Ngày 8 uốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành một lần nữa khẳng định
Trang 2Ờ AM A
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những thông tin, số liệu, kết quả được sử dụng trong luận văn này là trung thực và có nguồn gốc, xuất xứ
rõ ràng
T U V
u n c
Trang 31.1.3 Sơ lược lịch sử hình thành chế định về trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước ở Việt Nam và một số nước trên thế giới 17 1.1.4 Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước 26
1.2 ái niệm cơ quan qu n lý àn c ín à nước; oạt
1.3 Các căn cứ làm p át sin trác n iệm bồi t ườn t iệt
ại của à nước tron oạt độn qu n lý ành chính 32
1.3.2 Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật của người thi
hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính gây ra 36 1.3.3 Có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người
thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính và thiệt
1.4 ặc điểm của trác n iệm ồi t ườn t iệt ại của à
nước tron oạt độn qu n lý àn c ín 39 1.4.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước trong hoạt
động hành chính là một dạng cụ thể của trách nhiệm bồi
1.4.2 Trách nhiệm Bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt
động quản lý hành chính Nhà nước là trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do xâm phạm các quyền cơ bản của công dân gắn
liền với quá trình thực thi công vụ trong hoạt động quản lý
Trang 4BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 42
2.1 ác n u ên tắc cơ b n về trác n iệm bồi t ườn t iệt
ại của à nước tron oạt độn qu n lý àn c ín 42
2.1.3 Bồi thường bằng tiền theo nguyên tắc chi trả một lần 45
2.2 ác qu địn p áp luật về trác n iệm bồi t ườn t iệt
ại của à nước tron oạt độn qu n lý àn c ín
46
2.2.2 Xác định thiệt hại, mức bồi thường thiệt hại và đối tượng
2.2.2.2 Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút 56
2.2.2.4 Thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết, bị tổn
Trang 5Nghị định số Nghị định số N -C ngày của
Chính phủ uy định chi tiết và hướng d n thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
TTLT số Thông tư liên tịch số
TTLT-BTP-BTC-TTC ngày của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ hướng d n thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
Trang 6Ờ MỞ ẦU
1 Tín c p t i t của đề tài
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, vấn đề trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với các thiệt hại do cán bộ công chức Nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ luôn được ảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm Bởi vậy, Nghị quyết số 8 - N TW ngày tháng năm của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm , định hướng đến năm của Bộ Chính trị đã xác định:
“Hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, nhất là Tòa án trong việc bảo vệ các quyền đó; xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; khắc phục việc xử lý oan sai, khẩn trương ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước”
Ngày 8 uốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành một lần nữa khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây dựng từ các nguyên tắc cơ bản của một Nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng là nhằm thực hiện Nghị quyết số 8 - N TW của Bộ chính trị Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã khắc phục được nhiều hạn chế về cơ chế bồi thường
và có nhiều nội dung mới tiến bộ so với các quy định pháp luật trước đây trong các văn bản: Nghị định số -C ngày về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của
cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; Nghị quyết số 88 N -UBTVQH ngày của Ủy ban thường vụ uốc hội về Bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm đề cập phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực: Hoạt động quản lý
Trang 7hành chính nhà nước; hoạt động tố tụng; hoạt động thi hành án, trong đó hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng nhất đến đời sống xã hội, nó tác động hầu hết đến m i tầng lớp trong xã hội Chúng ta biết rằng, Nhà nước sinh ra là để tổ chức, quản lý các mặt khác nhau của đời sống xã hội, duy trì trật tự sự ổn định của xã hội và tạo điều kiện cho xã hội phát triển nhanh, bền vững vì lợi ích của các tổ chức cá nhân trong
xã hội, vì một xã hội dân chủ công bằng, văn minh Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước trong quá trình thực thi công vụ để phục vụ lợi ích Nhà nước và xã hội không phải khi nào cũng làm đúng, chính xác và có lợi cho Nhà nước, cho các tổ chức khác và cho nhân dân Một số công chức Nhà nước có thể có những hành vi trái pháp luật khi thi hành công vụ gây thiệt hại lớn về vật chất và tinh thần cho các tổ chức và cá nhân khác Có thể nói hiện tượng làm trái pháp luật của công chức Nhà nước khi thi hành công vụ gây thiệt hại cho các tổ chức và cá nhân thì ở đâu cũng có và thời nào cũng có, vấn đề là nhiều hay ít và nghiêm tr ng hay ít nghiêm tr ng
Ở Việt Nam thì hiện tượng này tương đối phổ biến và những thiệt hại
mà các cá nhân, tổ chức gánh chịu là rất lớn Sở dĩ hiện tượng này còn xẩy ra nhiều ở Việt nam là vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau như: do trình độ của công chức chưa đủ năng lực để thực hiện đúng các hoạt động công vụ của mình; các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ chưa tốt và cũng không ít nguyên nhân
từ sự tắc trách của đội ngũ cán bộ công chức không tìm hiểu sự việc một cách thấu đáo nên đưa ra các quyết định sai trái Trong một số trường hợp không loại trừ có những công chức cố ý thực hiện hành vi sai trái vì mục đính vụ lợi, trả thù khi thi hành công vụ gây thiệt hại về vật chất và tinh thần và những bức xúc rất lớn cho các tổ chức và cá nhân, nhất là các doanh nghiệp
Các quy định của Hiến pháp, Bộ Luật dân sự (BLDS) năm ; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm đã từng bước cụ thể hóa việc giải quyết loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) của Nhà nước nói chung và trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động quản hành
Trang 8chính (QLHC) nói riêng, tuy nhiên để Luật đi vào cuộc sống chúng ta phải nghiên cứu làm rõ nội hàm cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật để có cơ chế áp dụng thống nhất cũng như kiến nghị sửa đổi bổ sung hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về BTTH trong hoạt động QLHC Nhà nước Với những lý do nêu trên, tôi đã lựa ch n đề tài: “Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sĩ luật h c của mình
2 Tìn ìn n iên cứu đề tài
Trong khoa h c pháp lý từ trước đến nay, ở nước ta chưa có một công
trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính”, ở những khía cạnh khác
nhau về trách nhiệm BTTH của Nhà nước, trách nhiệm BTTH do người của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra đã có một số công trình nghiên cứu liên quan:
- ề tài nghiên cứu khoa h c cấp trường do Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn
làm chủ nhiệm đề tài: “Trách nhiệm dân sự của cơ quan tổ chức về thiệt hại
do hành vi của cán bộ công chức gây ra - Vấn đề lý luận và thực tiễn”,
Trường ại h c Luật Hà Nội, năm 8 ề tài đề cập đến nội dung trách nhiệm dân sự theo iều BLDS, phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của iều BLDS, đưa ra các kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hướng d n áp dụng và hoàn thiện iều và iều BLDS, đồng thời tham gia góp ý kiến xây dựng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
- hùng Trung Tập - Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng - sách chuyên khảo - Nhà xuất bản Hà Nội - 2009 Tác
giả phân tích một cách sâu sắc và có hệ thống về các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường; BTTH trong những trường hợp cụ thể; phân loại trách nhiệm bồi thường và chủ thể bồi thường; những trường hợp không phải bồi thường; thời hạn hưởng BTTH do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm
Trang 9- Lê Thái hương - Luận văn cao h c - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước - Trường
ại h c Luật Hà Nội, năm Luận văn nghiên cứu những vấn đề sau: Khái quát chung về trách nhiệm BTTH của Nhà nước, thực trạng pháp luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước ở Việt Nam có so sánh một số nước trên thế giới
- Lê Mai Anh - Luận án tiến sĩ - Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra - Trường ại h c Luật Hà Nội,
năm Luận văn đề cập đến nhiều vấn đề như: đặc điểm, nội dung, bản chất của trách nhiệm Nhà nước trong việc BTTH do người có thẩm quyền của
cơ quan tiến hành tố tụng gây ra khi tiến hành hoạt động điều tra điều tra, truy
tố, xét xử
Ngoài ra còn nhiều chuyên đề, bài viết, bài nghiên cứu của một số tác giả làm công tác xây dựng pháp luật với nội dung đề cập nhiều vấn đề cơ bản phục vụ cho quá trình soạn thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đây cũng là nguồn tài liệu quan tr ng được tác giả lựa ch n tham khảo khi thực hiện đề tài
ề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính” lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ luận văn
thạc sỹ một cách chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ và đảm bảo được tính logíc,
hệ thống, không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa h c đã được công bố
3 i tượn , p ạm vi n iên cứu đề tài
Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực ngày ,
do thời gian thi hành quá ngắn, nên trong phạm vi nghiên cứu của một Luận văn Thạc sĩ Luật h c, với tên đề tài như đã nêu ở trên, tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và nội dung Luật thực định, còn hiệu quả thi hành của Luật cần phải có thời gian tổng kết thì mới đánh giá được, vì vậy Luận văn nghiên cứu các vấn đề sau đây:
Trang 10- Một số vấn đề lý luận có liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
- Cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước
trong hoạt động quản lý hành chính (nêu, phân tích các quy định pháp luật Việt Nam, có so sánh quy định pháp luật một số nước trên thế giới)
4 ươn p áp luận và p ươn p áp n iên cứu đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ứng dụng cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chính sách của ảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và háp luật
ể thực hiện việc nghiên cứu đề tài, luận văn còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa h c tin cậy khác như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp và một số phương pháp nghiên cứu khoa h c phù hợp khác
5 M c đíc và n iệm v n iên cứu
Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu như đã nêu ở trên, đề tài có các nhiệm vụ và hướng tới các mục đích sau:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận có liên quan đến trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính;
- ưa ra bức tranh khái quát về các quy định của pháp luật Việt Nam
về trách nhiệm BTTH của nhà nước trong hoạt động QLHC, có sự so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới như Trung uốc; Nhật Bản;
- hân tích những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành
về trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong trong hoạt động QLHC;
- Kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHC
6 ón óp của uận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về trách nhiệm BTTH của nhà nước trong hoạt động QLHC Luận văn có ý nghĩa khoa h c và thực tiễn sau đây:
Trang 11Thứ nhất: Lần đầu tiên vấn đề trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong
hoạt động LHC được nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cả về
cơ sở lý luận cũng như các quy định pháp luật
Thứ hai: uá trình nghiên cứu đề tài tìm ra được những tồn tại trong công
tác xây dựng pháp luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước nói chung và trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHC nói riêng Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị để góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về BTTH của Nhà nước trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
7 t c u của uận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính.
