BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TRƯƠNG QUỐC HƯNG QUY ĐỊNH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG BỘ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT VÀ BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC PHÒNG, CHỐNG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRƯƠNG QUỐC HƯNG
QUY ĐỊNH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM
NHŨNG TRONG BỘ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT
VÀ BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quốc Hoàn
Hà Nội, 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỘ QUỐC
TRIỀU HÌNH LUẬT VÀ CÁCH TIẾP CẬN VỀ PHÒNG,
CHỐNG THAM NHŨNG HIỆN NAY
Chương 3 NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA CHO CÔNG CUỘC
PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG HIỆN NAY
Trang 3MỞ ĐẦU 1- Tính cấp thiết của đề tài
Tham nhũng là một phạm trù lịch sử, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và tồn tại cùng với sự phát triển của Nhà nước Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, tham nhũng được đánh giá là ngày càng nghiêm trọng cả về phạm vi và quy mô, thủ đoạn tham nhũng ngày càng tinh vi, khó lường Tham nhũng đã trở thành lực cản chính đối với công cuộc hội nhập và phát triển kinh tế của đất nước, là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của Đảng và chế độ ta Đấu tranh phòng, chống tham nhũng được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Đảng và nhà nước và đang được thúc đẩy mạnh mẽ trong thời gian qua Về mặt lập pháp, có thể nhận thấy sự phát triển toàn diện trong tư duy nhận thức về phòng, chống tham nhũng Với việc ban hành Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 thay thế Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 và các văn bản có liên quan trước đó, tiếp theo là sự ra đời của Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, chúng ta đã thể hiện sự chuyển hướng mạnh mẽ từ tư duy chống tham nhũng là chính sang tư duy chống tham nhũng được tiến hành song song với phòng ngừa, trong đó phòng ngừa là biện pháp chủ yếu nhằm ngăn chặn tận gốc nguyên nhân sản sinh ra tham nhũng
Tuy nhiên, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn được xác định là một cuộc chiến cam go, phức tạp bởi tham nhũng vẫn diễn ra rất phức tạp và có xu hướng tăng về quy mô, tính chất ngày càng nghiêm trọng Do vậy, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh này là điều kiện cần thiết nhằm bảo vệ và phát huy những thành quả đã đạt được của quá trình hội nhập, phát triển kinh tế - xã hội Để tạo cơ sở khoa học cho những
nỗ lực, những giải pháp phòng, chống tham nhũng, đòi hỏi chúng ta cần nghiên cứu sâu sắc hơn, toàn diện hơn về tham nhũng cũng như kinh
Trang 4nghiệm phòng, chống tham nhũng Trong đó nghiên cứu kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của cha ông ta trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam, mà cụ thể là nghiên cứu các giải pháp phòng, chống tham nhũng thông qua Quốc triều hình luật, bộ luật toàn diện nhất, nhân văn nhất
và được đánh giá là: “…thành tựu có giá trị đặc biệt quan trọng trong lịch
sử pháp luật Việt Nam” [35, tr.12] là hết sức có ý nghĩa, có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn
Nghiên cứu về Quốc triều hình luật, một số nhà sử học và chính trị gia đã thống nhất cho rằng, Quốc triều hình luật như là một phương tiện, công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý xã hội, trị vì đất nước với những tư tưởng lập pháp rất gần với tư tưởng pháp luật hiện đại Sự kết hợp pháp trị với đức trị trong đạo trị quốc, an dân; mối quan hệ giữa pháp luật với phong tục tập quán…
Với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Quốc triều hình luật mang lại cho chúng ta những bài học kinh nghiệm khá cách toàn diện với những giải pháp đồng bộ, thiết thực Có thể nói, tuy vẫn chứa đựng những nội dung mang nặng tính hình luật như đặc điểm vốn thấy trong pháp luật phong kiến, như quy định các hình phạt nghiêm khắc đối với các tội danh tham nhũng, nhưng trong Quốc triều hình luật và các luật lệ do Hoàng đế
Lê Thánh Tông ban hành đã quy định các biện pháp phòng ngừa tham nhũng khá toàn diện như: cải cách bộ máy nhà nước, hoàn thiện chế độ lương bổng đối với đội ngũ quan lại, quy định chế độ kiểm tra, giám sát chặt chẽ hệ thống quan lại từ trung ương xuống địa phương Có thể nói, việc nghiên cứu những quy định mang tính chất vừa toàn diện về chính sách vừa cụ thể trong từng biện pháp, vừa nhân văn vừa nghiêm khắc trong hình phạt rất có ý nghĩa đối với việc hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay
Trang 5Do vậy, đề tài luận văn “Quy định về phòng, chống tham nhũng trong bộ Quốc triều hình luật và những bài học rút ra đối với công cuộc phòng, chống tham nhũng hiện nay” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong
giai đoạn hiện nay
1997 nghiên cứu về những vấn đề lý luận và giải pháp thực tiễn đấu tranh chống tham nhũng; Luận án tiến sỹ luật học: “Tình hình, nguyên nhân và các biện pháp đấu tranh phòng, chống các tội tham nhũng” năm 2004 của tác giả Trần Công Phàn và một số luận văn cao học khác nghiên cứu một số tội phạm về tham nhũng trong một số lĩnh vực nhất định
Việc nghiên cứu kinh nghiệm về cải cải bộ máy hành chính, hoàn thiện chế độ công vụ, công chức góp phần phòng, chống tham nhũng cũng được các nhà nghiên cứu luật học, sử học quan tâm Trong thời gian qua,
đã có nhiều bài viết nghiên cứu về kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của các triều đại phong kiến Việt Nam, những kinh nghiệm rút ra từ các cuộc cải cách hành chính trong lịch sử Việt Nam như: Phòng, chống tham nhũng xưa và nay (ThS Phạm Thị Huệ); Các quy định về phòng, chống tham nhũng trong bộ Quốc Triều Hình Luật và những bài học cho công
Trang 6cuộc phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay (TS Nguyễn Văn Thanh); Cải cách bộ máy nhà nước dưới triều vua Lê Thánh Tông; Pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương Triều Lê (PGS TS Bùi Xuân Đức); Việc tuyển chọn và sử dụng quan lại trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam (PGS.TS Bùi Xuân Đính); Bộ Quốc triều hình luật - công trình mang đậm bản sắc văn hóa pháp lý và tính nhân văn của dân tộc Việt Nam (GS.TS Lê Minh Tâm); Vấn đề xây dựng đội ngũ quan lại Việt Nam thời vua Lê Thánh Tông (GS.TS Lê Minh Thông)…
Bên cạnh đó, có nhiều ấn phẩm nghiên cứu khá toàn diện về bộ Quốc triều hình luật như: Quốc triều hình luật - Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị do PGS TS Lê Thị Sơn chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học
xã hội, năm 2004; Lê Thánh Tông - Vị vua anh minh, nhà cách tân vĩ đại của LS Lê Đức Tiết, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2007
Về cơ bản, Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định về phòng, chống tham nhũng trong bộ Quốc triều hình luật Tuy nhiên, để làm
rõ hơn quan điểm, tư tưởng phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật một cách có hệ thống, Luận văn đã khảo cứu các quy định được ghi chép lại trong một số văn bản điển chế và pháp luật thời kỳ Lê sơ như: Hoàng triều quan chế; các chỉ, dụ, sắc, lệnh của Hoàng đế Lê Thánh Tông được tập hợp trong cuốn Hồng Đức Thiện chính thư…
4- Phương pháp nghiên cứu
Trang 7Đề tài luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chú trọng phương pháp lịch sử cụ thể, đi sâu nghiên cứu nội dung các quy định trong Quốc triều hình luật, các luật lệ do Hoàng đế Lê Thánh Tông ban hành Luận văn cũng sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh và nghiên cứu các sách, báo pháp lý, tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến chống tham nhũng
5- Kết cấu của Luận văn
Trang 8Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỘ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT VÀ CÁCH TIẾP CẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG HIỆN NAY
1.1 Khái quát về sự ra đời và hoàn thiện của Quốc triều hình luật
Quốc triều hình luật có thể được coi là một trong những bộ luật hoàn chỉnh nhất trong lịch sử pháp luật của nhà nước phong kiến Việt Nam Đây
là Bộ luật đã được nhiều học giả trong nước cũng như ngoài nước nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau “Nhà Lê đã xây dựng được hàng chục bộ luật và những văn bản pháp luật lớn, trong đó Quốc triều hình luật là bộ luật quan trọng nhất và chính thống nhất của triều đại này” [35, tr 12]
Quốc triều hình luật đã được nhiều sử gia, chính trị gia và luật gia trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay, “Việc xác định thời điểm khởi thảo Bộ luật này cũng như thời điểm tiêu biểu nhất cho sự hoàn chỉnh Bộ luật vẫn đang là vấn đề chưa được khẳng định” [35, tr 14] Ở Việt Nam, hiện còn có những ý kiến
và luận chứng rất khác nhau về vấn đề này Một số học giả cho rằng, Quốc triều hình luật được ban hành dưới thời vua Lê Thánh Tông với niên hiệu Hồng Đức, vì vậy đời sau thường gọi là Bộ luật Hồng Đức Theo Giáo sư Đinh Gia Trinh, “Quốc triều hình luật được ban hành dưới triều Lê Thánh Tông trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) trên cơ sở tập hợp có
hệ thống các luật lệ của các đời vua Lê trước đó, có sửa đổi, bổ sung thêm một số điều khoản mới và ông gọi đó là Bộ luật 1483” [28, tr.155-156]
Viện Sử học Việt Nam, trong lời nói đầu của Quốc triều hình luật đã đưa ra giả thuyết và kiến giải rằng, “Quốc triều hình luật đã được khởi thảo
từ sớm hơn, thậm chí từ ngay năm đầu của triều Lê… Bộ luật của triều Lê
đã được chính người anh hùng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và cuộc kháng chiến chống Minh ban hành ngay từ những ngày đầu của triều đại
Trang 9mình và Bộ luật này không ngừng được các triều vua kế tiếp bổ sung, hoàn chỉnh dần, trong đó chắc chắn là có những đóng góp to lớn của ông vua nổi tiếng văn hiến Lê Thánh Tông và niên hiệu Hồng Đức rực rỡ của ông Và chắc chắn là khi soạn Bộ luật đầu tiên của triều đại mình, Lê Thái Tổ cũng
đã kế thừa các bộ luật tiền bối” [35, tr.15-16]
Theo GS.TS Lê Minh Tâm, “giả thiết mà Viện Sử học Việt Nam nêu ra là có cơ sở và có ý nghĩa gợi mở cho việc tiếp tục nghiên cứu toàn diện và sâu sắc hơn để tìm ra câu trả lời chính xác về thời điểm ban hành và quá trình hoàn thiện của Quốc triều hình luật, đồng thời cũng là để khẳng định một cách đầy đủ hơn những giá trị lịch sử và đương đại của nó, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” [22, tr.3]
Quan điểm này cũng phù hợp với những kiến giải của ThS Vũ Thị Nga về thời điểm ban hành Quốc triều hình luật Bà đã đưa ra ba luận điểm
và đi đến nhận định rằng “Quốc triều hình luật được ban hành vào năm
1428 dưới triều vua Lê Thái Tổ ngay khi vừa thiết lập triều đại nhằm cho người làm tướng biết mà trị quân, người làm quan ở lộ biết mà trị dân, để răn dạy cho quân dân đều biết là có phép như Thái Tổ từng tuyên bố” [21,
tr 49]
Chúng tôi cho rằng, Quốc triều hình luật là một “Tập đại thành”, là sản phẩm của quá trình pháp điển hóa cao độ, Bộ luật được biên soạn, ban hành ngay từ những năm đầu của triều Lê và không ngừng được các triều vua kế tiếp bổ sung, hoàn chỉnh dần, trong đó có sự đóng góp to lớn của Hoàng đế Lê Thánh Tông
Quốc triều hình luật gồm 6 quyển, 13 chương, 722 điều, là cơ sở pháp luật chủ yếu của xã hội Việt Nam truyền thống trong nhiều thế kỷ Ngay cả khi nhà Nguyễn ban hành Hoàng Việt luật lệ thì Quốc triều hình luật vẫn đóng vai trò to lớn trong xã hội phong kiến Việt Nam, những quy
Trang 10định trong Quốc triều hình luật trở thành những tập quán phổ biến trong xã hội đã đóng vai trò to lớn trong việc tạo ra trật tự xã hội trong chế độ phong kiến Việt Nam ở những giai đoạn sau này Ngày nay, nhiều quy định của
Bộ luật đã trở thành tập quán và được thừa nhận như là những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Trong thiên Hình luật chí của bộ sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, sử gia lỗi lạc Phan Huy Chú đã dành một vị trí xứng đáng cho việc giới thiệu bộ Quốc triều hình luật, ông nhận xét:
“Hình của nhà Lý thì lỗi ở khoan rộng, hình của nhà Trần thì lỗi ở nghiêm khắc”, khi nói về pháp luật thời Lê, ông đã phải khen ngợi “thật là cái mẫu mực để trị nước, cái khuôn phép để buộc dân”
Quốc triều hình luật có tham khảo luật nhà Đường (Trung Quốc) Tuy nhiên, bộ luật này không phải là sự sao chép thuần túy các quy định của pháp luật thời Đường mà thể hiện rất rõ nét đặc thù của pháp luật Đại Việt, phản ánh chân thực và sâu sắc hiện thực xã hội nước ta thế kỷ XV Nghiên cứu bộ Quốc triều hình luật cho thấy, những quy định trong bộ luật này có rất nhiều điểm tiến bộ so với các bộ luật đương thời trong khu vực
Như chúng ta đã biết, bản chất của pháp luật phong kiến hình thành cùng với sự ra đời của nhà nước phong kiến, nó chịu sự quy định của những điều kiện kinh tế của xã hội phong kiến, đó là sở hữu của giai cấp địa chủ đối với các tư liệu sản xuất mà chủ yếu là ruộng đất và sở hữu cá thể của nông dân trong sự lệ thuộc vào giai cấp địa chủ Pháp luật phong kiến là ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến, là phương tiện để bảo vệ trật
tự xã hội phong kiến mà trước hết là quan hệ sản xuất phong kiến Tuy nhiên, về phương diện xã hội, pháp luật phong kiến cũng có vai trò tích cực của nó Đó là một trong những phương tiện chủ yếu để xác lập, ghi nhận và phát triển hệ thống những quan hệ xã hội khác Trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định, pháp luật phong kiến không chỉ thể hiện ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến mà nó còn phản ánh ý chí chung của toàn xã hội
Trang 11Đó là khi lợi ích của giai cấp thống trị phù hợp với lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác
Trong chế độ phong kiến Việt Nam, vào những thời kỳ nhất định có thể tìm thấy những quy định pháp luật thể hiện ý chí chung của triều đình phong kiến và cả dân tộc Bộ Quốc triều hình luật của nhà Lê sơ là một trong những sản phẩm thể hiện khá toàn diện, đầy đủ điều đó
Các vị vua trị vì thời kỳ Lê sơ đã lấy quan điểm của Nho giáo làm hệ
tư tưởng, chỉ đạo việc biên soạn, ban hành luật pháp, nhằm thể chế hoá một nhà nước phong kiến Đại Việt với truyền thống nhân nghĩa, lấy dân làm gốc Với bộ luật này, Đại Việt đã hình thành một nhà nước pháp quyền sơ khởi và thuộc loại sớm trên thế giới Nội dung cơ bản của bộ Quốc triều hình luật được lưu lại đến ngày nay, tập trung vào các vấn đề sau: Giữ cho đất nước luôn ở thế chủ động đối phó với quân xâm lược nước ngoài; giữ nghiêm kỷ cương, phép nước; chấn hưng nông nghiệp, coi nông nghiệp là nền tảng của sự ổn định kinh tế xã hội; mở rộng giao lưu khuyến khích thủ công nghiệp, thương nghiệp lành mạnh; bảo vệ quyền sở hữu tài sản của muôn dân; khuyến khích nuôi dưỡng thuần phong mỹ tục; bênh vực và bảo
vệ quyền lợi phụ nữ; chính sách hình sự nghiêm minh nhưng nhân đạo
Đặc biệt, Quốc triều hình luật có những quy định về chống tham nhũng triệt để, chống sự lạm quyền và ức hiếp dân chúng của đội ngũ quan lại đương thời Các quy định của Quốc triều hình luật về chống tham nhũng được thể hiện rải rác trong hầu hết các chương của bộ luật như chương Vi chế (quy định về hình phạt cho các hành vi sai trái của quan lại, các tội về chức vụ); chương Quân chính (quy định về sự trừng phạt các hành vi sai trái của tướng, sĩ, các tội quân sự); chương Hộ hôn (quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân-gia đình và các tội phạm trong các lĩnh vực này”; chương Điền sản (gồm 59 điều, trong đó 32 điều ban đầu và 27 điều bổ sung sau 14 điều về điền sản mới tăng thêm, 4 điều về luật hương hỏa, 9 điều về châm
Trang 12chước bổ sung luật hương hỏa quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa
và các tội phạm trong lĩnh vực này); chương Trá ngụy (quy định các tội giả mạo, lừa dối); chương Bộ vong (quy định về việc bắt tội phạm chạy trốn và các tội thuộc lĩnh vực này); chương Đoán ngục (quy định về việc xử án, giam giữ can phạm và các tội phạm trong lĩnh vực này); chương Tạp luật (quy định về các tội không thuộc các nhóm tội danh trên đây)
Các quy định về phòng, chống tham nhũng của bộ Quốc triều hình luật, thể hiện khá rõ tư tưởng phòng, chống tham nhũng một cách toàn diện, triệt để của triều đình phong kiến nhà Lê sơ Mặc dù có những hạn chế nhất định như: pháp luật thời kỳ Lê sơ chưa có tính khái quát hóa cao
và phân ngành rõ rệt; chưa ban hành một bộ luật riêng về chống tham nhũng, nhưng bên cạnh bộ Quốc triều hình luật quy định về tham nhũng, các vị Hoàng đế trị vì, nhất là Hoàng đế Lê Thánh Tông luôn có các Chỉ,
Dụ, Sắc, Lệnh nhằm phòng, chống tệ nạn tham quan, ô lại, ức hiếp dân chúng
Trong phạm vi luận văn này, sẽ tập trung nghiên cứu tư tưởng và các quy định về phòng, chống tham nhũng của bộ Quốc triều hình luật và một
số luật lệ ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông - vị vua anh minh bậc nhất của triều Lê sơ - được tập hợp trong một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam thế kỷ XV Phân tích, đánh giá những điểm tiến bộ, những mặt tồn tại, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn hiện nay
1.2 Cách tiếp cận về phòng, chống tham nhũng hiện nay
Trước hết, để nghiên cứu các quy định về phòng, chống tham nhũng trong bộ Quốc triều hình luật chúng ta cần thống nhất cách hiểu về tham nhũng Từ đó có cơ sở xem xét, đánh giá những quy định về phòng, chống tham nhũng trong Bộ luật này
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội gắn liền với sự hình thành giai
Trang 13cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước Khái niệm tham nhũng gắn bó chặt chẽ và hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước
Về mặt lý luận, không thể có tệ tham nhũng ngoài Nhà nước, tách khỏi bộ máy quản lý, cai trị Cũng như quan liêu, tham nhũng là căn bệnh đồng hành đặc trưng của mọi Nhà nước, nó là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực,
đó là biểu hiện của sự tha hoá quyền lực Nhà nước, là căn bệnh không thể tránh khỏi của các chế độ Nhà tư tưởng Montesquieue đã chỉ rõ: Mọi người có quyền lực đều có xu hướng lạm dụng quyền lực đó Hình thức, tính chất, mức độ và phương thức tham nhũng thay đổi tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội, phụ thuộc vào mối quan hệ giữa sự quan tâm của xã hội đối với vấn đề tham nhũng, đặc biệt trong mối quan hệ với nền dân chủ
Tham nhũng là hiện tượng mà không ai có thể phủ nhận về sự tồn tại cũng như tính nguy hại của nó đối với xã hội Tuy nhiên khi nhìn nhận vấn
đề tham nhũng, không có một định nghĩa chung nhất và cụ thể về tham nhũng Những hình thức tham nhũng, những biểu hiện tham nhũng khác nhau tuỳ theo bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước Xin nêu ra một số khái niệm về tham nhũng ở một số nước trên thế giới: Ở Đức, theo
Từ điển bách khoa của Đức thì “tham nhũng là hiện tượng mất phẩm chất, hối lộ, đút lót, thường xảy ra đối với công chức có quyền hành” Ở Áo:
“Tham nhũng là hiện tượng lừa đảo, hối lộ, bóc lột” Theo Từ điển bách khoa của Thụy Sĩ thì “Tham nhũng là hậu quả nghiêm trọng của sự vô tổ chức của tầng lớp có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước Đó là hành vi phạm pháp để phục vụ lợi ích cá nhân” Ở Pháp, nói đến tham nhũng, người ta nghĩ ngay đến mối quan hệ giữa hai khái niệm quyền lực và tiền bạc Hiểu theo nghĩa chung, tham nhũng bao gồm những hành vi lạm dụng quyền hạn để thu vén lợi ích vật chất
Hiện nay, do sự phát triển của kinh tế xã hội trên thế giới, khái niệm
Trang 14tham nhũng còn được hiểu một cách rộng rãi hơn với những cách tiếp cận khác nhau Từ điển “The Oxford Unabriged Dictionary” định nghĩa tham nhũng là sự bóp méo hoặc phá hoại tính liêm chính trong thực hiện công vụ bởi hối lộ hay thiên vị” Từ điển “Webste’s Collegiate Dictionary” định nghĩa tham nhũng là “sự khích lệ làm điều sai trái bởi những phương tiện không đúng đắn hoặc bất hợp pháp (như hối lộ)” Định nghĩa ngắn gọn của Ngân hàng thế giới (WB) sử dụng là “sự lạm dụng chức vụ công để tư lợi”
Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) cũng định nghĩa tham nhũng
là “sự lạm dụng chức vụ, vai trò và nguồn lực công để trục lợi cá nhân” Những định nghĩa vừa nêu cũng tương tự như những định nghĩa mà tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) - Một tổ chức phi chính phủ đi đầu trong nỗ lực chống tham nhũng toàn cầu sử dụng, theo đó “Tham nhũng là bao gồm hành vi vi phạm của công chức trong khu vực công, dù là chính trị gia hay công chức dân sự, trong đó họ làm giàu một cách không đúng đắn hoặc bất hợp pháp cho bản thân hay cho người thân của mình bằng cách lạm dụng quyền lực công đã giao cho họ” Những định nghĩa này không bao gồm vấn
đề tham nhũng trong khu vực tư hoặc chỉ đề cập đến một vài khía cạnh nhỏ
về vai trò của khu vực tư trong việc làm tăng tham nhũng trong Chính phủ Chính vì vậy mà Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) định nghĩa tham nhũng là sự lạm dụng chức vụ công hoặc tư để tư lợi
Như vậy, có thể thấy rằng, hiện nay khi nhìn nhận vấn đề tham nhũng, chưa có một định nghĩa chung nhất và cụ thể về tham nhũng Mỗi quốc gia khác nhau, có cách định nghĩa về tham nhũng không giống nhau Tuy nhiên, dù được thể hiện theo những cách khác nhau, song tham nhũng được hiểu khá thống nhất trong văn hoá pháp lý ở các nước trên thế giới là việc lợi dụng vị trí, quyền hạn thực hiện hành vi trái pháp luật nhằm trục lợi cá nhân, hay nói cách khác tham nhũng là việc sử dụng hoặc chiếm đoạt bất hợp pháp công quyền hay nguồn lực tập thể
Trang 15Ở Việt Nam, dưới góc độ xã hội, tham nhũng được hiểu rộng hơn nhiều so với góc độ pháp lý Theo Từ điển tiếng Việt thì: “Tham ô là lợi dụng quyền hạn hoặc chức trách để ăn cắp của công Tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của” [29, tr.910] Dưới góc độ pháp luật, tham nhũng được hiểu “là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” [14, tr.1]
Trong phạm vi luận văn này, tác giả tiếp cận tham nhũng dưới góc
độ pháp luật hiện hành, nghĩa là: Tham nhũng là hành vi của người có chức
vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi Theo cách tiếp cận như trên, có thể thấy tham nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau: Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao Mục đích của hành vi tham nhũng
là vụ lợi Trên cơ sở hiểu về tham nhũng như vậy, chúng tôi xem xét, đánh giá các quy định của bộ Quốc triều hình luật qua lăng kính của pháp luật về phòng, chống tham nhũng hiện hành, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho công cuộc phòng, chống tham nhũng ở nước ta giai đoạn hiện nay
Trang 16Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
TRONG BỘ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT
Trong cách hiểu của người Việt xưa, tham quan ô lại, sách nhiễu nhân dân, ăn hối lộ, đục khoét của công, vơ vét tiền của dân, cậy quyền làm bậy… được dùng để chỉ những kẻ có chức, quyền và lợi dụng chức, quyền
đó, bằng những thủ đoạn, cách thức khác nhau để mưu lợi cho riêng mình Những hành vi này xâm hại đến trật tự kinh tế của xã hội phong kiến, phá hoại kỉ cương phép nước, khiến dân chúng lầm than, cực khổ và sinh lòng oán thán triều đình Chính vì vậy, ngăn chặn, đầy lùi những tệ nạn tham nhũng là một trong những mục tiêu quan trọng của các triều đại phong kiến Thực hiện tốt điều này không những bảo vệ quyền lợi kinh tế của giai cấp cầm quyền mà nó còn nhằm xây dựng một trật tự xã hội ổn định, thịnh vượng, một chế độ hợp lòng dân Bởi sự vững mạnh, lâu bền của ngôi Thiên tử trong bất kỳ triều đại nào đều không chỉ nhờ thấm nhuần và thực thi vương đạo mà cần được sự trung thành và thương yêu nhà vua của quần thần, sự “tâm quy” của muôn dân Do vậy, “công tâm” là chiến thuật lấy lòng dân của bất cứ triều đại nào cần duy trì sự ổn định để xây dựng và bảo
vệ vương quyền Triết lý này được thể hiện rõ nét trong các quy định của
bộ Quốc triều hình luật và các Chỉ, Dụ, Sắc, Lệnh của Hoàng đế Lê Thánh Tông
Dưới thời kỳ đầu của nhà Lê sơ, sau cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thắng lợi, các vị vua Lê bước vào thời kì trị quốc an dân Trong bối cảnh xã tắc từ thời chiến chuyển sang thời bình, tình trạng xu nịnh, gây bè, kéo cánh, mua danh, bán tước, cậy quyền, cậy thế hà hiếp người lương thiện, lạm dụng chức quyền, tham ô, nhũng nhiễu dân lành đã diễn ra ở một
số quan lại Dân càng nghèo mà đóng góp ngày càng lắm; pháp luật càng nghiêm, mà kẻ gian ngày càng nhiều Việc quân cơ, việc chính sự biến đổi
Trang 17rối rắm, của cải trong kho lại rơi vào tay bọn tham nhũng, ô lại Một trong những thói hư của quan lại lúc bấy giờ là: “… người làm quan lớn hoặc ban
ơn để tỏ rằng mình là người hiểu biết, hoặc rêu rao cái danh để cho cấp dưới cầu cạnh, sai bảo người khác, ban bố mệnh lệnh đều trái với lẽ phải, khinh trọng thiên lệch Khi tìm được chỗ hở thì gây ra tệ lậu bán buôn, hoặc không giữ chắc của công, hoặc lấy của công làm của tư, họ dám đùa bỡn với báu vật ” “Nếu như các bậc trưởng quan chẳng phải là người tốt
mà muốn bọn quan lại cấp dưới phải sống trong sạch, thế chẳng khác nào nước đầu nguồn đục mà mong cho dòng trong?” [37, tr 122-124]
Trước những vấn nạn đó, việc trừng trị những thói hư, tật xấu của đội ngũ quan lại đã trở thành vấn đề cấp bách bởi sự thành bại của quốc gia
là xuất phát từ sự trung thực hay gian tà của các quan Con người sinh ra không thể không có sự ham muốn, nếu con người không làm chủ được sự ham muốn ấy thì sẽ sinh ra rối loạn Để ngăn chặn tham nhũng trong bộ máy, triều đình Lê sơ và Hoàng đế Lê Thánh Tông đã tiến hành rất nhiều biện pháp Từ việc cải cách bộ máy nhà nước, tuyển chọn người hiền tài để giúp dân, giúp nước, giám sát bộ máy quan lại để đánh giá đạo đức và năng lực làm việc, xử lý hành vi tham nhũng Các quy định của pháp luật thời
kỳ Lê sơ, được quy định trong Quốc triều hình luật, các luật lệ được ghi chép lại trong một số văn bản điển chế và pháp luật thời kỳ Lê sơ đã thể hiện rõ quan điểm, tư tưởng của triều đình Lê sơ trong việc chú trọng xây dựng, thi hành một loạt các biện pháp phòng, chống tham nhũng khá toàn diện, triệt để Đó là luôn đề cao các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, coi phòng ngừa là một trong những biện pháp quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng và duy trì một bộ máy nhà nước phong kiến trong sạch, không có chỗ cho những tên tham quan, ô lại
Có thể thấy, trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, quan điểm các nhà làm luật thời Lê sơ khá gần gũi với các quan điểm hiện đại về phòng,
Trang 18chống tham nhũng Hiện nay, công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc đồng bộ và toàn diện Đây là quan điểm chung trong đấu tranh chống tham nhũng trên thế giới Cách thức tiếp cận đồng bộ, toàn diện được thể hiện rất rõ trong các chính sách, văn bản pháp luật về cải cách quản lý nhà nước nói chung và phòng, chống tham nhũng nói riêng cũng như trong thực tiễn hoạt động phòng, chống tham nhũng của nhà nước Việt Nam Lý luận cũng như thực tiễn đấu tranh chống tham nhũng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng phân chia hoạt động chống tham nhũng thành ba hình thức cơ bản đó là: (i) phòng ngừa tham nhũng, (ii) phát hiện tham nhũng, (iii) xử lý tham nhũng Với cách thức tiếp cận toàn diện, đồng bộ, Việt Nam chú trọng tiến hành tất
cả các hình thức nói trên trong đấu tranh chống tham nhũng
Các quy định của pháp luật thời kỳ Lê sơ, được quy định trong Quốc triều hình luật, các luật lệ được ghi chép lại trong một số văn bản điển chế
và pháp luật thời kỳ Lê sơ đã thể hiện rõ quan điểm, tư tưởng của triều đình
Lê sơ trong việc chú trọng xây dựng, thi hành một loạt các biện pháp phòng, chống tham nhũng khá toàn diện, triệt để
2.1 Phòng ngừa tham nhũng
Theo quan điểm về phòng, chống tham nhũng hiện nay thì phòng ngừa tham nhũng được coi là một hình thức chống tham nhũng căn bản, nền tảng cho toàn bộ hệ thống các biện pháp chống tham nhũng Nhận thức này hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn Phòng ngừa tham nhũng đòi hỏi ít chi phí hơn và mang lại hiệu quả rộng lớn, lâu dài hơn, tuy nhiên, lại đòi hòi các nỗ lực kiên trì, toàn diện từ phía các chủ thể có trách nhiệm Phòng ngừa tham nhũng có thể chia thành hai hình thức nhỏ hơn và với hai loại hoạt động tương ứng, đó là phòng và ngừa Hình thức phòng được thực hiện qua các hoạt động hoàn thiện hệ thống thể chế, thiết chế, nhằm xoá bỏ mọi cơ hội tham nhũng Hình thức ngăn ngừa tham nhũng được thực hiện
Trang 19qua việc công khai hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cường sự tham gia của báo chí và nhân dân trong giám sát hoạt động quản lý nhà nước, đổi mới cơ chế thanh toán nhằm gia tăng khả năng kiểm soát của nhà nước đối với các giao dịch trong nền kinh tế quốc dân Mục đích của các hoạt động này là ngăn ngừa các hành vi lợi dụng sơ hở của pháp luật, sơ hở trong quản lý kinh tế để trục lợi hoặc vì vụ lợi
Nghiên cứu các quy định trong Quốc triều hình luật cũng như các luật lệ được ghi chép lại trong một số điển chế và pháp luật Việt Nam thời
kỳ Lê sơ cho thấy, trong thời kỳ Lê sơ, nhất là thời kỳ Hoàng đế Lê Thánh Tông trị vì đã có những quy định nhằm phòng ngừa tham nhũng như: Chú trọng cải cách bộ mày nhà nước; xây dựng đội ngũ quan lại thanh liêm; quy định các quy tắc ứng xử của đội ngũ quan lại; coi việc chống tham nhũng là việc của toàn dân…
2.1.1 Cải cách bộ máy nhà nước thời kỳ Lê sơ
Sau khi giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của nhà Minh, nhà Lê có một trọng trách lớn là phải khôi phục lại bộ máy chính quyền nhà nước từ Trung ương đến địa phương Quá trình này bắt đầu từ Thái Tổ Lê Lợi, qua các triều vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Nghi Dân và đến Lê Thánh Tông Đặc biệt, đối với Lê Thánh Tông, những công việc mà vị Hoàng đế anh minh này đã thực hiện không chỉ là sự tiếp tục hoàn thiện bộ máy nhà nước mà đó là một quá trình cải cách, cải tổ bộ máy nhà nước cho phù hợp với yêu cầu mới của sư phát triển đất nước Thời kỳ Lê Thánh Tông trị vị đất nước (1460-1497) đã có những cải cách sâu sắc về bộ máy chính quyền nhà nước
Lý do tiến hành cải cách thì một mặt như Lê Thánh Tông đã chỉ rõ trong Lời dụ các quan năm 1464 là: “Khoảng năm Thái Hoà, Diên Minh (Thái Tông, Nhân Tông) trên từ tể tướng, dưới thì trăm quan thi nhau tư lợi, ăn của đút, đưa đón một cách công khai… Nguyễn Như Đổ, Trần
Trang 20Phong nhân có việc sang Trung Quốc, mua chuộc ngàn kế, khép mở trăm chiêu, nếu bảo chúng là trung thần thì ai có tin được không” [5, tr.398] Mặt khác, như được đề cập trong Bài dụ sửa định Hoàng triều quan chế (tháng 9 năm 1471), là do nhận thức của Vua về nhu cầu cải cách để phù hợp với “đất đai bờ cõi ngày nay so với trước kia khác nhau nhiều lắm, không thể không thân hành nắm quyền chế tác, làm trọn đạo biến thông” và Hoàng đế Lê Thánh Tông quyết định cải cách “quân vệ đông đúc thì năm phủ chia nhau nắm giữ, việc công bề bộn thì sáu bộ bàn nhau mà làm Cấm binh coi giữ ba ty để làm vuốt nanh, tim óc Sáu khoa để xét bác trăm ty, sáu tự để thừa hành mọi việc Thông chính sứ ty để tuyên đức hoá của vua,
để đạt nguyện vọng của dân Ngự sử án sát thì tâu hặc các quan làm bậy, soi xét ẩn khuất cho dân… tất cả đều liên quan với nhau, ràng buộc lẫn nhau…” [5, tr.453] Đó là những lý do tóm tắt nội dung cơ bản, quan trọng của công cuộc cải tổ của Hoàng đế Lê Thánh Tông
Sau khi lên ngôi, nắm triều chính, Hoàng đế Lê Thánh Tông nhanh chóng chấm dứt tình trạng chia rẽ của triều đình Ông tiến hành cải cách mạnh mẽ, toàn diện trên các lĩnh vực: Quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dục, tôn giáo, pháp luật Ông làm việc không biết mệt mỏi, làm gương cho các quan lại, khẩn trương, chú trọng tổ chức củng cố và xây dựng nền hành chính Đại Việt mạnh mẽ, táo bạo
Nhà nước phong kiến tập quyền qua các đời từ nhà Trần chỉ có 4 bộ: Hình, Lại, Binh, Hộ Đời vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) chỉ có 3 bộ: Lại, Lễ, Dân (tức Hộ Bộ), khi vua Lê Nhân Tông bị cướp ngôi (năm 1459), Nghi Dân (anh trai của vua Lê Nhân Tông) lên làm vua và đặt ra lục Bộ và lục Khoa Lục bộ là: Lại bộ, Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Công bộ và Hình bộ Lục Khoa là: Lại khoa, Lễ khoa, Binh khoa, Hình khoa, Hộ khoa và Công khoa Khi lên ngôi, Hoàng đế Lê Thánh Tông tiến hành cải cách bộ máy nhà nước theo hướng tăng cường sự chuyên trách trong việc thực hiện nhiệm vụ Một
Trang 21mặt ông giữ nguyên lục bộ, một mặt ông đặt theo ra lục tự Lục bộ bao gồm:
- Lại Bộ: Trông coi việc tuyển bổ, thăng thưởng và thăng quan tước;
- Lễ Bộ: Trông coi việc đặt và tiến hành các nghi lễ, tiệc yến, học hành thi cử, đúc ấn tín, cắt giữ người coi giữ đình, chùa, miếu mạo;
- Hộ Bộ: Trông coi công việc ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế kho tàng, thóc tiền và lương, bổng của quan, binh;
- Binh Bộ: Trông coi việc binh chính, đặt quan trấn thủ nơi biên cảnh, tổ chức việc giữ gìn các nơi hiểm yếu và ứng phó các việc khẩn cấp;
- Hình Bộ: Trông coi việc thi hành luật, lệnh, hành pháp, xét lại các việc tù, đày, kiện cáo;
- Công bộ: Trông coi việc xây dựng, sửa chữa cầu đường, cung điện thành trì và quản đốc thợ thuyền
Đứng đầu lục bộ là Thượng thư (hàm Tòng nhị phẩm), sau đó đến tả hữu Thị lang (hàm Tòng tam phẩm), Lang trung (đứng đầu các ty ở sáu bộ, hàm Chánh lục phẩm), Viện Ngoại lang (hàm Tòng lục phẩm), Tư vụ (hàm Tòng bát phẩm)
Ngoài việc giữ nguyên lục Bộ, Lê Thánh Tông đặt thêm ra lục tự là: Đại Lý tự, Thái Thường tự, Quang Lộc tự, Thái Bộc tự, Hồng Lô tự, Thượng Bảo tự Đứng đầu lục tự là Tự khanh (hàm Chánh ngũ phẩm), Thiếu khanh (hàm Chánh lục phẩm) và Tự thừa (hàm Chánh thất phẩm)
Sáu khoa là: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công Đứng đầu các khoa là
Đô cấp sự trung hàm Chánh thất phẩm, Cấp sự trung hàm Chánh bát phẩm
Lê Thánh Tông lại lập ra quan chế và lễ nghi, các quan văn võ được cấp ruộng đất và tiền tuế bổng, những ai làm điều gì nhũng lạm đều bị nghiêm trị Về cơ cấu chính quyền các cấp, ông đã tiến hành xóa bỏ hệ thống tổ chức hành chính cũ thời Lê Thái Tổ từ 5 đạo đổi thành 12 đạo (thừa tuyên, sau này là 13 đạo) và đặt Giám sát ngự sử để đi xem xét công
Trang 22việc ở các đạo tránh sự nhũng nhiễu Dưới thời Lê Thánh Tông, những người làm quan chỉ được làm việc tối đa đến tuổi 65, người làm nha chỉ làm đến 60 tuổi, ông bãi bỏ luật cha truyền con nối cho các gia đình có công (công thần)
Ông tôn trọng việc chọn quan phải là người có tài và đức: “Những người làm quan phủ, huyện mà biết khuyên bảo dân gian làm điều lễ nghĩa khiêm nhượng, có quan Thừa chính, Hiến sát xét thực, thì được cho vào hạng tốt; nếu ai không chăn dạy bảo dân thì cho là người không xứng chức” [13, tr 234] Các bộ luật về hành chính cũng được soạn nhiều trong thời kỳ ông trị vì Ông làm gương cho đội ngũ quan lại, hoàng thân quốc thích và nhân dân Đại Việt về tính nghiêm minh của pháp luật không kể ai, bằng câu chỉ dụ: “Pháp luật là phép công của nhà nước, ta cùng các ngươi đều phải theo” Trong Quốc triều hình luật, Điều 97 quy định: “Quan lại đặt ra có số nhất định, nếu bổ dụng quá hay đặt ra quá hạn định, hay không nên đặt mà đặt ra thì thừa một viên phải phạt 60 trượng; biếm hai tư và bãi chức; thừa hai viên trở lên thì bị xử tội đồ, người sau biết mà cứ để yên thì
xử tội nhẹ hơn người trước một bậc Người xin vào chức thừa ấy phải phạt
50 roi, biếm một tư”; hoặc Điều 202 quy định: “Những người viết sắc lệnh ban chức tước mà cố ý thêm bớt phẩm trật thì bị tội đồ; quan đối chiếu xem xét không thấu suốt thì bị tội biếm…” Việc tiến hành thành công cải cách quân sự, kinh tế, giáo dục, tôn giáo, pháp luật, đặc biệt là cải cách triệt để nền hành chính của bộ máy nhà nước phong kiến Đại Việt góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội nói chung và có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu của đội ngũ quan, lại
2.1.2 Xây dựng, cách tân đội ngũ quan lại
Sự cách tân rõ nhất của Lê Thánh Tông là chế độ quan lại luôn ràng buộc, giám sát lẫn nhau Quốc triều hình luật quy định quyền hạn, trách
Trang 23nhiệm rõ ràng cho từng bộ phận, khu vực, quan lại và có sự giám sát lẫn nhau Mỗi bộ làm một việc; các bộ chịu sự giám sát của các khoa, các Hiến
ty giám sát việc của các đạo; các quan lại chịu sự giám sát lẫn nhau, quan trên giám sát quan dưới, vua có thể sai một số quan thường xuyên hoặc đột xuất kiểm tra, giám sát công việc của các quan khác Cho công sai hoặc bản thân người thợ, người dân tố cáo với các quan giám sát, ngự sử, hiến sát về hành vi nhũng nhiễu của các công sai Điều dễ thấy nhất là ở bộ Lại, một
bộ phận đảm trách tuyển bổ, thăng giáng và bãi miễn các chức quan từ tam phẩm trở xuống Ở các triều đại trước, bộ Lại có thể được toàn quyền hành động Thời Lê Thánh Tông bộ Lại không được toàn quyền, mà theo nguyên tắc “lớn nhỏ cùng ràng buộc lẫn nhau”, “bộ Lại thăng bổ không xứng thì Khoa có quyền bắt bẻ hoặc tố giác nếu bộ Lại làm sai”
Giống như nhiều vị vua khác, Hoàng đế Lê Thánh Tông rất coi trọng
sử dụng những người tài đức, đặc biệt là trí thức Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vua ra sắc dụ cho những người đứng đầu: bộ Lại (Nguyễn Như Đổ), bộ Hình (Trần Phong), bộ Hộ (Nguyễn Vĩnh Tích), bộ Binh (Nguyễn Đình Mỹ) rằng “Người quân tử là cội gốc để tiến lên trị bình, kẻ tiểu nhân là thềm bậc để đi đến họa loạn Ta và các ngươi đã thề với trời đất dùng người quân tử, bỏ kẻ tiểu nhân, ngày đêm chăm chắm không lơi, các ngươi chớ quên đấy” [5, tr 399]
Thời kỳ nhà Lê sơ, nhất là thời kỳ Hoàng đế Lê Thánh Tông trị vì đã
sử dụng nhiều hình thức để tuyển chọn những người tài đức vào bộ máy hành chính như: khoa cử, tiến cử, bảo cử, khảo công khảo khoá, giám sát, đãi ngộ, khen thưởng, xử phạt đội ngũ quan lại… Lê Thánh Tông chủ trương giao quyền và trách nhiệm cho các quan trưởng nha môn lựa chọn các tướng hiệu dưới mình theo tiêu chuẩn: chọn người có công lao đánh dẹp, trung tín đáng dùng hoặc am hiểu thao lược, tinh thông võ nghệ, tài năng, tri thức, liêm khiết, giỏi giang, siêng năng, minh mẫn Tấu trình để
Trang 24truất bỏ những người tham ô, quan liêu, hèn kém, không có công lao gì, bợ
đỡ, vô liêm sỉ
Một trong những phẩm chất cần phải có đối với quan lại là sự siêng năng, chuyên cần Đây là một trong những đức tính lớn cần phải có đối với quan lại khi thực thi nhiệm vụ của mình Nhiều quy định trong Quốc triều hình luật đã đòi hỏi sự siêng năng, chuyên cần của đội ngũ quan lại Trong
đó, quy định những hình phạt nghiêm khắc đối với quan lại không siêng năng chuyên cần đối với công việc được giao Chẳng hạn, Điều 199 quy định: “Các quan đang tại chức mà trễ nhác việc công thì bị phạt 70 trượng, biếm ba tư và bãi chức”; Điều 220 quy định: “Khi có chiếu lệnh của triều đình ban xuống mà các quan ty không sao lục niêm yết ra để biểu thị cho dân quân biết rõ đức ý của vua, lại coi thường chiếu lệnh ấy là lời hão thì bị phạt, bị biếm hay bị bãi chức”; Điều 222: “Những quan chức được sai làm việc công, thấy việc nặng nề khó khăn mà nói dối là đau ốm để khỏi phải đi thì bị biếm hay bị đồ, nếu là việc quân khẩn cấp mà trốn tránh thì xử tội lưu hay tội chết”
Bên cạnh đó, rất nhiều quy định của Quốc triều hình luật đã đưa ra yêu cầu quan lại phải trung thực Chẳng hạn, quan lại phải trung thực trong các báo cáo (các điều 218, 236); trung thực trong việc khai báo về tài sản khi được yêu cầu (Điều 221); quan lại có lỗi mà không nhận lỗi lại còn dối trá (Điều 237); các quan đại thần và các quan tâu việc, biết có điều bất tiện, hại đến quân dân mà không hết sức giãi bày để bỏ điều đó đi thì xử tội biếm hay bãi chức Nếu a dua trước mặt để thuận ý vua, lúc lui chầu lại nói khác thì xử tội đồ hay tội lưu (Điều 635)
Có thể thấy rằng, cuộc cách tân của Lê Thánh Tông đã xây dựng được hệ thống bộ máy nhà nước tinh giản, vững mạnh và tạo ra chế độ quan lại quy củ, chặt chẽ, hiệu quả Vua tôn dùng những người giỏi, có tư cách đạo đức, xoá bỏ bớt những định kiến phiền nhiễu, bạo ngược cho nhân
Trang 25dân Vì vậy, dưới thời Lê sơ nói chung và thời kỳ vua Lê Thánh Tông trị vì nói riêng bộ máy nhà nước hoàn bị, đội ngũ quan lại trong sạch, liêm chính,
tệ tham ô, quan liêu bị đẩy lùi, đất nước Đại Việt trở thành một quốc gia phồn thịnh, được nhiều nước kính trọng, thần phục
2.1.2.1 Chế độ khoa cử, tiến cử, bảo cử quan lại
Các triều đại phong kiến Việt Nam đã nhận thức vai trò quan trọng quyết định sự thịnh suy của quốc gia là do đội ngũ quan lại tốt hay kém Người làm quan phải có đức, tài hơn mức bình thường; chức quan càng to thì mức độ hiền tài càng lớn Tuyển chọn quan lại được coi như là tuyển chọn nhân tài cho đất nước, là việc hệ trọng của quốc gia Các nhà nước phòng kiến Việt Nam thường thực hiện theo hai phương thức chủ yếu là chế độ khoa cử và tiến cử, bảo cử, một số theo chế độ tập ấm Dưới thời kỳ
Lê sơ, chế độ khoa cử và tiến cử, bảo cử được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc và hiệu quả
Khoa thi chọn nhân tài bổ sung vào đội ngũ quan lại đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được tiến hành vào năm 1075, đời Lý Nhân Tông Tuy nhiên, phải từ thời Lê Thánh Tông, chế độ khoa cử mới thực sự được phát triển, trở thành hình mẫu tiêu biểu cho các triều đại sau này tiếp tục thực hiện Từ đây, kết quả khoa cử trở thành phương thức chủ yếu để tuyển lựa quan lại của nhà nước Năm 1462, Lê Thánh Tông cho phép các thí sinh trong cả nước không cứ là dân hay lính đi làm thủ tục thi Nhưng vua cũng quy định chỉ cho những người có đức đi thi và cấm thi một số trường hợp liên quan đến xuất thân “cho quan sở tại và xã trưởng xã mình làm giấy bảo đảm rằng người ấy thực sự là có đức hạnh mới được vào danh sách dự thi
Kẻ nào vào loại bất hiếu, bất mục, bất nghĩa… thì dẫu học giỏi, văn thư hay cũng không cho vào thi…” [5, tr 369]
Đối với chế độ tiến cử, pháp luật thời Lê sơ cho phép một vị quan được đề nghị đưa một người có tài nhưng vì nhiều nguyên nhân mà chưa có
Trang 26điều kiện đi thi hoặc thi không đỗ được giữ một chức quan nào đó Người tiến cử phải lấy tước vị, phẩm hàm của mình để bảo đảm rằng người được tiến cử là có tài, xứng đáng với chức vị được giao Điều 174 của Quốc triều hình luật có quy định: “Những người làm nhiệm vụ cử người mà không cử được người giỏi thì bị biếm hoặc bị phạt theo luật nặng nhẹ; nếu vì tình riêng hoặc vì ăn tiền mà tiến cử thì xử nặng thêm hai bậc” [35, tr 84]
Chế độ bảo cử có từ thời Hồng Đức, năm 1484 vua Thánh Tông ra lệnh: “Kể từ nay, quan các nha môn trong ngoài có bị khuyết, khi vâng mệnh bảo cử, người nào từng biết rõ người nào đó quả có tài năng, kiến thức, thanh liêm, có thể bổ làm chức gì, thì các quan khoa, đài phải cùng biên chép… Sau này người được bảo cử, nếu có kẻ bỉ ổi, tham nhũng, không làm việc, làm quan không có công trạng gì, thì phải tra xét xem viên quan nào đã bảo cử bậy người ấy, tâu hặc lên để tra xét” [5, tr 494]
Với quy định như vậy, việc tuyển chọn quan lại bằng con đường khoa cử, tiến cử, bảo cử thể hiện những ưu điểm như: tiêu chuẩn xét tuyển thống nhất trong phạm vi cả nước Việc xét tuyển bằng khoa cử thể hiện khách quan, công bằng, thúc đẩy việc tu dưỡng, học tập của các quan chức tương lai, khuyến khích xã hội học tập; thúc đẩy xã hội coi trọng giáo dục, văn hoá và tài năng cá nhân Mặt khác, Quốc triều hình luật cũng có những quy định cụ thể nhằm hạn chế những người không đủ tiêu chuẩn về tư cách đạo đức tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, cai trị nhân dân, là một biện pháp phòng ngừa tệ nạn tham quan, ô lại
2.1.2.2 Chính sách khen thưởng, đãi ngộ, xử phạt đối với quan lại
Các triều đại phong kiến trước đây đều có chính sách khen thưởng, đãi ngộ, xử phạt quan lại, nhưng dưới thời Lê sơ thì chính sách này được quy định rõ ràng, quy củ và thực hiện thường xuyên, nghiêm minh
Quốc triều hình luật có những quy định ưu tiên đãi ngộ với các quan lại, Điều 13 quy định: “Những người thôi làm quan vì lẽ chính đáng thì
Trang 27cũng được coi như các quan đương chức, những quan đương chức được phong tặng và trưng dụng làm quan cũng coi như quan nhậm chức Lệ ấm cho con cháu dù bản quan còn sống hay đã mất cũng như nhau Chức quan càng cao thì bổng lộc càng nhiều, không chỉ cho mình mà cả cho con cháu” [35, tr 40]
Vua Lê Thánh Tông thực hiện chế độ tiền lương khác nhau cho các quan lại tuỳ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của công việc, không cào bằng Ví dụ: lương của quan giản nhậm (quan ở nơi ít việc); quan thái giản (quan ở nơi rất ít việc); chức nhàn tản (là chức quan coi việc nhẹ); chức thái nhàn tản (là chức quan coi việc rất nhẹ) là không giống nhau Người nào chức vụ như nhau, những kiêm nhiệm thêm chức quan khác thì được cấp bổng lộc theo chức kiêm nhiệm Quy chế trước đây thường đặt quan chức lấy vật phẩm cao và tước hậu lớn, còn quy chế của Lê Thánh Tông đặt quan chức, nói chung là bổng lộc giảm, chuẩn xác hơn, chi cấp không quá nhiều, thưởng phạt rõ ràng, khinh trọng khống chế nhau, có thực quyền, thực uy Khi thấy bộ máy quan lại phình to, tốn kém thì vua chủ trương giảm bớt bằng cách tiến hành rà soát đội ngũ quan lại, những ai đã từng phạm tội hối
lộ, đã bị xử biếm, giáng… mà còn đương chức thì cho thôi việc, để triệt quan tham nhũng, cho bớt lộc
Cùng với việc cải cách nền hành chính nhà nước, Vua Lê Thánh Tông định rõ thể lệ cấp điền lộc Phàm những người hoàng tông, các quan văn, quan võ và tông phụ nữ quan đều được nhà vua định thể lệ cấp cho ruộng, đất, bãi trồng dâu, tiền mặt thay thế cho đầm (hồ hoặc đầm) và thổ trạch vườn ao, đều có đẳng cấp khác nhau Những người được ban cấp sau khi chết phải chiêu số đã cấp trả lại quan Nếu người nào có tài đức công nghiệp được vua đặc ân ban cho ruộng đất thế nghiệp để truyền cho con cháu, thì lúc bấy giờ sẽ xin chỉ chuẩn của nhà vua, không phải là thể lệ thường hành
Trang 28Lại nghị định chế độ quân cấp ruộng: Phàm công điền của dân đinh các xã, cứ 6 năm một lần, quan phủ, huyện hoặc châu phải kiểm điểm đo đạc, chia ruộng làm ba bậc: nhất đẳng, nhị đẳng và tam đẳng, rồi chiểu theo khoản thức kê khai số quan, quân, dân và số ruộng nhiều ít thế nào, chia từng hạng để quân cấp Nếu ruộng nhiều thì lấy mẫu chia làm từng phần, ruộng ít thì lấy sào, thước chia làm từng phần Quan viên từ nhị phẩm trở lên được cấp điền lộc ở nơi khác đã nhiều rồi thì không được cấp phần ruộng nữa; còn từ tam phẩm trở xuống người nào điền lộc ít, thì được quân cấp theo như thể lệ
Bên cạnh đó, vua Lê Thánh Tông và triều đình có những quy định bảo đảm chế độ lương bổng cho đội ngũ quan lại các cấp, theo từng loại chức quan, từng vị trí công việc và theo khả năng thực tế của họ để họ đủ sống và yên tâm làm việc “Đinh Dậu, Hồng Đức năm thứ 8 (1477) Tháng
2 Vua Lê Thánh Tông định rõ lại chế độ cấp lộc cho các quan trong kinh
và ngoài các đạo Trước đây, định thể lệ quan bổng và chế độ quan lộc của trăm quan đều tùy theo chức việc phiền hay giản, chia ra từng hạng: giản, thái giản; nhàn tản Bổng lộc từ cao đến thấp theo thể lệ bớt dần đều có nhiều ít khác nhau Đến đây, nhà vua định rõ lại chế độ cấp lộc cho các quan trong kinh và ngoài các đạo
Tờ chiếu nói: Cấp bổng lộc để khuyến khích người có công, tùy theo trách nhiệm nặng hay nhẹ, những hoàng tông và công thần tuy không có hạng định về phẩm tước, mà cấp lộc còn có từng bậc khác nhau, huống chi các quan văn, quan võ trong kinh và ngoài các đạo chức việc không giống nhau, thì việc cấp lộc nên làm cho tỏ rõ việc nặng nhọc, việc nhàn rỗi Vậy hoặc có người nào kiêm giữ một chức quan ngang với phẩm trật của mình, thì được cấp lộc theo chức phiền kịch; người nào chức thấp mà kiêm giữ một chức cao; thì được tính theo chức sở kiêm, mà bớt dần đến phẩm trật chính của mình, rồi tùy theo chức việc phiền hay giản mà định số lộc cấp
Trang 29phát; người nào chức cao mà làm công việc chức thấp thì được tính theo chức sở hành, mà tiến dần đến phẩm trật của mình, rồi tùy theo chức phiền hay giản mà định số lộc cấp phát Đại khái, quan trong kinh, nếu giữ chức phiền kịch thì cấp bổng lộc tiến lên hai bậc, chức phiền kịch vừa tiến lên một bậc; chức giản dị lùi xuống một bậc, chức giản dị lắm lùi xuống hai bậc Quan ngoài các đạo, nếu giữ chức phiền kịch thì bổng lộc lùi xuống một bậc, chức phiền kịch vừa lùi xuống hai bậc; chức giản dị lắm lùi xuống
ba bậc Về phần thí quan thì sau khi đã theo chức phiền hay giản để tính bổng lộc tiến hay lùi rồi, lại cấp lộc lùi xuống ba bậc nữa” [5, tr.469-470]
Quốc triều hình luật có quy định rất cụ thể về các quyền lợi vật chất của đội ngũ quan lại Quan lại được cấp đất ở, đất canh tác (chế độ lộc điền) cùng được miễn thuế một phần ruộng đất Quan có phẩm hàm càng cao thì được cấp nhiều Chẳng hạn Điều 130 quy định: “Những vị đại thần
và bách quan trong kinh thành nhà cửa, vườn tược chỉ được ba mẫu trở lại, quan nhất phẩm ba mẫu, quan nhị phẩm hai mẫu, quan tam phẩm một mẫu, quan tứ phẩm năm sào, quan ngũ phẩm ba sào, quan lục phẩm, thất phẩm hai sao, quan bát phẩm, cửu phẩm… một sào”
Theo Chức quan chí trong Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú, thì đời Hồng Đức định bổng lộc các quan có chế độ chức quan phiền hay giản, bổng lộc tiến hay lùi Đại lược là bổng lộc bớt đi, phẩm trật thấp xuống, không để cho viên quan nào không có việc mà ăn không Nhưng đấy chỉ là cấp tiền bổng lộc trong một năm mà thôi, ngoài bổng lộc ra lại cấp cho ruộng đất, bãi và thực tiền thay thế cho đầm nữa, chủ yếu cốt để cân nhắc người khó nhọc, người có tài năng, mà quyết định bổng lộc phẩm trật cho thích đáng Phép tắc thể lệ thật là đầy đủ Cùng với việc quan tâm đến chế độ lương bổng cho đội ngũ quan lại, Vua Lê Thánh Tông và triều đình còn hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật để chống tham nhũng
2.1.2.3 Chủ động loại bỏ những viên quan lại có hành vi tham
Trang 30nhũng hoặc đã từng có hành vi tham nhũng
Hồng Đức năm thứ 12 (năm 1481), Vua Lê Thánh Tông ban chiếu:
“Quan viên quá nhiều, tiêu phí lộc kho, lục khoa phải tra xét xem từ năm Quang Thuận thứ 2 (1461) đến nay, quan viên nào đã từng phạm các tội hối
lộ, đã bị xử các tội biếm, giáng, cùng các tướng hiệu, quản áp, để thiếu ván thuyền, gỗ lạt, củi, gạch… vụng trộm bắt người nộp tiền, đến nỗi thiếu nhiều thứ phải nộp, trị giá từ 10 quan trở lên mà người ấy hãy còn tại chức thì bắt phải thôi việc, để triệt để những quan tham nhũng cho bớt lộc” Cùng năm đó, ông ra sắc chỉ: “Quan các vệ sở, người nào dám như trước, hạch sách tiền của thì pháp ty theo luật trị tội” [5, tr.484-485] Tinh thần này cũng được thể hiện trong Bộ luật Hồng Đức với các quy định trừng trị nghiêm những quan, nại sách nhiễu, nhận hối lộ: Điều 138 quy định: “Quan
ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ một quan đến 9 quan thì bị xử tội biếm hay bãi chức…” Điều 119 quy định: “Việc công đáng phải làm mà lần chần để chậm lại… thì xử tội biếm hay bãi chức tuỳ theo tội nặng nhẹ”; Điều 97 quy định: “Quan lại đặt ra có số nhất định, nếu bổ dụng hay đặt ra quá hạn định, hay không nên đặt ra mà đặt ra (nghĩa là không tâu xin) thì thừa một viên phải phạt 60 trượng, biếm hai tư và bãi chức; thừa hai viên trở lên thì xử tội đồ, người sau biết mà cứ để yên thì xử tội nhẹ hơn người trước một bậc ”; Điều 184 quy định: “Những người coi sóc việc đào sông, làm cảng và đắp quan ải mà giấu bớt dân phu, sách nhiễu tiền của thì
bị biếm hoặc đồ phải bồi thường tiền gấp hai, trả lại cho dân”; Điều 185 quy định: “Những người công sai đến các lộ, các huyện mà bắt ép dân phu khuân vác đưa đón và lấy lương thực, vật liệu quá nhiều thì bị tội xuy, đánh
50 roi, biếm một tư, phải bồi thường gấp đôi tang vật trả cho dân”; Điều
626 quy định “Các quan đại thần, quan hành khiển cũng các quan coi ngục tụng, nếu kẻ tội nhân xét tình đáng thương, nên được vua đặc ân tha cho mà lại tự nhận là ơn của mình, để đòi hối lộ thì xử tội đồ, tội lưu hay tội chết”;
Trang 31Điều 632 quy định “Các quan cai quản quân dân các hạt, vô cớ mà đi đến những làng, xã trong hạt, hay là cho vợ cả vợ lẽ, người làm đi lại, mượn việc mua bán làm cớ, để quấy nhiễu quân dân, lấy của biếu xén, thì xử tội biếm hay bãi chức”; Điều 639 quy định “Các quan ty tự tiện lấy của cải đồ vật của quân dân, dùng vào việc riêng thì xử như tội ăn hối lộ và phải bồi thường gấp đôi trả cho quân dân”…
Từ những quy định trên đây cho thấy, Quốc triều hình luật rất coi trọng việc làm trong sạch đội ngũ quan lại trong triều đình nhà Lê sơ thời bấy giờ, đó là một trong những biện pháp hữu hiệu phòng ngừa tham nhũng
2.1.2.4 Vua Lê Thánh Tông coi thanh liêm là tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu trong việc lựa chọn quan lại
Trong các kỳ khảo công (khảo xét các việc hay, dở của quan lại trong năm, căn cứ vào đó mà thăng giáng chức, hoặc điều chuyển việc khác, nơi khác cho phù hợp), sự thanh liêm luôn được xem là tiêu chuẩn đầu tiên
Ngày 18 trước năm Hồng Đức thứ nhất, vua ban sắc dụ quan viên văn võ và dân chúng cả nước rằng: “…Từ nay về sau, các sắc quan lại, ai được thăng chức hay bổ dụng, thì Lại bộ phải sức giấy cho phủ, huyện, xã, bắt Xã trưởng phải làm tờ cam đoan khai là tên ấy đã đủ tuổi quy định, giá thú làm theo hôn lễ thì mới cho tâu lên để thăng bổ như lệ Nếu để cho kẻ xấu lạm dự vào hàng quan chức, thì viên đó bị thích chữ đi đày” [5, tr 438]
“Mậu Tuất, Hồng Đức năm thứ 9 (năm 1478)
Tháng 2, mùa xuân Hạ chiếu cho ba ty Đô, Thừa, Hiến xét người hay, người dở trong bộ thuộc mình rồi kê tên từng người tâu bày lên để vua
rõ Nhà vua hạ sắc lệnh cho ba ty Đô, Thừa, Hiến các xứ phải xét kỹ các quan lại trong bộ thuộc của mình, hạng liêm khiết, hạng tham ô, hạng siêng
Trang 32năng, hạng lười biếng, và viên quan giữ việc học dạy bảo học trò, hàng năm có kén chọn để tiến cống hay không, tiến cống nhiều hay ít, đều phải
kê tên những quan lại ấy tâu bày lên cho vua biết, để định sự truất bãi hoặc cất nhắc” [5, tr 471]
Nhà vua lại hạ lệnh cho trưởng quan các nha môn văn và võ trong kinh và các đạo ở ngoài phải xét bộ thuộc của mình, người nào hèn kém bỉ
ổi không thể dùng được, thì đưa về bộ để xét thực, hoặc đổi bổ sung vào chức quan giản việc hoặc bắt về nghỉ, sẽ lựa chọn người từng trải công việc
và lão luyện, thông thái để thay thế Nếu viên quan nào xét trái sự thật, thì các quan trong Lục khoa, Ngự sử và ty Hiến sát sứ được phép kiểm soát hoặc tâu để trị tội Quốc triều hình luật có quy định: “Các quan đang tại chức mà trễ nhác việc công thì bị phạt 70 trượng, biếm ba tư và bãi chức Nếu vì trễ nhác mà hỏng việc thì tội thêm một bậc” (Điều 199)
Nhà vua còn tổ chức các khoa thi Hoành từ để chọn người hiền tài trong số các quan lại đương chức Với phương châm “chọn lấy những người nhân hậu, khoan thứ, sáng suốt, công bằng ở các nha môn trong ngoài” [5, tr 432], để thay thế các quan đương chức không làm tròn chức phận của mình
Quốc triều hình luật có quy định: “Những người đến cầu cạnh quan chủ ty việc trái pháp luật, và kẻ vì người khác mà đến cầu cạnh thay, đều
xử tội biếm hay phạt; quan chủ ty nghe theo thì phải ghép vào tội làm trái pháp luật, việc chưa thi hành thì xử tội biếm hay phạt” (Điều 137); hoặc
“Những người ỷ thế nhà quyền quý để cầu cạnh xin quan tước, thì xử tội biếm hay đồ; kẻ dưới quyền quan ty cũng bắt tội như thế” (Điều 139); hoặc
“Các quan tướng súy tại các phiên trấn đến những châu huyện ở trấn mình, sách nhiễu tiền tài của nhân dân thì bị biếm ba bậc, phải bồi thường gấp đôi
số tiền trả lại cho dân” (Điều 163); hoặc “Những người công sai đến các lộ, các huyện mà bắt ép dân phu khuân vác đưa đón và lấy lương thực, vật liệu
Trang 33quá nhiều thì bị tội xuy, đánh 50 roi, biếm một tư, phải bồi thường gấp đôi tang vật trả cho dân” (Điều 185)
2.1.2.5 Chế độ luân chuyển quan lại, hồi tỵ
Dưới thời Lê Thánh Tông, việc luân chuyển quan lại được xác lập thành một chính sách rõ ràng Bên cạnh lệ khảo khoá đã có từ trước, Lê Thánh Tông còn có những quy định tương đối chi tiết, thể hiện ở một số mặt như lệ bảo cử, lệ điều động quan lại giữa các địa phương xa… Năm
1467, Lê Tháng Tông quy định, người nhận chức ở tại nơi biên giới xa phải
đủ chín năm mới được đổi về các huyện dưới kinh Quan lại nếu không đáp ứng được nhu cầu của nhà nước hoặc bất tài đều bị bãi Lệ thải quan viên gồm 3 điều ban bố vào năm 1478 chỉ rõ, quan viên nếu hèn kém, đần độn,
bỉ ổi… không làm nổi việc thì đều phải nghỉ việc
Tư tưởng hồi tỵ đã được áp dụng từ thời Lê Thánh Tông Năm 1486,
Lê Thánh Tông ban lệnh cấm quan lại nhậm chức ở ngoài lấy đàn bà, con gái trong hạt của mình Chẳng hạn, Điều 316 Quốc triều hình luật quy định:
“Các quan ty ở trấn ngoài mà lấy đàn bà con gái ở trong hạt mình, thì xử phạt 70 trượng, biếm ba tư và bãi chức” Năm 1496, vua lệnh cho châu huyện không để nhiều người là anh em ruột, anh em con chú con bác, anh
em con dì con cậu, hai nhà thông gia cũng làm xã trưởng trong một xã, mỗi nơi chỉ được đặt một người Biện pháp này nhằm ngăn chặn tệ lợi dụng quan hệ thân tộc, vây bè, kéo cánh cả về phía họ ngoại và thông gia trong việc nắm giữ các chức danh trong bộ máy quản lý, thao túng làng xã Luật hồi tỵ còn được thực hiện nghiêm ngặt trong các kỳ thi hương, thi hội Trong Quốc triều hình luật, Điều 98 quy định: “Các quan chủ ty chấm thi cùng với người dự thi có thân thuộc, cần phải hồi tỵ mà không từ chối thì phạt 50 roi biếm một tư; nếu là các quan di phong, đằng lục thì đều phải phạt 80 trượng Thi hương được giảm một bậc Các khảo quan khác (biết
có sự không hồi tỵ này) mà cứ chấm quyển thi cùng là quan di phong, đăng
Trang 34lục đều được giảm một bậc Nếu không nên hồi tỵ mà hồi tỵ thì cũng xử tội như thế”
Những quy định về luân quan cho thấy sự nghiêm túc trong cơ chế thăng giáng, chuyển đổi quan lại dưới thời Lê sơ, đặc biệt là trong những năm cai trị của Hoàng đế Lê Thánh Tông Thực hiện nghiêm lệ hồi tỵ góp phần hạn chế được mặt tiêu cực của văn hoá và lối sống người Việt, tạo cơ
sở pháp lý để phát huy tính công tâm, khách quan trong việc phụng sự lợi ích của nhà nước của đội ngũ quan lại Đây là những yếu tố quan trọng góp phần làm trong sạch bộ máy quan lại dưới thời Lê sơ, một yếu tố góp phần không nhỏ trong việc phòng ngừa các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong
bộ máy nhà nước
2.2 Phát hiện tham nhũng
Đảng, nhà nước ta nhận định, hiện nay, tham nhũng xảy ra rất đa dạng và phức tạp trên diện rộng ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương Để ngăn chặn và đẩy lùi nạn tham nhũng thì cùng với việc tìm ra các giải pháp, đề ra các biện pháp phòng ngừa tham nhũng cần phải có các biện pháp phát hiện kịp thời các hành vi tham nhũng Quan điểm này đã được quy định và thể hiện trong Quốc triều hình luật và pháp luật thời Lê
sơ Theo đó, pháp luật thời kỳ Lê sơ đã có những quy định nhằm phát hiện tham nhũng như: Phát hiện tham nhũng thông qua chế độ giám sát, quản lý quan lại; phát hiện tham nhũng thông qua tố cáo của dân chúng…
2.2.1 Chế độ giám sát, quản lý quan lại
Giám sát quan lại là việc kiểm tra, đánh giá quan lại một cách thường xuyên hoặc đột xuất (không theo chương trình, kế hoạch) nhằm phát hiện, ngăn chặn những sai lầm, vi phạm pháp luật do người có chức,
có quyền gây ra Để làm việc này, nhà nước phong kiến Việt Nam nói chung và nhà nước phong kiến thời kỳ Lê sơ nói riêng đã học tập mô hình giám sát ngự sử của nhà nước phong kiến Trung Quốc Từ thời nhà Trần đã
Trang 35đặt Ngự sử đài (là cơ quan làm nhiệm vụ giám sát các hoạt động của quan lại triều đình), đứng đầu Ngự sử đài có chức Ngự sử trung tán (hay Ngự sử trung thừa), Ngự sử đại phu giữ, song nhiều khi Ngự sử đài do Hành khiển (Tể tướng) kiêm nhiệm
Thời Lê Thánh Tông, Ngự sử đài được đặt ở vị trí quan trọng, có đủ các chức Đô Ngự sử (Tòng tam phẩm), Thiên đô Ngự sử (Chánh ngũ phẩm), thường do những người có học vị Tiến sĩ nắm giữ Ngoài Ngự sử đài, từ năm 1471, triều đình còn đặt ra Lục Khoa, là cơ quan thanh tra ở sáu
bộ, có trách nhiệm tâu hặc quan lại sai trái và các việc không đúng thể thức
ở mỗi bộ Đứng đầu mỗi khoa có Cấp sự trung và Đô Cấp sự trung
Ở địa phương (các trấn, đạo, xứ) có Giám sát Ngự sử (quan có hàm Chánh thất phẩm) giám sát ở cấp đạo trở xuống Mỗi đạo lại có cơ quan giám sát là Hiến sát sứ ty với chức trách thanh tra quan lại, nghĩa là đề cao vai trò và trách nhiệm các quan lại trong đạo, phủ huyện đối với công việc của nhà nước ở địa phương và đối với nhân dân Họ là đại diện của vua, thực hiện việc tuyên dương đức chính của vua, quan hệ trực tiếp đến sự tồn vong của nhà nước Đứng đầu cơ quan này là Hiến sát sứ và Hiến sát phó
sứ (hàm Chánh thất phẩm) Giám sát ngự sử cùng với các quan trong Hiến
ty có nhiệm phối hợp hặc tâu các quan làm bậy, soi xét uẩn khuất của dân
Hoàng đế Lê Thánh Tông cho rằng, tuyển lựa được nhân tài có đủ phẩm chất và năng lực đã khó, nhưng để phát huy được tài năng và đức độ của họ quả là điều không dễ Vì mục đích đó, Lê Thánh Tông đã xây dựng chế độ thanh tra, giám sát và khảo khóa đối với đội ngũ quan lại như là một
biện pháp hữu hiệu nhằm “khuyến khích và buộc quan lại đương chức tiếp
tục trau dồi năng lực, đạo đức và loại bỏ kịp thời những người thái hóa, biến chất” [15, tr.40] thông qua đó làm trong sạch đội ngũ quan lại
Năm 1471, Lê Thánh Tông bên cạnh đặt Lục bộ, Lục tự còn đặt thêm Lục khoa, là cơ quan thanh tra, giám sát của 6 bộ, có trách nhiệm xem
Trang 36xét hành vi sai trái của quan lại Ngay cả bộ Lại cơ quan quyền hành cao nhất của triều đình trong việc tuyển bổ, thăng giáng không đúng, Lại khoa
có quyền tố cáo, giới thiệu người khác Việc thanh tra, giám sát của Lại
khoa được thực hiện theo nguyên tắc: “Bộ Lại thăng bổ không đúng tài thì
Lại khoa có quyền bác bỏ” [15, tr.13] Mục đích của việc tăng cường giám sát đối với đối đội ngũ quan lại “để cho lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau,
khinh trọng cùng ràng buộc nhau, khinh trọng cùng kiềm chế nhau, uy quyền không giả mà lẽ nước khó lay suy” [15, tr.13-14] Thực hiện nguyên
tắc thanh tra, giám sát quan lại trước khi được bổ dụng chính thức, quan lại đều phải trải qua thời gian thử việc, sau một thời gian nếu đạt thì được bổ dụng chính thức, ngược lại có thể hủy bỏ kết quả tuyển dụng: “Phàm quan trong kinh sư và ngoài thừa tuyên, lúc bắt đầu bổ dụng hãy cho thí nghiệm
về công việc làm, người nào trong 3 năm làm đầy đủ chức vụ không lỗi lầm mới được thực thụ; nếu người nào không làm đủ chức vụ sẽ bị truất bãi” [19, tr.1.058] Bên cạnh đó, Hoàng đế Lê Thánh Tông hàng năm còn cử người trong Lục bộ, Lục tự, Lục khoa đi về các đạo dò xét phẩm cách quan
lại các địa phương: “Nhà vua hạ lệnh cho các quan trong Lục bộ, Lục tự,
Lục khoa chọn những nha lại biết chữ và có hạnh kiểm, mỗi bộ, mỗi tự, mỗi khoa đều chọn lấy hai người để phân phái đi xét hỏi cặn kẽ về sự đau khổ ở dân gian và chính sự địa phương tốt hay xấu” [19, tr.1.008-1.009] Khi phát hiện trường hợp quan lại tham ô, tham nhũng, triều đình sẽ cử quan lại có đủ năng lực và phẩm hạnh về địa phương điều tra, nếu quả là người có lỗi thì chiếu theo luật mà định tội
Đối với quan lại ở địa phương, chính quyền Lê Thánh Tông đặt cơ quan giám sát ở 13 đạo có chức năng đàn hặc, kiểm tra, thanh tra quan lại:
“Về chức trách hiến sát sứ và hiến phó sứ ở 13 đạo, thì chuyên giữ các việc
trình bày lời nói phải trái, dò hỏi điều tra và đàn hặc những việc làm trái phép, thẩm cứu xét hỏi việc ngục tung của quan lại, đi tuần hành” [19,
Trang 37tr.1.086] Hàng năm hoặc bất thường ty Thừa, Hiến tiến hành kiểm tra, dò xét kỹ tư cách quan lại sau đó tâu lên: “Thừa, Hiến các xứ phải xét kỹ các
quan trong bộ thuộc của mình, hạng liêm khiết, hạng tham ô, hạng siêng
năng, hạng lười biếng hàng năm có kén chọn để tiến công hay không tiến công, tiến công nhiều hay ít, đều phải kể tên những quan lại ấy tâu bày lên cho vua biết, để định sự truất bãi hoặc cất nhắc” [19, tr.1.109] Để bảo đảm tính công bằng, khách quan cũng như tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào phòng chống tham ô, tham nhũng, khi thanh tra quan lại địa phương phải dựa vào dư luận của nhân dân, coi đó là một tiêu chí để đánh giá mức
độ liêm khiết của quan lại: “Các quan vệ sở, phủ, châu, huyện bên ngoài
nếu có người đẽo khoét quân lính, mọi hại nhân dân, chỉ chăm làm lợi cho mình, không lo nghĩ đến phép nước thì hai ty Thừa, Hiến đều phải công bằng xét xử tham khảo dư luận của mọi người, người nào trước kia có nhũng lạm tuy không có chứng thực, nhưng mọi người đều biết, cùng là người nào liêm khiết, không mắc thói tham ô, kê ra từng loại tâu lên cả, trao cho Giám sát ngự sử ở đạo đó thẩm tra lại, làm bản tâu lên, sẽ khu xử
để tỏ rõ sự khuyến khích và trừng phạt” Căn cứ trên việc thanh tra, giám sát đối với đội ngũ quan lại của hai ty Thừa, Hiến cũng như dư luận của nhân dân mà định bãi, biếm hay thăng chức cho quan lại Chính vì thế mà quan lại luôn ra sức cố gắng, hết lòng vì nước, vì dân
Các cơ quan thanh tra, giám sát này tạo thành từ một hệ thống kiểm soát, đánh giá quan lại theo nguyên tắc: tất cả điều liên quan đến nhau, ràng buộc lẫn nhau, khiến cho quan to, nhỏ cũng đều ràng buộc với nhau, chức trọng, chức khinh cùng kiềm chế nhau Uy quyền không bị lợi dụng
Chế độ thanh tra, giám sát thời Lê Thánh Tông là chế độ độc lập, có thể báo cáo vượt cấp Ví dụ, một quan tri phủ mắc lỗi thì quan Hiến sát có quyền tâu hặc thẳng lên Ngự sử đài hoặc trực tiếp lên bộ Hình, thậm chí lên
cả vua, không cần thông qua giám sát Ngự sử Triều đình sẽ cử ngay quan