Bộ máy Nhà nước phải được tổ chức sao cho quyền lực của Nhà nước thuộc về đông đảo quần chúng nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất ở nơi nhân dân nhưng có sự phân công, phối hợp tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ XUÂN HOÀNG
TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Minh Đoan
HÀ NỘI - 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
-*** -Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tâm, nhiệt tình của PGS-TS Nguyễn Minh Đoan; cảm ơn sự giúp đỡ, động viên cả về vật chất lẫn tinh thần của Bố, Mẹ và những người thân trong gia đình đã giúp em hoàn thành tốt luận văn này
Em cũng xin tỏ lòng cảm ơn ông Chánh án và ông Trưởng phòng tổ chức - cán bộ TAND tỉnh Thanh Hóa; Chánh án và Phó Chánh án TAND huyện Vĩnh Lộc là nơi em đang công tác, đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa học và luận văn
Nhân dịp này, cho phép em gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong Bộ môn
Lý luận nhà nước và pháp luật, khoa sau đại học - Trường đại học luật Hà Nội, các cá nhân và tổ chức khác đã giúp đỡ trong quá trình em làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2011
Học viên
Lê Xuân Hoàng
Trang 3HP : Hiến pháp
LTCTAND : Luật tổ chức Tòa án nhân dân TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 41.2 Những yêu cầu, đòi hỏi đối với Tòa án trong Nhà nước pháp quyền 18
1.3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về xây dựng và phát
triển hệ thống Tòa án trong điều kiện xây dựng Nước nhà pháp
quyền
27
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TAND TRONG TIẾN TRÌNH
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM
33
2.1 Sơ lược về Hệ thống TAND Việt Nam trước khi xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân
33
2.2 Những thay đổi về tổ chức và hoạt động của TAND Việt Nam trong
tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
37
2.3 Đánh giá chung về tính chất pháp quyền trong tổ chức và hoạt động
của Hệ thống TAND ở Việt Nam hiện nay
56
CHƯƠNG III: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TỔ
CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TAND ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, ĐÒI HỎI
CỦA TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
60
3.1 Quan điểm đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND ở Việt Nam
đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền ở Việt Nam hiện nay
60
3.2 Một số giải pháp tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND
đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền ở Việt Nam hiện nay
65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Kể từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994) Đảng ta đã chính thức thừa nhận khái niệm Nhà nước pháp quyền và thấy rõ sự cần thiết phải xây dựng Nhà nước đó như là điều kiện không thể thiếu để có nền dân chủ thực sự Liên tục trong các kỳ đại hội tiếp theo Đảng ta luôn khẳng định nhiệm
vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta Tuy nhiên, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện và xuất phát điểm của Việt Nam hiện nay là một nhiệm vụ chưa có tiền lệ trong lịch sử Chính vì vậy mà quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam phải có lộ trình với những bước đi thận trọng, phù hợp, vừa thực hiện vừa bổ sung lý luận cho hoàn chỉnh Đảng ta đã xác định: “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” là mục tiêu và là nhiệm vụ trọng yếu mà chúng ta phải thực hiện
Bộ máy Nhà nước phải được tổ chức sao cho quyền lực của Nhà nước thuộc
về đông đảo quần chúng nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất ở nơi nhân dân nhưng có sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó các cơ quan tư pháp đặc biệt là TAND có vị trí và vai trò quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế và trật tự pháp luật, sẽ là một đảm bảo vững chắc cho Việt Nam xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Nhận thức
rõ điều này nên từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tích cực đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án theo tinh thần xây dựng Nhà nước pháp quyền Tuy nhiên quá trình này diễn ra còn chậm và chưa có nhiều chuyển biến toàn diện, đồng bộ, hoạt động xét xử của Tòa án chưa theo kịp với diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm và các quan hệ pháp luật phát sinh cần có sự can thiệp của Tòa
án Trong tổ chức và hoạt động của Hệ thống Tòa án hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập chưa được khắc phục một cách kịp thời Điều này đã được phản ánh trong Nghị quyết 49–NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị "Về chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020" cụ thể như sau: “Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế… Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một
số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu” Những hạn chế này của
Trang 6cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nói riêng cũng được Đảng ta thẳng thắn chỉ
rõ trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI là: "Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu cả về phẩm chất và năng lực", quá trình "cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trường hợp chưa chính xác; án tồn đọng, án bị hủy, bị sửa còn nhiều" Chính vì vậy, việc cải cách tư pháp mà trọng tâm là đổi mới cơ cấu tổ chức và hoạt động của
hệ thống cơ quan Tòa án, xác định đúng vị trí và vai trò của Tòa án phù hợp với tình hình mới của đất nước là vấn đề cần có sự tiếp tục nghiên cứu để từng bước xây dựng hệ thống Tòa án đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Nghị quyết số 49–NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị cũng xác định mục tiêu chiến lược của cải cách tư pháp là: “Xây dựng nền Tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” Đây cũng là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện Hệ thống TAND Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, và để góp phần xây dựng Tòa án tương xứng với vị trí và vai trò của nó trong
Nhà nước pháp quyền, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “Toà án nhân dân trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” để làm đề tài luận văn
thạc sĩ với mong muốn góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận cho việc xây dựng Tòa án Việt Nam của dân, do dân và vì dân
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ những định hướng cải cách tư pháp, trọng tâm là cải cách Tòa án
mà Đảng ta đã đề ra trong các văn kiện của Đảng, Tòa án đã là đối tượng nghiên
cứu của nhiều công trình khoa học, như đề tài cấp nhà nước: "Vị trí, vai trò và chức năng của TAND trong Bộ máy Nhà nước ta qua các thời kỳ cách mạng Việt Nam", do TS Trịnh Hồng Dương chủ nhiệm đề tài, năm 1996; đề tài cấp nhà nước: "Cải cách cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân" do TS Uông Chu Lưu làm chủ nhiệm đề tài, năm 2006; Luận
án tiến sĩ luật học của Nguyễn Thành Dương: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND ở nước ta giai đoạn hiện nay”, năm 2002; Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Huy Liệu: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp
Trang 7theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam”, năm 2003 Gần đây
cũng có một số công trình luận văn thạc sĩ luật học đã nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về hoàn thiện hệ thống Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp như: Luận
văn thạc sĩ của Đặng Công Cường với đề tài: "Vai trò của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền XHCN", năm 2007; Luận văn thạc sĩ của Hoàng Chí Nguyện với đề tài: "Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của TAND cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp", năm 2009;
Bên cạnh đó, liên quan đến vấn đề Nhà nước pháp quyền cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp việc hoàn thiện Tòa
án đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Nổi bật lên đó là luận văn thạc sĩ
của Trần Thị Ánh Tuyết với đề tài: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam”, năm 2000, với những đóng
góp nhất định trong việc đưa ra và phân tích tương đối đầy đủ các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền; đồng thời luận văn đã phân tích rất sâu sắc tính khách quan, hợp quy luật của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam, cũng như sự vận dụng của Việt Nam vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết, ấn phẩm sách, báo, tạp chí đã được xuất bản đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống cơ quan tư pháp cũng như Tòa án dưới nhiều góc độ khác nhau, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân,
vì dân Có thể kể đến một số bài viết nổi bật của một số tác giả như: ThS Vũ Gia
Lâm – Tạp chí luật học số 6/2007: “Đổi mới hệ thống Tòa án nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử”; TS Nguyễn Thị Minh Sơn – Tạp chí luật học số 10/2009: “Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự về thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp”; ThS Nguyễn Văn Khoa - Tạp chí Luật học số 01/2009: "Quá trình nhận thức của Đảng về đổi mới tổ chức TAND", và nhiều bài viết khác đã được công bố
trong thời gian qua
Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên đều đã đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống TAND với nhiều hướng tiếp cận khác nhau: có thể tiếp cận từ góc
độ đổi mới, hoàn thiện hệ thống các cơ quan tư pháp mà trong đó có đề cập đến việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của TAND; cũng có thể là theo góc độ hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của Bộ máy Nhà nước Việt Nam theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền, trong đó việc hoàn thiện hệ thống TAND như là một yêu cầu không thể thiếu, vv Tuy nhiên, hầu hết các công trình cũng như các bài viết kể trên đã được công bố từ trước khi có Nghị
Trang 8quyết 49–NQ/TW của Bộ chính trị Ngoài ra cũng có một số công trình, bài viết được công bố gần đây nhưng cũng chỉ đề cập đến một vài khía cạnh nhất định của việc hoàn thiện hệ thống TAND, chủ yếu là hoàn thiện một số quy định của pháp luật liên quan đến các thủ tục tố tụng cụ thể của Tòa án đáp ứng kịp thời yêu cầu cải cách tư pháp, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống TAND trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Hơn nữa, các công trình kể trên đều chưa đưa ra được những tiêu chí rõ ràng, làm cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống Tòa án trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, cũng như chưa xác định được đúng vị trí, vai trò của TAND sát với tình hình thực tế của Việt Nam hiện nay Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống Tòa án, xác định lại vị trí, vai trò, kiện toàn lại cơ cấu tổ chức và hoạt động của TAND, đáp ứng kịp thời với tình hình mới của đất nước để thực thiện thành công mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân là điều cần thiết Luận văn cũng sẽ là một
sự tham khảo hữu ích, bổ sung và làm sáng rõ thêm lý luận về Nhà nước pháp quyền XHCN khi quá trình xây dựng ở Việt Nam theo mô hình này chưa hề có tiền
lệ
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền cùng những vận dụng của Việt Nam vào quá trình xây dựng Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, và từ việc phân tích chân thực thực trạng hệ thống TAND của Việt Nam hiện nay, luận văn muốn đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Hệ thống TAND đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền, đồng thời góp phần xây dựng nền tư pháp Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hiệu lực và hiệu quả
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Do đây là một vấn đề lý luận trải dài trên hai mảng đề tài rộng lớn
là Nhà nước pháp quyền và cơ cấu tổ chức và hoạt động của TAND, mà với khuân khổ của một luận văn thạc sĩ không thể giải quyết trọn vẹn được cả hai, nên luận văn chỉ khái quát một số vấn đề lý luận về Nhà nước pháp quyền và sự vận dụng của Việt Nam trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Bộ máy Nhà nước Trên cơ sở
đó, luận văn chủ yếu tập trung làm sáng rõ những yêu cầu, đòi hỏi của TAND trong Nhà nước pháp quyền; phản ánh thực trạng cơ cấu tổ chức và hoạt động của
hệ thống Tòa án Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện TAND, góp phần xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, các quan điểm lý luận và những nhận định đánh giá thực tiễn được trình bày trong luận văn đều dựa chủ yếu trên nền lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền cũng như những phương hướng chỉ đạo của Đảng về cải cách hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực và hiệu quả
Ngoài ra luận văn còn sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp logic, phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa duy vật biện chứng để làm sáng rõ các giá trị cơ bản của Nhà nước pháp quyền, làm rõ những kinh nghiệm quý báu xây dựng hệ thống Tòa án trong Nhà nước pháp quyền của các nước trên thế giới, đảm bảo cho sự vận dụng các giá trị, kinh nghiệm đó vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam không bị máy móc mà luôn có sự sáng tạo, mang đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân
6 Các kết quả mới đạt được của luận văn
Luận văn đã đưa ra một cách nhìn tổng thể về hệ thống Tòa án Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó chỉ ra các yêu cầu, đòi hỏi của việc hoàn thiện hệ thống TAND, làm cơ sở xây dựng hệ thống TAND trong Nhà nước pháp quyền
Luận văn đã đưa ra cách lý giải phù hợp về sự cần thiết thành lập Tòa án khu vực trong thời gian tới Nó sẽ khắc phục được những bất cập, hạn chế đang tồn tại trong cách thức tổ chức và hoạt động của Hệ thống Tòa án Việt Nam hiện nay, đáp ứng được những đòi hỏi của một Hệ thống Tòa án trong Nhà nước pháp quyền như
ở Việt Nam
Luận văn này là một công trình nghiên cứu khoa học với tinh thần nghiêm túc, có trách nhiệm nên sẽ là một tài liệu tham khảo rất hữu ích cho việc hoàn thiện
hệ thống TAND, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, trong phần nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương với 8 mục
Trang 10CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÒA ÁN TRONG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN 1.1 Khái quát chung về Nhà nước pháp quyền và những tiếp thu của Việt Nam
1.1.1 Khái quát chung về Nhà nước pháp quyền
Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xuất hiện từ rất sớm ngay từ thời kỳ cổ đại, tại các nước có nền dân chủ phát triển như ở Nhà nước dân chủ chủ nô Aten, nhà nước La Mã, vương quốc Babilon ở phía bắc vùng Lưỡng Hà, rồi ở Ấn Độ, ở Trung Quốc Ban đầu tư tưởng này chỉ xuất hiện với ý nghĩa là việc cai trị dân chúng bằng pháp luật, lấy pháp trị làm công cụ để quản lý xã hội và duy trì địa vị của giai cấp thống trị Quá trình hình thành tư tưởng về Nhà nước pháp quyền là quá trình đấu tranh của các lực lượng tiến bộ trong xã hội để đưa quyền lực nhà nước về đúng vị trí của nó - là của nhân dân, và khẳng định nhân dân mới là chủ thể có quyền lực tối cao chứ không phải giai cấp cầm quyền Nó cũng gắn liền với
sự phát triển dân chủ, chống lại sự chuyên quyền, độc đoán của những người cầm quyền và sự vô pháp luật Mặc dù manh nha của tư tưởng về Nhà nước pháp quyền
đã có từ rất lâu như vậy nhưng các nước chủ nô và sau này là các nước phong kiến đều không thể trở thành Nhà nước pháp quyền vì chúng đều được xây dựng trên một nền dân chủ hạn chế, pháp luật được ban hành xuất phát từ ý chí chủ quan của giai cấp cầm quyền mà không phải từ nhu cầu và lợi ích của nhân dân, cách thức tổ chức quyền lực mang tính độc tài, quyền lực tập trung vào một người hoặc một nhóm người có cùng lợi ích và dùng quyền lực đó để bóc lột nhân dân
Từ thế kỷ XVII, cùng với sự hình thành và phát triển của nền dân chủ tư sản,
ý tưởng về một Nhà nước pháp quyền lại được trỗi dậy và đã trở thành sức mạnh tinh thần quan trọng, góp phần không nhỏ trong thắng lợi của giai cấp tư sản đấu tranh chống sự bảo thủ, trì trệ và độc tài của chế độ phong kiến cũng như quá trình kiến thiết Nhà nước tư sản sau khi dành được thắng lợi Thời kỳ này, tư tưởng tiến
bộ về Nhà nước pháp quyền xuất hiện ở nhiều tác phẩm của nhiều học giả khác nhau, trong đó điển hình là John Locke - Nhà tư tưởng vĩ đại Anh thế kỷ XVII, Montesquieu và Rousseau là những người xuất sắc nhất trong việc tiếp thu và hoàn thiện học thuyết về Nhà nước pháp quyền Các ông đều cho rằng: muốn hạn chế được sự độc tài, chuyên chế và đưa quyền lực nhà nước về tay nhân dân thì phải tổ chức quyền lực nhà nước thành các quyền khác nhau và trao cho các cơ quan độc lập với nhau nắm giữ, tồn tại trong sự kiềm chế, đối trọng để không cho bất kỳ một
cơ quan nào hay người nào nắm giữ quá nhiều quyền hạn dễ dẫn đến chuyên
Trang 11quyền, độc đoán Quyền lực của các cơ quan nhà nước là quyền lực của nhân dân trao cho và khẳng định tính tối cao của quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhà nước và nhân dân có mối liên hệ mật thiết với nhau thông qua một "Khế ước"
- Hiến pháp Trong đó, Nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép còn nhân dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm Nhà nước pháp quyền chỉ có thể được xây dựng trên nền một xã hội dân chủ rộng rãi, đề cao và coi trọng các giá trị cao cả của con người, là nơi mà mọi người dân đều được hưởng các quyền tự do, dân chủ, được đối xử bình đẳng không có bất kỳ sự phân biệt hay
kỳ thị nào
Chính từ những giá trị ưu việt của nó mà ngày nay mô hình về Nhà nước pháp quyền đã được áp dụng rộng rãi ở hầu khắp các nước trên thế giới và trở thành xu thế tất yếu của thời đại Tư tưởng Nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị chung của nhân loại về một cách thức tổ chức nhà nước đáp ứng yêu cầu vận động, phát triển khách quan của nhiều dân tộc và thời đại nhằm từng bước giải phóng con người khỏi sự áp bức, bất công, hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, con người được hưởng cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc thực sự Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mới mà là một phương thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ Nhà nước đó có đầy đủ các đặc điểm của một Nhà nước nói chung, đồng thời mang trong mình những giá trị phổ biến làm cho nó có thể áp dụng xây dựng ở nhiều Nhà nước khác nhau với các thể chế chính trị khác nhau Dưới đây xin đề cập đến các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền đã được thừa nhận rộng rãi và được áp dụng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam:
Thứ nhất, trong Nhà nước pháp quyền, nhân dân là chủ thể của quyền lực
nhà nước Nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước,
có quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước Theo đó, các cơ quan nhà nước chỉ là những người được nhân dân ủy quyền thực hiện những nhiệm
vụ nhất định trên cơ sở các quy định của pháp luật, vì lợi ích của nhân dân
Thứ hai, Hiến pháp và các đạo luật chiếm vị trí tối thượng trong mọi hoạt
động của nhà nước và xã hội Trong Nhà nước pháp quyền, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước cũng như mọi người dân đều phải tuyệt đối tuân thủ theo Hiến pháp
và pháp luật Mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân được thể hiện tập trung thông qua pháp luật theo đó, Nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép, còn nhân dân có quyền được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm
Nó thể hiện mối quan hệ tương xứng qua lại và có trách nhiệm giữa các chủ thể: Nhà nước có trách nhiệm chăm lo cho nhân dân, bảo vệ nhân dân nhưng nhân dân cũng phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, sống trong sự quản lý điều hành của Nhà
Trang 12nước, quyền tự do của nhân dân phải trong khuôn khổ của pháp luật, vượt ra khỏi khuôn khổ đó là vi phạm pháp luật và phải bị trừng trị
Thứ ba, quyền lực nhà nước được phân chia thành 3 quyền là quyền lập
pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp và được trao cho các cơ quan độc lập với nhau quản lý để không cho cơ quan nào nắm trọn quyền lực, nhằm hạn chế sự chuyên quyền, độc đoán Tư tưởng phân chia quyền lực đã trở thành nền tảng của một xã hội dân chủ, đồng thời là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước tư sản từ khi chủ nghĩa tư bản hình thành cho tới ngày nay, từ lâu
đã là một giá trị phổ biến của nhân loại được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền được tổ chức theo nguyên tắc dân chủ Dân
chủ là một thuộc tính vốn có của Nhà nước pháp quyền "Sự ra đời của Nhà nước pháp quyền luôn gắn với quá trình dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện của Nhà nước pháp quyền Pháp luật quy định các thiết chế dân chủ để nhân dân lập nên Nhà nước, ủy quyền cho Nhà nước thực hiện quyền làm chủ của mình như bầu cử, ứng cử, kiểm tra và giám sát của nhân dân đối với mọi mặt hoạt động của Nhà nước"1 Quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội cũng chính là quá trình xây dựng và hoàn thiện không ngừng của Nhà nước pháp quyền
Thứ năm, trong Nhà nước pháp quyền thì quyền con người, quyền công dân
được tôn trọng và bảo vệ Nhà nước pháp quyền đề cao phẩm giá của con người, tôn trọng các quyền tự nhiên vốn có của con người và xem đó là những quyền bất khả xâm phạm Bất kỳ một người nào cũng đều phải được đối xử bình đẳng như nhau đối với các quyền ấy Nhà nước có trách nhiệm cụ thể hóa các quyền tự nhiên
đó của con người thành các quy tắc xử sự chung, thống nhất và có tính bắt buộc thực hiện, làm cơ sở pháp lý bảo vệ quyền con người Chỉ có trong Nhà nước pháp quyền thì quyền con người, quyền công dân mới được đảm bảo, xuất phát từ chính bản chất xã hội rộng rãi của Nhà nước pháp quyền mà không một nhà nước chủ nô hay phong kiến nào có được
Thứ sáu, Nhà nước pháp quyền gắn bó mật thiết với xã hội dân sự: Xã hội
dân sự là tập hợp các tổ chức xã hội tự nguyện, hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng mà không mang yếu tố kinh tế hay chính trị Đó là nơi phản biện của nhân dân đối với các chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như giám sát mọi hoạt động của công chức và các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ
1
"Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Thị Ánh Tuyết, Hà Nội - 2000, tr37
Trang 13của mình Nhà nước pháp quyền liên hệ chặt chẽ với các tổ chức của xã hội dân sự trong việc thực hiện các hoạt động vì cộng đồng, thường xuyên lắng nghe ý kiến phản hồi từ phía xã hội dân sự để điều chỉnh chính sách của mình cho phù hợp, tạo mối quan hệ hài hòa giữa nhà nước và quần chúng nhân dân, góp phần làm giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước, đồng thời thể hiện tính dân chủ rộng rãi trong Nhà nước pháp quyền
Các giá trị trên cũng được coi là những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền Về lý thuyết thì bất kỳ Nhà nước nào thỏa mãn được các đặc trưng cơ bản nêu trên thì đều có thể được coi là Nhà nước pháp quyền Nhưng trên thực tế, các nhà nước này phải làm rất nhiều việc để duy trì cho được các đặc trưng cơ bản đó, cũng như duy trì sự tồn tại và phát triển của Nhà nước pháp quyền Một trong những việc mà nhà Nước pháp quyền phải thực hiện và ưu tiên hàng đầu là xây dựng được một hệ thống Tòa án hoạt động có hiệu lực và hiệu quả Chỉ có như vậy thì tinh thần thượng tôn pháp luật cùng với các giá trị của Nhà nước pháp quyền mới trở thành hiện thực trong đời sống xã hội mà không phải là những lời nói suông, chỉ tồn tại trên giấy Hơn nữa, trong Nhà nước pháp quyền vẫn còn có những kẻ vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của nhân dân và phải bị trừng trị nghiêm khắc để đưa các quan hệ pháp luật về đúng quỹ đạo Chính vì vậy, Nhà nước pháp quyền luôn đề cao vị trí, vai trò của Tòa án, đảm bảo cho Tòa án luôn được độc lập với các cơ quan nhà nước khác Có thể nói, hiệu quả trong hoạt động xét xử của Hệ thống Tòa án chính là một bảo đảm cho Nhà nước pháp quyền tồn tại và phát triển bền vững
Như vậy, Nhà nước pháp quyền là cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong một xã hội dân chủ, trong đó nhân dân là người chủ đích thực của quyền lực nhà nước Các cơ quan nhà nước và mọi người dân tôn trọng và tự giác thực hiện pháp luật Cơ quan, cán bộ công chức trong cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép, còn người dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm Ngoài ra, Nhà nước pháp quyền luôn đề cao vị trí và vai trò của quyền tư pháp, bảo đảm cho hệ thống Tòa án hoạt động hiệu lực và hiệu quả nhằm duy trì một xã hội có trật tự, pháp luật được thực thi một cách nghiêm chỉnh,
tự giác từ mọi chủ thể có liên quan
1.1.2 Sự vận dụng các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền vào xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Lịch sử phát triển của các Nhà nước pháp quyền trên thế giới cho thấy, ngoài những giá trị phổ biến, các Nhà nước pháp quyền còn bao hàm trong nó những giá trị đặc thù được quy định bởi các điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, tâm lý xã
Trang 14hội và đặc thù về địa lý của mỗi quốc gia, dân tộc "Các giá trị đặc thù không chỉ thể hiện tính đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển mà còn quyết định mức độ tiếp thu các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền Như vậy, Nhà nước pháp quyền vừa là giá trị chung của nhân loại, vừa là giá trị riêng của mỗi dân tộc, quốc gia Do vậy không thể có một
mô hình Nhà nước pháp quyền chung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc Mỗi quốc gia, dân tộc, tùy thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình Nhà nước pháp quyền thích hợp".2
Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài vừa đổi mới vừa học hỏi, để phù hợp với thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã sáng suốt lựa chọn xây dựng Nhà nước Việt Nam thành nhà nước pháp quyền XHCN của dân,
do dân, vì dân Điều này đã được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp hiện hành, đó là:
“Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2-HP 1992) Xét một cách toàn diện, quá trình vận dụng các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền vào xây dựng nhà nước XHCN Việt Nam mang những dấu hiệu đặc thù sau:
Thứ nhất: Nhà nước pháp quyền mà Việt Nam xây dựng là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Đây là nguyên tắc hiến định trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước,
được quy định xuyên suốt trong 4 bản Hiến pháp của Việt Nam Dù trong bất kỳ
hoàn cảnh nào thì chúng ta vẫn kiên định nguyên tắc "tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân" Điều này đã chứng tỏ kể cả những khi nhà nước ta chưa thừa nhận về việc xây dựng Nhà nước pháp quyền thì tinh thần của nhà nước pháp quyền hay các yếu tố hợp lý của nhà nước pháp quyền vẫn tồn tại trong nhà nước Việt Nam, trở thành mục đích đấu tranh của dân tộc Việt Nam Toàn thể nhân dân Việt Nam thông qua pháp luật mà giao phó một phần quyền lực của mình cho các
cơ quan nhà nước Trong bộ máy nhà nước, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nhưng cơ quan này không phải có toàn quyền Mọi quyền hạn và nhiệm vụ của Quốc hội đều nằm trong giới hạn ủy quyền của nhân dân thông qua Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội, tập trung thực hiện các quyền lập hiến, lập
2
Trích Báo cáo Ban bí thư về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Theo công văn số 289-CV/TW ngày 22/10/2009 của Ban bí thư
Trang 15pháp, quyền giám sát và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước Chính phủ được nhân dân trao nắm giữ cao nhất quyền hành pháp và cùng với hệ thống các cơ quan hành pháp ở địa phương tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, thực hiện chức năng quản lý điều hành vĩ mô mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Quyền tư pháp được giao cho Tòa án và một số cơ quan khác như Viện kiểm sát, các cơ quan điều tra với chức năng bảo vệ pháp chế và trật tự pháp luật Mặc dù các cơ quan đó có chức năng, nhiệm vụ và vai trò riêng nhưng chúng thống nhất ở một điểm là vì lợi ích của nhân dân Do đó trong hoạt động của mình, các cơ quan này phải có sự phối hợp với nhau một cách chặt chẽ để hoàn thành nhiệm vụ được giao
Việc thực hiện quyền lực của nhân dân rất đa dạng Nhân dân có thể thực hiện quyền lực của mình một cách trực tiếp thông qua việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của đất nước và của địa phương, kiến nghị với nhà nước những vấn đề mà mình thấy bất hợp lý để sửa đổi, hay biểu quyết khi nhà nước trưng cầu ý dân Nhân dân còn là người bầu ra các cơ quan đại diện cho mình để gián tiếp thực hiện quyền lực nhân dân Theo đó, các cơ quan dân cử có chức năng giám sát mọi hoạt động của Bộ máy Nhà nước để đảm bảo cho việc thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan này vì lợi ích của nhân dân
Bảo đảm cho nhà nước thật sự dân chủ cũng là một yêu cầu rất quan trọng để giữ vững chủ quyền nhân dân Nhà nước phải đa dạng hóa các hình thức dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân tích cực, chủ động tham gia vào các hình thức dân chủ
đó Thông qua các hình thức dân chủ mà người dân giám sát được hoạt động của
cơ quan nhà nước, cán bộ công chức, giữ gìn sự trong sạch của Bộ máy nhà nước, bảo đảm cho nhà nước đó thực sự là của dân và vì dân
Như vậy: Quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam thuộc
về toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, giới tính, tuổi tác, trình độ văn hóa Quyền lực đó không phải là đặc quyền của giai cấp thống trị vì ở Việt Nam khái niệm "giai cấp thống trị" hay "giai cấp cầm quyền" đã hòa quyện trong khái niệm "dân tộc"; lợi ích của giai cấp thống trị và lợi ích của dân tộc không tách rời nhau Chính vì vậy, quyền lực nhà nước ở Việt Nam mang bản chất xã hội sâu sắc, mang tính nhân dân rộng rãi
Thứ hai: Trong nhà nước pháp quyền Việt Nam tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội khác và mọi người dân đều sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật
Trang 16Dấu hiệu này vừa là đặc trưng của một nhà nước pháp quyền nói chung, nhưng đồng thời cũng là một dấu hiệu đặc thù của Việt Nam Thể hiện ở chỗ: Khi Đảng và nhà nước ta chưa đề ra việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, nhưng quy định về việc mọi công dân, cá nhân, tổ chức phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã là một nguyên tắc cơ bản được quy định ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 Tại Điều 4 Hiến pháp quy định mỗi công dân Việt Nam ngoài việc phải có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc còn phải "tôn trọng Hiến pháp" và "tuân theo pháp luật" Nguyên tắc này đã được kế thừa và phát triển qua các bản Hiến pháp của nước ta, đến bản Hiến pháp năm 1992 đã tương đối hoàn chỉnh Tại Điều 12
Hiến pháp 1992 quy định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng
tăng cường pháp chế XHCN Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật"
Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật không chỉ là nghĩa vụ mà còn
là quyền của công dân Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật, công dân có quyền bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của mình; được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản trước mọi hành vi xâm hại Trong nhà nước pháp quyền Việt Nam, quyền và nghĩa vụ không tách rời Việc thực hiện nghĩa vụ của người này là điều kiện để người khác được hưởng quyền và ngược lại, chính vì vậy để hưởng quyền thì công dân phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình Quyền và nghĩa vụ của mỗi người đều được thực hiện theo quy định của pháp luật, mang tính ràng buộc chung đối với mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan Ở Việt Nam, pháp luật là công bằng với tất cả các thành viên trong xã hội Bất kỳ ai,
dù ở cương vị nào, nếu phạm tội thì đều phải bị xét xử và phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình đã gây ra Tuy vậy, việc áp dụng hình phạt cũng phải xét đến khả năng giáo dục, cải tạo, đến những đóng góp của người phạm tội mà tuyên lượng hình phạt cho phù hợp, vừa thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật nhưng đồng thời thể hiện được sự khoan hồng trong chính sách pháp luật của nhà nước ta
Các cơ quan nhà nước cùng với cán bộ, công chức, viên chức phải thực sự gương mẫu sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, phải "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở Trong công việc, họ phải tận tâm phục vụ nhân dân, không màng lợi ích riêng, làm việc đúng chức năng, nhiệm vụ, đúng thẩm quyền mà pháp luật đã quy định, không lợi dụng chức vụ quyền hạn mà sách nhiễu, hách dịch nhân dân Trong đời thường, mỗi cán
Trang 17bộ, công chức nhà nước phải là tấm gương mẫu mực, tích cự tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, giúp nhân dân hiểu và làm theo pháp luật Chính từ tầm quan trọng của pháp luật đòi hỏi Nhà nước ta phải xây dựng được một hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam, và có tính khả thi cao Hệ thống pháp luật đó phải xuất phát từ thực tiễn cần điều chỉnh các quan hệ xã hội, đồng thời phải sử dụng các phương pháp điều chỉnh phù hợp với từng loại quan hệ pháp luật, tránh tình trạng mệnh lệnh hành chính đối với các quan hệ dân sự, thương mại Quá trình xây dựng phải tôn trọng các quy luật khách quan, tránh bệnh chủ quan, hình thức, kể cả tư tưởng cục bộ chỉ biết đến lợi ích của ngành mình, lĩnh vực thuộc quyền mình quản lý mà đẩy hết khó khăn sang cho ngành khác, lĩnh vực khác; phải biết vì lợi ích chung, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết Đồng thời không ngừng tuyên truyền, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho người dân, làm cho họ được tiếp cận với pháp luật một cách nhanh nhất thông qua các phương tiện truyền thông như đài, báo, tivi, internet với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, kích thích sự chủ động sáng tạo của người dân trong quá trình thực hiện pháp luật Làm tốt những điều này sẽ giúp pháp luật không còn
là thứ khô khan cứng nhắc, xa lạ với người dân mà sẽ trở thành người bạn của mỗi người, mỗi nhà, trở thành miếng cơm, thức uống, hơi thở của họ hàng ngày
Thứ ba: Quyền lực nhà nước thống nhất, trên cơ sở có sự phân công
và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Mặc dù mãi đến Hiến pháp 1992 nước ta mới ghi nhận đây là nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước cơ bản nhưng cách thức tổ chức quyền lực nhà nước này
đã được áp dụng ngay từ những ngày đầu lập nước và được kế thừa trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 Các bản Hiến pháp này đều quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, được quyền lập hiến, lập pháp và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước; Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất; với quyền tư pháp thì chỉ có Hiến pháp năm 1946 mới quy định giao cho Tòa án, các bản Hiến pháp sau này đều giao cho nhiều cơ quan, trong đó Tòa án là trung tâm của quyền tư pháp
Đây là sự biểu hiện cụ thể nhất của việc vận dụng các giá trị phổ biến của nhân loại vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Tại Điều 2
Hiến pháp 1992 đã quy định: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công
và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp" Như vậy, so với nội dung của học thuyết tư sản về phân chia