Chương 2: Các quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính và đề xuất kiến nghị
Trang 12ươn 1
M T SỐ VẤ Ề Ý U VỀ TR ỆM
Ồ T Ờ T ỆT ỦA Ớ TR T
QU Ý Í
1.1 ái quát c un về trác n iệm bồi t ườn của à nước
1.1.1 Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Khi đề cập đến trách nhiệm bồi thường là đề cập đến một tình thế bắt buộc một người phải thực hiện hành vi hoặc trách nhiệm gánh chịu những bất lợi về tài sản hay về nhân thân của người mang trách nhiệm đó Trong một xã hội nhất định, với bất kỳ một quan hệ xã hội nào thì bên cạnh các quyền xác định được đều gắn với trách nhiệm của các bên chủ thể tham gia quan hệ đó Tuy nhiên, theo tính chất của từng loại trách nhiệm thì trách nhiệm được phân
ra theo đối tượng điều chỉnh của từng ngành luật khác nhau hoặc tính chất của từng loại quan hệ tài sản khác nhau để xác định Tương ứng với các đối tượng điều chỉnh của mỗi ngành luật thì trách nhiệm pháp lý cũng được Nhà nước quy định trong một phạm vi và có những đặc điểm khác nhau như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự
Theo ại từ điển Tiếng Việt, bồi thường là: “đền bù những tổn thất đã gây ra” [56, tr.191] Trong đời sống xã hội, việc giải quyết những đền bù tổn thất gây ra chủ yếu thông qua mối quan hệ pháp luật dân sự Trước khi được quy định là một loại trách nhiệm pháp lý chịu sự điều chỉnh của Luật tư như hiện nay thì trách nhiệm BTTH đã trải qua một quá trình phát triển với nhiều giai đoạn thể hiện bản chất khác biệt Có thể khái quát các giai đoạn phát triển
cơ bản của trách nhiệm BTTH như sau:
Giai đoạn thứ nhất: Ở thời kỳ cổ đại, khi chính quyền trong xã hội còn
chưa được tổ chức một cách chặt chẽ, các cá nhân mỗi khi bị xâm phạm vào quyền lợi được tự ý trả thù để trừng phạt đối phương, hoặc bắt đối phương làm nô lệ, hay lấy tài sản của h Chế độ này còn được g i là chế độ tư nhân phục thù
Trang 13Giai đoạn thứ hai: Người gây ra sự tổn hại có thể nộp một số tiền
chuộc hay thục kim cho nạn nhân để tránh trả thù Chế độ này được g i là chế
độ thục kim Chế độ thục kim đã trải qua hai giai đoạn phát triển: ) Khi chưa
có sự can thiệp của pháp luật, các bên tự thoả thuận với nhau về tiền chuộc, là chuộc lỗi tự nguyện; ) Nhờ sự can thiệp của chính quyền, các bên tranh chấp bắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền chuộc lỗi theo ngạch giá do pháp luật quy định, là chế độ thục kim bắt buộc Tiền thục kim này có thể coi như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất BTTH ến thời kỳ Luật bảng, Cổ luật La Mã mới bắt đầu chuyển từ chế độ tự ý thục kim sang bắt buộc thục kim
Giai đoạn thứ ba: Chứng kiến sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và
dân sự Chính quyền, trước hết, can thiệp để trừng phạt những tội phạm chỉ liên quan đến trật tự xã hội, không liên hệ đến cá nhân Sự can thiệp này rất cần thiết, vì nếu không có sự thanh trừng của xã hội, những vụ phạm pháp này không được chú ý tới do không làm hại trực tiếp đến quyền lợi của tư nhân Sự can thiệp của chính quyền dần dần được nới rộng đến sự phạm pháp liên quan đến quyền lợi của các cá nhân như các vụ ẩu đả, trộm cắp Về phương diện hình sự, cá nhân mất hết quyền phục thù và chỉ còn quyền xin BTTH của mình về dân sự [24, tr.437]
Tuy trong một số trường hợp, Luật La Mã đã tiến tới sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự, nhưng nhà làm luật chưa quy định được rõ thành một nguyên tắc trách nhiệm tổng quát, bắt buộc người gây ra sự tổn thất phải BTTH bất luận trường hợp nào
Ở Việt Nam, cổ luật cũng không tách biệt trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm thuộc Luật tư và cũng chỉ giải quyết các vấn đề thuộc trật tự công Vì vậy, các điều luật trong bộ luật cổ như: Bộ uốc triều Hình luật của nhà Lê hay Hoàng Việt Luật lệ của Gia Long đều quy định các điều khoản
trách nhiệm về luật hình, ví dụ: iều 8 uốc triều Hình luật quy định: “Nếu những súc vật và chó đã húc, đá và cắn người mà cách làm hiệu và ràng buộc
Trang 14không đúng phép - (theo đúng phép vật nào hay húc người thì phải cắt hai sừng, đá người thì phải buộc hai chân, cắn người thì phải cắt hai tai)- hay là chó dại mà không giết thì người chủ phải phạt 60 lượng Nếu vì cớ trên, có người chết hay bị thương thì phải tội quá thất Nếu cố ý thả ra để làm cho người chết hay bị thương thì phải tội kém tội đánh người bị thương hay đánh chết người một bậc Người được thuê đến để chữa bệnh cho súc vật, hay là người cố trêu trọc những vật kia, mà bị thương hay chết, thì người chủ không phải tội”
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp đặc biệt, cổ luật Việt Nam cũng quy định sự bồi thường Chẳng hạn, đối với trường hợp đánh người bị thương, iều 8 uốc triều Hình luật đã quy định sự nuôi bảo cô Cụ thể: ánh bị thương bằng chân tay thì phải nuôi ngày, bằng vật khác thì phải nuôi 0 ngày, bằng thứ có mũi nh n hay bằng nước sôi, lửa, thì phải nuôi ngày, đánh gãy xương thì phải nuôi 8 ngày… Nhưng ngoài những trường hợp đặc biệt, Cổ luật Việt Nam không phân biệt rõ rệt hai trách nhiệm hình sự hay dân sự và cũng không nêu lên một nguyên tắc tổng quát nào về trách nhiệm dân sự
Trong giai đoạn hiện nay, trách nhiệm BTTH được quy định và điều chỉnh bởi Luật tư và các nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm này đã được đặt ra
ở tất cả các nước Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, BTTH được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự (TNDS), theo đó người có hành vi gây ra thiệt hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra
Trách nhiệm BTTH được BLDS năm quy định tại iều (về trách nhiệm BTTH nói chung) và chương XXI (về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng) Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường…
Từ góc độ khoa h c pháp lý cho thấy, mỗi thành viên sống trong xã hội đều phải tôn tr ng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Khi một người vi
Trang 15phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người
đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là BTTH
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm BTTH là một loại TNDS mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại về vật chất hoặc tinh thần cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước
Trách nhiệm BTTH từ hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân là trách nhiệm pháp lý được xác định với m i chủ thể Vì vậy, khi Nhà nước thực thi công quyền gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì cũng phải chịu trách nhiệm BTTH Trách nhiệm BTTH của Nhà nước không chỉ nhằm khôi phục các tổn thất về tài sản mà còn phải bù đắp những
tổn thất về tinh thần cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là trách nhiệm của nhà nước khôi phục những tổn thất về tài sản, b đắp những tổn thất về tinh thần trong trường hợp người thực thi công vụ của Nhà nước vì lợi ích chung đã gây ra những thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tài sản, uy tín của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác
Trong quan hệ về trách nhiệm BTTH của Nhà nước gồm các yếu tố cơ bản sau: Chủ thể, khách thể, các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH
Về chủ thể, các bên trong quan hệ về trách nhiệm BTTH của Nhà nước
luôn bao gồm bên gây thiệt hại là Nhà nước và bên bị thiệt hại là các cá nhân,
tổ chức, chủ thể khác Trong đó, Nhà nước luôn là một bên trong quan hệ về trách nhiệm BTTH này Việc quy định trách nhiệm bồi thường thuộc về một
cơ quan đại diện chung hay trách nhiệm thuộc về từng cơ quan cụ thể thuộc
về chính sách pháp lý của mỗi quốc gia, tuy nhiên cần phải khẳng định rằng một bên chủ thể có trách nhiệm luôn là Nhà nước; cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường không nhân danh mình mà nhân danh Nhà nước trực tiếp
