Trong khuân khổ bài nghiên cứu, luận văn chủ yếu đi vào phân tích các quy định của đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Việt Nam bao gồm đăng ký khai sinh; khai tử; giám
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG ANH
CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Hồng Bắc
HÀ NỘI - 2011
Trang 2Xin gửi lời cảm ơn chân thành TS Nguyễn Hồng Bắc, trưởng bộ môn Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội Trong suốt thời gian vừa qua, cô đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài nghiên cứu đúng quy định Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã hỗ trợ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình hoàn thành cuốn luận văn Bản luận văn là đúc kết quá trình nghiên cứu cũng như thực tiễn thực hiện công tác
hộ tích trong thời gian qua Vì thời gian để hoàn thành bài luận văn không nhiều nên không thể tránh khỏi sai sót Do đó, em mong nhận được sự đóng góp của
các thầy cô và bạn bè để bản luận văn được hoàn chỉnh thêm
Trang 3MỞ ĐẦU 1 Chương 1: Những vấn đề lí luận về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài 6
1.1 Khái quát chung về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài 6 1.2 Lịch sử pháp luật đăng ký hộ tịch ở Việt Nam 12
Chương 2: Các quy định về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài theo
pháp luật Việt Nam
21
2.1 Đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài 21
2.5 Đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 30 2.6 Thủ tục ghi vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã
đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
34
2.8 Thẩm quyền đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài 38
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật đăng ký hộ
tịch có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
44
3.1 Thực trạng đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 44 3.2.Thực tiễn đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 58 3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
66
Trang 4Biểu 1: Lệ phí đăng ký hộ tịch tại một số tỉnh thành phố 36 Biểu 2: Mức lệ phí hộ tịch trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 37 Biểu 3: Số liệu công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài trong cả nước 58 Biểu 4: Đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại các tỉnh thành phố
trong cả nước năm 2010
59
Biểu 5: Số liệu đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài qua các năm trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn
61
Biểu 6: Số liệu đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài qua các năm trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên
62
Biểu 7: Số liệu đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài qua các năm trên
địa bàn thành phố Hà Nội
62
Biểu 8: Thống kê số liệu công dân Việt Nam kết hôn với người nước
ngoài chia theo đơn vị lãnh thổ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
qua các năm
64
Biểu 9: Các trường hợp ghi chú kết hôn của công dân Việt Nam thực
hiện tại nước ngoài
65
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác hộ tịch là lĩnh vực thể hiện rõ nhất chức năng xã hội của Nhà nước, là
cơ sở để Nhà nước hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh, quốc phòng; là một trong những phương thức để Nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; đồng thời góp phần bảo đảm trật tự xã hội Nhận thức tầm quan trọng đó, không chỉ Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới đều chú trọng đến công tác hộ tịch
Bước sang thế kỷ XX, khi sự nghiệp đổi mới đất nước chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực,
mở rộng giao lưu và hợp tác văn hoá thì hiện tượng hộ tịch có yếu tố nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch ra đời là một bước tiến mới về công tác hộ tịch với nhiều tham vọng của nhà làm luật về một cơ chế thoáng, thuận lợi và thống nhất về công tác hộ tịch Cùng với Nghị định 158/2005/NĐ-CP và Luật Hôn nhân gia đình năm 2000, Nghị định 68/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định 69/2006/NĐ-CP sửa đổi nghị định 68/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài công tác đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài đã được thự hiện một cách linh hoạt hơn
Tuy nhiên, sau hơn năm năm thực hiện Nghị định 158/2005/NĐ-CP, Nghị định này đã bắt đầu bộc lộ những điểm bất cập trong công tác quản lý và đăng ký hộ tịch, xuất hiện tình trạng lợi dụng kẽ hở của pháp luật liên quan đến hộ tịch có yếu tố nước ngoài để thực hiện những mục đích gây hậu quả trong xã hội
Vì lý do đó, em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu là “Vấn đề đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam” để tìm ra những điểm hạn
Trang 6chế và đưa ra những biện pháp sửa đổi văn bản hộ tịch nói chung và hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu
Như đã nói vấn đề đăng ký hộ tịch giữ vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định các chính sách kinh tế xã hội Vì vậy, nghiên cứu vấn đề hộ tịch đã có rất nhiều học giả nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chủ yếu là các nghiên cứu chung về công tác hộ tịch trong nước hoặc mới chỉ dừng lai ở việc tìm hiểu một lĩnh vực nhất định của đăng ký hộ tịch như vấn đề khai sinh, vấn đề khai tử… riêng vấn đề đăng ký
hộ tịch có yếu tố nước ngoài thì chưa có học giả nào nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu
Với việc nghiên cứu luận văn nhằm mục đích: Phân tích và đưa ra khái niệm toàn diện về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài từ đó tìm ra nhưng điểm còn tồn tại, nguyên nhân tồn tại và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định trong pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, qua đó tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ cho hoạt động quản lý và đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam
+ Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu luận văn đã thực hiện những nhiệm vụ sau: phân tích các quy định trong pháp luật Việt Nam đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh, toàn diện về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài; khái quát quy định đăng ký hộ tịch trong pháp luật Việt Nam, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về đăng
ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam để tìm ra những điểm hạn chế, nguyên nhân và giải pháp khắc phục những hạn chế trong pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài
Trang 74 Phạm vi nghiên cứu
Đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài là một trong những nội dung cơ bản của pháp luật về đăng ký hộ tịch nói riêng và pháp luật dân sự nói chung Trong khuân khổ bài nghiên cứu, luận văn chủ yếu đi vào phân tích các quy định của đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Việt Nam bao gồm đăng ký khai sinh; khai tử; giám hộ; kết hôn; nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài; đăng ký các sự kiện hộ tịch mà công đân Việt Nam đã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài, trong đó vấn đề đăng ký nuôi còn nuôi có yếu tố nước ngoài, kết hôn có yếu tố nước ngoài đã có rất nhiều học giả nghiên cứu nên phạm vi luận văn chỉ nghiên cứu hai vấn đề trên trong phạm vi liên quan đến đăng ký hộ tịch mà không đi sâu vào các lĩnh vực này Nghiên cứu thực trạng đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch tạo điều kiện cho sự phát triển của pháp luật cũng như thực tiễn công tác đăng ký hộ tịch trong đó có đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài Để nghiên cứu vấn đề hộ tịch
có yếu tố nước ngoài trong phạm vi luận văn không thể nghiên cứu tất cả các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài mà chỉ tập trung vào nghiên cứu những vấn đề chính của đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài bao gồm: Đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài, đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoài, đăng ký giám hộ có yếu tố nước ngoài, đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài và đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, thủ tục ghi vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài Trong đó, vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài
và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã được nhiều học giả trong nước nghiên cứu
do đó, trong phạm vi luận văn không đi sâu vào các vấn đề của đăng ký kết hôn và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài mà chỉ nghiên cứu trong mối quan hệ của hai công tác này với công tác hộ tịch tư pháp
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8Để đạt kết quả nghiên cứu tốt nhất luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam để nghiên cứu phân tích các quy luật, chính sách kinh tế - xã hội đất nước; sử dụng phương pháp phân tích để phân tích các quan điểm, quan niệm, các quy định pháp luật về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài; sử dụng phương pháp tổng hợp trong quá trình phân tích để đưa ra các quan điểm, các nhận xét có giá trị của bản luận văn; sử dụng phương pháp so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới qua đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, tìm ra thực trạng của pháp luật Việt Nam và những kinh nghiệm quốc tế mà Việt Nam cần học hỏi trong quá trình hoàn thiện các quy định về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài; sử dụng phương pháp biện chứng và duy vật lịch sử nhằm tìm ra những quy luật hình thành, phát triển quan điểm về đăng ký hộ tịch, tìm ra mối liên hệ giữa đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài và việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, từ đó
dự đoán xu hướng phát triển hoạt động này trong tương lai để đưa ra giải pháp hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trong nước
6 Những đóng góp của Luận văn
Đóng góp hết sức quan trọng và có giá trị của luận văn là Luận văn đã phân tích
và đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, đặc điểm, vai trò của đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài trong sự phát triển kinh tế-xã hội, công tác đối ngoại của đấy nước Đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và chỉ ra những điểm bất cập trong pháp luật Việt Nam đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài Và một thành công không thể không kể đến là luận văn đã đưa ra những kiến nghị nhằm thay đổi, bổ sung hoàn chỉnh các quy định pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài Với hướng hoàn thiện đó Pháp luật Việt Nam sẽ tạo ra cơ chế chặt chẽ, linh hoạt, thống nhất cho hoạt
Trang 9động đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài bảo đảm nguyên tắc bảo hộ quyền công dân
7 Kết cấu của Luận văn
Kết cấu luận văn ngoài phần Lời cảm ơn, danh mục những từ viết tắt, mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài Chương 2: Các quy định về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam Chương 3: Thực tiễn và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đăng ký hộ tịch có yếu
tố nước ngoài tại Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH CÓ
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái quát chung về đăng kí hộ tịch có yếu tố nước ngoài
1.1.1.Khái niệm đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài
Hiện nay trong các văn bản pháp luật cũng như các tài liệu khoa học pháp lý chưa có tài liệu nào đưa ra khái niệm về “ Đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài” Tuy nhiên, xem xét dưới khía cạnh lý luận của Tư pháp quốc tế thì chúng ta có thể phân tích khái niệm đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài dựa trên hai bộ phận hợp thành: Thứ nhất là đăng ký hộ tịch và thứ hai là yếu tố nước ngoài
Vậy đăng ký hộ tịch là gì?
Trong văn bản pháp lý đầu tiên về đăng ký hộ tịch của Việt Nam là Nghị định
số 764-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 8/5/1956 ban hành Điều lệ đăng ký hộ tịch chưa đưa ra khái niệm đăng ký hộ tịch là gì, tuy nhiên tại Điều 1 Nghị định số 764-
TTg đã đưa ra mang tính liệt kê các sự kiện đăng ký hộ tịch bao gồm: “đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn, sửa chữa các điều đã đăng ký; ghi chú các việc thay đổi về hộ
tịch và cấp phát giấy chứng nhận các việc ấy”
Sau đó Nghị định số 4-CP ngày 16/1/1961 của Hội đồng chính phủ ban hành Bản điều lệ đăng ký hộ tịch thay thế Nghị định số 764-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 8/5/1956 có một bước tiên so với Nghị định số 764-TTg tuy nhiên cũng chưa đưa ra khái niệm về đăng ký hộ tịch, đồng thời cũng không liệt kê các hành vi đăng
ký hộ tịch như quy định tại Nghị định số 764-TTg
Tại Điều 1 Nghị định Số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký, quản lý hộ tịch và Điều 1 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005
về đăng ký và quản lý hộ tịch đều đưa ra khái niệm: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết” Công tác hộ
tịch bao gồm hoạt động quản lý hộ tịch, đăng ký hộ tịch và những hoạt động khác có
Trang 11liên quan đến quản lý hộ tịch và đăng ký hộ tịch Trong đó đăng ký hộ tịch là việc cơ
quan có thẩm quyền: “ Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; Căn cứ vào quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi”
Như vậy, đăng ký hộ tịch có hai nhóm hành vi với tính chất khác nhau rõ ràng:
- Hành vi xác nhận các sự kiện Đối với các sự kiện hộ tịch nói trên, cơ quan đăng ký hộ tịch xác nhận bằng cách đăng ký vào sổ dành riêng cho từng loại việc, đồng thời cấp cho đương sự giấy chứng nhận về việc đó như Giấy khai sinh; Giấy chứng nhận kết hôn Hành vi xác nhận của cơ quan đăng ký hộ tịch đã làm phát sinh hiệu lực pháp lý của các sự kiện được đăng ký Chỉ sau khi được đăng ký, các sự kiện
đó mới phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của cá nhân
- Hành vi ghi vào sổ hộ tịch khác với hành vi xác nhận, đối với các việc hộ tịch này, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ đơn thuần căn cứ vào các quyết định (bằng văn bản) của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi chú việc đó vào sổ hộ tịch Hành vi này không làm phát sinh hiệu lực pháp lý Bởi vì bản thân các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã đem lại hiệu lực pháp lý của việc đó
Yếu tố thứ hai hợp thành khái niệm đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài đó là yếu tố nước ngoài Yếu tố nước ngoài trong đăng ký hộ tịch được xem xét dựa trên 3 yếu tố:
- Yếu tố chủ thể là:
+ Đương sự là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và các sự kiện hộ tịch phát sinh ở Việt Nam, ví dụ như: việc sinh, tử của người nước ngoai tại Việt Nam Người nước ngoài ở đây được hiểu là người có quốc tịch nước ngoài mà không đồng thời có quốc tịch Việt Nam và người không quốc tịch
Trang 12+ Một bên đương sự là người Việt Nam còn bên kia là người nước ngoài
+ Giữa người Việt Nam với nhau mà 1 bên định cư ở nước ngoài (Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm
ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài, được chính quyền nước ngoài cấp phép cư trú vô thời hạn )
+ Giữa người Việt Nam với nhau mà ít nhất 1 bên định cư ở nước ngoài đang
cư trú tại nước ngoài
- Yếu tố sự kiện pháp lý: sự kiện đăng ký hộ tịch giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài
- Yếu tố tài sản: Việc đăng ký hộ tịch giữa công dân, tổ chức Việt Nam theo pháp luật Việt Nam nhưng tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
Qua những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm đăng ký hộ tịch có yếu
tố nước ngoài là việc cơ quan có thẩm quyền xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.1.2 Nội dung đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài
Như đã phân tích trong mục 1.1.1 đăng ký hộ tịch bao gồm hai nhóm hành vi: Hành vi xác nhận các sự kiện và hành vi ghi vào sổ hộ tịch
Vậy xác nhận sự kiện trong đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài bao gồm xác định sự kiện gì?
Hiện nay, đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch (Nghị
Trang 13định 158/2005/NĐ-CP) Theo quy định tại Nghị định này thì xác nhận các sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài bao gồm các công việc sau::
- Đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài;
- Đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoài;
- Đăng ký giám hộ có yếu tố nước ngoài;
- Đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài;
- Đăng ký nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài;
- Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
- Đăng ký sửa đổi, bổ sung, cải chính các sự kiện hộ tịch trên có yếu tố nước ngoài
- Ghi vào sổ hộ tịch việc của công dân Việt Nam đã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài
Trong đó việc đăng ký kết hôn; nhận cha, mẹ, con; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình; Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (Nghị định số 68/2002/NĐ-CP) và Nghị định Nghị định 69/2006/NĐ-CP sửa đổi nghị định 68/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (Nghị định 69/2006/NĐ-CP)
Như vậy, để nghiên cứu về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu hai nội dung chính là xác nhận các xự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài và ghi vào sổ các sự kiện hộ tịch Vấn đề này sẽ được nghiên cứu sâu hợn trong Chương 2 của bài luận văn
Trang 141.1.3 Vai trò của việc đăng ký hộ tịchcó yếu tố nước ngoài
Đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng trong thực
tế đời sống của mỗi quốc gia, thể hiện sâu sắc chức năng xã hội của Nhà nước, là căn
cứ để nhà nước hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xã hội của quốc gia
- Đăng ký hộ tịch có vai trò to lớn trong quản lý nhà nước:
+ Đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài là cơ sở để Nhà nước hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, đối ngoại, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách đó Một hệ thống quản lý dữ liệu hộ tịch đầy đủ, chính xác, được cập nhật kịp thời, thường xuyên sẽ là nguồn tài sản thông tin hết sức quí giá luôn sẵn sàng hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định các chính sách xã hội một cách chính xác, có tính khả thi, tiết kiệm chi phí xã hội Một hệ thống quản lý hộ tịch đầy đủ, chính xác, kịp thời có thể cung cấp những thông tin cơ bản về tình hình người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam (cơ cấu theo độ tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, nơi cư trú, tỷ suất sinh, chết; tình hình hôn nhân ) vào bất cứ thời điểm nào
+ Hoạt động đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài thể hiện tập trung nhất, sinh động nhất sự tôn trọng của Nhà nước đối với việc thực hiện một số quyền nhân thân
cơ bản của công dân Việt Nam, người nước ngoài đã được ghi nhận trong Hiến pháp
1992 và Bộ luật dân sự như: quyền đối với họ tên, quyền thay đổi họ tên, quyền xác định dân tộc, quyền đối với quốc tịch, quyền kết hôn, quyền được nuôi con nuôi và được nhận làm con nuôi Ở phương diện này, đăng ký hộ tịch chính là phương tiện
để công dân Việt Nam nói chung và người nước ngoài thực hiện, hưởng thụ các quyền nhân thân đó bảo đảm nguyên tắc đãi ngộ như công dân Các dữ liệu về căn cước của mỗi cá nhân thể hiện trên chứng thư hộ tịch (giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn ) là sự khẳng định có giá trị pháp lý về đặc điểm nhân thân của mỗi người, mà qua đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thể đánh giá người đó có khả
Trang 15năng, điều kiện để tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định hay không Quản lý
hộ tịch là một lĩnh vực hoạt động thể hiện sâu sắc chức năng xã hội của Nhà nước
Với ý nghĩa như vậy, việc Nhà nước tổ chức quản lý, đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài chính là sự bảo hộ đối với việc thực hiện các quyền con người trên lãnh thổ Việt Nam
+ Quản lý, đăng ký hộ tịch có vai trò to lớn đối với việc bảo đảm trật tự xã hội
Hệ thống sổ bộ hộ tịch có thể giúp việc truy nguyên nguồn gốc của cá nhân một cách
dễ dàng Các chứng thư hộ tịch do người có thẩm quyền lập theo thủ tục chặt chẽ có giá trị là sự khẳng định chính thức của Nhà nước Việt Nam về vị thế của một cá nhân trong gia đình và xã hội Ví dụ, trong lĩnh vực hoạt động tư pháp, khi cần đánh giá năng lực chủ thể của một cá nhân, các cơ quan tiến hành tố tụng luôn cần đến Giấy khai sinh của cá nhân đó Giấy khai sinh chứa đựng các dữ liệu gốc về nhân thân của
cá nhân như ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh, dân tộc, quốc tịch, họ tên, cha mẹ Do
đó, khi được sử dụng với tính cách là chứng cứ, các thông tin thể hiện trên Giấy khai sinh có thể giúp cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá nhiều vấn đề trong các vụ án hình
sự, dân sự, lao động
- Xét từ phương diện khoa học quản lý nhà nước thì quản lý hộ tịch có vị trí
trung tâm của hoạt động quản lý dân cư Đây là lĩnh vực trọng yếu của nền hành chính mà mọi quốc gia hiện đại, không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển, đều phải quan tâm Sự vững mạnh của một quốc gia liên quan mật thiết với hiệu quả của hoạt động quản lý dân cư nói chung và quản lý hộ tịch nói riêng Có thể khẳng định rằng, các vấn đề pháp lý về quản lý hộ tịch có tầm quan trọng tương tự như các vấn đề pháp lý về quốc tịch, về biên giới quốc gia, về tổ chức bộ máy nhà nước… Vì vậy, quản lý hộ tịch phải được điều chỉnh bằng một đạo luật do Quốc hội ban hành Trên thế giới, nhiều nước như Pháp, Đức, Nhật Bản…đều điều chỉnh vấn
đề quản lý hộ tịch bằng văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành
Trang 16Bởi những ý nghĩa quan trọng như vậy, nên trong sự phát triển của mỗi quốc gia, vấn đề xây dựng hệ thống quản lý hộ tịch và khai thác hiệu quả của nó phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước luôn được quan tâm
1.2 Lịch sử pháp luật đăng ký hộ tịch ở Việt Nam
1.2.1 Đăng ký hộ tịch trước Cách mạng Tháng tám năm 1945
Pháp luật đăng ký hộ tịch đã xuất hiện từ rất sớm, trước đây nó là một bộ phận quan trọng của pháp luật dân sự của mỗi quốc gia Tại Việt Nam từ thời kỳ phong kiến, các vương triều phong kiến cũng chú trọng công tác hộ tịch để quản lý dân cư trong lãnh thổ của mình Trong đó có hai bộ luật nổi tiếng là bộ Quốc triều hình luật
và Bộ luật Gia Long của hai triều đại là triều nhà Lê và triều Nguyễn, hai bộ luật này cho đến nay vẫn được các nhà luật học đánh giá cao về giá trị phát triển của nó
Theo hai bộ luật này, tại mỗi châu, huyện đều có một viên hộ lại chuyên thực hiện việc đăng ký nhân khẩu cho châu, huyện mình Dưới thời kỳ phong kiến xã hội hình thành hai giai cấp chính là địa chủ và tá điền Do vậy, để quản lý xã hội, bảo vệ giai cấp địa chủ - giai cấp thống trị và để dễ dàng cai trị tầng lớp nhân dân phụ thuộc Giai cấp thống trị (Vua) các thời đại phong kiến thường tăng cường công tác quản lý dân cư, hộ khẩu trong toàn quốc Đặc biệt thời nhà Lê, các đời vua Lê coi trọng việc học hành, khoa cử, coi trọng hiền tài, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển văn hoá dân tộc, đồng thời cũng như tất cả các đời vua phong kiến nhà Lê cũng rất coi trọng tư tưởng nho giáo Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng mạng mẽ đến sự phát triển của pháp luật của các đời vua khác nhau Cũng chính vì coi trọng học hành khoa
cử, khuyến khích phát triển hiền tài mà nhà Lê đã cho ra đời bộ luật lớn và có bước tiến lớn trong lịch sử lập pháp nước ta đó là Bộ Quốc triều hình luật gồm 772 điều, chia làm 6 quyển, mỗi quyển 2 chương Trong đó cũng thể hiện sự quan tâm của nhà
Lê với công tác hộ tịch đó là việc quy định 58 điều về hộ tịch tại Chương Hộ hôn (Từ Điều 284 đến Điều 341)
Trang 17Đến nhà Nguyễn, phần lớn thời kỳ này Việt Nam đặt dưới sự thống trị của thực dân Pháp Khi thực dân Pháp vào xâm lược đất nước ta nhà Nguyễn vẫn tồn tại nhưng thực chất quyền lợi nằm trong tay người Pháp Thời kỳ này nổi tiếng với bộ Hoàng Việt luật lệ hay được gọi là Bộ luật Gia Long do vua Gia Long công bố vào năm
1812 Về cơ bản thì quy định về đăng ký hộ tịch trong văn bản này không có nhiều thay đổi so với bộ Quốc triều hình luật của nhà Lê
Quy định về hộ tịch của thời kỳ này có nội dung chủ yếu:
- Pháp luật đều quy định về các “chứng thư hộ tịch” (giấy tờ hộ tịch) Các
“chứng thư hộ tịch” bao gồm: chứng thư giá thú (hay còn gọi là giấy chứng nhận hôn nhân), chứng thư khai sinh, chứng thư khai tử Đó là các giấy tờ cần thiết, bắt buộc mỗi người đân đều phải có Các giấy tờ này do một viên hộ lại cấp tại mỗi làng, xã Việc quản lý hộ tịch được viên hộ lại thực hiện thông qua “sổ hộ tịch”, khi cần thì người dân có thể xin cấp trích lục
- Chứng thư hộ tịch do hộ lại cấp có tính chất công khai, dùng làm bằng chứng cho việc công nhận của chính quyền đồng thời nó cũng là bằng chứng để dẫn chứng
về thân trạng của đương sự khi cần thiết Bất kỳ ai cũng có thể dùng các chứng thư hộ tịch để dẫn chứng hoặc đối chiếu với đương sự, do vậy bất cứ ai cũng có thể xin cấp trích lục chứng thư hộ tịch
- Ngoài việc cấp các chứng thư hộ tịch thì việc cải chính, thay đổi các chứng thư này tuy vào từng trường hợp mà do toà án quyết định
- Các chứng thư hộ tịch phải tuân thủ các điều kiện nhất định nếu không sẽ bị
vô hiệu như: chứng thư phải do viên hộ lại cấp hay người được viên hộ lại uỷ nhiệm cấp trong trường hợp vắng mặt; chứng thư hộ tịch phải được ghi chép vào sổ hộ tịch; các chứng thư hộ tịch phải được ghi ngay khi đương sự khai Trong trường hợp có sai sót về họ tên, tuổi, địa chỉ mà không làm sai lệch căn cước của đương sự thì chứng thư hộ tịch vẫn có giá trị pháp lý
Trang 18- Những người có trách nhiệm phải đến khai trực tiếp với hộ lại như việc lập chứng thư khai sinh, khai tử Đối với những việc cần có người làm chứng như lập hôn thú thì cần phải có người làm chứng đi cùng Người làm chứng có thể là nam hay nữ nhưng độ tổi nhất định phải từ 21 tuổi trở lên
- Trong quá trình đăng ký các sự kiện hộ tịch, để đảm bảo việc đăng ký được khách quan, tránh việc làm bừa, làm ẩu, tuỳ tiện của viên chức hộ lại, Bộ luật hình sự
cũ đã quy định nhiều chế tài nghiêm khắc như phạt tù hay phạt bạc để trừng trị nhữn hành vi vi phạm như: “cố ý làm hư hỏng, xoá bỏ, huỷ hoại hoặc làm thất lạc sổ hộ tịch” (Luật Giản yếu); sơ xuất không đăng ký các sự kiện hộ tịch …
- Về chứng thư khai sinh: chứng thư khai sinh do viên hộ hại lập để chứng nhận
sự sinh ra của một người trong phạm vi làng xã Được thực hiện trong 8 ngày (đối với miền Bắc và miền Trung) 1 ngày với (miền Nam) kể từ khi đứa trẻ sinh ra Nội dung của giấy chứng sinh bao gồm: ngày, tháng, năm khai sinh; ngày, tháng, năm đẻ;con trai hay con gái; họ tên đứa trẻ; họ tên, chức vụ, chỗ ở của người cha; giá thú của cha,
mẹ (trừ trường hợp không biết như đẻ hoang, người khai muốn dấu tên mẹ); họ tên, chức nghiệp, chỗ ở của người đứng khai và người làm chứng
- Về chứng thư giá thú: gái thú là sự kết hợp của người đàn ông và người đàn
bà theo thể thức luật định (tức là được nhà nước công nhận hai người là vợ chồng)
Để được lập giá thú hai bên phải tuân thủ điều kiện về thể chất, tinh thần, tuổi, sinh lý,
có chứng chỉ tiền hôn nhâ (Giấy khám sức khoẻ) và yếu tố tinh thần là sự ưng thuận của hai bên Một số thời kỳ còn cần có sự đồng ý của bố mẹ Đồng thời không vi phạm điều kiện cấm kết hôn: như cấm song hôn, cấm kết hôn giữa những người có quan hệ họ hàng gần
- Chứng thư khai tử: quy định tại các làng, xã khi có người chết thì viên hộ lại thực hiện khai tử theo yêu cầu của thân nhân người chết
Nhận xét chung về pháp luật thời kỳ phong kiến:
Trang 19- Trong thời kỳ phong kiến pháp luật của các triều đại phong kiến nước ta hầu hết chịu nhiều ảnh hưởng của phong kiến Trung Quốc, các quy định về dân sự nói chung về hộ tịch nói riêng gần như sao chép hoàn toàn của pháp luật Trung Quốc Chỉ
có pháp luật thời nhà Lê là ít chịu ảnh hưởng và mang tính dân tộc cao Thời nhà Nguyễn thì chịu ảnh hưởng của Pháp, luật pháp quy định nhằm phục vụ cho sự cai trị của thực dân Pháp
- Phạm vi, đối tượng của đăg ký hộ tịch rất hẹp, chỉ có quản lý và chỉ coi đăng
ký các việc như đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử, đăng ký hôn thú là việc đăng ký
hộ tịch Việc giao nhận nuôi con nuôi, xác nhận cha mẹ con, giám hộ, đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, đăng ký quá hạn, đăng ký lại, đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài……đều được coi là chế định dân sự chứ không được coi là một phạm trù của đăng ký hộ tịch
- Thẩm quyền đăng ký hộ tịch chỉ được thực hiện ở cấp cơ sở, nơi xảy ra sự việc (sinh, tử, kết hôn) Việc xin trích lục bản sao được cấp cho bất kỳ ai nhưng lại gây khó khăn vì phải xuống tận nơi đăng ký ở cơ sở gốc xin
- Những việc đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch rất ít xảy ra nên giao thẩm quyền thực hiện cho toà án Và được ghi bên lề của các chứng thư hộ tịch sau khi có phán quyết của toà án
1.2.2 Đăng ký hộ tịch sau năm 1945
1.2.2.1 Đăng ký hộ tịch từ năm 1945 đến năm 1961
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà được thành lập Ngay từ khi ra đời, công tác hộ tịch đã được nhà nước ta quan tâm, đặc biệt trú ý đến công tác thị thực và các giấy tờ hộ tịch Tại Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 đã giao quyền thị thực các giấy tờ hộ tịch cho UBND xã mà trước đây là
do các Lý trưởng tại các làng, hay trưởng các khu phố ở thành thị đảm nhận Riêng ở thành thị việc thị thực của UBND các phố phải thêm dấu thị xã, khu phố chứng nhận
Trang 20Ngày 8/5/1956 lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp của nhà nước Việt Nam, Thủ tướng chính phủ đã ban hành bản điều lệ đăng ký hộ tịch kèm theo Nghị định 764/TTg Nghị định này quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục các việc đăng ký hộ tịch như việc sinh, tử, kết hôn, sửa chữa các điều đã đăng ký và ghi chú các thay đổi
hộ tịch Ngoài ra liên quan đến đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài còn quy định việc đăng ký hộ tịch đối với người Việt kiều về nước và ngoại kiều đang làm ăn sinh sống tại Việt Nam Tuy nghị định này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng đã làm tiền đề cho sự ra đời của những quy định về hộ tịch sau này
1.2.2.2 Đăng ký hộ tịch từ năm 1961 đến trước năm 1998
- Ngày 16/1/1961 Hội đồng chính phủ đã ban hành Nghị định số 4-CP Ban hành Bản điều lệ đăng ký hộ tịch thay thế Nghị định số 764-TTg
Qua một thời kỳ dài tuy đất nước đã được thành lập nhưng chưa thống nhất hai miền nam, bắc, nhiệm vụ quan trọng của đất nước lúc này là đấu tranh giải phóng đất nước Sau năm 1975 khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, tình hình đất nước lúc này còn nhiều khó khăn, công việc trọng yếu trước mắt là ổn định chính trị, xây dựng lại
bộ máy chính quyền, đồng thời ổn định sản xuất nâng cao đời sống của nhân dân Công tác hộ tịch trong một thời gian dài không được quan tâm, tình trạng hộ tịch có yêu tố nước ngoài lại càng ít được trú trọng Trước năm 1986, Nhà nước ta thực hiện chủ trương bế quan toả cảng, chỉ giao lưu kinh tế với một số nước cùng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, số lượng người nước ngoài ở Việt Nam chủ yếu theo chính sách chính trị
1.2.2.3 Đăng ký hộ tịch từ năm 1998 đến trước năm 2006
Bản diều lệ hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 4-CP năm 1961 có nhiều quy định không còn phù hợp Nhiều sự kiện hộ tịch mới phát sinh chưa được quy định hoặc quy định không cụ thể Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc đăng
ký hộ tịch chưa được thực hiện một cách đầy đủ và thống nhất Cán bộ thực hiện công
Trang 21tác hộ tịch hầu như là kiêm nhiệm, chưa được đào tạo nên trình độ chuyên môn kém,
vì vậy mà nhiều sự kiện xảy ra rất lâu sau mới được đăng ký, số liệu thống kê cũng không chính sác ảnh hưởng rất lớn đến việc lập các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước Ý thức chấp hành pháp luật về hộ tịch cũng chưa cao
Đồng thời sau năm 1986 với chủ trương mở cửa nền kinh tế tỉ lệ người nước ngoài đến Việt Nam ngày càng nhiều Họ đến Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống do
đó nhà nước ta cũng cần có những chính sách hộ tịch bảo đảm cho người nước ngoài cũng được đối xử như công dân Việt Nam, bảo đảm để họ được thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của người nước ngoài như công dân Việt Nam
Để đáp ứng nhu cầu đó ngày 10/10/1998 Chính phủ ban hành Nghị định 83/1998/NĐ-CP về đăng ký hộ tịch (Nghị định 83/1998/NĐ-CP) Đối chiếu với các quy định về đăng ký hộ tịch năm 1961 phạm vi điều chỉnh của Nghị định 83/1998/NĐ-CP đã được mở rộng hơn như: điều chỉnh cả các sự kiện như ghi vào sổ
hộ tịch; đăng ký hộ tịch; điều chỉnh thống nhất quan hệ hộ tịch trong phạm vi cả nước,
kể cả các quan hệ hộ tịch tại các cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài; mở rộng không chỉ điều chỉnh quan hệ giữa công dân với nhau mà còn giữa công dân với nhà nước
So với Nghị định 04-CP Nghị định 83/1998/NĐ-CP có bố cục lớn hơn, thể hiện một cách chi tiết trình tự, thủ tục, thẩm quyền đăng ký hộ tịch tại 6 chương, 97 điều
Đã đưa ra khái niệm về hộ tịch “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết Đăng ký hộ tịch theo quy định của Nghị định này là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Xác nhận các sự kiện: Sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại các việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi; Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ đăng ký hộ
Trang 22tịch các việc về ly hôn, xác định cha, mẹ, con, thay đổi quốc tịch, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, huỷ hôn nhân trái pháp luật, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc những sự kiện khác do pháp luật quy định.”
Với khái niệm như vậy, chúng ta có thể thấy so với Điều lệ hộ tịch năm 1961, Nghị định 83/1998/NĐ-CP đã thể hiện một cách rõ nét khái niệm hộ tịch và những việc hộ tịch mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải đăng ký và ghi vào sổ hộ tịch Nghị định này cũng quy định về quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đăng ký hộ tịch (Điều 3), quy định về nguyên tắc đăng ký hộ
tịch, kiểm tra, xử lý vi phạm (Điều 4); quy định đăng ký, quản lý hộ tịch (Điều 5)…
Nghị định này cũng quy định những điều về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại một chương riêng gồm đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài, đăng ký khai
tử có yếu tố nước ngoài xảy ra ở Việt Nam cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài Còn việc đăng ký kết hôn, nhận nuôi con nuôi, nhận cha, mẹ, con, nhận đỡ đầu (giám hộ) giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh hôn nhân và gia đình năm 1993 và Nghị định 184/CP ngày 30/11/1994 về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam
và người nước ngoài
1.2.2.4 Đăng ký hộ tịch từ năm 2006 đến nay
Nghị định 83/1998/NĐ-CP đã giải quyết được nhiều vấn đề mới phát sinh trong việc đăng ký hộ tịch mà thời kỳ trước không giải quyết được Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội các mối quan hệ xã hội trong nước đã có nhiều sự biến động; cùng với sự phát triển của nền kinh tế quá trình đăng ký hộ tịch cũng đòi hỏi cần giản tiện, nhanh chóng bảo đảm quyền lợi của công dân Do đó, Nghị định 83/1998/NĐ-
CP đã không còn đáp ứng yêu cầu mới nữa Ngày 27/12/2005, Chính phủ ban hành
Trang 23Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch Nghị định bao gồm 99 Điều, 9 chương Quy định cụ thể, giảm nhẹ thủ tục hành chính với công tác hộ tịch Liên quan đến vấn đề đăng ký hộ tịch, đặc biệt là đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài hiện nay ngoài Nghị định số 158/2005/NĐ-CP còn được điều chỉnh theo một số văn bản pháp luật khác:
- Bộ luật dân sự 2005;
- Luật Hôn nhân và Gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội, có hiệu lực ngày 01/01/2001;
- Luật Quốc tịch 2008;
- Luật Nuôi con nuôi năm 2010
- Nghị định 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi
- Nghị định 68/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài;
- Nghị định 69/2006/NĐ-CP sửa đổi nghị định 68/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Không chỉ điều chỉnh theo pháp luật trong nước mà đăng ký hộ tịch còn được điều chỉnh bới quy chế pháp lý quốc tế Tuy nhiên, hiện nay trên phạm vi quốc tế chưa có điều ước quốc tế nào điều chỉnh chuyên biệt về lĩnh vực quản lý và đăng ký
hộ tịch mà chỉ có các điều ước quốc tế đa phương và song phương giữa các quốc gia liên quan đến một số lĩnh vực của đăng ký hộ tịch
+ Điều ước quốc tế đa phương: Công ước về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế (Công ước Lahay) ngày 29/5/1993 Việt Nam đã ký gia nhập Công ước ngày 7/12/2010; Nguyên tắc thứ 3 của Tuyên bố Liên Hợp quốc về
quyền trẻ em năm 1959 cũng quy định: “trẻ em sinh ra có quyền được đăng ký khai sinh” khoản 1 Điều 7 Công ước quy định: “trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức
Trang 24sau khi sinh ra và có quyền ngay từ khi ra đời có họ tên, quốc tịch và trong chừng mực có thể có quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc”
+ Điều ước quốc tế song phương (Hiệp định tương trợ tư pháp) Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập 16 hiệp định song phương về tư pháp quốc tế Trong các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết với các nước đều có những quy định dẫn chiếu đến áp dụng pháp luật nước nào sao cho có lợi nhất trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em, quyền dân sự của công dân đặc biệt là liên quan đến công tác hộ tịch như đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi….Hầu hết đều sử dụng hệ thuộc luật quốc tịch để giải quyết
Những văn bản pháp lý trên đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc điều chỉnh có hiệu quả việc đăng ký hộ tịch nói chung và đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói riêng
ở Việt Nam hiện nay
Trang 25CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam hiện nay được thực hiện theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP, theo đó đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài bao gồm: Đăng ký khai sinh; khai tử có yếu tố nước ngoài; giám hộ; nuôi con nuôi; kết hôn; nhận cha, mẹ, con; sửa đổi, bổ sung, cải chính các sự kiện hộ tịch trên có yếu tố nước ngoài Và thủ tục ghi vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
2.1 Đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài
Giấy khai sinh được xem như là giấy tờ hộ tịch “gốc”, đầu tiên và quan trọng nhất của mỗi cá nhân Giấy khai sinh là bằng chứng pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất xác định một người đã sinh ra Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về
họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan
hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với giấy khai sinh của người đó Khi giữa các giấy tờ liên quan đến nhân nhân thân của một người và giấy khai sinh của bạn có sự khác biệt, thì cần phải điều chỉnh nội dung trong các giấy tờ khác phù hợp với giấy khai sinh Về nguyên tắc, giấy khai sinh hầu như không thể thay đổi nội dung Thủ tục khai sinh không chỉ quan trọng với cá nhân trong nước mà còn với cả những đối tượng trẻ
em có cha hoặc mẹ là người nước ngoài, người không quốc tịch, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài (gọi chung là khai sinh có yếu tố nước ngoài Vậy thủ tục khai sinh
có yếu tố nước ngoài được quy định như thế nào?
Đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài được quy định tại 2 điều là Điều 49 và Điều 50, Chương III, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP
2.1.1 Các trường hợp đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài
Trang 26Trường hợp đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài là việc khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có:
- Cha và mẹ là người nước ngoài;
- Cha hoặc mẹ là người nước ngoài còn ngươì kia là công dân Việt Nam định
cư ở nước ngoài;
- Cha hoặc mẹ là người nước ngoài còn ngươì kia là công dân Việt Nam đang
cư trú tại Việt Nam
Như vậy, so với Nghị định 83/1998/NĐ-CP đối tượng khai sinh theo quy định tại Nghị định 158/2005/NĐ-CP đã được mở rộng thêm một trường hợp là khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là người nước ngoài còn người kia là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài
2.1.2 Các giấy tờ cần thiết khi đăng ký khai sinh
Theo quy định tại Nghị định 158/2005/NĐ-CP thì người đi đăng ký khai sinh phải nộp các giấy tờ sau:
- Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay thế giấy chứng sinh Giấy chứng sinh do cơ
sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực
- Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ (nếu có)
- Giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài trong trường hợp cha,
mẹ thoả thuận lựa chọn quốc tịch nước ngoài cho con
Để xác định quê quán của trẻ em khi khai sinh, một số tình thành phố còn yêu cầu đương sự cung cấp thêm giấy chứng nhận thường trú hoặc tạm trú của người nước ngoài; nếu cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam, còn
Trang 27người kia là người nước ngoài thì có bản sao sổ hộ khẩu gia đình của cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam
Như vậy, quy định trong Nghị định 158/2005/NĐ-CP đã quy định đầy đủ, chi tiết và ưu việt hơn trong việc khai sinh cho trẻ quy định tại Nghị định 83/1998/NĐ-
CP Theo quy định tại Nghị định 83/1998/NĐ-CP giấy chứng sinh là giấy tờ bắt buộc phải đi đăng ký khai sinh cho trẻ em Ngoài giấy chứng sinh cần có các giấy tờ:
+ Giấy chứng nhận thường trú hoặc tạm trú của người nước ngoài tại Việt Nam (Trong trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam, còn người kia là người nước ngoài, thì có thể thay thế bằng Sổ hộ khẩu gia đình của cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam)
+ Hộ chiếu, Chứng minh nhân dân, hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế của người đi khai sinh
Việc sửa đổi, bổ sung như quy định tại Nghị định 158/2005/NĐ-CP là một bước tiến, bảo đảm quyền của trẻ em sinh ra được hưởng các quyền lợi theo quy định pháp luật, phù hợp với xu hướng chung của quốc tế
2.1.3 Thủ tục đăng ký khai sinh
- Công dân nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp (Phòng Hành chính Tư pháp)
Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ cán bộ hộ tịch phòng Hành chính Tư pháp đề nghị người đi đăng kí khai sinh cung cấp đủ hồ sơ
- Phòng Hành chính tư pháp - Sở Tư pháp xem xét hồ sơ trình lãnh đạo Sở quyết định
- Phòng Hành chính tư pháp vào sổ theo dõi và trả kết quả cho đương sự
2.1.4 Một số điểm lưu ý khi đăng ký khai sinh
Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 01/2008/TT-BTP hướng dẫn thực hiện về đăng ký khai sinh và quản lý hộ tịch Theo đó, 100% trẻ em sinh ra phải được đăng ký
Trang 28khai, không phân biệt con trong giá thú, con ngoài giá thú hay trẻ bị bỏ rơi Đối với việc đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài, Thông tư này hướng dẫn:
- Trường hợp trẻ em sinh ra ở nước ngoài, có cha và mẹ là công dân Việt Nam
mà chưa được đăng ký khai sinh ở nước ngoài, sau đó về nước cư trú cũng được áp dụng quy định tại Mục 1 Chương II của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP và hướng dẫn tại Mục này để đăng ký khai sinh Cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ
“Trẻ sinh ở nước ngoài, chưa được đăng ký khai sinh ở nước ngoài”
- Trường hợp trẻ em sinh ra ở nước ngoài, được mẹ là công dân Việt Nam đưa
về Việt Nam sinh sống, cũng được áp dụng quy định về đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú theo quy định tại Mục 1 Chương II của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP
và hướng dẫn tại Mục này để đăng ký khai sinh khi:
+ Trẻ em chưa được đăng ký khai sinh ở nước ngoài;
+ Mẹ của trẻ em không đăng ký kết hôn
Trong trường hợp người mẹ khai về người cha, thì người cha phải làm thủ tục nhận con theo quy định của pháp luật
Cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ “Trẻ sinh ở nước ngoài, chưa được đăng ký khai sinh ở nước ngoài”
- Nếu trường hợp cha, mẹ chọn quốc tịch cho con là quốc tịch nước ngoài, thì phải có giấy thỏa thuận của cha mẹ về việc chọn quốc tịch Giấy thoả thuận này phải
có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước mà người nước ngoài là công dân về việc lựa chọn quốc tịch nước ngoài là phù hợp với pháp luật của nước đó
và phải hợp pháp hóa lãnh sự, trừ những nước có ký hiệp định tư trợ tư pháp với Việt Nam hoặc có áp dụng nguyên tắc có đi có lại được quy định trong Thông tư số 07/2002/TT.BTP ngày 16.12.2002 của Bộ Tư Pháp (sau đây gọi tắt là các nước miễn hợp pháp hoá lãnh sự)
2.2 Đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoài
Trang 29Đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Nghị định số 158/2005/NĐ – CP Việc đăng ký khai tử có ý nghĩa rất quan trọng
và rất cần thiết trong việc quản lý nhà nước về hộ tịch, trong các vụ việc dân sự như: chia thừa
kế (theo di chúc hoặc theo pháp luật) đối với di sản của người chết để lại…
2.2.1 Các trường hợp đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoài
Việc đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoài được thực hiện trong trường hợp:
- Người nước ngoài chết tại Việt Nam (gồm người nước ngoài và người không quốc tịch)
- Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài chết tại Việt Nam
2.2.2 Các giấy tờ cần thiết khi đăng ký khai tử
Tại Sở Tư pháp người đi đăng ký khai tử phải xuất trình các giấy tờ:
+ Tờ khai đăng ký khai tử (theo mẫu)
+ Giấp báo tử hoặc giấy tờ thay thế cho giấy báo tử
+ Giấy chứng nhận thườ ng trú hoặc tạm trú tại Việt Nam của người đã chết;
+ Hộ chiếu, Chứng minh nhân dân hoặ bc giấy tờ hợp lệ thay thế của người đi khai tử
Thẩm quyền cấp Giấy báo tử:
- Đối với người chết tại bệnh viện hoặc tại cơ sở y tế, thì Giám đốc bệnh viện hoặc người phụ trách cơ sở y tế đó cấp Giấy báo tử;
- Đối với người cư trú ở một nơi, nhưng chết ở một nơi khác, ngoài cơ sở y tế, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó chết cấp Giấy báo tử;
- Đối với người chết là quân nhân tại ngũ, công chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được tập trung làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý, thì thủ trưởng đơn vị đó cấp Giấy báo tử;
- Đối với người chết trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giam hoặc tại nơi tạm giữ, thì Thủ trưởng cơ quan nơi giam, giữ người đó cấp Giấy báo tử;
Trang 30- Đối với người chết tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục do ngành Công an quản lý, thì Thủ trưởng các cơ quan đó cấp Giấy báo tử;
- Đối với người chết do thi hành án tử hình, thì Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình cấp Giấy báo tử;
- Trường hợp một người bị Toà án tuyên bố là đã chết, thì quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thay cho Giấy báo tử;
- Trường hợp người chết có nghi vấn, thì văn bản xác định nguyên nhân chết của cơ quan công an hoặc của cơ quan y tế cấp huyện trở lên thay cho Giấy báo tử;
- Đối với người chết trên phương tiện giao thông, thì người chỉ huy hoặc điều khiển phương tiện giao thông phải lập biên bản xác nhận việc chết, có chữ ký của ít nhất hai người cùng đi trên phương tiện giao thông đó Biên bản xác nhận việc chết thay cho Giấy báo tử;
- Đối với người chết tại nhà ở nơi cư trú, thì văn bản xác nhận việc chết của người làm chứng thay cho Giấy báo tử
2.2.3 Thủ tục đăng ký khai tử
- Công dân nộp hồ sơ tại phòng Hành chính tư pháp - Sở Tư pháp
- Phòng Hành chính Tư pháp xem xét hồ sơ, trình lãnh đạo Sở Tư pháp xem xét quyết định;
- Lãnh đạo Sở tư pháp quyết định
- Vào sổ và trả kết quả cho đương sự
2.1.4 Một số điểm lưu ý khi đăng ký khai tử
Trong thực tế một số trường hợp xử lý khai tử được thực hiện như sau:
a) Xử lý trường hợp người nước ngoài bị chết trong cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự:
- Khi có người nước ngoài bị chết trong trụ sở cơ quan đại diện ngoại giao lãnh sự, phía
Việt Nam chỉ giúp đỡ khi phía Bạn có yêu cầu chính thức bằng công hàm Thông thường cơ
Trang 31quan chức năng của nước ta sẽ giúp đỡ liên hệ với các cơ quan chức năng như kiểm dịch, y tế, hải quan, bảo hiểm theo đúng yêu cầu của họ, phù hợp tiêu chuẩn vệ sinh
- Trường hợp họ muốn đốt xác đưa về nước thì liên hệ với cơ quan chức năng để đốt xác
- Trường hợp họ muốn chôn tại Việt Nam thì có công hàm chính thức để phía Việt Nam xem xét và cho thuê đất tại nghĩa trang (nên tránh trường hợp này vì sẽ gây hậu quả về sau về việc xin vào thăm, bốc mộ )
b) Xử lý trường hợp người nước ngoài bị chết trên địa bàn địa phương:
Ngoại vụ phối hợp với cơ quan chủ quản và công an tiến hành các công việc sau:
- Bảo vệ và khám nghiệm hiện trường, lập biên bản theo quy định của pháp luật nước ta, nếu có dấu hiệu rõ ràng của tội phạm phải nhanh chóng báo cáo lên cấp trên (Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) biết và hướng dân nghiệp vụ cần thiết
- Khi khám nghiệm tử thi, điều tra phải yêu cầu bác sỹ pháp y tham gia và có người chứng kiến
- Kê biên, niêm phong, bảo quản tài sản
- Thông báo cho Bộ Ngoại giao, cơ quan Đại diện ngoại giao, lãnh sự mà người đó là công dân biết (trong thông báo với Bộ Ngoại giao cần nêu rõ nguyên nhân, nhất là những vụ nghiêm trọng, phức tạp thì phải nêu cả hướng xử lý của các cơ quan chức năng)
- Việc bàn giao tử thi phải có biên bản của người có thẩm quyền của cơ quan Đại diện ngoại giao, lãnh sự hoặc của thân nhân người quá cố
2.3 Đăng ký giám hộ có yếu tố nước ngoài
Trường hợp đăng ký giám hộ có yếu tố nước ngoài được quy định taị Điều 53
và Điều 54 Nghị định 158/2005/NĐ-CP
2.3.1 Các trường hợp đăng ký giám hộ có yếu tố nước ngoài
Trang 32Trường hợp đăng ký giám hộ được coi là đăng ký giám hộ có yếu tố nước ngoài là trường hợp:
+ Đăng ký giám hộ giữa người nước ngoài với công dân Việt Nam
+ Đăng ký giám hộ giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam
+ Đăng ký giám hộ giữa người Việt Nam định cư ở người nước ngoài với nhau
+ Đăng ký giám hộ giữa người Việt Nam định cư ở người nước ngoài với công dân Việt Nam
2.3.2 Các giấy tờ cần thiết khi đăng ký giám hộ
- Phiếu lý lịch tư pháp của người giám hộ
- Giấy cử giám hộ do người cử Giám hộ lập
- Văn bản xác định danh mục tài sản và ghi rõ tình trạng của tài sản có chữ ký của người cử giám hộ và người giám hộ (trong trường hợp người cử giám hộ có tài sản riêng)
- Xuất trình sổ hộ khẩu và giấy xác nhận cư trú, chứng minh nhân dân và hộ chiếu
2.3.3 Thủ tục đăng ký giám hộ
- Người được cử làm Giám hộ nộp hồ sơ yêu cầu tại Phòng Hành chính Tư pháp - Sở
Tư pháp
- Phòng Hành chính Tư pháp xem xét hồ sơ, trình lãnh đạo Sở xem xét quyết định
- Sở Tư pháp vào sổ theo dõi và trả kết quả
2.4 Đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
Việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài không được quy định tại Nghị định 158/2005/NĐ-CP mà được quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị định Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, Nghị định 69/2006/NĐ-CP theo đó:
2.4.1 Các trường hợp đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
Các trường hơp đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm việc đăng ký kết hôn:
- Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài VD: Công dân A quốc tịch
Trang 33Việt Nam kết hôn với công dân B quốc tịch Pháp
- Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam VD Công dân A quốc tịch Nga kết hôn với Công dân B quốc tịch Pháp tại Việt Nam Quan hệ này cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế vì có sự tham gia của công dân
A là công dân nước ngoài
- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài
2.4.2 Các giấy tờ cần thiết khi đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002; Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006; Thông tư số 07/2002/TT-BTP ngày 16/12/2002 và thực tiễn thực hiện thủ tục hành chính thì hồ sơ yêu cầu đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay đương sự cần nộp các giấy tờ sau:
- Tờ khai đăng ký kết hôn (theo mẫu);
- Lý lịch cá nhân (theo mẫu);
- Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân cấp chưa quá 6 tháng xác nhận đủ điều kiện kết hôn của đương sự ;
- Giấy xác nhận không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;
- Bản sao có chứng thực giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu;
Trang 34- Bản sao có chứng thực hộ khẩu, hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể, hoặc giấy xác nhận đăng ký tạm trú có thời hạn; Bản sao thẻ thường trú, thẻ tạm trú hoặc giấy xác nhận tạm trú đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam;
- Các giấy tờ khác theo quy định của nước nơi người đó cư trú hoặc mang quốc tịch
- Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (nếu đã ly hôn) Bản sao giấy chứng tử nếu vợ (hoặc chồng) cũ đã chết
- 4 ảnh 4x6
Sau khi hoàn chỉnh hồ sơ, cơ quan tiến hành đăng ký hồ sơ thực hiện các trình tự thủ tục để đăng ký kết hôn cho đương sự và có thêm các giấy tờ sau bổ xung vào hồ sơ:
- Văn bản trả lời xác minh của cơ quan công an cấp tỉnh
- Tờ trình về việc đăng ký kết hôn của Sở Tư pháp
- Dự thảo Giấy chứng nhận kết hôn theo mẫu
2.4.3 Thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
- Sở Tư pháp tiếp nhận hồ sơ, phỏng vấn, trình lãnh đạo ký công văn gửi Công
an tỉnh đề nghị xác minh
- Công an tỉnh tiến hành xác minh, trả lời Sở Tư pháp
- Căn cứ kết quả xác minh của công an tỉnh, Sở Tư pháp gửi Công văn trình UBND tỉnh và dự thảo giấy chứng nhận kết hôn (theo mẫu)
- Uỷ ban nhân dân tỉnh xét tờ trình và ký Giấy chứng nhận kết hôn và chuyển kết quả về Sở Tư pháp
- Sở Tư pháp vào sổ theo dõi và tổ chức trao giấy chứng nhận kết hôn
2.5 Đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Trang 35Luật Nuôi con nuôi đã được Quốc hội khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ VII, ngày 17 tháng 6 năm 2010 Luật gồm 5 chương, 52 điều quy định chi tiết về nuôi con nuôi trong nước, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về nuôi con nuôi
So với các quy định của pháp luật hiện hành, thì Luật Nuôi con nuôi có những điểm mới cơ
bản bảo đảm thực hiện tốt nhất quyền trẻ em
2.5.1 Các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Theo quy định tại Luật nuôi con nuôi năm 2000 thì: “Nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư
ở nước ngoài” Việc nuôi con nuôi được thực hiện trong các trường hợp sau:
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:
+ Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;
+ Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;
+ Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;
+ Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi; + Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm
- Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi
- Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam
Để được nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam người nhận nuôi và con nuôi phải đáp ứng những yêu cầu :
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và phải có đủ các điều kiện: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Hơn
Trang 36con nuôi từ 20 tuổi trở lên; Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; Có tư cách đạo đức tốt
Những người sau đây không được nhận con nuôi: Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; Đang chấp hành hình phạt tù;Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em
Ngược lại công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định trên và đáp ứng điều kiện pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú
Như vậy, quy định về đối tượng trong quan hệ nuôi con nuôi và điều kiện nhận nuôi con nuôi không có gì thay đổi so với quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình trước đây Theo quy định của Luật nuôi con nuôi có điểm mới là điều kiện của người được nhận làm con nuôi trong nước và nước ngoài là như nhau, đồng thời, nâng độ tuổi của trẻ em được cho làm con nuôi từ 15 tuổi (theo pháp luật hiện hành) đến dưới 16 tuổi (Điều 8) Đặc biệt, người từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi cũng có thể được cho làm con nuôi của cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, gì, chú, bác ruột
2.5.2 Các giấy tờ cần thiết khi đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
+ 01 bộ hồ sơ của người nhận con nuôi;
- Đơn xin nhận con nuôi;
- Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;
- Văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam;
- Bản điều tra về tâm lý, gia đình;
- Văn bản xác nhận tình trạng sức khỏe;
Trang 37- Văn bản xác nhận thu nhập và tài sản;
- Phiếu lý lịch tư pháp;
- Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;
- Tài liệu chứng minh thuộc trường hợp được xin đích danh
+03 bộ hồ sơ của trẻ em được nhận làm con nuôi
- Các giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này;
- Văn bản về đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em;
- Tài liệu chứng minh đã thực hiện việc tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ
em theo quy định tại khoản 2 Điều 15 của Luật nuôi con nuôi 2010 nhưng không thành
Sau khi nhận đủ hồ sơ Sở Tư pháp thực hiện việc xác minh hoàn chỉnh hồ sơ gồm những giấy tờ sau :
+ Văn bản xác minh nguồn gốc trẻ của Công an tỉnh Thái Nguyên
+ Tờ trình về việc đăng ký nuôi con nuôi của Sở Tư pháp;
+ Dự thảo Quyết định cho phép nhận nuôi con nuôi (theo mẫu)
2.5.3 Thủ tục nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
- Sở Tư pháp tiếp nhận công văn của Cục con nuôi quốc tế về việc giới thiệu trẻ
em làm con nuôi và hướng dẫn lập hồ sơ trẻ
- Cơ sở nuôi dưỡng hoặc gia đình cho con nuôi lập hồ sơ trẻ theo hướng dẫn của Sở Tư pháp
- Sở Tư pháp Thẩm định, kiểm tra hồ sơ và chuyển hồ sơ cho Công an tỉnh xác minh
- Công an tỉnh xác minh hồ sơ và trả lời Sở Tư pháp
- Sở Tư pháp báo cáo và gửi hồ sơ trẻ cho Cục con nuôi quốc tế- Bộ Tư pháp
- Cục con nuôi quốc tế - Bộ Tư pháp Kiểm tra tính hợp pháp hồ sơ trẻ, thông báo cho người nhận con nuôi và gửi hồ sơ của người xin nhận con nuôi cho Sở Tư pháp
- Sở Tư pháp lập tờ trình, dự thảo Quyết định trình UBND tỉnh quyết định
- Uỷ ban nhân dân tỉnh Quyết định cho phép nhận nuôi con nuôi
Trang 38- Sở Tư pháp tổ chức lễ giao nhận con nuôi, lập biên bản giao nhận con nuôi
Về thủ tục nuôi con nuôi theo Luật nuôi con nuôi có điểm đổi mới cơ bản về cách thức giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài Trước đây, việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi là do các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em thực hiện Tuy nhiên, thực tế cho thấy nếu để các cơ sở nuôi dưỡng vừa tiếp nhận trẻ em để nuôi dưỡng, vừa tiếp nhận các khoản hỗ trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài và trực tiếp giới thiệu trẻ em làm con nuôi, dễ dẫn đến tiêu cực, thoả thuận ngầm trong việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi Do đó, để khắc phục tình trạng này, Luật (Điều 36) quy định việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài thuộc thẩm quyền của Sở Tư pháp
Đồng thời đưa ra nguyên tắc chỉ cho làm con nuôi người nước ngoài khi không tìm được gia đình thay thế ở trong nước Đây cũng là nguyên tắc được thừa nhận trong các văn kiện quốc tế Trong Lời nói đầu của Công ước Lahay năm 1993 về nuôi con nuôi quốc tế đã: “Công nhận rằng, nuôi con nuôi quốc tế là đem lại mái ấm gia đình cho trẻ em không tìm được một gia đình thích hợp tại nước gốc của mình”, và
“nhắc lại rằng, mỗi nước cần ưu tiên tiến hành các biện pháp thích hợp để trẻ em được chăm sóc trong gia đình gốc của mình”
Với những quy định mới của Luật nuôi con nuôi năm 2010 sẽ tạo ra những thay đổi mới, phù hợp công ước quốc tế về quyền trẻ em Bảo đảm cho trẻ em sinh ra được tạo điều kiện tốt nhất để có một gia đình ấm cúng Ghi nhận những cố gắng đó của Việt Nam, Việt Nam đã ký gia nhập công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi vào tháng 8 năm 2010
2.6 Thủ tục ghi vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
2.6.1 Những trường hợp phải ghi vào sổ hộ tịch và thẩm quyền ghi vào sổ hộ tịch
Trang 39- Công dân Việt Nam đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài các việc: khai sinh; kết hôn; nhận cha, mẹ, con; nuôi con nuôi khi về nước thường trú
- Việc công nhận kết hôn; nuôi con nuôi; nhận cha, mẹ, con đã đăng ký trước
cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định tại Nghị định số
68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
2.6.2 Các giấy tờ cần thiết khi ghi vào sổ
- Tờ khai thông tin về việc ghi chú hộ tịch;
- Bản chính hoặc bản sao giấy tờ hộ tịch đã đăng ký ở nước ngoài (hợp pháp hóa lãnh sự- dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật)
- Giấy uỷ quyền (trong trường hợp người xin ghi chú vắng mặt, uỷ quyền cho người khác nộp hồ sơ thay)
2.6.3 Thủ tục ghi vào sổ hộ tịch
- Công dân nộp hồ sơ tại Phòng Hành chính Tư pháp - Sở Tư pháp
- Phòng Hành chính Tư pháp xem xét hồ sơ, trình lãnh đạo Sở Tư pháp quyết định việc ghi chú;
- Lãnh đạo Sở quyết định việc ghi chú;
- Vào sổ theo dõi và trả kết quả cho đương sự
Cách ghi vào sổ hộ tịch
+ Việc sinh được ghi vào Sổ đăng ký khai sinh;
+ Việc kết hôn được ghi vào Sổ đăng ký kết hôn;
+ Việc nhận cha, mẹ, con được ghi vào Sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con; + Việc nuôi con nuôi được ghi vào Sổ đăng ký việc nuôi con nuôi
2.6.4 Một số điểm lưu ý
Trang 40Khi ghi vào sổ hộ tịch phải ghi theo đúng nội dung của giấy tờ hộ tịch mà đương sự xuất trình; những nội dung trong sổ hộ tịch có mà trong giấy tờ hộ tịch không có, thì để trống, những nội dung trong giấy tờ hộ tịch có nhưng trong sổ hộ tịch không có thì ghi vào cột ghi chú của sổ hộ tịch
Đối với những giấy tờ hộ tịch của công dân Việt Nam ở nước ngoài về nước thường trú, thì sau khi thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch, Giám đốc Sở Tư pháp ký
và cấp cho đương sự bản chính giấy tờ hộ tịch mới Sổ ghi các sự kiện hộ tịch là căn
cứ để cấp bản sao giấy tờ hộ tịch sau này
Đối với việc công nhận kết hôn; nuôi con nuôi; nhận cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 2 Điều 55 của Nghị định 158/2005/NĐ-CP, thì sau khi thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch, Giám đốc Sở Tư pháp ký và cấp cho đương sự giấy xác nhận
về việc đã ghi chú đó
2.7 Lệ phí đăng ký hộ tịch
Theo quy định tại khoản 1, mục II, Thông tư số 97/2006/TT-BTC ngày 16/10/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì Lệ phí hộ tịch, hộ khẩu, chứng minh nhân dân (đối với hoạt động hộ tịch, hộ khẩu, chứng minh nhân dân do cơ quan địa phương thực hiện) thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Vì vậy, mỗi địa phương căn cứa vào tình hình tài chính, ngân sách của trung ương và địa phương mình quyết định mức phí, lệ phí hộ tịch khác nhau Ví
dụ, mức lệ phí hộ tịch trên địa bàn một số tỉnh áp dụng như sau:
Biểu 1:Lệ phí đăng ký hộ tịch tại một số tỉnh thành phố