1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phòng ngừa tội mua bán người, mua bán trẻ em trên địa bàn các tỉnh lào cai, lai châu, điện biên

88 204 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ cơ sở lí luận “Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của các tội phạm hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm đã xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gia

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỖ MẠNH QUANG

PHÒNG NGỪA TỘI MUA BÁN NGƯỜI,

MUA BÁN TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH LÀO CAI, LAI CHÂU, ĐIỆN BIÊN

Chuyên ngành: Tội phạm học và điều tra tội phạm

Mã số: 60 38 70

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN HƯƠNG

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

phạm

Trang 5

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên là các tỉnh miền núi, biên giới Tây Bắc của tổ quốc, có vị trí địa lý tiếp giáp nhau, có chung đường biên giới với Trung Quốc và có nhiều đặc điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội

Thời gian qua tình hình tội phạm (THTP) nói chung, THTP của tội mua bán người, mua bán trẻ em (MBN, MBTE) nói riêng trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên đã xảy ra rất nghiêm trọng Theo số liệu thống kê của VKSND các tỉnh, trong 8 năm (từ 2004 - 2011), Tòa án đã xét xử sơ thẩm

224 vụ, 426 bị cáo phạm tội MBN, MBTE đã xác định được 518 nạn nhân Với 224 vụ, 426 bị cáo, tội MBN, MBTE chiếm tỉ lệ cao trong các tội phạm thuộc Chương XII và tội phạm nói chung trên địa bàn 3 tỉnh này

Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu một cách có hệ thống tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên Chính vì

vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Phòng ngừa tội mua bán người, mua bán trẻ

em trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên” làm đề tài nghiên

cứu cho Luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây, tội MBN, tội MBTE đã được nhiều cơ quan,

tổ chức và các nhà khoa học nghiên cứu ở những cấp độ khác nhau Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến vấn đề này có thể kể đến là:

* Sách chuyên khảo, đề tài khoa học

Tội mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới Việt Nam – thực trạng và giải pháp của Viện chiến lược và khoa học Công an, được Nhà xuất bản công an

nhân dân phát hành năm 2007 Công trình nghiên cứu này có thời gian khảo sát số liệu trong 5 năm (1998 - 2003), số liệu nghiên cứu mới chỉ dựa trên số

Trang 6

2

liệu khởi tố, điều tra của cơ quan công an, phạm vi nghiên cứu trên địa bàn cả nước Do vậy, việc tìm ra nguyên nhân, đưa ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm chưa phù hợp cho địa bàn cụ thể

* Luận án, luận văn

- Đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam, Luận án tiến

sĩ luật học của tác giả Nguyễn Văn Hương (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008) Luận án là công trình nghiên cứu công phu về tội mua bán phụ nữ (MBPN) trên phạm vi cả nước, số liệu sử dụng nghiên cứu từ năm

Cả hai luận án trên, các tác giả đều chưa làm rõ THTP, nguyên nhân và đưa ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm cho địa bàn cụ thể có những đặc điểm đặc thù riêng như Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

- Phòng ngừa tội mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn,

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lương Thị Mỹ Hạnh (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2011);

- Đấu tranh phòng chống tội mua bán phụ nữ trên địa bàn thành phố Hà

Nội, Luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Thị Phương Thúy (bảo vệ tại Trường

Đại học Luật Hà Nội, năm 2008);

- Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Quyết Thắng (bảo vệ tại Trường

Đại học Luật Hà Nội, năm 2006)

Trang 7

3

Các luận văn này được các tác giả nghiên cứu trên địa bàn cụ thể là Lạng Sơn, Hà Nội, nghiên cứu chung trên toàn quốc mà chưa có luận văn nào nghiên cứu đến địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

* Các bài báo khoa học

- Phòng ngừa tội mua bán người, mua bán trẻ em ở Việt Nam hiện nay

(Tạp chí Luật học, số 1, năm 2012); Vấn đề nạn nhân của tội mua bán phụ nữ

ở Việt Nam (Tạp chí Luật học, số 5, năm 2008); Tội mua bán phụ nữ trong Bộ luật hình sự 1999 một số vấn đề cần được hướng dẫn, bổ sung (Tạp chí Tòa án

nhân dân, số 7, năm 2008) của tác giả Nguyễn Văn Hương;

- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Điều 119 Bộ luật hình sự đối với tội

mua bán người (Tạp chí Kiểm sát, số 5, năm 2011) của tác giả Trịnh Tiến

Việt;

- Một số kiến nghị nhằm giải quyết vướng mắc khi áp dụng Điều 119 và

Điều 120 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự (Tạp chí

Kiểm sát, số 4, năm 2010) của tác giả Đỗ Đức Hồng Hà;

- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả biện pháp hỏi cung bị can trong

điều tra các vụ án mua bán phụ nữ, trẻ em” (Tạp chí kiểm sát, số 2, năm 2011)

của tác giả Đặng Thu Hiền;

- Mua bán người loại tội phạm đang phát triển ở nước ta cần có chế tài

ngăn chặn, xử lý” (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề 7, năm 2010)

của tác giả Đình Nguyên và một số bài viết khác

Nội dung các bài viết trên, các tác giả đã nghiên cứu tội MBN, MBTE dưới nhiều góc độ khác nhau như: luật hình sự; tội phạm học; điều tra tội phạm nhằm đưa ra các giải pháp phòng, chống tội MBN (MBPN), MBTE Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu Điện Biên được công bố

Trang 8

4

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học Số liệu phục vụ nghiên cứu là số liệu thống kê của Văn phòng tổng hợp - thống kê tội phạm (VPTH - TKTP) của VKSND các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và Cục thống kê tội phạm VKSND tối cao trong thời gian 8 năm (2004 – 2011)

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Các phương pháp cụ thể được sử dụng để nghiên cứu đề tài bao gồm: thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, mô tả biểu đồ và đồ thị

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu

Mục đích cuả Luận văn là góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên Để đạt được mục đích trên Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Phân tích làm rõ THTP của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

- Phân tích nguyên nhân của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

- Phân tích đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

- Luận văn phân tích đánh giá, làm rõ các đặc điểm THTP của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên giai đoạn từ năm

2004 đến 2011

- Luận văn phân tích, lý giải một cách khoa học về những yếu tố và tác động của những yếu tố này trong việc tạo thành nguyên nhân của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Trang 9

5

- Luận văn đưa ra dự báo THTP của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong thời gian tới và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa các tội này ở địa bàn 3 tỉnh nêu trên

7 Cơ cấu của Luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục các Bảng, Biểu đồ, Đồ thị Luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Tình hình tội phạm của tội mua bán người, mua bán trẻ em trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Chương II: Nguyên nhân của tội mua bán người, mua bán trẻ em trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Chương III: Dự báo tình hình tội phạm và các biện pháp phòng ngừa tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Trang 10

6

CHƯƠNG I TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CỦA TỘI MUA BÁN NGƯỜI, MUA BÁN TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH LÀO CAI, LAI CHÂU, ĐIỆN BIÊN

Tình hình tội phạm “là một trong những khái niệm quan trọng của tội

phạm học” [19, tr.202]; “là đối tượng nghiên cứu đầu tiên của tội phạm học”

[67, tr.84]; “là thuật ngữ đặc thù của tội phạm học” [32, tr.77] Do đó, việc

hiểu và vận dụng khái niệm THTP có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu, làm rõ các đặc điểm tội phạm học của một loại tội; làm rõ bức tranh toàn cảnh của một loại tội trên địa bàn cụ thể và trong khoảng thời gian nhất định

Xuất phát từ cơ sở lí luận “Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động

của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đã xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định” [19, tr.210], khi nghiên cứu

THTP của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên (từ 2004 đến 2011) chúng tôi tập trung phân tích các nội dung sau:

- Thực trạng (mức độ, cơ cấu, tính chất) của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

- Diễn biến (xu thế vận động) của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

1.1 Thực trạng của tội mua bán người, mua bán trẻ em trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

1.1.1 Mức độ của tội mua bán người, mua bán trẻ em trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Mức độ của tội phạm“được phản ánh qua các tổng của các tội phạm đã

xảy ra cùng với tổng của những người phạm tội đó trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định” [19, tr.220] Để xác định mức độ của tội MBN,

MBTE, chúng tôi sử dụng số liệu thống kê của VKSND các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và số liệu của Cục thống kê tội phạm VKSND tối cao từ năm

