1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ở việt nam

78 233 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TS Lê Văn Tư, do Nhà xuất bản Tài chính xuất bản năm 2004; cuốn sách Lãi suất trong nền kinh tế thị trường – Phương pháp luật và thực hành của Nguyễn Bá Nha do Nhà xuất bản thống kê xuất

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN TUYẾN

HÀ NỘI - 2012

Trang 4

Trang

MỞ ĐẦU … ……… ……… .… ……… …

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT VÀ MÔ HÌNH PHÁP LUẬT

VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ……… ………

1.1.1 Bản chất của lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

1.2 MÔ HÌNH PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG

KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI … … ……

1.2.1 Các nguyên tắc chung trong việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi

suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại … …

1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với lãi suất trong hoạt động

kinh doanh của ngân hàng thương mại … … ……… ……… …

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG

KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG

KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

2.1.1 Giới hạn điều chỉnh của pháp luật đối với lãi suất trong hoạt động

kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam ……… ……

2.1.2 Đánh giá thực trạng pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh

của ngân hàng thương mại ở Việt Nam ………… …………

Trang 5

của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam ………… ……… …

2.1.3 Tình hình vi phạm pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam thời gian qua và các biện pháp xử lý đã áp dụng ……… ……… ….……… …… ……

2.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ……… ……… ….… ………

2.2.1 Các kiến nghị về phương diện chính sách ………

2.2.2 Các kiến nghị về phương diện thể chế ………

KẾT LUẬN … ……… ……… .… ……… …

TÀI LIỆU THAM KHẢO … … ……… ……… ……

Phụ lục ………… … ……… ……… …

42

49

56

57

62

67

68

71

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử nhân loại, lãi suất ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ, vì xét

về bản chất thì lãi suất chính là “giá cả” của việc sử dụng tiền tệ thông qua giao dịch cho vay Tuy nhiên, chỉ đến khi hệ thống ngân hàng hình thành và phát triển, các giao dịch của ngân hàng được các tổ chức, cá nhân trong xã hội sử dụng thường xuyên thì lãi suất mới thực sự thể hiện được hết tầm quan trọng của mình Trong giai đoạn hiện nay, khi hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đều hướng về mô hình kinh tế thị trường thì “sức nóng” của lãi suất càng nổi bật hơn nữa và lãi suất trở thành biến số quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của nền kinh tế Những biến động của lãi suất không chỉ thu hút sự chú ý của các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp, giới đầu tư mà còn thu hút sự quan tâm của cả các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội Cũng chính vì “sức nóng” của lãi suất trong đời sống hàng ngày

ở mỗi quốc gia mà hầu hết các nước đều tìm cách sử dụng pháp luật để can thiệp vào lãi suất, cho dù theo những cách thức khác nhau nhằm giúp Nhà nước đạt được các mục tiêu quản lý của mình Điều này cho thấy việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất nói chung và lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nói riêng là điều cần thiết và ý nghĩa của nó là không thể phủ nhận

Ở Việt Nam, vấn đề lãi suất đã được Nhà nước quan tâm bằng cách đưa ra một

số quy định về lãi suất trong các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành Tuy nhiên, trải qua thời gian, các quy định về lãi suất ở Việt Nam luôn thay đổi để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Do tính phức tạp của vấn đề lãi suất, việc điều hành lãi suất thông qua các quy định của pháp luật cũng không tránh khỏi những khúc mắc trong thực tiễn áp dụng cần được nghiên cứu giải quyết một cách thỏa đáng

Để tìm ra câu trả lời thỏa đáng cho vấn đề lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM hiện nay, hàng loạt câu hỏi được đặt ra cần được trả lời, chẳng hạn như: bản chất kinh tế và bản chất pháp lý của lãi suất là gì? Lãi suất có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động kinh doanh của NHTM? Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với vấn đề lãi suất và mô hình pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM? Thực trạng pháp luật về lãi suất và thực tiễn áp dụng pháp

Trang 7

luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM được thể hiện như thế nào? Giải pháp nào cho việc nâng cao tính hiệu quả của việc điều hành lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM? Tất cả những câu hỏi này có thể được trả lời thông

qua việc nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh

của ngân hàng thương mại ở Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các công trình nghiên cứu về các hoạt động của NHTM ở Việt Nam rất phong phú, cả tài liệu tiếng Việt lẫn tài liệu tiếng nước ngoài

Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như:

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về lãi suất dưới góc độ kinh tế như:

Cuốn sách Tiền tệ, ngân hàng, thị trường tài chính của PGS TS Lê Văn Tư, do Nhà xuất bản Tài chính xuất bản năm 2004; cuốn sách Lãi suất trong nền kinh tế thị trường – Phương pháp luật và thực hành của Nguyễn Bá Nha do Nhà xuất bản thống kê xuất bản năm 1997; các bài nghiên cứu được đăng trên tạp chí Ngân hàng

ví dụ bài viết: “Tác động của chính sách lãi suất đối với nền kinh tế” của tác giả Lê Trang đăng trên Số 15(8/2011) - Tạp chí Ngân hàng nhà nước (trang16 – 19); các bài viết về những diễn biến của lãi suất đăng trên các trang báo mạng, ví dụ Bài viết Lãi suất tiết kiệm lại vượt trần của tác giả H.Sương đăng trên website http://sgtt.vn vào năm 2011

Thứ hai, những công trình nghiên cứu đề cập đến một nội dung nhỏ của lãi

suất dưới góc độ pháp lý như: Bài viết Thoả thuận về lãi suất giữa các ngân hàng và pháp luật cạnh tranh của Th.S Nguyễn Thanh Tú, đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 02/2005 (trang 56-64) Tuy nhiên, bài viết chỉ tập trung vào một nội dung rất nhỏ trong quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM đó là quy định về cạnh tranh; Từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp biên soạn có đưa ra khái niệm lãi suất, lãi suất cho vay và lãi suất ngân hàng cùng một số cách phân loại lãi suất ngân hàng (trang 452 - 454)

Do đó, trên cơ sở tiếp thu và phát huy các thành quả từ các công trình nghiên cứu trước đây, người viết hy vọng sẽ đem đến một cách nhìn hệ thống, có tính phản biện về pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài

Trang 8

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài nhằm hướng tới việc tìm hiểu các vấn đề

lý luận về lãi suất, các quy định pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM, từ đó đề ra các kiến nghị để hoàn thiện các quy định pháp luật trong thời gian tới

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm: Các quan điểm, học thuyết về ngân

hàng và lãi suất ngân hàng, các quy định của pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam, bao gồm cả các quy định hiện hành và quy định đã tồn tại;

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề chính sau đây:

- Làm rõ những vấn đề lý luận chung về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam;

- Tìm hiểu thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM;

- Đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở nước ta

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện dựa trên nguyên tắc sử dụng kết hợp các phương pháp chủ yếu trong khoa học xã hội như phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp, khảo sát và khái quát hóa

Phương pháp phân tích được sử dụng khi đánh giá thực trạng pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam

Phương pháp so sánh được sử dụng khi đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước khác trên thế giới khi sử dụng lãi suất là công cụ điều hành chính sách tiền tệ

Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc đánh giá khái quát, rút ra kết luận về từng vấn đề trong phạm vi nghiên cứu, cũng như đưa ra các kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam

5 Những đóng góp mới của luận văn

Với việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh

Trang 9

của ngân hàng thương mại ở Việt Nam”, luận văn có một số điểm mới sau:

- Góp phần xây dựng hệ thống lý luận chung về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam ở phương diện các quy định pháp luật

- Chỉ ra những ưu điểm và những bất cập trong các quy định hiện hành về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam;

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam trong thời gian tới

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận văn được chia làm hai chương sau:

Chương I: Những vấn đề lý luận về lãi suất và mô hình pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Chương II: Thực trạng pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam và một số kiến nghị

Trang 10

Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT VÀ MÔ HÌNH PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG

Hoạt động của những người cho vay (người có một khoản nợ phải đòi) đã làm cho “lãi suất ngân hàng” trở thành một hiện tượng quan trọng nhất trong thế giới hiện đại và cũng là vấn đề gây tranh cãi nhất trong quá khứ Thu lãi đã được các nhà triết học Hi Lạp cổ đại biết đến và sự phản đối kịch liệt của họ đã ảnh hưởng mạnh

mẽ đến thái độ đối với lãi suất trong thời kỳ Trung cổ ở cả Châu Âu và thế giới Hồi giáo Lập luận của những nhà Ngụy biện có một logic rất lạ, theo họ, tiền không có giá trị nội tại, vì nó không tồn tại trong giai đoạn thế giới được tạo ra Vì nó không

có giá trị nội tại, nên người sở hữu tiền không mất gì khi cho vay tiền Do đó, người cho vay không thể đặt ra yêu cầu là sẽ có doanh thu từ việc đầu tư là cho vay Vì vậy, không thể nghĩ đến lãi suất

Theo quan điểm của Giáo hội, những người cho vay tiền đã phải chịu sự phản đối kịch liệt không ngừng khi vừa bắt đầu, vì vậy, họ đã phải tạo ra mô hình tín dụng mới để tránh các khoản vay trực tiếp Trong đó, thành công nhất là những người đổi tiền của nước Ý vào thế kỷ 14 được gọi là những chủ ngân hàng (theo tiếng Ý “banco” – là cái bàn) Thay vì những khoản vay trực tiếp, họ cung cấp hối phiếu Giao dịch như vậy là bán một loại tiền để lấy loại tiền khác, được trả vào thời gian đã thỏa thuận Cùng lúc đó ở Ý và Pháp có quan hệ kinh tế mạnh mẽ Điều này

Trang 11

thể hiện qua việc, một thương gia cần tiền đã đến gặp một chủ ngân hàng người Ý

để mượn tiền mặt của một loại tiền, sau đó cả hai người đã ký vào một tờ hối phiếu, theo đó thương nhân này đồng ý trả một khoản tiền lớn hơn bằng đồng tiền của nước Pháp

Tiền của những chủ ngân hàng mới người Ý đã thúc đẩy thương mại phát triển

vì sự dịch chuyển nhanh chóng của dòng tiền Vào năm 1338, vận chuyển tiền xu từ Rouen (phía bắc nước Pháp) đến Avignon mất ba tuần Khi vận chuyển luôn có nguy cơ tiền bị lấy trộm hoặc lấy cắp từ những người được thuê vận chuyển Còn một hối phiếu chỉ cần tám ngày để vận chuyển và thậm chí khi bị lấy trộm thì tên trộm cũng không thể sử dụng được Mặc dù chi phí khi sử dụng hình thức hối phiếu cao (tỷ lệ lãi suất khoảng từ 8-12 %), nhưng rẻ hơn giá vận chuyển xu hoặc thanh vàng và bạc

Đến thời kỳ Phục Hưng, kinh doanh ngân hàng đã xuất hiện và không được coi trọng trong giai đoạn đầu Những chủ ngân hàng bắt đầu nỗ lực để trở thành những công dân đặc biệt bằng cách gia tăng sự giàu có, danh hiệu quý tộc và hàng ngũ giáo sĩ cao, nhưng nỗ lực của họ chỉ được ghi nhận sau khi dịch vụ đại chúng cung cấp cho các tầng lớp thấp nhất Điều này là có khả năng cùng với việc khám phá ra sự giàu có vô cùng của nước Mỹ Theo truyền thống thì người dân (như binh

sĩ, nghệ sĩ, luật sư, bác sĩ ) những người phụ thuộc vào tiền muốn lấy lương hơn là hàng hóa (như chỗ ở, thực phẩm, rượu, muối ) cho các nhu cầu của họ Ngay cả những người làm nghề mại dâm hay các chủ quán trọ cũng không muốn được thanh toán bằng thực phẩm và hàng hóa Họ cũng muốn vàng hay ít nhất là đồng bạc Bằng cách đó, lịch sử lãi suất đã bắt đầu

Đặc biệt là vào thế kỷ 17, việc phân phối lại tài sản đã đưa đến một cuộc xung đột, điều này đã làm tầng lớp thương nhân trung lưu phát triển Đến lượt mình, họ

đã cho ra đời ngành nghề mới liên quan đến tiền Cùng với sự phát triển của việc kinh doanh ngân hàng, đã có sự xuất hiện của những người môi giới, những người này chuyên mua và bán mọi thứ - từ bất động sản đến cổ phần Các ngân hàng cần nhiều tiền hơn nữa, và cùng thời gian đó một hệ thống gửi tiền đã được thiết lập, vì vậy bất kỳ ai cũng có thể trở thành người gửi tiền và sống bằng tiền lãi [23]

1.1.1.2 Khái niệm lãi suất và lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân

Trang 12

Dưới góc độ kinh tế: Vấn đề bản chất của lãi suất từng được thể hiện rõ rệt

nhất thông qua sự phân tích của các nhà kinh tế học Trong khuôn khổ giới hạn của luận văn này, người viết chỉ tập trung giới thiệu quan điểm về lãi suất của J.M.Keynes và K Marx

Theo J.M.KEYNES (1883-1964), “lãi suất là khoản thù lao cho việc mất khả năng chuyển hoán trong một thời gian nhất định”, là phần thưởng cho việc từ bỏ việc giữ tiền mặt Nếu khoản thù lao cho việc không sử dụng tiền mặt giảm xuống, thì tổng lượng tiền mặt mà dân chúng muốn giữ lớn hơn mức cung tiền mặt và nếu lãi suất được nâng lên, thì có một số dư tiền mặt mà không một ai muốn giữ Có hai

nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất: Một là, khối lượng tiền tệ, Keynes cho rằng nếu

khối lượng tiền đưa vào lưu thông tăng, thì lãi suất giảm Việc dùng lãi suất để điều

tiết kinh tế là một trong những chủ trương của Keynes Hai là, sự ưa thích giữ tiền

mặt (ưu tiên chuyển hoán), Keynes cho rằng sự ưa chuộng tiền mặt là xu hướng có tính chất hàm số xác định lượng tiền mà dân chúng sẽ giữ khi biết trước lãi suất Ông còn nói rằng đây là cách thức lượng tiền tham gia vào hệ thống kinh tế Sự ưa chuộng tiền mặt do các động cơ tâm lý quyết định Keynes cho rằng lãi suất là một hiện tượng tâm lý cao độ, có tính quy ước Nếu người ta tin rằng mức lãi suất đó được kéo dài thì nó được duy trì lâu dài Theo ông, tỷ suất lợi tức thực tế chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý, song lại tương đối ổn định, trong khi đó hiệu quả giới hạn của tư bản biến động và rất không ổn định [12, tr 220, 221, 222]

Quan điểm của K.Marx về lãi suất: K.Marx không chỉ đưa ra khái niệm lãi suất mà còn chỉ ra nguồn gốc của lãi suất Theo K.Marx, tư bản cho vay, sau một thời gian giao cho nhà tư bản hoạt động sử dụng, phải được hoàn trả lại cho người chủ sở hữu nó kèm theo một giá trị tăng thêm, giá trị tăng thêm là lợi tức Lợi tức là cái giá mà nhà tư bản hoạt động (tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp) phải trả cho người sở hữu tư bản cho vay về quyền được tạm thời sử dụng khoản tư bản tiền

Trang 13

tệ của người đó Lợi tức khi cho vay (các TCTD cho các tổ chức, cá nhân trong xã

hội vay; hoặc ngược lại các tổ chức, cá nhân trong xã hội cho các TCTD vay) –

chính là lãi suất

Khi phân tích về nguồn gốc và bản chất của lãi suất, K.Marx cho rằng: Tiền là

tư bản ngay từ khi nó được cho vay nhằm mục đích thu lợi nhuận Nhưng khi chuyển từ người cho vay sang người đi vay thì tiền chưa đẻ ra lợi nhuận được Tiền

đi vay phải trở thành tư bản hoạt động mới tạo ra lợi nhuận Như vậy, về thực chất, lợi tức chỉ là một phần của giá trị thặng dư mà nhà tư bản hoạt động thu được nhờ

sử dụng tư bản cho vay, trả cho chủ sở hữu tư bản cho vay, tức là một phần của lợi nhuận trung bình mà các nhà tư bản công, thương nghiệp thu được khi sử dụng tư bản cho vay vào hoạt động sản xuất – kinh doanh thu lợi nhuận, trả cho nhà tư bản cho vay [15, tr.284, 285]

Theo Từ điển quản lý tài chính, ngân hàng, lãi suất được định nghĩa là “khoản tiền thù lao trả cho việc sử dụng một số vốn nhất định, đó là giá thuê của đồng tiền” [20, tr.225]

Trong nền kinh tế thị trường, ngoại trừ những khoản cho vay giữa các cá nhân với nhau mang tính tương trợ vì mục đích tiêu dùng, hầu hết các khoản cho vay đều

có phát sinh lãi và khoản lãi này được tính theo một tỷ lệ phần trăm (%) nhất định trên số vốn đã cho vay (gọi là lãi suất) Về lý thuyết, lãi suất là yếu tố phản ánh “thu nhập” của người có vốn cho vay, nhưng cũng đồng thời được coi là “chi phí” của người vay phải trả cho việc sử dụng vốn của người khác Vì thế, trong hạch toán kế toán, bên vay bao giờ cũng đưa các khoản lãi phải trả vào chi phí sản xuất kinh doanh (gọi là chi phí vốn) để từ đó đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh của mình Giống như bất kỳ loại hàng hóa nào khác, lãi suất – với tư cách là giá cả của dịch vụ thuê vốn hay dịch vụ cho vay, luôn luôn vận động theo các nguyên tắc và quy luật của thị trường, bao gồm nguyên tắc thỏa thuận, nguyên tắc tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí; các quy luật cơ bản như quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu…

Có thể nhận thấy, quan điểm của các nhà kinh tế chính trị học về lãi suất chính

là cơ sở để khoa học pháp lý đưa ra định nghĩa về lãi suất

Dưới góc độ pháp lý: Các luật gia cho rằng lãi suất phản ánh một quan hệ

Trang 14

pháp lý giữa các chủ thể, trong đó có một bên đóng vai trò là chủ nợ (bên có quyền được hưởng lãi suất), còn bên kia đóng vai trò là khách nợ (bên có nghĩa vụ phải trả lãi) Quan hệ pháp luật này có thể phát sinh dựa trên sự thỏa thuận của các bên (ví

dụ các bên thỏa thuận điều khoản về lãi suất trong hợp đồng cho vay) hoặc do quyết định của một cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (chẳng hạn, tòa án quyết định buộc bên gây thiệt hại phải trả cho bên bị thiệt hại một khoản tiền lãi đúng bằng mức lãi suất ngân hàng do việc chậm thanh toán tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…)

Như vậy, trong khoa học pháp lý, lãi suất vừa phản ánh một nghĩa vụ tài sản (nghĩa vụ trả lãi) của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền, đồng thời cũng phản ánh một quyền tài sản (quyền được hưởng lãi) của bên có quyền đối với bên có nghĩa vụ Nói cách khác, lãi suất phản ánh một quan hệ tài sản giữa bên có nghĩa vụ trả lãi đối với bên có quyền và quan hệ tài sản này được pháp luật bảo hộ bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước Theo logic đó, mức lãi suất phản ánh mức độ nghĩa vụ tài sản mà bên có nghĩa vụ phải thực hiện đối với bên có quyền, đồng thời cũng phản ánh mức độ lợi ích và mức độ quyền yêu cầu của bên có quyền đối với bên có nghĩa vụ Điều này có nghĩa rằng nếu lãi suất cao thì gây bất lợi cho người có nghĩa

vụ nhưng lại rất có lợi cho bên có quyền và ngược lại Chỉ khi nào lãi suất ở mức độ hợp lý nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích cho cả hai bên thì khi đó lãi suất này mới được các bên cùng tự giác thực hiện

Từ khái niệm về lãi suất như đã phân tích ở trên, có thể rút ra nhận định rằng lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM là thuật ngữ chỉ các loại lãi suất phát sinh trong hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng của NHTM Lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM thường được hiểu bao gồm hai nhóm: Lãi suất huy động vốn (ví dụ: lãi suất tiền gửi, lãi suất trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng, lãi suất tái cấp vốn ); lãi suất cấp tín dụng (ví dụ: lãi suất cho vay, lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu )

Như vậy, có thể hiểu lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM là khoản tiền mà NHTM phải trả cho khách hàng khi huy động vốn hoặc được trả bởi khách hàng khi cấp tín dụng cho khách hàng theo hợp đồng

1.1.1.3 Vai trò của lãi suất

Trang 15

Vai trò của lãi suất được thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản như sau:

Thứ nhất, đối với NHNN, lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô Thông

qua công cụ lãi suất, NHNN thực hiện chức năng điều chỉnh kinh tế vĩ mô nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược phát triển của đất nước, đó là:

- Kiểm soát giá cả trên thị trường: Bằng cách tăng lãi suất, NHNN có thể làm

yếu đi khả năng cho vay của các NHTM, và khối lượng tiền cần thiết cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh và chi tiêu của người tiêu dùng giảm bớt Do đó, số lượng hàng hóa trên thị trường giảm đi, theo quy luật cung cầu, khi đó giá cả hàng hóa tăng lên Ngược lại, khi muốn giảm giá cả trên thị trường, NHNN có thể tăng lượng tiền có thể cho vay của NHTM cho việc sản xuất kinh doanh làm cho hàng hóa nhiều lên và giá cả hàng hóa giảm đi

- Kiềm chế lạm phát: Bên cạnh vai trò hướng dẫn điều hành nền kinh tế, lãi suất tín dụng còn đóng vai trò tích cực trong kìm chế lạm phát Vai trò này xuất phát từ sự tác động của lạm phát tới lãi suất sẽ được trình bày cụ thể trong phần sau

- Đòn bẩy kinh tế: Những ưu đãi về lãi suất, về điều kiện cung ứng tín dụng và thanh toán là công cụ của nhà nước nhằm khuyến khích các doanh nghiệp vào các loại sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các nước chậm phát triển muốn có những bước nhảy vọt để đi ngay vào công nghệ hiện đại trong thời đại hiện nay

- Điều tiết hoạt động đầu tư, tiết kiệm: Đối với, quy mô tiết kiệm, nếu lãi suất thực tế càng cao thì số tiền gửi vào ngân hàng càng lớn thay vì tăng quy mô mua sắm tài sản Bởi vì, gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng khi lãi suất cao thì sẽ có khả năng sinh lời cao và an toàn hơn việc tích trữ tài sản và nhờ đó nguồn vốn nói chung của ngân hàng tăng lên và khối lượng tiền tệ phục vụ cho nền kinh tế quốc dân cũng tăng lên Bên cạnh đó, lãi suất cũng là công cụ để điều tiết đầu tư: Từ việc điều chỉnh gián tiếp lãi suất theo hướng tăng hoặc giảm, Nhà nước đã định hướng các hoạt động đầu tư theo hướng mở rộng hoặc thu hẹp sản xuất

Tóm lại, lãi suất tác có tác động đến nhiều mặt đến nền kinh tế, một chính sách lãi suất hợp lý sẽ vừa là điều kiện thu hút các khoản vốn nhàn rỗi, vừa để thúc đẩy đầu tư trong nền kinh tế, giúp cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định

Thứ hai, đối với ngân hàng thương mại, lãi suất là yếu tố thúc đẩy kinh doanh

Trang 16

có hiệu quả của các doanh nghiệp, bù đắp chi phí và đem lại lợi nhuận cho NHTM Vai trò này thể hiện ở chỗ:

- Doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng phải hoàn trả đúng kì hạn cả vốn lẫn lãi, để có nguồn vốn trả nợ, doanh nghiệp phải quan tâm thực sự đến kết quả sản xuất kinh doanh của mình Trong trường hợp, hoàn trả nợ không đúng kì hạn, lãi suất quá hạn cao hơn lãi suất đúng hạn nên các doanh nghiệp phải cố gắng kinh doanh tốt để trả nợ đúng hạn Hoạt động của NHTM là huy động vốn để cho vay, do

đó, ngân hàng phải tính toán mức lãi suất cho vay và đi vay hợp lý để bù đắp các khoản chi phí nghiệp vụ và có lợi nhuận cho mình

- Lãi suất chính là công cụ để cạnh tranh giữa các NHTM: Chính sách lãi suất hiện hành là trần lãi suất huy động và lãi suất cho vay là lãi suất thỏa thuận Tuy nhiên, nền kinh tế hiện tại của Việt Nam đang phát triển theo hướng thị trường nên

do yêu cầu của quy luật cạnh tranh, mọi thành phần kinh tế đều có sự cạnh tranh quyết liệt vì sản phẩm tiêu thụ, giá bán, phương thức phục vụ, dịch vụ bán hàng… Đứng vững được trong quá trình cạnh tranh đó là điều không đơn giản Với phương châm “đi vay để cho vay”, hoạt động huy động và sử dụng vốn của ngân hàng có liên quan chặt chẽ với nhau Vì vậy, các NHTM đều phải đổi mới phương thức phục

vụ và huy động vốn để huy động được vốn tối đa đồng thời cũng phải đẩy mạnh cho vay Ngoài ra, các NHTM cũng cần phấn đấu hạ thấp chi phí, tạo cơ sở hạ thấp lãi suất”đầu ra” để thu hút được nhiều khách hàng đến mở tài khoản và vay

Tóm lại, vai trò của lãi suất đối với đời sống kinh tế, xã hội là điều không thể phủ nhận Tuy nhiên, để hiểu được rõ hơn về bản chất của lãi suất, thiết nghĩ cần có những nghiên cứu, phân tích thỏa đáng về từng loại lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM

1.1.2 Các loại lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Thực tế cho thấy rằng có nhiều loại lãi suất khác nhau hình thành trong hoạt động kinh doanh của NHTM Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau thì lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM được phân chia thành các loại khác nhau

Về phương diện lý thuyết, có thể phân chia lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM dựa vào các tiêu chí cơ bản sau đây:

Thứ nhất, nếu căn cứ vào mục đích của hoạt động nghiệp vụ của NHTM, lãi

Trang 17

suất được phân chia thành lãi suất huy động vốn và lãi suất cấp tín dụng

- Lãi suất huy động vốn được hiểu là khoản tiền mà NHTM phải trả cho khách hàng là các tổ chức, cá nhân trong xã hội khi NHTM vay tiền của khách hàng để phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình Lãi suất huy động vốn bao gồm các hình thức phổ biến như lãi suất tiền gửi, lãi suất trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, lãi suất tái cấp vốn (trong trường hợp NHTM vay vốn từ NHTW)

- Lãi suất cấp tín dụng được hiểu là khoản tiền mà khách hàng (tổ chức, cá

nhân) phải trả cho NHTM để được sử dụng khoản vốn vay từ ngân hàng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Trong nền kinh tế thị

trường, hoạt động cấp tín dụng của NHTM là rất đa dạng nên lãi suất cấp tín dụng

cũng có nhiều hình thức khác nhau, tương ứng với từng hình thức cấp tín dụng Chẳng hạn như: lãi suất cho vay (đối với hoạt động cho vay), lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu (đối với hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá )

Trên nguyên tắc, để đảm bảo có lãi trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHTM thì lãi suất huy động vốn phải luôn thấp hơn lãi suất cho vay Về vấn đề này, PGS.TS Lê Văn Tư có nêu quan điểm như sau: “lãi suất cho vay phải bao gồm tất cả các chi phí huy động vốn, bù đắp cả chi phí quản lý và thực hiện khoản cho vay, trang trải được các loại rủi ro, lãi suất cho vay phải chứa đựng phần lợi nhuận hợp lý” [16, Tr 441]

Thứ hai, nếu căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn, lãi suất được phân chia thành

lãi suất ngắn hạn, lãi suất trung hạn và lãi suất dài hạn

- Lãi suất ngắn hạn áp dụng cho những khoản tín dụng có thời hạn sử dụng vốn dưới 12 tháng

- Lãi suất trung hạn áp dụng cho những khoản tín dụng có thời hạn sử dụng vốn từ 12 tháng đến 60 tháng

- Lãi suất dài hạn áp dụng cho những khoản tín dụng có thời hạn sử dụng vốn trên 60 tháng

Trên nguyên tắc, do mức lãi suất luôn tỷ lệ thuận với thời hạn sử dụng vốn nên lãi suất ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất trung hạn và lãi suất trung hạn lại thấp hơn lãi suất dài hạn Mức chênh lệch của các loại lãi suất này thường phụ thuộc vào

Trang 18

mức độ rủi ro mà bên cung ứng vốn phải chịu trong thời gian sử dụng vốn, bởi lẽ thời hạn cho vay càng dài thì rủi ro càng cao và do đó lãi suất phải cao tương ứng Trên thực tế, nguyên tắc này luôn được các NHTM tuân thủ khi xác định lãi suất kinh doanh của mình trong việc huy động vốn và cho vay

Thứ ba, nếu căn cứ vào chủ thể quy định lãi suất có thể phân chia thành lãi

suất do NHTW quy định và lãi suất kinh doanh do NHTM quy định

Lãi suất do NHNN quy định nhằm mục tiêu điều tiết vĩ mô nền kinh tế và kiểm soát an toàn đối với các TCTD Thuộc loại lãi suất này bao gồm lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng Trong các loại lãi suất này, lãi suất cơ bản có vai trò quyết định và là cơ sở để giới hạn mức lãi suất tối đa trong hoạt động cho vay trong xã hội nhằm cấm việc cho vay nặng lãi Còn các loại lãi suất khác do NHNN quy định nhằm mục tiêu định hướng hoạt động kinh doanh của NHTM Lãi suất kinh doanh do NHTM quy định và công bố là các loại lãi suất do NHTM áp dụng trong các hoạt động kinh doanh của mình Thuộc loại lãi suất này bao gồm: lãi suất tiền gửi, lãi suất trái phiếu ngân hàng, lãi suất cho vay, lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá Thông thường, các loại lãi suất này sẽ

do NHTM tự xác định trên cơ sở tình hình hoạt động kinh doanh của mình cũng như chính sách lãi suất mà nhà nước đưa ra Tuy nhiên, cũng có trường hợp, do điều kiện chưa cho phép mà nhà nước có thể đưa ra mức trần đối với những loại lãi suất này và buộc NHTM phải áp dụng trong hoạt động kinh doanh của mình

1.1.3 Các yếu tố tác động đến lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau Ở mức độ khái quát, có thể kể đến những yếu tố cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Mối quan hệ cung - cầu tiền tệ trên thị trường vốn

Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến việc hình thành lãi suất trên thị trường Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để thanh toán trên thị trường Cầu tiền

tệ là nhu cầu về tiền của các đơn vị, cá nhân, tổ chức để làm phương tiện giao dịch,

trao đổi hàng hoá Theo quy luật cung - cầu của nền kinh tế thị trường, khi cung tín

Trang 19

dụng lớn hơn cầu tín dụng thì lãi suất sẽ hạ xuống Ngược lại, nếu cung tín dụng nhỏ hơn cầu tín dụng thì lãi suất sẽ tăng lên Chính vì cung cầu tiền tệ tác động trực tiếp đến lãi suất nên nhà nước có thể sự dụng yếu tố này để điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với chính sách tiền tệ nhà nước đang thi hành

Thứ hai: Tỷ lệ lạm phát tiền tệ trong nền kinh tế

Lãi suất chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhân tố này vì sự biến động của tỷ lệ lạm phát sẽ kéo theo sự biến động của giá trị tiền tệ Do đó, lạm phát có thể tác động tới lãi suất do những hiệu ứng của nó lên lượng tiền có thể huy động và lượng tiền có thể cho vay Theo M.Friedman, trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của một nước

là cực kỳ cao trong bất cứ thời kỳ kéo dài nào, thì tỷ lệ tăng trưởng của cung ứng tiền tệ là cực kỳ cao Ngược lại, nếu lạm phát thấp thì các tổ chức, cá nhân trong xã hội sẽ giữ tiền thay vì tích trữ hàng hóa, vàng, ngoại tệ, và có thể họ sẽ dụng tiền đó

để cho vay thu lãi Đồng thời, sẽ có nhiều nguồn vì đã giữ tiền trong tay nên sẽ không có nhu cầu vay tiền có nghĩa là cầu tiền tệ giảm còn cung tiền tệ tăng, do đó lãi suất giảm Do đó, nhiều nhà kinh tế đã khuyến nghị rằng cuộc chiến chống lạm phát nhất định sẽ thất bại nếu chúng ta muốn hạ thấp lãi suất

Thứ ba: Tác động của tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế cũng có tác động rất lớn đến lãi suất Cụ thể là, nếu kinh

tế được dự báo sẽ tăng cao thì các tổ chức, cá nhân trong xã hội sẽ chỉ bớt một phần tiền nhất định để sử dụng, còn phần lớn tiền sẽ dùng để đầu tư, thậm chí dùng toàn

bộ khoản tiền mình vào sản xuất, kinh doanh, nhằm thu lợi nhuận thay vì chuyển tiền vào các NHTM, có nghĩa cung tiền tệ giảm đi Đồng thời, có rất nhiều tổ chức,

cá nhân khác trong xã hội không có nhiều tiền sẽ vay vốn để đầu tư nhằm thu lời, tức là cầu tiền tệ tăng lên Do đó, cung tiền sẽ nhỏ hơn cầu, theo quy luật cung cầu nêu trên thì lãi suất sẽ tăng Ngược lại, khi kinh tế được dự báo là tăng trưởng thấp thì thay vì đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, các tổ chức, cá nhân trong xã hội sẽ chuyển số tiền mình có cho các TCTD giữ Bởi lẽ, đầu tư vào sản xuất kinh doanh khi kinh tế tăng trưởng thấp thì lợi nhuận sẽ không cao trong khi công sức mà người đầu tư phải bỏ ra khi chi tiền vào việc sản xuất, kinh doanh sẽ cao hơn nhiều lần so với việc chỉ đến các TCTD và chuyển tiền vào các TCTD Đồng thời, trong xã hội

sẽ có rất ít các tổ chức cá nhân có ý định vay tiền để đầu tư Vì vậy, cung về tiền sẽ

Trang 20

cao hơn cầu nên lãi suất sẽ giảm

Thứ tư: Chính sách kinh tế của Nhà nước

Quá trình thực hiện các chính sách của nhà nước đều có tác động đến lãi suất cân bằng trên thị trường Các chính sách cụ thể có tác động đến lãi suất bao gồm:

- Chính sách tài chính, bao gồm chi tiêu của chính phủ và thuế Khi chi tiêu của chính phủ tăng sẽ trực tiếp làm tăng tổng cầu về tiền tệ, khi giảm thuế sẽ kích thích chi tiêu dùng nên làm giảm cung tiền tệ, do đó lãi suất tăng Ngược lại, khi chi tiêu giảm sẽ làm giảm cầu về tiền, khi thuế tăng sẽ giảm chi tiêu dùng nên giảm cung, do đó lãi suất giảm

- Chính sách tiền tệ, với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng trung ương thực hiện vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng của một quốc gia Với công cụ lãi suất, ngân hàng trung ương có thể điều tiết hoạt động của nền kinh tế vĩ mô bằng các phương pháp: Quy định lãi suất cho thị trường; hoặc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ như nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, tỷ giá hối đoái

- Chính sách thu nhập, đó là chính sách về giá cả và tiền lương Nếu mức giá

cả giảm và cung tiền tệ không thay đổi, giá trị của đơn vị tiền tệ theo giá trị thực tế tăng, bởi vì nó có thể dùng để mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn Do vậy cũng như ảnh hưởng của một sự tăng lên trong cung tiền tệ khi mức giá được giữ cố định, làm lãi suất giảm Ngược lại một mức giá cao hơn làm giảm cung tiền tệ theo giá trị thực tế, làm tăng lãi suất Bên cạnh đó, yếu tố cấu thành quan trọng nhất của cho phí sản xuất là chi phí tiền lương tăng sẽ làm chi phí sản xuất tăng, làm giảm lợi nhuận theo đơn vị sản phẩm tại một mức giá cả, giảm nhu cầu đầu tư, cầu tiền tệ giảm, lãi suất giảm

- Chính sách tỷ giá, bao gồm các biện pháp liên quan đến việc hình thành quan

hệ về sức mua giữa tiền của nước này so với một ngoại tệ khác, nhất là đối với các ngoại tệ có khả năng chuyển đổi Tỷ giá sẽ tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa của một nước Cụ thể, khi nhà nước tăng tỷ giá ngoại tệ sẽ làm tăng giá của hàng hóa nhập khẩu, dẫn đến tăng chi phí đầu vào của các xí nghiệp, giá hàng hóa trong nước tăng lên, lợi nhuận giảm, nhu cầu đầu tư giảm, cầu tiền tệ giảm nên lãi suất giảm Mặt khác khi tỷ giá ngoại tệ tăng, lượng

Trang 21

tiền cung ứng để đảm bảo cân đối ngoại tệ cần chuyển đổi tăng lên, lãi suất giảm.Vì vậy, khi thấy đồng tiền của nước mình sụt giá, ngân hàng trung ương sẽ theo đuổi một chính sách tiền tệ thắt chặt hơn, giảm bớt cung tiền tệ, tăng lãi suất trong nước, làm cho đồng tiền của mình vững mạnh Khi tỷ giá ngoại tệ giảm, đồng tiền tăng giá, không kích thích xuất khẩu, nền công nghiệp trong nước có thể bị sự cạnh tranh của nước ngoài tăng lên, kích thực đầu tư nhiều hơn, lãi tăng lên Như vây, khi có một sự cạnh tranh giữa nền công nghiệp trong nước với công nghiệp nước ngoài tăng lên, có thể gây áp lực buộc ngân hàng trung ương phải theo đuổi một tỷ lệ tăng trường tiền tệ cao nhằm hạ thấp tỷ giá

Tóm lại, từ các phân tích trên đây, có thể nhận xét rằng lãi suất chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau Tuy nhiên, lãi suất vẫn là biến số quan trọng của nền kinh tế, vì vậy nghiên cứu đến việc tăng giảm lãi suất thì cần nghiên cứu dưới góc độ lý thuyết kinh tế học

1.1.4 Vấn đề hiệu quả của việc tăng, giảm lãi suất dưới góc độ lý thuyết kinh tế học

Kinh tế học có rất nhiều lý thuyết khác nhau để xem xét tính hiệu quả của việc tăng giảm lãi suất Trong khuôn khổ giới hạn của luận văn này, người viết chủ trương tiếp cận vấn đề hiệu quả của việc tăng, giảm lãi suất dựa vào những lý thuyết kinh tế chủ yếu sau đây:

1.1.4.1 Vấn đề hiệu quả của việc tăng, giảm lãi suất dưới góc độ lý thuyết trò chơi

Giả sử người chơi cụ thể trong trò chơi “tăng lãi suất” này là các NHTM, nhưng không phải tất cả, mà chỉ là các NHTM không có khả năng tiếp cận vốn của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thông qua hình thức chiết khấu tín phiếu Chính đặc điểm này sẽ làm cho các NHTM tham gia trò chơi không có lựa chọn nào khác là huy động vốn từ dân cư hay từ hệ thống liên ngân hàng Nhưng lãi suất liên ngân hàng quá cao nên mục tiêu cơ bản vẫn là huy động từ dân cư thông qua lãi suất huy động Để đơn giản cho việc khảo sát, giả sử chỉ có hai NHTM là A và B và khách hàng chỉ có thể gửi tiền vào hai ngân hàng này Diễn biến của “trò chơi” như sau:

Do ai cũng nghĩ rằng NHNN sẽ không bao giờ làm ngơ khi có một NHTM nào

đó mất khả năng thanh toán và trên thực tế chưa có NHTM nào phải rơi vào tình

Trang 22

trạng như thế thật, vì vậy khách hàng sẽ gửi tiền vào NHTM nào có lãi suất cao hơn Như thế NHTM A và B phải đứng trước lựa chọn, có tăng lãi suất hay không?

Có thể dễ dàng thấy rằng nếu A và B cùng tăng lãi suất thì hai ngân hàng sẽ chịu thiệt, tức là sẽ huy động được với giá cao Nhưng nếu một trong hai quyết định tăng

và ngân hàng kia giữ nguyên thì ngân hàng tăng sẽ thu hút được vốn với giá cao, còn ngân hàng giữ nguyên sẽ không huy động được vốn Nhưng nếu cả hai cùng giữ nguyên lãi suất thì lợi ích chia đều cho cả hai, tức huy động được với giá rẻ nhưng chậm Rõ ràng với A hay B thì lựa chọn tăng lãi suất là “chiến lược áp đảo” của trò chơi này, là chiến lược tối ưu bất kể bên kia quyết định thế nào Vì vậy, cả A và B đều chọn chiến lược áp đảo này và cùng nhau tăng lãi suất là điều hợp lý và điểm (-1,-1) là điểm “cân bằng” của trò chơi Điều đó nói lên rằng nếu để cho hai NHTM này tự do đưa ra quyết định thì điểm (-1,-1) là kết cục cuối cùng của trò chơi mặc

dù ở đó lợi ích của cả hai không phải là tối ưu Nếu hai NHTM này cùng “bắt tay” không tăng lãi suất để cùng nhau có lợi ích = 1, tức là huy động được vốn với giá rẻ nhưng chậm Đây là kết cục tối ưu nhưng do đây là trò chơi có kết thúc (khi các NHTM hoàn thành mục tiêu huy động) và có thời gian giới hạn nên khi cả hai cùng huy động chậm thì sẽ nảy sinh những động cơ gian lận để tăng lãi suất nhằm về đích trước trong trò chơi Rõ ràng các NHTM không có bất kỳ biện pháp nào để trừng phạt gian lận ngoài việc đáp trả bằng cách tăng lãi suất, điều đó sẽ dẫn trò chơi đến điểm “cân bằng” Nhưng cũng có một thuận lợi là việc gian lận hoàn toàn có thể bị phát hiện được vì khi tăng lãi suất các NHTM buộc thông báo trên phương tiện truyền thông, vì thế nguy cơ bị đáp trả là khá rõ ràng Nhưng nếu cam kết bị một NHTM phá vỡ, thì trong ngắn hạn, NHTM kia sẽ phải chịu tổn thất khi không có đáp trả kịp thời Vì các NHTM đều hiểu rõ việc tuân thủ cam kết là rất mạo hiểm nên việc có một cam kết giữ nguyên lãi suất giữa các NHTM là bất khả thi

Ở trên chỉ khảo sát hai NHTM nhưng trong thực tế có rất nhiều NHTM trong

hệ thống và việc đoán được hành vi của mỗi NHTM là rất khó khăn Càng nhiều NHTM, động cơ chọn lựa việc tăng lãi suất càng lớn Vì thế “điểm cân bằng” của trò chơi mới cũng vẫn là điểm (-1, …, -1), tức là tất cả các NHTM đều tăng lãi suất Chính vì có nhiều NHTM nên việc có một cam kết cho tất cả các ngân hàng là khó khăn hơn rất nhiều Rủi ro cho việc cam kết là quá lớn trong trường hợp này Trò chơi này cứ thế tiếp tục cho đến khi nào tất cả các NHTM cùng đạt đến mục tiêu

Trang 23

huy động vốn của riêng mình thì trò chơi mới chấm dứt, khi đó lãi suất sẽ không còn được tăng nữa

Từ những phân tích ở trên, việc các NHTM tăng lãi suất là hoàn toàn dễ hiểu

và có thể dự đoán được Nhưng kết quả của việc này là gây ra những bất ổn tạm thời trong hệ thống ngân hàng, nên việc hạn chế các cuộc đua như thế là hoàn toàn cần thiết, đây cũng chính là cơ sở để xây để xây dựng các giải pháp để hoàn thiện quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam [9]

1.1.4.2 Vấn đề hiệu quả của việc tăng, giảm lãi suất dưới góc độ lý thuyết về chi phí giao dịch

Mục đích của lý thuyết về chi phí giao dịch là để nghiên cứu lý do khiến các thành viên trong xã hội phải phối hợp với nhau trong khi trên thị trường, giá cả quyết định việc mua bán giữa các nguồn lực, cạnh tranh quyết định mọi thứ Và đó

là vì việc trao đổi bằng giá tốn một số chi phí gọi là chi phí giao dịch Điều này khiến mọi người muốn tiếp tục kết hợp với nhau hơn là để giá cả chi phối

Tìm hiểu về chi phí giao dịch trước tiên ta cần tìm hiểu định lý Coase, Coase

phát biểu định lý: việc bảo vệ quyền sở hữu sẽ không cần thiết nếu chi phí giao dịch

bằng không hay nhỏ Nếu chi phí giao dịch quá lớn, các bên không thể thỏa thuận được với nhau, mỗi bên sẽ phải dùng quyền sở hữu để bảo vệ quyền lợi của mình

Từ định lý trên, Coase phát biểu định lý tiếp theo: quyền sở hữu chỉ là một trong

những biện pháp nhằm kiểm soát quyền lợi của một chủ thể kinh doanh chứ không phải là một quyền tự nhiên Các biện pháp khác có thể là thỏa thuận hay bồi thường

thiệt hại Như vậy, thực thi quyền sở hữu không phải lúc nào cũng là phương pháp bảo vệ quyền tối ưu Muốn biết một phương pháp bảo vệ quyền có phải là tối ưu hay không, cần phải xem xét đến chi phí giao dịch Quyền sở hữu có thể là giải pháp bảo vệ quyền lợi tối ưu khi chi phí giao dịch để hòa giải hay thỏa thuận với người xâm phạm là lớn Chi phí giao dịch là chi phí xác lập và bảo vệ quyền sở hữu, như chi phí thông tin tìm kiếm tài sản, chi phí thực thi quyền sở hữu, chi phí thảo luận để trao đổi tài liệu (Allen 1971) Nếu không có cạnh tranh, lấn chiếm, trao đổi, thì chi phí giao dịch bằng không Marx cũng cho rằng khi quyền sở hữu được xóa bỏ (loài người tiến lên chủ nghĩa cộng sản – hay nói theo Coase – chi phí giao dịch bằng không), thì nguồn lực trong xã hội được phân bổ có hiệu quả nhất

Trang 24

Tất nhiên điều này chỉ có trong quá khứ - xã hội nguyên thủy

Ngoài ra, chi phí giao dịch còn được định nghĩa là chi phí liên quan đến việc trao đổi quyền sở hữu (Demserz 1968) Định nghĩa này được mở rộng hơn so với định nghĩa đầu tiên, và nó lý giải tất cả những gì không diễn ra được trong thị trường cạnh tranh hoàn chỉnh

Các lý do khiến chi phí giao dịch không thể bằng không được bao gồm: thông tin không đầy đủ và bất đối xứng, một bên ở vị trí độc quyền so với bên kia, một bên có thể lợi dụng một số ưu thế mà bên kia không có Định lý Coase, khi nói rằng nếu chi phí giao dịch bằng không thì quyền sở hữu không cần thiết cũng đồng nghĩa với nói rằng, khi chi phí giao dịch đáng kể thì quyền sở hữu lại càng cần thiết Như vậy, nếu chúng ta quốc hữu hóa các nhà máy, hầm mỏ, điều này tưởng chừng như làm giảm chi phí giao dịch, song thực chất lại làm tăng chi phí giao dịch – do một

số người nắm nhiều thông tin hơn, có những ưu thế mà người kia không có Tóm lại, một nền kinh tế có hiệu quả không thể xóa bỏ được quyền sở hữu, vì chi phí giao dịch tồn tại trong hầu hết các hình thái kinh tế xã hội Ngay cả trong chế độ xã hội chủ nghĩa, khi nền kinh tế phát triển đến mức cao, thì sự tập trung tư liệu sản xuất trong tay nhà nước cũng sẽ tạo ra các lợi thế chính sách (rent), tăng chi phí giao dịch [7, tr 35, 36]

Khi xét việc tăng giảm lãi góc độ lý thuyết chi phí giao dịch có thể thấy, khi Nhà nước điều chỉnh việc tăng giảm lãi suất một cách trực tiếp bằng việc ra một quyết định hành chính thay vì dùng các công cụ khác như tác động vào thị trường

mở thì có vẻ đơn giản hơn rất nhiều Tuy nhiên, xét ở góc độ lý thuyết về chi phí giao dịch thì thấy chi phí giao dịch bị đẩy lên Bởi vì, khi thay đổi chính sách lãi suất bằng công cụ hành chính, thì Nhà nước đã ở vị thế nắm thông tin và có những

ưu thế mà các TCTD cũng như các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội không thể có được Điều này cũng có nghĩa chi phí giao dịch sẽ là lớn và đồng thời Nhà nước và các TCTD cũng như các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội không thể thỏa thuận được với nhau và mỗi bên sẽ phải dùng quyền sở hữu để bảo vệ quyền lợi của mình thay Trong quá trình các bên bảo vệ quyền lợi của mình, trong khi Nhà nước sử dụng biện pháp hành chính cứng nhắc để tăng hoặc giảm lãi suất, thì thu hút khách hàng NHTM sẽ tìm cách “lách luật” do NHTM này rơi vào tình trạng nếu không

“lách luật” sẽ không thể có đủ vốn để hoặc động hoặc không thể cấp tín dụng được

Trang 25

Tuy nhiên, rất có thể hành động “lách luật” của NHTM sẽ bị Nhà nước phát hiện và

xử phạt Nếu như thiệt hại từ hành vi “lách luật” của NHTM là rất lớn thì hoạt động của NHTM này sẽ bị ảnh hưởng, và sau đó, sự suy yếu của NHTM tác động tiêu cực đến thị trường tiền tệ và nền kinh tế Như vậy, xét ở phạm vi trong cả xã hội thì việc sử dụng công cụ hành chính sẽ có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế

1.1.4.3 Vấn đề hiệu quả của việc tăng, giảm lãi suất dưới góc độ lý thuyết cân bằng lợi ích

Trong kinh tế vi mô, cân bằng được hiểu như sau: khi mọi người tăng lợi ích của mình, thì toàn xã hội sẽ đạt được vị trí cân bằng (equilibrium) Ở đó, mọi sự trao đổi giữa các chủ thể trên thị trường đạt được vị trí tối ưu hóa Vị trí cân bằng tồn tại ngoài ý muốn của các chủ thể tham gia vào thị trường Cân bằng có hai vị trí: cân bằng an toàn và cân bằng không an toàn Cân bằng an toàn là vị trí mà khi giá

cả thị trường đi lệnh khỏi vị trí đó thì các lực tương tác của thị trường kéo giá cả trở lại vị trí cân bằng Cân bằng không an toàn là vị trí mà ở đó giá cả có khuynh hướng rời khỏi vị trí cân bằng Có một thực tế không thể phủ nhận phần đông mọi người đều muốn gia tăng lợi ích của mình và thị trường luôn có khuynh hướng trở về vị trí cân bằng và vị trí cân bằng tốt nhất là vị trí cân bằng có hiệu quả Trong đó, một trạng thái gọi là hiệu quả (hiệu quả Pareto - tên nhà kinh tế học Italia đầu thế kỷ 20 Vilfredo Pareto) khi không thể làm tăng lợi ích cho một người mà không làm giảm lợi ích cho người khác [7, tr 31,32]

Trên cơ sở lý thuyết cân bằng lợi ích trên, người viết sẽ xem xét việc tăng giảm lãi suất theo lý thuyết cân bằng lợi ích

Trước tiên, người viết sẽ xem xét sự cân bằng lợi ích trên thị trường tiền tệ giữa các NHTM với nhau Có thể thấy, trong hoạt động kinh doanh, để tăng lợi ích của mình, các NHTM nói riêng luôn muốn giảm lãi suất huy động và tăng lãi suất cho vay Nếu trong một khoảng thời gian nhất định, NHTM nào có thể huy động vốn vớn lãi suất thấp, đồng thời cho vay với lãi suất cao thì NHTM đó đạt được lợi ích tối đa Tuy nhiên, rõ ràng điều này là rất khó thực hiện với sự phát triển của công nghệ truyền thông hiện nay, do đó khi một NHTM giảm lãi suất huy động và tăng lãi suất cho vay thì ngay lập tức các NHTM khác sẽ biết thông tin và điều chỉnh lãi suất nhằm đạt lợi ích Do đó, thị trường sẽ trở về ngưỡng cân bằng về lợi

Trang 26

ích Xét cân bằng lợi ích giữa một bên là khách hàng một bên là các NHTM Trong trường hợp một bên là các NHTM, còn một bên là Nhà nước, thì có thể thấy người giữ ưu thế sẽ là Nhà nước, để phục vụ các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra, nhà nước sẽ điều chỉnh cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay – hai loại lãi suất có tác động mạnh mẽ nhất đến hoạt động kinh doanh của các NHTM Vậy các NHTM sẽ làm gì để đạt được lợi ích của mình? Rõ ràng là không NHTM nào muốn mất lợi ích trong cả trường hợp bị Nhà nước điều chỉnh và tác động mạnh mẽ Giải pháp khả thi là “sống chung với lũ”, tức là sẽ có hai sự lựa chọn, một là tuân thủ tuyệt đối các quy định của Nhà nước và chấp nhận lợi ích sẽ bị giảm; hai là tìm cách “luồn lách” các quy định của Nhà nước để tăng lợi ích Có thể thấy rằng, nhà nước càng tìm cách tăng lợi ích của mình nhiều nhất bằng cách đưa ra các quy định mang tính chất hành chính, cưỡng ép thì sự phản kháng, việc “lách luật” của các NHTM càng nhiều

và càng mạnh để cân bằng về lợi ích Tuy nhiên, cách thức thực hiện thì khá tiêu cực và sẽ ảnh hưởng không tốt cho thị trường tiền tệ nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chung

Như vậy, rõ ràng là nếu việc các NHTM cạnh tranh lợi ích với nhau thì luôn đưa thị trường tiền tệ về thế cân bằng hiệu quả, còn cách làm quá cứng nhắc của nhà nước thì không thể nào tạo ra thế cân bằng bền vững, hiệu quả cho thị trường tiền tệ 1.2 MÔ HÌNH PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Các nguyên tắc chung trong việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Theo quy định của pháp luật, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất

cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu thu lợi nhuận Trên nguyên tắc, hoạt động kinh doanh của NHTM phải được ghi trong giấy phép thành lập và hoạt động, đồng thời cũng được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của NHTM Trong số các loại hình hoạt động kinh doanh của NHTM thì phần lớn đều là các hoạt động có phát sinh lãi suất (chẳng hạn như các hoạt động huy động vốn, hoạt động cấp tín dụng )

Do lãi suất là một biến số quan trọng và thường có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM nên việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với

Trang 27

vấn đề lãi suất cần được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định mang tính đặc thù Cụ thể là:

- Việc điều chỉnh pháp luật đối với lãi suất trong hoạt động kinh doanh của

NHTM phải phù hợp với chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ: Đây là nguyên tắc cơ

bản trong hoạch định chính sách lãi suất từng thời kỳ Bởi vì, chính sách lãi suất là một công cụ của chính sách tiền tệ nên mục tiêu của chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của chính sách tiền tệ Quá trình hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kỳ luôn phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của chính sách tiền tệ là ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô Điều đó có nghĩa, sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất không được gây ra những cú sốc thị trường, đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế

- Việc điều chỉnh pháp luật đối với lãi suất cần được thực hiện một cách linh hoạt, không cứng nhắc: Điều này có nghĩa là khi thị trường có những biến động lớn thì những quy định về lãi suất cũng cần theo sát và phù hợp với tình hình thị trường Bởi vì, khi tính toán chính sách tiền tệ nói chung hay chính sách lãi suất nói riêng trong từng thời kỳ thì các nhà hoạch định chính sách đã phải dựa trên những dự báo

về thị trường Tuy nhiên, không thể loại trừ khả năng có những biến động nằm ngoài tính toán của các nhà hoạch định chính sách Trong trường hợp này, các nhà làm luật, nhà hoạch định chính sách cần phải dựa vào tình hình thị trường để đưa ra những điều chỉnh phù hợp, trong đó có vấn đề lãi suất

- Các quy định pháp luật về lãi suất cần phải đảm bảo sự phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và những thay đổi của thị trường: Lãi suất là một biến số kinh tế cho nên lãi suất chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế Do đó, các quy định của pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM không thể là các quy định cứng nhắc mang tính mệnh lệnh hành chính và càng không thể là những quyết định mang tính chủ quan, duy ý chí Nếu những quy định của pháp luật về lãi suất chỉ là những mệnh lệnh hành chính quá khắt khe sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến thị trường tiền tệ nói riêng và cả nền kinh tế nói chung Trong trường hợp những quy định về lãi suất có những quy định mang tính mệnh lệnh hành chính thì cũng cần phải đảm bảo sự thông thoáng nhất định để lãi suất được điều chỉnh theo các quy luật kinh tế

Trang 28

- Các quy định về lãi suất cần được đảm bảo thực thi bằng công tác thanh, kiểm tra hiệu quả: Những quy định của pháp luật dù có đầy đủ, phù hợp, “chất lượng” đến đâu, nhưng nếu không được thực hiện trong thực tế thì mãi chỉ là những quy định trên giấy Bên cạnh đó, cũng có trường hợp những quy định của pháp luật được các chủ thể áp dụng sai nhằm đạt được những mục đích nhất định của mình Hơn nữa, thông qua công tác thanh, kiểm tra, các nhà làm luật và nhà hoạch định chính sách có thể biết được kết quả của việc thực thi luật trên thực tế, từ đó có những sự điều chỉnh phù hợp Do đó, công tác thanh, kiểm tra nhằm bảo đảm thực thi các quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM chiếm vị trí rất quan trọng

Dựa vào những nguyên tắc cơ bản nêu trên, pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM cần quy định những nội dung cơ bản nhất sẽ được phân tích dưới đây

1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Về khía cạnh lý thuyết, nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM phải đảm bảo mục tiêu giúp Nhà nước kiểm soát được lãi suất trên thị trường, đồng thời kiểm soát được và đảm bảo sự vận hành

an toàn, hiệu quả của hệ thống tín dụng trong nền kinh tế

Một cách khái quát, có thể hình dung pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm các thành phần (nội dung) chủ yếu sau đây:

● Các quy định về chủ thể có thẩm quyền quy định lãi suất trong hoạt

động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Các quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM là một bộ phận của pháp luật ngân hàng, vì lẽ đó, phạm vi chủ thể có thẩm quyền đặt ra các quy định về lãi suất bao gồm Quốc hội, Chính phủ và NHNN, với mức độ phân quyền khác nhau dành cho mỗi cơ quan này

Thứ nhất, đối với Quốc hội, do đóng vai trò là cơ quan lập pháp nên thẩm

quyền của Quốc hội là thông qua chính sách tiền tệ quốc gia, trong đó có chính sách

về lãi suất ngân hàng Ngoài ra, Quốc hội còn có quyền quy định những quy tắc chung về lãi suất trong lĩnh vực ngân hàng (thông qua việc ban hành các đạo luật

Trang 29

ngân hàng như Luật ngân hàng trung ương và Luật các tổ chức tín dụng…)

Ví dụ: Quy định về chính sách lãi suất hiện hành của Việt Nam được thể hiện trong Luật NHNN 2010 và Luật các TCTD 2010 Theo đó, các TCTD được tự công

bố mức cụ thể với các loại lãi suất trong hoạt động kinh doanh của mình, chỉ trong những trường hợp thực sự cần thiết thì NHNN mới can thiệp vào lãi suất với việc xác định mức đối với lãi suất

Thứ hai, đối với Chính phủ, do đóng vai trò là cơ quan hành chính cao nhất

trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước nên Chính phủ sẽ có thẩm quyền đặt ra quy định cụ thể về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM Ví dụ như việc Chính phủ ban hành quy định về xử phạt vi phạm về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM, đồng thời cũng thành lập các cơ quan thanh tra, giám sát nhằm phát hiện và xử lý những vi phạm của các NHTM về lãi suất

Thứ ba, đối với NHTW, do đóng vai trò là một thiết chế đặc biệt với trọng

trách thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, tổ chức giám sát đối với hệ thống ngân hàng nên NHTW thường được trao thẩm quyền hoạch định chính sách tiền tệ quốc gia, tổ chức thực thi chính sách này và ban hành trong phạm vi thẩm quyền luật định những quy định cụ thể để đảm bảo thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, giám sát hoạt động ngân hàng, trong đó có các quy định về lãi suất

Ngoài ra, với tư cách là một chủ thể kinh doanh trên thương trường, các TCTD nói chung và NHTM nói riêng cũng được pháp luật ghi nhận quyền được tự quy định lãi suất kinh doanh (bao gồm lãi suất huy động vốn và lãi suất cấp tín dụng) trên cơ sở tuân thủ các quy định chung của pháp luật về lãi suất và đảm bảo nguyên tắc thỏa thuận với khách hàng Việc pháp luật các nước thừa nhận quyền năng này cho các TCTD là một giải pháp hợp lý, dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của tổ chức tín dụng

● Các quy định về cách thức xác định lãi suất trong hoạt động kinh doanh

của ngân hàng thương mại

Hiện nay, trên thế giới có những cách thức sau để xác định lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM:

Thứ nhất, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM là lãi suất thỏa

thuận, Ngân hàng trung ương chỉ xác định, công bố lãi suất để điều hành

Trang 30

Cách thức này có thể coi là tối ưu và đảm bảo hiệu quả nhất Bởi vì, như những phân tích đã nêu trên, có thể thấy lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế và việc điều hành lãi suất bằng phương pháp mệnh lệnh hành chính sẽ không đạt được hiệu quả tối ưu Tức là, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM - một biến số của nền kinh tế cần phải được để tự do, tuân theo các quy luật của thị trường Cách xác định này được sử dụng phổ biến ở các quốc gia phát triển, chẳng hạn như:

- Ở Úc, Ngân hàng Dự trữ Úc có trách nhiệm xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ Các quyết định trong chính sách tiền tệ gắn với việc thiết lập mức lãi suất cho vay qua đêm trong thị trường tiền tệ Ngân hàng Dự trữ Úc đặt ra “tỷ lệ tiền mặt” nhất định, đó là lãi suất thị trường vốn qua đêm Người ta sử dụng lãi suất này là công cụ chính sách tiền tệ, và ảnh hưởng đến tỷ lệ tiền mặt thông qua các hoạt động thị trường tài chính Những loại lãi suất khác trong nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi lãi suất này ở mức độ khác nhau, do đó hành vi của khách hàng vay và người cho vay trong thị trường tài chính bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ (mặc

dù không chỉ bởi chính sách tiền tệ)

- Ở Vương quốc Anh, với Đạo Luật ngân hàng Anh 1988, ngân hàng độc lập trong việc thiết lập lãi suất Ngân hàng của Anh thiết lập mức lãi suất ngân hàng này cho các tổ chức tài chính vay Sau đó, lãi suất này sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ các lãi suất được thiết lập bởi NHTM, xã hội và các tổ chức khác đối với những người gửi tiền và người đi vay của những chủ thể này Lãi suất do Ngân hàng của Anh định ra cũng có xu hướng ảnh hưởng đến giá của tài sản tài chính, như trái phiếu, cổ phiếu, và tỷ lệ trao đổi – những yếu tố ảnh hưởng đến người tiêu dùng và nhu cầu kinh doanh với nhiều cách khác nhau

- Ở Mỹ, tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ lãi suất là một trong những công cụ để điều hành chính sách tiền tệ ở Mỹ Tỷ lệ chiết khấu là lãi suất các NHTM và các tổ chức lưu ký phải trả các khoản cho vay mà họ nhận được từ nơi cho vay của Ngân hàng

Dự trữ Liên bang khu vực – cửa sổ chiết khấu (disscount window) Thông qua việc tăng hoặt giảm tỷ lệ chiết khấu, Cục dự trữ liên bang Mỹ có thể khuyến khích vay tiền hoặc không khuyến khích vay tiền, và do đó làm thay đổi mức thu nhập của các ngân hàng khi cho vay Công cụ này cho phép Cục dự trữ liên bang mỹ mở rộng hay thu hẹp lượng tiền và tín dụng trong nền kinh tế Mỹ Ngân hàng Dự trữ Liên

Trang 31

bang đưa ra ba chương trình cửa sổ chiết khấu cho các tổ chức lưu ký là: Tín dụng chính, tín dụng thứ cấp và tín dụng theo mùa với lãi suất khác nhau

Tuy nhiên, cũng cần nhận định rằng, các quốc gia trên có thể điều chỉnh lãi suất theo cách thức này là những quốc gia phát triển với hệ thống các NHTM mạnh, khả năng thanh khoản cao, thị trường tiền tệ phát triển ổn định và hệ thống các quy định về lãi suất là đầy đủ, chặt chẽ Đối với quốc gia chưa đáp ứng được một phần của những yêu cầu trên thì cách thức điều hành lãi suất có thể khác biệt đôi chút, như sẽ phân tích dưới đây

Thứ hai, NHTW xác định trần lãi suất huy động còn lãi suất cho vay là tự do

Cách thức điều chỉnh này rõ ràng là không tối ưu vì nó bắt một biến số vào

“khung” nên về lâu dài sẽ có những tác động tiêu cực đến thị trường tiền tệ và nền kinh tế Bởi vì, đến một giai đoạn nào đó khi hệ thống các NHTM mạnh, khả năng thanh khoản cao, thị trường tiền tệ phát triển ổn định và hệ thống các quy định về lãi suất là đầy đủ, chặt chẽ thì “khung” pháp luật đặt ra cho lãi suất sẽ làm hạn chế

sự cạnh tranh giữa các NHTM – yếu tố quan trọng bậc nhất cho sự phát triển Tuy nhiên, có thể coi cách thức điều chỉnh này là “giai đoạn quá độ” để đi đến chính sách tự do hóa lãi suất như cách điều chỉnh thứ nhất Cách thức điều chỉnh này hiện đang áp dụng tại Việt Nam (được trình bày ở chương hai) và Trung Quốc

- Ở Trung Quốc, các loại lãi suất mang ý nghĩa là lãi suất điều hành, tức là lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn Lãi suất tái chiết khấu do Ngân hàng nhân dân Trung Quốc quy định, được xây dựng phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ (nới lỏng hoặc thắt chặt) trong từng thời kỳ Bên cạnh đó, còn có lãi suất tái cấp vốn khi Ngân hàng nhân dân Trung Quốc thực hiện cho vay tái cấp vốn đối với các NHTM mà không cần cầm cố bằng giấy tờ có giá

Cải cách lãi suất ở Trung Quốc được thực hiện trên cơ sở thị trường, lãi suất

được tự do hóa từng bước như sau: (i) Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, được

tự do hóa từ năm 1996 Theo đó, tất cả các hoạt động cho vay liên ngân hàng được

tổ chức thông qua một hệ thống mạng liên ngân hàng thống nhất, lãi suất thị trường liên ngân hàng được tự do hóa, mức lãi suất do các bên tự quyết định theo quan hệ

cung cầu vốn trên thị trường; (ii) Lãi suất thị trường trái phiếu, Ngân hàng nhân dân

Trung Quốc cho rằng thị trường trái phiếu là một bộ phận quan trọng của thị trường

Trang 32

tài chính và việc tự do hóa lãi suất thị trường trái phiếu đã tạo thành một bước tiến

quan trọng trong cải cách toàn diện lãi suất theo thị trường; (iii) Lãi suất huy động

và cho vay của các TCTD đối với nền kinh tế: Trước đây, lãi suất tiền gửi và cho vay được xác lập khi Ngân hàng nhân dân Trung Quốc xây dựng và được Hội đồng nhà nước thông qua Nhưng từ ngày 29/10/2004, trần lãi suất cho vay đã được dỡ

bỏ hoàn toàn (trừ hợp tác xã tín dụng đô thị và nông thôn) [22, Tr 30]

Trung Quốc đang thực hiện cơ chế trần lãi suất tiền gửi và sàn lãi suất cho vay

để tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng và tổ chức tài chính Các mức lãi suất trần tiền gửi và sàn cho vay chuẩn được điều chỉnh linh

hoạt để đạt được sự cân bằng trong và ngoài nước Việc quản lý sàn lãi suất cho vay

chủ yếu nhằm 2 mục tiêu chính: Hạn chế hạ thấp lãi suất kiểm soát tăng trưởng tín dụng khi nền kinh tế phát triển quá nóng; và hạn chế cạnh tranh không lành mạnh giữa các TCTD lớn với các TCTD nhỏ Việc áp dụng trần lãi suất huy động nhằm hai mục tiêu chính: Lãi suất tiền gửi không được tăng cao quá mức làm hạn chế tiêu dùng gây ra tình trạng dư cung; và hạn chế sự dịch chuyển vốn giữa các NHTM Như vậy, trong các cách thức xác định lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM được đề cập trên đây, cách thứ nhất có thể coi là hiệu quả nhất

● Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến lãi

suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Để đảm bảo cho các quy định pháp luật về lãi suất được thực thi trên thực tế, pháp luật phải quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan đến lãi suất, bao gồm quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có thẩm quyền quy định lãi suất (các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành pháp luật về lãi suất) và quyền, nghĩa vụ của các chủ thể phải tuân thủ pháp luật về lãi suất (NHTM và khách hàng) Các quyền, nghĩa vụ của các nhóm chủ thể này phát sinh trong hai nhóm quan

hệ pháp luật:

(i) Quan hệ pháp luật theo chiều dọc phát sinh giữa các chủ thể ban hành pháp luật về lãi suất (các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) với các chủ thể phải tuân thủ pháp luật về lãi suất (NHTM và khách hàng của họ) Các quyền và nghĩa vụ này thể hiện mối quan hệ bất bình đẳng giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

về lãi suất với các chủ thể phải tuân thủ pháp luật về lãi suất

Trang 33

(ii) Quan hệ pháp luật theo chiều ngang phát sinh giữa các chủ thể được quyền thỏa thuận với nhau về lãi suất trong hoạt động cho vay (NHTM và khách hàng) Các quyền và nghĩa vụ này thể hiện mối quan hệ bình đẳng giữa các bên (NHTM và khách hàng) trên tinh thần tự nguyện thỏa thuận thông qua cơ chế hợp đồng

● Các quy định về xử phạt vi phạm pháp luật về lãi suất trong hoạt động

kinh doanh của ngân hàng thương mại

Đây là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật về lãi suất, vì nếu không có các quy định về xử phạt vi phạm thì các quy định về lãi suất sẽ không được tuân thủ một cách triệt để Nhóm quy phạm pháp luật này thường chỉ rõ những hành vi nào được coi là vi phạm quy định về lãi suất; chủ thể vi phạm là ai và cách thức xử lý đối với các hành vi đó như thế nào…

Kết luận chương I

1 Lãi suất là một biến số của nền kinh tế và chịu tác động của nhiều yếu tố kinh tế, do đó, vai trò của các quy định pháp luật nhằm điều chỉnh lãi suất càng trở lên đặc biệt quan trọng

2 Qua việc tìm hiểu lãi suất cũng như cách quy định về lãi qua các lý thuyết kinh tế học, cũng như cách cách thức điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM, có thể thấy, để lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM được thay đổi theo những biến động của thị trường là tốt nhất Có nghĩa là NHTW nên xác định các loại lãi suất thực sự cơ bản – đóng vai trò là công cụ của chính sách tiền tệ, và để lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM là lãi suất thỏa thuận

3 Trong quán trình điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất, Nhà nước cần

sử dụng các công cụ kinh tế để điều chỉnh lãi suất một cách gián tiếp chứ không phải chỉ sử dụng mệnh lệnh hành chính để điều chỉnh trực tiếp lãi suất Tuy nhiên,

do đặc thù của cách thứ nhất là chỉ phù hợp với những nước phát triển với hệ thống ngân hàng mạnh, thị trường tiền tệ ổn định và hệ thống pháp luật đầy đủ chặt chẽ nên vấn đề đầu tiên với các nước đang phát triển như Việt Nam là phải xây dựng những tiền đề kinh tế, pháp lý để làm căn bản cho việc thực hiện chính sách tự do hóa lãi suất

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT

Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề Nhà nước can thiệp vào thị trường (trong

đó có thị trường tài chính) thông qua công cụ chính sách và pháp luật đã không còn

xa lạ nữa và hiện tại cũng không gây ra những tranh cãi nảy lửa như giai đoạn trước đây Tuy nhiên, đối với vấn đề lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM, việc can thiệp của Nhà nước đến đâu, bằng cách nào thì vẫn được xem là vấn đề gây

nhiều chú ý ở Việt Nam trong thời gian gần đây

Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy rằng, thông qua cơ quan đặc biệt là NHTW, giới hạn điều chỉnh của Nhà nước bằng pháp luật đối với lãi suất tiền gửi và cho vay

của NHTM được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau đây:

● Ngân hàng nhà nước can thiệp thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô

NHNN can thiệp bằng pháp luật vào lãi suất của NHTM thông qua những chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ quốc gia, chính sách tỷ giá, chính sách điều hành lãi suất tín dụng… Còn lãi suất cụ thể trong các hoạt động của NHTM sẽ do NHTM tự thỏa thuận, trên cơ sở tuân thủ định hướng về lãi suất của NHNN Sở dĩ như vậy là bởi vì, định hướng ở tầm chính sách vĩ mô đối với lãi suất

là công việc thuộc về trách nhiệm của Nhà nước, còn việc ấn định lãi suất cụ thể như thế nào lại thuộc về quyền tự do kinh doanh và tự do hợp đồng của các bên tham gia quan hệ cho vay

● Ngân hàng nhà nước định hướng lãi suất kinh doanh cho NHTM bằng

công cụ lãi suất cơ bản và lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu

Trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc chỉ can thiệp ở tầm vĩ mô, NHNN sẽ quy định

và công bố mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cơ bản trong

Trang 35

từng thời kỳ dựa trên những biến động của nền kinh tế và mục tiêu chính sách tiền

tệ để định hướng cho NHTM quy định lãi suất kinh doanh Đôi khi, trong trường hợp cần thiết NHNN có thể quy định giới hạn cụ thể về “mức trần” lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay để kiểm soát NHTM và đảm bảo quyền lợi của khách hàng, từ đó đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

● Nhà nước có cơ chế đảm bảo thực hiện pháp luật về lãi suất

Nhà nước ban hành và có cơ chế đảm bảo thực hiện các quy định về quyền tự

do thỏa thuận lãi suất giữa NHTM và khách hàng trong quan hệ cho vay cũng như quan hệ huy động vốn Các quy định này cũng thể hiện giới hạn kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung và vấn đề lãi suất trong kinh doanh ngân hàng nói riêng

● Ngân hàng nhà nước sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ

NHNN sử dụng thẩm quyền điều hành chính sách tiền tệ theo quy định của pháp luật để tác động đến lãi suất cho vay của NHTM, thông qua việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ như:

- Nghiệp vụ thị trường mở: Là việc NHNN thực hiện mua, bán ngắn hạn các

loại giấy tờ có giá của các TCTD thông qua hình thức đấu thầu Mục đích của việc mua bán này là tác động tới lãi suất của thị trường hoặc dự trữ của các TCTD Thông qua hoạt động mua, bán các giấy tờ có giá trên thị trường mở, NHNN đã tác động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất trên thị trường Hành vi mua bán giấy tờ có giá của NHNN trên thị trường mở

có thể ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường: Một

là, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầu vốn NHNN trên

thị trường tiền tệ liên ngân hàng Đến lượt nó, cung cầu tiền trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHNN thay đổi Bởi vì, khi NHNN thực hiện bán giấy tờ có giá cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân hàng tại NHNN sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng giấy tờ có giá mà NHNN bán ra Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì số tiền mua giấy tờ có giá sẽ làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng Kết quả là dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm sút tương ứng với khối lượng giấy tờ có giá mà NHNN bán ra Sự giảm sút dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm giảm khả năng cho vay của ngân

Trang 36

hàng và vì thế khối lượng tín dụng giảm dẫn đến cung tiền sẽ giảm Ngược lại, khi NHNN thực hiện mua giấy tờ có giá trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng lên Như vậy, khi NHNN thực hiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động đến dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó

ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng; hai là, việc mua bán giấy tờ có giá sẽ làm ảnh

hưởng ngay đến quan hệ cung cầu về loại giấy tờ có giá đó trên thị trường và giá cả của nó Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường

- Dự trữ bắt buộc: Là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà

nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia (Khoản 1 Điều 14 Luật NHNN) NHNN quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi tại tổ chức tín dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia NHNN quy định việc trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc, tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của từng loại hình tổ chức tín dụng đối với từng loại tiền gửi Dự trữ bắt buộc tác động tới cung ứng tiền tệ bằng cách gây ra thay đổi số nhân cung ứng tiền tệ

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên sẽ làm giảm số tiền gửi được nâng đỡ bởi một mức nhất định của cơ số tiền tệ và dẫn đến việc thu hẹp cung ứng tiền, theo quy luật cung cầu, lãi suất sẽ giảm xuống Mặt khác, tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm xuống sẽ dẫn đến một sự tăng lên của cung ứng tiền tệ do việc tạo thêm tiền gửi gấp nhiều lần, theo quy luật cung cầu, lãi suất sẽ tăng lên

- Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị

tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam (Khoản 5 Điều 6 Luật NHNN) Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước NHNN nước công bố tỷ giá hối đoái, quyết định chế độ tỷ giá, cơ chế điều hành tỷ giá

Qua việc tìm hiểu các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ như trên cho thấy ngoài nghiệp vụ thị trường mở thì các công cụ như dự trữ bắt buộc, tỷ giá hối đoái đều có tính chất mệnh lệnh hành chính cao Đây cũng là cơ sở để đánh giá thực trạng pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM (sẽ được trình bày cụ thể hơn ở phần sau của luận văn này)

Trang 37

Như vậy, cách thức để NHNN điều hành chính sách lãi suất là rất phong phú, mỗi cách có những ưu điểm và cũng có những nhược điểm nhất định, điều này phụ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Xét điều kiện Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, có thể thấy nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chúng ta cũng đang tiến hành hội nhập mạnh mẽ sau khi trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới Do đó, yêu cầu đối với cách thức điều hành chính sách là phải đảm bảo: Lãi suất – một biến số kinh tế phải tuân theo các quy luật của nền kinh tế thị trường, tức là cần đảm bảo lãi suất phải được tự do tối đa mà Việt Nam có thể thực hiện; Đồng thời, tùy từng sự thay đổi của nền kinh tế từng giai đoạn mà cách điều chỉnh cần đảm bảo cả tính linh động; Thêm vào đó, những quy định để điều hành lãi suất cũng cần đồng bộ, thống nhất, phù hợp với các quy định ở các nước khác trên thế giới Những yêu cầu trên cũng chính là cơ sở để người viết đánh giá thực trạng pháp luật về lãi suất trong

hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam

2.1.2 Đánh giá thực trạng pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam trước hết gồm những quy định mang tính định hướng chung, quy định quyền và nghĩa vụ của NHTM và khách hàng được nêu trong các văn bản luật, và văn bản luật hiện hành là Luật các TCTD và Luật NHNN Ngoài ra, với từng loại lãi suất riêng còn có những quy định cụ thể về mức, cách xác định tại các văn bản hướng dẫn thi hành của hai văn bản luật trên

Trong khuôn khổ hạn chế của luận văn này, người viết chủ trương không nhắc lại theo hướng mô tả các quy định hiện hành về lãi suất ngân hàng mà thông qua việc khảo cứu hệ thống những quy định của pháp luật về lãi suất từ trước đến nay để nêu ra và phân tích những ưu điểm cũng như các hạn chế cơ bản của pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM Đây là căn cứ để đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về lãi suất ở Việt Nam trong thời gian tới

2.1.2.1 Những ưu điểm cơ bản của pháp luật về lãi suất ngân hàng ở Việt Nam

Qua nghiên cứu các quy định hiện hành về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam, người viết cho rằng mảng pháp luật này có những ưu điểm

Trang 38

chính sau đây:

Thứ nhất, pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt

Nam đã bước đầu có những định hướng phù hợp với thông lệ quốc tế Điều này thể hiện ở các quy định về lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp

thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng

Thật vậy, với việc ban hành Luật NHNN 2010, các quy định về lãi suất ngân hàng ở Việt Nam đã có bước thay đổi về chất, theo hướng thừa nhận vai trò định hướng ở tầm vĩ mô của các loại lãi suất như: lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng Với quy định hiện nay của Luật NHNN thì lãi suất cơ bản dường như chỉ còn ý nghĩa là căn cứ để xác định thế nào là cho vay nặng lãi trong các quan hệ tín dụng giữa cá nhân và cá nhân hay trong khu vực kinh tế phi chính thức Còn vai trò định hướng cho việc hình thành lãi suất kinh doanh của NHTM thì đã thuộc về lãi suất tái cấp vốn (khi NHNN cấp tín dụng cho các TCTD), lãi suất tái chiết khấu (khi NHNN mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu của TCTD), lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng

Những thay đổi như đã phân tích ở trên đã thể hiện bước tiến trong quá trình hoàn thiện các quy định của pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh của NHTM ở Việt Nam hiện nay, làm cho pháp luật về lãi suất của Việt Nam, cũng như quy định điều hành chính sách tiền tệ ngày càng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế

Thứ hai, pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt

Nam đã thể hiện bước đầu định hướng phát triển chính sách tự do hóa lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam Điều đó thể hiện ở chỗ:

- Theo quy định hiện hành thì lãi suất cho vay giữa NHTM với khách hàng là

lãi suất thỏa thuận giữa các bên trên nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng Đây là một

bước tiến lớn trong tiến trình cải cách thể chế ngân hàng ở Việt Nam, trong đó có các quy định về lãi suất ngân hàng

Trang 39

Thật vậy, trong một thời gian dài trước đây, lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam đa phần được định theo một “mốc” do NHNN quyết định Vào giai đoạn từ năm 1982 – 1988, do chủ trương xây dựng nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung nên lãi suất cho vay được ấn định bằng các mức cụ thể (thể hiện qua Nghị định 165/HĐBT) Chuyển sang giai đoạn từ năm 1989 đến nay, Việt Nam chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế theo hướng thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì thì lãi suất cho vay được xác định khác nhau nhưng nhiều giai đoạn vẫn theo “mốc” nhất định (thể hiện ở nội dung các văn bản pháp luật chủ yếu như Quyết định số 39/1989/QĐ-HĐBT; Quyết định số 381/QĐ-NH1; Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN; Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN ngày 16/05/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam) Tuy nhiên, với việc ban hành Thông tư số 07/2010/TT-NHNN và hiện nay là Luật các TCTD thì lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam sẽ được thực hiện theo cơ chế thoả thuận giữa TCTD đối với khách hàng trên cơ sở mối quan hệ cung – cầu về vốn của thị trường và phải được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng

“2 Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật

3 Trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để bảo đảm

an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng”

(Khoản 2, Khoản 3 Điều 91 Luật các TCTD 2010)

Như vậy, mặc dù các quy định tại Khoản 3 Điều 91 Luật các TCTD và Khoản

2 Điều 12 Luật NHNN 2010 đều nhằm hạn chế sự thoả thuận trên, nhưng rõ ràng quyền tự do thoả thuận về lãi suất cho vay trong giai đoạn hiện nay là điều không thể phủ nhận

“Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác”

(Khoản 2 Điều 12 Luật NHNN năm 2010)

Ngày đăng: 31/03/2018, 21:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w