà nước, công dân biết dựa vào pháp luật, sử dụng pháp luật để đấu tranh bảo vệ lợi ích chính đáng của mình thì chừng đó có NNPQ Quan hệ giữa Nhà nước với pháp luật thể hiện ở chỗ: Pháp luật là phương tiện của cả Nhà nước và nhân dân Nó không phải là công cụ độc quyền dùng để hợp thức hóa việc cai trị mà là công cụ để hiện thực hóa nền chính trị phục vụ Về phía nhân dân, để các quyền công dân được hiện thực hóa, nhân dân phải ước định lại các

cơ quan nhà nước bằng việc dùng sức mạnh của các chế định pháp luật

Luật pháp trong NNPQ là luật pháp dân chủ Luật pháp dân chủ làm cho NNPQ trở thành một “Nhà nước mở” – nghĩa là mang lại cho công dân khả năng chế định lên Nhà nước và hiện thực hóa các quyền của công dân Luật pháp dân chủ không phải là việc quy định cho Nhà nước quyền “cho” hay “không cho” công dân được làm gì mà Nhà nước chỉ là chủ thể chứng nhận – xác nhận mang tính nhà nước- cho hành động tự nguyện, hợp pháp và hợp lý của công dân [37,

tr.55] Chính vì thế mà công thức “người dân được làm tất cả những gì Nhà

nước không cấm, Nhà nước chỉ làm những gì pháp luật cho phép” được thừa

nhận trong NNPQ Thêm nữa, luật pháp dân chủ đòi hỏi quyền lực đi đôi với trách nhiệm

Trang 24

Với yêu cầu mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, NNPQ đòi hỏi một nền tư pháp độc lập, công bằng và dân chủ Nhà nước – với vai trò là chủ thể quyền lực có quyền xử lý quần chúng - khách thể quyền lực - khi có sự vi phạm các quyền lợi pháp lý chung và giải quyết bằng định chế tư pháp Công lý

là một tiêu chuẩn, một giá trị trong NNPQ Công lý chỉ có được khi xã hội có một cơ quan tư pháp độc lập và tôn trọng Hiến pháp dân chủ Vì thế, Tòa án hành chính, Tòa án tư pháp, Tòa án hiến pháp là những định chế tư pháp thực hiện việc phán xử tất cả các cấp nhà nước tương ứng về tính hợp hiến, hợp pháp của các hành động của họ Nhà nước, quyền lực nhà nước và chủ thể quyền lực nhà nước phải đặt dưới sự kiểm soát của một hệ thống pháp luật Để thực hiện vai trò của nền tư pháp phải có một hệ thống đầy đủ các định chế pháp lý có đủ sức mạnh thực chất và toàn diện (công an, công tố, luật sư…)

Một điều cần khẳng định là, tuy rằng trong NNPQ pháp luật là thượng tôn, song không phải cứ có luật pháp, có sự phân công các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp thì đương nhiên có NNPQ mà đó chỉ là bước đầu làm nên nội dung của NNPQ Điều quan trọng là, đó phải là hình thức chính thể trong đó quyền lực nhà nước được tổ chức một cách dân chủ trong tương quan với xã hội công dân Nếu chỉ nói đến quyền lực của pháp luật thì đó là pháp trị, là ý nghĩa

đầu tiên của NNPQ và hiện diện ở mọi hình thức tổ chức quyền lực xã hội Cho

nên, khi nói đến đặc trưng của NNPQ ngoài đề cập đến tính thượng tôn của nền pháp luật dân chủ thì đồng thời phải nói đến dân chủ và xã hội công dân, mới là

sự tiếp cận NNPQ một cách thực chất NNPQ là một hệ thống mở về quyền lực,

về kinh tế, về xã hội và tư tưởng mà ở đó mọi cá thể và định chế xã hội đều có thể tham gia, tác động đến hệ thống quyền lực thông qua pháp luật dân chủ và nền tư pháp độc lập Đây là cách tiếp cận mang tính hiện đại về khái niệm NNPQ

Qua nghiên cứu quan điểm của các nhà kinh điển trước C.Mác, có thể tóm tắt những đặc điểm cơ bản của NNPQ như sau: a) Trong NNPQ pháp luật giữ vai trò thống trị trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội; b) Quyền lực nhà nước được phân chia thành ba nhánh quyền lực độc lập với nhau là quyền lực lập pháp, quyền lực hành pháp, quyền lực tư pháp; c) Bộ máy nhà nước luôn luôn được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật; d) Giữa Nhà nước với công dân có mối quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của hai bên

Trang 25

Như vậy, ngay từ thời kỳ Nhà nước tư sản, vấn đề việc thực hiện quyền tư pháp và cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đã được nhận thức là nội dung vô cùng quan trọng của NNPQ Tòa án là công cụ thực hiện quyền tư pháp và là phương thức bảo vệ quyền công dân có hiệu quả chính nhờ tính độc lập của Tòa án với các thiết chế quyền lực khác

2 Quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về NNPQ XHCN luôn được đặt trong tương quan với sở hữu, với sự phát triển công thương nghiệp, với mỗi giai cấp C Mác không chủ trương xem pháp luật là công cụ của đẳng cấp công chức Ông quan niệm không phải con người tồn tại là

để phục vụ luật pháp mà pháp luật được làm ra để phục vụ con người: “Dưới chế

độ dân chủ, không phải con người tồn tại vì luật pháp, mà luật pháp tồn tại vì con người…chỉ có chế độ dân chủ mới là sự thống nhất chân chính giữa cái phổ biến và cái đặc thù” [39, tr.149,150] Mác và Lênin đã chỉ ra những khác biệt

giữa pháp quyền tư sản và pháp quyền XHCN Theo Lênin “trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa (mà người ta vẫn thường gọi là chủ nghĩa xã hội)

“pháp quyền tư sản” chưa bị xóa bỏ hoàn toàn, mà chỉ bị xóa bỏ một phần, chỉ bị xóa bỏ với mức độ phù hợp với cuộc cách mạng kinh tế được đã được hoàn thành, nghĩa là trong phạm vi tư liệu sản xuất thôi “Pháp quyền tư sản” thừa nhận tư liệu sản xuất là sở hữu riêng của cá nhân Chủ nghĩa xã hội biến tư liệu sản xuất thành sở hữu chung Trong chừng mực ấy và chỉ trong chừng mực ấy,

“pháp quyền tư sản” không còn nữa và “nếu không rơi vào không tưởng thì thì không thể nghĩ rằng sau khi lật đổ chủ nghĩa tư bản, người ta tức khắc có thể làm việc cho chủ nghĩa xã hội mà không cần phải có tiêu chuẩn pháp quyền nào cả, hơn nữa, việc xóa bỏ chủ nghĩa tư bản không thể đem lại ngay được những tiền

đề kinh tế cho một sự thay đổi như vậy” [111, tr.116,117]

Trong quan điểm của Mác về NNPQ, yếu tố chủ yếu được đề cập đó là pháp luật Pháp luật trong tư tưởng của Mác là pháp luật mang tính giai cấp - giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế, chính trị trong xã hội, là sự thể hiện ý chí của giai cấp đó và chịu sự chi phối của thực tại xã hội Mặt khác, pháp luật còn là giá trị chung của xã hội, là thước đo hành vi của các thành viên trong xã hội, hướng đến lợi ích chung của xã hội Pháp luật trong quan điểm của chủ nghĩa Mác không vượt qua điều kiện kinh tế xã hội bởi vì “xã hội không lấy pháp luật làm

cơ sở mà ngược lại pháp luật lấy xã hội làm cơ sở”

Trang 26

Yếu tố thứ hai quan trọng trong quan điểm của Mác về NNPQ XHCN đó là vấn đề bảo đảm thực hiện và bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân hướng tới xây dựng nền dân chủ XHCN Pháp luật được coi là công cụ hữu hiệu để

thực hiện mục tiêu đó Cùng với quan điểm về bảo vệ dân chủ, theo Mác trong

NNPQ XHCN vấn đề xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật, đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật là một nội dung có tính liên hoàn và trở thành một nguyên tắc của nhà nước vì pháp luật giữ vị trí tối thượng trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội; tất cả các chủ thể trong xã hội từ các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước đến các tổ chức kinh doanh, các cá nhân đều phải coi sự tôn trọng pháp luật là nguyên tắc cho hành vi ứng xử của mình Không một ai, kể cả những nhà lập pháp uy tín nhất lại được phép đặt mình trên pháp luật và không thể sử dụng cá nhân để can thiệp hay chống lại pháp luật, đó là quan điểm của Mác Hơn nữa, vấn đề không phải chỉ là việc pháp luật ấy của ai, do ai mà là pháp luật ấy được đảm bảo thực hiện như thế nào

Nội dung phân chia quyền lực và vai trò của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp trong bộ máy nhà nước là một trong những nội dung trọng tâm của

tư tưởng về NNPQ của Mác Ông cũng đề cập đến các giải pháp để “đối trọng”, kìm hãm sự lạm dụng quyền lực của công chức và yêu cầu thực hiện việc bồi dưỡng tinh thần nhân đạo, đảm bảo vô tư khách quan khi thực thi pháp luật và tuân thủ pháp luật triệt để

Có thể định nghĩa về NNPQ theo cách của TS Lê Tuấn Huy như sau: NNPQ

là phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực công được ủy thác và phi chuyên chế, trong tương quan giữa chủ thể ủy thác quyền lực và khách thể được ủy thác

và ngược lại, giữa chủ thể quyền lực công – tức khách thể đó khi nhận được sự

ủy thác, với khách thể quyền lực [37, tr.183]

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc và phát triển những giá trị của tư tưởng về NNPQ trong lịch sử, những nghiên cứu khoa học về NNPQ ở các nước XHCN đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của NNPQ XHCN như sau [27, tr.177-180]:

i) Pháp luật giữ vai trò thống trị trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội; ii) Hệ thống pháp pháp luật đạt các tiêu chuẩn toàn diện, đồng bộ, khoa học, thực tiễn;

iii) Mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước đều luôn luôn xuất phát từ con

Trang 27

iv) Quyền lực nhà nước là thống thất, nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và ở địa phương trong việc thực hiện ba quyền lực là quyền lực lập pháp, quyền lực hành pháp và quyền lực tư pháp;

v) Bộ máy nhà nước luôn luôn được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật; vi) Giữa Nhà nước và công dân có mối quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa

vụ và cùng chịu trách nhiệm;

vii) Nhà nước luôn luôn tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh, thống nhất các điều ước quốc tế mà mình đã ký kết hoặc tham gia;

viii) NNPQ XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Chúng tôi đồng tình với quan điểm của TS Trần Hậu Thành trong “Cơ sở lý

luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” (Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005) về các

đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN bao gồm các vấn đề: chủ thể quyền lực nhà nước là nhân dân; tôn trọng và bảo đảm trên thực tế các quyền và

tự do cơ bản, các lợi ích hợp pháp của công dân (tôn trọng quyền con người); pháp luật giữ địa vị chi phối với Nhà nước và xã hội; Nhà nước tổ chức theo nguyên tắc quyền lực thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các quyền và có sự kiểm tra, giám sát giữa các nhánh quyền lực; ưu tiên và tôn trọng pháp luật quốc tế trong các quan hệ đối ngoại1

Khi phân tích đặc trưng của NNPQ thời kỳ hiện đại, thời kỳ mà NNPQ đặt trong bối cảnh kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, Waldemanr Beson và Gorthard

Jasper trong Pháp trị - Luật pháp và công lý ràng buộc mọi quyền lực của Nhà

nước 2 cho rằng NNPQ gắn với pháp trị Ở góc nhìn hẹp, “pháp trị” có nghĩa là tất cả các nguyên tắc và quy trình bảo vệ quyền tự do của cá nhân và bảo đảm sự tham gia vào đời sống chính trị Nguyên tắc đó làm cho NNPQ ngày nay khác với chế độ chuyên chế, nơi mà cá nhân sống trong nguy cơ có thể bị bắt bớ bất

cứ lúc nào hoặc bị đe dọa mất việc làm hay bị đày ải mà không có cơ hội nào để khiếu nại trước một phiên tòa đàng hoàng (Tòa án khi đó chỉ là một trong vô số

kỹ thuật được thiết kế để bẻ gãy ý chí của con người) Theo các tác giả này thì trong một Nhà nước được cai trị bằng pháp luật, ngay cả những người nắm công

1

TS Trần Hậu Thành (2005), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr.378

2

Josef Thesing (2002), Nhà nước pháp quyền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.180 – 200

Trang 28

quyền cũng phải tuân thủ pháp luật và công lý Tất cả mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và đều có quyền đấu tranh vì quyền của mình Các cơ quan chính phủ chỉ được hành động nếu được ủy quyền và không được tự cho mình quyền đó, thẩm quyền đó phải chịu sự ràng buộc, khống chế của Hiến pháp và các văn bản luật Trong chế độ pháp trị, cả cơ quan lập pháp và hành pháp đều

không được can thiệp và công việc xét xử độc lập của các Thẩm phán và “nền

pháp trị hiện đại dựa trên kinh nghiệm phổ biến là không ai được tự xét xử mình” [116, tr.186] Đó là lí do cần có Tòa án độc lập để xét xử các tranh chấp

Bên cạnh sự độc lập của Thẩm phán thì một nguyên tắc chung quan trọng của NNPQ đó là mọi hoạt động của Chính phủ phải đo lường được và dự báo được Bất kỳ một biện pháp nào do Chính phủ ban hành cuối cùng phải được luật hóa một cách dân chủ Nguyên tắc hợp pháp trong công tác quản lý đòi hỏi phạm vi hành động của các cơ quan chính quyền cần được hạn chế trong khuôn khổ nhất định, chính vì thế, bất kỳ công dân nào tin rằng mình là nạn nhân của một biện pháp quản lý trái pháp luật đều có thể khiếu nại đến Tòa án yêu cầu xem xét lại biện pháp đó [116, tr.191] Chế độ pháp trị phải dựa vào sự độc lập của ngành tư pháp với tư cách là một thể chế và phải có sự phận biệt giữa thể chế này với các nhánh quyền lực nhà nước khác Nền dân chủ, chế độ pháp trị quy định một loạt các thủ tục và cơ chế kiểm soát để xác định phạm vi và hình thức hoạt động của Chính phủ Hành động chính trị, do đó, chịu sự ràng buộc của pháp luật và tất cả quyền lực của Chính phủ phải chịu sự kiểm soát của Tòa án để bảo vệ quyền tự

do của cá nhân

Theo Ulrich Karpen trong “Những điều kiện bảo đảm hiệu quả của nhà nước

pháp quyền, đặc biệt ở các nước đang phát triển và các nước mới công nghiệp hóa” [100, tr.335-379] thì cốt lõi của NNPQ là vấn đề dân chủ và chế độ pháp

trị, đó là hai yếu tố mang tính đáp án của truyền thống chính trị phương Tây để cai trị tốt Nghĩa là phải làm dịu bớt đến mức có thể mâu thuẫn cơ bản giữa cai trị và quyền tự quyết cá nhân, đồng thời phải hạn chế và kiểm soát quyền lực của chính quyền Mục tiêu để nhân dân được quyết định tối đa số phận của chính mình là đòi hỏi chung, qua đó những định đề của “chế độ pháp trị” và “dân chủ” trùng khít với nhau Mặc dù không phải mọi NNPQ (với nghĩa nhà nước theo chế độ pháp trị) đều dân chủ, cũng không phải mọi nền dân chủ đều mặc nhiên là NNPQ, tuy nhiên, ở chừng mực nào đó, khi nói đến chế độ pháp trị thì có thể giả định là: tự do và quyền tự quyết (với nghĩa có được rộng rãi những quyền cơ bản

Trang 29

được bảo vệ cũng như tự do chính trị thể hiện trong quyền quyết định của cộng đồng) chỉ có thể thực thi trong một trật tự tự do và dân chủ Một NNPQ có hiệu lực nghĩa là nhà nước đó thực hiện nhiệm vụ một cách có trách nhiệm, có thể thẩm tra được và có thể tin cậy được Nghĩa là ngành lập pháp phải chăm lo ra những quy định thích hợp và cần thiết, chính quyền tuân thủ pháp luật trong mọi

vấn đề và công dân yên tâm về sự bảo vệ pháp định có hiệu lực trong mọi lúc

Nhưng chế độ pháp trị sẽ tạo ra sự giảm bớt quyền lực độc đoán của chính quyền

và Tòa án quá mở rộng, việc kiện tụng sẽ phát triển vì khi công dân hiểu và chấp

nhận chế độ pháp trị thì họ cũng khai thác nó vì lợi ích của mình Điều kiện làm chỗ dựa cho sự ổn định và hiệu quả của chế độ pháp trị tại các quốc gia phương Tây là độc quyền quyền lực - cơ sở Hiến định của nhà nước - và hệ thống phúc lợi của nhà nước Khi xác định điều kiện cho NNPQ của các nước đang phát triển, dưới góc độ “đại diện dân chủ và phân định quyền lực”, Ulrich Karpen đã

chỉ rõ một NNPQ có hiệu quả sẽ hưng thịnh nhờ sự tuân thủ tự nguyện của công

dân trong một nền dân chủ tự do có tính đại diện và một hệ thống phân công quyền lực Dưới góc độ pháp trị, Nghị viện được yêu cầu chặn đứng trong phạm

vi có thể những văn bản pháp quy kém chất lượng, ngành hành pháp chịu sự

ràng buộc chặt chẽ của pháp luật và tư pháp Hành động của Chính phủ được

hợp pháp nhờ các thủ tục mở, tạo điều kiện cho mọi người tham gia Việc theo dõi việc tuân thủ pháp luật là việc của các Tòa án, ở đó áp dụng nguyên tắc mọi quy trình đều phải công khai và công bằng Các Thẩm phán chỉ có thể độc lập nếu họ được đào tạo tốt và yên tâm về tài chính Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm nêu trên của Ulrich Karpen, nhưng muốn nhấn mạnh thêm rằng,

“vấn đề dân chủ” và “chế độ pháp trị” cuối cùng cũng phải cụ thể hóa bằng việc nhà nước tạo cho công dân có đầy đủ khả năng để thực hiện được dân chủ, tức là

có thể “phát huy được” các quyền tự do của mình và có thể “bảo vệ được” các quyền tự do ấy khi bị xâm hại Điều đó rất gần với quan điểm của Montesquieu khi bàn về nội hàm quan trọng của “quyền công dân” trong NNPQ, đó là quyền

tự do ngôn luận và quyền được an toàn

Như vậy, nói về NNPQ nếu không xét về mặt bản chất giai cấp, mà chỉ xét

về nội dung, vai trò, chức năng, hình thức tổ chức chung thì NNPQ XHCN có nội dung giống như NNPQ Tư sản Đó là nhà nước quản lý bằng pháp luật, theo pháp luật, lấy pháp luật làm chuẩn mực để xử lý mọi vấn đề tổ chức và quản lý đất nước về mọi mặt - nhà nước coi “pháp luật trên hết” (La primauté de droit)

Trang 30

[92, tr.94] Ngoài những điểm tương đồng về nội dung ấy, thì sự khác nhau về bản chất của NNPQ XHCN với NNPQ Tư sản là ở chỗ nhà nước đó là nhà nước của ai - của giai cấp nào? Quyền lực nhà nước thực chất thuộc về ai? Pháp luật được tôn trọng đó là pháp luật của giai cấp nào? - Tức là, “pháp quyền” gắn với bản chất của Nhà nước Trong các NNPQ, dù là pháp quyền Tư sản hay pháp quyền XHCN thì Tòa án đều được công nhận là một bộ phận thực thi quyền lực độc lập, đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và quyền công dân được thực thi trên thực tế

Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm trong khoa học chính trị - pháp lý ở trong và ngoài nước về NNPQ, chúng tôi có một số bình luận như sau:

Mặc dù quan niệm NNPQ XHCN rất đa dạng, phong phú và nhiều chiều Tính chất đa dạng phong phú và phức tạp của vấn đề lý luận và thực tiễn về NNPQ đòi hỏi NNPQ phải được nghiên cứu trên nhiều bình diện: mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật; mối quan hệ giữa Nhà nước và đạo đức, mối quan

hệ giữa Nhà nước, xã hội và công dân; mối quan hệ giữa NNPQ và dân chủ…song, có thể định nghĩa một cách khái quát về NNPQ XHCN của dân, do

dân, vì dân như sau: Đó là Nhà nước được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp và

pháp luật; tuân thủ, bảo vệ và điều hành xã hội theo Hiến pháp và pháp luật Trong Nhà nước pháp quyền XHCN, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân lao động Quyền lực nhà nước là thống nhất và việc thực thi quyền lực nhà nước thông qua cơ chế phân công, phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dựa trên cơ chế kiểm tra và giám sát quyền lực nhằm tôn trọng, bảo đảm các quyền công dân; do Đảng cộng sản lãnh đạo

Về đặc trưng của NNPQ XHCN, chúng tôi đồng tình với quan điểm của các triết gia, các nhà nghiên cứu kể trên về các vấn đề như: tính thượng tôn của pháp luật, về cơ chế kiểm soát thực thi quyền lực nhà nước và sự tôn trọng quyền con người, quyền công dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản… Bên cạnh đó,

chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng đặc trưng quan trọng của NNPQ XHCN đó là

Nhà nước nơi mà quyền công dân phải được bảo vệ và Nhà nước có thể bảo vệ được quyền công dân Vấn đề “bảo vệ được” các quyền công dân là dấu hiệu

khác biệt của NNPQ XHCN với các Nhà nước khác Các Nhà nước khác có thể nêu cao khẩu hiệu “bảo vệ quyền công dân”, nhưng thực chất họ có bảo vệ hay không thì khó có thể khẳng định Thêm nữa, ngoài sự tuyên ngôn “bảo vệ quyền công dân” thì khả năng “bảo vệ được” các quyền của công dân lại là vấn đề mà

Trang 31

các quốc gia phải cân nhắc, vì điều đó đòi hỏi các quốc gia phải có khả năng thể chế hóa các quy định pháp luật, khả năng hiện thực hóa các quy định pháp luật

và khả năng hiệu quả hóa quá trình thực thi pháp luật Việc Nhà nước đặt ra pháp luật ghi nhận và đặt ra cơ chế để bảo vệ các quyền công dân đã là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là công dân có thể “bảo vệ được” quyền đó của mình hay không NNPQ có bản chất là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân cho nên pháp luật của NNPQ XHCN phải là pháp luật vì nhân dân Nhà nước không thể chỉ đưa ra pháp luật mang tính hình thức để tuyên ngôn rằng Nhà nước bảo vệ nhân dân mà điều quan trọng nhất là Nhà nước tuyên bố việc bảo vệ

và có đầy đủ khả năng “bảo vệ được” các quyền đó khi bị xâm hại Đó có thể coi

là đặc trưng, cũng có thể coi là một mục tiêu của NNPQ XHCN Từ mục tiêu đó, đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng nhiều thiết chế, sử dụng nhiều phương pháp để bảo vệ công dân Tòa án nói chung, THC nói riêng là một bộ phận của quyền lực nhà nước, được thiết lập như một kênh quan trọng để hiện thực hóa khả năng

“bảo vệ được” quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi bị xâm hại

Từ đó, theo chúng tôi thì việc hướng đến mục tiêu NNPQ XHCN trở thành

yêu cầu tất yếu của các nước XHCN Đó không phải là việc gọi tên Nhà nước mang tính hình thức, không phải việc hô to khẩu hiệu “vì dân” theo chủ ý của các nhà cầm quyền và cũng không phải công việc có thể thực hiện trong ngắn hạn mà đó là mục tiêu mang tính bản chất và là một quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ Quá trình đó phải dựa trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ kinh nghiệm xây dựng Nhà nước Việt Nam hàng chục năm qua và cần tính đến kiến thức cũng như kinh nghiệm tiên tiến trên thế giới Trong quá trình xây dựng NNPQ XHCN, các nguyên tắc quan trọng cũng đã được xác định rõ như sau:

Xây dựng NNPQ XHCN phải giữ vững được tính chất giai cấp công nhân, tính chất nhân dân, tính chất dân chủ và tính chất nhân đạo của nhà nước XHCN; gắn với công cuộc đổi mới, cải cách toàn diện hệ thống chính trị XHCN vì nhà nước XHCN là một bộ phận trong hệ thống chính trị XHCN, có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại với các bộ phận khác như Đảng cộng sản và các tổ chức chính trị - xã hội; gắn liền với việc giữ vững sự ổn định chính trị vì sự ổn định chính trị phụ thuộc vào sự ổn định của Nhà nước

Trang 32

Xây dựng NNPQ XHCN phải được tiến hành bằng các biện pháp đồng bộ trong bộ máy nhà nước về tư tưởng, tổ chức bộ máy, con người, hoạt động, pháp luật, văn hoá, giáo dục, khoa học - công nghệ

Việc xây dựng NNPQ XHCN phải được tiến hành đồng thời với việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Bên cạnh đó, xây dựng NNPQ XHCN phải được đặt trong bối cảnh các nước XHCN đang chủ động và tích cực hội nhập thế giới Đặc biệt, xây dựng NNPQ XHCN phải được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản [27, tr.176-185]

Trong NNPQ, sự kiểm soát của quyền tư pháp đối với nhánh quyền lập pháp

và hành pháp được xem như một tất yếu Nhà nghiên cứu Bertrand Russell đã

từng kết luận “không ai có thể có uy quyền tuyệt đối được, cho nên suốt đời chỉ

khao khát tìm quyền thế” [8, tr.27] Độc quyền của Nhà nước về cưỡng chế, cái

mang lại cho Nhà nước quyền lực can thiệp một cách có hiệu lực vào hoạt động kinh tế, cũng mang lại cho Nhà nước quyền lực can thiệp một cách độc đoán và chuyên quyền (quan điểm của Ngân hàng thế giới) [50, tr.126] Vì thế, việc xác lập cơ chế kiểm soát quyền lực được coi là vấn đề cơ bản của chính quyền nói chung, NNPQ nói riêng Điều khó khăn nhất của một Chính phủ khi quản lý là tạo ra cơ chế để kiểm soát những người cai trị và tiếp theo là Chính phủ phải kiểm soát lấy chính mình

Học thuyết về NNPQ thể hiện ưu tư của nhân loại tiến bộ về kiểm soát quyền lực bằng việc tập trung vào vấn đề kiểm soát sự lạm quyền của chính quyền để bảo vệ quyền công dân Để giải quyết các tranh chấp giữa công dân và Chính phủ, để giải thích những điều còn mơ hồ trong luật pháp và những quy định pháp luật cần được thực thi, người ta đã nghĩ ra vô số cơ chế chính thức và không chính thức, nhưng không có cơ chế nào quan trọng hơn hệ thống tư pháp chính thức [20, tr.207] Nguyên tắc tính tối cao của luật trong NNPQ góp phần tạo cho

tư pháp có vị thế kiểm soát hành vi của lập pháp và hành pháp Với vai trò là người bảo vệ pháp luật, Tòa án có chức năng duy trì hiệu lực pháp lý bằng cách

vô hiệu hóa những văn bản được ban hành không đúng trật tự

Có thể nói, sự kiểm soát của tư pháp đối với hành pháp là tất yếu của việc tổ chức chính quyền THC là một cơ quan ra đời xuất phát từ tư duy đó và lan tỏa dần từ nước này đến nước khác và tư duy đó ngày càng trở nên rõ ràng trong thời đại chúng ta hiện nay

Trang 33

1.1.2 Tính phổ biến và đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân

Nhiệm vụ xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân lần đầu tiên được chính thức đưa vào Báo cáo chính trị của BCHTƯ Đảng tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng, họp từ ngày 20/01/1994 đến ngày 25/01/1994 tại Hà Nội với nội dung: "Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn

thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân

dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước

phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa NNPQ Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng ta lãnh đạo" Văn kiện Đại hội VIII (06/1996) xác định “Tăng cường pháp chế xã

hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền, quản lý xã hội bằng pháp luật,

đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức” [22, tr.129] Đại hội IX (04/2001) xác định tính chất của Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ mới như sau:

“Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” và xác định mục tiêu “Xây dựng

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”[25, tr.131] Căn cứ vào tinh thần nói trên, Hiến pháp 1992 được sửa đổi năm 2001 của Việt Nam đã ghi nhận tại Điều 2 như sau: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”

NNPQ XHCN Việt Nam tiếp thu các tinh hoa của NNPQ trước đó, triển khai nó trên tinh thần của giai cấp công nhân Các nghiên cứu lý luận về Nhà nước và pháp luật trong thời gian gần đây đã chỉ ra một số đặc trưng cơ bản của NNPQ XHCN Việt Nam như sau:

Thứ nhất, NNPQ XHCN Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân

Khi Nhà nước là của dân thì quyền quyết định thuộc về nhân dân thông qua các

cơ quan dân cử và các cơ quan phái sinh của cơ quan dân cử Tòa án là bộ phận trong bộ máy quyền lực đó, phải hướng đến mục tiêu vì dân, do dân Các hoạt động của Tòa án phải hướng đến bảo vệ quyền lợi cho nhân dân

Thứ hai, bộ máy nhà nước tổ chức và hoạt động theo pháp luật Đặc trưng

này thể hiện tính tối cao của pháp luật trong đời sống nhà nước Bộ máy nhà

Trang 34

nước phải tổ chức và hoạt động theo pháp luật vì pháp luật là ý chí chung của nhân dân đã được nhà nước hóa, chính thức hóa, công khai hóa và tác động tới toàn xã hội, trong đó có Nhà nước Vì thế, Nhà nước cũng chịu tác động của pháp luật Pháp luật thể hiện tập trung ý chí, lợi ích của nhân dân nên nếu bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật thì cơ cấu tổ chức và hoạt động của Nhà nước sẽ luôn luôn phù hợp với ý chí của nhân dân và bảo đảm được lợi ích của dân

Thứ ba, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Bản chất quyền lực nhà nước XHCN Việt Nam là thống nhất Sự quán triệt quan điểm về tính thống nhất này sẽ tác động trực tiếp đến việc tăng cường trách nhiệm của từng cơ quan trong bộ máy nhà nước và củng cố mối quan hệ giữa các

cơ quan, đảm bảo cho bộ máy nhà nước vận hành đồng bộ, thống nhất, có hiệu lực

Thứ tư, Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Quyền công dân đã được quy định trong chương V Hiến pháp hiện hành trên cơ sở kế thừa các quy định tiến bộ về quyền công dân trong các bản Hiến pháp trước đây Cùng với sự phát triển chế độ dân chủ, NNPQ XHCN Việt Nam không chỉ chú trọng đến quy định quyền công dân mà còn tập trung xây dựng và thực hiện các biện pháp đảm bảo quyền công dân, trong đó có việc phát huy vai trò của cơ chế tài phán, đặc biệt là tài phán hành chính THC xét

xử các khiếu kiện của công dân đối với các quyết định hành chính (QĐHC), hành vi hành chính (HVHC) mà công dân cho rằng đã xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của mình THC là thiết chế tạo điều kiện cho công dân có đủ các điều kiện cần thiết để tự bảo vệ mình trong một môi trường pháp lý khách quan

và minh bạch hơn so với cơ chế khiếu nại hành chính

Thứ năm, Nhà nước thừa nhận mối quan hệ bình đẳng giữa quyền và

nghĩa vụ của Nhà nước với nhân dân, nâng cao trách nhiệm trong quan hệ giữa

Nhà nước và công dân Trong NNPQ XHCN, công dân được hưởng các quyền

của mình và Nhà nước bảo vệ các quyền đó Một mặt hưởng lợi từ các chính sách dân chủ ngày càng mở rộng của Nhà nước, mặt khác, công dân sẽ phải có trách nhiệm với Nhà nước thông qua việc thực hiện đầy đủ hơn, nhiều hơn các nghĩa vụ của mình Nhà nước và công dân bình đẳng trong mối quan hệ trách nhiệm và quyền lợi Các cơ chế về bình đẳng này ngày càng được ghi nhận rõ

Trang 35

ràng hơn – không chỉ Nhà nước có quyền truy tố, xét xử công dân, mà ngày càng nhiều quy định cho phép người dân kiện cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức THC là một thiết chế thể hiện quyền bình đẳng giữa công dân với Nhà nước trong chế độ pháp quyền

Thứ sáu, NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân do Đảng cộng sản

Việt Nam lãnh đạo Lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam trước

đây và quá trình xây dựng, phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời gian qua đã khẳng định thực tế rằng sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là một tất yếu Đường lối, phương hướng hoạt động của một nhà nước thực chất là do Đảng cầm quyền chi phối Giữa hai khái niệm “Nhà nước pháp quyền” - quản

lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật là tối thượng - và “sự lãnh đạo của Đảng” không phải là hai khái niệm mâu thuẫn nhau Có thể khẳng định chắc chắn rằng

có Đảng Cộng sản lãnh đạo Nhà nước theo đường lối của Đảng thì không làm mất đi quyền lực nhà nước, cũng không làm mất đi tính pháp quyền của Nhà nước NNPQ XHCN Việt Nam luôn phải đảm bảo rằng sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước đặt trong khuôn khổ pháp luật chứ Đảng không đứng trên pháp luật Do đó, NNPQ không đối lập với vai trò lãnh đạo của Đảng THC là một bộ phận thực thi quyền lực nhà nước, là một hệ thống trong bộ máy nhà nước, cũng tuân theo sự lãnh đạo của Đảng Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống tòa án là một đặc thù của NNPQ XHCN Việt Nam so với các nước trên thế giới Đây cũng là vấn đề chúng tôi sẽ bàn sâu ở các phần sau khi đề cập đến

vị trí của THC trong NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân

Cơ bản, trong NNPQ XHCN Việt Nam đòi hỏi phải có hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức một cách phù hợp và điều quan trọng là phải có một mô hình cơ quan tư pháp phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế theo hướng hội nhập quốc tế Điều đó có nghĩa là vai trò của hệ thống tư pháp được đề cao Toà án là

cơ quan xét xử, hoạt động trên nguyên tắc “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”,

“xét xử tập thể” và “đảm bảo quyền bào chữa”

Có thể nói, tính phổ biến của NNPQ XHCN Việt Nam là việc đề cao đặc trưng “pháp luật là tối thượng” và “Nhà nước thừa nhận mối quan hệ bình đẳng giữa quyền và nghĩa vụ của Nhà nước với nhân dân, nâng cao trách nhiệm trong quan hệ giữa Nhà nước và công dân” theo đó, trách nhiệm của Nhà nước thể hiện bằng việc tìm ra các con đường tốt nhất, hữu hiệu nhất, tiện lợi nhất để có thể “bảo vệ được” các quyền công dân Nghĩa là công dân phải được Nhà nước

Trang 36

trao cho các công cụ cần thiết để có thể bảo vệ được chính các quyền mà Nhà nước đã quy định một cách minh thị cho mình Tính đặc thù của NNPQ XHCN Việt Nam chính là ở chỗ “nhà nước của dân, do dân, vì dân” – tức là nhân dân thành lập Nhà nước bằng phổ thông đầu phiếu, nhân dân trao quyền lực của mình cho Nhà nước và nhân dân giữ lại các quyền (các quyền chỉ thuộc về công dân được pháp luật ghi nhận) [46,tr.79]; quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công phối hợp (không theo tam quyền phân lập) và duy trì vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản

NNPQ XHCN Việt Nam đã qua giai đoạn nhận thức và khẳng định về quan điểm Hiện nay, vẫn cần phải nhận thức về NNPQ XHCN nhằm phát triển đúng hướng theo những những giá trị phổ quát của NNPQ Cho dù mới tồn tại ở những thành phần cục bộ, NNPQ XHCN là cái cần xây dựng chứ không phỉ cái

đã có, đã định hình hoàn chỉnh Không thể có ngay một NNPQ XHCN hoàn chỉnh, mà cần phải có sự năng động, chủ động chính trị để có thể hoàn thiện nó Định hướng xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam trong thời gian tới được xác định như sau: Một là, tiếp tục cải cách, hoàn thiện bộ máy nhà nước một cách toàn diện, sâu sắc, triệt để theo hướng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đạt được các tiêu chuẩn toàn diện, đồng bộ, khoa học, thực tiễn Ba là, tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật và thực hiện pháp luật một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh và thống nhất Bốn là, bảo vệ pháp luật có hiệu quả (đổi mới toàn diện các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật; huy động và tổ chức toàn dân tham gia tích cực, có hiệu quả hơn vào việc phòng, chống các vi phạm pháp luật; Nhà nước cần áp dụng đồng bộ các biện pháp về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, pháp luật, xã hội,…để thu hút nhân dân vào cuộc đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật; xử lý nghiêm minh, kịp thời, nhanh chóng mọi vi phạm pháp luật [27, tr.176-185]

Vấn đề quan trọng khi nghiên cứu về NNPQ XHCN Việt Nam là lý giải được đâu là một NNPQ XHCN đúng hướng và điều quan trọng nhất là tìm ra cơ chế

để hiện thực hóa nó trong thực tế đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Một trong những cơ chế đó chính là cách tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, trong

đó sự kiểm soát lẫn nhau giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Trang 37

1.2 VAI TRÒ CỦA TÒA HÀNH CHÍNH TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

1.2.1 Tòa hành chính

a) Quan niệm về Tòa hành chính

Cách đây khoảng 15 năm, “Tòa hành chính” là khái niệm mới trong đời

sống khoa học pháp lý Thậm chí, ngay cả hiện nay, hiểu đúng về hệ thống THC, không phải là chuyện đơn giản đối với số đông dân chúng Các quan niệm về Tòa hành chính tương đối đa diện khi xem xét dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau

 Tòa hành chính là một cơ quan tài phán hành chính

Theo cách hiểu này thì có một sự liên hệ mật thiết nhất định giữa khái niệm “tài phán hành chính” và “Tòa hành chính” Điều đó có thể được lí giải như sau:

Chữ “tài phán” theo thuật ngữ tiếng Pháp, tiếng Anh có nguồn gốc từ chữ

“Jurisdiction” nghĩa là thẩm quyền tư pháp hay quyền tư pháp - Quyền lực của

toà án đối với việc xét xử một vụ án [97, tr.497] Xét về thuật ngữ, nội hàm khái niệm “tài phán” bao gồm toàn bộ các hoạt động, hành vi của tổ chức, cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền theo luật định nhằm giải quyết các vụ việc tranh chấp pháp lý

Quyền tài phán là quyền năng theo pháp luật, phù hợp với pháp luật và được pháp luật bảo hộ Hành vi tài phán được đặt trong phạm vi, bối cảnh nhất định, tức là hành vi có giới hạn Hành vi tài phán được quy định trong một hệ thống chung gọi là thể chế tài phán - tổng thể các quy tắc pháp lý quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp và cách thức giải quyết các tranh chấp

Nếu xét theo tính chất, tài phán có hai dạng chính: tài phán bắt buộc (do các bên yêu cầu Tòa án xét xử, phán quyết có tính bắt buộc) và tài phán tự nguyện (thông qua trọng tài - cơ quan trung gian thực hiện việc phân xử) Mục đích hoạt động của cơ quan tài phán là hướng đến sự khách quan, công bằng khi giải quyết tranh chấp giữa các bên Tranh chấp (dân sự, thương mại, hành chính…) là đối tượng xem xét của cơ quan tài phán Theo Đại từ điển tiếng Việt

“Tranh chấp là những bất đồng, trái ngược nhau” [115] và theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa thì “tranh chấp là giằng co nhau một cái không rõ thuộc về bên

Trang 38

nào Đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên” [96, tr.898] Tranh chấp còn được định nghĩa là “Những mâu thuẫn, bất hoà về quyền và nghĩa vụ hợp pháp giữa các chủ thể tham gia vào mối quan hệ pháp luật, trong đó có tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” [60, tr.382] Khi các bên không tự giải quyết được mâu thuẫn, không tin vào khả năng tự giải quyết tranh chấp của mình, họ cần có bên thứ ba là người phân xử, bên đó gọi là bên tài phán hay cơ quan tài phán

Xuất phát từ mục đích của việc giải quyết tranh chấp dấu hiệu nhận biết của cơ quan tài phán như sau: đó phải là bên thứ ba, độc lập với các bên tranh chấp và là người được quyền xem xét, đánh giá những vấn đề thuộc nội dung tranh chấp để đưa ra phán quyết mà các bên liên quan có trách nhiệm tôn trọng Quan hệ hình thành trên cơ sở có cơ quan tài phán tham gia sẽ hình thành loại quan hệ ba bên (theo nghĩa tương đối) bao gồm: tối thiểu là hai bên tranh chấp

và cơ quan tài phán Với nghĩa như vậy cơ quan tài phán có thể là: cơ quan trọng tài (thường thấy trong giải quyết tranh chấp thương mại, lao động), cơ quan giải quyết khiếu nại (cấp trên) và Tòa án

Vấn đề đặt ra là việc các chủ thể ban hành QĐHC, thực hiện HVHC giải quyết khiếu nại về các quyết định hoặc hành vi của mình (còn gọi là giải quyết khiếu nại lần đầu) có được gọi là hoạt động tài phán không? Và các chủ thể giải quyết khiếu nại lần đầu đó có được gọi là “cơ quan tài phán” không?

Căn cứ định nghĩa “Tài phán” nêu trên, hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính lần đầu (theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo cũng như các luật khác) không thể hiện đầy đủ dấu hiệu đặc trưng của hoạt động tài phán, cơ quan giải quyết khiếu nại lần đầu không có những dấu hiệu nhận diện của cơ quan tài phán Trong trường hợp giải quyết khiếu nại lần đầu, về bản chất, chỉ là quan hệ

hai bên: bên khiếu nại và bên giải quyết khiếu nại Người giải quyết khiếu nại tự

xem xét lại tính hợp pháp của các quyết định và hành vi của mình thì không đúng

với bản chất của hoạt động tài phán Tính độc lập, khách quan, công bằng vốn là mục đích của hoạt động tài phán đều khó đạt được vì cơ quan giải quyết khiếu nại chính là một bên của tranh chấp Như vậy, quan điểm cho rằng ở Việt Nam,

từ trước năm 1996, hoạt động tài phán hành chính được thực hiện bởi “các cơ quan hành chính, cán bộ nhà nước có thẩm quyền ban hành các quyết định hoặc thực hiện các hành vi bị khiếu nại” [93, tr.24-25] là chưa thật hợp lý

Trang 39

“Cơ quan tài phán hành chính” là khái niệm để chỉ cơ quan thực hiện

hoạt động xem xét, đánh giá, phán quyết về tranh chấp hành chính “Cơ quan tài phán hành chính” theo nghĩa đó có nội hàm rộng, bao gồm nhiều loại cơ quan khác nhau: có thể là cơ quan giải quyết khiếu nại cấp trên; có thể là Tòa án Bên cạnh đó, còn có những thiết chế tài phán hành chính lưỡng tính ví dụ cơ quan giải quyết các vụ việc cạnh tranh theo quy định của Luật cạnh tranh 2005 (Điều

49, 53) Các cơ quan này là công cụ của Chính phủ trong việc thực thi các chính sách, pháp luật về cạnh tranh, có tính chất của cơ quan hành chính nhưng hoạt động điều tra, xử lý các vụ việc cạnh tranh của cơ quan này giống như hoạt động xét xử của Tòa án Hoạt động của loại cơ quan này mang tính chất tài phán hành chính rõ nét bởi cơ quan này có quyền ban hành các quyết định về mặt chuyên môn để phán xử về hành vi cạnh tranh của các chủ thể liện quan và áp dụng các biện pháp phạt đối với các vi phạm Nhưng việc giải quyết lại theo thủ tục xét

xử Sự kết hợp giữa đặc tính “hành chính” và “tư pháp” là yếu tố đảm bảo cho cơ quan quản lý cạnh tranh thực hiện nhiệm vụ [53, tr.150]

Tóm lại, “cơ quan tài phán hành chính” là khái niệm có thể được áp dụng cho nhiều loại cơ quan, trong đó có Tòa án Xét về bản chất, bàn đến khái niệm

“Tòa hành chính” là đề cập đến khái niệm “tài phán hành chính” Từ điển giải

thích thuật ngữ luật học giải thích như sau: “Tài phán hành chính là hoạt động

xét xử các tranh chấp hành chính giữa công quyền với công dân, cơ quan, tổ chức do cơ quan tài phán của nhà nước thực hiện theo trình tự tố tụng nhất định được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước” [95, tr.104]

Sự gắn kết giữa khái niệm “Tòa hành chính” và “tài phán hành chính” còn

được thể hiện ở định nghĩa sau: “Tài phán hành chính là hoạt động xét xử các vụ

án hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính, do Toà án nhân dân (các Toà hành chính chuyên trách) và các Thẩm phán hành chính thực hiện

nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và các cơ quan nhà nước, nhằm bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước” [93, tr.27] Theo định nghĩa này, THC là cơ quan thực hiện hoạt động tài phán hành chính

Mối quan hệ giữa “tòa hành chính” và “tài phán hành chính” cũng được thể hiện trong quan niệm của các nước trên thế giới về việc tổ chức cơ quan xét

Trang 40

xử hành chính Các nước trên thế giới lâu nay cũng có những quan niệm khác nhau về tài phán hành chính Sự khác nhau đó xuất phát từ sự khác biệt của những hệ thống pháp luật trên thế giới Chẳng hạn, theo quan niệm của các nước

thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Anglosacxon), tài phán hành chính là việc

giải quyết các tranh chấp hành chính bằng Tòa án Tòa án ở Hợp chủng quốc

Hoa Kỳ được tổ chức theo hai hệ thống: Tòa án liên bang và Tòa án tiểu bang xét xử tất cả các loại việc từ hình sự, dân sự đến hành chính Ở Anh, mô hình Tòa án trước thập niên 30 cũng có cơ cấu như vậy Đến thập niên 30 của thế kỷ

XX, ở Anh chưa thành lập hệ thống THC và phải đến thập niên 50, THC mới phát triển ở Anh quốc

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu trong thống pháp luật châu Âu lục địa thì tranh chấp hành chính là một loại tranh chấp đặc biệt giữa một bên là chủ thể nhân danh nhà nước, mang quyền lực nhà nước áp đặt đối với phía bên kia là cá nhân công dân hoặc các tổ chức không mang quyền lực nhà nước Vì thế, các tranh chấp hành chính khi xảy ra phải được xử lý theo một cơ chế đặc biệt, phù hợp với đặc thù của loại quan hệ hành chính Từ đó cơ chế xét xử hành chính bởi Tòa án hành chính được hình thành ở châu Âu Luật tố tụng hành chính của Pháp quy định rằng bên cạnh quyền khiếu nại hành chính công dân có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại THC là hệ thống tòa án độc lập với hệ thống Tòa án tư pháp Khái niệm “Tòa tư pháp” được sử dụng phổ biến ở Pháp

vì đây là nơi tồn tại hai hệ thống tài phán (tài phán tư pháp - juge judiciaire và

tài phán hành chính - juge administratif) Hệ thống tài phán tư pháp bao gồm các

tòa dân sự và các tòa hình sự Hệ thống thứ hai là hệ thống THC Giữa hai hệ thống này có sự phân biệt thẩm quyền mang tính Hiến định, có những thẩm quyền đương nhiên của mình [40], nhưng Toà tư pháp cũng có thẩm quyền xét

xử đối với một số quyết định do cơ quan hành pháp ban hành trong khuôn khổ thực hiện chức năng quyền lực công

Ở một số nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, quan điểm về tài phán hành chính có nét đặc thù riêng Chẳng hạn, người Trung quốc quan niệm về tài phán hành chính là hoạt động xét xử của Tòa án đối với loại đối tượng đặc biệt là tranh chấp hành chính và thông qua một thủ tục riêng là thủ tục

tố tụng hành chính (Luật kiện tụng hành chính năm 1990 của Trung quốc được ban hành thể hiện rõ quan điểm đó) Ở Nhật Bản, do chịu ảnh hưởng của cả hai

hệ thống pháp luật Tây Âu và Anh- Mỹ nên tài phán hành chính ở Nhật có nét

Ngày đăng: 01/04/2018, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w