Trang 16thực hiện trách nhiệm BTTH cũng như nhân danh Nhà nước khi thực hiện công vụ
Về khách thể, trong các quan hệ pháp luật, khách thể là “lợi ích vật
chất, tinh thần mà các chủ thể pháp luật mong muốn đạt được khi tham gia các quan hệ pháp luật” [54, tr.411] Trong quan hệ pháp luật dân sự, khách thể là “đối tượng mà các chủ thể quan tâm hướng tới, nhằm đạt tới hoặc tác động vào khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự” [54, tr Trên thực tế, khi hoạt động công quyền gây ra thiệt hại, thì đó là những thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần của các cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, có một thiệt hại mà không thể đo, đếm được là lòng tin của người dân vào hiệu quả hoạt động cũng như uy tín của Nhà nước Vì vậy, khách thể trong trường hợp này là
“quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và lợi ích của Nhà nước” Bởi vì, khi xảy ra bất kỳ một vụ oan, sai thì không chỉ có công dân là người duy nhất bị thiệt hại mà luôn kéo theo những tổn thất của Nhà nước Một mặt, Nhà nước phải bồi thường vật chất, tinh thần cho người bị oan Mặt khác, thiệt hại của Nhà nước tưởng chừng như vô hình nhưng hậu quả trên thực tế v n có thể dễ dàng nhận thấy được ó là sự giảm sút uy tín của Nhà nước, là sự xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước [15, tr.60]
Trách nhiệm BTTH của Nhà nước là dạng TNDS, tuy vậy, so với TNDS thông thường, trách nhiệm BTTH của Nhà nước có những đặc điểm khác biệt với trách nhiệm BTTH thông thường ở những yếu tố sau:
a) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là trách nhiệm
d n s về bồi thường thiệt hại ngoài h p đồng
Trong quy định của pháp luật Việt Nam, từ BLDS năm đến nay, đều quy định trách nhiệm BTTH do công chức Nhà nước gây ra và theo đó quan hệ bồi thường nhà nước là quan hệ pháp luật dân sự Trong giới khoa
h c pháp lý, về trách nhiệm BTTH của Nhà nước hiện nay tồn tại hai quan
điểm: Thứ nhất, cho rằng quan hệ này là quan hệ pháp luật hành chính, vì một
bên luôn là Nhà nước chủ thể có quyền lực, nên khi phát sinh quan hệ bồi
Trang 17thường hay không phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước quyết định Vì vậy, quan
hệ trách nhiệm BTTH của Nhà nước là quan hệ pháp luật hành chính; Thứ hai, quan hệ pháp luật về BTTH của Nhà nước là quan hệ pháp luật dân sự về
BTTH ngoài hợp đồng, mà một bên phải bồi thường là Nhà nước
Khi công chức Nhà nước thi hành công vụ là thực thi quyền lực của Nhà nước, cho nên công dân và tổ chức có nghĩa vụ phục tùng các quyết định của công chức Nhà nước ây là quan hệ mang tính quyền lực công Tuy nhiên, nếu cán bộ, công chức cố ý ra các quyết định vượt quá thẩm quyền hoặc trái pháp luật gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì hành vi gây thiệt hại không thuộc phạm vi thi hành công vụ Hành vi gây thiệt hại là phát sinh quan
hệ pháp luật mới là quan hệ BTTH Do đó, về nguyên tắc công chức phải tự mình BTTH cho người bị thiệt hại, nhưng công chức là người thực thi chức trách của Nhà nước vì lợi ích Nhà nước, bởi vậy Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường
Qua phân tích trên, việc xác định tính chất của quan hệ bồi thường Nhà nước chịu ảnh hưởng của chính sách pháp lý Tuy nhiên, xuất phát từ tính tất yếu của việc xác định trách nhiệm BTTH của Nhà nước, mà Nhà nước cũng như các chủ thể thông thường, phải bồi thường khi gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức Do đó, quan hệ bồi thường Nhà nước là quan hệ pháp luật dân sự
Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật thì có thể mang một trong hai tư cách tư cách chủ thể thông thường và tư cách chủ thể của quyền lực công) Theo đó, những quan hệ pháp luật mà Nhà nước tham gia với tư cách là chủ thể mang quyền lực công không phải là những quan hệ hợp đồng Những quan hệ pháp luật mà Nhà nước tham gia và nhân danh quyền lực công phải là những quan hệ pháp luật có liên quan đến việc thực hiện những hoạt động thuộc về chức năng chính của Nhà nước Trong quá trình thực hiện những hoạt động này mà Nhà nước gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Nhà nước sẽ phải bồi thường Giữa Nhà nước và bên bị thiệt hại không có quan hệ
Trang 18hợp đồng, việc bồi thường không phải do vi phạm các nghĩa vụ về hợp đồng Chính vì vậy, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với các thiệt hại gây
ra bởi hoạt động công quyền là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
b) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là trách nhiệm
tr c ti p
Theo quy định của pháp luật nhiều nước trên thế giới về trách nhiệm
BTTH của Nhà nước thì về cơ bản có hai loại trách nhiệm: trách nhiệm trực tiếp và trách nhiệm thay thế [41, tr.4]
Nếu coi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm thay thế
thì trước đó phải xác định: Thứ nhất, hành vi trái pháp luật là hành vi của
công chức và nếu hành vi trái pháp luật này gây thiệt hại thì công chức phải
BTTH Thứ hai, Nhà nước là bên gánh chịu trách nhiệm thay cho công chức
Công chức thực hiện các hoạt động công vụ là vì lợi ích Nhà nước không vì bản thân h , vì vậy mà Nhà nước cũng nên có trách nhiệm Bên cạnh đó, hành
vi của công chức là hành vi công vụ, thực hiện quyền lực Nhà nước luôn tiềm ẩn sự rủi ro, vậy thì Nhà nước với tư cách là người quy định việc thực hiện các hoạt động tiềm ẩn rủi ro cũng phải gánh chịu rủi ro và phải BTTH Ngoài ra, nếu quy trách nhiệm cho công chức thì với khả năng tài chính của mình thì công chức không thể bồi thường Như vậy, người bị thiệt hại không bảo đảm được quyền lợi Nhà nước với trách nhiệm Hiến định là phải bảo vệ công dân nên Nhà nước phải bồi thường và cần chú ý nếu quy định công chức phải bồi thường thì sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính lành mạnh trong hoạt động của Nhà nước, đó là công chức sẽ lo ngại việc thực hiện công vụ nếu gây thiệt hại và mình phải bồi thường, vì vậy h sẽ không thực
hiện công việc của mình [41, tr.7]
Nếu coi trách nhiệm BTTH của Nhà nước là trách nhiệm trực tiếp thì trước đó phải xác định: Hành vi thực hiện công vụ của công chức là hành vi của Nhà nước và vì vậy nếu công chức có hành vi gây thiệt hại thì chính Nhà nước gây thiệt hại hay hành vi sai của công chức là hành vi sai của Nhà
Trang 19nước) Vậy đương nhiên trong trường hợp này trách nhiệm thuộc về Nhà
nước [41, tr.8]
Như vậy, điểm khác nhau cơ bản của hai cách tiếp cận này là việc coi hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có phải là hành vi của Nhà nước hay không? Trong cách tiếp cận thứ hai, coi trách nhiệm của Nhà nước là trách nhiệm trực tiếp có thể bị phản đối vì có tồn tại hay không cái g i là “hành vi của Nhà nước” vì hành vi phải luôn là của con người [41, tr Tuy nhiên, có thể khẳng định về mặt cơ h c, hành vi luôn là của con người, nhưng ở góc độ pháp lý thì hành vi của công chức lại có thể coi là hành vi của Nhà nước
iểm khác nữa giữa hai cách tiếp cận này là: Nếu trách nhiệm Nhà nước là trách nhiệm thay thế thì nó đồng nghĩa với việc phủ nhận trách nhiệm của Nhà nước, theo đó việc bồi thường chỉ là một chính sách giống như chính sách phúc lợi xã hội có mục đích bù đắp tổn thất mà thôi Ngoài ra, nếu coi trách nhiệm BTTH của Nhà nước là trách nhiệm thay thế thì vô hình chung đã gián tiếp khẳng định sự tồn tại của một quan niệm lỗi thời “Vua không thể làm sai” của lịch sử
iều Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm đã khẳng
định: “Luật này quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án;…” Như vậy, với việc khẳng định
trách nhiệm BTTH của Nhà nước là một yêu cầu tất yếu của thời đại, Nhà nước thừa nhận trách nhiệm bồi thường của mình là trách nhiệm tự thân, trách nhiệm BTTH của Nhà nước là trách nhiệm trực tiếp
c Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước kh ng ch là trách nhiệm tài s n mà c n là trách nhiệm kh i ph c nh ng t n thất về tinh th n cho người b thiệt hại
Trách nhiệm BTTH của Nhà nước là TNDS Do đó, trách nhiệm này bao gồm trách nhiệm về tài sản trong trường hợp tài sản bị thiệt hại) và trách nhiệm khôi phục về tổn thất tinh thần trong trường hợp danh dự, nhân phẩm
Trang 20uy tín bị xâm phạm) Cụ thể: iều Luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
của Nhà nước năm quy định: “Cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần (sau đây gọi chung là người bị thiệt hại) trong các trường hợp quy định tại Luật này thì được Nhà nước bồi thường”
d) Yếu tố c ng v trong quan hệ về trách nhiệm BTTH của Nhà nước
Chế định pháp luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước chỉ điều chỉnh trong trường hợp Nhà nước gây thiệt hại trái pháp luật cho cá nhân, tổ chức khi nhân danh quyền lực công - tức là Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho trường hợp gây ra thiệt hại khi công chức thực thi công vụ Tuy nhiên, hiểu thế nào về khái niệm “công vụ” có ý nghĩa quan tr ng vì đây là một trong những yếu tố quyết định việc có phát sinh hay không phát sinh trách nhiệm BTTH của Nhà nước Ngoài ra, “công vụ” có gì khác với “công việc” trong chế định trách nhiệm bồi thường của pháp nhân đối với thiệt hại gây ra khi thực hiện “công việc” của pháp nhân Xét ở góc độ xã hội hóa hoạt động quản lý Nhà nước, theo đó nhiều tổ chức không phải là cơ quan, tổ chức của Nhà nước) trong xã hội được Nhà nước giao một số nhiệm vụ quản
lý nhất định thì liệu những hành vi này có được coi là công vụ hay không Có
h c giả khẳng định rằng cần phải coi những hành vi “mang tính chất hành vi công quyền” do “các cơ quan và tổ chức không phải là bộ phận hữu cơ của bộ máy Nhà nước” nếu gây thiệt hại thì cũng phát sinh trách nhiệm BTTH của Nhà nước [29]
Xét trên phạm vi hoạt động của Nhà nước có thể phân hoạt động của Nhà nước trên ba lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và tư pháp; Xét theo tiêu chí
có thực hiện hay không chức năng chính của Nhà nước thì có thể chia hoạt động của Nhà nước thành: Hoạt động trực tiếp hoặc nhằm thực hiện chức năng chính của Nhà nước; hoạt động kinh tế thông qua hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các doanh nghiệp Nhà nước); các hoạt động dân sự khác như hoạt động mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ việc thực hiện chức năng chính của Nhà nước) Trong những hoạt động trên chỉ có
Trang 21nhóm hoạt động thứ nhất thì trong đó công chức mới nhân danh quyền lực công khi thực hiện ối với những hoạt động còn lại thì Nhà nước tham gia với tư cách một chủ thể bình đẳng với chủ thể còn lại trong quan hệ pháp luật
Vì vậy, như đã khẳng định là trong những mối quan hệ bình đẳng này thì pháp luật tư sẽ điều chỉnh mà không cần một chế định đặc biệt điều chỉnh
“Công vụ” cũng có sự khác biệt nhất định so với công việc trong chế định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng của pháp nhân Trong chế định này pháp nhân phải bồi thường cho m i thiệt hại gây ra khi thực hiện các công việc của pháp nhân, mà những công việc này không nhất thiết phải thuộc về chức năng hoạt động chính của pháp nhân
“Công vụ” theo quy định tại iều Luật Cán bộ, công chức năm 8
là: “việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan”
Như vậy, hoạt động công vụ, hay nói một cách đầy đủ là hành vi công quyền, là những hành vi trực tiếp hoặc nhằm thực hiện chức năng chính của Nhà nước là chức năng quản lý xã hội Chỉ những hành vi mang tính chất quyền lực nào trực tiếp hoặc nhằm chức năng quản lý nhà nước được thực hiện không vì lợi ích cá nhân mà thực hiện vì lợi ích cộng đồng tập thể, xã hội mới được coi là công vụ
đ ng chức trong quan hệ về trách nhiệm BTTH của Nhà nước
Trong pháp luật Việt Nam, các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”được
sử dụng để phân biệt rõ vị trí, vai trò của từng nhóm công chức trong bộ máy
Nhà nước nhưng về cơ bản, h đều là công chức - theo nghĩa rộng - làm việc
cho Nhà nước Công chức là “cánh tay nối dài” của Nhà nước, trực tiếp thực
hiện các công việc của Nhà nước trong đó có những công việc được g i là công vụ ể được trở thành công chức phải đáp ứng được những điều kiện đặt
ra cho mỗi cá nhân Vấn đề đặt ra là nếu công vụ được thực hiện bởi những cá nhân không phải là công chức thì liệu khi đó những cá nhân này có được coi
là công chức theo nghĩa rộng hay không? Thực tiễn Việt Nam cho thấy, rất
Trang 22nhiều trường hợp mà cá nhân thực hiện “công vụ” không phải là công chức Chẳng hạn, việc công dân tham gia dập tắt đám cháy cùng lực lượng cảnh sát phòng cháy, chữa cháy; công dân tham gia truy bắt tội phạm cùng lực lượng cảnh sát điều tra trong trường hợp phạm tội quả tang; một bác sĩ hành nghề tư nhân nhưng được Nhà nước thuê tham gia thực hiện chương trình y tế quốc gia… Những cá nhân này nếu trong quá trình thực hiện công vụ mà Nhà nước phân công gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khác thì trách nhiệm sẽ thuộc về ai
Vì vậy, đặt trong phạm vi chế định trách nhiệm BTTH của Nhà nước cần phải hiểu khái niệm “công chức” theo nghĩa rộng nhất Theo đó, công chức bao gồm tất cả ai thực hiện công vụ mà Nhà nước phân công, hoặc công việc mà pháp luật quy định khi một cá nhân thực hiện nhân danh quyền lực công Cách hiểu công chức theo nghĩa rộng này đã được cụ thể hóa trong Luật
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm tại khoản iều 3: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”
1.1.3 Sơ lư c l ch sử hình thành ch đ nh về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở một số nước trên th giới và ở Việt Nam
a Sơ lư c l ch sử hình thành ch đ nh về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở một số nước trên th giới
Chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một vấn đề còn rất mới cả về mặt khoa h c l n thực tiễn pháp luật thực định trên thế giới Lịch
sử chế độ chính trị phải BTTH cho dân chúng có thể chia thành ba thời kỳ
ầu tiên, là thời kỳ chế độ chính trị quân chủ chuyên chế, quyền lực
nằm hoàn toàn tuyệt đối trong tay vua, gắn mật thiết với thần quyền: “Nhà nước là ta”; “Thiên hạ là của tr m”; “Nhà vua không bao giờ làm sai, và nhà vua không chịu trách nhiệm gì cả” ó là tập hợp những thành ngữ
Trang 23giải thích tại sao Vua Nhà nước của chế độ chính trị phi dân chủ không phải BTTH
Thời kỳ thứ hai, khi chế độ dân chủ tư sản thay thế cho chế độ chính trị phong kiến chuyên chế, thần quyền với sự xuất hiện của Nhà nước pháp quyền thì chế độ bồi thường mới có thể đặt ra, nhưng v n còn những khoảng trống sáng tối cho sự bồi thường của Nhà nước ó là những quyền miễn trừ của Nhà nước, của những quan chức cao cấp của Nhà nước
Thời kỳ thứ ba, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, lý luận và những thể chế về BTTH của nhà nước ngày càng hoàn bị Các Nhà nước tư bản phát triển đã lần lượt ban hành các đạo luật về BTTH cho người dân, khi cơ quan công quyền của h xâm phạm đến quyền lợi của công dân Ví dụ, Luật bồi thường của Hoa Kỳ năm ; Luật bồi thường của Nhật Bản năm ; Luật bồi thường thiệt hại của Hàn uốc năm [53, tr.270]
Nhật Bản là nước mà pháp luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước được sử dụng rất hiệu quả uá trình hình thành lĩnh vực pháp luật này cũng rất phức tạp Trong thời kỳ trước chiến tranh thế giới thứ hai, ở Nhật Bản đã tồn tại hệ thống giải quyết các khiếu kiện đối với Nhà nước Tuy nhiên, hệ thống này là hệ thống về trách nhiệm không thuộc Nhà nước, theo đó các yêu cầu về bồi thường Nhà nước sẽ không được giải quyết và do vậy, các đương
sự phải khởi kiện theo thủ tục tố tụng tư pháp; kết quả là các hành vi vi phạm pháp luật của các quan chức Nhà nước được nhìn nhận như là hành vi của các
cá nhân đơn thuần [3, tr Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản ban hành Hiến pháp năm , iều Hiến pháp quy định: “M i người có quyền yêu cầu Nhà nước hoặc cơ quan công quyền bồi thường thiệt hại mà h phải gánh chịu do những hành vi trái pháp luật của các quan chức Nhà nước gây ra theo quy định của pháp luật” ây chính là cơ sở pháp lý rất quan tr ng
để người dân Nhật Bản có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình và cũng như cơ
sở Hiến định quan tr ng để xây dựng các đạo luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước Năm , Nghị viện Nhật Bản đã thông qua Luật bồi thường Nhà
Trang 24nước ạo luật này tuy chỉ có 6 (sáu) điều luật nhưng đã khẳng định được ý nghĩa to lớn của nó Nội dung cụ thể của Luật bao gồm: iều : iều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH của Nhà nước và điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi hoàn của công chức nhà nước hay trách nhiệm BTTH xảy ra do thực hiện công quyền); iều : Trách nhiệm bồi thường trong trường hợp có thiệt hại xảy ra đối với người dân do những sai sót trong việc xây dựng hoặc quản lý các con đường, sông và các phương tiện công cộng khác hay trách nhiệm bồi thường xảy ra do khiếm khuyết trong xây dựng và quản lý công trình công cộng); iều : Trách nhiệm của từng cá nhân cụ thể quy định tại hai trường hợp trên; iều : Việc áp dụng đồng thời Bộ luật dân sự khi giải quyết các quan hệ bồi thường Nhà nước; iều : Việc áp dụng các đạo luật khác trong trường hợp những đạo luật đó có quy định về trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong lĩnh vực riêng biệt; iều : Về nguyên tắc có đi có lại, cụ thể là trong trường hợp người nước ngoài bị thiệt hại trong trường hợp nào sẽ được bồi thường Các khiếu kiện yêu cầu Nhà nước bồi thường được coi là các vụ
kiện dân sự [3, tr.454], nên các quy định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản sẽ
được viện d n áp dụng trong trường hợp cần thiết
Luật bồi thường nhà nước của Nhật Bản tuy đơn giản nhưng việc áp dụng lại rất linh hoạt vì Tòa án Nhật Bản có thẩm quyền rất lớn trong việc giải thích và áp dụng pháp luật khi giải quyết các vụ việc cụ thể Năm , Nghị viện Nhật Bản tiếp tục ban hành Luật ền bù Hình sự Theo đó, quy định trách nhiệm đền bù tổn thất của Nhà nước đối với những người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự Tuy nhiên, đạo luật này chỉ áp dụng cho trường hợp mà nạn nhân đã được chuyển sang giai đoạn xét xử ở Tòa án và được Tòa án phán quyết là trắng án và đạo luật này nhằm mục đích áp dụng cho những hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng mà không xem xét đến yếu
tố lỗi của người trực tiếp thực hiện hành vi tố tụng Giải thích cho vấn đề này, các chuyên gia Nhật Bản khẳng định: đây là một trong những đạo luật nhằm
áp dụng cho trường hợp: hành vi cần thiết phải làm và hành vi này không trái
Trang 25pháp luật; hành vi cần thiết mà Nhà nước đã thực hiện dù cần thiết và hợp pháp song không thể tránh được việc gây ra tổn thất cho ai đó; việc gây ra tổn thất được coi như việc một người chịu thiệt thòi vì lợi ích chung và vì vậy Nhà nước có biện pháp, chính sách đền bù thỏa đáng [42, tr.5-6] Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, Bộ Tư pháp Nhật Bản cũng đã ban hành quy tắc về bồi thường cho những người bị tình nghi, theo đó những người là nạn nhân của hoạt động điều tra, truy tố nhưng được chấm dứt hoạt động tố tụng mà chưa chuyển sang giai đoạn xét xử ở Tòa án thì cũng sẽ được đền bù
Một quốc gia châu u có hệ thống pháp luật rất phát triển là Cộng hòa liên bang ức nhưng nước này không có hệ thống pháp luật rõ ràng về trách nhiệm BTTH của Nhà nước Năm 1981, quốc gia Tây ức cũ ban hành Luật
về trách nhiệm Nhà nước Tuy nhiên, sau đó đạo luật này bị tuyên là trái Hiến pháp và vì vậy không có hiệu lực thi hành Năm , Cộng hòa dân chủ ức trước đây đã ban hành Luật về trách nhiệm bồi thường Nhà nước Luật này được áp dụng trên lãnh thổ Cộng hòa dân chủ ức cho đến khi thống nhất nước ức năm Sau khi thống nhất nước ức, một số nội dung của Luật này được một số bang của Cộng hòa liên bang ức tiếp nhận và chuyển thành pháp luật của tiểu bang ở Cộng hòa liên bang ức Hiện nay, việc xét xử của Tòa án đối với các yêu cầu bồi thường nhà nước thực hiện trên cơ sở iều Hiến pháp ức và iều 8 Bộ luật Dân sự ức về trách nhiệm của công chức do vi phạm trách nhiệm công vụ [53, tr.262]
Trung uốc - quốc gia láng giềng của Việt Nam có hệ thống pháp luật
về trách nhiệm BTTH của Nhà nước đã được định hình, ổn định Văn bản pháp luật hiện nay được áp dụng để giải quyết các yêu cầu bồi thường Nhà nước của Trung uốc là Luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước được uốc hội Trung uốc thông qua ngày và có hiệu lực thi hành từ ngày Trước khi có Luật này, nhiều văn bản pháp luật Trung uốc có quy định về trách nhiệm bồi thường Nhà nước Cụ thể là uy chế quản lý tạm thời cảng biển Trung uốc năm ; Luật hợp đồng kinh tế năm 1981; Quy
Trang 26chế về cơ quan xử lý hành chính đối với công an năm 8 ; Luật sửa đổi Luật
Tố tụng hình sự năm 8 ; Luật Tố tụng hành chính năm 8
Luật bồi thường Nhà nước Trung uốc quy định trách nhiệm của Nhà nước Trung uốc trong trường hợp các cơ quan nhà nước gây thiệt hại trái pháp luật cho cá nhân, tổ chức hạm vi áp dụng của ạo luật này loại trừ lĩnh vực lập pháp Theo đó, chỉ những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hành chính và tư pháp hình sự mới thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này [22 Khác với Luật bồi thường Nhà nước của Nhật Bản, Luật bồi thường Nhà nước của Trung uốc lại quy định rất chi tiết và cụ thể các vấn đề, ví dụ: các trường hợp được bồi thường do xâm phạm quyền nhân thân iều ); các trường hợp được bồi thường do xâm phạm về tài sản iều ); các trường hợp Nhà nước không phải bồi thường iều ) Ngoài ra để áp dụng luật này trên thực tiễn, uốc vụ viện Trung uốc đã ban hành: “Một số biện pháp quản lý kinh phí bồi thường Nhà nước” theo đó đã quy định cơ quan tài chính Nhà nước các cấp có trách nhiệm chi trả kinh phí bồi thường Nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung uốc ban hành văn bản hướng d n thi hành
b) Sơ lư c về ch đ nh về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam
Chế định trách nhiệm BTTH của Nhà nước đã được Nhà nước ta ghi nhận từ sau khi thành lập nước iều này thể hiện ngay từ Hiến pháp năm , iều Hiến pháp quy định: “Người bị thiệt hại về hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi
thường” [31]
Hiến pháp năm 8 khẳng định pháp luật bảo hộ tính mạng, danh
dự và nhân phẩm của công dân bên cạnh việc xác định m i hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử
lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường iều và iều )
Trang 27Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 8 , iều Bộ luật Tố tụng hình sự năm 88 quy định:
“Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo những việc làm trái pháp luật của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án hoặc bất kỳ cá nhân nào thuộc
Hiến pháp năm tiếp tục khẳng định nguyên tắc: “M i hoạt động xâm phạm lợi ích Nhà nước và lợi ích hợp pháp của công dân đều bị xử lý theo pháp luật” iều ), nhưng đã phân biệt hai loại trách nhiệm: iều quy định trách nhiệm của cơ quan tố tụng: “Người bị giam giữ, bị truy tố, xét
xử trái pháp luật có quyền được BTTH về vật chất và phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” iều quy định “M i hành vi xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được xử
lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự”
Trên cơ sở nguyên tắc chung của Hiến pháp năm về việc bảo hộ quyền lợi của tổ chức, cá nhân và TNDS của người có hành vi gây thiệt hại, để xác định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm này và khắc phục tồn tại trước đây, BLDS năm đã quy định trách nhiệm bồi thường do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Cụ thể: iều BLDS năm quy định:
“Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra trong khi thi hành công vụ; trong khi thực hiện nhiệm
vụ điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
Trang 28Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người đã gây thiệt hại phải bồi hoàn khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền đó có lỗi trong khi thi hành công vụ”
Cụ thể hóa quy định của BLDS năm , ngày Chính phủ
đã ban hành Nghị định số -C về giải quyết BTTH do công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
ể thực hiện các quy định của Nghị định 7-C các cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực liên quan đã ban hành nhiều văn bản hướng d n như: Thông tư số 8 TT-TCC ngày 8 của Ban
Tổ chức cán bộ Chính phủ nay là Bộ Nội vụ) hướng d n thực hiện một số nội dung Nghị định -C ; Thông tư số 8 8 TT-BTC ngày 8 của Bộ Tài chính hướng d n về việc lập dự toán ngân sách nhà nước cho BTTH do công chức, viên chức người có thẩm quyền của cơ quan Nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
Mặc dù đã có một số văn bản dưới luật quy định tương đối cụ thể về lĩnh vực bồi thường Nhà nước song thực tiễn cho thấy số vụ việc đòi Nhà nước bồi thường phát sinh ngày càng nhiều, tính chất ngày càng phức tạp, hiệu quả giải quyết còn nhiều hạn chế, đặc biệt là vấn đề BTTH cho người bị oan, sai do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra Trước thực trạng đó, ảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm, Bộ chính trị đã ban hành Chỉ thị số - CT TW ngày về một số công việc cấp bách của các
cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm , chỉ rõ:
“Cùng với việc phát hiện và chú tr ng giải quyết kịp thời các vụ án có dấu hiệu oan, sai, cần khẩn trương nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách để BTTH với các trường hợp bị oan, sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
Việc bồi thường thiệt hại cần thực hiện đúng trình tự thủ tục đối với từng trường hợp cụ thể; những tài sản đã bị tịch thu, kê biên sai thì cần hoàn trả ngay; cần làm rõ cơ sở pháp lý, trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân; phân
Trang 29định trách nhiệm của từng cơ quan và cá nhân tiến hành tố tụng và mức độ thiệt hại về dân sự do việc làm oan sai gây ra ”[12]
Năm Bộ chính trị ban hành Nghị quyết số 08 - N TW ngày
về một số nhiệm vụ tr ng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó đặt ra yêu cầu: “ khẩn trương ban hành và thực hiện nghiêm túc các văn bản pháp luật về BTTH đối với những trường hợp oan, sai trong hoạt động tố tụng; nghiên cứu xây dựng quỹ bồi thường thiệt hại
về tư pháp ”
uán triệt đầy đủ các yêu cầu của Chỉ thị số - CT TW và Nghị quyết
số 8 - N TW của Bộ chính trị, ngày , Ủy ban thường vụ uốc hội
đã ban hành Nghị quyết số 88 N - UBTV H về Bồi thường thiệt hại cho người bị oan do cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây
ra Nhằm tạo sự thống nhất trong việc áp dụng những quy định trong Nghị quyết số 88 các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đã ban hành Thông
tư liên tịch số 01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BT -B -BTC ngày hướng d n thi hành Nghị quyết số 88 Thông tư liên tịch số này đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư liên tịch số TTLT-VKSNDTC-BC -T NDTC-BT -B -BTC ngày của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ uốc phòng, Bộ Tài chính về BTTH cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Nội dung của Thông tư đã xác định rõ chủ thể trong tố tụng hình sự do bị khởi tố, truy tố, xét xử oan nhưng sau đó đã có bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có những căn cứ xác định người đó bị oan, thì người bị khởi tố, truy tố, xét xử oan được BTTH về những thu nhập bị mất do phải chấp hành hình phạt oan
và khoản tiền tổn thần về tinh thần của người bị oan
Ngày , tại kỳ h p thứ , uốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự năm , sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện các quy định tố tụng hình sự của nước ta cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn Trên cơ
Trang 30sở nghiên cứu những vấn đề bồi thường cho người bị oan quy định trong Nghị quyết số 88, Bộ luật Tố tụng hình sự năm đã ghi nhận quyền được BTTH và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan trở thành nguyên tắc
cơ bản của Bộ luật Tại iều Bộ luật Tố tụng hình sự năm quy định:
“Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi
Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải BTTH và phục hồi danh dự quyền lợi cho người bị oan; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật ” [36]
BLDS năm thay thế BLDS năm ) - Bộ luật điều chỉnh lĩnh vực rộng lớn các quan hệ dân sự của cá nhân, pháp nhân, tổ chức và tiếp tục ghi nhận trách nhiệm BTTH của cán bộ, công chức, người có thẩm quyền của
cơ quan tố tụng Cụ thể:
Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ
Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán
bộ, công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu
cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ iều ) [38]
Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng
Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền
đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu
người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ iều ) [38]
Các quy định pháp luật về BTTH của Nhà nước nêu trong các văn bản pháp luật nêu trên, mặc dù có nhiều điểm tiến bộ song các quy định đó v n còn phân tán, không có hệ thống và hiệu lực pháp lý của văn bản điều chỉnh trực tiếp có giá trị thấp, phạm vi bồi thường Nhà nước h p, cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường được xác định một cách phân tán, thủ tục giải
Trang 31quyết bồi thường chưa có quy định thống nhất và hạn chế quyền của bên bị thiệt hại, các loại thiệt hại được Nhà nước quy định chung chung, chưa cụ thể
và khó áp dụng, trách nhiệm hoàn trả của công chức chưa được quy định rõ ràng và chưa có tác dụng giáo dục trực tiếp đối với công chức ể khắc phục các hạn chế nêu trên, ngày 8 uốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định một cách toàn diện đầy
đủ về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động QLHC, tố tụng, thi hành án; thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại; quyền, nghĩa vụ cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công
vụ đã gây ra thiệt hại
1.1.4 Ý nghĩa của ch đ nh trách nhiệm BTTH của Nhà nước
Chế định trách nhiệm BTTH của Nhà nước có ý nghĩa rất quan tr ng về
lý luận cũng như thực tiễn, thể hiện ở những nội dung sau:
* Bù đắp t n thất, kh i ph c quyền và l i ích chính đáng của cá
nh n, t chức
háp luật bảo hộ tài sản, tính mạng, sức khoẻ của cá nhân và tài sản của
tổ chức nên khi có hành vi gây thiệt hại cho các cá nhân hoặc người của tổ chức thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu BTTH hoặc yêu cầu Toà án giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do vậy, khi cán bộ, công chức của Nhà nước gây thiệt hại thì người bị thiệt hại cần phải được bảo
vệ như các trường hợp khác
úng như tên g i của nó, trách nhiệm BTTH của Nhà nước trước hết
là để bù đắp lại những tổn thất, mất mát về nhân thân, tài sản, đồng thời khôi phục lại các quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại Sở dĩ việc BTTH có ý nghĩa là một sự bù đắp tổn thất về tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm là vì không phải trong m i trường hợp đều có thể xác định chính xác mức độ thiệt hại, nhất là đối với những thiệt hại về
Trang 32tinh thần vốn dĩ không thể định lượng để “quy ra tiền” được Ngay cả đối
với những thiệt hại về tài sản, trong nhiều trường hợp, sự bù đắp không thể ngang bằng được với những mất mát, tổn thất mà chỉ là tương đối Với những tổn thất về tinh thần, sự bù đắp của việc BTTH thực chất chỉ có tính chất tượng trưng, mang ý nghĩa động viên an ủi, chia sẻ nỗi đau đớn, mất mát mà người bị thiệt hại hoặc người thân của h phải gánh chịu, góp phần giúp cho người bị thiệt hại ổn định lại cuộc sống sau những gì đã phải chịu đựng
Bên cạnh đó, việc BTTH cho người bị thiệt hại không chỉ đơn thuần là
bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà bằng việc thực hiện trách nhiệm BTTH này, Nhà nước phải có các biện pháp khôi phục kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp cũng như danh dự, uy tín cho công dân, làm sao
để người bị thiệt hại có thể quay trở lại với tình trạng trước khi thiệt hại xảy ra với đầy đủ các quyền, lợi ích hợp pháp của h Dĩ nhiên, cũng như việc bù đắp thiệt hại về nhân thân và tài sản, việc khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại cũng chỉ mang tính chất tương đối, mang ý nghĩa động viên, an ủi bởi trên thực tế có những quyền bị mất đi thì không thể khôi phục lại được
* B o đ m quyền bình đẳng gi a cơ quan c ng quyền và cá nh n, t chức trong quan hệ pháp luật d n s
Khi người của cơ quan công quyền thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích quốc gia, cho dù người này có lỗi hay không có lỗi trong việc gây thiệt hại cho chủ thể khác, thì trách nhiệm bồi thường thuộc về Nhà nước Nguyên tắc này bảo đảm quyền bình đẳng của các chủ thể trong quan hệ xã hội và pháp luật Nhà nước không thể không có trách nhiệm đối với những thiệt hại của chủ thể khác do người đại diện của mình gây ra Trong trường hợp này, Nhà nước với
tư cách chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường, người bị thiệt hại là người có quyền yêu cầu Nhà nước BTTH ây là nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự
Trang 33* N ng cao trách nhiệm của cơ quan th c thi pháp luật
Hoạt động của bộ máy Nhà nước được tạo thành bởi các hoạt động cụ thể của những cá nhân có thẩm quyền trong từng cơ quan Nhà nước, với tư cách là con người trong cuộc sống không thể tránh khỏi sai lầm Do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, việc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật của người thi hành công vụ rất dễ xảy ra Xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc BTTH là nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan công quyền trong hoạt động nghiệp vụ phải tôn tr ng quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức ồng thời, xác định trách nhiệm BTTH của Nhà nước còn nhằm củng cố lòng tin của nhân dân, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan công quyền chịu trách nhiệm trước dân, bảo vệ Nhà nước của dân, do dân và vì dân ua đó, loại bỏ được hành vi lạm dụng chức vụ quyền hạn, cố ý làm trái gây mất lòng tin trong nhân dân của các cá nhân ra khỏi cơ quan công quyền
* Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân
Một trong những đặc điểm quan tr ng, cơ bản nhất của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa là “tính tối thượng của pháp luật”, hay nói cách khác,
m i cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân đều bình đẳng trước pháp luật, pháp luật là thước đo cơ bản quyết định địa vị pháp lý cũng như các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật Trong Nhà nước pháp quyền, không có hiện tượng người dân làm sai thì phải gánh chịu hậu quả, còn công chức Nhà nước, cơ quan Nhà nước làm sai lại được miễn trừ trách nhiệm Những thiệt hại về nhân thân, tài sản mà một cá nhân công dân nào đó phải gánh chịu dù là hậu quả của những hành vi vi phạm pháp luật của một cá nhân công dân khác hay một công chức Nhà nước, cơ quan Nhà nước thì đều phải được xem xét bồi thường thoả đáng theo những nguyên tắc bồi thường mà pháp luật quy định Xét ở góc độ mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, việc cơ quan Nhà nước công khai xin lỗi dân vì những sai sót của mình, BTTH về vật chất và tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu
Trang 34chứng tỏ Nhà nước tôn tr ng dân hơn Những hành động bồi thường và xin lỗi này của Nhà nước sẽ thúc đẩy ý thức dân chủ của người dân, động viên tinh thần trách nhiệm của người dân trong việc củng cố xây dựng Nhà nước, khắc phục tình trạng dân bàng quan, né tránh cơ quan Nhà nước
Chính vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sẽ góp phần tăng cường dân chủ trong các hoạt động công quyền, bảo đảm nguyên tắc m i chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật
về quyền và nghĩa vụ, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
1.2 ái niệm cơ quan qu n lý àn c ín à nước, oạt độn qu n lý
àn c ín à nước
1.2.1 Khái niệm cơ quan qu n lý hành chính Nhà nước
Cơ quan quản lý hành chính (CQQLHC) Nhà nước là một bộ phận của
bộ máy nhà nước do Nhà nước lập ra để thực hiện chức năng quản lý hành chính (QLHC) Nhà nước Cũng như các cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước, CQQLHC Nhà nước có cơ cấu tổ chức riêng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên cơ sở quy định của pháp luật, hoạt động trên một đơn
vị hành chính - lãnh thổ hay trên một lĩnh vực nhất định
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQQLHC Nhà nước do Hiến pháp, Luật, háp lệnh và nhiều văn bản dưới luật quy định Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQ LHC Nhà nước còn do vị trí, tính chất của nó trong hệ thống các cơ quan Nhà nước quyết định Trong đó, quyền hạn của CQQLHC Nhà nước là phương tiện pháp lý cần thiết mà Nhà nước quy định để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao
Cơ quan QLHC Nhà nước có hệ thống thống nhất từ trung ương đến địa phương, đứng đầu hệ thống đó là Chính phủ - cơ quan chấp hành của Quốc hội, CQQLHC Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 35CQQLHC Nhà nước có thẩm quyền chung Chính phủ, UBND các cấp)
do cơ quan quyền lực Nhà nước uốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp) lập ra
Do vậy các cơ quan này chịu sự giám sát trực tiếp của cơ quan quyền lực Nhà nước, chịu trách nhiệm báo cáo trước cơ quan quyền lực Nhà nước cùng cấp
Với tư cách là cơ quan nhà nước, một bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, CQ LHC Nhà nước mang đầy đủ các dấu hiệu chung của cơ quan nhà nước
Ngoài những dấu hiệu chung, C LHC Nhà nước có những dấu hiệu riêng những đặc thù) Căn cứ vào những dấu hiệu riêng đó có thể phân biệt CQQLHC Nhà nước với các cơ quan nhà nước khác như sau:
Thứ nhất, CQQLHC Nhà nước có chức năng QLHC nhà nước, thực
hiện hoạt động chấp hành - điều hành trên m i lĩnh vực đời sống xã hội, từ lĩnh vực QLHC - chính trị đến lĩnh vực quản lý kinh tế, văn hoá xã hội CQQLHC Nhà nước có thẩm quyền chung được cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp trực tiếp lập ra Do vậy, C LHC Nhà nước là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp Các cơ quan khác trong bộ máy hành chính nhà nước không do cơ quan quyền lực nhà nước trực tiếp lập nên, nhưng về nguyên tắc v n phải chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và phải chấp hành luật, nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước
Hoạt động chấp hành điều hành của C LHC Nhà nước là hình thức hoạt động chủ yếu để đưa văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước vào thực tiễn quản lý nhà nước Trong khi đó, các cơ quan nhà nước khác chỉ tham gia hoạt động LHC trong phạm vi, lĩnh vực nhất định nhằm tạo điều kiện
cần thiết cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Ví dụ: Tòa án nhân
dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp để thực hiện chức năng đã được pháp luật quy định có hoạt động LHC trong công tác tổ chức nội bộ
Thứ hai, mỗi C LHC Nhà nước có một phạm vi thẩm quyền nhất
định được giới hạn trong lĩnh vực LHC nhà nước do pháp luật quy định Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy
Trang 36ban nhân dân, các Nghị định của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của các bộ cơ quan ngang bộ ) và trong phạm
vi thẩm quyền của mình cơ quan độc lập hành động
Thứ ba, chỉ các C LHC Nhà nước mới có hệ thống các đơn vị cơ sở
trực thuộc Các đơn vị cơ sở này góp phần tích cực vào việc thực hiện chức
năng cơ bản của C LHC Nhà nước Ví dụ: các trường h c, bệnh viện, viện
nghiên cứu
Tóm lại, cơ quan quản lý hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, trong phạm vi thẩm quyền của mình thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành và tham gia vào các quan hệ quản lý nhân danh quyền lực nhà nước [49, tr.203]
1.2.2 Khái niệm hoạt động qu n lý hành chính nhà nước
QLHC nhà nước là một hình thức hoạt động của Nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các C LHC Nhà nước, có nội dung là đảm bảo sự chấp hành pháp luật, pháp lệnh, nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa - xã hội và hành chính - chính trị Nói cách khác, QLHC nhà nước là hoạt động chấp hành - điều hành của Nhà nước
Tính chất chấp hành thể hiện ở mục đích của LHC nhà nước là để đảm bảo thực hiện trên thực tế các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật
Tính chất điều hành của LHC nhà nước thể hiện ở chỗ để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế, các chủ thể của LHC nhà nước phải tiến hành hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền
Trong quá trình điều hành, C LHC Nhà nước có quyền nhân danh Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật để đặt ra các quy phạm pháp luật
Trang 37hay các mệnh lệnh cụ thể bắt buộc các đối tượng quản lý có liên quan phải thực hiện
Như vậy, các chủ thể của LHC nhà nước sử dụng quyền lực Nhà nước để tổ chức và điều khiển hoạt động của các đối tượng quản lý ua đó, thể hiện một cách rõ nét mối quan hệ “quyền lực - phục tùng” giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý
Hoạt động điều hành là một nội dung cơ bản của hoạt động chấp hành quyền lực nhà nước, nó gắn với hoạt động chấp hành và cùng với hoạt động chấp hành tạo thành hai mặt thống nhất của LHC nhà nước
Hoạt động LHC nhà nước được đặt dưới sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước nhưng v n mang tính chủ động, sáng tạo Tính chủ động, sáng tạo của hoạt động LHC nhà nước thể hiện rõ nét trong quá trình các chủ thể của LHC nhà nước đề ra chủ trương, biện pháp quản lý thích hợp đối với các đối tượng khác nhau, tạo điều kiện cho h lựa ch n cách thức tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ trên cơ sở nghiên cứu, xem xét tình hình cụ thể
Tất cả các cơ quan nhà nước đều tiến hành hoạt động HLC nhà nước nhưng hoạt động này chủ yếu do C LHC Nhà nước thực hiện
Nhiệm vụ LHC nhà nước được thực hiện trên thực tế thông qua những hoạt động cụ thể khác nhau, những hoạt động cụ thể này rất phong phú
về nội dung và phức tạp về hình thức do nó được các chủ thể có nhiệm vụ khác ở các cấp quản lý khác nhau khác nhau tiến hành
Như vậy, hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước (Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước địa phương) để thực thi quyền hành pháp nh m phục vụ nhân dân duy trì ổn định và phát triển xã hội theo quy định của luật
pháp nhà nước
1.3 ác căn cứ làm p át sin trác n iệm bồi t ườn t iệt ại của à nước tron oạt độn qu n lý àn c ín
iều BLDS năm quy định: “Cơ quan, tổ chức quản lý cán
bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ công chức của mình gây ra
Trang 38khi thi hành công vụ” uy định này được coi là xuất phát điểm mở đường
cho các văn bản quy phạm pháp luật khác cụ thể hoá trách nhiệm BTTH của Nhà nước, trong đó có Luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước Trách nhiệm BTTH của Nhà nước nói chung và trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHC nhà nước nói riêng là một dạng của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nên về nguyên tắc cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHC nhà nước cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định của BLDS về BTTH ngoài hợp đồng Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm chung của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, trách nhiệm BTTH của Nhà nước còn mang nhiều nét đặc thù và phải dựa trên những căn cứ nhất định, cụ thể: Khoản iều Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định:
“1 Việc xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án phải có các căn cứ sau đây:
a) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại các điều 13, 28, 38 và 39 của Luật này;
b) Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công
vụ gây ra đối với người bị thiệt hại.”
Và căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHC được hướng d n cụ thể tại Khoản iều Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTC ngày của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ hướng d n thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính TTLT số ) quy định:
“Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật;
Trang 39b) Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 13 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
c) Có thiệt hại thực tế xảy ra;
d) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.”
Như vậy, trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHC nhà nước được hình thành khi hội đủ các yếu tố sau:
1.3.1 ó thiệt hại x y ra
Thiệt hại được hiểu là “mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của”
[56] uan điểm truyền thống của pháp luật dân sự luôn coi thiệt hại là những
tổn thất có liên quan đến tài sản Tuy nhiên, theo quan điểm hiện nay thì thiệt hại bao gồm không chỉ những tổn thất về tài sản
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật h c của Trường ại h c Luật Hà
Nội thì thiệt hại là: “tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản
của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ” [47, tr.118]
BLDS năm iều quy định: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần” BLDS năm iều quy định: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần” Như vậy, về mặt khoa h c và luật thực định thì quan điểm phổ biến hiện nay về thiệt hại là thiệt hại bao gồm: thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần [1, tr.12]
* Thiệt hại về vật chất
Thiệt hại về vật chất là thiệt hại về tài sản tài sản bị mất, bị hu hoại,
bị hư hỏng) và chi phí bỏ ra để hạn chế, khắc phục thiệt hại cùng thu nhập bị mất, bị giảm sút
Thiệt hại về vật chất vừa là những thiệt hại trực tiếp là vật và lợi ích vật chất khác thuộc quyền của chủ thể) như vật có thực, tiền và các giấy tờ có
Trang 40giá tài sản hữu hình), quyền nghĩa vụ với tài sản đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ - tài sản vô hình) và vừa là những thiệt hại gián tiếp khác, xâm hại các lợi ích khác như: lợi tức, hoa lợi hay thu nhập bị mất, bị giảm sút
* Thiệt hại về tinh thần
Tổn thất tinh thần chỉ được tính đến khi các quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm, uy tín, quyền tự
do đi lại, các quyền nhân thân khác) Tổn thất về tinh thần không được tính cho trường hợp tài sản bị xâm phạm
Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người
bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại
Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí hợp
lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại