Mặc dù các ngành, các cấp địa phương đã có nhiều nỗ lực để ngăn ngừa sự phát sinh và gia tăng, nhưng tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác xảy ra trên địa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI TIẾN THÀNH
PHÒNG NGỪA TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC
GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HOÀ BÌNH
Chuyên ngành: Tội phạm học và điều tra tội phạm
Mã số : 60 38 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN NGỌC HOÀ
HÀ NỘI – 2011
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Tiến Thành
Trang 3Trang
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC
GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HOÀ BÌNH
6
1.1 Thực trạng của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006
đến năm 2010
6
1.2 Cơ cấu, tính chất của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm
2006 đến năm 2010
18
1.3 Diễn biến của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006
đến năm 2010
26
1.4 Những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn
tỉnh Hoà Bình
28
CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG
TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HOÀ BÌNH
2.3 Nguyên nhân là những yếu kém thuộc về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực văn hoá, trật tự, an toàn xã hội
41
2.4 Nguyên nhân thuộc về yếu kém trong hoạt động phát hiện, xử lý
tội phạm
44
CHƯƠNG 3: DỰ BÁO VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TỘI
CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ
CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HOÀ BÌNH
48
3.1 Dự báo tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình đến năm 2015
48
Trang 4hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình
3.2.3 Biện pháp về quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hoá, trật tự,
Trang 5CYGTT Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác NPT Người phạm tội
TAND Toà án nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Là tỉnh miền núi nằm ở khu vực Tây Bắc, Hoà Bình có diện tích tự nhiên là 4.662,5 km2 với dân số khoảng 789.000 người (số liệu tổng điều tra dân số năm 2009), được cơ cấu theo 11 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố và 10 huyện Trong
xu thế phát triển của cả nước, Hoà Bình đã dần khai thác được những tiềm năng của mình để thúc đẩy kinh tế phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh Tuy nhiên, Hoà Bình vẫn là tỉnh có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn so với cả nước (chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2010-PCI-chỉ xếp hạng 60/63 tỉnh thành cả nước), cùng với những tiêu cực do mặt trái của quá trình phát triển kinh tế xã hội đem lại như tình trạng thất nghiệp, sự tha hoá đạo đức, tệ nạn xã hội Đó là một trong những nguyên nhân của tội phạm nói chung cũng như tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nói riêng trên địa bàn tỉnh Hoà Bình Mặc dù các ngành, các cấp địa phương đã có nhiều nỗ lực để ngăn ngừa sự phát sinh và gia tăng, nhưng tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác xảy ra trên địa bàn tỉnh Hoà Bình trong thời gian qua vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số tội phạm đã xảy ra (trong 5 năm-2006 đến
2010, Toà án các cấp của tỉnh Hoà Bình đã xét xử sơ thẩm 294 vụ với 432 bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, chiếm 10,95% về số vụ và 10,69% về số bị cáo trong tổng số tội phạm) Với diễn biến ngày càng phức tạp, tội phạm này không chỉ xâm hại sức khoẻ của con người mà còn làm mất trật tự, trị an, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân
Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện tình hình tội phạm, phân tích nguyên nhân và đề xuất những biện pháp hữu hiệu, góp phần làm giảm thiểu và
Trang 7từng bước đẩy lùi tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình là việc làm cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác cũng đã được một số tác giả nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau
Dưới góc độ Tội phạm học, trên bình diện cả nước có công trình nghiên cứu
của tác giả Nguyễn Hữu Cầu "Đặc điểm tội phạm học của tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác ở Việt Nam hiện nay và các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa" (Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện Cảnh sát
nhân dân, Hà Nội 2002); trên bình diện địa phương, gần đây có các công trình
nghiên cứu của tác giả Ngô Việt Hồng "Đấu tranh phòng chống tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn Thành phố Hà Nội"
(Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội 2005), của tác giả
Nguyễn Quang Thưởng "Biện pháp đấu tranh ngăn chặn làm giảm tội phạm cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác của lực lượng Cảnh sát nhân dân - Công an thành phố Hà Nội" (Luật văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại
học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội 1999)
Các công trình kể trên đã làm rõ tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nói chung hoặc ở một số địa phương, góp phần nhất định vào phòng ngừa và chống tội phạm này Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Mục đích nghiên cứu đề tài: Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
phòng ngừa tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình
- Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:
+ Đánh giá thực trạng, cơ cấu và tính chất, diễn biến của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010;
+ Phân tích nguyên nhân của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình;
+ Dự báo tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình trong thời gian tới (2011–2015);
+ Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu đề tài: Luận văn nghiên cứu tình hình tội phạm,
nguyên nhân của tội phạm và các biện pháp phòng ngừa tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình
- Phạm vi nghiên cứu đề tài: Luận văn nghiên cứu tình hình tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006–2010 Luận văn tập trung phân tích tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên cơ sở số liệu thống kê (tội phạm rõ) Nguồn số liệu chính được sử dụng trong đề tài là số liệu thống kê của TAND tỉnh Hoà Bình và các toà án cấp huyện trong tỉnh Bên cạnh đó có sự so
Trang 9sánh, đối chiếu với số liệu thống kê của các ngành có liên quan và so sánh với số liệu thống kê của ngành TAND các tỉnh Sơn La, Yên Bái
Bên cạnh đó, để có tiêu chí đánh giá phục vụ cho mục đính nghiên cứu mà chưa có trong số liệu thống kê của ngành toà án, tác giả tiến hành khảo sát 160 bản
án sơ thẩm với 226 bị cáo Theo chúng tôi, số lượng bản án nói chung và tỉ lệ bản án của tỉnh và từng địa bàn cấp huyện được sử dụng để khảo sát đã đảm bảo tính đại biểu cho tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác đã xảy ra trên địa bàn tỉnh Hoà Bình trong thời gian qua
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê hình sự, v.v để thực hiện các nhiệm vụ của luận văn
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn đưa ra những đánh giá mới nhất về thực trạng, cơ cấu và tính chất, diễn biến của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010, đồng thời lý giải một cách khoa học nguyên nhân của tội đó
Luận văn cũng đưa ra một số dự báo tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình trong thời gian tới và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội này trên địa bàn tỉnh Hoà Bình
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Trang 10Chương 1: Tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình
Chương 2: Nguyên nhân của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Chương 2: Dự báo và các biện pháp phòng ngừa tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Trang 11CHƯƠNG I TÌNH HÌNH TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HOÀ BÌNH
Tình hình tội phạm được hiểu là trạng thái, xu thế vận động của tội phạm đã
xảy ra trong một đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định [9, tr.203] Nghiên
cứu tình hình tội phạm đòi hỏi phải nghiên cứu thực trạng, cơ cấu và tính chất cũng như diễn biến của tình hình tội phạm Mục đích của việc nghiên cứu này là giúp các
cơ quan có thẩm quyền thấy được các nguyên nhân của tội phạm và dựa trên đó có thể xây dựng được các biện pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp
Tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình được nghiên cứu chủ yếu thông qua số liệu thống
kê tội phạm đã xét xử sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Hoà Bình trong 5 năm gần đây, từ năm 2006 đến năm 2010 Trong đó, tác giả tập trung phân tích các thông số của tình hình tội phạm là thực trạng, cơ cấu và tính chất, diễn biến của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
Trang 12Bảng số 1: Số vụ và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ 2006 đến 2010
Năm
Địa bàn
2006 Vụ/BC
2007 Vụ/BC
2008 Vụ/BC
2009 Vụ/BC
2010 Vụ/BC
Tổng Vụ/BC
Nguồn: TAND tỉnh Hoà Bình, TAND các huyện, thành phố của tỉnh Hoà Bình
Bảng thống kê trên cho thấy từ năm 2006 đến năm 2010, TAND các cấp thuộc tỉnh Hoà Bình đã xét xử sơ thẩm 294 vụ án phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác với số bị cáo là 432 người Bình quân hàng năm có khoảng 59 vụ với khoảng 86 bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
Trang 13Để thấy rõ mức độ nghiêm trọng của thực trạng tội này, chúng ta cần so sánh
số liệu trên với số liệu về số vụ và người phạm tội của nhóm các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm trong cùng khoảng thời gian
Bảng số 2: Số vụ và số bị cáo thuộc nhóm tội xâm phạm TM, SK, bị xét xử
sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006 đến 2010
Nguồn: TAND tỉnh Hoà Bình
Như vậy, bình quân hàng năm có khoảng 97 vụ với khoảng 140 bị cáo phạm tội thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần so sánh số liệu của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác với tội phạm nói chung trong cùng khoảng thời gian
Bảng số 3: Số vụ và số bị cáo phạm tội nói chung đã bị xét xử sơ thẩm trên địa
bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006 đến năm 2010
Trang 14Như vậy bình quân hàng năm trên toàn tỉnh có khoảng 537 vụ với khoảng 808
bị cáo bị xét xử sơ thẩm
Từ các số liệu đã nêu trên, ta có thể so sánh theo các nội dung sau:
Bảng số 4: Số vụ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
của người khác với số vụ phạm tội thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và số vụ phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm
2006 đến năm 2010
Năm Tội CYGTT
…(1)
Nhóm tội xâm phạm TM, SK,
… (2)
Tội phạm nói chung (3)
Tỷ lệ % (1) so với (2)
Tỷ lệ % (1) so với (3)
Nguồn: TAND tỉnh Hoà Bình
Từ bảng trên thấy rằng: Số vụ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác chiếm tỷ lệ lớn trong nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm (thấp nhất chiếm 53,25% năm 2010, cao nhất chiếm 83,33% năm 2009, bình quân trong 5 năm chiếm 60,49%) Bên cạnh đó cũng
có thể thấy một tỷ lệ không nhỏ của số vụ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác so với tổng số vụ phạm tội trên toàn tỉnh (thấp nhất chiếm 8,61% năm 2010, cao nhất chiếm 11,90% năm 2007, các năm còn lại đều chiếm trên 10%, bình quân trong 5 năm chiếm 10,95%) Nhận xét trên đây được thấy rõ hơn thông qua biểu đồ sau:
Trang 15Biểu đồ số 1: So sánh số vụ phạm tội CYGTT với số vụ phạm tội thuộc nhóm
tội xâm phạm TM, SK, và số vụ phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006 đến năm 2010
Nguồn: TAND tỉnh Hoà Bình
Bảng số 5: Số bị cáo phạm tội CYGTT với số bị cáo phạm tội thuộc nhóm tội
xâm TM, SK, và số bị cáo phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm
2006 đến năm 2010
Năm Tội CYGTT …
(1)
Nhóm tội xâm phạm TM,
SK, … (2)
Tội phạm nói chung (3)
Tỷ lệ % (1) so với (2)
Tỷ lệ % (1) so với (3)
Trang 16Từ bảng trên có thể đưa ra các nhận xét sau: Thứ nhất, số bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác chiếm tỷ lệ lớn so với số bị cáo thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm (thấp nhất chiếm 49,33% năm 2006, cao nhất chiếm 83,78% năm 2009, các năm còn lại đều chiếm trên 50%, bình quân trong 5 năm chiếm 61,80%) Thứ hai, số
bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác chiếm tỷ lệ không nhỏ so với tổng số bị cáo phạm tội trên toàn tỉnh (thấp nhất chiếm 7,49% năm 2010, cao nhất chiếm 14,17% năm 2007, bình quân trong 5 năm chiếm 10,69%) Các nhận xét trên được biểu diễn bằng biểu đồ sau:
Biểu đồ số 2: So sánh số bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác với số bị cáo phạm tội thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và số bị cáo phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006 đến năm 2010
Nguồn: TAND tỉnh Hoà Bình
Bảng số 6: Bình quân số vụ và số bị cáo/năm của tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; của nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và của tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006 đến năm 2010
Trang 17Loại Tội CYGTT … Nhóm tội xâm
phạm TM, SK, …
Tội phạm nói chung
Số vụ
Số bị cáo
Nguồn: Tác giả tự thống kê
Biểu đồ số 3: So sánh số vụ bình quân/năm và số bị cáo bình quân năm của
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; Nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm; Tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006 đến năm 2010
Nguồn: Tác giả tự thống kê
Một tiêu chí để đánh giá mức độ phổ biến của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác đó là xác định chỉ số tội phạm (số vụ và số người phạm tội/100.000 dân)
Bảng số 7: Chỉ số tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình qua các năm từ 2006 đến 2010
Trang 18Năm Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Nguồn: Tác giả tự thống kê
Ghi chú: (*) Nguồn–Cục thống kê tỉnh Hoà Bình
Từ bảng thống kê trên, thấy rằng chỉ số tội phạm (số vụ, người phạm tội) cao nhất vào năm 2008, thấp nhất vào năm 2010 Chỉ số bình quân trong 5 năm về số vụ
là 7,18; về số người phạm tội là 10,55 Diễn biến của chỉ số tội phạm được thể hiện
rõ hơn qua biểu đồ sau:
Đồ thị số 1: Chỉ số tội phạm qua từng năm từ 2006 đến 2010
Nguồn: Tác giả tự thống kê
Trang 19Bên cạnh đó, việc xem xét số liệu của CQĐT về tội cố ý gây thương tích trong cùng khoảng thời gian cũng là một yếu tố để làm rõ tình hình tội phạm và yếu tố này còn có giá trị trong việc đánh giá hiệu quả xử lý tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền Do đó, chúng ta có bảng so sánh với số liệu từ Văn phòng cơ quan CSĐT
CA tỉnh Hoà Bình như sau:
Bảng số 8: So sánh số vụ, số người phạm tội đã xét xử sơ thẩm với số vụ bị
khởi tố, số bị can bị khởi tố (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác) trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006 đến năm 2010
Năm Số vụ đƣợc
phát hiện
Số vụ/bị can (1)
Số vụ/bị cáo (2)
Qua bảng trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Trước hết, có thể thấy có sự chênh lệch giữa số vụ việc được phát hiện và số
vụ việc bị khởi tố Nguyên nhân ở đây có thể do quá trình xác minh thấy không đủ căn cứ để khởi tố vụ án hoặc do nạn nhân không đề nghị khởi tố, v.v ;
- Thứ hai, có thể thấy rằng từ năm 2006 đến 2010 số vụ bị xét xử sơ thẩm so với số vụ bị khởi tố chiếm 78,19%; số bị cáo so với số bị can bị khởi tố chiếm
Trang 2080,75% Như vậy có một phần vụ việc bị khởi tố tại cơ quan điều tra đã không bị đưa ra xét xử sơ thẩm mà chỉ bị xử lý bằng các biện pháp khác Đồng thời cũng có thể thấy, từ năm 2006 đến năm 2010, tỷ lệ giữa số vụ án được xét xử sơ thẩm với số
vụ khởi tố và tương ứng là số bị cáo bị xét xử sơ thẩm với số bị can bị khởi tố là có
xu hướng giảm dần
Nhằm làm rõ hơn tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình, chúng ta có thể so sánh tình hình này với với 02 địa phương khác ở khu vực Miền núi phía Bắc là tỉnh Sơn La và tỉnh Yên Bái
Trước hết, có thể điểm qua một số nét về tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn hai tỉnh này như sau: Trong 5 năm (2006-2010), tỉnh Yên Bái đã xét xử sơ thẩm 1991 vụ với 2037 bị cáo về các tội phạm nói chung, bình quân mỗi năm xét xử sơ thẩm 398,2 vụ với 407,4 bị cáo Trong đó có 120 vụ với 128 bị cáo về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, bình quân mỗi năm xét xử sơ thẩm 24 vụ với 25,6 bị cáo; tỷ lệ so với tội phạm nói chung chiếm 6,03% về số vụ và 6,28% về
số bị cáo; bình quân số người phạm tội trong 1 vụ là 1,067 Chỉ số tội phạm (tính số
vụ, số bị cáo/100.000 người dân) của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (dân số bình quân là 737.580 người) về số vụ là 3,25 và về
số người phạm tội là 3,47 (Theo số liệu thống kê của Văn phòng TAND tỉnh Yên
Trang 21cáo/100.000 người dân) của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (dân số bình quân là 1.064.462 người) về số vụ là 3,01 và về số
người phạm tội là 4,19 (Theo số liệu thống kê của Văn phòng TAND tỉnh Sơn La)
Từ các thống kê trên, ta có bảng so sánh:
Bảng số 9: So sánh tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của người khác trên địa bàn các tỉnh Hoà Bình, Sơn La và Yên Bái trong 5 năm (2006-2010)
Địa
phương
Bình quân năm Tỷ lệ % so với TP
nói chung Bình quân NPT/Vụ
Nguồn: Tác giả tự thống kê
Từ bảng so sánh nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Về số vụ phạm tội bình quân năm: Hoà Bình có số lượng vượt trội (59 vụ) so
với Sơn La (32 vụ) và Yên Bái (24 vụ) Về bình quân số người phạm tội trong 1 vụ,
ở Hoà Bình cũng cao hơn (1,469); Sơn La (1,394) và Yên Bái (1,067)
- Về tỷ lệ tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác so với tội phạm nói chung: Hoà Bình có tỷ lệ vượt trội so với Sơn La và Yên
Bái (về số vụ: 10,95% so với 2,32% và 6,03%; về số người phạm tội: 10,69% so với 2,21% và 6,28%)
Trang 22- Về chỉ số tội phạm: Hoà Bình có chỉ số tội phạm vượt trội so với tỉnh Sơn La
và Yên Bái (về số vụ: 7,18 so với 3,01 và 3,25; về số người phạm tội: 10,55 so với 4,19 và 3,47)
Do đó, có thể thấy so với các địa phương khác là Sơn La và Yên Bái, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác ở tỉnh Hoà Bình có mức độ nghiêm trọng hơn thể hiện ở sự vượt trội về số lượng, về tỷ lệ so với tội phạm nói chung cũng như về số người phạm tội bình quân trong 1 vụ
Như vậy, qua xem xét số liệu thống kê tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình trong 5 năm (2006–2010) có thể thấy một thực tế là tội này chiếm tỷ lệ lớn trong nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm với tỷ lệ bình quân chiếm 60,49%
số vụ và 61,80% số bị cáo Đặt trong mối quan hệ với tội phạm nói chung thì tội phạm này cũng chiếm tỷ lệ đáng kể (bình quân 10,95% số vụ và 10,69% số bị cáo) Bên cạnh những nhận xét đã nêu, cũng cần phải khẳng định rằng số liệu đã nêu chưa phản ánh đầy đủ các thông số của tình hình tội phạm bởi có những vụ phạm tội
và người thực hiện hành vi phạm tội chưa bị phát hiện, chưa bị xử lý (tội phạm ẩn) Mỗi loại tội phạm có tỷ lệ ẩn riêng ứng với mỗi địa bàn và khoảng thời gian nhất định Về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác xảy
ra trên địa bàn tỉnh Hoà Bình cũng có một tỷ lệ ẩn nhất định, xuất phát từ các lý do như: nạn nhân đã thoả thuận với người phạm tội và do đó không tố cáo; nạn nhân sợ
bị trả thù nên không dám tố cáo; cơ quan chức năng bỏ lọt tội phạm do nghiệp vụ,
do không vô tư trong việc giải quyết … Do đó, việc đấu tranh đẩy lùi tội phạm cũng
cần phải nhằm vào việc hạn chế tội phạm ẩn
Trang 231.2 Cơ cấu, tính chất của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006 đến năm 2010
Cơ cấu, tính chất của tình hình tội phạm thể hiện đặc điểm bên trong của tình tình tội phạm Chúng có quan hệ mật thiết với nhau, qua phân tích cơ cấu của tình hình tội phạm sẽ rút ra tính chất của tình hình tội phạm
Nghiên cứu cơ cấu của tình hình tội phạm là tìm hiểu tỉ trọng, mối tương quan giữa nhân tố bộ phận và tổng thể của tình hình tội phạm trong khoảng thời gian nhất định và trên địa bàn nhất định Trên cơ sở đó có thể làm sáng tỏ tính chất của tình hình tội phạm, đó là những đặc điểm đặc trưng, nổi bật nhất trong cơ cấu của tình hình tội phạm Từ đó có thể có định hướng tập trung trong việc tìm ra nguyên nhân của tội phạm cũng như trên cơ sở đó có giải pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp Việc phân tích cơ cấu để rút ra tính chất của tình tình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình trong thời gian qua (2006–2010) được tác giả thực hiện thông qua nghiên cứu 160 bản án hình
sự sơ thẩm được chọn ngẫu nhiên theo một số tiêu chí
- Cơ cấu theo loại tội phạm (Phân loại theo điều 8–BLHS)
Theo tiêu chí này có 27 vụ thuộc loại tội ít nghiêm trọng, chiếm 16,88%; 94 vụ thuộc loại tội nghiêm trọng, chiếm 58,75%; 39 vụ thuộc loại tội rất nghiêm trọng, chiếm 24,37%; không có vụ nào thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng
Biểu đồ số 4: Cơ cấu theo loại tội phạm
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Trang 24Từ cơ cấu này có thể rút ra nhận xét: Phần lớn số vụ án thuộc loại tội nghiêm trọng (được truy tố, xét xử theo khoản 2 Điều 104 của BLHS, có khung hình phạt từ
2 năm đến 7 năm tù)
- Cơ cấu theo mức độ hậu quả (tỷ lệ thương tật của nạn nhân)
Theo tiêu chí này, với 188 nạn nhân thì 29 nạn nhân có tỷ lệ thương tật dưới 11%, chiếm 15,43%; 111 nạn nhân có tỷ lệ thương tật từ 11% đến dưới 31%, chiếm 59,04%; 33 nạn nhân có tỷ lệ thương tật từ 31% đến dưới 61%, chiếm 17,55%; 5 nạn nhân có tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên, chiếm 2,66%; 10 nạn nhân bị tử vong, chiếm 5,32% (không có vụ án nào tử vong hơn 1 nạn nhân)
Biểu đồ số 5 : Cơ cấu theo mức độ hậu quả (tỷ lệ thương tật của nạn nhân)
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Từ cơ cấu này có thể rút ra nhận xét: Phần lớn nạn nhân có tỷ lệ thương tật từ 11% đến dưới 31%
Trang 25- Cơ cấu theo loại hình phạt
Trong tổng số 226 bị cáo có 01 bị cáo bị áp dụng hình phạt cảnh cáo, chiếm 0,44%; 225 bị cáo bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn, chiếm 99,56% Trong đó, hình phạt tù đến 3 năm là 178 bị cáo, chiếm 79%; hình phạt tù từ trên 3 năm đến dưới 7 năm là 38 bị cáo, chiếm 17%; hình phạt tù từ 7 năm trở lên là 9 bị cáo, chiếm 4% Số bị cáo bị phạt tù và được cho hưởng án treo là 126 bị cáo, chiếm 56%
Biểu đồ số 6: Cơ cấu theo loại hình phạt được áp dụng
Biểu đồ số 7: Cơ cấu theo các mức của Hình phạt tù có thời hạn
Trang 26Biểu đồ số 8: Cơ cấu theo số bị cáo được và không được áp dụng Án treo
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Từ cơ cấu này có thể rút ra nhận xét: Hình phạt phổ biến áp dụng cho các bị cáo là tù có thời hạn; trong loại hình phạt tù có thời hạn thì phần lớn mức hình phạt
là từ 3 năm tù trở xuống (chiếm 79%), tỷ lệ án treo là khá lớn (chiếm 56%)
- Cơ cấu theo hình thức phạm tội (đồng phạm hay phạm tội riêng lẻ)
Trong số các vụ phạm tội được khảo sát có 128 vụ phạm tội đơn lẻ, chiếm 80%; 32 vụ phạm tội đồng phạm, chiếm 20%
Biểu đồ số 9: Cơ cấu theo hình thức phạm tội
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Từ cơ cấu này có thể rút ra nhận xét: Hình thức phạm tội đơn lẻ tuy chiếm phần lớn hơn nhưng tỷ lệ đồng phạm là 20% cũng rất đáng kể
Trang 27- Cơ cấu theo số vụ có hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội
Số vụ án mà bị cáo có sử dụng công cụ phương tiện phạm tội như tuýp nước, gậy gỗ, gậy tre, dao sắc, dao nhọn, gạch, đá … là 135 vụ, chiếm 84,37%; số vụ còn lại, không sử dụng công cụ là 25 vụ, chiếm 15,63%
Biểu đồ số 10: Cơ cấu theo số vụ có hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện
phạm tội
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Từ cơ cấu này có thể rút ra nhận xét: Đa số các vụ án thuộc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là có sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội
- Cơ cấu theo địa điểm phạm tội
Trong số các vụ phạm tội được khảo sát có 68 vụ xảy ra ở nơi công cộng, chiếm 42,50%; 39 vụ xảy ra tại nhà hàng, quán xá, chiếm 24,37%; 8 vụ xảy ra tại các trường học, chiếm 5,00%; 42 vụ xảy ra tại nhà riêng, chiếm 26,25%; 3 vụ xảy ra tại trụ sở các cơ quan, tổ chức, chiếm 1.88%
Trang 28Biểu đồ số 11: Cơ cấu theo địa điểm phạm tội
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Từ cơ cấu này có thể rút ra nhận xét: Tội phạm xảy ra ở nơi công cộng chiếm
tỷ lệ lớn nhất; tiếp đến là ở nhà riêng, hàng quán; một số ít vụ xảy ra ở trường học hay cơ quan, tổ chức
- Cơ cấu theo động cơ phạm tội
Trong số các vụ án được khảo sát có 80 vụ phạm tội được thực hiện với động
cơ trả thù, chiếm 50%; 15 vụ với động cơ ghen tuông, chiếm 9,38%; 17 vụ với động
cơ hám lời, chiếm 10,62%; 48 vụ với các động cơ khác, chiếm 30%
Biểu đồ số 12: Cơ cấu theo động cơ phạm tội
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Trang 29Từ cơ cấu này có thể rút ra nhận xét: Động cơ phạm tội chủ yếu là động cơ trả thù
- Cơ cấu theo thời gian phạm tội
Số vụ phạm tội xảy ra từ 6h đến 14h là 54 vụ, chiếm 33,75%; xảy ra từ 14h đến 22h là 79 vụ, chiếm 49,37%; xảy ra từ 22h đến 6h hôm sau là 27 vụ, chiếm 16,88%
Biểu đồ số 13: Cơ cấu theo thời gian phạm tội
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Từ cơ cấu này có thể rút ra nhận xét: Khoảng thời gian từ 14h đến 22h là thời gian có số vụ phạm tội xảy ra nhiều nhất
- Cơ cấu theo lỗi của nạn nhân trong tình huống phạm tội cụ thể
Trong 160 vụ án được khảo sát có 188 bị hại, trong đó có 79 bị hại có lỗi trong tình huống trở thành nạn nhân của tội phạm (chiếm 42,02%), lỗi của họ có thể biểu hiện ở cử chỉ, lời nói xúc phạm hoặc có thể cả hành vi tấn công người phạm tội
Có 109 người bị hại không có lỗi trong việc trở thành nạn nhân của tội phạm (chiếm 57,98%)
Trang 30Biểu đồ số 14: Cơ cấu theo lỗi của nạn nhân
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Từ cơ cấu này rút ra nhận xét: Nạn nhân có lỗi trong tình huống phạm tội cụ thể chiếm một tỷ lệ đáng kể
- Cơ cấu theo giới tính của nạn nhân
Trong số các bị hại trong các vụ án được khảo sát có 157 bị hại là nam giới, chiếm 83,51%; 31 bị hại là nữ giới, chiếm 16,49%
Biểu đồ số 15: Cơ cấu theo giới tính của nạn nhân
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Từ cơ cấu này có thể rút ra nhận xét: Nạn nhân là nam giới chiếm tỷ lệ lớn
- Cơ cấu theo nhân thân người phạm tội
Vấn đề này được đề cập trong mục 1.4
Trang 311.3 Diễn biến của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006 đến năm
Bảng số 10: Mức độ tăng, giảm hàng năm của số vụ và số bị cáo phạm tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
Nguồn: TAND tỉnh Hoà Bình
Ghi chú: MĐTG: Mức độ tăng, giảm hàng năm
Trang 32Từ bảng trên có thể thấy, trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2010,
số vụ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
tăng dần từ 2006 đến năm 2008 và có xu hướng giảm mạnh từ năm 2008 đến năm
2010 So với năm 2006: Năm 2007 tăng 8,3%, năm 2008 tăng 13,3%, năm 2009
không tăng, năm 2010 giảm 31,7%
Từ bảng trên cũng cho thấy, số bị cáo từ năm 2007 tăng mạnh so với năm 2006
(45,9%); nhưng sau đó, số bị cáo giảm dần so với năm 2006: Năm 2008 tăng 36,5%,
năm 2009 tăng 25,7% và năm 2010 giảm 24,3% Về tỷ lệ bình quân số bị cáo trong
một vụ án thì mức độ tăng giảm không đều: Năm 2006 có 1,23 bị cáo/vụ; năm 2007
có 1,66 bị cáo/vụ; năm 2008 có 1,49 bị cáo/vụ; năm 2009 có 1,55 bị cáo/vụ; năm
2010 có 1,37 bị cáo/vụ Tuy nhiên có thể thấy tỷ lệ bị cáo/vụ án có xu hướng giảm
dần kể từ năm 2007 đến nay
Để thấy rõ hơn diễn biến của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khoẻ của người khác (theo số vụ và số bị cáo) trong 5 năm 2006–2010,
tác giả thể hiện sự diễn biến này qua đồ thị sau:
Đồ thị số 2: Diễn biến của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác theo số vụ và số bị cáo trong 5 năm (2006–2010)
Nguồn: TAND tỉnh Hoà Bình
Trang 331.4 Những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình
Nghiên cứu 160 bản án ngẫu nhiên (tổng cộng 226 bị cáo) tác giả có các kết quả sau:
- Về giới tính và tuổi của người phạm tội: Về giới tính có 217 bị cáo là nam
giới (chiếm 96,02%) và có 9 bị cáo là nữ giới (chiếm 3,98%); về độ tuổi có 27 bị cáo chưa thành niên (chiếm 12%) và có 198 bị cáo đã thành niên (chiếm 88%) Như vậy bị cáo là nam giới, ở tuổi đã thành niên chiếm tỷ lệ lớn hơn rất nhiều Chúng ta
có thể thấy rõ hơn nhận xét này qua các biểu đồ sau:
Biểu đồ số 16: Về giới tính của người phạm tội
Biểu đồ số 17: Về độ tuổi của người phạm tội
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Trang 34- Về trình độ văn hoá của người phạm tội: Trong số các bị cáo có 16 bị cáo
không biết chữ (chiếm 7,08%), 35 bị cáo có trình độ tiểu học (chiếm 15,49%), 96 bị cáo có trình độ trung học cơ sở (chiếm 42,47%) và 79 bị cáo có trình độ trung học phổ thông (chiếm 34,96%) Như vậy, phần lớn các bị cáo có trình độ trung học cơ
sở, trung học phổ thông (chiếm 77,43%); số bị cáo không biết chữ hoặc có trình độ tiểu học chiếm tỷ lệ thấp hơn (chiếm 22,57%)
Biểu đồ số 18: Về trình độ văn hoá của người phạm tội
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
- Về đặc điểm phạm tội lần đầu hay tái phạm: Trong số các bị cáo có 13 bị cáo
thuộc diện tái phạm (chiếm 5,75%), 213 bị cáo thuộc diện lần đầu phạm tội (chiếm 94,25%) Như vậy, số bị cáo thuộc diện tái phạm chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, chủ yếu
là phạm tội lần đầu
Biểu đồ số 19: Về đặc điểm tái phạm hay phạm tội lần đầu của người phạm tội
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Trang 35- Về đặc điểm dân tộc của người phạm tội: Trong số các bị cáo có 112 bị cáo là
dân tộc Kinh (chiếm 49,56%), 102 bị cáo là dân tộc Mường (chiếm 45,13%), 12 bị cáo là các dân tộc thiểu số khác như Tày, Thái, H’Mông … (chiếm 5,31%) Như vậy, tỷ lệ các bị cáo là dân tộc Kinh và Mường chiếm đa số (94,69%), các dân tộc thiểu số khác chiếm tỷ lệ nhỏ (5,31%)
Biểu đồ số 20: Về thành phần dân tộc của người phạm tội
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
- Về đặc điểm nghề nghiệp của người phạm tội: Trong số các bị cáo có 8 bị cáo
không có nghề nghiệp gì (chiếm 3,54%), 26 bị cáo là học sinh, sinh viên (chiếm 11,50%), 89 bị cáo làm nông nghiệp (chiếm 39,38%), 1 bị cáo là viên chức nhà nước (chiếm 0,44%), 102 bị cáo làm các nghề khác như công nhân, thợ xây, xe ôm, lái xe, buôn bán (chiếm 45,13%) Như vậy, những bị cáo làm nghề tự do và nông nghiêp chiếm tỷ lệ lớn (chiếm 84,52%); cần lưu ý là có một tỷ lệ không nhỏ bị cáo
là học sinh, sinh viên
Trang 36Biểu đồ số 21: Về nghề nghiệp của người phạm tội
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
- Về đặc điểm quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân: Trong số các bị cáo
có 108 bị cáo có quen biết với người bị hại và cũng có 108 bị cáo không quen biết gì người bị hại
Biểu đồ số 22: Về quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân
Nguồn: Từ 160 bản án hình sự sơ thẩm
Kết luận của Chương 1: Việc nghiên cứu tình hình tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm
2006 đến năm 2010 cho thấy: Về số lượng tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn chiếm
tỷ lệ lớn trong tổng số các vụ phạm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm con người Bên cạnh đó, số vụ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác với số đông bị cáo tham gia vẫn còn nhiều; số