ĐO ĐẠC KHẢO SÁT ĐƯỜNG THỐNG NHẤT (TỪ CỤM DÂN CƯ GÒ CÁT ĐẾN QUỐC LỘ 30) XÃ BÌNH PHÚ TÂN HỒNG ĐỒNG THÁPNội dung như một bài đồ ánBài nói về các khái niệm và quy trình đo đạc khảo sát đường, quy trình sử dụng máy toàn đạc, trút số liệu, xử lý số liệu, vẽ bản đồ, thành lập bản đồ, xuất bản đồ,....số liệu được lấy từ thực tế trong quá trình đi thực tập
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁPKHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI T RƯỜNG
-1 TRẦN VĂN NU MSSV: 0013412218
2 HOÀNG NGỌC VŨMSSV: 0013411012
3 NGUYỄN THANH TÂNMSSV: 0013411333
ĐO ĐẠC KHẢO SÁT ĐƯỜNG THỐNG NHẤT (TỪ CỤM DÂN CƯ GÒ CÁT ĐẾN QUỐC LỘ 30) XÃ BÌNH PHÚ - TÂN HỒNG - ĐỒNG THÁP
ĐỒ ÁN MÔN HỌC Ngành đào tạo: Quản Lý Đất Đai
Niên khóa: 2013 – 2017
Đồng Tháp, Tháng 04 năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁPKHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI T RƯỜNG
-1 TRẦN VĂN NUMSSV: 0013412218
2 HOÀNG NGỌC VŨMSSV: 0013411012
3 NGUYỄN THANH TÂNMSSV: 0013411333
ĐO ĐẠC KHẢO SÁT ĐƯỜNG THỐNG NHẤT (TỪ CỤM DÂN CƯ GÒ CÁT ĐẾN QUỐC LỘ 30) XÃ BÌNH PHÚ - TÂN HỒNG - ĐỒNG THÁP
ĐỒ ÁN MÔN HỌC Ngành đào tạo: Quản Lý Đất Đai
Trình Độ: Đại Học Niên khóa: 2013 – 2017
Giảng viên hướng dẩn: ThS NGUYỄN HỮU LONG
Đồng Tháp, Tháng 04 năm 2017
Trang 3MỤC LỤC
DANH SÁCH HÌNH iv
DANH SÁCH SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vii
DANH SÁCH CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT viii
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 2
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
5.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin 2
5.2 Phương pháp toàn đạc 3
5.3 Phương pháp xử lý và trình bày số liệu 3
PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ ĐO ĐẠC KHẢO SÁT ĐƯỜNG GIAO THÔNG 4
1.1 Khái quát 4
1.2 Lịch sử phát triển của ngành Trắc Địa 15
1.3 Ứng dụng của trắc địa trong khảo sát đo đạc bình đồ hiện trạng 16
CHƯƠNG II: QUY TRÌNH ĐO ĐẠC KHẢO SÁT ĐƯỜNG 19
2.1 Quy trình đo đạc thành lập bình đồ hiện trạng 19
2.2 Quy trình đo đạc mặt cắt địa hình 20
2.3 Quy trình thực hiện các công tác thu thập dữ liệu 22
2.4 Quy trình thực hiện các công tác xử lý nội nghiệp 26
CHƯƠNG III : KẾT QUẢ ĐO ĐẠC 40
3.1 Sơ lược về tuyến đường Thống Nhất (từ cụm dân cư Gò Cát đến quốc lộ 30) xã Bình Phú – Tân Hồng – Đồng Tháp 40
3.2 Thu thập số liệu đo đac (ngoại nghiệp) 41
3.3 Đặc điểm, quy mô và tính chất công trình 42
3.4 Công tác nội nghiệp 46
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC………65
Trang 4DANH SÁCH HÌNH
gHình 1.1 Giao diện bảng tính Excel 2010 7Hình 1.2 Giao diện phần mềm AutoCad 2007 8Hình 1.3 Giao diện phần mềm T_COM 9Hình 1.4 Giao diện phần mềm Pronet 2002 9Hình 1.5 Giao diện phần mềm QUANG HUY 10Hình 1.6 Máy toàn đạc điện tử Topcon GTS 226 12Hình 1.7 Máy thủy chuẩn Sokia C32 12Hình 1.8 Bình đồ hiện trạng một công trình 13
Hình 2.1 Mô tả phương pháp đo cao hình học từ giữa 24
Hình 2.5 Cáp nối truyền dữ liệu từ máy toàn đạc điện tử sang máy tính 27Hình 2.6 Giao diện phần mềm T-COM 27Hình 2.7 Biểu tượng nút chức năng trút số liệu T_COM 28Hình 2.8 Thông số kỹ thuật của phần mềm T-COM 28Hình 2.9 Mô tả cách nhập dữ liệu tính cao độ cọc mặt cắt trong bảng
Hình 2.10 Số liệu load lên từ file *.dxf minh họa 36Hình 2.11 Số liệu phóng to load lên từ file *.dxf minh họa 36Hình 2.12 Biểu tượng phần mền Quang Huy 37
Trang 5Hình 2.13 Nhập số liệu mặt cắt vào phần mềm thiết kế đường Quang Huy 38Hình 2.14 Mặt cắt ngang thể hiện bằng phần mềm thiết kế đường Quang
Hình 3.7 Kết quả của việc sử lý bằng phần mềm T-Com (điểm đo chi
tiết thể hiện trên AutoCAD 2007) 49Hình 3.8 Nhập số liệu đo lưới vào file *.txt 49Hình 3.9 Load file *.txt vào Pronet 50Hình 3.10 Tiến hành bình sai bằng Pronet 50Hình 3.11 Nhập số liệu đầu vào và định dạng file *.txt 51
Hình 3.13 Số liệu đường Thống Nhất file *.dfx 52Hình 3.14 Đoạn đầu công trình tuyến đường Thống Nhất 53Hình 3.15 Bảng kí hiệu địa hình địa vật trên bình đồ 54Hình 3.16 Một đoạn bình đồ của đường Thống Nhất 54Hình 3.17 Giao diện copy mặt cắt bên excel 55Hình 3.18 Giao diện load số liệu mặt cắt lên Quang Huy (1) 55Hình 3.19 Giao diện load số liệu mặt cắt lên Quang Huy (2) 56
Trang 6Hình 3.20 Giao diện load số liệu mặt cắt lên Quang Huy (3) 56Hình 3.21 Giao diện load số liệu mặt cắt lên Quang Huy (3) 57
Hình 3.22 Trắc dọc tuyến thể hiện bằng phần mềm thiết kế đường Quang
Hình 3.23 Trắc dọc tuyến thể hiện bằng phần mềm thiết kế đường Quang
Trang 7DANH SÁCH SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, PHỤ LỤC
