PHẦN MỞ ĐẦU I Lý do chọn đề tài Trong thời đại hiện nay, với sự “bùng nổ” thông tin và sự phát triển đến “chóng mặt” của khoa học công nghệ đã cho ra đời những tri thức, kỹ năng và lĩnh vực nghiên cứu mới. Tạo ra những bước ngoặt đột phá kỳ diệu trong đời sống nhân loại. Trước những đổi thay ấy, nếu con người không tự trang bị cho mình những kiến thức mới, hiểu biết mới sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu với thời cuộc và bị đào thải. Xã hội ngày càng hiện đại đòi hỏi con người luôn phải nhạy cảm với những cái mới, nhanh chóng tiếp cận nắm bắt với các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến. Chính vì vậy phải tăng cường khả năng tự học, tích cực tìm hiểu, độc lập suy nghĩ, sáng tạo cho thế hệ trẻ. Và Giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ ấy. Nước Việt Nam chúng ta là một nước đang phát triển, Giáo dục luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của cả quốc gia. Đảng và Nhà nước ta luôn xác định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Bác Hồ cũng đã chỉ rõ: “Ngày nay các cháu được cái may mắn hơn cha anh trước là được hưởng nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục làm phát triển toàn diện các năng lực sẵn có của các cháu”. Đại hội VI vừa qua, Đảng ta một lần nữa khẳng định “Chúng ta phải phấn đấu để Giáo dục và Đào tạo cùng với khoa học công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu thông qua việc đổi mới toàn diện Giáo dục và Đào tạo”. Đại hội đã xác định biện pháp cụ thể là đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy học theo hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” phát huy tối đa trí sáng tạo khả năng vận dụng thực hành của người học. Trong những năm gần đây, Bộ Gáo dục và Đào tạo nước ta đã có rất nhiều quy chế, chủ trương cho tất cả các cấp học theo phương châm “Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học …”. Đối với bậc học phổ thông đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ như việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan vào nhà trường nhằm bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, làm phong phú thêm phương pháp kiểm tra đánh giá. Đặc biệt trong năm học 20062007, hình thức kiểm tra bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan đã chính thức được áp dụng trong kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi đại học ở nhiều môn trong đó có môn vật lý. Có thể nói đây là những bước chuyển hết sức quan trọng đánh dấu sự đổi mới của Giáo dục nước ta hiện nay. Đối với bậc học đại học của chúng ta hiện nay còn có nhiều hạn chế so với các trường đại học nước bạn trên thế giới. Một trong những nguyên nhân chính là do sinh viên còn thụ động, chưa phát huy được khả năng tự học, tích cực độc lập sáng tạo của mình. Ở đại học với một lượng kiến thức sâu và rộng nên việc kiểm tra đánh giá theo phương pháp trắc nghiệm tự luận mà lâu nay chúng ta vẫn sử dụng sẽ không đem lại hiệu quả cao. Vì vậy việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan vào bậc học đại học sẽ đem lai nhiều ưu điểm giúp sinh viên thay đổi được cách học, tránh tình trạng hoc “vẹt” mà phải là học hiểu. Tuy nhiên đây là vấn đề tương đối còn mới mẻ điều này đòi hỏi chúng ta phải chuẩn bị hết sức chu đáo và cẩn thận. Một yêu cầu hết sức khó khăn của hình thức kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan là cần có một ngân hàng câu hỏi với nội dung phong phú, đa dạng và số lượng câu hỏi phải rất lớn để chuẩn bị tốt cho việc ra đề và thành lập các đề thi học phần quan trọng. Đây cũng là vấn đề trăn trở của nhiều giảng viên và sinh viên. Đặc biệt là đối với môn vật lý, là một ngành khoa học đặc thù và rất quan trọng hiện nay nhưng lượng đề trắc nghiệm khách quan ở bậc đại học của nó chưa nhiều, chưa được áp dụng rộng rãi mặc dù được rất nhiều sự quan tâm của nhiều giảng viên và giáo viên vật lý. Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó chúng tôi đã chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình là “Thiết kế xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn vật lý đại cương phần: Cơ học chất điểm”. II Mục đích nghiên cứu
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Trong thời đại hiện nay, với sự “bùng nổ” thông tin và sự phát triển đến
“chóng mặt” của khoa học công nghệ đã cho ra đời những tri thức, kỹ năng và lĩnhvực nghiên cứu mới Tạo ra những bước ngoặt đột phá kỳ diệu trong đời sống nhânloại
Trước những đổi thay ấy, nếu con người không tự trang bị cho mình nhữngkiến thức mới, hiểu biết mới sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu với thời cuộc và bị đàothải Xã hội ngày càng hiện đại đòi hỏi con người luôn phải nhạy cảm với những cáimới, nhanh chóng tiếp cận nắm bắt với các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến.Chính vì vậy phải tăng cường khả năng tự học, tích cực tìm hiểu, độc lập suy nghĩ,sáng tạo cho thế hệ trẻ Và Giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thựchiện nhiệm vụ ấy
Nước Việt Nam chúng ta là một nước đang phát triển, Giáo dục luôn là mộttrong những mối quan tâm hàng đầu của cả quốc gia Đảng và Nhà nước ta luôn xácđịnh: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” Bác Hồ cũng đã chỉ rõ: “Ngàynay các cháu được cái may mắn hơn cha anh trước là được hưởng nền giáo dục củamột nước độc lập, một nền giáo dục làm phát triển toàn diện các năng lực sẵn có củacác cháu” Đại hội VI vừa qua, Đảng ta một lần nữa khẳng định “Chúng ta phải phấnđấu để Giáo dục và Đào tạo cùng với khoa học công nghệ thực sự là quốc sách hàngđầu thông qua việc đổi mới toàn diện Giáo dục và Đào tạo” Đại hội đã xác địnhbiện pháp cụ thể là đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy học theohướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” phát huy tối đa trí sáng tạo khả năngvận dụng thực hành của người học
Trong những năm gần đây, Bộ Gáo dục và Đào tạo nước ta đã có rất nhiều quychế, chủ trương cho tất cả các cấp học theo phương châm “Đổi mới phương phápdạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học …” Đối với bậc học phổ thông đã cónhững bước chuyển biến mạnh mẽ như việc áp dụng phương pháp trắc nghiệmkhách quan vào nhà trường nhằm bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo,năng lực giải quyết vấn đề, làm phong phú thêm phương pháp kiểm tra đánh giá.Đặc biệt trong năm học 2006-2007, hình thức kiểm tra bằng câu hỏi trắc nghiệm
Trang 2khách quan đã chính thức được áp dụng trong kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi đại học
ở nhiều môn trong đó có môn vật lý Có thể nói đây là những bước chuyển hết sứcquan trọng đánh dấu sự đổi mới của Giáo dục nước ta hiện nay
Đối với bậc học đại học của chúng ta hiện nay còn có nhiều hạn chế so với cáctrường đại học nước bạn trên thế giới Một trong những nguyên nhân chính là dosinh viên còn thụ động, chưa phát huy được khả năng tự học, tích cực độc lập sángtạo của mình Ở đại học với một lượng kiến thức sâu và rộng nên việc kiểm tra đánhgiá theo phương pháp trắc nghiệm tự luận mà lâu nay chúng ta vẫn sử dụng sẽkhông đem lại hiệu quả cao Vì vậy việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm kháchquan vào bậc học đại học sẽ đem lai nhiều ưu điểm giúp sinh viên thay đổi đượccách học, tránh tình trạng hoc “vẹt” mà phải là học hiểu Tuy nhiên đây là vấn đềtương đối còn mới mẻ điều này đòi hỏi chúng ta phải chuẩn bị hết sức chu đáo vàcẩn thận Một yêu cầu hết sức khó khăn của hình thức kiểm tra đánh giá bằng trắcnghiệm khách quan là cần có một ngân hàng câu hỏi với nội dung phong phú, đadạng và số lượng câu hỏi phải rất lớn để chuẩn bị tốt cho việc ra đề và thành lập các
đề thi học phần quan trọng Đây cũng là vấn đề trăn trở của nhiều giảng viên và sinhviên Đặc biệt là đối với môn vật lý, là một ngành khoa học đặc thù và rất quan trọnghiện nay nhưng lượng đề trắc nghiệm khách quan ở bậc đại học của nó chưa nhiều,chưa được áp dụng rộng rãi mặc dù được rất nhiều sự quan tâm của nhiều giảng viên
và giáo viên vật lý
Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó chúng tôi đã chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp
của mình là “Thiết kế xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn vật lý đại cương phần: Cơ học chất điểm”.
