1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phép biện chứng duy vật đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay ở nước ta

22 370 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phép Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sự Nghiệp Đổi Mới Hiện Nay Ở Nước Ta
Người hướng dẫn Thầy giáo Thạc sỹ Lê Trọng Khanh
Trường học Trường Đại học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 94,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mười năm nỗ lực phấn đấu, nhất là 5 năm qua, nhân dân ta đã tạo nên những đổi mới kinh tế quan trọng. Trong khi nhịp độ tăng trưởng nhanh và vượt mức kế hoạch thì cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Và một trong những nguyên nhân để tạo nên sự tăng trưởng kinh tế là nước ta bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Phát triển quan điểm kinh tế của Đại hội VI, Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương đã khẳng định phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Việc chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần chính là để giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Không thể có các thành tựu kinh tế như vừa qua nếu không thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần. Vì thế phát triển kinh tế nhiều thành phần, mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp của bên ngoài là chiến lược đúng đắn. Chính vì tính cấp thiết và tầm quan trọng của vấn đề này đã thôi thúc em chọn đề tài "Phép biện chứng duy vật đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay ở nước ta". Em xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy cô giáo đã giúp em hiểu sâu sắc đề tài và hoàn thành bài viết này.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá hiện nay việc nghiên cứu qui

luật “Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng

sản xuất”là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới

CNXH mà chúng ta đang tiến hành hôm nay việc thưc hiện mô hình nàykhông chỉ là nội dung của cuộc đổi mới mà nó còn là công cụ,phương tiện

để nước ta đI lên xây dựng CNXH.Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội thắnglợi ở nước ta một phần phụ thuộc vào việc vận dụng tốt qui luật này

Một xã hội phát triển được đánh giá từ trình độ của lực lượng sản xuấtvới sự kết hợp hàI hoà với quan hệ sản xuất Thời đạI ngày nay tuy trình độkhoa học phát triển song qui luật này vẫn là cơ sở cho sự phát triển.Do vậyvấn đề về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển củaquan hệ sản xuất là một trong những vấn đề mà chúng ta đang quan tâmgiảI quyết Được sự hướng dẫn của thầy giáo Thạc sỹ Lê Trọng Khanh vàqua tìm hiểu một số tàI liệu sách vở em muốn đưa ra một số ý kiến về vấn

đề này.Trong bàI viết không thể tránh khỏi những sai sót mong thầy và cácbạn bỏ qua Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo và các bạn

Trang 2

PHẦN I: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ QUI LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰ C LƯỢNG SẢN XUẤT

I.LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ KẾT CẤU CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT.

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên,là kết quảcủa năng lực thực tiễn của con người Lực lượng sản xuất là cáI kết quả,cáI

đã đạt được bởi con người,là sản phẩm đã qua con người chứ không phảI lànhững cáI mà tự nhiên cho sẵn

Lực lượng sản xuất được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác.Mỗithế hệ dựa trên những lực lượng sản xuất cũ để tạo ra những lưc lượng sảnxuất mới.Lực lượng sản xuất vừa mang tính xã hội vừa do các thế hệ nốitiếp nhau tạo ra vừa do các cá nhân trong mỗi giai đoạn xã hội bảo tồn vàkhông ngừng phát triển lên

Trong mỗi giai đoạn xã hội trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện rõnhất ở công cụ lao động.Đến lượt nó,trình độ của công cụ biểu hiện ở phâncông lao động,ở năng xuất lao động.Năng xuất lao động là thước đo trình

độ của lực lượng sản xuất

*Các yếu tố của lực lượng sản xuất

1 Người lao động là yếu tố đầu tiên và chủ yếu của mọi quá trình sản xuất

Bao gồm các nhân tố :

-Nhu cầu sinh sống tự nhiên của con người.Nhu cầu thúc đẩy hoạt động

Trang 3

-Sức lao động của người lao động là sức thần kinh,sức cơ bắp mà conngười vận dụng để đIều khiển công cụ lao động như:mang,vác,đẩy,chịu tácđộng của môI trường

-Kinh nghiệm và kỹ năng lao động:là sự hiểu biết về đối tượng laođộng,tính năng và tác dụng của công cụ lao động và ít nhiều hiểu biết trongviệc sử dụng công cụ và khả năng cảI tiến công cụ

Toàn bộ các nhân tố trên kết hợp trong người lao động thành nhân tốngười lao động

2.Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động

-Tư liệu lao động có công cụ lao động và những phương tiện,vật liệukhác dùng để tăng cường,hỗ trợ cho tác động của công cụ lên đối tượngnhư:kìm búa,máy móc Tư liệu lao động là vật hay hệ thống những vật đượccon người đặt giữa mình và đối tượng lao động để truyền những tác độngcủa con người lao động lên đối tượng nhằm biến đổi chúng thành những sảnphẩm thoả mãn nhu cầu của con người.Do đó tư liệu lao động được coi làcánh tay bắp thịt,hệ thần kinh thứ hai của con người.Nó kéo dàI và tăngcường sức mạnh của khí quan con người.Tư liệu lao động do con ngườisáng tạo ra trong đó công cụ sản xuất đóng vai trò đặc biệt quan trọng trongviệc biến đổi tự nhiên

-Đối tượng lao động là toàn bộ những khách thể tự nhiên hoặc những vậtliệu tự nhiên đã được con ngươì làm biến đổi nhưng chưa thành sản phẩm.Những khách thể và vật liệu này có thể biến thành sản phẩm đáp ứng nhucầu con người và chịu sự tác động của con người.Đối tượng lao động manglạI cho con người tư liệu sinh hoạt

Trang 4

Ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trựctiếp tức là trở thành yếu tố trực tiếp của lực lượng sản xuất khác với trướcđây việc ứng dụng những thành tựu khoa học ở cách xa sản xuất

II.QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ KẾT CẤU CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT

Quan hệ sản xuất là quan hệ của con người với nhau trong quá trình sảnxuất.Đó là quan hệ tất yếu khách quan được hình thành trong quá trình sảnxuất của các cá nhân với nhau

Quan hệ sản xuất bao gồm ba mặt :

-Quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất

-Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức và phân công lao động

xã hội

-Quan hệ giữa người với người trong việc phân phối sản phẩm xã hội

*Kết cấu của quan hệ sản xuất

Ba mặt của quan hệ sản xuất có quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó quan

hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định với những mặtkhác.Trong hệ thống sản xuất xã hội người sở hữu tư liệu sản xuất quyếtđịnh quá trình phân công lao động,phân phối sản phẩm xã hội vì lợi ích củamình còn người không sở hữu thì phục tùng sự phân công nói trên

Có hai hình thức sở hữu cơ bản trong lịch sử :Sở hữu tư nhân và sở hữu

xã hội.Sở hữu tư nhân là hình thức mà trong đó một thiểu số cá nhân nhấtđịnh sở hữu đạI bộ phận những tư liệu sản xuất cơ bản của xã hội như cáchình thức sở hữu của chủ nô,phong kiến và tư sản.Trong các hình thức sởhữu này lợi ích của cá nhân chi phối quá trình sản xuất.Sở hữu xã hội làhình thức của các cá nhân liên kết thành tập thể sở hữu hoặc tư liệu sản xuấtthuoọc về mọi thành viên trong xã hội như trong xã hội cộng sản nguyên

Trang 5

thủy,các công xã thời cổ,xã hội chủ nghĩa.Trong đó sở hữu xã hội ,lợi íchtập thể ,của xã hội chi phối nền sản xuất xã hội.

Quan hệ sản xuất là biểu hiện tập trung của phương thức sản xuất,giúpphân biệt hình tháI kinh tế-xã hội này với hình tháI kinh tế-xã hội khác

III.QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TÍNH CHẤT

VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

1.Bản chất của quy luật.

LLSX và QHSX là hai mặt không tách rời nhau của phương thức sảnxuất.Chúng tác động lẫn nhau một cách biện chứng và quy định vai tròquyết định của phương thức sản xuất đối với sự hình thành và phát triển củanhững cơ cấu xã hội.Do đó mối quan hệ này được gọi là quy luật về sự phùhợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất.Quy luật này chỉ ra sự phụ thuộc tất yếu khách quan hệ sản xuất vàolực lượng sản xuất và sự tác động trở lạI của quan hệ sản xuất đối với lựclượng sản xuất.Bản chất của quy luật này là sự phù hợp của quan hệ sảnxuất với lưc lượng sản xuất

2.Tính chất và trình độ của lượng sản xuất

Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu lao động và củalao động đó chính là tính chất cá thể hay tính chất xã hội của chúng.Còntrình độ của lực lượng sản xuất là sự phát triển cảu công cụ lao động,của kỹthuật,kinh nghiệm và kỹ năng,biểu hiện thông qua quy mô,cơ cấu sảnxuất,phân công lao động.Tính chất của lực lượng sản xuất liên hệ chặt chẽvới trình độ của lực lượng sản xuất.Thí dụ như công cụ sản xuất ở trình độ

cá thể,tư nhân,lao động cũng mang tính chất cá thể Khi máy móc

Trang 6

xuất hiện thì việc sản xuất ra máy móc cũng như việc dùng nó để sản xuấtđều cần sự kết hợp lao động của nhiều cá nhân trong đó mỗi người chỉ thựchiện một khâu nào đó của quá trình sản xuất như vậy ta nói lực lượng sảnxuất đó mang tính chất xã hội.Trình độ của lực lượng sản xuất càng cao thìphân công lao động xã hội càng sâu sắc,do đó tính chất xã hội của nó càngcao.

3.Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuấtlà nội dung còn quan hệ sản xuất là hình thức trongphương thức sản xuất.Nội dung qui định hình thức

Lực lượng sản xuất là yếu tố động,cách mạng trong phương thức sảnxuất.Vì trong quá trình lao động con người không ngừng cảI tiến công cụ

do kinh nghiệm luôn được tích luỹ,do nhu cầu sản xuất không ngừng tănglên.Trong khi đó quan hệ sản xuất có khuynh hướng bảo thủ,ổn định.Donhững thay đổi của phương thức sản xuất đều bắt nguồn sâu xa từ sự biếnđổi của lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một trình

độ mới thì quan hệ sản xuất không còn phù hợp với lực lượng sản xuất nữa.Lực lượng sản xuất quyết định sự phân công lao động xã hội do đó quyếtđịnh quan hệ giữa những tập đoàn người về mặt sở hữu tư liệu sản xuấtthông qua đó quyết định quá trình tổ chức lao động xã hội và phân phối sảnphẩm

LLSX phát triển mâu thuẫn với QHSX cũ đang kìm hãm nó thì đòi hỏiphảI được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp để cho sản xuất pháttriển.Như vậy sự thay thế quan hệ sản xuất này bằng quan hệ sản xuất khác

do lực lượng sản xuất quy định chứ không phảI do quan hệ sản xuất.Khiquan hệ sản xuất mới thay thế quan hệ sản xuất cũ thì phương thức sản xuất

Trang 7

cũ sẽ bị diệt vong ,phương thức sản xuất cũ kết thúc phương thức sản xuấtmới ra đời.

4.Tác động ngược lạI của QHSX đối với LLSX

Quan hệ sản xuất không chịu sự tác động của lực lượng sản xuất mộtcách thụ động mà có tác động ngược trở lạI đối với lực lượng sản xuất.Trước hết quan hệ sản xuất là mặt không thể thiếu của phương thức sảnxuất.Lực lượng sản xuất không thể tồn tạI,phát triển ở bên ngoàI quan hệsản xuất,nó là hình thức tất nhiên của phương thức sản xuất.Quan hệ sảnxuất có thể tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm lực lượng sản xuất

Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất thì nó mở đườngcho lực lượng sản xuất phát triển bằng cách nó sắp xếp các yếu tố của lựclượng sản xuất đúng với vị trí và chức năng của chúng làm cho chúng pháthuy được hết các tính năng,tác dụng của chúng.Nhưng khi quan hệ sản xuấtkhông phù hợp với LLSX thì trở thành xiềng xích trói buộc lực lượng sảnxuất,làm cho chúng không phát huy được tác dụng Sự không phù hợp củaQHSXvới LLSXxảy ra theo hai xu hướng:vượt quá hoặc lạc hậu quá so vớilực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất xác định mục đích xã hội của nền sản xuất tức là sảnxuất được tiến hành vì lợi ích của tập đoàn xã hội nào,tổ chức sản xuất vìlợi ích nào và phân phối sản phẩm có lợi cho ai?Như thế có nghĩa là mọimặt của quan hệ sản xuất đều ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến lựclượng sản xuất rất trực tiếp

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất là quy luậtchung cơ bản của quá trình lịch sử loàI người,nó tác động trong những giaiđoạn lịch sử cơ bản của xã hội.là nguyên nhân cơ bản của sự hình thành vàphát triển ổn định của những cấu trúc kinh tế-xã hội xác đnhj tring lịchsử,đồng thời cũng là nguyên nhân của những bước chuyển cơ bản từ giaiđoạn lịch sử này sang giai đoạn lịch sử khác ;từ phương thức sản xuấtnguyên thuỷ sang phương thức chiếm hữu nô lệ,tiếp theo là phương thứcphong kiến,rồi sang tư bản chủ nghĩa cuối cùng là sang cộng sản chủ nghĩa

Trang 8

Sự tác động của quy luật này trong lịch sử đã xác định vai trò quyết địnhcủa phương thức sản xuất trong sự hình thành và phát triển của những cấutrúc xã hội nhất định.ĐIều kiện tự nhiên và dân số là những yếu tố tấtyếu,tác động đến quá trình sản xuất,tạo đIều kiện thuận lợi hoặc khó khănnhất định cho sản xuất và cũng như quá trình tồn tạI và phát triển xãhộinhưng không phảI là nhân tố quyết định.Chỉ có sự phát triển của phươngthức sản xuất mới là nhân tố quyết sự tồn tạI và phát triển của xã hội loàIngười

Trang 9

PHẦN II: QUI LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT &TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI

KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Trong công cuộc đổi mới đất nước đẩy mạnh phát triển sản xuất,cảI tạo

và xây dựng quan hệ sản xuất nhất thiết phảI gắn liền với việc nhận thức vàvận dụng quy luật “Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất’’

I.NHÌN LẠI NHỮNG SAI LẦM VỀ QUY LUẬT TRƯỚC ĐẠI HỘI ĐẢNG VI.

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển củalượng sản xuất thì lượng sản xuất phát triển thuận lợi kéo theo quan hệ sảnxuất cũng phát triển.Con người đóng vai trò tác động vào quan hệ sản xuất

và lực lượng sản xuất nhưng con người không thể tự do định hướng bất cứhình thức nào của quan hệ sản xuất mà mình muốn vì quan hệ sản xuất luônđược quy định bởi lực lượng sản xuất

Do nhận thức chưa đúng đắn về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượngsản xuất và quan hệ sản xuất trong công cuộc cảI tạo quan hệ sản xuất cũ

và xây dựng quan hệ sản xuất mới chúng ta đã ra sức vận động gần nhưcưỡng bức nông dân đI vào hợp tác xã,mở rộng phát triển qui mô nôngtrường quốc doanh ,các nhà máy,xí nghiệp lớn mà không tính đến trình độcủa lực lượng sản xuất đang còn thời kỳ thấp kém chúng ta đã tạo ra nhữngqui mô lớn và ngộ nhận là chúng ta đã có “quan hệ sản xuất XHCN”và cònnói rằng :mỗi bước cảI tiến quan hệ sản xuất cũ,xây dựng quan hệ sản xuấtmới đều thúc đẩy sự ra đời và lớn mạnh của lực lượng sản xuất mới.Quan

hệ sản xuất XHCN có khả năng “vượt trước “,”mở đường”cho sự phát triểncủa lực lượng sản xuất

Trang 10

Thực tế trong nhiều năm qua đã chứng minh quan đIểm đó là sai lầm.Sailầm chủ yếu không phảI là ở chỗ chúng ta duy trì quan hệ sản xuất lạc hậu

so với sự phát triển của lực lượng sản xuất như người ta thường nói mà chryếu đó là có những mặt của quan hệ sản xuất bị thúc đẩy leen quá cao,quá

xa một cách giả tạo làm cho nó tách rời với trình độ sản xuất thấp kém củalực lượng sản xuất Bởi vậy,nhận định trong đạI hội Đảng lần thứ VI là cócăn cứ đã làm phong phú thêm lý luận biện chứng giữa lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất đó là “Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ làtrong trường hợp quan hệ sản xuất bị lạc hậu mà ngay cả khi quan hệ sảnxuất phát triể không đồng bộ ,có những yếu tố đI quá xa so với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất”

Để chứng minh cho “quan niệm sản xuất đI trước “hoặc nói theo cáchthời bấy giờ là để giảI quyết một mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất tiên tiếnvơí lực lượng sản xuất lạc hậu chúng ta đã ra sức đẩy nhanh xây dựng lựclượng sản xuất một cách khẩn trương bằng cách đưa khá nhiều máy mócvào các cơ sở sản xuất nông nghiệp mới hình thành còn non yếu,què quặtnhằm xây dựng mô hình lâu dàI công-nông nghiệp trên địa bàn cấp huyện

mà không cần tính đến khả năng của cấp đó ,khả năng trình độ quản lý,trình

độ tổ chức sử dụng của nông dân

Thực trạng kinh tế ở nước ta với nền nông nghiệp lạc hậu thì tính tất yếuphảI cảI tạo xã hội chủ nghĩa,phát triển công nghiệp quốc doanh,côngnghiệp nặng chỉ nên coi như mục đích lâu dàI phảI tiến tới chứ không phảIcoi như một tất yếu trực tiếp phảI cảI tạo ngay.Song chúng ta đã bất chấpthực tiễn khách quan trên mà chỉ vin vào vai trò tích cực của nhân tố chínhtrị tưởng rằng nhà nước chuyên chính vô sản bằng những đường lối chínhsách và những hoạt động tích cự có thể tìm được những cách giảI quyết tốtnhất trong sản xuất và đời sống xã hội,có đủ khả năng chủ động sáng tạo ra

Trang 11

quan hệ sản xuất mới mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.Nhưngthực tế chúng ta đã không thể rút ngắn được “những cơn đau của thời kỳsinh đẻ”.Nỗi đau cứ kéo dàI.Dẫu sao cũng”không thể nhảy qua những giaiđoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xoá bỏ những giai đoạn đó “.Quan đIểm về quan hệ sản xuất đI trước là không đúng đắn và nói đếnquan hệ sản xuất XHCNlà nhấn mạnh việc xây dựng chế đọ công hữu về tưliệu sản xuất và cơ chế thực hiện chế độ đó phiến diện.Đành rằng yếu tốnày là cơ bản nhưng không thể xem nhẹ quan hệ quản lý và quan hệ phânphối.PhảI thấy rằng quan hệ sở hữu được thể hiện trong tất cả các lĩnh vựcsản xuất trao đổi,phân phối và tiêu dùng của người lao động.Ngay cả việcxoá bỏ chế độ tư hữu thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất khôngphảI chỉ là thời gian ngắn là xong.Nhưng dẫu có làm được thì cũng khôngphảI là mục tiêu trước mắt của nước ta khi mà chế độ công hữu này chưathể phù hợp với lực lượng sản xuất hiện có.Hơn nữa những thành phần kinh

tế khác có khả năng góp phần làm cho sản xuất phát triển.Một trong nhữngsai lầm cơ bản mà chúng ta đã vấp phảI là xoá bỏ quá sớm quan hệ sản xuấtTBCN,khi nền kinh tế XHCNcủa chúng ta còn chưa đủ sức thay thế.ĐIều

đó ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của lựuc lượng sản xuất và đã làmmất khả năng tạo ra sản phẩm dồi dào cho xã hội Cũng vậy,chúng ta xoásạch tiểu thương khi quan hệ thống nhất thương nghiệp quốc doanh và hợptác xã mua bán của chúng ta chưa làm nổi vai trò “người nội trợ cho xãhội”gây ra nhiều khó khăn,ách tắc cho lưu thông hàng hoá và không đápứng được nhu cầu thiết yếu cho nhân dân

Ngày đăng: 01/08/2013, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w