quyền lực, Đảng ta đã chọn lọc và chỉ kế thừa các yếu tố hợp lý sau: thừa nhận
Trang 18việc phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền, bao gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp; các quyền này được phân công cho các cơ quan nhà nước khác nhau, có vị trí độc lập tương đối với nhau đảm nhiệm thực hiện; riêng với yếu tố dùng quyền lực để kiềm chế, đối trọng quyền lực thì vẫn chưa được thừa nhận Thực tế hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tổ chức quyền lực này trong hơn 65 năm qua đã góp phần hạn chế có hiệu quả sự chuyên quyền, độc đoán, đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Ngày nay, khi nước ta đang tích cực hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới thì cách thức tổ chức quyền lực như trên đang ngày càng khẳng định tính ưu việt của nó, góp phần to lớn vào sự phát triển lớn mạnh của Việt Nam, đưa nền kinh
tế Việt Nam thoát ra khỏi các cuộc khủng hoảng kinh tế, phản ứng linh hoạt trong quá trình điều hành kinh tế đất nước, giữ vững nền chính trị ổn định, tạo lòng tin cho các nhà đầu tư khi họ đầu tư kinh doanh vào Việt Nam Nhà nước ta đang làm tốt quá trình hội nhập quốc tế trong khi vẫn kiên định lập trường xây dựng nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân và định hướng cho xã hội phát triển không đi trệch quỹ đạo tiến lên chủ nghĩa xã hội
Thứ tư: Nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa nhà nước và công dân, bảo đảm xây dựng xã hội công bằng, dân chủ trong đó mọi người dân thực sự
có quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội
Tôn trọng và bảo vệ quyền con người là một giá trị cơ bản trong nhà nước pháp quyền, nhưng trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam lại trở thành một giá trị mang tính đặc thù Bởi vì, quyền con người của Việt Nam có được từ chính trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm dành lại độc lập dân tộc,
do vậy ở Việt Nam quyền con người gắn bó mật thiết với chủ quyền dân tộc Trải qua 1000 năm Bắc thuộc và hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ, người dân Việt Nam hiểu hơn ai hết: chỉ khi nào có độc lập, tự do cho dân tộc thì họ mới có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, người dân Việt Nam mới được hưởng các quyền con người, quyền công dân
Nếu trước đây sự nghiệp giải phóng con người là sự nghiệp giải phóng dân tộc thì ngày nay việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người gắn liền với việc xây dựng một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, với một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Ngoài ra, chăm lo phát triển mọi mặt đời sống của con người, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo
ra những điều kiện thuận lợi cần thiết đáp ứng các nhu cầu của con người phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại cũng là mục tiêu hướng tới của nhà nước pháp
Trang 19quyền Việt Nam, thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với đất nước, với nhân dân
Hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của 4 công ước quốc
tế về quyền con người gồm: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị; Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước quốc tế về quyền trẻ em Chính vì vậy việc thể chế hóa các quy định về quyền con người cũng như việc tổ chức thực hiện chúng trên thực tế còn là biểu hiện phù hợp với xu thế hội nhập của nước ta hiện nay
Ở Việt Nam các quyền con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, biểu hiện trước hết ở việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Hiến pháp 1992 đã dành hẳn chương V quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân, và chỉ rõ: "Ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân
sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật" (Điều 50-HP 1992) Theo quy định, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không có sự phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, tín ngưỡng, tôn giáo Công dân được quyền bầu cử và ứng cử khi có đủ những điều kiện nhất định do luật định; bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội trong khuôn khổ pháp luật; được quyền học tập, lao động, được bảo đảm về tính mạng sức khỏe Đặc biệt Hiến pháp đã thể chế các quy định trong các điều ước quốc tế về quyền con người bằng việc ghi nhận nguyên tắc: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật" (Điều 72-HP1992)
và "Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của TAND, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân" (Điều 71-HP1992) Bên cạnh đó pháp luật cũng rất quan tâm đến các đối tượng yếu thế, cần được bảo vệ như trẻ em, phụ nữ, người già, người tàn tật Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam luôn gắn quyền với nghĩa vụ của công dân Công dân ngoài việc được hưởng quyền thì đồng thời phải có ý thức tôn trọng các quyền của người khác, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân của mình Việc quy định công dân có quyền và nghĩa vụ tạo cho xã hội vận động theo một trật tự nhất định, ngăn chặn sự tự do vô chính phủ, mạnh thắng yếu cũng là yếu tố quan trọng để cho quyền con người có điều kiện phát triển đầy đủ Với những việc làm cụ thể của mình, nhà nước ta đang
Trang 20tích cực thể hiện trách nhiệm trong việc đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, cũng chính là những biểu hiện cụ thể và có ý nghĩa nhất trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con người
Thứ năm: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với nhà nước pháp quyền XHCN
Yêu cầu về bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với nhà nước pháp quyền là giá trị đặc thù trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
ở Việt Nam, thể hiện sự lựa chọn phù hợp với điều kiện lịch sử, chính trị cụ thể của Việt Nam Lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước Việt Nam luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Nguyên tắc Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước đã trở thành một nguyên tắc hiến định Những thành công của hai cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và trong quá trình đổi mới đất nước hơn 65 năm qua, đưa nước Việt Nam trở thành một đất nước có tỷ lệ tăng trưởng khá trong khu vực và trên thế giới, thoát khỏi tình cảnh một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, điều kiện sống của đại bộ phận nhân dân không ngừng được cải thiện, các quyền tự do dân chủ được mở rộng, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao Tất cả những thành tựu to lớn đó đã khẳng định vị trí và vai trò không thể thiếu của Đảng cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Để không biến mình thành một Đảng chuyên quyền, độc đoát trong cơ chế một Đảng lãnh đạo, trong quá trình lãnh đạo của mình, Đảng luôn tự đổi mới cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, giữ cho Đảng luôn xứng đáng là một Đảng chân chính cách mạng, trong sạch, vững mạnh, đủ sức đảm đương sứ mệnh cao cả lãnh đạo đất nước Đảng phải không ngừng hoàn thiện mình thành một Đảng dân chủ, mạnh dạn phê bình và tự phê bình, kiên quyết sửa chữa những khuyết điểm sai lầm, quyết tâm làm cho bằng được những việc có lợi cho nhân dân Tuy vậy, Đảng không làm thay nhà nước mà thực hiện sự lãnh đạo của mình bằng việc vạch ra đường lối, chính sách phù hợp với từng thời kỳ lịch sử nhất định
và cụ thể hóa chúng thông qua pháp luật Sự lãnh đạo của Đảng còn được thực hiện thông qua các đảng viên giữ các chức vụ nhất định trong nhà nước Hơn ai hết, họ phải là những người gần dân, học dân, thấu hiểu nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân; tuyệt đối tránh bệnh quan liêu, hách dịch, cửa quyền Trong đó, mỗi đảng viên phải là một tấm gương "cần, kiệm, liêm, chính chí công vô tư" Lúc sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: "Đảng không phải là một tổ chức để làm
Trang 21cho quan phát tài Nó phải làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng"3 Lời căn dặn của Người vẫn còn nguyên giá trị với Đảng ta trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay Khi đảng viên không còn giữ được phẩm chất của mình, làm hại nước hại dân thì họ phải bị loại ra khỏi bộ máy nhà nước
Đảng phải thực sự dân chủ, lắng nghe ý kiến phê bình của nhân dân để ngày càng hoàn thiện mình Chỉ có yêu dân, kính dân thì nhân dân mới quý trọng và tin vào sự lãnh đạo của Đảng Phải ghi nhớ rằng sự tin yêu của nhân dân vào tổ chức Đảng là điều kiện tiên quyết cho việc giữ vững vai trò lãnh đạo trong nhà nước pháp quyền Sự lãnh đạo của Đảng trong nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay gắn bó chặt chẽ với xã hội dân sự Điều này vừa làm cho sự lãnh đạo của Đảng trở nên sâu rộng, thực chất và hiệu quả, vừa bảo đảm được cơ sở xã hội rộng rãi của nhà nước pháp quyền Việt Nam
Thứ sáu: Nhà nước luôn tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế mà cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên
Đây cũng chính là yêu cầu khách quan, xuất phát từ tình hình thực tế của Việt Nam trên bước đường hội nhập quốc tế Một nhà nước pháp quyền đã mang trong mình những giá trị tốt đẹp của nhân loại thì không thể chỉ biết tôn trọng pháp luật của nước mình, bảo vệ công dân của nước mình mà phải có tinh thần đại đồng, sống hài hòa với các nước khác Việc ký kết các điều ước quốc tế song phương và
đa phương là một bảo đảm cho quá trình sống chung hòa bình giữa các dân tộc, quốc gia trên thế giới Theo đó chúng ta chủ trương: "thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước XHCN và các nước láng giềng; tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội" (Điều 14 - HP1992)
Với chủ trương trên, Việt Nam đã tích cực tham gia vào quá trình đấu tranh cho quyền con người và đã là thành viên của 4 công ước quốc tế về quyền con người Ngoài ra, Việt Nam còn là thành viên chính thức của nhiều tổ chức, diễn đàn hợp tác quốc tế như Tổ chức Liên hợp quốc, Tổ chức thương mại thế giới WTO, Tổ chức ASEAN, Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương AFEC, và
3
Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb Chính trị quốc gia - 1995, Tập 5, tr 249
Trang 22tham gia ký kết nhiều hiệp định song phương, đa phương với những cam kết hợp tác trên nhiều lĩnh vực Việt Nam đã tích cực, chủ động nội luật hóa các cam kết quốc tế trên, cụ thể hóa chúng thành những điều luật và nghiêm chỉnh thực hiện Hơn nữa, khi chúng ta tôn trọng và thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập thì các nước khác mới tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện những cam kết với chúng ta Đó cũng chính là yêu cầu tự thân của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Tóm lại: Nói đến Nhà nước pháp quyền là nói đến những giá trị phổ biến
của nó, nhưng để áp dụng mô hình nhà nước pháp quyền vào từng nước cụ thể lại phải phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù của từng nước, tạo ra
sự phong phú cho khái niệm nhà nước pháp quyền Đối với thực tế xã hội Việt Nam, việc áp dụng các giá trị của nhà nước pháp quyền để tổ chức bộ máy nhà nước nhằm từng bước dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là một sự lựa chọn sáng suốt Nhà nước Việt Nam ra đời từ chính sự đấu tranh không tiếc máu xương của đông đảo quần chúng nhân dân, nhà nước ấy đi ra từ nhân dân, được nuôi dưỡng trong lòng nhân dân nên bộ máy nhà nước đó phải được tổ chức để phục vụ trước hết cho lợi ích của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
1.2 Những yêu cầu, đòi hỏi đối với Tòa án trong nhà nước pháp quyền
Tòa án với hoạt động xét xử của nó là không thể thiếu trong một nhà nước pháp quyền Bản chất cũng như những đặc tính tốt đẹp của nhà nước sẽ được thể hiện trước tiên và cụ thể nhất qua hoạt động xét xử của Tòa án đối với từng vụ án
cụ thể Vì vậy để Tòa án chuyển tải được đúng bản chất của nhà nước pháp quyền trong hoạt động xét xử của mình đòi hỏi cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án
đó phải đáp ứng được các yêu cầu nhất định, cụ thể là:
+ Tòa án trong nhà nước pháp quyền phải là một thiết chế độc lập Vì nếu Tòa án không độc lập thì sẽ thành công cụ nằm trong tay thế lực cầm quyền để đàn
áp dân chúng Khi đó Tòa án không còn là thiết chế bảo vệ công bằng, lẽ phải nữa
mà sẽ trở nên độc tài, bảo hộ cho sự bất bình đẳng trong xã hội Nhưng để cho Tòa
án độc lập đòi hỏi một cách thức tổ chức quyền lực hợp lý, quyền tư pháp của Tòa
án không bị các quyền lập pháp và hành pháp can thiệp thô bạo, đồng thời Tòa án cũng phải trở thành đối trọng quyền lực với các cơ quan lập pháp, hành pháp Khi các nhánh quyền lực có sự cân bằng, có sự kiểm soát lẫn nhau thì không chỉ Tòa án được độc lập và sự vận hành của cả hệ thống chính trị cũng trơn tru hơn, hoạt động hiệu quả hơn Nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước được coi là nền tảng của chế độ dân chủ - đặc trưng phổ biến của nhà nước pháp quyền
Trang 23+ Hoạt động xét xử của Tòa án phải thể hiện tính dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch Tòa án trong nhà nước pháp quyền tồn tại và phát triển trong một
xã hội dân chủ, vì vậy Tòa án trước hết phải thể hiện tính dân chủ trong hoạt động xét xử của mình Tòa án phải lắng nghe ý kiến của tất cả các bên, không vì thiên vị
mà trù dập hay làm lợi cho bên nào
+ Phán quyết của Tòa án phải thể hiện sự công bằng, tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và tuân thủ các quy định của pháp luật Phán quyết của Tòa án cũng thể hiện tập trung nhất tính thượng tôn pháp luật trong nhà nước pháp quyền Tòa
án chỉ được căn cứ vào các quy định của pháp luật để xác định tính đúng sai của sự việc, xác định một người có tội hay không, tội nặng hay nhẹ Khi gặp những trường hợp pháp luật chưa dự liệu điều chỉnh quan hệ phát sinh thì Tòa án có quyền sử dụng tập quán pháp hoặc tiền lệ pháp nhưng vẫn phải dựa trên các nguyên tắc pháp lý chung, không được áp dụng tùy tiện Đây cũng là yêu cầu bảo đảm tính có căn cứ trong mỗi phán quyết của Tòa án
+ Hoạt động xét xử của Tòa án phải được kiểm soát một cách chặt chẽ thông qua một cơ chế giám sát hiệu quả, đảm bảo cho Tòa án hoạt động trong giới hạn do pháp luật quy định Mặc dù các nước khác nhau có cách thức tổ chức giám sát khác nhau nhưng việc phải có một cơ chế giám sát hoạt động của Tòa án luôn là yêu cầu bắt buộc đối với Tòa án trong một nhà nước pháp quyền Bên cạnh đó, Tòa
án vừa là đối tượng bị giám sát nhưng cũng vừa là chủ thể giám sát các cơ quan nhà nước khác thông qua hoạt động xét xử của mình
Từ sự phân tích như trên và soi vào điều kiện thực tế của Việt Nam, để xây dựng Tòa án phù hợp với tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay đòi hỏi Tòa án nước ta phải đáp ứng những yêu cầu cụ thể như sau:
Thứ nhất: Tòa án phải là thiết chế tài phán thực sự độc lập
Hoạt động xét xử của Tòa án khác với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác là hoạt động theo sự vụ, giải quyết công việc theo yêu cầu trực tiếp của người dân và là hoạt động áp dụng pháp luật cho từng trường hợp cụ thể Quá trình
áp dụng pháp luật của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân Chính vì vậy, việc áp dụng phải theo trình tự thủ tục chặt chẽ, hợp pháp, không thể tùy tiện, càng không thể bị tác động từ ý chí hoặc quyền lực của bất kỳ một chủ thể nào ngoài ý chí và hiệu lực của pháp luật Do đó, hầu hết các nước trên thế giới khi thiết lập bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân quyền thì đều đề cao và bảo đảm
sự độc lập cho Tòa án, tránh sự can thiệp không cần thiết của các cơ quan khác, chủ thể khác vào hoạt động xét xử của Tòa án Ở Việt Nam, từ khi Tòa án ra đời năm 1945 đến nay thì sự độc lập của Tòa án luôn được ghi nhận và bảo đảm thực
Trang 24hiện phù hợp với nhiệm vụ chính trị của nó trong từng thời kỳ Ngày nay, để đáp ứng với hoàn cảnh mới của đất nước thì tính độc lập của Tòa án phải được đề cao hơn nữa, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền
Sự độc lập của Tòa án phải được hiểu theo hai nghĩa: Tòa án độc lập với nhánh quyền lập pháp, hành pháp và mọi cá nhân, tổ chức khác; và độc lập trong chính nội bộ của mình: cấp dưới không bị lệ thuộc bởi cấp trên về đường lối xét
xử, độc lập với ý kiến của đồng nghiệp, độc lập trong việc đưa ra quan điểm và bảo
vệ quan điểm giữa các thành viên trong Hội đồng xét xử Bảo đảm tính độc lập cho Tòa án làm cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh, công lý được lên tiếng và bảo vệ, khuyến khích cho tinh thần nói thẳng, nói thật, tránh bệnh hình thức giả dối cũng chính là mục đích lớn lao mà cuộc cải cách tư pháp của nhà nước
ta hướng tới
Tòa án phải là một thiết chế tài phán thực sự độc lập là một yêu cầu quan trọng nhất của một nhà nước pháp quyền, phù hợp với nguyên tắc phân chia quyền lực Vì vậy, trong nhà nước pháp quyền, Tòa án không chỉ có chức năng xét xử mà còn phải có chức năng giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước khác, đặc biệt
là giám sát đối với hoạt động của các cơ quan hành pháp để các cơ quan này không được làm trái quy định của pháp luật, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, chống lộng quyền, lạm quyền và sách nhiễu dân chúng Những hiện tượng này sẽ là phổ biến nếu Tòa án không phải là cơ chế thực sự độc lập, nếu việc giám sát của Tòa
án đối với hoạt động của các cơ quan hành pháp không thực sự hiệu quả
Sự độc lập của Tòa án gắn bó chặt chẽ với pháp luật Chỉ khi nào pháp luật phân định cụ thể, rõ ràng thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, trong đó
có Tòa án một cách rõ ràng, không bị chồng chéo và phân rõ trách nhiệm của các
cơ quan này trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thì khi đó Tòa án mới thực sự được độc lập
Tuy nhiên sự độc lập của Tòa án cũng chỉ mang tính chất tương đối Tòa án vẫn phải chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội, của các cơ quan dân cử và toàn thể nhân dân để hoạt động xét xử của Tòa án không mang tính tùy tiện Tính độc lập của Tòa án cũng phải được hiểu là độc lập trong khuôn khổ pháp luật, Tòa án chỉ căn cứ vào các quy định của pháp luật để ra phán quyết, không thiên vị, không bị chi phối bởi thế lực nào chính là sự biểu hiện cụ thể của tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án Ngoài ra để bảo đảm cho Tòa án được độc lập cũng cần có một đội ngũ cán bộ, Thẩm phán tận tâm với công việc, không bị tha hóa trước sự cám dỗ của đồng tiền, quyền lực, có lối sống chính trực, đúng mực
Trang 25Thứ hai: Tòa án phải được xây dựng phù hợp với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền
Sự phân chia quyền lực nhà nước thành 3 quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp là yêu cầu mang tính chất nguyên tắc của nhà nước pháp quyền Tuy nhiên để phù hợp với lịch sử, truyền thống pháp lý của Việt Nam, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước được vận dụng sáng tạo theo hướng: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp" Trên cơ sở nguyên tắc trên, hệ thống Tòa án Việt Nam cũng phải được xây dựng phù hợp với vị trí là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử trong nhà nước pháp quyền
Trong quá trình hoạt động, Tòa án chịu sự giám sát của các cơ quan dân
cử và các cơ quan hành pháp để hạn chế sự tùy tiện của Tòa án từ chính sự độc lập của nó Ngược lại, thông qua hoạt động áp dụng pháp luật của mình, Tòa án cũng
có quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan hành pháp để các cơ quan này và người của họ không thể làm trái quy định của pháp luật gây thiệt hại cho dân, không sách nhiễu nhân dân làm giảm lòng tìn của nhân dân vào chính quyền; Tòa án có thể giám sát Quốc hội thông qua việc phán quyết tính hợp hiến của các điều luật do Quốc hội ban hành Quá trình giám sát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực giúp làm hạn chế sự độc quyền chuyên chế, đồng thời bảo đảm cho pháp luật được nghiêm chỉnh thực hiện ngay từ chính các cơ quan công quyền đến từng người dân Mặc dù có sự phân chia và giám sát lẫn nhau trong việc thực hiện quyền lực của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng không ngoài mục đích phục vụ nhân dân, dùng quyền lực của nhân dân để đem lại lợi ích cho nhân dân, vì vậy mà Tòa án thống nhất với các cơ quan khác ở nơi quyền lực nhân dân,
là công bộc của dân Tòa án phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan lập pháp và hành pháp trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình để bảo vệ nhân dân, bảo đảm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, các quyền tài sản và quyền tự do của nhân dân, bảo vệ lợi ích cho nhân dân
Ngoài ra, để đảm bảo tính thống nhất trong việc thực hiện quyền lực nhà nước rất cần thiết đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong hoạt động tư pháp nói chung và Tòa án nói riêng Đảng lãnh đạo không chỉ mang tính truyền thống ở Việt Nam mà nó đã trở thành đặc điểm nổi bật của nhà nước pháp quyền Việt Nam Đây cũng chính là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam, được ghi nhận tại Điều 4 của Hiến pháp 1992 Chính vì vậy, trong quá trình tổ chức và hoạt động của mình, Tòa án phải chịu sự chỉ đạo của Đảng từ trung ương đến địa phương Tuy vậy, trong quá trình lãnh đạo của mình, Đảng tuyệt đối không làm thay nhiệm vụ xét xử của Tòa án mà chỉ định hướng cho hoạt
Trang 26động xét xử của Tòa án đi theo đúng quỹ đạo, không trệch hướng XHCN, đồng thời giám sát hoạt động của Tòa án để Tòa án không chuyên quyền độc đoán, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Thứ ba: Tòa án trong nhà nước pháp quyền phải là một thiết chế thể hiện sự dân chủ
Không có dân chủ thì không có nhà nước pháp quyền Tòa án là một bộ phận quyền lực không thể thiếu của nhà nước pháp quyền, mà lại là thiết chế duy trì trật
tự và bảo vệ pháp luật, hơn ai hết phải phát huy tính dân chủ trong quá trình tố tụng Ngoài ra, dân chủ có vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế oan, sai trong quá trình xét xử; phát huy được tinh thần dám làm, dám chịu trách nhiệm trong đội ngũ Thẩm phán, qua đó tôn trọng cái đúng, tiến bộ, phát hiện và hạn chế cái xấu, cái tiêu cực
Khi đề cập đến vấn đề dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trì trích mạnh
mẽ những người mà "Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo "quan" chủ Miệng thì nói "phụng sự quần chúng", nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng"4 Theo Người thì "Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ"5; những người tham ô, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền là những kẻ bất liêm, "Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gi"6 Đây cũng là những răn dạy xác đáng để phát huy dân chủ trong tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án
Quá trình xét xử phải đảm bảo khách quan, công bằng, công khai dân chủ Bản án phải là kết quả của quá trình tranh tụng công khai, dân chủ, minh bạch trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tình tiết của vụ án được làm rõ tại phiên tòa, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo để quyết định một mức án phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành
vi phạm tội, tránh tình trạng án tại hồ sơ Có thể nói, dân chủ là cái cốt lõi nhất để Tòa án thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong nhà nước pháp quyền Chỉ có dân chủ thì việc xét xử mới hạn chế được oan sai, công lý mới được bảo đảm
Cán bộ công chức Tòa án phải đấu tranh không khoan nhượng với tình trạng mất dân chủ, dân chủ hình thức, kiên quyết đấu tranh với thói hư tật xấu của một
bộ phận cán bộ công chức tham ô, lãng phí, quan liêu, hách dịch, xa rời quần chúng nhân dân Đặc biệt cần tích cực phát động phong trào phê và tự phê trong
Trang 27Đảng cũng như tất cả cán bộ công chức ngành Tòa án, cần loại bỏ những người không đủ tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, tư lợi, cản trở việc thực hiện dân chủ
Có làm quyết liệt như vậy mới bảo vệ được chủ quyền thực sự là của nhân dân Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dân chủ, cũng cần phải phát hiện kịp thời và ngăn chặn việc lợi dung dân chủ để hãm hại, trù dập người khác, gây bè kéo cánh
để chia rẽ nội bộ Đấy không phải là dân chủ mà chính là phản dân chủ
Thứ tư: Tòa án trong nhà nước pháp quyền phải là một thiết chế bảo
vệ sự công bằng và công lý trong xã hội
Bản thân sự ra đời và tồn tại của Tòa án đã thể hiện sự công bằng
và bảo đảm cho công lý được thực thi ở những mức độ khác nhau phù hợp với trình độ phát triển của xã hội Tòa án là sản phẩm của một xã hội phát triển cao, khi xuất hiện nhà nước, ra đời để bảo đảm công bằng trong xã hội, hướng cho những quan hệ xã hội phát triển theo một quỹ đạo nhất định, phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền Vì vậy, Tòa án trong nhà nước pháp quyền cũng phải thể hiện được sâu sắc tính chất là một thiết chế bảo vệ công bằng và lẽ phải, nhưng trên hết nó là một bộ phận của một nhà nước lấy nhân dân làm gốc nên mục đích của Tòa án phải đảm bảo công bằng cho đông đảo tầng lớp nhân dân, không có sự phân biệt về dân tộc, giai cấp, địa vị xã hội, trình độ văn hóa vv Ở đó chỉ có công
lý được lên tiếng, và hướng những hành vi sai lệch trong xã hội về đúng chuẩn mực yêu cầu
Đối với những đối tượng yếu thế trong xã hội như người nghèo, người già, phụ nữ có thai và trẻ em thì Tòa án phải tạo điều kiện cho họ bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, thông qua việc giới thiệu cho họ tiếp cận được với những hình thức trợ giúp pháp lý miễn phí, được có người bào chữa khi cần thiết Như vậy, việc bảo đảm công bằng và công lý của Tòa án có quan hệ mật thiết với yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án
Sự công bằng, bình đẳng phải được thể hiện trong Hiến pháp và pháp luật
và Tòa án phải tuyệt đối tôn trọng các quy định đó Thể hiện trong dân sự là việc Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các bên nếu sự thỏa thuận không trái pháp luật
và đạo đức xã hội Còn trong hình sự là việc Tòa án tạo sự bình đẳng trong quá trình các bên bị cáo, người bị hại đưa ra chứng cứ, yêu cầu, công bằng trong việc kết án đúng người, đúng tội, dù cho người phạm tội trước đó có là người giữ chức
vụ cao trong xã hội, nhưng nếu phạm tội thì đều bị xử như những người dân bình thường
Trang 28Để bảo đảm cho tính đúng đắn của các bản án mà Tòa án tuyên thì Tòa án phải được tổ chức với hai cấp xét xử Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo lên cấp Tòa án cao hơn nếu thấy bản án, quyết định của Tòa án tuyên đối với mình là vi phạm pháp luật, xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của mình Ngoài ra, khi bản án đã có hiệu lực thì nó vẫn có thể bị xét lại bởi các cơ quan có thẩm quyền, nếu thấy vụ án đã bị xét xử sai hoặc có những tình tiết mới làm thay đổi tính chất của vụ án Với cách tổ chức Tòa án như trên đảm bảo cho công lý được thực thi Khi công lý được bảo vệ, khi Tòa án tôn trọng và bảo vệ công bằng và lẽ phải thì mọi người dân sẽ nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật Và bởi vì một xã hội mà mọi người dân đều sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật thì xã hội ấy mới đích thực là xã hội pháp quyền, nhà nước ấy mới thực sự là nhà nước pháp quyền Với vị trí và vai trò của mình, Tòa án đang góp phần không nhỏ nhằm hiện thực hóa những điều kể trên
Thứ năm: Tòa án phải là thiết chế bảo vệ hữu hiệu quyền con người
Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền được Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 mà Việt Nam là thành viên quy định: "Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên Ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy" (Ðiều 7) Để đảm bảo các quyền chính trị - tư pháp của con người, Tuyên ngôn cũng có quy định: "Mọi người đều có quyền được bảo vệ và bênh vực bởi các cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến pháp và pháp luật quy định" (Ðiều 8); "Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán" (Ðiều 9); "Mọi người đều có bằng nhau quyền được phân xử công khai và công bằng, trước một Tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc" (Ðiều 10); "Khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và Tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự Không ai
có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không qui định đó là một hành vi phạm pháp Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra" (Ðiều 11) Khi Việt Nam đã là thành viên của Tuyên ngôn này thì đây cũng chính là chứng lý quan trọng để bảo vệ quyền con người ở Việt Nam
Với vị trí, vai trò là nơi bảo vệ công lý, công bằng và lẽ phải nên Tòa án
là nơi thể hiện tập trung nhất đặc tính tôn trọng và bảo vệ quyền con người của
Trang 29nhà nước pháp quyền Vì vậy, việc xét xử của Tòa án phải được tiến hành theo một trình tự thủ tục chặt chẽ, do pháp luật quy định Việc thu thập chứng cứ phải được thực hiện bằng những biện pháp hợp pháp Quá trình xét xử và tại phiên tòa phải tôn trọng nguyên tắc tố tụng, không được xem lời nhận tội của bị cáo là chứng
cứ duy nhất để buộc tội bị cáo, đồng thời việc chứng minh một người có tội là thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, bị cáo có quyền nhưng không
có nghĩa vụ phải chứng minh cho sự vô tội của mình Bản án của Tòa án phải là kết quả tranh tụng công khai, dân chủ trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có trong vụ án Hình phạt phải tương xứng với mức độ nguy hiểm cho hành vi phạm tội, tránh xét xử oan sai cho người
bị kết án
Đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo trong quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa cũng là một yêu cầu vô cùng quan trọng để bảo vệ quyền con người Đối với các tội mà hình phạt cao nhất là tử hình hoặc bị cáo là người chưa thành niên thì Tòa án phải đảm bảo cho họ có người bào chữa Người bào chữa được tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ của mình Bên cạnh đó, cần giảm bớt những tội áp dụng hình phạt tử hình, tránh áp dụng những hình phạt gây đau đớn về thể xác và tinh thần cho con người, tăng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ nhưng vẫn đạt được mục đích cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung
Ngoài ra, việc xét xử vừa phải thể hiện chính sách khoan hồng đối với những
bị cáo đã biết ăn năn hối cãi, thành thật khai báo, tha thiết được hoàn lương để hòa nhập với cộng đồng, vừa phải nghiêm trị đối với những kẻ phạm tội tái phạm, tái phạm nguy hiểm, có tính chất côn đồ, có tính nguy hiểm cao cho xã hội Nghiêm khắc trừng trị không chỉ có ý nghĩa tích cực đối với bản thân người phạm tội, để họ
có đủ thời gian cải tạo thành người công dân tốt, mà còn có ý nghĩa giáo dục phòng ngừa chung cho các đối tượng khác có ý định phạm tội thì từ bỏ ngay ý định của mình, bảo đảm môi trường sống lành mạnh, yên ổn cho người dân Điều đó cũng rất có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền con người, bảo vệ con người trước những đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm cũng như tài sản và những quyền tự do cá nhân khác
Thứ sáu: Việc tổ chức và hoạt động của Tòa án phải thể hiện sâu sắc bản chất của nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân
Tòa án phải thực sự là của dân, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân Tòa án sinh ra là để phục vụ nhân dân, cán bộ công chức trong Hệ thống Tòa án phải thực
sự là công bộc của nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân như lời Chủ tịch Hồ Chí
Trang 30Minh căn dặn: "Với tư cách là người phụ trách thi hành pháp luật, phải nêu cao gương "phụng công, thủ pháp, chí công vô tư".7
Tòa án sinh ra trong xã hội có giai cấp và bảo vệ cho quyền và lợi ích của giai cấp ấy, đối với nước ta thì giai cấp cầm quyền là toàn thể nhân dân lao động
mà nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức Chính vì vậy, Tòa án trong nhà nước pháp quyền Việt Nam phải thể hiện tính nhân dân sâu sắc Tính nhân dân là xuyên suốt trong quá trình hình thành và phát triển của Tòa án Việt Nam Trong chiến tranh, hệ thống Tòa án được thành lập chủ yếu
là để xét xử những thành phần phản động, phản cách mạng, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân Tiếp thu những thành quả của thế hệ đi trước đã đạt được, TAND hôm nay vẫn không ngừng phấn đấu vì một xã hội ổn định, an ninh, chính trị, trật
tự an toàn xã hội được giữ vững, góp phần đấu tranh chống các thế lực thù địch muốn phá hoại những thành quả cách mạng của nhân dân ta Đó chính là nền tảng vững chắc cho việc xây dựng Tòa án của dân, do dân, vì dân trong nhà nước pháp quyền Viêt Nam hiện nay
Trong quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án cùng với các cơ quan tư pháp khác phải tích cực đấu tranh không khoan nhượng với tội phạm, không để lọt tội phạm nhưng cũng không làm oan người vô tội Các phiên tòa phải được tổ chức công khai cho đông đảo nhân dân tham gia, đó cũng là kênh tuyên truyền, giáo dục pháp luật rất hiệu quả, giúp nhân dân hiểu, tin từ đó mà tự giác thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật Các phiên tòa phải đảm bảo có đại diện của nhân dân tham gia để thể hiện ý kiến từ phía nhân dân, cũng như đảm bảo sự giám sát của nhân dân trong hoạt động xét xử Với chức năng bảo vệ nhân dân, Tòa án phải là nơi mà người dân tin tưởng, giao phó quyền quyết định tính đúng sai, phân định cái thiện ác Chính vì vậy, Hệ thống Tòa án trong nhà nước pháp quyền phải là người sát cánh với nhân dân, nơi mà nhân dân được quyền nói lên tiếng nói của mình, không ngại cường quyền, không sợ sự đe dọa, không có sự phân biệt đối xử, thẳng thắn nói lên
sự thật Trên cơ sở ấy, Tòa án làm người trung gian phán xét tính hợp pháp, trừng trị cái ác, bênh vực lẽ phải và bảo vệ sự công bằng
Để Tòa án thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thì đội ngũ cán bộ Tòa án phải thực sự là công bộc của nhân dân Hơn ai hết, cán bộ công chức ngành Tòa án phải thật sự gần gũi nhân dân, sát dân, học dân, hiểu tâm tư tình cảm của nhân dân Cán bộ Tòa án trong nhà nước pháp quyền phải tránh xa với bệnh quan liêu, hách dịch, cửa quyền Mỗi một cán bộ Tòa án đều phải nêu cao tinh thần nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật, có ý thức tôn trọng nhân dân trong quá trình
7
Được viết trong thư của Bác gửi tới Hội nghị tư pháp toàn quốc, tháng 2/1948
Trang 31thực thi pháp luật và phải nhận thức sâu sắc rằng mình là người được nhân dân trả lương để phục vụ nhân dân chứ không phải là "quan dân", đứng trên đầu trên cổ nhân dân để ra phán quyết theo kiểu "ban ơn", bất chấp quy định của pháp luật
Tóm lại: Để xây dựng thành công nhà nước pháp quyền thì Việt Nam phải
xây dựng cho được một hệ thống Tòa án hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, độc lập tương đối với các cơ quan lập pháp và tư pháp "Tòa án là biểu hiện điển hình nhất của công lý, công bằng xã hội, dân chủ, công khai; bộc lộ trực tiếp quyền lực nhà nước trong việc độc lập áp dụng pháp luật Chính vì vậy, Tòa án là nơi thể hiện tập trung nhất tinh thần thượng tôn pháp luật - nội dung cốt lõi của nhà nước pháp quyền Công dân và xã hội đánh giá bản chất, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của nhà nước trước hết thông qua đánh giá tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp mà trung tâm là Tòa án Tòa án là nơi biểu hiện rõ ràng nhất bản chất của nhà nước và pháp luật, là nơi con người tìm thấy lẽ công bằng, tính nhân đạo, phán quyết tính đúng sai, thiện ác, đồng thời là nơi thực hiện có hiệu quả nhất việc tuyên truyền phổ biến, nâng cao ý thức pháp luật vì lợi ích cao cả của nhân dân, của con người Quyền và tự do của con người gắn bó chặt chẽ với hoạt động xét xử của Tòa án, quyền lực nhà nước có thể bị biến dạng nếu Tòa án không chuyển tải đúng bản chất đã được xác định trong pháp luật, nếu không áp dụng đúng đắn pháp luật, nếu Tòa án không vô tư khách quan, độc lập xét xử, nếu Tòa án chịu sự chi phối của các tiêu cực xã hội".8
1.3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về xây dựng và phát triển hệ thống Tòa án trong điều kiện xây dựng nước nhà pháp quyền
Hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận và quy định Tòa án là chủ thể
có quyền tư pháp Tòa án tối cao và các Tòa án cấp dưới do Quốc hội hoặc Nghị Viện thành lập Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, đặc điểm mỗi quốc gia
về địa lý, dân cư và quan điểm của các nhà cầm quyền mà hệ thống Tòa án của các nước được tổ chức theo những cách thức khác nhau, nhưng tựu chung lại có ba mô hình tổ chức Tòa án phổ biến được các nước trên thế giới áp dụng, đó là:
1.3.1 Tòa án được tổ chức không phụ thuộc vào cấp hành chính - lãnh thổ
Một số nước tổ chức Tòa án theo mô hình này, tiêu biểu như Hệ thống Tòa
án Anh và Cộng hòa liên bang Đức
* Hệ thống Tòa án Anh bao gồm:
8
Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người - Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia - 2009, tr 679
Trang 32- Tòa án cấp thấp: là Tòa án cấp quận, huyện có thẩm quyền xét xử những
vụ án ít nghiêm trọng (mức án dưới 12 năm tù giam) Việc xét xử của Tòa án cấp thấp không có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn mà chỉ do một Thẩm phán đảm trách
từ đầu đến cuối
- Tòa Hoàng gia: xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án có cáo trạng Khi xét
xử có Bồi thẩm đoàn tham gia
- Tòa án cấp cao: được chia thành các phân tòa bao gồm một Tòa phúc thẩm
và các Tòa án cấp cao khác, có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án của Tòa
án cấp dưới khi có kháng cáo, kháng nghị Trong đó, Tòa phúc thẩm xét xử phúc thẩm các vụ có kháng cáo, kháng nghị do Tòa Hoàng gia chuyển đến, còn các Tòa cấp cao khác thụ lý các kháng cáo, kháng nghị về dân sự do Tòa án cấp quận, huyện chuyển lên Việc xét xử của Tòa án cấp cao có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn
* Hệ thống Tòa án Cộng hòa liên bang Đức bao gồm:
- Tòa án địa phương: Xét xử các vụ án hình sự có mức án không quá 4 năm tù; giải quyết những tranh chấp dân sự có giá trị thấp (5.000 Euro trở xuống), những vụ việc về hôn nhân và gia đình, những tranh chấp giữa chủ và người đi thuê nhà do nhà nước quản lý; các khiếu kiện về trợ cấp trong gia đình và các yêu cầu tuyên bố phá sản
- Tòa án khu vực: Xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự có mức án trên 4 năm
tù, nhưng không thuộc thẩm quyền của Tòa án thượng thẩm; giải quyết các vụ việc dân sự có giá ngạch trên 5.000 Euro; xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định hình sự, dân sự của Tòa án địa phương
- Tòa án thượng thẩm: Xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự đặc biệt nghiêm trọng, xét xử phúc thẩm các bản án dân sự của Tòa án cấp dưới có kháng cáo, kháng nghị; xét xử giám đốc thẩm các bản án của Tòa án cấp dưới
- Tòa án tối cao liên bang: xét xử giám đốc thẩm các bản án hình sự, dân sự của Tòa án cấp dưới
Ngoài ra Tòa án tối cao liên bang Đức còn có một số Tòa án độc lập
có chức năng xét xử sơ thẩm một số loại việc đó là: Tòa sở hữu công nghiệp, Tòa quân sự, Tòa liên minh kinh tế, Tòa nghề thẩm phán liên bang, Tòa về công chứng, Tòa nghề luật sư, Tòa đại diện sở hữu công nghiệp, Tòa nghề kế toán, Tòa nghề kiểm toán viên, Tòa nghề đại diện thuế
Trang 33Bên cạnh hệ thống Tòa án có thẩm quyền chung nêu trên, ở Cộng hòa liên bang Đức còn có hệ thống các tòa chuyên biệt như Tòa án hành chính liên bang, Tòa án tài chính liên bang, Tòa án lao động liên bang Tòa án xã hội liên bang
1.3.2 Tòa án được tổ chức theo cấp hành chính lãnh thổ
Việc tổ chức theo mô hình này điển hình là hệ thống Tòa án Trung Quốc và
Liên bang Nga
* Hệ thống Tòa án Trung Quốc:
Ở Trung Quốc, Hệ thống Tòa án được tổ chức theo cấp hành chính lãnh thổ, bao gồm tòa án cấp huyện, Tòa án cấp trung, Tòa án cấp cao và Tòa án tối cao + Tòa án cấp huyện: Được thành lập ở tất cả các huyện và cấp tương đương
để xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự có mức án dưới 15 năm tù, các vụ án dân
sự, kinh tế, lao động, trong địa phận huyện mình quản lý, trừ những vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án trung cấp
+ Tòa án trung cấp: Được thành lập ở tất cả các thành phố thuộc tỉnh, xét
xử những vụ án hình sự liên quan đến an ninh quốc gia; những vụ án mà bị cáo là người nước ngoài và những vụ án khác có mức án trên 15 năm tù; xét xử phúc thẩm những vụ án của Tòa án cấp huyện có kháng cáo, kháng nghị
+ Tòa án cao cấp: Được thành lập ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu tự trị; có chức năng xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự gây ảnh hưởng nghiêm trọng trong khu vực; phúc thẩm những bản án sơ thẩm của Tòa án trung cấp có kháng cáo, kháng nghị
+ Tòa án tối cao: xét xử sơ chung thẩm những vụ án hình sự có ảnh hưởng đến toàn quốc; phúc thẩm những bản án sơ thẩm của Tòa án cấp cao có kháng cáo, kháng nghị
* Hệ thống Tòa án Liên bang Nga gồm:
- TAND quận, huyện: được trao thẩm quyền xét xử mọi tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên hay Tòa án quân sự
- Tòa án tỉnh, thành phố tương đương tỉnh, tỉnh tự trị, khu tự trị, cộng hòa
tự trị: xét xử sơ thẩm những vụ án thuộc thẩm quyền và xét xử phúc thẩm các bản án của quận, huyện có kháng cáo, kháng nghị
- Tòa tối cao: có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án đặc biệt phức tạp hoặc có ảnh hưởng đến toàn liên bang; phúc thẩm các bản án của Tòa án tối cao cộng hòa tự trị, Tòa án tỉnh, Tòa án thành phố, tỉnh tự trị, khu tự trị; giám đốc các bản án đã có hiệu lực pháp luật
Trang 34Theo đó, Tòa án Việt Nam cũng thuộc nhóm nước mà hệ thống Tòa án được
tổ chức như trên
1.3.3 Tòa án được tổ chức thành các hệ thống nhỏ độc lập với nhau
Tổ chức theo mô hình này điển hình là các toà án ở Pháp và Thái Lan
* Hệ thống Tòa án của Pháp: được chia thành hệ thống Tòa án tư pháp bao
gồm: tòa dân sự thông thường, tòa dân sự đặc biệt, tòa hình sự thông thường, tòa
hình sự đặc biệt, tòa phá án; hệ thống các Tòa án hành chính với cơ cấu tương đối
phức tạp, độc lập với các Tòa án tư pháp Ngoài ra, hệ thống Tòa án của Pháp còn bao gồm Hội đồng bảo hiến với chức năng kiểm soát tính hợp hiến của các văn bản pháp luật được ban hành
* Hệ thống Tòa án Thái Lan: Cũng được cơ cấu tương tự như hệ thống Tòa
án của Pháp Theo Hiến pháp Thái Lan năm 1997 thì ở Thái Lan có 4 loại Tòa án độc lập nhau là Tòa Hiến pháp, các Tòa án tư pháp, Tòa án hành chính và Tòa án quân sự
Từ việc phân tích ba mô hình tổ chức Tòa án như trên chúng ta dễ dàng nhận thấy: Mỗi một mô hình Tòa án được lựa chọn đều phải phù hợp với điều kiện của từng quốc gia mà nó được áp dụng Thông thường các nước có lãnh thổ rộng lớn hoặc lãnh thổ bị chia cắt thành các vùng địa lý cách xa nhau thì thường chọn mô hình Tòa án theo cấp hành chính lãnh thổ để đảm bảo gần dân và xử lý kịp thời các xung đột xảy ra trong địa hạt của mình và dễ dàng trong công tác quản lý, hướng dẫn nghiệp vụ, phối hợp trong quá trình xét xử của các Tòa án Còn đối với những nước có lãnh thổ thuần nhất, không bị chia cắt hoặc lãnh thổ tương đối hẹp thì thường lựa chọn mô hình Tòa án theo thẩm quyền xét xử và không phụ thuộc vào đơn vị hành chính lãnh thổ Khi đó Tòa án vẫn đảm bảo được tính gần dân, thực hiện hoạt động xét xử nhanh chóng, kịp thời nhưng đồng thời cũng đảm bảo được tính độc lập cao trong hoạt động xét xử của Tòa án Mô hình Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính lãnh thổ vì thế cũng tương đối phù hợp với điều kiện lãnh thổ nhỏ hẹp như ở nước ta, cần được nghiên cứu để
áp dụng trong quá trình cải cách hệ thống TAND thời gian tới
Ngoài ra, để đảm bảo cho Tòa án thực sự độc lập trong quá trình xét xử, tuyệt đại đa số các nước tư sản đều áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực, theo
đó quyền tư pháp thuộc về Tòa án Tuy nhiên tính độc lập của Tòa án cũng chỉ là tương đối Do vậy trong hoạt động của mình, Tòa án cũng có mối quan hệ mật thiết với các cơ quan lập pháp và hành pháp Ngay cả ở những nước theo chính thể Cộng hòa tổng thống, sự phân quyền giữa ba nhánh quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp được coi là triệt để nhất thì biểu hiện của sự phối hợp này cũng rất rõ, thể
Trang 35hiện sự mềm dẻo trong việc thực hiện quyền lực nhà nước Điển hình như ở Hoa Kỳ: Tòa án tối cao tuy là cơ quan nắm quyền tư pháp, nhưng cũng có một phần chức năng lập pháp bằng quyền kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật Ngược lại, mặc dù phần lớn công tác tư pháp do Tòa án thực hiện, song Quốc hội cũng thực hiện một phần quyền tư pháp trong các trường hợp bị Hạ viện khởi tố và Thượng viện xét xử đối với thủ tục đàn hạch Ngoài ra, Tổng thống cũng có quyền can thiệp vào công việc của Tòa án với quyền ân xá mọi tội phạm, trừ tội phản bội tổ quốc Hay như ở nước Anh, với truyền thống các quan chức chỉ chịu trách nhiệm trước Nghị viện, chứ không bị xét xử của bất kỳ Tòa án nào, do vậy Thượng nghị viện được coi là Tòa thượng thẩm tối cao
Trên cơ sở kinh nghiệm của các nước về việc bảo đảm tính độc lập cho Tòa
án như đã trình bày, đòi hỏi khi Việt Nam xây dựng Tòa án theo tinh thần nhà nước pháp quyền thì vừa phải đảm bảo cho Tòa án độc lập trong xét xử nhưng đồng thời cũng phải có cơ chế phối hợp hoạt động một cách nhịp nhàng với các cơ quan nhà nước khác, đặc biệt là với Quốc hội và Chính phủ trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, đích đến cuối cùng của quá trình phối hợp này là đảm bảo cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm chỉnh đồng thời bảo vệ có hiệu quả lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhân dân Ngoài ra phải tạo ra cơ chế giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan này với Tòa án để cho sự độc lập của Tòa án không vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật, tránh lộng quyền, lạm quyền
Về con đường hình thành và nhiệm kỳ của Thẩm phán, ở các nước khác nhau cũng quy định khác nhau, có nước Thẩm phán được hình thành bằng con đường bổ nhiệm, một số ít nước Thẩm phán lại được bầu bởi một thiết chế của nhân dân; có nước giới hạn nhiệm kỳ Thẩm phán trong một thời hạn nhất định, nhiều nước lại quy định nhiệm kỳ của Thẩm phán là vô thời hạn Ví dụ như Ở Hoa
Kỳ, chức vụ Thẩm phán được hình thành bằng con đường bổ nhiệm Sau khi được
bổ nhiệm, Thẩm phán sẽ có nhiệm kỳ suốt đời nếu vẫn giữ được phẩm chất và uy tín Ngoài ra, Thẩm phán không phụ thuộc vào đảng phái chính trị nào, với đặc thù của một nền chính trị đa đảng phái nên dù đảng nào lên nắm quyền điều hành đất nước thì Thẩm phán vẫn không bị thay đổi, luôn lấy Hiến pháp, lấy các đạo luật làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động xét xử của mình Điều này giúp cho các Thẩm phán của Tòa án Hoa Kỳ rất độc lập, công tác xét xử vì thế trở nên chuyên nghiệp, chất lượng các bản án, chất lượng tranh tụng luôn ở một trình độ cao và thể hiện là một nền tư pháp mạnh Cách thức bổ nhiệm Thẩm phán với nhiệm kỳ vô thời hạn như ở Hoa Kỳ là một điển hình, thể hiện tính vượt trội so với cách thức bổ nhiệm
Trang 36Thẩm phán theo nhiệm kỳ mà nhiều nước trên thế giới hiện nay đang áp dụng, trong đó có Việt Nam
Trong hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án ở các nước trên thế giới cũng
có sự khác nhau: Nếu như ở các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law như Pháp, Đức việc xét xử của Tòa án chủ yếu dựa trên pháp luật thành văn thì các nước theo
hệ thống pháp luật Common Law lại áp dụng án lệ như là nguồn chủ yếu trong hoạt động xét xử của Tòa án Ở các nước Common Law, Tòa án lại được coi là chủ thể có quyền sáng tạo luật bên cạnh Nghị viện Tuy nhiên, dù cách thức áp dụng pháp luật có khác nhau nhưng tuyệt đại đa số các nước đó đều trên tinh thần thượng tôn pháp luật, hoạt động xét xử của Tòa án tuyệt đối trung thành với Hiến pháp, mọi văn bản trái với tinh thần của Hiến pháp đều bị coi là vi hiến và Tòa án
có quyền không áp dụng hoặc bị vô hiệu hóa bằng một bản án do Tòa án Hiến pháp ban hành, có hiệu lực áp dụng như luật Kinh nghiệm nêu trên cũng gợi ý cho Việt Nam nên từng bước xây dựng cho mình một Tòa án Hiến pháp trong tương lai, đồng thời có hướng nghiên cứu áp dụng cả luật thành văn và án lệ một cách hợp lý trong quá trình tiến hành hoạt động xét xử của Tòa án, đảm bảo tính chủ động sáng tạo của Tòa án, tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong hoạt động xét xử
Trên đây là một số kinh nghiệm trong tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án các nước trên thế giới, cũng là những gợi ý cho Việt Nam trong quá trình đi tìm lời giải cho bài toán đổi mới hệ thống TAND hiện nay Tuy nhiên quá trình học hỏi và vận dụng phải trên tinh thần phù hợp với truyền thống pháp lý, phong tục tập quán, điều kiện thực tiễn về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý của con người Việt Nam
Trang 37CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TAND TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM
2.1 Sơ lược về Hệ thống TAND Việt Nam trước khi xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân
Lịch sử hình thành và phát triển của Hệ thống Tòa án Việt Nam cho đến ngày nay gắn bó mật thiết với quá trình đấu tranh chống ngoại xâm trong thời chiến và xây dựng đất nước trong thời bình Chính vì vậy, cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án nước ta cũng có sự thay đổi phù hợp với nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ nhất định
Sau khi cách mạng tháng tám thành công, dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã bắt tay vào xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân Ngày 02/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh
ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đồng thời ra mắt Chính phủ lâm thời Đúng như câu nói nổi tiếng của V.I Lênin: “Giành được chính quyền đã khó, nhưng giữ chính quyền lại càng khó hơn” Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có những sách lược đúng đắn nhằm giữ vững chính quyền non trẻ vừa mới được thành lập
Để giữ vững chính quyền, không có cách nào khác là phải có ngay các biện pháp cần thiết để vừa xây dựng, vừa củng cố bộ máy nhà nước trong đó có TAND Chỉ ít ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, các Tòa
án quân sự được thành lập theo Sắc lệnh được ký ngày 13/9/1945 đánh dấu sự ra đời của TAND ở nước ta Lúc đầu được đặt ở những tỉnh và thành phố quan trọng:
ở Bắc bộ tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình; ở Trung bộ tại Vinh, Huế, Quảng Ngãi; ở Nam bộ tại Sài Gòn, Mỹ Tho Sau đó, do yêu cầu của nhiệm
vụ xét xử, ngày 29/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh đặt một Toà án quân sự tại Nha Trang để xét xử các vụ án xảy ra tại các tỉnh Khánh Hoà, Đắc Lắk, Đồng Nai, Phan Rang, Phan Thiết Các Tòa án này có thẩm quyền: "xử tất cả những người phạm một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, dù việc đó xảy ra trước hay sau ngày 19/8/1945", trừ trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội là binh sỹ thì thuộc về nhà binh tự xử lý theo quân luật Các Tòa án quân sự do liên Bộ quốc phòng - Bộ nội vụ chỉ đạo
Có thể thấy rằng trong mấy tháng đầu sau ngày giành được chính quyền
về tay nhân dân, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ đã rất chú trọng xây dựng bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân, trong đó có Toà án nhân dân Tuy nhiên trong năm 1945 các Toà án quân sự không thể đảm nhiệm được việc xét
xử tất cả các vụ án hình sự và không xét xử các vụ án dân sự Do đó, trong thời
Trang 38gian này việc xét xử một số vụ án hình sự thường (các vụ án xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của công dân, xâm phạm tài sản của công dân, trật tự an toàn
xã hội v.v ) và việc xét xử các vụ án dân sự được tạm thời giao cho Ban tư pháp trong các Uỷ ban nhân dân huyện, các Uỷ ban nhân dân tỉnh đảm nhiệm
Nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước nói chung
và TAND nói riêng, ngày 24/01/1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Toà án và các ngạch Thẩm phán Đây là Sắc lệnh đầu tiên quy định một cách đầy đủ cách thức giải quyết các tranh chấp cũng như tổ chức các Toà án và quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của các ngạch Thẩm phán
Sắc lệnh quy định thành lập Ban tư pháp ở mỗi xã để hoà giải tất cả các việc dân sự và thường sự, có thẩm quyền phạt vi cảnh từ 5 hào đến 6 đồng bạc; thi hành những mệnh lệnh của các Thẩm phán cấp trên Ban tư pháp xã không có quyền tịch thu tài sản của ai và cũng không có quyền bắt bớ, giam giữ ai, trừ khi có trát nã của một Thẩm phán hay khi thấy người phạm tội quả tang (Điều 4)
Thành lập ở mỗi quận (phủ, huyện, châu) một Toà án sơ cấp gồm có: một Thẩm phán, một lục sự và một hay nhiều Thư ký giúp việc Mỗi tuần lễ, ít ra phải
có hai phiên toà công khai: một phiên hộ và một phiên hình Tại phiên toà, Thẩm phán xét xử một mình, lục sự giữ bút ký, lập biên bản, án từ
Thành lập Toà án đệ nhị cấp ở mỗi tỉnh và ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn - Chợ Lớn Toà án đệ nhị cấp gồm có một Chánh án, một biện
lý, một dự thẩm, một chánh lục sự và những thư ký giúp việc Tuỳ nơi nhiều việc hay ít việc, có thể tăng thêm số Thẩm phán và lục sự, hay để một Thẩm phán kiêm nhiều chức vụ Mỗi tuần lễ ít nhất phải có hai phiên toà công khai: một phiên hộ và một phiên hình Khi xét xử về dân sự, thương sự, Chánh án xử một mình Khi xét
xử các việc tiểu hình, phải có thêm hai viên phụ thẩm nhân dân góp ý kiến (Điều 17)
Sắc lệnh còn quy định cụ thể về chế độ phụ thẩm: Không thể cùng làm phụ thẩm trong một Toà án "các người thân thuộc hay thích thuộc với nhau cho đến bậc thứ ba, các người thân thuộc hay thích thuộc với các Thẩm phán hoặc với các người đương sự cho đến bậc thứ ba" và "không ai có thể làm phụ thẩm trong một việc mà mình là người đương sự hoặc đã điều tra, hoặc đã làm chứng hay làm giám định" (Điều 21) Sắc lệnh cũng quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của phụ thẩm nhân dân rất cụ thể, họ có bổn phận "lấy trí sáng suốt và lương tâm ngay thẳng ra xét mọi việc rồi phát biểu ý kiến một cách công bằng không vì nể, vì sợ một thế lực nào, vì lợi ích riêng hay tư thù mà bênh vực ai hay làm hại ai Các phụ
Trang 39thẩm nhân dân phải giữ kín các điều bàn bạc trong lúc nghị án Nếu tiết lộ bí mật
ấy ra sẽ bị Toà thượng thẩm phạt từ sáu tháng đến hai năm tù"
Đối với các việc đại hình, khi xét xử Toà đệ nhị cấp gồm có năm người cùng ngồi xử và đều có quyền quyết nghị, gồm Chánh án Toà đệ nhị cấp làm Chủ toạ phiên toà, hai Thẩm phán làm phụ thẩm chuyên môn và hai phụ thẩm nhân dân Theo quy định tại Điều 34, thì ông biện lý, bị can và nguyên đơn có quyền chống
án lên Toà thượng thẩm
Thành lập ở mỗi kỳ một Toà thượng thẩm; Toà thượng thẩm ở Bắc Kỳ đặt ở
Hà Nội; Toà thượng thẩm Trung Kỳ đặt ở Thuận Hoá (Huế); Toà thượng thẩm Nam Kỳ đặt ở Sài Gòn Pháp lệnh cũng quy định: Trong việc đại hình, nếu trước Toà thượng thẩm một bị cáo không có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử một Luật
sư để bào chữa cho bị cáo
Như vậy, theo Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 thì hệ thống Tòa án được tổ chức tương đối quy cũ bao gồm: các Tòa án quân sự, Tòa án binh lâm thời; các Tòa thượng thẩm đặt ở mỗi kỳ, Tòa đệ nhị cấp đặt ở mỗi tỉnh và Tòa sơ cấp đặt ở mỗi huyện Những nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân trong các Sắc lệnh này sau đó được ghi nhận vào trong bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta Theo quy định tại chương VI của Hiến pháp năm 1946 thì ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có các Toà án sau đây: Toà án tối cao; các Toà án phúc thẩm; các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp (Điều 63) Các nhân viên Thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm (Điều 64) Về các nguyên tắc xét xử gồm có: "Khi xử việc đại hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với Thẩm phán nếu là việc đại hình; quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước Toà án; các phiên toà đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt; trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp" (các Điều 65, 66, 67 và 69) Cần lưu ý là chỉ đến Hiến pháp 1946 thì Tòa án tối cao mới chính thức được thành lập
Tháng 11/1946 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua bản Hiến pháp đầu tiên thì tháng 12/1946 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng
nổ trong toàn quốc Hệ thống Tòa án Việt Nam vì thế cũng được tổ chức sao cho phù hợp với thời chiến mà không nhất thiết phải triển khai như Hiến pháp 1946 quy định Thời kỳ này Việt Nam có các cấp Tòa án sau:
+ Tòa án thượng thẩm ở cấp kỳ được giải tán nên việc phúc thẩm các bản án
có kháng cáo giao cho Hội đồng phúc án mới được thành lập ở liên khu
Trang 40+ Các Tòa án binh mặt trận được thành lập ngay từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, với chức năng "xét xử những người quả tang phạm tội phản quốc, gián điệp hoặc cướp của của dân chúng ở các địa điểm đương tác chiến"9 + Các Tòa án quân sự đặt ở liên khu để xét xử những quân nhân phạm tội Các Tòa án này thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban kháng chiến - hành chính liên khu, về chuyên môn thì thuộc quyền quản lý của Cục Quân pháp - Bộ quốc phòng.10
+ Ở cấp trung ương có Tòa án quân sự trung ương "để xét xử các nhân viên phạm pháp thuộc các cơ quan trung ương của Bộ quốc phòng và Bộ tổng chỉ huy,
kể cả cấp trung đoàn trưởng trở lên trong thời kỳ chiến tranh".11
Cuộc cải cách TAND đầu tiên ở nước ta có thể nói được bắt đầu bằng việc Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng Theo Sắc lệnh này, "Toà án sơ cấp nay gọi là TAND huyện, Toà án đệ nhị cấp nay gọi là TAND tỉnh, Hội đồng phúc án nay gọi là Toà phúc thẩm, phụ thẩm nhân dân nay gọi là Hội thẩm nhân dân" (Điều 1) Hệ thống TAND bao gồm: Tòa án tối cao, các Tòa án phúc thẩm, các TAND tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, các Tòa án huyện, quận và Ban tư pháp xã Mục tiêu của cuộc cải cách này là làm dân chủ hóa bộ máy tư pháp, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào việc xét xử và có điều kiện giám sát hoạt động xét xử của Toà án, làm cho Tòa án thực sự là của dân, do dân và vì dân Với mục tiêu này khi xét xử Hội thẩm nhân dân phải chiếm đa số trong Hội đồng xét xử: TAND huyện, TAND gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, Toà án phúc thẩm gồm hai Thẩm phán
và ba Hội thẩm nhân dân (Điều 3) Nếu như trước đây Hội thẩm nhân dân chỉ xét
xử các vụ án hình sự thì giờ đây tham gia xét xử cả hình sự lẫn dân sự và có quyền biểu quyết bình đẳng với Thẩm phán Ngoài ra, bằng Sắc lệnh này đã mở rộng phạm vi thẩm quyền của Ban tư pháp xã được phạt vi cảnh, nhằm giải quyết mau chóng tại xã một số việc ít quan trọng về mặt trị an Về thủ tục tố tụng được quy định đơn giản hơn, hợp lý hơn bảo đảm sự nhanh nhạy trong việc giải quyết các việc hình cũng như việc hộ
Từ năm 1958 đến năm 1961 cuộc cải cách tư pháp lần thứ hai được tiến hành Tháng 4/1958 Quốc hội quyết định thành lập TANDTC và Viện công
tố nhân dân trung ương, tách Hệ thống Tòa án và Viện công tố ra khỏi Bộ tư pháp thành hai cơ quan trực thuộc Hội đồng chính phủ