II Mục đích nghiên cứu
Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn vật lý đại cương phần “cơhọc chất điểm”, nhằm phục vụ cho việc ôn tập, kiểm tra đánh giá kết quả học tập củasinh viên theo hướng đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập
III Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp trắc nghiệm nói chung và trắcnghiệm khách quan nói riêng
- Nghiên cứu nội dung chương trình vật lý đại cương để nắm vững mục đích,
Trang 3- Dựa trên cơ sở lý luận đó thiết kế bộ câu hỏi kiểm tra trắc nghiệm khách quandành cho môn vật lý đai cương phần: “cơ học chất điểm”.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở sinh viên, phân tích thống kê hệ thống câuhỏi đã xây dựng được nhằm đánh giá độ tin cậy, tính khả thi của bộ câu hỏi trongviệc sử dụng cho quá trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên
IV Đối tượng nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của phương pháp trắc ieemriệm
- Kỹ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn vật lý
- Thực tiễn quá trình thực nghiệm sư phạm ở trường đại học
V Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích thống kê
- Tiến hành thực hiện phân tích kết quả thực nghiệm thu được dựa vào phươngpháp thống kê lôgíc bằng máy tính
VI Giới hạn đề tài
Để nâng cao tính hiệu quả của quá trình nghiên cứu trong khoá luận này chúngtôi chỉ tập trung nghiên cứu và thực hiện thiết kế bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quancho phần: “cơ học chất điểm” theo chương trình vật lý đại cương
VII Tổng quan khoá luận
Chương I: Tổng quan về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Chương II: Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan phần: “cơ học chất
điểm”
Chương III: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH I.1 KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP LÀ GÌ?
Đánh giá theo nghĩa rộng là nhằm đưa ra nhận xét về giá trị của một sự việc,
sự vật hiện tượng nào đó Nó bao gồm tổng hợp các quá trình thu nhập thông tin, xử
lý thông tin và sử dụng thông tin đó nhằm đạt tới một mục đích nhất định
Đánh giá kết quả học tập của học sinh là để thu thập tín hiệu ngược phản ánhchất lượng và hiệu quả dạy học để kịp thời điều chỉnh và củng cố tri thức tạo điềukiện phát triển trí tuệ toàn diện cho học sinh Đánh giá kết quả học tập của học sinh
là cơ sở để đề ra mục tiêu, nội dung, phương pháp và chủ trương hành động tiếptheo của Giáo dục
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh có nhiều hình thức:
Nếu phân loại theo thời gian kiểm tra: ta có thể phân thành 3 hình thức nhưsau:
- Kiểm tra thường xuyên (hàng ngày)
- Kiểm tra định kỳ: có thể được tiến hành sau khi kết thúc một chương, mộtphần của chương trình hoặc một học kỳ
- Kiểm tra tổng kết, thi tốt nghiệp, thi hết cấp: được thực hiện vào cuối nămhọc, cuối học phần cuối giáo trình
Phân loại theo nguồn thông tin thu được ta có thể chia làm 3 hình thức:
- Kiểm tra miệng
- Kiểm tra viết
- Làm sáng tỏ mức độ đạt và chưa đạt về các mục tiêu dạy học của học sinh sovới yêu cầu đề ra
Trang 6- Công khai kết quả, năng lực học tập của học sinh, của tập thể tạo cơ hội đểhọc sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra những tiến bộ, ưuđiểm của bản thân từ đó khuyến khích học sinh phát huy.
- Giúp giáo viên có cơ sở nhận ra ưu, khuyết điểm để tự điều chỉnh và hoànthiện quá trình dạy học của mình
I.2.2 Chức năng của việc kiểm tra đánh giá
Từ quan điểm về kiểm tra đánh giá có thể phân biệt các chức năng khác nhaucủa kiểm tra đánh giá tuỳ vào mục đích khác nhau Theo Trần Bá Hoành thì kiểm trađánh giá có ba chức năng chính:
I.2.3 Yêu cầu
Để việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh đem lại hiệu quả caothì đề thi hay đề kiểm tra phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Khách quan: việc kiểm tra, đánh giá phải diễn ra khách quan và chính xác tớimức độ tối đa có thể, sát với hoàn cảnh, phù hợp với điều kiện dạy và học, tránhnhững nhận định chủ quan, áp đặt cá nhân thiếu căn cứ
- Toàn diện: dựa và mục tiêu, nội dung của môn học để tiến hành kiểm trađánh giá một cách đầy đủ và toàn diện, tránh tình trạng học sinh phải học tủ và họclệch
- Hệ thống: kiểm tra đánh giá phải thực hiện theo kế hoạch và có hệ thống
- Công khai: đó là công khai đáp án, thang điểm, kết quả, thời gian và tiêu chíđánh giá trước khi bắt đầu khoá học, kỳ học, quý học
- Tính phân hoá: kết quả kiểm tra phải phản ánh được trình độ học sinh, phânhoá được nhiều đối tượng học sinh khác nhau
Trang 7- Xác định mục tiêu đánh giá và tiêu chuẩn cần đạt được.
- Thu thập thông tin, số liêu
- Tổ chức sắp xếp phân loại số liệu
- Phân tích số liệu
- Báo cáo kết quả để rút ra các kết luận cần thiết
I.3 NGUYÊN TẮC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
I.3.1 Nguyên tắc tổng quát
- Xác định rõ mục tiêu đánh giá Tiến hành đánh giá phải theo mục tiêu
- Qúa trình đánh giá phải được tiến hành dưới nhiều hình thức để có giá trịtổng hợp, tổng quát nhất
- Xác định được những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử dụng đúng vàhiệu quả Lưu ý đánh giá là phương tiện để đi đến mục đích chứ bản thân nó khôngphải là mục đích
I.3.2 Nguyên tắc cụ thể
- Đánh giá phải gắn với việc học tập của học sinh
- Đánh giá phải kèm theo nhận xét để học sinh biết những sai sót của mình.Giáo viên cần rút kinh nghiệm cho bản thân
- Trong đánh giá nên sử dụng nhiều phương pháp và hình thức trắc nghiệmkhác nhau để tăng độ tin cậy và độ chính xác
- Khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình đánh giá
- Phải thông báo rõ ràng các loại hình câu hỏi kiểm tra Quá trình đánh giá phảidựa trên cơ sở của phương pháp dạy học
- Qúa trình kiểm tra đánh giá phải được tiến hành trong hoàn cảnh thoải mái,học sinh tự nguyện, không lo lắng và sợ sệt
- Các câu hỏi và câu trả lời phải rõ ràng và chắc chắn, không nên phụ thuộchoàn toàn vào bộ câu hỏi
I.4 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM
I.4.1 Trắc nghiệm là gì?
Theo Dương Thiệu Tống “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức hệthống đo lường một mẫu động thái để trả lời cho câu hỏi” “Thành tích của cá nhânnhư thế nào so với những người khác hay so với một lĩnh vực các nhiệm vụ học tậpđược dự kiến” Theo Lâm Quang Thiệp “ Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt
Trang 8động được thực hiện để đo lường các năng lực của một đối tượng nào đó nhằmnhững mục đích xác định”.
Như vậy có thể nói rằng trắc nghiệm là phương pháp kiểm tra mà trong đó đềthi thường gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thôngtin cần thiết sao cho thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt đối với từng câu Nó là một loạihình phương pháp được thực hiện để đo lường năng lực người học, xác định mộthiện trạng, khả năng hay nguyên nhân nào đó một cách khách quan nhằm nhữngmục đích xác định
I.4.2 Mục đích của trắc nghiệm
Một bài trắc nghiệm có thể phục vụ cho nhiều mục đích nhưng bài trắc nghiệm
có ích và hiệu quả nhất khi nó được soạn thảo để nhằm phục vụ một mục đíchchuyên biệt nào đó Mục đích đó có thể là xác định học sinh đã nắm vững kiến thứcđến mức độ nào, hoặc để cho điểm và xếp hạng học sinh sau một quá trình học giúpcho học sinh học tốt hơn
Các điểm số trắc nghiệm cung cấp thông tin về trình độ hiện đại của sự pháttriển là cần thiết để lên kế hoạch cho các quá trình học tập tiếp theo Một điểm sốtrắc nghiệm, cùng với nhiều thông tin khác có thể giúp học sinh xác định được mức
độ thành công của mình ở các bậc học cao hơn
Không nên tiến hành trắc nghiệm trừ phi có một kế hoạch dùng các điểm này
để hoàn thiện chương trình dạy học Chúng không phải là một thứ hàng trưng bàyngoài tủ kính và không nên tiến hành chỉ vì công chúng muốn nhà trường có mộtchương trình trắc nghiệm Nhiều khi người ta tiến hành các bài trắc nghiệm, chấmđiểm, vào sổ rồi quên đi
Tuy nhiên dù trắc nghiệm được sử dụng cho mục đích nào thì đo lường thànhquả học tập cũng cần được hiểu như là đo lường mức độ đạt đến các mục tiêu giảngdạy Vì vậy nội dung cấu trúc của một bài trắc nghiệm phải được đặt trên cơ sở củamục đích dạy học của mình thì mới soạn thảo bài trắc nghiệm có giá trị
I.4.3 Các phương pháp trắc nghiệm trong dạy học
I.4.3.1 Phân loại
Trắc nghiệm được phân thành nhiều loại khác nhau tuỳ thuộc vào mục đíchkhảo sát như: Trắc nghiệm thông minh, trắc nghiệm sở thích….Trong trường học
Trang 9các môn học gọi là trắc nghiệm thành tích học sinh Có 3 loại trắc nghiệm đó là: vấnđáp, quan sát và viết được sơ đồ hoá như sau:
Theo mục đích của khoá luận này chúng tôi không tập trung vào phương phápkiểm tra viết mà chủ yếu nghiên cứu đó là phương pháp kiểm tra viết bằng trắcnghiệm khách quan và kỹ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm tự luận (TNTL) và trắc nghiệm khách quan (TNKQ) là nhữngphương tiện kiểm tra khả năng học tập của học sinh và đều là trắc nghiệm
Trắc nghiệm tự luận là hình thức rất quen thuộc với đông đảo giáo viên Loạicâu hỏi trắc nghiệm tự luận hay luận đề là những câu hỏi có câu trả lời tự do hay trảlời có giới hạn Học sinh có thể trả lời bằng một bài viết mô tả, phân tích, chứngminh và giải thích Họ được tự do diễn đạt, trình bày tư tưởng, suy nghĩ và cả
Trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm tự luậnCác phương pháp trắc nghiệm
Tự diễn đạt Tóm tắt Đoạn vănTiểu luận
Trang 10phương pháp của mình nên phát huy được óc sáng tạo và suy luận, rèn luyện cho các
em khả năng trình bày vấn đề một cách đầy đủ, lôgíc khoa học và phát triển lý luận.Bài kiểm tra trắc nghiệm tự luận do giáo viên chấm trên cơ sở phân tích bài làm củahọc sinh, đối chiếu với yêu cầu của vấn đề Trắc nghiệm tự luận cho phép có một sự
tự do tương đối nào đó để trả lời một vấn đề được đặt ra, nhưng đồng thời lại đòi hỏihọc sinh phải nhớ lại hơn là nhận biết thông tin, và phải biết sắp xếp và diễn đạt ýkiến của họ một cách chính xác, sáng sủa Bài trắc nghiệm tự luận trong một chừngmực nào đó được chấm điểm một cách chủ quan và các điểm cho bởi những ngườichấm khác nhau có thể không thống nhất
Trắc nghiệm khách quan thường nhiều câu hỏi có tính chuyên biệt Các câu hỏitrắc nghiệm khách quan thường ngắn gọn và đòi hỏi các câu trả lời ngắn, đơn giảnhoặc học sinh có thể lựa chọn phương án trả lời dựa trên những gợi ý có sẵn Có thểnói trong suốt quá trình làm bài trắc nghiệm khách quan học sinh dùng thời gian chủyếu để đọc và suy nghĩ mà không mất nhiều thời gian để trình bày đáp án Đây cũng
là điểm nổi bật của trắc nghiệm khách quan Việc chấm bài không phụ thuộc vàongười chấm
I.4.3.2 So sánh trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Các tiêu chí so sánh:
- Đo kết quả học tập theo nguyên tắc phân loại nắm vững tri thức kỹ năng vậndụng tri thức
- Phạm vi bao trùm nội dung tri thức, kỹ năng
- Những ảnh hưởng đối với học sinh
- Ảnh hưởng đối với giáo viên
Trang 11dung tri thức, kỹ năng.
3 Ảnh hưởng đối với học
- Đánh giá được tư duytrừu tượng, khả năng diễnđạt, tư duy sáng tạo, thái
- Trau dồi khả năng diễnđạt ý tưởng của học sinh
- Phát huy được tư duysáng tạo của học sinh cónhiều ý tưởng và cách giảihay
- Dễ soạn đề thi vì cần ítcâu hỏi
- Có khả năng đưa ra
- Đánh giá được khảnăng suy luận, giảiquyết vấn đề ở mức trílực cao hơn
- Đánh giá được tri thức,khả năng vận dụng tríthức của học sinh
- Có thể đo được cácloại trình độ
- Cho phép khảo sát một
số kiến thức rộng rãi,bao quát hơn, mỗi bàithi bao gồm nhiều câuhỏi bao trùm nội dungchương trình
- Học sinh thu thập đượcnhiều sự kiện, kiến thứctoàn diện
- Phát huy khả năngnhớ, hiểu, phản xạnhanh, tránh tình trạnghọc “vẹt” học “tủ”
- Tốn nhiều thời giancho việc ra đề vì cầnnhiều câu hỏi
Trang 12những câu hỏi có nội dungbao quát để phát triển óc
tư duy, sáng tạo, lý luậncủa học sinh
- Có điều kiện đánh giá kỹnăng, diễn đạt, thái độ
- Bao phủ nội dung bàihọc, chương trình mônhọc
- Khách quan, đơn giản,
độ tin cậy cao
- Áp dụng cộng nghệmới khi chấm điểm
Trang 13Về hạn chế của hai phương pháp
1 Khả năng nắm vững tri
thức, kỹ năng vận dụng tri
thức
2 Phạm vi bao trùm nội
dung tri thức, kỹ năng
3 Ảnh hưởng đối với học
- Khó đo lường kiến thức
về những sự kiện hữuhiệu
- Vì số lượng câu hỏi ítnên khó bao quát hết nộidung chương trình
- Kết quả chấm thi phụthuộc vào chủ quan ngườichấm
- Phụ thuộc vào kỹ năngvăn chương, diễn đạt ýtưởng của mình
- Tốn thời gian khi chấmbài
- Không có cơ hội nhậnthức được tri thức, kỹnăng của học sinh mộtcách đầy đủ theo các cấp
độ của mục tiêu
- Khó đánh giá được thái
độ, kỹ năng diễn đạt,khả năng tính toán
- Không đánh giá được
ở mức độ cao của quátrình tư duy sáng tạo
- Không đánh giá đượchọc sinh có cách giảihay phương án mới làmcho học sinh khó chịu
- Khuyến khích sự đoán
mò Có yếu tố của sựmay rủi
- Học sinh tốn nhiều thờigian để đọc câu hỏi
- Tốn kém kinh phí insao
- Khó soạn được một bộcâu hỏi có độ tin cậy và
độ giá trị cao
Trang 14I.5 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN I.5.1 Loại câu hỏi có nhiều lựa chọn MCQ
Cấu trúc của câu hỏi MCQ gồm có hai phần: Phần đầu được gọi là phần dẫn vàphần sau là phần lựa chọn
Phần dẫn (hay còn gọi là phần gốc) dùng để nêu ra vấn đề, cung cấp thông tincần thiết hoặc nêu lên một câu hỏi
Phần lựa chọn gồm 4 hoặc 5 phương án để lựa chọn, thường được đánh dấubằng các chữ cái A, B, C, D ….hoặc các con số 1, 2, 3, 4 … Trong các phương án đểchọn chỉ có một phương án đúng hoặc một phương án đúng nhất, các phướng ánkhác đưa vào có tác dụng “gây nhiễu” hay câu mồi Các câu mồi (nhiễu) phải lànhững câu sai nhưng trông có vẻ đúng, có vẻ hợp lý thu hút sự lựa chọn của học sinh
có năng lực kém, còn đối với học sinh khá giỏi thì nó chỉ có tác dụng như câu nhiễu
mà thôi Điều quan trọng là làm sao cho các câu mồi ấy đều hấp dẫn ngang nhau đốivới học sinh kém
Với nhiều câu và nhiều phương án trả lời cho mỗi câu, có thể kiểm tra đánh giáđược nhiều mục tiêu dạy học cụ thể về kiến thức, kỹ năng môn vật lý
Độ tin cậy và độ giá trị cao Yếu tố đoán mò giảm và có thể đánh giá được họcsinh theo nhiều mức độ khác nhau
Có thể phân tích được tính chất mỗi câu hỏi, xác định được những câu dễ, câukhó, câu không có giá trị đối với các mục tiêu cần đánh giá
Kết quả bài thi trắc nghiệm không phụ thuộc vào chủ quan người chấm, khôngphụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt Học sinh có thể xét đoán và phân biệt kỹcàng khi trả lời, do đó kích thích được sự tò mò và tư duy của học sinh
Tuy nhiên: Khó soạn câu hỏi hay, học sinh có thể không thoả mãn hoặc thấykhó chịu khi tìm ra được câu hỏi hay hơn đáp án Không đo được khả năng tư duy,trình bày diễn đạt của học sinh
I.5.2 Loại câu hỏi ghép đôi
Câu hỏi ghép đôi bao gồm hai dãy thông tin gồm những từ, cụm từ, biểuthức… hay những câu Dựa trên một hệ thức tiêu chuẩn đã định trước, học sinh sẽghép những từ, cụm từ, biểu thức hay những câu của dãy này với các phần tử tươngứng: từ, cụm từ, biểu thức … hay những câu của dãy kia
Trang 15Số phần tử của hai dãy có thể bằng nhau hoặc khác nhau và cũng có thể mộtphần tử trong một dãy được dùng nhiều lần hoặc không dùng lần nào.
Câu hỏi ghép đôi, dễ viết, dễ dùng, thích hợp khi cần thẩm định các mục tiêu ởmức độ nhận thức thấp
Yếu tố đoán mò giảm đi nhiều nhất là khi phải ghép những cột có ít nhất là 8đến 10 phần tử với nhau
Người ta thường dùng câu hỏi ghép đôi để đo các mức tư duy khác nhau Loạighép đôi thường được xem là hữu hiệu nhất trong việc đánh giá khả năng nhận biếtcác hệ thức hay lập những mối tương quan
Thực tế cho thấy học sinh phổ thông rất thích loại trắc nghiệm ghép đôi So vớinhiều loại trắc nghiệm khác thì loại này ít tốn giấy in hơn khi in
Tuy nhiên: Muốn soạn câu hỏi để đo các mức kiến thức cao đòi hỏi nhiều côngphu Trắc nghiệm loại ghép đôi cũng không thích hợp cho việc thẩm định các khảnăng như sắp đặt, áp dụng kiến thức nguyên lý
Nếu danh sách trong mỗi cột dài thì đòi hỏi học sinh mất nhiều thời gian đểđọc hết cả cột
I.5.3 Loại câu hỏi “Đúng- Sai”
Loại này gồm một câu phát biểu để học sinh phải trả lời bằng cách lựa chọnĐúng hay Sai Cũng có thể thay chữ “Đúng-Sai” bằng chữ “giống nhau-khác nhau”,
“mạnh-yếu”, “lớn hơn-bằng nhau-nhỏ hơn”
Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện,giúp cho việc trắc nghiệm bao gồm một lĩnh vực rộng lớn trong khoảng thời giantương đối ít ỏi
Mặc dù việc soạn câu hỏi “Đúng-Sai” cũng công phu nhưng giáo viên có thểsoạn được nhiều câu trong một khoảng thời gian ngắn
Đối với loại câu hỏi này học sinh có thể chọn một trong các câu trả lời có sẵn
và đạt tính khách quan khi chấm thi
Bên cạnh đó loại câu hỏi này lại khuyến khích sự đoán mò có khuynh hướngmay rủi
Khó dùng để thẩm định yếu điểm của học sinh Các đáp án đưa ra có thể cónhiều quan điểm, phải xác định rõ ràng tác giả, sự kiện tư tưởng
Trang 16Câu hỏi “Đúng-Sai” có độ tin cậy thấp Giáo viên thường thích dẫn những câunguyên văn trong sách do đó là cho học sinh có thói quen học thuộc lòng, học “vẹt”.Việc phải lựa chọn giữa đúng và sai có thể làm các học sinh giỏi khó chịu haythất vọng khi họ thấy cần phải có điều kiện rõ ràng mới quyết định xem câu phátbiểu đúng hay sai, hoặc có thể có những trường hợp ngoại lệ chứ không phải chỉ cóhoàn toàn đúng hoặc sai.
Những câu phát biểu sai mà được trình bày như là đúng có thể khiến học sinhhọc những điều sai một cách vô ý thức
I.5.4 Loại câu hỏi điền khuyết hay có câu trả lời ngắn
Loại trắc nghiệm điền khuyết hay trắc nghiệm có câu trả lời ngắn thực ra làmột, nó chỉ khác nhau về hình thức trình bày
Nếu được trình bày dưới dạng câu hỏi gọi là loại có câu trả lời ngắn Nếu đượctrình bày dưới dạng một câu phát biểu chưa đầy đủ gọi là điền khuyết
Nói chung đây là loại trắc nghiệm khách quan có câu trả lời tự do Gần đây,các nhà nghiên cứu trắc nghiệm thường xen vào bài trắc nghiệm những câu hỏithuộc loại trắc nghiệm điền khuyết hay câu trả lời ngắn nhằm khảo sát mức độ tưduy sáng tạo của học sinh
Như vậy, loại trắc nghiệm này không hoàn toàn khách quan nữa vì có yếu tốchủ quan xen vào Hình thức này được xem như là sự phối hợp giữa trắc nghiệmkhách quan và trắc nghiệm tự luận Loại câu hỏi này đang được nghiên cứu và thửnghiệm, nên vẫn được áp dụng rộng rãi Theo nguyên tắc, không nên sử dụng loạicâu hỏi này trong bài trắc nghiệm khách quan, nhưng vì câu trả lời ngắn và cách chođiểm khách quan hơn so với trắc nghiệm tự luận nên có thể xem như câu hỏi trắcnghiệm khách quan
Đối với loại trắc nghiệm này học sinh có cơ hội trình bày những câu trả lờikhác, thường phát huy tính tư duy sáng tạo
Phương pháp chấm điểm nhanh hơn và đáng tin cậy hơn so với loại luận đềmặc dù việc cho điểm có phần rắc rối hơn so với loại trắc nghiệm khách quan khác.Học sinh không thể đoán mò câu trả lời mà phải nhớ, nghĩ ra câu trả lời hay vàchọn câu trả lời đúng trong số các câu cho sẵn
Loại câu hỏi này dễ soạn hơn so với loại câu hỏi ghép đôi và loại nhiều lựa
Trang 17có câu trả lời ngắn nên số câu hỏi nhiều hơn trong thời gian có hạn so với luận đề.
Do đó trắc nghiệm điền khuyết có độ tin cậy cao và việc chấm điểm khách quan.Loại này giúp học sinh rèn luyện trí nhớ, thích hợp với những vấn đề như: tínhtoán, cân bằng phương trình hoá, đánh giá mức độ hiểu biết các nguyên lý, giải thích
Nhiều câu hỏi loại điền khuyết ngắn và gọn có khuynh hướng đề cập các vấn
đề không quan trọng, không liên quan nhau Phạm vi kiểm soát thường chỉ giới hạnvào các chi tiết, các sự kiện vụn vặt
Việc chấm bài mất nhiều thời gian, khi có nhiều chỗ trống trong một câu hỏilàm cho học sinh rối trí Kết quả là điểm số có độ tương quan cao với mức thôngminh hơn là với kết quả học tập
Do đáp án có thể có nhiều chỗ trống làm cho đáp án đề thi có phần xê dịch.Giáo viên có thể cho điểm một phần hay trên toàn phần khác so với đáp án Do đóthiếu yếu tố khách quan lúc chấm
I.6 NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ KHUYẾT ĐIỂM CỦA TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN I.6.1 Những ưu điểm
- Trắc nghiệm khách quan có thể giúp chúng ta khảo sát một số kiến thức rộngrãi, cho phép đánh giá được nhiều mục tiêu giáo dục khác nhau của hầu hết các mônhọc trong chương trình
- Trong một thời gian ngắn nhưng kiểm tra được nhiều kiến thức, với tài khéoléo của người soạn câu hỏi, loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan cũng có thể dùngthẩm định các khả năng suy luận, giải quyết vấn đề
- Do số lượng câu hỏi trong một bài trắc nghiệm nhiều nên dễ phân bố đềukhắp các chương của môn học, buộc học sinh phải tự giác học kỹ tất cả các nội dungkiến thức và tránh được tình trạng học lệch, học tủ Học sinh không chỉ bao quátchương trình mà phải hiểu sâu các vấn đề của môn học
- Thời gian làm một câu ngắn nên hạn chế việc quay cóp, sử dụng tài liệu
Trang 18- Khi làm bài trắc nghiệm khách quan sẽ rèn luyện cho học sinh kỹ năng nhanhnhẹn, phát triển tư duy học sinh.
- Kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan sẽ ít tốn công khi chấm thi, kháchquan khi chấm thi
- Có thể sử dụng toán thống kê để phân tích kết quả kiểm tra, độ tin cậy của đề
- Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin có thể đưa ra nhiều đề thi cùng nộidung Có thể dùng máy chấm bài thi, do đó tạo được độ tin cậy và chính xác cao
I.6.2 Khuyết điểm của trắc nghiệm khách quan
- Khuyến khích sự đoán mò Học sinh có thể đoán mò câu trả lời trên một bàitrắc nghiệm khách quan
- Trắc nghiệm khách quan chỉ đòi hỏi người học nhận ra thay vì nhớ thông tin.Học sinh chỉ nhận ra những gì đã học qua các câu trả lời cho sẵn, thay vì nhớ cácthông tin ấy và viết ra trên giấy
- Trắc nghiệm khách quan không khảo sát mức độ cao của các quá trình tư duy
và khả năng sáng tạo vì trắc nghiệm khách quan gồm những câu hỏi với câu trả lờicho sẵn mà thí sinh chỉ việc lựa chọn
- Với đặc thù của trắc nghiệm khách quan đòi hỏi người soạn phải mất nhiềuthời gian và khó khăn để đưa ra những đáp án hay và câu trắc nghiệm khách quanđúng chuẩn
- Không rèn luyện được cho học sinh khả năng diễn đạt, trình bày ý tưởng củamình
I.6.3 Khi nào nên sử dụng trắc nghiệm khách quan và kết hợp giữa trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
Trắc nghiệm khách quan có thể sử dụng trong các trường hợp sau đây:
- Khi ta cần khảo sát thành quả học tập của một số đông học sinh, hay muốnbài khảo sát ấy có thể được sử dụng lại vào một lúc khác
- Khi ta muốn có những điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào chủ quanngười chấm bài
- Khi các yếu tố công bằng, vô tư, chính xác là những yếu tố quan trọng nhấtcủa việc thi cử
- Khi ta có nhiều câu trắc nghiệm tốt đã được dự trữ sẵn để có thể lựa chọn và
Trang 19- Khi muốn ngăn ngừa nạn học tủ, học vẹt và gian lận thi cử.
Sự kết hợp giữa trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận cũng là mộttrong những lựa chọn của nhiều giáo viên Cả trắc nghiệm khách quan và trắcnghiệm tự luận đều có thể sử dụng để:
- Đo lường mọi thành quả học tập mà một bài khảo sát viết có thể đo lườngđược
- Khảo sát khả năng hiểu và áp dụng các nguyên lý
- Khảo sát khả năng suy nghĩ có phê phán
- Khảo sát khả năng giải quyết các vấn đề mới
- Khảo sát khả năng lựa chọn những khả năng thích hợp và nguyên tắc để phốihợp chúng lại với nhau nhằm giải quyết những vấn đề phức tạp
Do hạn chế về thời gian và số lượng câu hỏi sẽ giúp học sinh rèn luyện khảnăng tư duy, tốc độ phản ứng nhanh trước các sự kiện, kiến thức Học sinh phải biết
tự tạo ra phương pháp học tập cho mình để đạt được kết quả tốt nhất trong quá trìnhlàm bài kiểm tra đánh giá
Với việc tự mình có thể kiểm tra đánh giá tạo cho học sinh sự hứng thú, hamhọc hỏi và tìm tòi khám phá
Với một lượng câu hỏi nhiều, kiến thức rộng sẽ tránh cho học sinh tình trạnghọc tủ học vẹt Nhờ vào việc xáo trộn đề thi, chúng ta sẽ có một số lượng đề thi rấtlớn, tránh cho học sinh tình trạng quay cóp tạo ra được sự khách quan và độ tin cậycao của kết quả
I.8 QUY TRÌNH THIẾT KẾ VÀ SOẠN THẢO ĐỀ TRẮC NGHIỆM MÔN VẬT LÝ
I.8.1 Xác định mục đích, mục tiêu và nội dung của đề trắc nghiệm
Trang 20a, Mục đích của đề trắc nghiệm
Dù đề trắc nghiệm có thể phục vụ cho nhiều mục đích hay chỉ biên soạn chomột mục đích nào đó thì người giáo viên biên soạn phải biết rõ mục đích của mìnhmới soạn thảo được bài trắc nghiệm có giá trị và chính mục đích này sẽ chi phối nộidung, hình thức bài trắc nghiệm mà mình dự kiến soạn thảo
b, Mục tiêu của đề trắc nghiệm
Khi xác định mục tiêu của đề trắc nghiệm thì giáo viên phải căn cứ bám sátmục tiêu dạy học Giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau Mục tiêu của bàitrắc nghiệm không thể là bản sao của mục tiêu dạy học nhưng có thể là bản thu nhỏcủa chúng
Khi soạn đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của môn, giáo viên cần phải căn
cứ và bám sát vào mục tiêu môn học của chương trình và sách giáo khoa môn vật lý
mà soạn thảo
c, Nội dung của đề trắc nghiệm
Căn cứ vào mục đích, mục tiêu đã đề ra người soạn thảo sẽ xác định nội dungcần kiểm tra một cách chính xác cụ thể
I.8.2 Thiết lập ma trận hai chiều
Ma trận hai chiều là một bảng gồm có hai chiều với một chiều (ngang hay dọc)biểu thị cho nội dung kiến thức còn chiều kia biểu thị các mức độ tư duy, mức độ nhận thức mà bài trắc nghiệm muốn khảo sát
Nếu không dựa vào ma trận thì việc biên soạn câu hỏi sẽ rơi vào những sai phạm:Qúa coi trọng hay xem nhẹ phần này hay phần khác, thiếu sự cân đối trongviệc khảo sát các mức độ của tư duy, ghi nhớ, thuộc lòng, vận dụng…
Các mức độ nhận thức của học sinh trung học phổ thông thường được đánhgiá theo thang phân loại của Bloom:
1 Biết: Là khả năng ghi nhớ hoặc nhận ra khái niệm, các định nghĩa … hoặcnguyên tắc cấu tạo và hoạt động của các máy móc thiết bị mà các em đã học ở sáchgiáo khoa, trong lớp học, ngoài thực tế
2 Hiểu: Là khả năng học sinh nắm được ý nghĩa, bản chất vật lý của kháiniệm, định luật vật lý, các nguyên lý kỹ thuật, mối liên hệ giữa các phần, các thiết bịmáy móc…
Trang 213 Áp dụng: Là khả năng vận dụng những kiến thức đã học vào một tình huốngmới Bao gồm vận dụng các quy tắc, các phương pháp để giải quyết một vấn đề của
lý thuyết hay thực tiễn…
4 Phân tích: Là khả năng phân tích cái toàn thể thành nhiều yếu tố các bộ phậncấu thành, nhiều thành phần, nhận biết nguyên lý, cấu trúc của các bộ phận, mốiquan hệ giữa các bộ phận, tìm hệ thức có thể giữa các yếu tố bộ phận ấy Đây là mức
độ cao hơn mức độ vận dụng vì nó yêu cầu học sinh tự thấu hiểu cả nội dung và kếtcấu kiến thức
5 Tổng hợp: Là khả năng sắp xếp liên kết các bộ phận, các yếu tố riêng lẻ vớinhau để hình thành cái mới
6 Đánh giá: Là khả năng xác định các tiêu chí đánh giá khác nhau và vậndụng chúng để có thể đưa ra những kết luận, những phán đoán về giá trị của tài liệu,các phương pháp đối với những mục đích nhất định nào đó Đây là mức độ cao nhấtcủa tư duy vì nó chứa đựng các yếu tố của mọi mức độ nhận thức nêu trên
I.8.3 Thiết kế câu hỏi theo ma trận
Căn cứ vào ma trận đã xác định mà thiết kế nội dung, lĩnh vực kiến thức vàmức độ nhận thức cần đo ở học sinh qua từng câu hỏi và toàn bộ đề kiểm tra Để cómột đề trắc nghiệm hay và đạt yêu cầu khi soạn thảo chúng ta nên chú ý:
Trước hết là lựa chọn cho các ý tưởng quan trọng và viết ra giấy nháp mộtcách rõ ràng để làm căn cứ cho việc soạn thảo
Soạn câu hỏi trắc nghiệm theo ý tưởng trên và cố gắng tối đa khả năng phânbiệt học sinh giỏi và kém
Nên soạn câu hỏi trên giấy nháp, viết câu trả lời đúng trước và sau đó mới viếtcâu mồi
Sau khi hoàn tất phần trắc nghiệm ta nên sắp xếp các câu từ dễ đến khó, hoặctheo lĩnh vực, các chủ đề
Hoàn thành việc soạn thảo bài trắc nghiệm trước khi kiểm tra nhiều ngày để cóđiều kiện suy nghĩ, sữa chữa và tham khảo ý kiến của đồng nghiệp
Nên viết số câu hỏi trắc nghiệm nhiều hơn số dự kiến để sau khi xem xét có thểloại bỏ những câu chưa đạt yêu cầu
I.8.4 Trình bày đề trắc nghiệm
1 Sắp xếp các câu hỏi từ dễ đến khó hoặc theo từng nội dung, chủ đề
Trang 222 Thứ tự phương án đúng không tuân theo một quy luật nào cả.
3 Xáo trộn các câu hỏi và câu trả lời đúng bằng các phần mềm hỗ trợ để cóđược nhiều đề thi
4 Nếu có kết hợp giữa trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận thì nêntách thành hai phần riêng biệt Quy định thời gian làm bài, điểm số cho từng phần
5 Nên yêu cầu học sinh trả lời trên phiếu làm bài riêng đã soạn mẫu sẵn đốivới trắc nghiệm khách quan
I.8.5 Xây dựng đáp án biểu điểm
Biểu điểm đối với đề trắc nghiệm khách quan: có hai cách
Cách 1: Điểm toàn bài là 10 chia đều cho tổng số câu hỏi của đề
Cách 2: Điểm toàn bài bằng số lượng câu hỏi, cứ mỗi câu trả lời đúng được 1
điểm, sai 0 điểm Sau đó quy về thang điểm 10 theo công thức
số điểm đạt được của học sinh, Xmax là tổng điểm tối đa của đề trắc nghiệm
I.9 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ BỘ ĐỀ THI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN LOẠI MCQ
I.9.1 Mục đích
Từ việc phân tích kết quả của bài kiểm tra, bài làm của học sinh giáo viên cóthể đánh giá mức độ thành công của quá trình thực hiện mục tiêu dạy học
Qua phân tích giáo viên sẽ biết được câu nào là khó câu nào là quá dễ, câu nào
có độ phân biệt cao, cũng có thể biết được vì sao câu trắc nghiệm không đạt hiệuquả mong muốn và cần phải sửa đổi như thế nào để câu trắc nghiệm trở nên tốt hơntrong việc kiểm tra lần sau
Như vậy có thể nói mục đích cuối cùng là gia tăng độ tin cậy và độ giá trị củacâu trắc nghiệm Đây là một khâu rất quan trọng trong việc hoàn thiện các đề trắcnghiệm
Trang 23I.9.2 Vì sao loại trắc nghiệm khách quan loại MCQ lại được ưa chuộng?
Có thể nói trắc nghiệm khách quan loại MCQ là loại được ưa chuộng và sửdụng nhiều nhất hiện nay Nguyên nhân là do nó có nhiều ưu điểm hơn so với cácloại trắc nghiệm khác:
- Với sự phối hợp của nhiều phương án trả lời để chọn cho mỗi câu hỏi, giáoviên có thể dùng loại trắc nghiệm MCQ để kiểm tra, đánh giá những mục tiêu giảngdạy, khác nhau
- Trắc nghiệm loại MCQ có độ tin cậy cao hơn Yếu tố đoán mò may rủi củahọc sinh giảm đi nhiều so với các loại trắc nghiệm khách quan khác
- Học sinh phải xét đoán và phân biệt kỹ càng khi trả lời câu hỏi Tính chấttuyệt đối trong loại “Đúng-Sai” nhường chỗ cho tính chất tương đối khi học sinhphải lựa chọn câu trả lời đúng nhất hay hợp lý nhất trong số các phương án trả lời đãcho
- Với một bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời cho sẵn để chọn, người ta có thể
đo được khả năng nhớ, áp dụng nguyên lý, suy diễn, tổng quát hóa ….rất hữu hiệu
- Chúng ta có thể phân tích được tính chất của các câu hỏi Câu nào khó, câunào dễ, câu nào không có giá trị đối với các mục tiêu cần trắc nghiệm Đây là điềukhông thực hiện được đối với loại câu hỏi tự luận hay với các loại trắc nghiệm khác
- Cũng như những loại trắc nghiệm khách quan khác loại MCQ điểm số khôngphụ thuộc vào chủ quan người chấm, vào khả năng diễn đạt, tiết kiệm được thời gianchấm, thi đảm bảo được độ khách quan, tin cậy cao
I.9.3 Phương pháp phân tích thông kê câu trắc nghiệm khách quan
a, Thu thập số liệu thống kê
Qúa trình thu thập số liệu thống kê có thể tiến hành theo các bước như sau:
- Xếp học sinh theo thứ tự kết quả bài thi từ cao đến thấp
- Phân chia bài làm của học sinh theo 3 nhóm:
+ Nhóm học sinh giỏi
+ Nhóm học sinh khá
+ Nhóm học sinh trung bình và yếu kém
- Lập bảng thống kê
Qua quá trình đó chúng ta có thể thu được:
- Mức độ khó của câu hỏi
Trang 24- Mức độ phân biệt học sinh.
- Mức độ lôi cuốn học sinh
b, Các chỉ số thống kê của một câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Độ khó của câu hỏi trắc nghiệm khách quan:
Trong đó: N là tổng số học sinh làm bài trắc nghiệm
H là số học sinh của nhóm giỏi chọn câu đúng
M là số học sinh trung bình chọn câu đúng
L là số học sinh kém chọn câu đúng
+ Câu hỏi càng dễ, số người trả lời đúng càng nhiều
+ Câu hỏi càng khó khi ít người trả lời đúng
- Độ khó trung bình của một câu trắc nghiệm có n phương án trả lời:
2
% 100
H L
Trong đó: H là số học sinh trong nhóm giỏi chọn đúng
Trang 250,2 D 0,3 Câu tạm được, cần sửa chữa để hoàn chỉnh.
0D0,2 Câu kém không có khả năng phân biệt, cần loại bỏhoặc thay thế
0
D Câu cần xem xét lại phương pháp giảng dạy của giáo viênhoặc cách đặt câu hỏi
1
D Câu có độ phân biệt hoàn hảo
Tiêu chuẩn để chọn câu hỏi hay:
- Độ khó nằm trong khoảng 0, 4 p 0,6 và độ phân biệt D 0,2
- Câu mồi có tính chất hiệu nghiệm, tức là câu có nhiều học sinh ở nhóm kémchọn
c, Các chỉ số thống kê của đề trắc nghiệm khách quan (toàn bài)
Độ khó của đề trắc nghiệm khách quan
Một đề trắc nghiệm tốt không phải là đề gồm toàn câu khó (p thấp) hay toàncâu dễ (p cao) mà phải là một đề trắc nghiệm gồm những câu có độ khó p ở mứctrung bình hay mức độ vừa phải
Phương pháp đơn giản nhất để xác định độ khó của toàn bài trắc nghiệm là đốichiếu điểm trung bình (Xtb) của bài trắc nghiệm với điểm trung bình lý tưởng (Xlt)của bài trắc nghiệm
- Điểm trung bình lý tưởng là điểm trung bình giữa điểm tối đa có thể có được
và điểm may rủi mà học sinh có thể đạt được do chọn ngẫu nhiên
Xlt=(Điểm tối đa + Điểm may rủi)/2
- Điểm trung bình của bài trắc nghiệm được tính theo công thức:
Trong đó: xi là điểm số của mỗi học sinh khi làm bài trắc nghiệm đó
N là tổng số học sinh tham dự bài trắc nghiệm
Độ tin cậy của đề trắc nghiệm khách quan
Độ tin cậy của đề trắc nghiệm khách quan chính là đại lượng biểu thị mức độchính xác của phép đo lường của đề trắc nghiệm đó Độ tin cậy của đề trắc nghiệm
có thể đo bằng:
Trang 262 2
T tb t
S r S
Trong đó: ST là phương sai trong phân bố điểm thật T
St là phương sai trong phân bố điểm làm bài t do bài trắc nghiệm đođược
Phương sai của điểm số là đại lượng biểu thị cho mức độ khác nhau giữa điểm
số các học sinh trong lớp Nếu mọi học sinh trong lớp có điểm số bằng nhau thìphương sai bằng không Phương sai điểm số được tính theo công thức:
2
x
X X S
X là điểm số trung bình của toàn lớp
Nếu một đề trắc nghiệm dài có số câu hỏi gấp n lần so với đề trắc nghiệm banđầu thì độ tin cậy lúc này là rttn được tính bằng công thức Spearman-Brown:
1 1
tt ttn
tt
nr r
n r
Trong đó: rtt là độ tin cậy của đề trắc nghiệm lúc ban đầu
Khi một đề trắc nghiệm có độ tin cậy đã biết, muốn xây dựng một đề trắcnghiệm khác có độ tin cậy nào đó theo yêu cầu thì ta có thể tính được hệ số n để biếtphải tăng chiều dài của đề trắc nghiệm đầu tiên lên bao nhiêu lần theo công thức:
1 1
Các phương pháp ước tính độ tin cậy của đề trắc nghiệm
Có nhiều phương pháp để ước lượng độ tin cậy của bài trắc nghiệm như:phương pháp thi hai lần , phương pháp dùng bài trắc nghiệm tương đương, phươngpháp dùng phép tính phương sai …
- Công thức Spearman-Brown
1/ 21/ 2 11
2 1
r r
r
Trang 27Trong đó: r11là độ tin cậy ước tính cho toàn bài trắc nghiệm.
1/ 21/ 2
r là hệ số tương quan giữa điểm số trên hai nữa bài trắc nghiệm
- Công thức Rulon- Guttman khi phương sai của hai nữa bài trắc nghiệmkhông bằng nhau:
+ Công thức Rulon:
2 2
1 d tt
t
S R
S
2 2
Trong đó: a, b chỉ hai nữa bài trắc nghiệm
- Công thức Kuder-Richardson: Bài trắc nghiệm gồm n câu hỏi có độ tin cậyđược tính theo công thức KR20 và KR21 như sau:
S là phương sai điểm số của đề trắc nghiệm có n câu hỏi.
+ Công thức KR21: Gỉa sử mọi câu hỏi đều có cùng tần số đáp án đúng pi =qi:
Trang 282 2
t t t
tt
X X
X là điểm trung bình của đề trắc nghiệm
Nên chỉ áp dụng công thức KR21 khi độ khó của các câu hỏi trắc nghiệm là xấp
xỉ bằng nhau hay bằng nhau
Độ giá trị của đề trắc nghiệm khách quan
Độ giá trị của trắc nghiệm khách quan là đại lượng biểu thị mức độ đạt đượcmục tiêu đề ra Do đó khi xét tính chất giá trị cần phải xác định “Đề trắc nghiệm này
có giá trị đối với ai và ở mục đích nào?” Một bài trắc nghiệm có thể có nhiều tínhchất giá trị như: giá trị tiên đoán, độ giá trị nội dung
- Gía trị tiên đoán
Từ kết quả của bài trắc nghiệm, sẽ tiên đoán được mức độ thành công trongcông việc của học sinh đó trong tương lai Để tính độ giá trị tiên đoán cần hai bàitrắc nghiệm, một bài trắc nghiệm về môn học hiện thời để đo về khả năng, tính chấtcủa đối tượng khảo sát, gọi là bài trắc nghiệm dự báo, một bài trắc nghiệm thứ haitrong tương lai về biến cố cần tiên đoán gọi là bài trắc nghiệm đối chứng
Hệ số tương quan Peson giữa điểm số của hai bài trắc nghiệm trên chính là giátrị tiên đoán, được định nghĩa bằng công thức:
1
1 N i i xy
i
x y
x X y Y r
N S S
Trong đó: X là phân bố điểm của bài trắc nghiệm dự báo
Y là phân bố điểm của bài trắc nghiệm đối chứng
N là số học sinh dự thi
xi, yi là điểm số của hoạt động thứ i ở hai bài trắc nghiệm
X , Y là trung bình mẫu
SX, Sy là độ lệch chuẩn
Trang 29Trong thực nghiệm, thường dùng công thức tính hệ số tương quan từ số liệu códạng sau:
: là tổng của các giá trị Y2 của từng phần tử trong tập hợp số hiệu
Độ giá trị biến thiên trong khoảng 1 r 1 Gía trị r cho biết mức độ tươngquan, dấu của r cho biết loại tương quan
- Độ giá trị nội dung:
Các câu hỏi trong bài trắc nghiệm phải là một mẫu tiêu biểu của tổng thể cáckiến thức, khả năng mục tiêu bao gồm trong chương trình Mức độ giá trị được ướclượng bằng cách so sánh nội dung đề cập trong các câu hỏi và nội dung của chươngtrình Do đó khi xác định tính chất giá trị của nội dung phải nêu rõ mục tiêu giảngdạy, loại khả năng hoặc những kiến thức phải nắm sau khi học tập, các tài liệu họcsinh cần phải đọc, tính quan trọng tương đối giữa các phần trong chương trình…
I.9.4 ĩy thuật viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn MCQ
- Phần dẫn phải diễn đạt rõ ràng một vấn đề, không nên đưa quá nhiều ý vàocâu dẫn
- Phần dẫn phải chứa vấn đề muốn hỏi và phải trình bày vấn đề đó một cách rõràng tường minh để học sinh có thể hiểu rõ đang muốn hỏi về điều gì ngay sau khiđọc xong phần dẫn
- Có thể hạn chế phạm vi vấn đề cần hỏi trong phần dẫn bằng cụm từ: Khi nói
về hiện tượng…., khi nói về…., khi so sánh…
Trang 30- Không nên sử dụng nhiều câu dẫn mang tính phủ định Nếu có sử dụng câudẫn mang tính phủ định phải nhấn mạnh hoặc in đậm từ “không”.
- Phần dẫn có thể trình bày dưới dạng bỏ lửng Trong trường hợp cả hai đềuthích hợp cho một nội dung, mục tiêu cần kiểm tra đánh giá thì nên lựa chọn dạngnào tiết kiệm ngôn ngữ và thời gian hơn Loại câu hỏi bỏ lửng thường tiết kiệmđược ngôn ngữ hơn
- Trong phần dẫn nên bỏ bớt các chi tiết không cần thiết Có thể loại bỏ bớtnhững từ, cụm từ không cần thiết mà vẫn diễn tả trọn vẹn vấn đề cần hỏi
- Phải đảm bảo câu dẫn khi kết hợp với một câu trả lời phải đúng ngữ pháp
- Đáp án chắc chắn có một câu trả lời đúng Không thể có nhiều hơn mộtphương án đúng ngược lại trong các phương án không có phương án nào đúng cả
- Phần lựa chọn nếu có 4 lựa chọn có vẻ hợp lý và có sức hấp dẫn như nhau đốivới học sinh kém, phải đảm bảo sao cho rõ ràng câu trả lời đúng là tốt nhất
- Các phương án sai phải được xây dựng trên cơ sở các lỗi thường gặp của họcsinh, các nhầm lẫn khi tính toán
- Cẩn thận khi dùng hai câu trả lời trong hai phương án chọn cho sẵn có hìnhthức hay ý nghĩa trái ngược nhau hoặc phủ định nhau Khi chỉ có hai câu trả lời có ýnghĩa trái ngược nhau trong 4 hoặc 5 phương án chọn thì học sinh sẽ dự đoán trong
đó có một câu trả lời đúng nên sẽ tập trung vào hai phương án này Để khắc phụcnhược điểm này, nên dùng hai cặp phương án có ý nghĩa trái ngược nhau từng đôimột
- Các phương án để chọn phải đồng nhất với nhau (ý nghĩa, độ dài, loại từ….)
- Không nên đưa ra những vấn đề không thể xẩy ra trong thực tế vào nội dungcâu hỏi
- Không yêu cầu học sinh tính toán dài dòng, phức tạp và mất nhiều thời gian
- Tránh sự tương tự về từ ở trong câu dẫn và câu đúng
I.9.5 Phân tích câu mồi nhử (câu nhiễu)
Căn cứ vào độ khó, độ phân biệt của các câu hỏi ta có thể chọn ra những câutrắc nghiệm tốt để sử dụng cho nhiều lần Những câu có chỉ số khó quá thấp hay quácao độ phân cách âm hoặc quá thấp là những câu kém cần phải xem xét lại đề đểloại bỏ hoặc điều chỉnh Nguyên tắc phân tích là:
Trang 31- Mỗi câu trả lời đúng tương quan thuận với tiêu chí đã định nghĩa là: Câu trảlời đúng trong nhóm cao phải nhiều hơn số học sinh trả lời đúng trong nhóm thấp.
- Ngược lại, mỗi câu trả lời sai phải tương quan nghịch với tiêu chí
I.9.6 Làm thế nào để tăng tính tin cậy cho đề thi trắc nghiệm khách quan?
- Tăng chiều dài của bài trắc nghiệm Bài trắc nghiệm càng dài thì tính tin cậycàng cao Nhưng bài trắc nghiệm không nên quá dài, khiến yếu tố mệt mỏi ảnhhưởng đến kết quả trắc nghiệm
- Tăng khả năng phân tích các câu trắc nghiệm
- Giảm tối đa yếu tố may rủi bằng cách hạn chế sử dụng các câu ít lựa chọn
- Các câu dẫn phải rõ ràng, ngắn gọn, tránh nhầm lẫn
- Chuẩn bị kỹ cách chấm bài, thận trọng xác định câu đúng và câu sai
Trang 32CHƯƠNG II XÂY DỰNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN PHẦN
“CƠ HỌC CHẤT ĐIỂM” CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG II.1 NỘI DUNG GIÁO KHOA PHẦN “CƠ HỌC CHẤT ĐIỂM” CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG
II.1.1 Vị trí
Phần “cơ học chất điểm” là phần đầu tiên của phần cơ học trong chương trìnhvật lý đại cương hiện hành, có nhiệm vụ nghiện cứu những đặc trưng của chuyểnđộng và những dạng chuyển động khác nhau, mối liên hệ của chuyển động với sựtương tác giữa các vật
b, Chất điểm- Cách xác định vị trí của một chất điểm
Chất điểm: là một vật có kích thước nhỏ không đáng kể so với những khoảngcách, những kích thước mà ta đang khảo sát
Khi đó để xác định vị trí của vật trên quỹ đạo ta có thể coi vật như một điểmnằm ở trọng tâm của nó
Có nhiều cách để xác định vị trí của chất điểm Nguyên tắc chung là chọn mộtvật làm mốc và gắn trên vật mốc đó một hệ tọa độ
Trang 33Vận tốc của chất điểm có giá trị bằng đạo hàm quãng đường đi của chất điểmđối với thời gian.
b, Gia tốc
Gia tốc là đại lượng đặc trưng cho sự biến thiên của véctơ vận tốc
Véctơ gia tốc bằng đạo hàm của véctơ vận tốc đối với thời gian
Gia tốc pháp tuyến:
- Đặc trưng cho sự biến thiên của véctơ vận tốc về giá trị
- Phương trùng với tiếp tuyến của quỹ đạo tại điểm đang xét
- Chiều là chiều chuyển động khi v tăng và chiều ngược lại khi v giảm
- Có độ lớn bằng đạo hàm độ lớn vận tốc theo thời gian
Gia tốc pháp tuyến (hay gia tốc hướng tâm)
- Đặc trưng cho sự biến thiên về phương của véctơ vận tốc
- Có phương trùng với phương pháp tuyến của quỹ đạo tại điểm đang xét
- Có chiều hướng về phía lõm của quỹ đạo
- Có độ lớn :
2
n
v a R
Trang 34Trong đó: S là hoành độ cong, x, y, z là các tọa độ của chất điểm đang chuyểnđộng trong hệ tọa độ Đề - các vuông góc.
- Véctơ gia tốc toàn phần:
S là quãng đường đi của chất điểm chuyển động
c, Chuyển động thẳng thay đổi đều
0
v=at+v
2 0
12
Trang 35 Trong trường hợp chuyển động tròn thay đổi đều:
0
t
2 0
Với 0là vận tốc ban đầu
Liên hệ giữa vận tốc gia tốc dài với vận tốc gia tốc góc:
e, Chuyển động với gia tốc không thay đổi (sự rơi tự do)
Rơi trong không khí
- Trong không khí, các vật rơi nhanh hay chậm không phụ thuộc vào nặng nhẹcủa các vật mà phụ thuộc vào sức cản của không khí
- Sự rơi của các vật trong chân không, chỉ dưới tác dụng của trọng lực, gọi là
sự rơi tự do
Đặc điểm:
- Phương của chuyển động rơi tự do là phương thẳng đứng, chiều từ trênxuống dưới
- Chuyển động rơi tự do là chuyển động thẳng nhanh dần đều
- Định luật của sự rơi tự do: Ở cùng một nơi trên trái đất các vật rơi tự do vớicùng một gia tốc gọi là gia tốc rơi tự do
Trang 36Nếu không chịu tác dụng của một lực nào hoặc nếu chịu tác dụng của các lựccân bằng, một vật đang đứng yên sẽ tiếp tục đứng yên, đang chuyển động sẽ tiếp tụcchuyển động thẳng đều.
Quán tính – Hệ quy chiếu quán tính
- Quán tính là tính chất của mọi vật có xu hướng bảo toàn vận tốc cả về hướng
và độ lớn
- Hệ quy chiếu quán tính là hệ quy chiếu trong đó định luật I Niu-tơn đượcnghiệm đúng Hệ quy chiếu gắn với mặt đất hoặc chuyển động thẳng đều so với mặtđất là hệ quy chiếu quán tính
Ta thừa nhận lực không phụ thuộc vào hệ quy chiếu
- Dạng thứ hai: Gọi P mv , tích của khối lượng và vận tốc của vật là độnglượng của vật Ta có: d P
F dt
Dạng này tổng quát hơn dạng thứ nhất, vì bao gồm cả trường hợp m biến đổi
c, Lực tác dụng lên chuyển động cong
d, Định luật III Niu-tơn
Khi chất điểm A tác dụng lên chất điểm B một lực F
thì chất điểm B cũng tácdụng lên chất điểm A một lực
F Hai lực
F và
F tồn tại đồng thời cùng phương,ngược chiều và cùng độ lớn
Trang 37c, Ý nghĩa của động lượng và xung lượng
- Động lượng là một đại lượng đặc trưng cho khả năng truyền chuyển động
- Xung lượng của một lực trong khoảng thời gian tđặc trưng cho tác dụngcủa lực trong khoảng thời gian đó
II.1.3.3 Lực ma sát
ms
F kN
Trong đó: k là hệ số ma sát, N là độ lớn của phản lực pháp tuyến
II.1.3.4 Phương trình Niu-tơn trong hệ quy chiếu chuyển động (tịnh tiến)
qt
ma F F Với Fqt m a, a là gia tốc tịnh tiến của hệ quy chiếu chuyển động.
Trang 38II.1.4 Các định luật bảo toàn
II.1.4.1 Công của lực
F trong chuyển dời C, D bất kỳ:
F trên phương của d S .
Trường hợp lực F không đổi, chuyển động thẳng:
là góc hợp bởi lực F và phương chuyển dời của S.
II.1.4.2 Công suất của lực
Với v là véctơ vận tốc của điểm đặt của lực.
II.1.4.3 Động năng của chất điểm
2 d
1 W
2 mv
Định lý động năng:
Với h là độ cao của chất điểm
Công của lực trọng trường:
2mv mgh c
Trang 39II.2 XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
II.2.1 Phân tích các mức độ nhận thức của học sinh cần đạt
Dựa vào việc nghiên cứu lý thuyết trên, chúng tôi đã thực hành xây dựng được
90 câu hỏi trắc nghiệm khách quan loại MCQ về phần động học chất điểm, động lựchọc chất điểm và các định luật bảo toàn trong phần “cơ học chất điểm” chương trìnhvật lý đại cương Bộ câu hỏi được xây dựng để đánh giá khả năng của học sinh ở 6mức độ nhận thức bao gồm:
- Mức độ biết: Học sinh nhận biết đúng các khái niệm nêu được các tính chất
và nhớ được công thức trong phần “cơ học chất điểm”
- Mức độ hiểu: Học sinh so sánh được kiến thức mới và kiến thức cũ, phântích, diễn giải được các dạng biểu thức tính khác nhau của cùng một đại lượng
- Mức độ vận dụng: Học sinh vận dụng được công thức tính được các bài tậpđơn giản, giải thích được hiện tượng thực tế đơn giản liên quan
- Mức độ phân tích: Học sinh phân tích và giải thích được các bài toán ở mức
độ trung bình, phân biệt được sự giống và khác nhau giữa các khái niệm một cáchchính xác và chi tiết
- Mức độ tổng hợp: Giải được các bài tập phức tạp
- Mức độ đánh giá: Học sinh rút ra được phương pháp giải đặc trưng và nhanhchóng một số bài toán cụ thể
II.2.1 Lập ma trận hai chiều cho bộ câu hỏi
Từ việc phân tích các mức độ nhận thức của học sinh và dựa trên mục đích của
đề tài, chúng tôi dự kiến thiết kế bộ câu hỏi theo ma trận sau: