1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế thị trường ở việt nam hiện nay

66 246 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 529,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT... Mục đớch, phạm vi nghiờn cứu của đề tài Trờn cơ sở phõn tớch cỏc q

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGÔ THỊ HƯỜNG

HÀ NỘI, 2011

Trang 2

Trước tiên tôi xin bầy tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo - Tiến sĩ Ngô Thị Hường đã tận tình chỉ bảo, góp ý và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Lan, chủ nhiệm lớp Cao học luật khóa 15, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa sau đại học trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình quan tâm và động viên tôi trong suốt thời gian vừa qua

Những lời cảm ơn sau cùng tôi xin cảm ơn sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của gia đình bạn bè và đồng nghiệp trong thời gian qua để tôi hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này

Nguyễn Thị Hòa

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ cô hướng dẫn và những người tôi đã cảm ơn Các nội dung nghiên cứu

và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào

Bắc Ninh, ngày 25 tháng 06 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Thị Hòa

Trang 4

Chương 1: CƠ SỞ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 5

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: 5 1.1.1 Cơ sở lý luận: 5 1.1.2 Cơ sở thực tiễn: 10

1.2 Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:……15

1.2.1.Ý nghĩa của chế định quyền sở hữu đối với sự phát triển của gia đình 15 1.2.1 Ý nghĩa của việc xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền

kinh tế hiện nay 18

1.3 SƠ LƯỢC VỀ QUY ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG QUA CÁC THỜI KỲ: 21

Chương 2: XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG

2.1 XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG TRUỜNG

2.1.1 Vài nét về thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay:……… … 25 2.1.2 Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng dùng tài sản chung để đầu tư chứng khoán:………26 2.1.3 Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ, chồng dùng tài sản riêng để đầu tư chứng khoán………30 2.1.4 Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên

vợ, chồng vay tiền để đầu tư chứng khoán:……….31 2.1.5 Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng chia tài sản chung để đầu tư chứng khoán……… 32

Trang 5

tham gia hoạt động kinh doanh bất động sản hợp pháp……… 34 2.2.1 Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng tham gia hoạt động kinh doanh bất động sản bất hợp pháp………38

2.3 XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG TRUỜNG

2.3.1 Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng tham gia thành lập doanh nghiệp tư nhân……….……… 39 2.3.2 Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng thành lập, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc góp vốn vào công

ty cổ phần ……… 42

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VIỆC XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG NỀN KINH TẾ

3.1 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ

3.1.1 Những vướng mắc trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế hiện nay ….………… 46 3.1.2 Một số vụ việc cụ thể về giải quyết tranh chấp về xác định ………….49

3.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tớnh cấp thiết của đề tài

Gia đỡnh là tế bào của xó hội, là cỏi nụi nuụi dưỡng con người, là mụi trường quan trọng hỡnh thành và giỏo dục nhõn cỏch, gúp phần vào sự nghiệp xõy dựng và bảo vệ tổ quốc “Gia đỡnh tốt thỡ xó hội tốt, xó hội tốt thỡ gia đỡnh càng tốt” (Lời núi đầu - Luật Hụn nhõn và gia đỡnh 2000) Gia đỡnh được xõy dựng trờn cơ sở cỏc quan hệ hụn nhõn, huyết thống và nuụi dưỡng, trong đú quan hệ hụn nhõn là nền tảng Mỗi gia đỡnh núi chung, mỗi cặp vợ chồng núi riờng ngoài nghĩa vụ yờu thương, quý trọng chăm súc giỳp đỡ lẫn nhau, mỗi bên cũn cú nghĩa vụ duy trỡ cuộc sống và phỏt triển kinh tế chung của gia đỡnh Thực hiện tốt chức năng kinh tế của gia đỡnh

mà nội dung là sự tham gia của cỏc thành viờn vào quỏ trỡnh sản xuất, quỏ trỡnh tiờu dựng, gúp phần tạo dựng và phỏt triển cơ sở vật chất, tinh thần nhất định cho gia đỡnh và xó hội Chớnh vỡ vậy, điều chỉnh vấn đề tài sản của vợ chồng luụn được nhà làm luật quan tõm Tài sản của vợ chồng là một trong những chế định quan trọng của phỏp luật hôn nhân và gia đình Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay và sự tỏc động của nền kinh tế thị trường, vợ chồng tham gia ngày càng rộng rói vào cỏc giao dịch dõn sự, thương mại làm cho cỏc quan hệ tài sản trong gia đình ngày càng phức tạp, đặc biệt là những tranh chấp về tài sản của vợ chồng

Hiến phỏp 1992, cựng cỏc văn bản phỏp luật khỏc như: Bộ luật dõn

sự năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật đầu tư năm 2005… là cơ

sở phỏp lý để vợ chồng tham gia vào cỏc quan hệ dõn sự, kinh tế với tư cỏch là những chủ thể độc lập Họ cú thể cựng nhau đầu tư sản xuất kinh doanh hoặc tiến hành sản xuất kinh doanh riờng, cú thể sử dụng tài sản chung hoặc tài sản riờng vỡ lợi ớch cỏ nhõn hay vỡ lợi ớch chung của cả gia đỡnh Vỡ vậy, việc xỏc định lợi nhuận cũng như nghĩa vụ tài sản phỏt sinh từ

Trang 7

hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc quyền sở hữu của vợ hoặc chồng hay của chung vợ chồng là vấn đề hết sức khú khăn Trong khi đú, cỏc văn bản phỏp luật chuyờn ngành chỉ núi đến cỏc cỏ nhõn với tư cỏch là chủ thể của cỏc quan hệ phỏp luật dõn sự, thương mại chứ khụng đề cập đến việc họ tham gia với tư cỏch của người vợ hoặc người chồng trong gia đỡnh Luật Hôn nhân và gia đình hiện nay cũng chưa cú bất cứ một quy định cụ thể nào điều chỉnh vấn đề tài sản của vợ chồng khi một bên vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh Chớnh vỡ vậy, xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế hiện nay ngày càng khú khăn phức tạp Giải quyết tốt vấn đề này khụng chỉ đảm bảo quyền lợi của vợ chồng mà cũn gúp phần ổn định, phỏt triển gia đỡnh, đảm bảo quyền lợi của cỏc tổ chức cỏ nhõn cú liờn quan và ổn định cỏc quan hệ

xó hội khỏc

Từ thực tế trờn, tỏc giả luận văn mong muốn tiến hành tỡm hiểu và nghiờn cứu thực trạng phỏp luật điều chỉnh vấn đề xỏc định quyền sở hữu tài sản vợ chồng trong nền kinh tế hiện nay Trờn cơ sở đú đưa ra những kiến nghị nhằm từng bước xõy dựng và hoàn thiện cỏc quy định của phỏp luật về vấn đề này

2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu đề tài

Trong những năm qua đó cú nhiều bài viết và cỏc cụng trỡnh khoa học đề cập tới những khớa cạnh khỏc nhau của vấn đề tài sản vợ chồng như: Chế độ tài sản của vợ chồng, xỏc định tài sản của vợ chồng, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hụn nhõn… ở mức độ nhất định đó làm sỏng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về tài sản của vợ chồng Trong đú, một

số tỏc giả đó nghiờn cứu những vấn đề liên quan đến tài sản của vợ chồng trong các hoạt động đa dạng của nền kinh tế nước ta hiện nay Cú thể kể ra như: “Trỏch nhiệm liờn đới của vợ chồng đối với hợp đồng dõn sự do một

Trang 8

bờn thực hiện” (Nguyễn Hải An, Tạp chớ toà ỏn nhõn dõn số 12/2004),

“Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hụn nhõn và gia đỡnh Việt Nam” (Nguyễn Văn Cừ - Luận ỏn Tiến sĩ Luật học, 2005), “Một số vấn đề về tài sản vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam” (Trần Đức Hoài, Luận văn thạc sĩ luật học, 2006), “Tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh” (Bộ mụn Luật hụn nhõn và gia đỡnh - Đề tài khoa học cấp trường, 2008), …

Tuy nhiờn vẫn chưa cú một bài viết, một cụng trỡnh khoa học nào tập trung nghiờn cứu vấn đề xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế hiện nay Đõy thực sự là một đề tài mới mẻ mà cũng rất phức tạp, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay

3 Mục đớch, phạm vi nghiờn cứu của đề tài

Trờn cơ sở phõn tớch cỏc quy định của phỏp luật hiện hành về quyền

sở hữu tài sản của vợ chồng, luận văn đi sâu nghiên cứu nhằm xỏc định tài sản chung của vợ chồng và tài sản riờng của vợ hoặc chồng trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường khi vợ chồng tham gia vào những hình thức sản xuất kinh doanh khác nhau

Luận văn tập trung nghiờn cứu vấn đề xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng khi vợ, chồng tham gia một số lĩnh vực chủ yếu trong nền kinh tế hiện nay như thị trường chứng khoỏn, kinh doanh bất động sản, thành lập các loại hỡnh doanh nghiệp… Từ đú tỡm ra những điểm khiếm khuyết, bất cập của pháp luật hiện hành và đề xuất những phương ỏn bổ sung hoàn thiện phỏp luật nhằm điều chỉnh vấn đề này

4 Phương phỏp nghiờn cứu của đề tài

Các phương pháp chủ yếu được sử dụng để thực hiện đề tài là phương phỏp phõn tớch, tổng hợp và so sỏnh luật Ngoài ra, phương pháp thống kê

và khảo sát thực tế cũng được sử dụng để hoàn thành đề tài

Trang 9

5 Những đúng gúp mới của Luận văn

- Xỏc định rừ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay;

- Nờu ý nghĩa phỏp lý và thực tiễn của việc xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay;

- Xỏc định rừ quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong một số trường hợp như: Trường hợp vợ chồng đầu tư vào thị trường chứng khoỏn, trường hợp vợ chồng tham gia kinh doanh bất động sản và trường hợp vợ chồng thành lập một số loại hỡnh doanh nghiệp;

- Đưa ra một số phương hướng cụ thể hoàn thiện phỏp luật điều chỉnh việc xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay

6 Cơ cấu của luận văn:

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở và ý nghĩa của việc xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Chương 2: Xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong một số trường hợp cụ thể theo phỏp luật hiện hành

Chương 3: Phương hướng hoàn thiện phỏp luật điều chỉnh việc xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG NỀN KINH TẾ

THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt là nền tảng của một xã hội phát triển Gia đình thực hiện tốt chức năng kinh tế sẽ là cơ sở để thực hiện tốt các chức năng xã hội cơ bản khác của gia đình, góp phần thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Do vậy, các chế định liên quan đến tài sản, quyền sở hữu tài sản của vợ chồng luôn được nhà làm luật quan tâm Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì vấn đề tài sản, quyền

sở hữu tài sản của vợ chồng ngày càng trở thành vấn đề cần nhận được sự quan tâm của nhà làm luật hơn nữa Trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn đề ra những chủ trương, định hướng kịp thời và phù hợp Bản chất của chế độ xã hội, cùng với các yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường là cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam

1.1.1 Cơ sở lý luận:

Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân

và vì dân nên mục tiêu của chế độ kinh tế cũng là vì lợi ích của nhân dân Qua các Nghị quyết của Đại hội Đảng về Đường lối phát triển kinh tế, có thể thấy quan điểm cách mạng và nhân dân của Đảng Cộng Sản Việt Nam

là “Tất cả do con người, tất cả vì hạnh phúc con người” Phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế phải gắn chặt với những tiến bộ và công bằng xã hội, thực

Trang 11

hiện mục tiêu "mọi lợi ích đều vì dân", giải phóng con người, con người phát triển toàn diện Con người là nhân tố quyết định, là động lực to lớn, là chủ thể sáng tạo mọi nguồn của cải vật chất và tinh thần của xã hội Vì hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chúng ta

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế - xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội

Có thể nói nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường, vừa mang tính đặc thù, đó là định hướng xã hội chủ nghĩa Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật kinh tế thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ở nước ta với các nước khác

Tính định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở nước ta thể hiện trước hết ở việc xác định nội dung các mục tiêu chiến lược phát

triển kinh tế thị trường và đặc trưng xã hội của nền kinh tế thị trường [3]

Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội”, Đảng ta đã xác định: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:

- Do nhân dân lao động làm chủ

- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu

- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân

Trang 12

- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới"(1) [4,Tr 8-9]

Với những định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta nêu trên, thì mục tiêu hàng đầu phát triển kinh tế thị trường ở nước ta được xác định là giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, phát triển nền kinh tế, động viên mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế, trên cơ sở đó, cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, từng bước thực hiện sự công bằng, bình đẳng và lành mạnh các quan

hệ xã hội Từ đó sẽ khắc phục được tình trạng tự túc tự cấp của nền kinh tế, thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển, mở rộng ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động Áp dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động xã hội, tăng số lượng, chủng loại và chất lượng hàng hóa, dịch vụ Thúc đẩy tích tụ, tập trung sản xuất,

mở rộng giao lưu kinh tế giữa các địa phương, các vùng lãnh thổ, với các nước trên thế giới Động viên mọi nguồn lực trong nước và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài Phát huy tinh thần năng động, sáng tạo của mỗi người lao động, mỗi đơn vị kinh tế, tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững Đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước nghèo và kém phát triển, thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Bởi vậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta có ba điểm rất cơ bản là: Lấy chế độ công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu làm nền tảng và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo nền kinh tế quốc dân; kết hợp nhiều hình thức phân phối, thực hiện tốt các chính sách xã hội; Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân, vì dân thực hiện

Trang 13

chức năng quản lý nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngay từ Hiến pháp năm 1959, Nhà nước ta đã xác định mục đích chính sách kinh tế của Việt Nam là: Không ngừng phát triển mức sản xuất nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân (Điều 9) Tiếp

đó, Hiến pháp năm 1980 khẳng định: Thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và văn hoá ngày càng tăng của xã hội (Điều 15) Trên cơ sở kế thừa và phát huy những điểm tiến bộ của các bản Hiến pháp cũ, Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định mục tiêu phát triển kinh tế của nhà nước ta là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất

và tinh thần của nhân dân (Điều 16)

Để đạt được mục tiêu kinh tế đã đề ra, Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhà nước ta thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Điều 15 Hiến pháp năm 1992)

Hiến pháp năm 1992 có ý nghĩa quan trọng ghi nhận chính sách phát triển nền kinh tế thị trướng định hướng xã hội chủ nghĩa mà nền tảng là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần “nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với các hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân” (Điều 19), “các cơ cấu sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 22) Đồng thời, Điều 57 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” Để cụ thể hoá những quy định của Hiến pháp năm 1992, một loạt các văn bản pháp luật được xây dựng và ban hành như: Luật doanh nghiệp (2005), Luật thương mại (2005), Bộ luật dân sự (2005)… Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để mỗi cá nhân nói chung, mỗi cặp vợ chồng nói riêng tiến hành đầu tư kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận

Trang 14

để xây dựng kinh tế gia đình, duy trì và cải thiện đời sống, thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của các thành viên gia đình Các văn bản pháp luật ban hành đã đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội trong thời kỳ hội nhập và

hệ quả là nhiều mô hình kinh tế ra đời thu hút lượng vốn đầu tư lớn trong dân Sự tăng nhanh về số lượng các mô hình kinh tế đã tận dụng và phát huy được sức mạnh của toàn dân vào sự nghiệp phát triển kinh tế Trong

đó, sự tham gia của mỗi gia đình mà hạt nhân là vợ chồng vào quá trình này là hết sức năng động

Hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành đã quy định một cách tương đối đầy đủ về vấn đề sở hữu và quyền sở hữu tài sản nói chung cũng như quyền sở hữu tài sản của vợ chồng nói riêng Hiến pháp năm 1992 đã

ghi nhận: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để

dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” (Điều 58 Hiến pháp

năm 1992) Đặc biệt, thành tựu lập pháp cao nhất trong lĩnh vực sở hữu đó

là các quy định về tài sản và quyền sở hữu tại Phần thứ hai Bộ luật dân sự Các quy định tương đối đầy đủ và hoàn thiện về sở hữu là những chuẩn mực pháp lý ổn định, tạo hành lang pháp lý vững chắc để giải quyết những tranh chấp về tài sản và quyền sở hữu tài sản

Trên cơ sở Hiến pháp và Bộ luật dân sự về quyền sở hữu tài sản, quyền tự do tham gia lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân, Luật Hôn nhân và gia đình quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng Luật Hôn nhân và gia đình đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã quy định vợ chồng có quyền ngang nhau đối với tài sản mỗi bên có trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân Do tính chất lịch sử của giai đoạn này mà nhà làm luật lúc bấy giờ chưa công nhận quyền sở hữu riêng của vợ, chồng Đạo luật hôn nhân và gia đình tiếp theo là Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986,

Trang 15

bên cạnh công nhận sở hữu chung giữa vợ và chồng, nhà làm luật còn công nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng Kế thừa hai đạo luật trước đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Vợ chồng có quyền sở hữu chung đối với thu nhập hợp pháp do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên vợ chồng trong thời

kỳ hôn nhân hoặc tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung hoặc được thừa kế chung (Điều 27) Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000 cũng khẳng định quyền sở hữu của vợ hoặc chồng đối với thu nhập hợp pháp của mỗi bên trước khi kết hôn hoặc tài sản mà mỗi bên được thừa

kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 32) Các quy định trên là cơ sở pháp lý cho việc xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân, bao gồm cả khi vợ chồng tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định quyền sở hữu tài sản của

vợ chồng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

1.1.2 Cơ sở thực tiễn:

Có thể khẳng định trong những năm vừa qua nền kinh tế xã hội của đất nước đã dành được những thành tựu đáng kể

Một là, đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế

tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện

Hai là, thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành

phần Kinh tế tập thể, mà nòng cốt là hợp tác xã, đã được đổi mới từng bước theo Luật Hợp tác xã và các chính sách của Đảng và Nhà nước Các hợp tác xã đã chứng tỏ được rõ hơn vai trò, vị trí đối với kinh tế hộ trong sản xuất hàng hóa, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Kinh tế tư nhân phát huy ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng có bước phát triển quan trọng

Trang 16

Ba là, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần

được hình thành Nền kinh tế nhiều thành phần theo chủ trương của Đảng

và được quy định trong Hiến pháp 1992 đã được cụ thể hoá bằng các Luật, Pháp lệnh Với Luật Doanh nghiệp, quyền tự do kinh doanh được Hiến pháp năm 1992 quy định đã thực sự đi vào cuộc sống Bộ luật dân sự, Luật Thương mại, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước… đã tạo khung pháp lý ban đầu cho các yếu tố thị trường hình thành

và vận hành từng bước Đồng thời, Nhà nước đã thể chế hoá thành cơ chế, chính sách về đất đai, tín dụng, ưu đãi thuế Nhờ đó, đã góp phần tích cực cho quá trình phát triển kinh tế thị trường trong suốt những năm qua Nhà nước đã từng bước tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của các cơ quan nhà nước, chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước của Nhà nước và chức năng kinh doanh của doanh nghiệp chuyển từ quản lý cụ thể các hoạt động của nền kinh tế sang quản lý tổng thể nền kinh tế quốc dân; chuyển từ can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế sang can thiệp gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật, kế hoạch, cơ chế, chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô khác

Bốn là, đạt được những kết quả tích cực trong hội nhập kinh tế khu

vực và thế giới Vượt ra khỏi chính sách bao vây cấm vận của Mỹ và các lực lượng thù địch nước ngoài, Việt Nam đã tham gia hợp tác, liên kết kinh

tế quốc tế trên các cấp độ và trong các lĩnh vực kinh tế then chốt (như thương mại dịch vụ, lao động, đầu tư, khoa học và công nghệ ) Đặc biệt

là, nước ta đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ngày 28-7-1995, đã không ngừng mở rộng các quan hệ kinh tế song phương, tiểu vùng, vùng, liên vùng và tiến tới tham gia liên kết kinh tế toàn cầu Ngày 7- 11- 2006 Việt Nam chính thức gia nhập WTO đem lại những thuận lợi và

cả những thách thức mới cho nền kinh tế, tạo hành lang pháp lý để thu hút

Trang 17

vốn đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài

Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước phát triển năng động, sự tham gia của vợ chồng vào các giao dịch dân sự, thương mại ngày càng rộng rãi

đã nảy sinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết, nhất là các vấn đề liên quan đến tài sản vợ chồng ngày càng phức tạp Các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng, giữa vợ chồng và người thứ ba ngày càng nhiều và đây cũng là những tranh chấp chủ yếu

Chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt đông sản xuất kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm đã tận dụng

và phát huy được sức mạnh tổng thể của nguồn lực trong nước vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế

Từ thực tiễn phát triển kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua, cùng với các quy định của pháp luật đã tạo cơ sở khuyến khích vợ chồng tham gia ngày càng sâu rộng vào các quan hệ dân sự và thương mại Theo quy định của pháp luật hiện hành, các hình thức kinh doanh mà vợ chồng

có thể lựa chọn đầu tư rất phong phú và đa dạng như: Kinh tế hộ gia đình, thành lập doanh nghiệp, tham gia thị trường chứng khoán, kinh doanh bất động sản, tham gia các hợp đồng cho thuê tài sản… để tìm kiếm lợi nhuận

Vợ chồng có thể cùng nhau đầu tư kinh doanh hoặc có thể đầu tư kinh doanh riêng, mục đích của họ có thể vì lợi ích cá nhân hoặc vì lợi ích chung của cả gia đình Vì vậy, việc xác định quyền sở hữu tài sản vợ chồng trong những trường hợp này là hết sức phức tạp

Hơn nữa, trong những năm gần đây, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng như kết hôn với người nước ngoài, một bên

vợ chồng là người Việt Nam sinh sống, học tập, lao động tại nước ngoài…

Trang 18

Trong những trường hợp này thỡ việc xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ

chồng là hết sức khú khăn Trỏch nhiệm của mỗi bờn vợ chồng đối với gia

đỡnh, đối với nhau, đối với con chung, đối với người thứ ba cú quyền sẽ

được xỏc định như thế nào? Đõy là vấn đề rất phức tạp đặc biệt trong việc

điều tra xỏc minh thu thập tin tức, chứng cứ hoặc thi hành ỏn cần phải cú

uỷ thỏc tư phỏp

Mặt trỏi của nền kinh tế thị trường làm cho quan hệ hụn nhõn ngày

càng phức tạp, cỏc vụ ly hụn ngày càng tăng, trong cỏc ỏn kiện ly hụn tập

trung chủ yếu ở cỏc tranh chấp về tài sản Vỡ vậy, giải quyết tốt vấn đề xỏc

định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng khụng chỉ bảo vệ quyền và lợi ớch

của vợ chồng, của người thứ ba tham gia cỏc giao dịch với vợ chồng mà

cũn ổn định đời sống gia đỡnh, gúp phần ổn định cỏc quan hệ xó hội khỏc,

thỳc đẩy kinh tế xó hội ngày càng phỏt triển

Là một phạm trự thuộc quyền sở hữu cụng dõn được quy định trong

Hiến phỏp, quyền sở hữu tài sản vợ chồng (cũn gọi là chế độ tài sản vợ

chồng) được Luật Hụn nhõn và gia đỡnh năm 2000 quy định một cỏch cụ

thể, tương đối đầy đủ từ Điều 27 đến Điều 33 và Điều 95 Đõy là nội dung

quan trọng trong quy định về quan hệ pháp luật giữa vợ chồng Theo Luật

Hôn nhân và gia đình hiện hành, giữa vợ chồng có hai hình thức sở hữu về

tài sản, đó là sở hữu chung hợp nhất và sở hữu riêng Thực tiễn ỏp dụng chế

độ tài sản của vợ chồng những năm qua gúp phần vào sự ổn định cỏc quan

hệ hụn nhõn và gia đỡnh, tạo cơ sở phỏp lý thực hiện cỏc quyền, nghĩa vụ về

tài sản của vợ chồng Tuy nhiờn, bờn cạnh những kết quả đó đạt được của

phỏp luật điều chỉnh vấn đề tài sản của vợ chồng, quỏ trỡnh thực hiện và ỏp

dụng Luật Hụn nhõn và gia đỡnh năm 2000 về quyền sở hữu tài sản của vợ

chồng cho thấy cũn khỏ nhiều bất cập và vướng mắc Mặc dự đó cú khỏ

nhiều văn bản của cỏc cơ quan nhà nước cú thẩm quyền qui định, hướng

dẫn ỏp dụng về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng, nhưng do tớnh chất

Trang 19

phức tạp và rất "nhạy cảm" từ các quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung,

những tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng nói riêng nên khi áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành vào thực tiễn vẫn nảy sinh những vấn đề mới mà pháp luật hiện hành chưa đáp ứng được Thực tiễn áp dụng đã có nhiều quan điểm, nhận thức, đánh giá khác nhau, chưa có sự thống nhất từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cá nhân thực thi pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản của vợ chồng Trong báo cáo tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử của ngành Tòa án hàng năm, hầu như đều có các vấn đề về xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng Điều đó cho thấy các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng luôn là loại việc phức tạp, thường gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi áp dụng, hạn chế và có nhiều bất cập trong công tác thi hành án liên quan đến quyền sở hữu tài sản của vợ chồng Nguyên nhân có nhiều, trong đó phải kể đến một số qui định của Luật Hôn nhân và gia đình

về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng mới chỉ dừng lại ở tính chất định khung, nguyên tắc chung Các văn bản qui định chi tiết thi hành và hướng dẫn áp dụng quyền sở hữu tài sản của vợ chồng còn thiếu, chưa cụ thể, chưa theo kịp với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, vợ chồng tham gia ngày càng rộng rãi vào các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại với tư cách là những chủ thể độc lập thì những tranh chấp về quyền sở hữu tài sản vợ chồng ngày càng nhiều và phức tạp Trong khi đó các văn bản pháp luật hiện hành như Luật Doanh nghiệp, Luật Thương Mại, Luật Hợp tác xã… không có các quy định cụ thể điều chỉnh các đối tượng tham gia là một bên vợ hoặc chồng Bởi lẽ, mặc dù vợ hoặc chồng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay với tư cách là một chủ thể độc lập nhưng do tính chất cộng đồng đặc thù của quan hệ hôn nhân, nên ngoài những quy định của luật chuyên ngành áp dụng khi vợ

Trang 20

hoặc chồng tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh cụ thể thì còn chịu sự chi phối của các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình Vì vậy, việc xác định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng trong các trường hợp này là một vấn đề khó khăn cả về lý luận và thực tiễn

1.2 Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:

Quyền sở hữu tài sản vợ chồng là một phạm trù thuộc quyền sở hữu công dân được quy định trong Hiến pháp (Điều 58 Hiến Pháp năm 1992)

và là một nội dung quan trọng trong quan hệ pháp luật giữa vợ chồng Xác định quyền sở hữu tài sản vợ chồng có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng, giữa vợ chồng với người thứ ba, góp phần ổn định các quan hệ gia đình và các quan hệ xã hội khác

1.2.1 Ý nghĩa của chế định quyền sở hữu đối với sự phát triển của gia đình:

- Xác định quyền sở hữu tài sản vợ chồng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ sở để vợ chồng thực hiện quyền dân chủ và bình đẳng trong các quan hệ tài sản, tạo điều kiện khuyến khích vợ chồng có trách nhiệm với gia đình, cùng chung sức và ý chí xây dựng cơ sở vật chất cho cuộc sống gia đình Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định chế độ tài sản của

vợ chồng là chế độ cộng đồng tạo sản, trong đó đồng thời tồn tại sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng và sở hữu riêng của mỗi bên Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của gia đình (Khoản 1,2 Điều

Trang 21

28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Quy định trên là hoàn toàn hợp

lý vì tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân dẫn đến vợ chồng cùng chung sức trong việc tạo lập khối tài sản chung, cùng chung trách nhiệm trong việc gánh vác các công việc gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng Vì vậy, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản

lý tài sản chung của vợ chồng Mặc dù trên thực tế sự đóng góp công sức của vợ, chồng vào khối tài sản chung là khác nhau, có thể một bên không

có thu nhập riêng, phải làm công việc nhà nhưng quyền đối với tài sản chung không vì thế mà kém hơn bên kia Đây là cơ sở, là nền tảng để có một gia đình dân chủ, hạnh phúc và bền vững Chỉ khi vợ chồng bình đẳng trong việc quản lý tài sản chung mới có thể dẫn đến bình đẳng trong các mối quan hệ khác trong gia đình

- Quyền sở hữu là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội cũng như trong pháp luật dân sự Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng không chỉ giúp cho các cặp vợ chồng thực hiện tốt vai trò của người vợ, người chồng trong gia đình mà còn thực hiện vai trò công dân, thành viên của xã hội Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định cụ thể chế độ sở hữu tài sản chung, chế độ sở hữu tài sản riêng của vợ chồng Quy định này vừa bảo đảm lợi ích chung của gia đình vừa đảm bảo

sự bình đẳng và tính độc lập tương đối trong việc quản lý tài sản, tạo cơ sở pháp lý để vợ chồng chủ động tham gia vào các giao dịch dân sự, thương mại vì lợi ích gia đình cũng như lợi ích cá nhân “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình” (Điều

19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Vì vậy, vợ và chồng đều có quyền tiến hành các giao dịch liên quan đến tài sản chung và tài sản riêng của mình Quyền độc lập về tài sản tạo cơ sở để vợ, chồng chủ động tham gia vào các giao dịch dân sự với tư cách là các chủ thể độc lập Tuy nhiên,

Trang 22

tính độc lập trong giao lưu dân sự của vợ, chồng chỉ là độc lập tương đối vì luôn chịu sự ràng buộc từ lợi ích gia đình Lợi ích gia đình luôn được đặt lên hàng đầu, kể cả trong các giao dịch liên quan đến tài sản riêng của mình Điều này được thể hiện rất rõ trong Khoản 5 Điều 33 Luật Hôn nân

và gia đình năm 2000

- Xuất phát từ tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân cũng như

sự chi phối bởi tình cảm giữa vợ và chồng mà khi cuộc sống của vợ chồng hạnh phúc thì ranh giới giữa tài sản chung, tài sản riêng không mấy quan trọng, thậm chí nhiều cặp vợ chồng còn xóa nhòa ranh giới này Vợ chồng cùng nhau quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản trong gia đình bao gồm cả tài sản chung và tài sản riêng của một bên Nhưng khi quan hệ vợ chồng phát sinh những mâu thuẫn gay gắt thì vấn đề được nhắc đến nhiều nhất là vấn

đề tài sản Vì vậy, xác định quyền sở hữu tài sản vợ chồng là điều kiện cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình, tránh những mâu thuẫn xảy ra làm tổn thương đến tình cảm và sự đoàn kết trong gia đình

- Với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay, vợ chồng ngày càng tham gia rộng rãi vào các giao dịch dân sự, thương mại, làm cho vấn đề tài sản vợ chồng ngày càng phức tạp Các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng, giữa vợ, chồng với người thứ ba ngày càng nhiều Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng giúp cho vợ, chồng xác định đựơc quyền và nghĩa vụ

về tài sản đối với gia đình, đối với nhau và đối với con cái, là căn cứ để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ, chồng Đồng thời còn xác định rõ trách nhiệm của các bên vợ chồng trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản Qua đó giúp minh bạch hoá các giao dịch dân sự mà một bên chủ thể

là vợ, chồng, giúp người có quyền xác định được nghĩa vụ mà vợ chồng phải thực hiện được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung hay tài sản riêng Vì vậy, quyền và lợi ích của người thứ ba, của cộng đồng và xã hội

Trang 23

vì thế cũng được đảm bảo Như vậy, xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích của vợ chồng, của người thứ ba

mà còn là căn cứ pháp lý cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp có liên quan đến tài sản của vợ chồng Đồng thời, xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng còn tạo điều kiện để vợ chồng chủ động tham gia vào các quan hệ xã hội nhằm phát triển kinh tế gia đình, xây dựng gia đình

ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững và thực hiện tốt các mục tiêu xã hội

1.2.2 Ý nghĩa của việc xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế hiện nay:

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, đặc biệt là sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, giao lưu quốc tế ngày càng rộng rãi dẫn đến các quan

hệ hôn nhân ngày càng phức tạp Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng như: Kết hôn với người nước ngoài, một bên vợ, chồng sinh sống, học tập tại nước ngoài, vợ chồng có tài sản tại nước ngoài… Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp này là hết sức khó khăn Nhất là trong trường hợp một bên cố tình giấu giếm tài sản, giấu giếm thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân, trốn tránh trách nhiệm với gia đình… Vì không thể kiểm soát được thu nhập thực tế của vợ, chồng nên không thể xác định được khối tài sản chung của vợ chồng để thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng như đáp ứng nhu cầu chung của gia đình hay các nghĩa vụ chung khác Trách nhiệm của họ đối với gia đình hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của họ Đặc biệt, khi ly hôn hoặc xảy ra tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng thì việc giải quyết là hết sức khó khăn vì việc điều tra, xác minh thu thập thông tin cần phải có sự ủy thác tư pháp quốc

tế

Trang 24

Hiến pháp năm 1992 chính thức ghi nhận chính sách phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nền tảng là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, dẫn đến nguồn lực trong nước có điều kiện để phát huy sức mạnh của mình vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước Cùng với các văn bản pháp luật khác như Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006… là cơ sở pháp lý để vợ chồng tham gia tích cực vào các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại Trong điều kiện kinh tế hiện nay, xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng là hết sức khó khăn Sự tăng nhanh về số lượng các mô hình kinh tế cùng với chính sách khuyến khích, huy động vốn trong và ngoài nước, tạo điều kiện

để vợ chồng tham gia năng động vào các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại Hiện nay, vợ chồng có thể lựa chọn nhiều hình thức để tiến hành đầu

tư, tìm kiếm lợi nhuận Theo quy định của pháp luật hiện hành, các hình thức đầu tư mà vợ, chồng có thể tham gia là rất đa dạng, bao gồm:

+ Đầu tư thành lập các tổ chức kinh tế (Điều 22 Luật Đầu tư năm 2005), thành lập doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, hợp tác xã…………

+ Đầu tư phát triển kinh doanh

+ Góp vốn mua cổ phần

+ Tham gia vào thị trường chứng khoán

+ Tham gia kinh doanh bất động sản

Trong các hoạt động kinh tế này, việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản không chỉ do Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh mà còn chịu sự chi phối của các luật chuyên ngành khác như: Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại… Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, có quyền sở hữu đối với tài sản riêng Vì vậy, khi tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh vợ, chồng có thể sử dụng tài sản chung hoặc tài sản riêng, vì nhu cầu

Trang 25

chung của gia đỡnh hay vỡ lợi ớch cỏ nhõn Khi vợ, chồng tham gia vào cỏc hoạt động kinh tế việc xỏc định quyền, trỏch nhiệm của họ như thế nào là

vụ cựng quan trọng Điều này khụng chỉ ảnh hưởng tới quyền và lợi ớch hợp phỏp của một bờn vợ hoặc chồng, quyền và lợi ớch hợp phỏp của cỏc thành viờn khỏc trong gia đỡnh mà cũn ảnh hưởng đến quyền và lợi ớch hợp phỏp của cỏc tổ chức, cỏ nhõn khỏc cú quyền lợi và nghĩa vụ liờn quan Xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế hiện nay nhằm

điều chỉnh có hiệu quả quan hệ giữa vợ và chồng với nhau và vợ hoặc chồng với người thứ ba (là cỏ nhõn hoặc phỏp nhõn) nhằm đảm bảo lợi ích của vợ chồng và của người thứ ba

Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nguồn thu nhập của cỏc cỏ nhõn rất đa dạng, phong phỳ: Thu nhập do lao động (tiền cụng, tiền lương), thu nhập do hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản do được thừa

kế, được tặng cho và cỏc thu nhập hợp phỏp khỏc (như hoa lợi, lợi tức phỏt sinh từ tài sản chung hoặc từ tài sản riờng của vợ chồng, tiền thưởng, tài sản được xỏc lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật dõn sự…) Theo quy định của phỏp luật hiện hành, tài sản có nguồn gốc là hoa lợi, lợi tức phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân, tài sản này có thể được hình thành từ tài sản chung hoặc có thể từ tài sản riêng, nguồn của tài sản gốc cũng rất phong phú, do đó việc phân định tài sản là hoa lợi, lợi tức thuộc tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng cũng gặp nhiều vướng mắc Hiện nay, vợ, chồng tham gia ngày càng nhiều vào các giao dịch dân sự, thương mại với tư cách là những chủ thể độc lập, họ có thể dùng tài chung hoặc tài sản riêng, vì lợi ích chung của cả gia đình hoặc vì nhu cầu, lợi ích của cá nhân Vì vậy, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, vấn đề tài sản của vợ chồng khụng chỉ cú dừng lại đối với những tài sản phỏt sinh mà cũn bao gồm cả phần tài sản sẽ phải chi tiờu, những

Trang 26

khoản nợ, các khoản phải bồi thường thiệt hại cho người khác… Vì vậy, việc xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế hiện nay cần phải được xem xét một cách toàn diện, thấu đáo trên nguyên tắc bảo vệ lợi ích của gia đình, bảo vệ lợi ích của vợ, chồng và của người thứ ba

1.3 SƠ LƯỢC VỀ QUY ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG QUA CÁC THỜI KỲ:

Chế định quyền sở hữu được quy định ngay từ thời phong kiến và ngày càng hoàn thiện qua các thời kỳ

Trong thời kỳ phong kiến, các quy định về quyền sở hữu tài sản của

vợ chồng đã được luật pháp ghi nhận trong bộ Quốc triều hình luật dưới triều Lê (1407-1497) và bộ Hoàng Việt luật lệ dưới triều Nguyễn (1912) Trong thời kỳ này, các giao lưu dân sự chưa được mở rộng, các quan hệ tài sản chưa phức tạp, chỉ phát sinh trong một số lĩnh vực đơn giản như: Mua bán, cầm cố, thế chấp điền sản, cho thuê tài sản, vay tiền… Nhìn chung, quan hệ tài sản vẫn bó hẹp trong phạm vi gia đình Theo Quốc triều hình luật, “trong quan hệ tài sản thì sự phân biệt về quyền lợi giữa vợ và chồng không có sự khác biệt lắm” [20, tr.394] Bộ Quốc triều hình luật công nhận

vợ chồng đều có quyền sở hữu đối với tài sản riêng: “Tài sản riêng của vợ chồng là những tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn, do được thừa kế từ gia đình mỗi bên” [20, tr 417] Cả tài sản chung và tài sản riêng đều dặt dưới quyền quản lý chung của vợ và chồng Vợ chồng cùng có trách nhiệm sử dụng khối tài sản này cho các nhu cầu chung của gia đình Pháp luật thời Lê đã thể hiện sự tiến bộ so với các đạo luật khác thời phong kiến đó là: Công nhận quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng; vợ, chồng đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc tạo lập, quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung Vì là người có đóng góp vào kinh tế gia đình nên người vợ cũng có quyền làm chủ đối với tài sản Người vợ được quyền

Trang 27

tham gia vào quá trình quản trị tài sản chung và được tham gia vào các hành vi sử dụng tài sản Đối với các hành vi như mua bán, cầm cố điền sản (ruộng đất) thì trong văn tự phải có chứ ký của cả hai vợ chồng Trong Hoàng Việt luật lệ, người vợ phụ thuộc và hoàn toàn đặt dưới quyền của người chồng Tất cả tài sản trong gia đình hợp thành một khối duy nhất thuộc quyền sử dụng của người chồng Người vợ được coi là vô năng lực

về mặt pháp lý nên không có một chút quyền hành nào về tài sản trong gia đình Quy định này đã đi ngược với quan điểm pháp luật của triều Lê

Trong thời kỳ Pháp thuộc, các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung và các quy định về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng nói riêng mang những nét đặc trưng của chế độ thuộc địa và chịu ảnh hưởng sâu sắc của pháp luật Pháp Trong bộ Dân luật giản yếu ở Nam kỳ không có các quy định cụ thể nhưng căn cứ vào án lệ ta thấy: Người vợ không có tài sản riêng Trong thời kỳ hôn nhân cũng như sau khi người vợ chết, toàn bộ tài sản trong gia đình đều thuộc quyền quản lý của người chồng Quyền sở hữu duy nhất của người chồng còn bao hàm tất cả các tài sản do hai vợ chồng hay do một mình người vợ làm ra Trong bộ Dân luật Bắc kỳ (năm 1931) và Dân luật Trung kỳ (năm 1936), quyền của người vợ được đảm bảo tốt hơn mặc dù vẫn phản ảnh sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng Tại Điều 109 bộ Dân luật Bắc kỳ và Điều 107 bộ Dân luật Trung

kỳ, người chồng có quyền sử dụng các động sản, thực hiện các giao dịch liên quan đến bất động sản mà không cần có sự đồng ý của người vợ, miễn

là việc sử dụng đó đem lại lợi ích cho gia đình Đối với các giao dịch dân

sự mà pháp luật quy định phải có sự ưng thuận của vợ chồng thì việc ưng thuận của người chồng phải được thể hiện bằng văn bản và có chữ ký của người chồng, còn sự ưng thuận của người vợ không cần phải thể hiện bằng văn bản Như vậy, trong thời kỳ Pháp thuộc, các quy định của pháp luật về

Trang 28

chế định tài sản của vợ chồng rất bất công đối với người vợ, đặc biệt ở Nam Kỳ khi pháp luật không quy định quyền sở hữu tài sản của người vợ

Cách mạng Tháng Tám (năm 1945) thành công đưa nước ta bước sang kỷ nguyên mới Trong sự vận động to lớn của xã hội, các quan hệ hôn nhân và gia đình cũng có bước chuyển mình quan trọng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 được ban hành, Điều 15 quy định: Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới Quy định này là hoàn toàn phù với nguyên tắc nam nữ bình đẳng và bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong gia đình – là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ, góp phần đáng kể vào việc xóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, giải phóng người phụ nữ khỏi sự bất bình đẳng trong gia đình và xã hội Các quy định về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng đã có những bước tiến rõ rệt thể hiện trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 là bên cạnh quy định vợ chồng có tài sản chung còn công nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã hoàn thiện hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986: Tiếp tục nhấn mạnh quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc tạo lập, quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản chung của vợ chồng và thừa nhận quyền sở hữu tài sản riêng của vợ chồng Đồng thời, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định chi tiết và toàn diện về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi vợ, chồng đầu tư, kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác Quy định này giúp vợ chồng có sự độc lập về tài sản để tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại Tuy nhiên, trước tình hình kinh tế -

xã hội có nhiều thay đổi ở nước ta hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bộc lộ những thiếu sót, nhiều quy định chỉ mang tính định

Trang 29

hướng, chung chung gây khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng

Trang 30

Chương 2 XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ THEO

PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

2.1 XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG TRUỜNG HỢP VỢ CHỒNG THAM GIA VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN:

2.1.1 Vài nét về thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay:

Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu hoạt động kể từ năm

2000, khi đó thị trường chỉ được giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, biểu thị của thị trường là chỉ số VNIndex Khi trung tâm giao dịch mở phiên đầu tiên chỉ có hai cổ phiếu REE và SAM được niêm yết Bước sang năm 2006, số lượng công ty niêm yết tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là cuối năm 2006 (khi Việt Nam gia nhập WTO) thị trường thực sự bùng nổ Cho đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam

đã phát huy vai trò quan trọng Đối với các công ty, thị trường chứng khoán được xem là nơi huy động vốn hiệu quả nhất Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi mà nền kinh tế luôn có tốc độ tăng trưởng và phát triển cao thì nhu cầu về vốn dài hạn dành cho đầu tư và phát triển rất lớn Trong khi nguồn lực của các tổ chức tín dụng hiện tại hầu như không đáp ứng kịp thì sự ra đời của thị trường chứng khoán như là một cứu cánh cho các công ty trong việc đáp ứng nhu cầu huy động vốn dài hạn Thị trường chứng khoán vừa huy động được nguồn vốn nhàn dỗi trong dân, vừa tạo ra được các cơ hội đầu tư cho các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước Tuy một số ngành nghề có ý nghĩa quan trọng đối với kinh tế quốc gia chưa được công khai niêm yết hoặc niêm yết hạn chế như hàng không, bưu chính… nhưng với những công ty đã niêm yết trên thị trường hiện nay đã và đang tạo cơ hội

Trang 31

đầu tư đa dạng, phong phỳ cho cỏc nhà đầu tư trong và ngoài nước Thị

trường chứng khoỏn là lĩnh vực phong phỳ, đa dạng và rất phức tạp; là nơi mua bỏn cỏc chứng khoỏn và thường được thực hiện chủ yếu tại sở giao dịch chứng khoỏn, một phần ở cỏc cụng ty mụi giới (cụng ty chứng khoỏn)

và cả ở thị trường chợ đen Về mặt hỡnh thức, thị trường chứng khoỏn chỉ là nơi diễn ra cỏc hoạt động trao đổi, mua bỏn, chuyển nhượng cỏc loại chứng khoỏn; qua đú thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoỏn [10] Chứng khoỏn là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chưc phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán (Khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006) Hiện nay, thị trường chứng khoỏn Việt Nam ngày càng được mở rộng Cỏc cụng ty cổ phần được phộp phỏt hành cổ phiếu để thu hỳt vốn đầu tư từ khỏch hàng Mỗi người dõn đều cú thể đầu tư chứng khoỏn Theo Luật Chứng khoỏn năm 2006 thỡ việc chào bỏn chứng khoỏn cú thể thực hiện trờn cỏc phương tiện thụng tin đại chỳng, trờn mạng internet, do vậy việc mua bỏn chứng khoỏn rất nhanh chúng, gọn nhẹ Như vậy, vợ chồng

cú thể tham gia vào thị trường chứng khoỏn với tư cỏch là hai chủ thể trong quan hệ hụn nhõn, đồng thời cũng cú thể vợ hoặc chồng tham gia vào thị trường chứng khoỏn với tư cỏch là cỏ nhõn Việc xỏc định quyền sở hữu tài sản chung, tài sản riờng trong trường hợp vợ chồng tham gia vào thị trường chứng khoỏn là cần thiết trong giai đoạn hiện nay

2.1.2 Xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng dựng tài sản chung để đầu tư chứng khoỏn:

Tài sản chung của vợ chồng gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp

Trang 32

pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận…” (Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Bờn cạnh đú, khoản 1 Điều 28 Luật Hụn nhõn và gia đỡnh năm

2000 quy định: Vợ, chồng cú quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Vỡ vậy, cả vợ và chồng đều cú quyền sử dụng tài sản chung để đầu tư chứng khoỏn hoặc vợ chồng uỷ quyền cho nhau để dựng tài sản chung đầu tư chứng khoỏn Khi vợ chồng dựng tài sản chung để đầu tư chứng khoỏn thỡ về nguyờn tắc tài sản đó dựng

để đầu tư (vốn) và lợi nhuận thu được là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiờn, khoản 3 Điều 28 Luật Hụn nhõn và gia đỡnh năm 2000 quy định: Việc xỏc lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dõn sự liờn quan đến tài sản chung cú giỏ trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đỡnh, việc dựng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài sản chung đó được chia để đầu tư kinh doanh riờng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này Như vậy, nếu vợ chồng phải bàn bạc, thỏa thuận trong việc sử dụng tài sản chung của vợ chồng để mua cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ… thì đương nhiên những tài sản này và lợi nhuận phát sinh từ tài sản này là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiờn, trờn thực tế,

do xuất phỏt từ tớnh cộng đồng trong quan hệ hụn nhõn và sự phõn cụng vai trũ của mỗi bờn vợ chồng mà nhiều khi sự thỏa thuận, bàn bạc của vợ chồng khụng được thực hiện minh thị Chẳng hạn, vợ chồng đó thỏa thuận

về nguyờn tắc là dựng 500 triệu đồng là tài sản chung của vợ chồng để mua

cổ phiếu và việc thực hiện là do người chồng Trong trường hợp này, việc người chồng chọn mó cổ phiếu nào, mua hoặc bỏn cổ phiếu vào thời điểm

Trang 33

nào… là do người chồng quyết định mà không cần phải có sự đồng ý của người vợ Khi đó, việc đầu tư phát sinh lợi nhuận thì lợi nhuận đó thuộc khối tài sản chung của vợ chồng, nếu thua lỗ thì khối tài sản chung phải gánh chịu Như vậy, sự thỏa thuận, bàn bạc của vợ chồng có thể ngay trước khi mỗi giao dịch được thực hiện nhưng cũng có thể chỉ là sự thỏa thuận mang tính nguyên tắc Việc xác định lợi nhuận phát sinh khi đầu tư chứng khoán thuộc khối tài sản chung của vợ chồng được áp dụng ngay cả khi trªn cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ… chỉ ghi tên của một bên vî hoÆc chång và chỉ một bên vợ hoặc chồng quyết định việc mua bán cổ phiếu

Như vậy, vợ chồng có thể dùng tài sản chung của vợ chồng để mua

cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ Việc tham gia vào thị trường chứng khoán có thể do cả hai vợ chồng, có thể chỉ do một bên nhưng đã có sự thỏa thuận, bàn bạc của vợ chồng thì lợi nhuận thu được thuộc quyền sở hữu chung của cả hai vợ chồng, bởi vì lợi nhuận nµy được xác định lµ tµi s¶n ph¸t sinh tõ tµi s¶n chung cña vî chång, lµ mét lo¹i “thu nhËp hîp ph¸p kh¸c” cña vî chång trong thêi kú h«n nh©n

Tuy nhiên, trên thực tế đã phát sinh nhiều tranh chấp liên quan đến tài sản này Khi giải quyết tranh chấp thường gặp những khó khăn, phức tạp do không xác định đúng sự thể hiện ý chí của các bên

vợ chồng trong việc đầu tư Tình trạng này xuất phát từ các nguyên nhân khác nhau Thứ nhất, do nhiều gia đình vợ chồng không thể hiện quan điểm rõ ràng trong việc quản lý tài chính cũng như các phương án phát triển kinh tế gia đình Nhiều gia đình “mạnh ai người đấy làm”, được lợi thì vợ chồng cung hưởng, thua lỗ thì vợ chồng cùng chịu Thậm chí có gia đình còn mặc nhiên thừa nhận mọi giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện hoặc chấp nhận mọi quyết định phát triển kinh tế gia đình của một bên Nếu vợ chồng hòa thuận, vui vẻ thì “được cùng hưởng, thua cùng chịu”, nhưng khi vợ

Ngày đăng: 01/04/2018, 11:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w