Trang 11

7

2004 đến 2011 làm căn cứ phân tích, đánh giá để rút ra những kết luận về mức

độ của tội MBN, MBTE

Để có nhận thức khái quát về mức độ của tội MBN, MBTE trên địa bàn nghiên cứu, chúng ta xem xét bảng số liệu sau:

Bảng 1.1: Tội MBN, MBTE, tội phạm Chương XII và tội phạm nói

chung bị xét xử sơ thẩm trên địa bàn Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên (2004 - 2011) 1

Năm

Tội MBN, MBTE Tội phạm

Chương XII

Tội phạm nói chung

Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo MBN MB

Nguồn: VPTH - TKTP VKSND các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Số liệu thống kê tại Bảng 1.1 cho thấy trong 8 năm (2004 – 2011), Tòa án các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên đã xét xử sơ thẩm 224 vụ, 426 bị cáo phạm tội MBN, MBTE Trong tổng số 224 vụ, 426 bị cáo nêu trên, Toà án đã xét xử sơ thẩm 184 vụ, 342 bị cáo phạm tội MBN và 40 vụ, 84 bị cáo phạm tội

1 Ngày 19/6/2009 tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 1999, có hiệu lực từ 01/01/2010, tội mua bán phụ nữ (MBPN) được sửa đổi thành tội mua bán người (MBN) và bổ sung thêm một số dấu hiệu định khung hình phạt Do đó, chúng tôi sử dụng tên

tội là MBN Từ số liệu thống kê của VKSND 3 tỉnh xây dựng Bảng 1.1 (Xem thêm Phụ lục 1,2,3)

Trang 12

8

MBTE Số liệu trên cho thấy, từ năm 2004 đến năm 2011 trên địa bàn 3 tỉnh này, trung bình mỗi năm các Toà án đã xét xử sơ thẩm 28 vụ, 53 bị cáo phạm tội MBN, MBTE Nói cách khác, trong 8 năm qua, trên địa bàn 3 tỉnh cứ 13 ngày có 01 vụ và cứ 07 ngày có 01 bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội MBN hoặc tội MBTE Các số liệu trên đã phần nào cho chúng ta thấy được mức độ rất nghiêm trọng của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Mức độ rất nghiêm trọng của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh này còn được chúng tôi phân tích qua các đặc điểm sau

Thứ nhất, tội MBN (Điều 119) và tội MBTE (Điều 120) là 02 trong tổng

số 30 Điều luật trong Chương XII (các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người) chiếm 6,66% số điều luật trong chương này Trong 8 năm (2004 – 2011), tội MBN, MBTE luôn chiếm tỉ lệ cao nhóm tội xâm phạm nhân thân (224 vụ/905 vụ, chiếm 24,75% số vụ và 426 bị cáo/1.264 bị cáo chiếm 33,7% số bị cáo) Đây là tỉ lệ phản ánh mức độ nguy hiểm rất cao của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên2

Thứ hai, tội MBN (Điều 119) và tội MBTE (Điều 120) là hai trong tổng

số 259 Điều luật quy định các tội cụ thể trong BLHS (chiếm 0,77%) Trong 8 năm (2004 - 2011), Tòa án 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên đã xét xử sơ thẩm tổng số 11.462 vụ, 16.881 bị cáo phạm tội (nói chung) Trong đó có 224

vụ, 426 bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội MBN, MBTE (chiếm 1,95% số vụ, 2,52% số bị cáo) Trong thời gian này, năm 2004 là năm tội MBN, MBTE chiếm tỉ lệ thấp nhất (1,56% số vụ, 1,65% số bị cáo); năm 2011 là năm tội

2 Tội Giết người (Điều 93 BLHS), là tội phạm xảy ra khá nhiều trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, trong 8 năm (2004 – 2011), Tòa án 3 tỉnh đã xét xử sơ thẩm 204 vụ, 267 bị cáo (chiếm 22,54% số vụ,

21,12% số bị cáo) so với các tội thuộc Chương XII (Xem thêm Phụ lục 4)

Trang 13

9

MBN, MBTE chiếm tỉ lệ cao nhất (2,37% số vụ, 3,01% số bị cáo) so với toàn

bộ tội phạm nói chung Những số liệu trên đã phần nào cho chúng ta thấy được mức độ rất nghiêm trọng của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh nói trên từ năm 2004 đến 2011

Thứ ba, các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên là 3/63 tỉnh, thành phố

trực thuộc Trung ương (chiếm 4,76%) số đơn vị hành chính cấp tỉnh trên toàn quốc, nhưng tội MBN, MBTE ở 3 tỉnh này luôn chiếm tỉ lệ cao trong tổng số

vụ, bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội MBN, MBTE trên cả nước Để nhận thức rõ hơn về vấn đề này, qua đó để thấy rõ mức độ nguy hiểm cao của tội MBN, MBTE ở 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm qua, chúng ta theo dõi bảng số liệu sau:

Bảng 1.2: Tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh và trên toàn quốc bị

Trang 14

10

Theo số liệu của Cục thống kê tội phạm VKSND tối cao trong 8 năm (2004 - 2011), Tòa án các tỉnh trên cả nước đã xét xử sơ thẩm 1.238 vụ, 2.322

bị cáo phạm tội MBN, MBTE Trong số đó, Tòa án 3 tỉnh đã xét xử sơ thẩm

224 vụ, 426 bị cáo (chiếm 18,09 % số vụ, 18,35% số bị cáo) Trên địa 3 tỉnh, trong các năm từ 2004 đến 2011, năm 2004 là năm tội MBN, MBTE chiếm tỉ

lệ thấp nhất (16,36% số vụ, 16,57% số bị cáo); năm 2011 là năm tội MBN, MBTE chiếm tỉ lệ cao nhất (22,60% số vụ, 21,99% số bị cáo) so với số vụ, số

bị cáo đã xét xử sơ thẩm về tội MBN, MBTE trên toàn quốc Như vậy, 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên chỉ chiếm 4,76% số tỉnh, thành phố trên cả nước nhưng chiếm 18,09% về số vụ, 18,35% số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội MBN, MBTE trên cả nước Đây là những con số thể hiện mức độ nguy hiểm rất cao của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong thời gian qua

Thứ tư, để đánh giá toàn diện mức độ của tội MBN, MBTE trên địa bàn

các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên chúng tôi xác định mức độ phổ biến của các tội này ở các tỉnh nói trên bằng cách xác định hệ số tội phạm của các tội này Hệ số tội phạm của tội MBN, MBTE là số vụ, số bị cáo đã xét xử sơ thẩm của các tội này trên dân số Hệ số tội phạm của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh nói trên được chúng tôi tính trên 100.000 người dân (dân số nói chung)

Theo số liệu của Cục thống kê tội phạm VKSND tối cao trong 8 năm (2004 - 2011), các Tòa án trên cả nước đã xét xử sơ thẩm tổng số 1.238 vụ và 2.322 bị cáo phạm tội MBN, MBTE Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, dân số cả nước năm 2004 là 81.436.400 người dân, đến năm 2011 là 87.840.400 người dân (trung bình là 84.658.750 người dân) [70,74] Vì vậy, hệ

số tội phạm của tội MBN, MBTE trên toàn quốc trong 8 năm là 1,46 vụ và 2,74 bị cáo/100.000 người dân Với phương pháp xác định này, chúng ta xác định hệ số tội phạm của tội MBN, MBTE chung trên địa bàn của 3 tỉnh

Trang 15

11

Từ năm 2004 đến năm 2011, trên địa bàn các tỉnh được chúng tôi nghiên cứu, Tòa án các tỉnh đã xét xử sơ thẩm 224 vụ, 426 bị cáo phạm tội MBN, MBTE Dân số của 3 tỉnh năm 2004 là 1.313.231 người dân, đến năm 2011 là 1.546.240 người dân (trung bình là 1.435.906 người dân) [12,13,14] Như vậy,

hệ số tội phạm của tội MBN, MBTE trong 8 năm trên địa bàn 3 tỉnh là 15,59

vụ, 29,66 bị cáo/100.000 người dân Tuy nhiên, hệ số tội phạm của tội MBN, MBTE có sự chênh lệnh giữa các tỉnh

- Tỉnh Lào Cai: Trong 8 năm (2004 – 2011), Tòa án đã xét xử sơ thẩm

121 vụ, 241 bị cáo phạm tội MBN, MBTE Theo số liệu của Cục thống kê Lào Cai, dân số năm 2004 là 567.043 người dân, đến năm 2011 là 635.000 người dân (trung bình là 600.847 người dân) [12] Như vậy, hệ số tội phạm của tội MBN, MBTE trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong 8 năm là 23,46 vụ, 40,11 bị cáo/100.000 người dân

- Tỉnh Lai Châu: Theo số liệu của Cục thống kê Lai Châu, dân số năm

2004 là 316.816 người dân, đến năm 2011 là 393.752 người dân (trung bình là 362.735 người dân) [13] Trong thời gian này, Tòa án đã xét xử sơ thẩm 82 vụ,

152 bị cáo phạm tội MBN, MBTE Như vậy, hệ số tội phạm của tội MBN, MBTE trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong 8 năm (2004 – 2011) là 22,60 vụ, 41,90 bị cáo/100.000 người dân

- Tỉnh Điện Biên: Trong 8 năm (2004 – 2011), Tòa án đã xét xử sơ thẩm

21 vụ, 33 bị cáo phạm tội MBN, MBTE Theo số liệu Cục thống kê Điện Biên, dân số năm 2004 là 429.372 người dân, đến năm 2011 là 517.888 người dân (trung bình là 472.324 người dân) [14] Do đó, hệ số tội phạm của tội MBN, MBTE trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong 8 năm là 4,40 vụ và 6,98 bị cáo/100.000 người dân Từ các số liệu trên cho thấy, hệ số tội phạm của tội MBN, MBTE trên địa bàn tỉnh Điện Biên là thấp nhất trong 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên Điều đó cho thấy, tội MBN, MBTE xảy ra phổ biến trên địa

Trang 16

12

bàn Lào Cai, Lai Châu Chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn vấn đề này qua bảng số liệu sau:

Bảng 1.3 Hệ số tội phạm của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào

Cai, Lai Châu, Điện Biên và trên toàn quốc (2004 – 2011)

Đơn vị

Số vụ MBN, MBTE

Số bị cáo phạm tội MBN, MBTE

Dân số

Hệ số tội phạm của tội MBN, MBTE

Số vụ /100.000 người

Số bị cáo/100.000 người

Nguồn: Tổng cục thống kê; Cục thống kê tội phạm VKSND tối cao;

VPTH - TKTP VKSND các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Như vậy, những phân tích về số vụ, số bị cáo phạm tội MBN, MBTE so với các tội xâm phạm nhân thân (Chương XII BLHS) và tổng số tội phạm nói chung và với tội MBN, MBTE trên toàn quốc đã phản ánh mức độ rất nghiêm trọng của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm (2004 – 2011) Đồng thời, với những phân tích, đánh giá về hệ số tội phạm, so sánh hệ số tội phạm giữa các tỉnh, so sánh hệ số tội phạm chung của 3 tỉnh với hệ số tội phạm toàn quốc đã cho chúng ta nhận thức toàn diện về mức độ rất nghiêm trọng của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh này

1.1.2 Cơ cấu của tội mua bán người, mua bán trẻ em trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Cơ cấu tội phạm là yếu tố phản ánh tính chất của tội phạm Cơ cấu tội phạm được xem xét trên nhiều tiêu chí như: cơ cấu theo hình thức thực hiện tội phạm; cơ cấu theo phân loại tội phạm; cơ cấu theo động cơ, mục đích phạm

Trang 17

13

tội… Cơ cấu của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên được làm rõ thông qua các tiêu chí sau:

* Cơ cấu của tội MBN, MBTE theo hình thức thực hiện tội phạm

Các số liệu thống kê cho thấy, từ năm 2004 đến 2011, Tòa án các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên đã xét xử sơ thẩm 11.462 vụ, 16.881 bị cáo phạm các tội nói chung (trung bình: 1,47 bị cáo/01 vụ) trong đó có 905 vụ, 1.264 bị cáo phạm các tội xâm phạm nhân thân (trung bình: 1,39 bị cáo/01 vụ)

và 224 vụ, 426 bị cáo phạm tội MBN, MBTE (trung bình: 1,90 bị cáo/01 vụ) Như vậy, số bị cáo tham gia trong một vụ phạm tội MBN, MBTE thường đông hơn so với tội phạm nói chung và các tội Chương XII Do đó, so với các tội thuộc chương tội xâm phạm nhân thân và tội phạm nói chung thì tội MBN, MBTE được thực hiện dưới hình thức đồng phạm chiếm tỉ lệ cao hơn Kết quả nghiên cứu 107 bản án, cho thấy có 90 vụ phạm tội có đồng phạm (chiếm 84,11%); 17 vụ phạm tội đơn lẻ (chiếm 15,89%) Như vậy, đồng phạm là hình thức thực hiện tội phạm phổ biến của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh này từ năm 2004 đến 2011 Điều này cũng thể hiện tính nguy hiểm cao của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm qua

* Cơ cấu của tội MBN, MBTE theo thủ đoạn thực hiện tội phạm

Thủ đoạn thực hiện tội phạm là cách thức thực hiện hành vi phạm tội

[34, tr.119] Nghiên cứu 223 nạn nhân (từ 107 bản án), chúng tôi nhận thấy: có

101 nạn nhân bị lừa dối tìm việc làm, rủ đi buôn bán (chiếm 45,29%); 38 nạn nhân bị lừa dối yêu đương (chiếm 17,04%); 36 nạn nhân bị lừa dối lấy chồng Trung Quốc (chiếm 16,14%); 32 nạn nhân bị lừa dối đi chơi, đi du lịch (chiếm 14,34%); 14 nạn nhân bị lừa dối theo các hình thức lừa dối khác (chiếm 6,28%) và 02 nạn nhân bị ép buộc Như vậy, lừa dối (chủ yếu là lừa dối tìm việc làm, rủ đi buôn bán) là thủ đoạn phạm tội phổ biến được các bị cáo sử

Trang 18

14

dụng để thực hiện tội phạm Chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn vấn đề này khi xem biểu đồ sau

Biểu đồ 1.1: Cơ cấu của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai,

Lai Châu, Điện Biên theo thủ đoạn thực hiện tội phạm

45,29%

17,04%

16,14%

Lừa dối yêu đương Lừa dối lấy chồng Trung Quốc Lừa dối đi chơi, đi du lịch Hình thức lừa dối khác

3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm qua

* Cơ cấu của tội MBN, MBTE theo động cơ, mục đích phạm tội

Việc nghiên cứu động cơ và mục đích phạm tội của tội MBN, MBTE có

ý nghĩa quan trọng để làm rõ tính chất nguy hiểm của tội phạm, nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm và xác định các biện pháp phòng ngừa tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

- Động cơ phạm tội “là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội

thực hiện hành vi phạm tội cố ý”[55, tr.152] Nghiên cứu 190 bị cáo (từ 107 bản án) bị xét xử sơ thẩm về tội MBN, MBTE, chúng tôi nhận thấy: có 12 bị

Trang 19

đó, phần lớn động cơ phạm tội của các bị cáo là động cơ kiếm tiền

- Mục đích phạm tội “là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm

tội đặt ra là phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội” [55, tr.153]. Nghiên cứu 190 bị cáo, chúng tôi nhận thấy cả 190 bị cáo thực hiện tội phạm với mục đích là trục lợi kiếm tiền khi thực hiện hành vi phạm tội MBN, MBTE Mặc dù hành vi khách quan thể hiện trong từng vụ án là khác nhau như: lừa dối tìm việc làm, lừa dối đi chơi, lừa dối lấy chồng Trung Quốc nhưng thực chất là lừa bán nạn nhân để lấy tiền Điều này cho thấy người phạm tội thường thông qua hành vi phạm tội MBN, MBTE để tìm kiếm lợi ích vật chất cho mình Trục lợi kiếm tiền một cách bất chính là mục đích của người phạm tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong những năm gần đây

* Cơ cấu của tội MBN, MBTE theo đặc điểm nhân thân người phạm tội

Việc nghiên cứu các đặc điểm nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan trọng để làm rõ tính chất nguy hiểm của tội phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu nguyên nhân, xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm Nghiên cứu đặc điểm nhân thân người phạm tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, chúng tôi đi sâu phân tích một số đặc điểm sau:

+ Độ tuổi: Người phạm tội MBN, MBTE có ở nhiều độ tuổi khác nhau,

có người chưa thành niên và người đã thành niên Nghiên cứu độ tuổi của 190

Trang 20

16

bị cáo đã xét xử sơ thẩm về tội MBN, MBTE có 12 bị cáo là người chưa thành niên (chiếm 6,32%); 115 bị cáo ở độ tuổi từ đủ 18 đến dưới 30 (chiếm 60,53%); 63 bị cáo ở độ tuổi trên 30 (chiếm 33,16%) Như vậy, độ tuổi từ đủ

18 đến dưới 30 tuổi là độ tuổi chiếm phần lớn trong số người phạm tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm qua (2004 – 2011)

+ Giới tính: Nghiên cứu 190 bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội MBN,

MBTE có 118 bị cáo là nam (chiếm 62,10%); 72 bị cáo là nữ (chiếm 37,90%) Như vậy, trên địa bàn 3 tỉnh trong 8 năm, người phạm tội của các tội này chủ yếu là nam

+ Trình độ học vấn: Nghiên cứu 190 bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội

MBN, MBTE, chúng tôi nhận thấy: có 69 bị cáo không biết chữ (chiếm 36,32%); 62 bị cáo có trình độ tiểu học (chiếm 32,63%); 47 bị cáo có trình độ trung học cơ sở (chiếm 24,74%); 12 bị cáo có trình độ trung học phổ thông (chiếm 6,32%) Như vậy, trong những năm gần đây trên địa bàn 3 tỉnh phần lớn người phạm tội MBN, MBTE là người có trình độ học vấn thấp (người không biết chữ và trình độ tiểu học) Chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn vấn đề này khi xem biểu đồ sau:

Biểu đồ 1.2: Cơ cấu của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai,

Lai Châu, Điện Biên theo trình độ học vấn của người phạm

Nguồn: 107 bản án HSST

Trang 21

17

+ Dân tộc: Nghiên cứu 190 bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội MBN,

MBTE, cho thấy có 172/190 bị cáo (chiếm 85,26%) là người thuộc các dân tộc

ít người; 28 bị cáo (chiếm 14,74%) là người thuộc dân tộc Kinh Trong số 172

bị cáo là người thuộc các dân tộc ít người có 89 bị cáo là người dân tộc H’mông (chiếm 46,84%); 32 bị cáo là người dân tộc Thái (chiếm 16,84%); 14

bị cáo là người dân tộc Dao (chiếm 7,37%); 12 bị cáo là người dân tộc Tày (chiếm 6,32%); 09 bị cáo người dân tộc Giáy (chiếm 4,74%) và 06 bị cáo là người thuộc các dân tộc khác (chiếm 3,16%) Chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn vấn đề này qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 1.3 Cơ cấu của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào

Cai, Lai Châu, Điện Biên theo thành phần dân tộc của người phạm tội

46,84%

16,84%

14,74%

7,37%

Người dân tộc Thái Người dân tộc Kinh Người dân tộc Dao Người dân tộc Tày Người dân tộc Giáy Người dân tộc khác

Nguồn: 107 bản án HSST + Phạm tội lần đầu; tái phạm, tái phạm nguy hiểm Nghiên cứu 190 bị

cáo bị xét xử sơ thẩm về tội MBN, MBTE (2004 - 2011) cho thấy có 171 bị cáo phạm tội lần đầu (chiếm 90%); 19 bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm (chiếm 10%) Như vậy, phần lớn người phạm tội MBN, MBTE thuộc trường hợp phạm tội lần đầu

Trang 22

+ Số lượng nạn nhân trong vụ án MBN, MBTE: Nghiên cứu số lượng nạn nhân trong các vụ phạm tội MBN, MBTE cho thấy có 223 nạn nhân trong

107 vụ án, trung bình có 2,08 nạn nhân/01 vụ án Trong 107 vụ án mà chúng tôi nghiên cứu có 47 vụ án có 01 nạn nhân (chiếm 43,93%); 33 vụ án có 02 nạn nhân (chiếm 30,84%); 15 vụ án có 03 nạn nhân (chiếm 14,02%); 12 vụ án

có từ 04 nạn nhân trở lên (chiếm 11,21%) Trong số 12 vụ án có từ 04 nạn nhân trở lên, có 01 vụ án có 06 nạn nhân [29] Như vậy, đa số các vụ phạm tội MBN, MBTE có từ 02 nạn nhân trở lên trong một vụ phạm tội

+ Mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội Trong 223 nạn nhân được nghiên cứu có 138 nạn nhân có quan hệ là hàng xóm, thân quen với người phạm tội (chiếm 61,88%); 62 nạn nhân có quan hệ là mới quen với người phạm tội (chiếm 27,80%); 13 nạn nhân có quan hệ là gia đình, họ hàng với người phạm tội (chiếm 5,83%); 05 nạn nhân có quan hệ là người yêu của người phạm tội (chiếm 2,24%); 05 nạn nhân và người phạm tội không quen biết nhau (chiếm 2,24%) Như vậy, mối quan hệ hàng xóm, thân quen là mối quan hệ chủ yếu được người phạm tội lợi dụng để thực hiện tội phạm MBN, MBTE Điều này được thể hiện rõ qua biểu đồ sau

Trang 23

19

Biểu đồ 1.4: Cơ cấu của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai,

Lai Châu, Điện Biên theo mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội

62,62%

28,04%

Mới quen Gia đình, họ hàng Người yêu

Không quen

Nguồn: 107 bản án HSST

+ Giới tính: Nghiên cứu 223 nạn nhân đã xét xử sơ thẩm về tội MBN,

MBTE, chúng tôi nhận thấy: có 181 nạn nhân là phụ nữ (chiếm 81,16%); 42

nạn nhân là trẻ em bị mua bán qua biên giới (chiếm 18,84%) Như vậy, trong 8

năm (2004 – 2011) trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên nạn nhân

của tội MBN, MBTE chủ yếu là người thuộc giới nữ

+ Độ tuổi: Trong số 223 nạn nhân được nghiên cứu có 42 nạn nhân dưới

16 tuổi (chiếm 18,83%); 127 nạn nhân từ đủ 16 đến dưới 25 tuổi (chiếm

56,95%); 52 nạn nhân từ đủ 25 đến dưới 35 tuổi (chiếm 23,32%); 02 nạn nhân

từ đủ 35 tuổi trở lên (chiếm 0,90%) Như vậy, trong 8 năm (2004 – 2011) độ

tuổi của nạn nhân của tội MBN, MBTE chủ yếu ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 25

tuổi Chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn vấn đề này qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 1.5: Cơ cấu của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào

Cai, Lai Châu, Điện Biên theo độ tuổi của nạn nhân của tội phạm

Trang 24

20

+ Dân tộc: Nghiên cứu 223 nạn nhân, chúng tôi nhận thấy có 09 nạn nhân là người dân tộc Kinh (chiếm 4,04%) và 214 nạn nhân là người thuộc các dân tộc ít người (chiếm 95,06%) Trong số 214 nạn nhân là người thuộc các dân tộc ít người có 109 nạn nhân dân tộc H’mông (chiếm 48,88%); 75 nạn nhân dân tộc Thái (chiếm 33,63%); 19 nạn nhân dân tộc Dao (chiếm 8,52%);

11 nạn nhân thuộc các dân tộc khác (chiếm 4,93%) Như vậy, phần lớn nạn nhân của tội MBN, MBTE là người thuộc các dân tộc ít người

+ Nghề nghiệp: Nghiên cứu nghề nghiệp của 223 nạn nhân cho thấy có

42 nạn nhân là trẻ em (05 nạn nhân là học sinh, 37 nạn nhân chưa có nghề nghiệp); 181 nạn nhân (từ đủ 16 tuổi trở lên) trong đó có 142 làm ruộng, trồng trọt (chiếm 78,45%), 39 nạn nhân không có nghề nghiệp (chiếm 21,55%) Như vậy, phần lớn nạn nhân của tội MBN, MBTE là làm ruộng, trồng trọt (nghề có thu nhập thấp)

* Cơ cấu của tội MBN, MBTE theo phân loại tội phạm

Tội MBN được quy định tại Điều 119 BLHS với hai khung hình phạt, khung 1 (khung cơ bản) có hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm (tội phạm nghiêm trọng); khung 2 (khung tăng nặng) có hình phạt tù từ 5 năm đến 20 năm (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) Tội MBTE được quy định tại Điều 120 BLHS có hai khung hình phạt, khung 1 (khung cơ bản) có hình phạt tù từ 3 năm đến 10 năm (tội phạm rất nghiêm trọng); khung 2 (khhung tăng nặng) có hình phạt tù

từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng)

Nghiên cứu 426 bị cáo đã bị xét xử sơ thẩm về tội MBN, MBTE (từ số liệu thống kê của VKSND 3 tỉnh) cho thấy: có 424/426 bị cáo (chiếm 99,54%)

bị kết án theo khung hình phạt tăng nặng tại khoản 2 Điều 119 và khoản 2 Điều 120 (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng), chỉ có 02/426 bị cáo (chiếm 0,46%) bị kết án theo khoản 1 Điều 119 và không có bị cáo nào bị kết án theo khoản 1 Điều 120 Như vậy, theo phân loại tội phạm, tội MBN, MBTE thuộc

Trang 25

21

loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xảy ra phổ biến trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu Châu, Điện Biên trong những năm gần đây Chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn về vấn đề này khi xem biểu đồ sau:

Biểu đồ 1.6: Cơ cấu của tội MBN, MBTE theo phân loại tội phạm

99,54%

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Nguồn: VPTH - TKTP VKSND các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

* Cơ cấu của tội MBN, MBTE theo hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội

Kết quả nghiên cứu cơ cấu của tội MBN, MBTE theo phân loại tội phạm trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên cho thấy, phần lớn tội phạm được thực hiện thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Do đó, các Tòa án thường áp dụng hình phạt rất nghiêm khắc đối với người phạm tội Để có nhận thức rõ hơn về vấn đề này chúng ta xem xét bảng số liệu sau:

Bảng 1.4 Cơ cấu của tội MBN, MBTE theo hình phạt được áp dụng

đối với người phạm tội

Tù từ trên 7 năm đến 15 năm

Trang 26

22

Nghiên cứu 190 bị cáo, chúng tôi nhận thấy: có 09 bị cáo được áp dụng hình phạt tù có thời hạn dưới 36 tháng cho hưởng án treo (chiếm 4,74%); 181

bị cáo áp dụng hình phạt tù có thời hạn (chiếm 95,26%) Trong số 181 bị cáo

áp dụng hình phạt tù có thời hạn có 89 bị cáo áp dụng mức phạt tù từ 7 năm trở xuống (chiếm 46,84%); 91 bị cáo áp dụng mức phạt tù từ trên 7 năm đến dưới

15 năm (chiếm 47,89%); chỉ có 01 bị cáo áp dụng mức phạt tù trên 15 năm (chiếm 0,53%) Như vậy, phần lớn bị cáo bị phạt tù có thời hạn ở mức cao từ 7 năm đến dưới 15 năm tù Điều này thể hiện tính nguy hiểm cao của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm qua

Ngoài hình phạt chính có 70/190 bị cáo bị Tòa án áp dụng hình phạt bổ sung (chiếm 36,84%) Trong số đó có 53/70 bị cáo bị áp dụng hình phạt quản chế (chiếm 75,71%); 17/70 bị cáo bị áp dụng hình phạt tiền (chiếm 24,29%)

Tóm lại, những nghiên cứu về cơ cấu như: cơ cấu theo hình thức thực hiện tội phạm; cơ cấu theo thủ đoạn phạm tội; cơ cấu theo động cơ, mục đích phạm tội; cơ cấu theo đặc điểm nhân thân người phạm tội … đã cho thấy một

số đặc điểm định tính của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong thời gian 8 năm (2004 – 2011) Kết quả nghiên cứu về mức độ và cơ cấu của tội phạm là căn cứ quan trọng để đưa ra những nhận xét

về tính chất của tội MBN, MBTE tại các địa bàn nói trên

1.1.3 Tính chất của tội mua bán người, mua bán trẻ em trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Tính chất của tội phạm là đặc điểm định tính của THTP Tính chất của tội phạm là các kết luận được rút ra từ việc phân tích mức độ, cơ cấu của tội phạm Từ kết quả nghiên cứu về mức độ, cơ cấu của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm (2004 - 2011), chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau:

Trang 27

23

Một là, trong số các vụ phạm tội MBN, MBTE trên địa bàn nghiên cứu,

Tòa án đã xét xử sơ thẩm 184 vụ, 342 bị cáo phạm tội MBN (chiếm 82,14% số

vụ, 80,28% số bị cáo), 40 vụ, 84 bị cáo phạm tội MBTE (chiếm 17,86% số vụ, 19,72% số bị cáo) Như vậy, từ năm 2004 đến năm 2011, trên địa bàn 3 tỉnh này, tội MBN đã xảy ra nghiêm trọng hơn tội MBTE Những nghiên cứu về hệ

số tội phạm trên địa bàn 3 tỉnh đã chỉ ra rằng, tội MBN, MBTE xảy ra mang

tính phổ biến trên địa bàn các tỉnh Lào Cai (23,46 vụ, 40,11 bị cáo/100.000

người dân) và Lai Châu (22,60 vụ, 41,90 bị cáo/100.000 người dân) Điều đó

đặt ra nhiệm vụ cho chính quyền các địa phương (trọng tâm là các tỉnh Lào Cai, Lai Châu) cần thực hiện đồng bộ các giải pháp để đấu tranh, phòng chống

có hiệu quả tội MBN, MTTE (đặc biệt tội MBN) trong thời gian tới

Hai là, việc phân tích hình thức thực hiện tội phạm của tội MBN,

MBTE trên địa bàn 3 tỉnh đã cho thấy, tội phạm nói chung là 1,47 bị cáo/01 vụ; các tội xâm phạm nhân thân là 1,39 bị cáo/01 vụ; tội MBN, MBTE là 1,90

bị cáo/01 vụ Như vậy, số bị cáo tham gia trong một vụ phạm tội MBN, MBTE thường đông hơn so với tội phạm nói chung và các tội xâm phạm nhân thân Kết quả nghiên cứu từ 107 bản án được chúng tôi chọn mẫu ngẫu nhiên cho thấy, hình thức thực hiện tội phạm là đồng phạm có 90/107 vụ án (chiếm 84,11%) Đặc điểm này thể hiện rõ tính nguy hiểm cao của tội MBN, MBTE

Vì khi có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm, điều đó sẽ làm cho việc thực hiện tội phạm được thực hiện dễ dàng, thực hiện tội phạm nhiều lần, người phạm tội có điều kiện hỗ trợ nhau, che giấu tội phạm và lẩn tránh khởi

sự trừng trị của pháp luật Trong thực tế có nhiều trường hợp, người phạm tội

rủ rê, lôi kéo nhiều người cùng tham gia thực hiện tội phạm, hình thành đường dây chuyên tuyển chọn, đưa dẫn vận chuyển nhiều nạn nhân ra nước ngoài bán, ví dụ vụ án Giàng Hòa và đồng phạm đã mua bán 04 phụ nữ [51]; vụ án Bùi Thị Huệ và đồng phạm đã mua bán 05 phụ nữ [53]

Trang 28

24

Ba là, trong tổng số 224 vụ, 426 bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội MBN,

MBTE trên địa bàn 3 tỉnh, phần lớn các vụ phạm tội đã xét xử sơ thẩm là tội đặc biệt nghiêm trọng (chiếm 99,54%) Nghiên cứu về phân loại tội phạm giúp chúng ta nhận thức được rõ hơn tính chất đặc biệt nguy hiểm của tội MBN, MBTE trên địa bàn nghiên cứu Do đó, phần lớn số người phạm tội bị Tòa án

áp dụng hình phạt tù, mức phạt tù là từ 7 năm đến 15 năm Điều này thể hiện

rõ tính nguy hiểm cao của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong những năm gần đây

Bốn là, những nghiên cứu về thủ đoạn phạm tội của tội MBN, MBTE,

chúng tôi nhận thấy: có nhiều bị cáo sử dụng thủ đoạn lừa dối để thực hiện hành vi phạm tội Trong đó, hình thức lừa dối phổ biến là tìm việc làm, rủ đi buôn bán (chiếm 45,29%); lừa dối yêu đương (chiếm 17,04%) và lừa dối lấy chống Trung Quốc (chiếm 14,35%) Bên cạnh thủ đoạn lừa dối, các bị cáo đã gian dối, lén lút đưa nạn nhân qua biên giới một cách trái phép Với thủ đoạn gian dối hoặc lén lút đưa nạn nhân nạn nhân qua biên giới một cách trái phép

đã phản ánh tính chất nguy hiểm của các tội phạm này xảy ra trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong những năm gần đây Với thủ đoạn phạm tội như trên, đã làm cho các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn trong trong công tác đấu tranh, chống tội MBN, MBTE

Năm là, kết quả nghiên cứu về nạn nhân của tội phạm cho thấy, phần

lớn nạn nhân là người có quan hệ hàng xóm, thân quen với người phạm tội Phần lớn nạn nhân của tội phạm là phụ nữ, là người dân tộc ít người, nghề nghiệp chủ yếu là trồng trọt, làm ruộng Các đặc điểm này thể hiện thủ đoạn xảo quyệt, sự tàn nhẫn và tính nguy hiểm cao của hành vi phạm tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm gần đây

Sáu là, kết quả nghiên cứu về động cơ phạm tội cho thấy, động cơ thúc

đẩy người phạm tội thực hiện tội MBN, MBTE là trục lợi Mục đích của người

Trang 29

25

phạm tội là kiếm sống khi thực hiện việc MBN, MBTE Động cơ, mục đích phạm tội này đã phản ánh tính chất nguy hiểm của nhóm tội MBN, MBTE Đồng thời, động cơ và mục đích phạm tội trên còn phản ánh nguyên nhân khiến người phạm tội thực hiện tội phạm

Bảy là, kết quả nghiên cứu đặc điểm nhân nhân người phạm tội cho

thấy, người phạm tội là nữ chiếm 37,9%, người đã thành niên phạm tội chiếm 93,68% Việc nữ giới thực hiện tội phạm chiếm tỉ lệ cao cho thấy, người phạm tội đã lợi dụng mối quan hệ giữa phụ nữ với nhau để thực hiện tội phạm Người đã thành niên phạm tội chiếm tỉ lệ cao đã cho thấy sự suy đồi về đạo đức của nhóm người này trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên Những đặc điểm này đã phản ánh khá rõ tính nguy hiểm cao của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh trong 8 năm qua

Tóm lại, từ những nghiên cứu về mức độ, cơ cấu, tính chất của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên đã giúp chúng ta có được nhận thức toàn diện về thực trạng của tội MBN, MBTE trên địa bàn của 3 tỉnh từ 2004 đến 2011

1.2 Diễn biến của tội mua bán người, mua bán trẻ em trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Xuất phát từ cơ sở lí luận “Diễn biến (động thái) của tội phạm là sự thay

đổi thực trạng (đặc điểm định lượng và đặc điểm định tính) của tội phạm (tội phạm nói chung, nhóm tội phạm hoặc tội phạm cụ thể) theo thời gian và trong đơn vị không gian nhất định” [19, tr.226] Từ các số liệu tại Bảng 1.1 chúng

tôi phân tích các số liệu từ đó rút ra những đánh giá, nhận xét về diễn biến, xu thế vận động của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong những năm gần đây như sau:

Thứ nhất, trong 8 năm (2004 – 2011), tội MBN, MBTE trên địa bàn 3

tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên có xu thế tăng cả số vụ, số bị cáo Trong

Trang 30

Đồ thị 1.1: Diễn biến của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào

Cai, Lai Châu, Điện Biên (2004 – 2011)

100

105.56 166.66

177.77 127.77

Nguồn: VPTH - TKTP VKSND các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Thứ hai, kết quả phân tích số liệu tội MBN, MBTE với các tội Chương

XII và tội phạm nói chung đã cho thấy mức độ của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong những năm gần đây Việc phân tích xu thế vận động của tội MBN, MBTE trong mối tương quan với các tội xâm phạm nhân thân và tội phạm nói chung là đặc điểm quan trọng để thấy

rõ hơn động thái tội MBN, MBTE4 Trong 8 năm (2004 – 2011), tội MBN, MBTE, các tội Chương XII và tội phạm nói chung có xu hướng tăng Tội

3 Xem thêm Phụ lục 5

4 Xem thêm Phụ lục 6

Trang 31

27

MBN, MBTE có xu hướng tăng mạnh cao so với các tội thuộc chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người và tội phạm nói chung Năm 2007 tội MBN, MBTE tăng 77,77%, tội phạm nói chung chỉ tăng 22%, các tội thuộc Chương XII giảm 3,21% Năm 2008 tội MBN, MBTE tăng 27,77%, các tội Chương XII không tăng, tội phạm nói chung tăng 31,04% Năm 2011 tội MBN, MBTE tăng 122,22%, tội phạm thuộc Chương XII tăng 75%, tội phạm nói chung tăng 46,34% Những số liệu trên cho thấy diễn biến của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn vấn đề này khi xem đồ thị sau

Đồ thị 1.2: Diễn biến của tội MBN, MBTE so với tội phạm Chương XII

và tội phạm nói chung (2004 – 2011)

100

105.55

127.77 172.22 172.22

175

100 105.3 122.08

122 131.04

Tội phạm Chương XII

Tội phạm nói chung

Nguồn: VPTH - TKTP VKSND các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Thứ ba, đề tài được thực hiện trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện

Biên, do đó việc phân tích diễn biến của các tội này trên địa bàn mỗi tỉnh là việc làm cần thiết để thấy rõ hơn diễn biến của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh này5 Từ năm 2004 đến 2011, tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh có xu hướng tăng Tội MBN, MBTE trên địa bàn tỉnh Lai Châu có xu thế tăng cao so

5 Xem thêm Phụ lục 7

Trang 32

28

với tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Điện Biên Năm 2006 tội

MBN, MBTE trên địa bàn tỉnh Lào Cai tăng 54,54%, tỉnh Lai Châu tăng

100%, tỉnh Điện Biên tăng 50% Năm 2008 tội MBN, MBTE trên địa bàn tỉnh

Lào Cai tăng 27,27%, Lai Châu tăng 40%, Điện Biên không tăng Năm 2011

tội MBN, MBTE trên địa bàn tỉnh Lào Cai tăng 45,45%, tỉnh Lai Châu tăng

320%, tỉnh Điện Biên tăng 50% Chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn vấn đề tại đồ thị

sau

Đồ thị 1.3: So sánh diễn biến của tội MBN, MBTE giữa các tỉnh Lào

Cai, Lai Châu, Điện Biên (2004 - 2011)

Nguồn: VPTH - TKTP VKSND các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Như vậy, kết nghiên cứu diễn biến của tội MBN, MBTE trên địa bàn các

tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên từ năm 2004 đến 2011 cho thấy, tội MBN,

MBTE có năm tăng cao, có năm tăng thấp nhưng nhìn chung cả giai đoạn

(2004 - 2011) có xu thế tăng Tội MBN, MBTE trên địa bàn tỉnh Lai Châu tăng

cao nhất so với hai tỉnh còn lại Diễn biến tăng về số vụ, số bị cáo của tội

MBN, MBTE cho thấy công tác đấu tranh, phòng ngừa tội MBN, MBTE trên

địa bàn 3 tỉnh này ngày càng khó khăn

1.3 Phần ẩn của tội mua bán người, mua bán trẻ em trên địa

bàn ba tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

Những số liệu cùng những phân tích ở phần trên đã cho chúng ta thấy rõ

những đặc điểm cơ bản về THTP của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh

Trang 33

29

Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong những năm gần đây Tuy nhiên, đó mới chỉ là một phần của bức tranh toàn cảnh về các tội này Trên thực tế, có một phần trong số tội phạm MBN, MBTE đã xảy ra nhưng chưa bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý và chưa có trong thống kê hình sự Những số liệu chưa

được thống kê này được các nhà tội phạm học gọi là “Tội phạm ẩn” hay “phần

ẩn của tình hình tội phạm” Việc nghiên cứu tội phạm ẩn của tội MBN, MBTE

là cần thiết để phác họa toàn cảnh bức tranh THTP của các tội này trên địa bàn

3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên Xuất phát từ cơ sở lí luận: “Tội phạm ẩn

là số lượng tội phạm và người phạm tội đã thực hiện trên thực tế, nhưng không được tường thuật với cơ quan có thẩm quyền hoặc chưa bị phát hiện và do vậy, chưa bị đưa ra xét xử sơ thẩm, chưa có trong thống kê hình sự” [33, tr.8],

chúng tôi tập trung phân tích các nội dung sau:

+ Mức độ ẩn của tội MBN, MBTE: Theo số liệu thống kê, trong 8 năm (2004 – 2011) Tòa án 3 tỉnh đã xét xử sơ thẩm 224 vụ, 426 bị cáo phạm tội MBN, MBTE đã xác định được 518 người là nạn nhân Tuy nhiên, Công an 3

tỉnh đã xác định 1.357 phụ nữ, trẻ em vắng mặt lâu ngày tại địa phương nghi

đã bị bán ra nước ngoài [6,8,9] Như vậy, trong số 1.875 nạn nhân của tội

MBN, MBTE và người nghi bị bán ra nước ngoài, cơ quan chức năng mới chỉ

xác định được 518 người là nạn nhân của tội MBN, MBTE (chiếm 27,62%); còn 1.357 người (chiếm 72,38%) chưa xác định được họ ở đâu? Họ làm gì? Họ

có phải là nạn nhân của tội MBN, MBTE không? Có bao nhiêu trong tổng số 1.357 người là nạn nhân của tội MBN, MBTE chưa được các cơ quan chức năng xác định

Tỉnh Lào Cai là một trong những địa bàn trọng điểm của cả nước và 3 tỉnh về tội MBN, MBTE Trong 8 năm (2004 – 2011), Tòa án đã xét xử sơ thẩm 121 vụ, 241 bị cáo phạm tội MBN, MBTE đã xác định được 337 nạn nhân Tuy nhiên, Công an tỉnh Lào Cai đã xác định 1,005 phụ nữ, trẻ em vắng

Trang 34

30

mặt lâu ngày tại địa phương nghi bị bán ra nước ngoài [6, tr.1] Như vậy, số

người đã xác định được là nạn nhân của tội MBN, MBTE là 337/1.342 người (chiếm 25,11%); còn 1.005/1.342 người (chiếm 74,89%) chưa được các cơ quan chức năng xác định họ có phải là nạn nhân của tội MBN, MBTE hay không và có bao nhiêu vụ phạm tội MBN, MBTE xảy ra trên địa bàn 3 tỉnh này còn chưa xác định được

Như vậy, từ năm 2004 đến 2011 trên địa bàn 3 tỉnh mặc dù Toà án đã xét xử sơ thẩm 224 vụ, 426 phạm tội MBN, MBTE đã xác định được 518 nạn nhân nhưng những con số đó mới chỉ phản ánh một phần của THTP của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh này Những phân tích trên đây cho thấy, chỉ

có khoảng 30% nạn nhân của tội MBN, MBTE được xác định, còn lại có khoảng 70% phụ nữ, trẻ em vắng mặt lâu ngày tại địa phương chưa được cơ quan chức năng xác định họ có phải là nạn nhân của tội MBN, MBTE hay không và có nhiều vụ phạm tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh chưa được cơ quan chức năng xác định Điều đó phản ánh mức độ ẩn rất lớn của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh trong 8 năm (2004 – 2011)

+ Thời gian ẩn của tội MBN, MBTE: Thời gian ẩn được xác định từ thời điểm tội phạm xảy ra đến khi tội phạm bị phát hiện Kết quả nghiên cứu từ 107

vụ án hình sự về tội MBN, MBTE, chúng tôi nhận thấy: có 53 vụ án được phát hiện trong vòng 1 năm (chiếm 49,53%); 41 vụ án được phát hiện sau 1 năm đến 2 năm (chiếm 38,31%); 13 vụ án được phát hiện sau 2 năm trở lên Trong

số 13 vụ án được phát hiện sau 2 năm trở lên có 05 vụ án được phát hiện sau 7 năm, 01 vụ án được phát hiện sau 12 năm Như vậy, phần lớn thời gian ẩn của tội MBN, MBTE là từ 1 năm trở lên

+ Về nguyên nhân ẩn của tội MBN, MBTE: Nghiên cứu về nguyên nhân

ẩn của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên rất

đa dạng thuộc nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau

Trang 35

31

- Nguyên nhân chủ quan: Phần lớn nạn nhân, gia đình nạn nhân sợ bị trả thù, xấu hổ nên không chủ động tố giác tội phạm Phần lớn nạn nhân và người phạm tội có mối quan hệ gia đình, quen biết hoặc bản thân nạn nhân chấp nhận việc mình bị bán nên họ không tố giác tội phạm đến cơ quan chức năng Các

cơ quan tiến hành tố tụng chưa phát huy hết tinh thần chủ động đấu tranh, chống tội MBN, MBTE Năng lực, số lượng của cán bộ thực hiện công tác đấu tranh, phòng chống tội MBN, MBTE còn có những hạn chế

- Nguyên nhân khách quan: Tội phạm này là loại tội có biểu hiện rất kín Tức là khi tội phạm được thực hiện thì thường do người phạm tội và nạn nhân biết, không có hiện trường, không có vật chứng, không có người làm chứng… nên cơ quan chức năng rất khó phát hiện, xử lý hình sự Nạn nhân bị bán ra nước ngoài thường bị khống chế, bị giam trong các tụ điểm kinh doanh mại dâm, ít có cơ hội tự giải thoát để tố giác tội phạm Kinh phí, phương tiện phục

vụ cho hoạt động đấu tranh, chống tội MBN, MBTE còn hạn hẹp Hoạt động

hỗ trợ, hợp tác quốc tế giữa chính quyền hai bên biên giới để phòng chống nhóm tội phạm này còn chưa hiệu quả Chính những yếu tố chủ quan và khách quan trên làm cho tội phạm ẩn của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên còn chiếm tỉ lệ cao

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Những nghiên cứu THTP của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm (2004 - 2011) cho phép rút ra các kết luận sau:

1.Tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

từ năm 2004 đến 2011 đã xảy ra ở mức độ rất nghiêm trọng, chiếm tỉ lệ cao về

số vụ, số bị cáo Những phân tích số liệu kết hợp với bảng số liệu và xác định

hệ số tội phạm của tội MBN, MBTE cũng cho thấy mức độ rất nghiêm trọng của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh trong thời gian 8 năm qua

Trang 36

32

2 Việc phân tích các đặc điểm về cơ cấu của tội MBN, MBTE theo những tiêu chí khác nhau như: cơ cấu theo phân loại tội phạm, cơ cấu theo hình phạt áp dụng đối với người phạm tội, cơ cấu theo hình thức thực hiện tội phạm, cơ cấu theo thủ đoạn phạm tội, một số đặc điểm về nhân thân người phạm tội cho chúng ta thấy được đặc điểm định tính mà cụ thể là tính chất nguy hiểm cao của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm (từ 2004 đến 2011)

3 Việc phân tích đặc điểm nạn nhân của tội phạm vừa cho chúng ta thấy được tính chất phức tạp, thủ đoạn xảo quyệt, tàn nhẫn cũng như tính chất nguy hiểm cao của tội phạm MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm gần đây

4 Tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm (2004 – 2011) có xu hướng gia tăng Những phân tích về diễn biến của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh là tiền đề để dự báo THTP, xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội MBN, MBTE trên địa bàn nghiên cứu

5 Tội phạm ẩn của tội MBN, MBTE trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên chiếm tỉ lệ cao Điều này vừa phản ánh tính phức tạp của tội MBN, MBTE nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiệm vụ nặng nề cho ác cơ quan

có thẩm quyền trong việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội MBn, MBTE ở các tỉnh này

Trang 37

33

CHƯƠNG II NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI MUA BÁN NGƯỜI, MUA BÁN TRẺ

EM TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH LÀO CAI, LAI CHÂU, ĐIỆN BIÊN

Hiện nay, trong khoa học tội phạm học đang còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nguyên nhân và điều kiện của tội phạm [20, tr.76] Xuất

phát từ cơ sở lí luận “Nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm là nghiên cứu cơ

chế tác động của môi trường xã hội đến con người để hình thành nhân cách của họ cũng như nghiên cứu cơ chế tác động qua lại giữa nhân cách đó và môi trường để hình thành ý định thực hiện hành vi phạm tội và kết quả là tội phạm xảy ra trong điều kiện nhất định” [19, tr.239], do đó khi nghiên cứu nguyên

nhân của tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, chúng tôi tập trung phân tích, làm rõ các yếu tố, cơ chế tác động của các yếu tố trong việc tạo thành nguyên nhân của các tội này ở 3 tỉnh nói trên trong 8 năm gần đây (2004 - 2011)