Bảng 1.1 Giới hạn sai số khép đường, khép vòng độ cao theo cấp
Bảng 1.2 Thông số kỹ thuật máy toàn đạc điện tử Topcon GTS 226 11
Bảng 1.3 Thông số kỹ thuật máy thủy chuẩn Sokia C32 13
Bảng 2.1 Mô tả cấu trúc dữ liệu trong phần mềm bình sai ProNet
2002 khi bình sai đường chuyền kinh vĩ 30
Bảng 2.2 Mô tả cấu trúc dữ liệu trong phần mềm bình sai ProNet
2002 khi bình sai đường chuyền cao độ 32
Bảng 2.3 Mô tả phương thức nhập mặt cắt ngang trong phần mềm
Phụ lục 1 Số liệu đo lưới đường chuyền
Phụ lục 2 Cách nhập cao độ đo cao
Phụ lục 3 Mặt cắt ngang đường Thống Nhất
Phụ lục 4 Kết quả bình sai lưới đường chuyền kinh vĩ
Phụ lục 5 Kết quả bình sai lưới cao độ
Phụ lục 6 Một phần cao độ đường Thống Nhất
Phụ lục 7 Một phần bình đồ tuyến đường Thống Nhất
Phụ lục 8 Bản vẽ mặt cắt ngang đường Thống Nhất
Phụ lục 9 Bản vẽ mặt cắt dọc đường Thống Nhất
Trang 8UBND Ủy Ban Nhân Dân
Trang 9LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp nhóm chúng em xin gởi lời cảm ơn chân thànhđến Ban giám hiệu trường Đại học Đồng Tháp, Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên vàMôi trường, các thầy cô trong bộ môn Quản lý đất đai đã tạo điều kiện cho chúng emđược học tập, được nghiên cứu và hoàn thành khóa học
Suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường nhóm chúng em chân thành cảm
ơn các thầy cô đã tận tình, dành hết công sức và tâm huyết của mình vào từng bàigiảng để truyền dạy cho chúng em những bài học, những kiến thức vô cùng quý báu vàcần thiết để áp dụng sau khi tốt nghiệp ra làm thực tế
Đồng thời chúng em cũng xin gởi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Hữu Long đãhướng dẫn và giúp đỡ nhóm chúng em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đồ
án tốt nghiệp
Qua đây nhóm chúng em cũng xin gởi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhấtđến ban giám đốc, các anh chị tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư xây dựng NN đã tạođiều kiện thuận lợi để có cơ hội tiếp xúc làm quen với công việc thực tiễn trước khi ratrường và nhiệt tình hỗ trợ trong quá trình thu thập số liệu tài liệu để hoàn thành đồ ántốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn tất cả!
Nhóm sinh viên thực hiện
Nguyễn Thanh Tân
Trần Văn Nu
Hoàng Ngọc Vũ
Trang 10PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
- Nước ta là nước nông nghiệp với gần 80% dân số làm nghề nông, sống chủ yếutrong khu vực nông thôn, địa hình tương đối phức tạp với 3/4 diện tích cả nước là đồinúi, nền kinh tế đang phát triển nên hệ thống đường giao thông còn thô sơ, kém chấtlượng, nhất là vùng nông thôn
- Hiện nay trong công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước, việc xây dựngcác công trình giao thông, ngày càng được phát triển rộng rãi về quy mô và mức độhiện đại Trong xây dựng các công trình giao thông đòi hỏi kết hợp của nhiều chuyênngành khác nhau, trong đó chuyên ngành trắc địa đóng một vai trò rất quan trọng.Công tác trắc địa phải tham gia xây dựng trong suốt quá trình khảo sát, thiết kế, thicông và sử dụng công trình
- Khảo sát địa hình, một trong những chuyên ngành chủ yếu của trắc địa làhoạt động nghiên cứu đánh giá điều kiện tự nhiên trên mặt đất tại địa điểm dự kiến xâydựng công trình phục vụ cho các công tác quy hoạch, thiết kế, tính khốilượng đào, đắp công trình
- Công tác khảo sát địa hình nhằm xác định chính xác vị trí các hạng mục côngtrình; Đánh giá được cụ thể điều kiện địa hình khu vực cần khảo sát trên cơ sở đó đềxuất biện pháp thi công công trình; Xác định được tương đối chính xác khối lượng;Xác định được tổng mức đầu tư, là một bước không thể thiếu trong quá trình thiết kế,thi công công trình Nếu công tác khảo sát địa hình có vấn đề sẽ gây ảnh hưởng rất lớnđến chất lượng, độ an toàn cũng như chi phí của công trình
- Chính vì vậy, để tránh được các rủi ro và thất thoát trong quá trình thi côngcông trình, các tuyến giao thông đảm bảo độ an toàn, phục vụ việc đi lại thuận tiện của
người dân, chúng tôi chọn đề tài: “Đo đạc khảo sát đường Thống Nhất (từ cụm dân
cư Gò Cát đến quốc lộ 30) xã Bình Phú - Tân Hồng - Đồng Tháp” phục vụ cho việc
thiết kế, thi công đường
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
- Luận văn Ứng dụng quy trình đo đạc trong khảo sát địa hình phục vụ lập dự án
các công trình xây dựng của Trịnh Minh Thái, luận văn đã xây dựng được quy trình đo
Trang 11đạc trong khảo sát địa hình đồng thời xây dựng được bình đồ hiện trạng và mặt cắt địahình phục vụ quy hoạch, thiết kế công trình.
- Luận văn của Nguyễn Văn Thụ (2008) nêu rõ các khái niệm về phương pháp đocao, phương pháp khảo sát công trình, lưới khống chế độ cao, bản đồ địa hình… là cơ
sở lý thuyết cho việc học tập, luận văn chưa đề cập sâu đến các bước hay trình tự thựchiện
- Nghiên cứu của sinh viên Nguyễn Văn Chúc (2016), nêu rõ về một số phươngpháp trắc địa thi công đường và công tác đo vẽ mặt cắt dọc, mặt cắt ngang phục vụthiết kế thi công đường giao thông cấp IV, nhưng vẩn chưa đề cập nhiều đến quy trìnhthực hiện các công việc trên
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Lập bình đồ hiện trạng tỷ lệ 1:1000 tuyến đường Thống Nhất (từ cụm dân cư
Gò Cát đến quốc lộ 30) xã Bình Phú, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
- Mặt cắt dọc tỷ lệ 1:1000 tuyến đường Thống Nhất (từ cụm dân cư Gò Cát đếnquốc lộ 30) xã Bình Phú, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
- Mặt cắt ngang tỷ lệ 1:200 tuyến đường Thống Nhất (từ cụm dân cư Gò Cát đếnquốc lộ 30) xã Bình Phú, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
- Cao độ của công trình tuyến đường Thống Nhất (từ cụm dân cư Gò Cát đếnquốc lộ 30) xã Bình Phú, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu quy trình đo vẽ bình đồ hiện trạng các tỷ lệ và mặt cắt địa hình
- Phần mềm AutoCad 2007
- Phần mềm hỗ trợ thiết kế đường Quang Huy
- Phần mềm trút số liệu T-Com
- Phần mềm bình sai Pronet
- Máy toàn đạc điện tử Topcon GTS-226
- Máy thủy chuẩn Sokia C32
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu:
Tuyến đường Thống Nhất (từ cụm dân cư Gò Cát đến quốc lộ 30) xã Bình Phú,huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin
- Thu thập thông tin là công việc quan trọng và cần thiết phải được thực hiện, nógiúp chúng ta có được thông tin về vấn đề đang nghiên cứu
- Điều tra thu thập các số liệu về thuỷ văn, công trình ngầm, công trình côngcộng, nhà cữa, các dự án có liên quan đã và đang thi công trên khu vực về giao thông,thuỷ lợi, cấp thoát nước… làm việc với các ngành và địa phương có liên quan
- Thu thập tài liệu về các mốc toạ độ, độ cao nhà nước tại khu vực nghiên cứu
5.2 Phương pháp toàn đạc
Phương pháp toàn đạc điện tử phục vụ công tác thu thập số liệu trực tiếp ngoàithực địa, các số liệu thu thập là góc quay và chiều dài cạnh từ trạm máy toàn đạc điện tửđến các vị trí cần xác định tọa độ
5.3 Phương pháp xử lý và trình bày số liệu
- Số liệu đo đạc lưới khống chế mặt bằng ngoài thực địa sẽ được xử lý sơ bộ vàđịnh dạng, sau đó sử dụng các phần mềm Pronet để bình sai lưới đường chuyền, kếtquả sau mỗi bước tính toán sẽ được xem xét, đánh giá về độ chính xác, nếu đảm bảotiêu chuẩn theo yêu cầu sẽ được tiến hành các bước tiếp theo và cho ra kết quả về tọa
độ chính xác của các điểm khống chế lưới
- Sử dụng phần mềm T-COM để trút dữ liệu đo đạc vào máy tính, sau đó dùngphần mềm AutoCad 2007 để biên tập bản đồ
- Nhập số liệu mặt cắt ngang, mặt cắt dọc vào phần mềm Excel theo mẫu, sau đóthể hiện trắc ngang, trắc dọc địa hình bằng phần mềm thiết kế đường Quang Huy
Trang 13PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ ĐO ĐẠC KHẢO SÁT ĐƯỜNG GIAO THÔNG
1.1 Khái quát
1.1.1 Khái quát về trắc địa
- Trắc địa, trắc đạc hay đo đạc là một ngành khoa học về Trái Đất, cụ thể là đođạc và xử lý số liệu đo đạc địa hình và địa vật nằm trên bề mặt Trái Đất nhằm vẽ lênmặt phẳng giấy hay còn gọi là bản đồ Trắc địa là đo đạc vị trí tọa độ và độ cao, hìnhdạng, kích thước, phương hướng của địa hình mặt đất và địa vật nằm trên mặt đất Đây
là ngành nghề có từ lâu đời tại các nước châu Âu, sản phẩm của ngành có đóng gópquan trọng và liên quan mật thiết đến nhiều lĩnh vực của xã hội đặc biệt trong lĩnh vực:Lập Bản đồ địa hình quốc gia, nghiên cứu và quy hoạch, thiết kế, thi công các côngtrình, quản lý đất đai, quản lý tài nguyên khoáng sản, quản lý rừng, quản lý biến đổikhí hậu, quản lý giao thông, điện lực, viễn thông, thủy lợi…
- Nhiệm vụ chính của Trắc địa là tiến hành đo đạc các yếu tố cần thiết như góc,cạnh, độ cao, tính toán xử lý số liệu và thể hiện chúng dưới dạng bình đồ, bản đồ, mặtcắt Trắc địa trực tiếp giải quyết và tham gia giải quyết nhiều bài toán ứng dụng trongquá trình khảo sát, quy hoạch, thiết kế, xây dựng và sử dụng cho mọi công trình trongcác lĩnh vực kinh tế, quân sự Khi thiết kế, quy hoạch và xây dựng công trình, trướchết cần có các tư liệu về mặt bằng khu vực, đây là cơ sở không thể thiếu được đối vớicác nhà quy hoạch, các kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng Sau đó, các công trình thiết kếtrên bản vẽ được chuyển ra thực địa bằng những phương pháp và máy móc trắc địa Vìthế, các nhà quy hoạch, các kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng cũng cần được trang bịnhững kiến thức nhất định về bình đồ, bản đồ, những hiểu biết về dụng cụ và phươngpháp đo đạc cơ bản trong trắc địa để ứng dụng chúng trong thiết kế, xây dựng và sửdụng công trình [1]
- Trong quá trình phát triển của mình, trắc địa đã ứng dụng những thành tựu củanhiều lĩnh vực khoa học khác như toán học, vật lý, gắn liền với nhiều ngành khoa họctrái đất như địa chất, địa lý, địa mạo, môi trường, cũng như những ngành khoa học về
vũ trụ như thiên văn, viễn thám [1]
Trang 14- Trắc địa cũng được chia ra những ngành hẹp như trắc địa cao cấp, trắc địa côngtrình, trắc địa ảnh, địa hình và ngành bản đồ [1]
- Trắc địa cao cấp tiến hành các công tác đo đạc, xử lý số liệu cho những phạm virộng lớn mang tính quốc gia cũng như phục vụ các mục đích nghiên cứu khoa học nhưlập lưới khống chế, theo dõi sự dịch chuyển vỏ quả đất, tiến hành đo thiên văn, trọnglực [1]
- Trắc địa ảnh tiến hành đo chụp các loại ảnh (ảnh hàng không, ảnh vũ trụ, ảnhmặt đất) và xử lý phim ảnh để thành lập bình đồ, bản đồ [1]
- Trắc địa địa hình nghiên cứu những phương pháp biểu diễn bề mặt địa hình lênbản đồ, bình đồ [1]
- Ngành bản đồ nghiên cứu các phương pháp thành lập các loại bản đồ, tiến hànhbiên tập, chỉnh lý, in ấn và xuất bản các loại bản đồ [1]
- Trắc địa công trình là lĩnh vực trắc địa ứng dụng trong xây dựng, nó nghiên cứucác phương pháp, phương tiện đảm bảo trắc địa cho quá trình thiết kế, thi công xâydựng và theo dõi sự biến dạng của từng loại công trình [1]
1.1.2 Lưới khống chế độ cao và lưới khống chế mặt bằng( lưới tọa độ)
1.1.2.1 Lưới khống chế độ cao [12]
- Lưới độ cao quốc gia là lưới khống chế về độ cao thống nhất trong toàn quốc,được đo theo phương pháp đo cao hình học, là cơ sở để xác định độ cao phục vụ chonhu cầu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng và nghiên cứu khoa học ởViệt Nam
- Lưới độ cao quốc gia được xây dựng theo trình tự từ hạng I, II đến III, IV
- Lưới độ cao hạng I, II quốc gia là cơ sở để phát triển và khống chế các lưới độcao hạng III, IV Lưới độ cao hạng III, IV trực tiếp phục vụ cho các mục đích khácnhau
- Lưới độ cao quốc gia lấy mực nước biển trung bình quan trắc nhiều năm tạitrạm nghiệm triều Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng) làm mực chuẩn “0” về độ cao Độcao trong lưới độ cao quốc gia được tính theo hệ thống độ cao chuẩn
Trang 15Bảng 1.1 Giới hạn sai số khép đường, khép vòng độ cao theo cấp hạng [4]
trên 1 km đường đo
- Lưới tọa độ quốc gia bao gồm: Lưới tọa độ cấp 0, lưới tọa độ hạng I, lưới tọa
độ hạng II và lưới tọa độ hạng III khác nhau về độ chính xác, mật độ phân bố điểm,mục đích sử dụng, phương pháp xây dựng và trình tự phát triển của lưới Lưới tọa độhạng I là mạng lưới hiện đang tồn tại nhưng không xây dựng lại do vậy trong phạm vicủa quy chuẩn này chỉ đưa ra các quy định kỹ thuật cụ thể cho lưới tọa độ cấp 0, hạng
II và hạng III
- Lưới tọa độ quốc gia được xây dựng chủ yếu bằng công nghệ GNSS (GlobalNavigation Satellite System: hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu)
- Lưới tọa độ quốc gia được tính toán trong Hệ quy chiếu và Hệ tọa độ VN-2000,
có điểm gốc là N00 Độ cao của các điểm trong lưới tọa độ quốc gia được tính theo hệ
Trang 16độ cao quốc gia Riêng lưới tọa độ cấp 0 được tính toán trong hai hệ tọa độ: VN-2000
và ITRF
- Giá trị tọa độ của các điểm trong lưới tọa độ quốc gia được biểu thị trên mặtphẳng theo lưới chiếu UTM múi 60 kinh tuyến trục là 1050 kinh đông (đối với múi thứ48), múi 60 kinh tuyến trục là 1110 kinh đông (đối với múi thứ 49) và múi 60 kinhtuyến trục là 1170 kinh đông (đối với múi thứ 50), tỷ lệ biến dạng chiều dài trên kinhtuyến trục trong cả ba trường hợp là 0.9996
* Lưới khống chế đo vẽ
- Lưới khống chế đo vẽ là cấp cuối cùng khống chế về tọa độ và độ cao để phục
vụ trực tiếp cho việc đo vẽ thành lập bản đồ địa hình Lưới được phát triển dựa trên cơ
sở các điểm khống chế đường chuyền cấp I và cấp II được lập trước đó Đối với hạngnày thường được xây dựng dưới dạng lưới đường chuyền có nhiều điểm nút hoặcđường chuyền hở [18]
1.1.3 Khái quát về các phần mềm và ứng dụng
1.1.3.1 Microsoft Excel
- Phần mềm Microsoft Excel cho Windows là phần mềm xử lý bảng tính điện tửnổi tiếng của Microsoft và là phần mềm bảng tính điện tử được sử dụng phổ biến hiệnnay Với nhiều công cụ mạnh mẽ cùng với các chức năng phong phú giúp xử lý bảngtính nhanh và chính xác Ngoài ra hệ thống hàm khá đầy đủ giúp giải quyết các thaotác tính toán thông thường và cả lĩnh vực thống kê
Hình 1.1 Giao diện bảng tính Excel 2010
Trang 17- Một số phiên bản của Microsoft Excel bao gồm: Microsoft Excel 6.0; MicrosoftExcel 97; Microsoft Excel 2000; Microsoft Excel 2002; Microsoft Excel XP;Microsoft Excel 2003…
1.1.3.2 AutoCAD 2007
- AutoCAD: CAD là chữ viết tắt của Computer – Aided Design hoặc ComputerDrafting Do đó phần mềm AutoCAD có nghĩa là phần mềm trợ giúp vẽ và thiết kếbằng máy tính Phần mềm AutoCAD đầu tiên là Sketchpad xuất hiện vào năm 1962được viết bởi Ivan Sutherland thuộc Trường Kỹ thuật Massachusetts (hình 1.2)
- Phần mềm AutoCAD có 3 đặc điểm nổi bật: Chính xác; Năng suất cao nhờ cáclệnh sao chép (thực hiện bản vẽ nhanh); Dễ dàng trao đổi dữ liệu với các phần mềmkhác
Hình 1.2: Giao diện phần mềm AutoCad 2007
- AutoCad là phần mềm của hãng AutoDesk dùng để thực hiện các bảng vẽ kỹthuật trong các ngành: Xây dựng, Kiến trúc, Bản đồ Các bản vẽ bình đồ, bản đồ trướcđây khi công nghệ tin học chưa đầy đủ thì các bản vẽ này được vẽ bằng thủ công (vẽbằng tay sử dụng các loại bút chuyên dụng vẽ bản đồ) Ngày nay với sự phát triển củacông nghệ thông tin, các bản vẽ bình đồ, bản đồ được thực hiện trên phần mềmAutoCAD một cách dễ dàng và nhanh chóng
Trang 181.1.3.3 Phần mềm trút số liệu máy toàn đạc điện tử T-COM
Phần mềm T-COM: Là phần mềm dùng để trút số liệu đo từ máy toàn đạc ra máytính dưới dạng file *.txt, *.dxf để load lên phần mền Microtastion và Autocad biên tập bản vẽ
Hình 1.3 Giao diện phần mềm T_COM
1.1.3.4 Phần mềm bình sai ProNet 2002 [9]
Hình 1.4: Giao diện phần mềm Pronet 2002
Trang 19- Phần mềm Pronet (Nguyễn Quang Khánh): Là một phần mềm xử lý các số liệu
Trắc địa phục vụ công tác lập lưới và đo vẽ bản đồ địa hình, địa chính ProNet đã đượcnhững nhà chuyên môn về Trắc địa và bản đồ nghiên cứu và phát triển từ năm 1998
- Đây là phần mềm chuyên dụng để tự động hóa công tác xử lý số liệu Trắc địatrên máy tính, đặc biệt với số lượng lớn Phần mềm ProNet có dung lượng nhỏ, đượccài đặt trên môi trường của hệ điều hành Window, có giao diện bằng tiếng Việt Chính
vì vậy mà có ưu điểm là dễ học, dễ sử dụng
- Phần mềm ProNet có các môđun chính là: Các thao tác với tập số liệu; Bình sailưới mặt bằng; Bình sai lưới độ cao; Ước tính độ chính xác lưới mặt bằng, độ cao;Tính tọa độ, độ cao điểm chi tiết và vẽ lên AutoCAD, MicroStation; Tổng hợp sơ đồ
Hình 1.5: Giao diện phần mềm QUANG HUY
Trang 201.1.4 Giới thiệu máy toàn đạc điện tử Topcon GTS-226 và máy thuỷ chuẩn Nikon C32 [8]
Máy toàn đạc điện tử Topcon GTS-226
Bảng 1.2 Thông số kỹ thuật máy toàn đạc điện tử Topcon GTS 226
Trọng lượng máy có pin (kg) 4.9
Đo tới gương đơn 2500 m
Trang 21Hình 1.6 Máy toàn đạc điện tử Topcon GTS 226
Máy thủy chuẩn Nikon C32
Hình 1.7 Máy thủy chuẩn Sokia C32
Trang 22Bảng 1.3 Thông số kỹ thuật máy thủy chuẩn Sokia C32
Trang 23- Bình đồ hiện trạng là bản vẽ thu nhỏ, khái quát một vùng đất nhỏ trên mặtphẳng nằm ngang, sử dụng phép chiếu thẳng góc đơn giản Như vậy, trên bình đồ hiệntrạng khác với bản đồ hiện trạng là bình đồ không chú trọng xử lý ảnh hưởng độ congTrái Đất mà coi mặt đất là mặt phẳng Bình đồ hiện trạng có thể sử dụng Hệ tọa độNhà nước hoặc Hệ tọa độ giả định.
- Bình đồ hiện trạng của một công trình là hình chiếu thu nhỏ của một khu vựcbao quanh công trình đó lên một mặt phẳng, bình đồ hiện trạng thể hiện địa hình, địavật, cao độ mặt đất tự nhiên, các công trình trên đất cũng như các công trình ngầm như: Nhà, cầu, cống, các loại cây trồng, sông, suôi, kênh, rạch, ao, đường giao thông…
1.1.5.2 Mặt cắt địa hình
- Mặt cắt địa hình: Là hình chiếu thu nhỏ của bề mặt trái đất theo một phươngnào đó trên một mặt phẳng thẳng đứng được gọi là mặt cắt địa hình theo phương ấy,trong khảo sát địa hình có mặt cắt ngang và mặt cắt dọc tuyến công trình
Hình 1.9 Mặt cắt địa hình
- Qua hình 1.9 ta thấy được mặt cắt của địa hình tự nhiên từ trên vùng đồi núi dọcxuống vùng đồng bằng ven biển và xuống địa hình dưới nước thể hiện bằng đườngđồng mức theo phương từ trên xuống trên mặt phẳng thẳng đứng theo trục x,y
- Mặt cắt ngang là mặt thẳng góc với đường tim (khi đường tim là một đườngthẳng); Là đường phân giác (khi đường tim gãy khúc); Là đường pháp tuyến(khi đường tim là đoạn cong)
Trang 24- Mặt cắt dọc: Để đo mặt cắt dọc trên mặt đất ta cần chọn một đường tim, sau nàydùng để thiết kế tim công trình Đường tim là một hệ thống đường gãy khúc có dạngnhư đường chuyền kinh vĩ nhưng những chỗ gãy khúc được bố trí những đoạn đườngcong để phục vụ yêu cầu kỹ thuật
1.2 Lịch sử phát triển của ngành Trắc Địa
1.2.1 Trên thế giới
- Sự phát sinh và phát triển của ngành trắc đạc gắn liền với quá trình phát triểncủa xã hội loài người Trước Công nguyên người Ai cập thường phải phân chia lại đấtđai sau những trận lũ lụt của sông Nil, xác định lại ranh giới giữa các bộ tộc, do đóngười ta đã sáng tạo ra phương pháp đo đất Thuật ngữ trắc địa theo tiếng Hy lạp(geodesie) cũng có nghĩa là phân chia đất đai và khoa học về trắc địa ra đời từ đó
- Trãi qua nhiều thời đại, cùng với những phát minh phát triển không ngừng củakhoa học và kỹ thuật, môn học về trắc địa ngày càng phát triển Những phát minh rakính viễn vọng, kim nam châm, logarit, tam giác cầu đã tạo điều kiện vững chắc cho
sự phát triển của ngành trắc đạc Trong những thập kỷ gần đây, những thành tựu mới
về khoa học kỹ thuật đã làm cho ngành trắc địa có một bước phát triển mạnh, thay đổi
về chất: Những kỹ thuật thăm dò từ xa (viễn thám) đã cho phép thành lập bản đồ từảnh chụp máy bay, vệ tinh Nhiều nước công nghiệp phát triển đã chế tạo ra nhữngmáy trắc địa kích thước nhỏ, nhưng có nhiều tính năng hay và kết hợp giữa phần cơ vàphần điện tử đã làm cho máy đo đạc trở nên nhỏ gọn chính xác cao và nhiều tính nănghơn Việc dùng máy tính điện tử để giải các bài toán trắc địa có khối lượng lớn, việc
sử dụng các ảnh chụp từ vệ tinh hay các con tàu vũ trụ để thành lập bản đồ địa hình lànhững thành tựu mới nhất của khoa học được áp dụng trong ngành trắc địa. [11]
1.2.2 Ở Việt Nam
- Ở nước ta ngành trắc địa đã phát triển từ lâu, nhân dân ta đã áp dụng nhữnghiểu biết về trắc lượng vào sản xuất, quốc phòng: những công trình xây dựng cổ nhưthành Cổ loa là một minh chứng về sự hiểu biết trắc lượng của nhân dân ta
- Đầu thế kỷ 20 sau khi thôn tính và lập nền đô hộ, người pháp đã tiến hành côngtác đo vẽ bản đồ toàn Đông Dương nhằm mục đích khai thác tốt tài nguyên vùng này.Việc đo đạc được tiến hành rất qui mô, áp dụng các phương pháp đo khoa học và cácmáy móc đo có chất lượng cao, những bản đồ, những hồ sơ còn lưu trữ đã nói lên điều
đó
Trang 25- Trong thời kháng chiến chống thực dân, công tác trắc địa chủ yếu phục vụ chomục đích quân sự như trắc địa pháo binh, công binh, trinh sát Sau khi cuộc khángchiến thành công, nhà nước ta đã rất quan tâm đến công tác trắc địa, Cục đo đạc bản
đồ nhà nước được ra đời năm 1959 đã đánh dấu một bước trưởng thành của ngành trắcđịa Việt nam
- Đội ngũ những người làm công tác trắc địa cũng ngày càng lớn mạnh Trướcnăm 1960 từ chỗ trong nước chỉ có vài chục kỹ thuật viên được đào tạo trong thời kỳPháp thuộc đang làm việc trong các ngành giao thông, thủy lợi, xây dựng tới nay độingũ các cán bộ trắc địa đã lên tới hàng ngàn người từ đủ mọi trình độ: Sơ cấp, trungcấp, kỹ sư, tiến sĩ về trắc địa Song song với việc cử người đi học ở nước ngoài, nhànước đã quyết định mở khóa Kỹ sư Trắc địa đầu tiên tại Trường Đại học Bách Khoa
Hà Nội vào năm 1962 Hiện nay khoa Trắc địa Trường Đại học Mỏ Địa chất là mộttrung tâm lớn nhất trên cả nước về đào tạo và nghiên cứu khoa học về chuyên ngànhnày Việc đào tạo không ngừng lại ở bậc đại học mà đã bắt đầu đào tạo cán bộ Trắc địasau đại học
- Cục đo đạc bản đồ nhà nước là cơ quan có chức năng đo vẽ bản đồ toàn quốc đãban hành các qui phạm Trắc địa chung cho toàn quốc Các bộ ngành cũng có những tổchức trắc địa riêng, phục vụ cho công tác đo vẽ bản đồ tỉ lệ lớn nhằm đáp ứng yêu cầucông tác thiết kế, thi công và quản lí công trình cho đơn vị mình [4]
1.3 Ứng dụng của trắc địa trong khảo sát đo đạc bình đồ hiện trạng
- Trắc địa nằm trong nhóm những ngành điều tra cơ bản, nó có một vai trò quantrọng đối với nền kinh tế quốc dân và quốc phòng nói chung, đặc biệt đối với cácngành xây dựng cơ bản, trắc địa luôn giữ vị trí quan trọng hàng đầu Những tài liệu, sốliệu trắc địa luôn là những cơ sở ban đầu để giải quyết những nhiệm vụ kỹ thuật cụ thể
kể từ khâu khảo sát thiết kế, quy hoạch, thi công xây dựng cho đến khi khai thác sửdụng công trình Các công tác trắc địa công trình có mối quan hệ rất chặt chẽ với từnggiai đoạn của quá trình xây dựng cơ bản và với công nghệ thi công xây dựng côngtrình.[4]
- Bình đồ hiện trạng là bản vẽ thu nhỏ, khái quát một vùng đất nhỏ trên mặtphẳng nằm ngang, sử dụng phép chiếu thẳng góc đơn giản Như vậy, trên bình đồ hiệntrạng khác với bản đồ hiện trạng là bình đồ không chú trọng xử lý ảnh hưởng độ cong
Trang 26Trái Đất mà coi mặt đất là mặt phẳng Bình đồ hiện trạng có thể sử dụng Hệ tọa độNhà nước hoặc Hệ tọa độ giả định [1]
- Đối với công tác khảo sát, thiết kế, quy hoạch, trắc địa đáp ứng mọi yêu cầu vềmặt bằng (bản đồ, bình đồ hiện trạng các tỉ lệ), các mặt cắt dọc, ngang, độ cao, độ sâu,
độ dốc v.v , các số liệu khảo sát kể cả về địa chất công trình và địa chất thuỷ văn.Trong giai đoạn này, trắc địa cung cấp tư liệu cơ sở để lập bình đồ công trình, chuẩn bịcác số liệu, bản vẽ để chuyển công trình ra thực địa, cung cấp các bản vẽ thiết kế quyhoạch mặt bằng và độ cao từ khâu tính toán đến lập bản vẽ chi tiết, tính toán các sốliệu san lấp, diện tích khu vực, dung lượng hồ chứa v.v [1]
- Trong giai đoạn thi công, trắc địa đảm bảo bố trí công trình trên thực địa đúngnhư thiết kế Thông thường, giai đoạn này đòi hỏi độ chính xác cao hơn giai đoạn khảosát thiết kế Ở đây, trắc địa sẽ cung cấp một cơ sở bố trí gồm một mạng lưới các điểm
có toạ độ và độ cao với độ chính xác cần thiết Các công tác trắc địa công trình sẽ đảmbảo chuyển các trục chính của công trình ra thực địa, đảm bảo các số liệu và theo dõithi công hố móng và xây móng theo từng chi tiết, đảm bảo bố trí các hệ thống côngtrình ngầm, từng toà nhà và cả hệ thống tổ hợp công trình theo đúng thiết kế Đồngthời tiến hành đo vẽ để có thể đánh giá được chất lượng thi công về hình dạng và kíchthước công trình, trên cơ sở đó xác định những sai lệch so với thiết kế để có nhữngbiện pháp khắc phục kịp thời Trong quá trình lắp đặt và điều chỉnh các kết cấu xâydựng và thiết bị kỹ thuật, trắc địa sẽ đảm bảo hướng dẫn lắp đặt, sau đó là điều chỉnhcác kết cấu và thiết bị cả về mặt bằng, độ cao và độ thẳng đứng cũng như các hướngbán kính, các điểm trên đường cong với độ chính xác cần thiết nhờ sử dụng cácphương pháp và máy móc chuyên dùng Đây là một lĩnh vực phát triển mạnh của trắcđịa công trình, nhất là đối với những công trình lớn có giải pháp kết cấu phức tạp. [1]
- Trong giai đoạn khai thác sử dụng công trình cũng cần phải tiến hành các côngtác trắc địa chính xác để theo dõi độ ổn định của chúng theo thời gian hoặc sau nhữngtác động đột ngột của thiên nhiên và con người như động đất, giông bão, lũ lụt, xâydựng công trình ngầm, đóng cọc Kết quả đo đạc sẽ xác định được sự dịch chuyển theophương nằm ngang như đối với đập nước, cầu cống, sự dịch chuyển theo phươngthẳng đứng như hiện tượng trồi, lún móng công trình và xác định được độ nghiêng, độrạn nứt Trên cơ sở đó sẽ phát hiện nguyên nhân và dự báo sự phát triển của quá trìnhbiến dạng cũng như khẳng định và lựa chọn phương án thiết kế, xử lý móng và thi
Trang 27công trên những công trình tương tự nhằm đạt được một hiệu quả kinh tế cao và tránhđược những sự cố đáng tiếc có thể xảy ra. [1]
1.4 Ứng dụng của trắc địa trong khảo sát đo đạc mặt cắt hiện trạng
Để xác định khối lượng đào đắp chúng ta có nhiều phương pháp nhưng phươngpháp mặt cắt là một trong những phương pháp đạt được độ tin cậy cao vì kết quả nhậnđược thể hiện một cách trực quan thông qua các lát cắt địa hình. [4]
Để xác định khối lượng đào đắp chúng ta xây dựng 2 bản đồ số địa hình của 2thời gian khác nhau, Dựa vào 2 bản đồ đó chúng ta thiết lập được dữ liệu 2 mặt cắttrên cùng một tuyến Căn cứ vào dữ liệu mặt cắt đã thiết lập, chúng ta xây dựng bản vẽcủa 2 mặt cắt chồng lên nhau đồng thời tính được diện tích phần đào và đắp Căn cứvào diện tích Đào - Đắp của từng tuyến và khoảng cách giữa các tuyến để tình ra thểtích đào đắp của cả khu vực. [4]
Độ chính xác của việc tính khối lượng đào đắp sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố:Chất lượng bản đồ địa hình: Biểu diễn đủ các điểm đặc trưng và bảo đảm mật độ điểmcần thiết Hướng của tuyến mặt cắt phụ thuộc vào đặc điểm địa hình, thường là vuônggóc với hướng dốc địa hình Khoảng cách giữa các mặt cắt [4]
Trang 28CHƯƠNG II: QUY TRÌNH ĐO ĐẠC KHẢO SÁT ĐƯỜNG
2.1 Quy trình đo đạc thành lập bình đồ hiện trạng
Sơ đồ 2.1: Quy trình thành lập bình đồ hiện trạng
* Mô tả các bước thực hiện như sau :
- Bước 1: Sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, tiến hành thu thập số liệu về
mốc tọa độ, độ cao Nhà nước, bản đồ vị trí khu vực nghiên cứu để phục vụ cho côngtác lập phương án bố trí lưới khống chế mặt bằng và độ cao
- Bước 2: Xây dựng lưới khống chế mặt bằng và lưới khống chế độ cao, tiến
hành đo góc cạnh và đo chênh cao bằng máy thủy bình và máy toàn đạc điện tửTopcon GTS-226
Kiểm tra đối soát thực địa
Thu thập tài liệu, lập phương án
đo đạc
Chỉnh sửa (nếu có) và hoàn thành bản vẽ bình đồ hiện trạng tỷ lệ
1:1000
Trang 29- Bước 3: Xử lý bình sai bằng phần mềm Pronet để kiểm tra đánh giá độ chính
xác kết quả đo cao và đo góc cạnh, hiệu chỉnh kết quả đo góc và cạnh
- Bước 4: Đo đạc chi tiết bằng máy toàn đạc 226 các vị trí như địa hình, địa vật.
- Bước 5: Trút số liệu từ máy toàn đạc điện tử sang phần mềm AutoCad 2007,
tiến hành biên tập bình đồ hiện trạng
- Bước 6: Kiểm tra nội nghiệp, xem xét cách thể hiện bình đồ có đúng quy phạm,
quy cách, điều chỉnh những sai sót nhỏ như các vị trí vẽ không hợp lý, nhà vẽ khôngvuông góc, các yếu tố có khả năng sai do đo vẽ thực địa sẽ được khoanh lại để kiểmtra thực địa
- Bước 7: Kiểm tra kết hợp bản vẽ đã biên tập đối soát kiểm tra tại thực địa với
kiểm tra độ cao bằng máy thủy bình Vẽ lại những vị trí sai (nếu có)
- Bước 8: Điều chỉnh (nếu có) và hoàn thành bản vẽ bình đồ hiện trạng.
- Bước 9: In ấn, lưu trữ bình đồ.
2.2 Quy trình đo đạc mặt cắt địa hình
Sơ đồ 2.2 Quy trình đo đạc trắc dọc, ngang và cao độ
- Bước 1: Tiến hành đóng các cọc gỗ để đo mặt cắt ngang tuyến, các cọc được
đóng giữa tim đường, đóng nhô lên khỏi mặt đất không quá 1cm khoảng cách giữacác cọc từ 25m, 50m tùy vào điều kiện địa hình
- Bước 2: Tiến hành đo mặt cắt từ đầu tuyến đến cuối tuyến công trình bằng máy
thủy bình, đo từ vị trí tương đối bằng nhất bên trái qua vị trí tương đối bằng nhất bênphải của tuyến Tương ứng với mắt cắt ngang địa hình thể hiện trên bản vẽ từ trái sangphải
Đo mặt cắt ngang, dọc theo phương pháp đo
cao hình học
Chuyền cao độ cho các cọc mặt cắtThành lập các cọc mặt cắt ngang địa hình
Trang 30- Bước 3: Tiến hành đo cao bằng máy thủy bình từ mốc cao độ chuẩn quốc gia
về tuyến công trình và chuyền lên các cọc mặt cắt trong tuyến để tính cao độ mặt cắt
* Yêu cầu kĩ thuật đo mặt cắt địa hình
- Đo mặt cắt ngang bằng máy thủy chuẩn theo phương pháp đo cao hình học, đọc
số đọc chỉ giữa của mia, làm tròn đơn vị về Centimet, không cần độ chính xác đếnMilimet, số liệu các điểm đo chi tiết được ghi chép lại để xử lý nội nghiệp, sổ đo phảithể hiện số đọc mia các điểm chi tiết, khoảng cách ngang của từng điểm đo và ghi chúcác điểm đo đặc biệt như cọc mặt cắt, các điểm địa hình thay đổi
- Khó khăn, thuận lợi và hạn chế của việc đo mặt cắt ngang bằng máy thủy chuẩntheo phương pháp đo cao hình học
Khó khăn:
Ở những nơi mặt đất mềm, lún các cọc mặt cắt dể bị thay đổi, khi cọcmặt cắt bị thay đổi thì cao độ các điểm đo chi tiết sẽ có sai số cao, do đó ta cần kiếmcọc gỗ to hơn để cọc vững chắc, không bị thay đổi
Khó khăn khi đo mặt cắt địa hình chính là sự cản trở tầm nhìn của cácđịa vật như cây cối, nhà cữa, các công trình trên đất khác, độ chính xác về độ cao củacác điểm đo chi tiết còn phụ thuộc vào thới tiết, đia hình ( chênh lệch quá cao giữa cácđiểm đo chi tiết làm hụt mia kích thước 5m dẫn đến sai số lớn) do đó người đứng máyphải tìm đặt máy ở nơi hợp lý, ít bị ngăn cản tầm nhìn và đặt máy cao hay thấp tùy vàođịa hình
Chuyền cao độ nội tuyến và ngoại tuyến công trình cần độ chính xáccao nên phải hạn chế tối đa các sai số đó, chẳng hạn như: sai số do máy đo, sai số dongười đo, sai số do người cầm mia, do thời tiết…do đó ta cần chọn thời điểm đo chênhcao cho hợp lý, không bị ảnh hưởng bỏi thời tiết, người đứng máy và người cầm miaphải phối hợp chặt chẽ với nhau để tránh những sai số không đáng có
Thuận lợi:
Máy thủy chuẩn nhỏ gọn, dễ dàng di chuyển
Thao tác máy nhanh chóng
Dể dàng trong xử lý số liệu
+ Hạn chế:
Trang 31 Máy thủy chuẩn Sokia C32 là máy thủy chuẩn cơ, nên số liệu phải ghichép lại.
Do có nhiều sai số xảy ra trong quá trình đo đạc nên việc chuyền cao
độ cần phải đo đi, đo về để có căn cứ kiểm tra độ chính xác, làm mất thêm thời giantrong khi đo
Độ phóng đại của máy thủy chuẩn thấp, dễ bị ảnh hưởng của thời tiết,ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả đo
2.3 Quy trình thực hiện các công tác thu thập dữ liệu
2.3.1 Khảo sát, thành lập lưới khống chế đo vẽ
Đo đạc thành lập lưới đường chuyền kinh vĩ
- Ta tiến hành khảo sát sơ bộ địa hình toàn tuyến bằng mắt thường để chọn điểmlưới đường chuyền
- Tiến hành thành lập lưới đường chuyền, đo lưới bằng máy toàn đạc điện tửTopcon GTS 226, sau đó về bình sai bằng phần mền bình sai ProNet (các bước bìnhsai hướng dẫn ở phần xử lý nội nghiệp)
- Dùng máy toàn đạc điện tử TOPCON GTS –226 đo, trước khi đo có kiểm tra kiểm nghiệm hiệu chỉnh theo quy phạm đo khống chế mặt bằng
- Đo góc [4]:
+ Số chênh lệch giá trị góc giữa các lần đo < 8”
+ Số chênh lệch giá trị góc giữa các nửa lần đo < 8”
+ Sai số khép về hướng mở đầu < 8”
+ Chênh giá trị hướng các lần đo đã qui “O” < 8”
+ Sai số giới hạng khép góc đường chuyền : 20” √ n (n : số góc).
- Đo cạnh [4]:
+ Số chênh giữa hai kết quả đo không vượt quá 6x10 - 6xD mm hoặc 2x
√ n mm (Trong đó D : khoảng cách, n : số lần đo).
+ Công tác xây dựng điểm gửi: Xây dựng 1điểm gởi cao độ và 5 điểm tọa
độ rải đều khắp tuyến công trình
Trang 32 Đo đạc thành lập lưới độ cao hạng kỹ thuật [4]
- Ta tiến hành thành lập lưới cao độ hạng kỹ thuật xuất phát từ mốc cao độ hạngIII
- Máy đo : Máy thủy chuẩn Sokia C32
- Đọc số đọc chỉ giữa cho mỗi lần đọc mia
- Đo 2 lần đo, đo đi và đo về để kiểm tra độ chính xác
- Chiều dài tia ngắm phụ thuộc vào thời tiết, trung bình 100 – 120m
- Số chênh khoảng cách từ máy đến 2 mia không quá 5m
- Sai số khép không được vượt quá 50x √ L mm (L : độ dài đường đo cao tínhbằng Km)
- Xuất phát từ mốc cao độ quốc gia, ta dẫn cao độ về đầu tuyến công trình và chotoàn tuyến (chuyền lên các cọc mặt cắt ngang)
2.3.2 Thu thập số liệu bình đồ hiện trạng bằng máy toàn đạc điện tử
- Ta tiến hành đo các điểm chi tiết, địa hình địa vật từ lưới đường chuyền mà ta
đã thành lập trong tuyến, từ các điểm lưới đường chuyền ta có thể phát triển thêm một
số điểm nhánh để đo toàn bộ các địa hình địa vật trong tuyến
- Một đội đo có tối thiểu 2 người, một trong hai đứng thao tác đo đạc trên máytoàn đạc, người còn lại đi gương và vẽ sơ họa tuyến do người đi gương mới thấy hếtđược địa hình địa vật quanh khu đo Sơ họa phải ghi chú chi tiết các điểm địa vật, đặcbiệt là các địa vật mà máy toàn đạc không thể hiện được
- Đo chi tiết địa hình, địa vật như: Nhà dân, trụ điện, trường học, trạm y tế, bệnhviện, cơ quan, hàng rào, giao thông, thủy hệ, biên giới, địa giới, trong khu vực tuyếncông trình
- Khi đo trong 1 trạm máy ta cần đo 2 điểm địa vật cố định, khi chuyền trạm máylên ta đo lại 2 điểm đó để kiểm tra
- Các địa vật được đo vẽ và thể hiện trên bản vẽ như sau [4]:
+ Nhà : Được thể hiện trên bản vẽ có ghi rõ loại kiến trúc
+ Các công trình công cộng : Trụ điện, đường, hố ga … ghi chú bằng ký hiệu + Cây to, vườn, ruộng, …: Ghi chú rõ từng loại trên bản vẽ
Trang 33- Các chi tiết địa hình : Được đo vẽ với mật độ điểm độ cao từ 10 đến 15m/1 điểm cho dáng đất tự nhiên, những nơi có độ cao thay đổi đột ngột (đào, đắp), đều được thể hiện lên bản vẽ
2.3.3 Thu thập số liệu mặt cắt ngang, dọc bằng máy thuỷ chuẩn
Đo mặt căt ngang (Trắc ngang)
- Tiến hành đo mặt cắt ngang trên toàn tuyến bằng máy thủy chuẩn theo phươngpháp đo cao hình học (đo cao thủy chuẩn), đo theo từng cọc đã đóng sẵn, đo bổ sungthêm một số mặt cắt có ao, mương, cống cập tuyến đường …
- Phương pháp đo cao hình học: Dựa vào tia ngắm nằm ngang của máy một loạimáy trắc địa gọi là máy bình chuẩn, để đo trực tiếp độ chênh lệch giữa hai điểm.Phương pháp này độ chính xác cao,được dùng nhiều nhất trong công tác đo độ cao
- Đo cao hình học từ giữa (thường được dùng trong khảo sát địa hình công trình)
Hình 2.1 Mô tả phương pháp đo cao hình học từ giữa
- Trong hình 2.1:
+ MTC: Mặt nước thủy chuẩn làm mốc (hệ Hòn Dấu – Hải Phòng)
+ A, B: Mia trước, mia sau vị trí đặt máy
+ a,b: Tia ngấm từ máy đến mia A và B
+ h(AB): Số chênh cao giữa mia A và B
Trang 34- Đo cao từ ngoài 2 điểm cần xác định chênh cao (trường hợp không đặt máyđược ở giữa 2 điểm hoặc tại 1 trong 2 điểm chi tiết.
- Bề rộng mặt cắt khoảng 25m tính từ mia đầu tiên đến mia cuối trên cùng mộtmặt cắt
- Các phương pháp dẩn cao độ cũng như đo Trắc Dọc công trình:
+ Phương pháp đổi chiều cao máy ở mỗi trạm đo
+ Phương pháp dùng hai máy ( 1 máy đo AB, 1 máy đo BA)
+ Phương pháp khép kín đường đo với một máy và không thay đổi chiều caomáy ở mỗi trạm đo ( tối thiểu phải có 1 điểm có cao độ và khép vòng về điểm đó)
+ Phương pháp đi một chiều với một máy và không thay đổi chiều cao máy ởmỗi trạm đo (phải có tối thiểu 2 điểm cao độ)
Cách thể hiện trắc dọc và trắc ngang
Hình 2.2 Mô tả mặt cắt dọc
Cao trình mặtđất tự nhiên (đơn
theo tuyến côngtrình (đơn vị: m)
Trang 35Hình 2.3 Mô tả mặt cắt ngang
2.4 Quy trình thực hiện các công tác xử lý nội nghiệp
2.4.1 Xử lý số liệu bằng phần mềm trút số liệu T-COM [6]
- Sau khi đo đạc thực địa, số liệu đo đạc còn lưu lại trên bộ nhớ máy toàn đạcđiện tử, ta phải chuyển số liệu đó vào máy tính thông qua chương trình T-com
- Các bước thực hiện như sau:
+ Tải về và khởi động chương trình T-com, sau đó double click vào biểutượng phần mềm T_COM nối cáp trực tiếp từ máy toàn đạc sang máy tính (hình2.4)
Hình 2.4 Biểu tượng T_COM
Đường mặt cắtngang (đơn vị: m)
Cao trình mặt
đất tự nhiên (đơn
vị: m)
Trang 36Hình 2.5 Cáp nối truyền dữ liệu từ máy toàn đạc điện tử sang máy tính+ Xuất hiện giao diện như sau:
Hình 2.6 Giao diện phần mềm T-COM