2.1 Sự tác động của những yếu tố tiêu cực phát sinh từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Sau 25 năm đổi mới, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu về chính trị,

kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh “Kinh tế tăng trưởng nhanh,

đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010

so với năm 2000 theo thực tế gấp 3,26 lần; thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu gấp 5 lần; tuổi thọ bình quân tăng từ 67 tuổi lên 72,8 tuổi…”[1, tr.101]

Với đặc thù của tỉnh miền núi, biên giới còn gặp nhiều khó khăn, nhưng tốc độ

tăng trưởng kinh tế của các tỉnh đều đạt ở mức cao Lào Cai 13% [59]; Lai Châu 15,8% [69] Điện Biên 12,3% [64], văn hoá - xã hội được cải thiện và

ngày càng nâng cao Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở 3 tỉnh đã phát sinh các yếu tố tiêu cực như: tỉ lệ thất nghiệp, sự phân hóa giàu nghèo, thu nhập thấp của người lao động… Các yếu tố tiêu cực này đã tác động đến

THTP nói chung như nhận định "Tình trạng đói nghèo, thu nhập thấp của

Trang 38

Thứ nhất, thu nhập của người lao động ở 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện

Biên nói chung còn thấp Người lao động có thu nhập thấp là do điều kiện tự nhiên của 3 tỉnh là những tỉnh miền núi, biên giới nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp Phần lớn người lao động tham gia lao động sản xuất ở khu vực nông, lâm nghiệp Công tác đào tạo nghề cho người lao động

đào tạo nghề cho người lao động còn tồn tại những hạn chế như “chất lượng

đào tạo nghề còn nhiều bất cập” [2, tr.18]; tỉ lệ lao động được đào tạo so với

tổng số lao động có khả năng lao động còn ở mức thấp, Lào Cai “nâng tỷ lệ lao

động đã qua đào tạo của tỉnh lên 24,83% năm 2010”[71]; Lai Châu 30%[62],

Điện Biên “chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh còn thấp, tỷ lệ lao động qua

đào tạo chiếm 26,9%[65] Sau đào tạo nghề đã xuất hiện những hạn chế “Một

bộ phận lao động sau đào tạo không đáp ứng yêu cầu sử dụng [2, tr.18] Quá

trình đô thị hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải có nguồn nhân lực trình độ cao, nhưng lực lượng lao động tại Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên hiện tại chưa đáp ứng được Hạn chế này làm cho người lao động ít có được công việc có thu nhập ổn định bảo đảm cuộc sống Yếu tố thu nhập thấp của người lao động ảnh hưởng đến THTP của tội MBN, MBTE Yếu tố này đã tác động đến người phạm tội và nạn nhân của tội phạm

Đối với người phạm tội, người lao động có thu nhập thấp nên không có cuộc sống ổn định Vì cuộc sống không ổn định, họ tìm các cách thức khác nhau để kiếm tiền, có người lựa chọn việc kiếm tiền bằng con đường lao động, nhưng cũng có một bộ phận kiếm tiền bằng công việc phi pháp, kể cả việc phạm tội (có tội MBN, MBTE) Người phạm tội với động cơ kiếm sống cùng

Trang 39

35

những phẩm chất tâm lý tiêu cực, trong hoàn cảnh, điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội MBN, MBTE đã thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội MBN, MBTE trên địa bàn 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên trong 8 năm qua Kết quả nghiên cứu nghề nghiệp của 190 người phạm tội MBN, MBTE cho thấy: làm ruộng, trồng trọt (chiếm 73,16%); lao động tự do hoặc không nghề nghiệp (chiếm 20,53%) Với điều kiện tự nhiên là những tỉnh miền núi, chủ yếu sản xuất nông, lâm nghiệp nên người lao động nói chung có thu thập thấp Điều này khiến cho người lao động không có nguồn thu nhập để ổn định cuộc sống; một phần trong số đó đã lựa chọn việc thực hiện hành vi phạm tội (có cả tội MBN, MBTE) để kiếm sống như trường hợp của Lương Hồng Chuyên, Đinh Thị Hà đã lừa dối đưa Hoàng Thị Kiếm sang Trung Quốc bán được 3000 NDT (nhân dân tệ) lấy tiền chi tiêu [47] Như vậy, yếu tố thu nhập thấp của người lao động đã tác động đến người phạm tội Tuy vậy, yếu tố này còn tác động đến nạn nhân của tội MBN, MBTE

Kết quả nghiên cứu nghề nghiệp từ 223 nạn nhân của tội MBN, MBTE trên địa bàn Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, cho thấy: có 93,72% nạn nhân sinh sống tại các xã miền núi; 21,55% nạn nhân không có nghề nghiệp; 78,45% nạn nhân có nghề nghiệp là làm ruộng, trồng trọt6 Phần lớn nạn nhân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, người lao động phải làm việc để có thu nhập ổn định nên

nhiều nạn nhân khi nhận được đề nghị “giúp đỡ tìm việc làm” hoặc “rủ cùng đi

buôn bán” đã dễ dàng đi theo và trở thành nạn nhân của tội phạm Đối với nạn

nhân yếu tố này là điều kiện thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm

Thứ hai, tình trạng nghèo đói Tỉ lệ thuận với sự phát triển kinh tế - xã

hội, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng lớn Nếu tính theo chuẩn nghèo mới, tỉ lệ hộ nghèo toàn quốc là 14,2%, tỉ lệ hộ nghèo của các

tỉnh vẫn ở mức cao: Lào Cai 40,1%; Lai Châu 50,1%; Điện Biên 50,8% [73]

6 Kết quả thống kê theo đặc điểm thường trú của nạn nhân có 209/223 nạn nhân thường trú tại địa bàn các xã (chiếm 93,72%), đây là những xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

Trang 40

36

Với tỉ lệ hộ nghèo của các tỉnh cao hơn so với toàn quốc đã cho thấy những hạn chế của công tác xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn 3 tỉnh Tình trạng nghèo đói đã có tác động đến THTP của tội MBN, MBTE Yếu tố này có tác động để

cả người phạm tội và nạn nhân của tội phạm

Yếu tố nghèo đói đã tác động đến người phạm tội Nghiên cứu động cơ, mục đích của người phạm tội MBN, MBTE cho thấy, phần lớn người phạm tội

đã phạm tội vì mục đích kiếm tiền mưu sinh Vì đa số họ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, để khắc phục tình trạng nghèo đói nên một bộ phận người lao động

đã lựa chọn việc thực hiện hành vi phạm tội (có cả tội MBN, MBTE) để kiếm tiền Bên cạnh đó là một bộ phận người lao động với bản tính lười lao động, nhưng lại thích được sống hưởng thụ, thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu cá nhân mà không chịu lao động Vì vậy, họ đã dùng mọi thủ đoạn để kiếm tiền kể cả việc thực hiện hành vi phạm tội MBN, MBTE như trường hợp của Đặng Văn Phúc

và Đặng Thị Hoa đã lừa dối, đưa Bàn Thị Hoa, Bàn Thị Mai, Đặng Thị Hồng bán cho Sừ (đối tượng quốc tịch Trung Quốc) được 7.940.000VNĐ [46] Như vậy, nghèo đói là yếu tố tác động đến người phạm tội, làm cho tội phạm xảy ra

và đó cũng là yếu tố tác động đến nạn nhân của tội phạm

Do phần lớn nạn nhân có hoàn cảnh nghèo đói, do đó để nạn nhân vượt

ra khỏi tình trạng nghèo đói, họ phải làm việc, kiếm sống Chính điều đó đã khiến nhiều phụ nữ và trẻ em gái dễ dàng trở thành nạn nhân của tội phạm như trường hợp của Lương Thị Len Vì nợ tiền ngân hàng, Len nhờ Nguyễn Thị Oanh tìm giúp việc làm Sau đó, Oanh bán Len sang Trung Quốc [48] Yếu tố nghèo đói tác động đến nạn nhân của tội phạm đã được các cơ quan chức năng

trên địa bàn 3 tỉnh nhận định “Dựa vào hoàn cảnh khó khăn của chị em, bọn

tội phạm lừa đi tìm việc làm, đi làm thuê kiếm tiền ở thành phố Lào Cai, Hà Khẩu – Trung Quốc có thu nhập cao, lấy chồng Trung Quốc để thoát khỏi cảnh nghèo khổ…” [26, tr.1]; “Do nghèo đói, những áp lực về kinh tế như: Nợ

Ngày đăng: 31/03/2018, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm