1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư người có đất bị thu hồi trong giải phóng mặt bằng thực trạng và giải pháp hoàn thiện

78 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 661,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tinh thần của người bị thu hồi đất, hiện nay, pháp luật đất đai nói chung và các quy định về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, tái định cư nói riêng đã không ngừng được sửa đổi, bổ sung, hoà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỖ PHƯƠNG LINH

PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ NGƯỜI CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI TRONG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG – THỰC TRẠNG

VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN QUANG HUY

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giúp

đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và đóng góp những ý kiến quý báu giúp cho luận văn của em được hoàn thiện hơn

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Tiến sỹ Trần Quang Huy (Trưởng phòng đào tạo – Trường Đại học Luật Hà Nội) – người đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn em thực hiện và hoàn thiện luận văn này!

Em xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Đỗ Phương Linh

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục đích nghiên cứu: 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2

4 Phương pháp nghiên cứu: 3

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 4

1.1 Khái niệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 4

1.1.1 Khái niệm về thu hồi đất 4

1.1.2 Khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 6

1.1.3 Khái niệm về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 7

1.1.4 Khái niệm về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 9

1.2 Ý nghĩa của việc hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 10

1.2.1 Đường lối, chính sách của Đảng về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 10

1.2.2 Cơ sở của việc quy định và thực thi chính sách về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 12

1.2.3 Ý nghĩa của việc hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 16

1.3 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 17

1.3.1 Khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 17

1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về hỗ trơ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 19

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 23

2.1 Các quy định chung về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 23

2.1.1 Phạm vi hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 23

2.1.2 Đối tượng được hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 24

2.1.3 Các nguyên tắc về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 25

2.1.4 Thẩm quyền thực hiện hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: 31

2.1.5 Trình tự, thủ tục hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: 31

2.2 Các quy định cụ thể về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 32

2.2.2 Hỗ trợ đối với tổ chức khi Nhà nước thu hồi đất 40

2.3 Thực trạng hỗ trợ, tái định cư ở Việt Nam 41

2.3.1 Hỗ trợ di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất ở 42

2.3.2 Hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở 43

Trang 4

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI

ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯƠC THU HỒI ĐẤT 56

3.1 Định hướng hoàn thiện các vấn đề pháp lý về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 56

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 57

3.2.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật đất đai nói chung, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng cho người dân, từ đó tạo ra sự đồng thuận của người dân khi Nhà nước thu hồi đất 57

3.2.2 Tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về giá đất cho phù hợp với thực tế, theo đúng cơ chế thị trường 58

3.2.3 Công khai hóa, minh bạch hóa quá trình thực thi pháp luật về hỗ trợ, tái định cư đồng thời với xác lập cơ chế bảo đảm tuân thủ đúng trật tự, thủ tục hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: 60

3.2.4 Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong vấn đề hỗ trợ, tái định cư 61

3.3 Các giải pháp cụ thể hoàn thiện công tác hỗ trợ, tái định cư đối với từng trường hợp khi Nhà nước thu hồi đất 63

3.3.1 Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở 63

3.3.2 Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp 67

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Từ xưa đến nay, đất đai vẫn luôn được coi là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước ta, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng

Có thể nói, đất đai có ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội khá quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trong những năm gần đây, Việt Nam đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chủ trương của Đảng ta là phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại

Để thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đó, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" thì việc chuyển một quần quỹ đất ở, đất nông nghiệp sang sử dụng với mục đích khác là một việc làm không thể tránh khỏi Tuy nhiên, hậu quả của giải phóng mặt bằng là rất nghiêm trọng, liên quan đến quyền lợi của Nhà nước, của chủ đầu tư và người bị giải phóng mặt bằng Người sử dụng đất, đặc biệt là các hộ gia đình, cá nhân có đất nằm trong khu vực phải giải phóng mặt bằng sẽ phải gánh chịu rất nhiều thiệt hại Không ít người mất đất sản xuất, mất việc làm, không còn nơi ở, khiến cho cuộc sống của họ vô cùng khó khăn

Nhận thức sâu sắc các hậu quả do việc giải phóng mặt bằng và thu hồi đất gây

ra cho người sử dụng đất, pháp luật đất đai đã có những quy định về việc giải quyết công ăn việc làm cho người bị mất đất sản xuất, giải quyết vấn đề tái định cư cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở Tuy nhiên, thực tế áp dụng các quy định này cho thấy đây là vấn đề khá nhạy cảm, khó khăn, phức tạp và thường phát sinh các tranh chấp, khiếu kiện gay gắt, kéo dài Trước đây, Nhà nước thường chỉ chú trọng vào chế định bồi thường mà chưa có những quy định cụ thể về hỗ trợ, tái định cư khi giải phóng mặt bằng Nhưng, trên thực tế, việc bồi thường đối với người bị thu hồi đất không thể bù đắp được hết các tổn thất mà họ phải gánh chịu chịu Việc bồi thường chỉ

bù đắp được một phần thiệt hại vật chất mà không thể giải quyết được các vấn đề khác Nhằm đảm bảo cho quyền lợi chính đáng, ổn định đời sống vật chất cũng như

Trang 6

tinh thần của người bị thu hồi đất, hiện nay, pháp luật đất đai nói chung và các quy định về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, tái định cư nói riêng đã không ngừng được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng các yêu cầu của quản lý và sử dụng đất trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Mặc dù vậy, các quy định này vẫn đang bộc lộ những hạn chế, những tồn tại của mình

Nhận thức được thực tiễn cũng như tính cấp thiết của vấn đề, tác giả đã lựa

chọn đề tài: "Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư người có đất bị thu hồi trong giải phóng

mặt bằng – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" để làm đề tài luận văn của mình

2 Mục đích nghiên cứu:

Đề tài được nghiên cứu nhằm đạt được những mục đích cơ bản sau đây:

- Tập hợp, hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng các quy định về hỗ trợ, tái định của khi Nhà nước thu hồi đất;

- Tìm hiểu những đặc điểm và nội dung cơ bản của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Chỉ ra những thành công và hạn chế, những khiếm khuyết còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế trong việc áp dụng pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

“Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư người có đất bị thu hồi trong giải phóng mặt bằng – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” được coi là một đề tài có nội dung nghiên

cứu rộng, phức tạp Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn, tác giả giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở những nội dung cơ bản sau:

- Nghiên cứu quan điểm, chủ trường, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Nghiên cứu các quy định hiện hành về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, đặc biệt là các quy định về hỗ trợ, tái định cư và hộ gia đình, cá nhân được

đề cập trong Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành;

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 7

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để giải quyết các yêu cầu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin;

- Phương pháp phân tích, phưong pháp so sánh luật học, được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu các vấn đề lý luận về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Phương pháp diễn dịch, phương pháp phân tích, phương pháp đánh giá, phương pháp bình luận, được sử dụng tại chương 2 khi tìm hiểu các quy định của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải, được sử dụng tại chương 3 khi nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

5 Tính mới của luận văn:

Đề tài “Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư người có đất bị thu hồi trong giải

phóng mặt bằng - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” được tác giả nghiên cứu trên

cơ sở tiếp thu và phát triển nội dung của các công trình nghiên cứu ở trình độ đại học

và trình độ thạc sĩ được thực hiện trong thời gian qua

6 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu:

Các phân tích, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học Một số giải pháp của đề tài

có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật về thu hồi đất

ở Việt Nam

7 Bố cục của luận văn:

Luận văn được chia thành 3 chương cụ thể như sau:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước

thu hồi đất;

- Chương 2: Thực trạng pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu

hồi đất;

- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà

nước thu hồi đất

Trang 8

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ, TÁI

ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

1.1 Khái niệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.1.1 Khái niệm về thu hồi đất

1.1.1.1 Khái niệm

Từ xưa đến nay, đất đai vẫn luôn có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Hiện nay, nhu cầu về đất đai ngày một tăng cao, đặc biệt là nhằm mục đích phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhu cầu đất đai để xây dựng các khu đô thị mới, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp cũng ngày càng

gia tăng “Theo tính toán, từ năm 2010 đến năm 2020, Việt Nam cần thêm 1,2 tỉ m2

nhà ở để phục vụ nhu cầu nhà ở cả khu vực nông thôn và thành thị, trung bình mỗi năm cần 100 triệu m2 nhà ở” [30, tr3] Để đảm bảo quỹ đất để phát triển đất nước thì

cần thiết phải huy động đất đai từ nhiều nguồn, trong đó có nguồn từ thu hồi đất của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân

Giáo trình luật đất đai năm 2008 của trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra

định nghĩa thu hồi đất như sau: "Thu hồi đất là văn bản hành chính của cơ quan Nhà

nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất" [14, tr 141] Ngoài ra, Luật Đất đai năm 2003 cũng đưa ra khái

niệm về thu hồi đất tại khoản 5 điều 4: "Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định

hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã được giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã , phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này"

Như vậy, thu hồi đất là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về đất đai, là việc Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hành chính thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng

1.1.1.2 Các trường hợp bị thu hồi đất

Để thực hiện sự minh bạch trong thu hồi đất, Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 cũng xác định rõ từng trường hợp bị thu hồi đất So với Luật Đất đai năm 1993, phạm

Trang 9

vi việc thu hồi đất được xác định hẹp hơn và chủ yếu phục vụ các nhu cầu quốc phòng,

an ninh, lợi ích quốc gia, mục đích công cộng và mục tiêu phát triển kinh tế đồng thời

mở rộng các khả năng cho phép tổ chức kinh tế tìm kiếm mặt bằng tổ chức sản xuất kinh doanh thông qua việc nhận chuyển nhượng hoặc thuê đất của người sử dụng đất khác mà không nhất thiết phải dùng biện pháp hành chính là thu hồi đất Việc thu hồi đất cần chia thành ba loại: thu hồi do nhu cầu của Nhà nước, thu hồi vì các lý do đương nhiên và thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai

Trong thực tiễn quản lý và sử dụng đất, bên cạnh hoạt động thu hồi đất, đôi khi Nhà nước còn thực hiện hoạt động trưng dụng đất Vấn đề trưng dụng đất cũng đã

được quy định cụ thể trong Luật Đất đai năm 2003 "Thu hồi đất và trưng dụng đất

đều là những hoạt động thể hiện quyền định đoạt đối với đất đai của Nhà nước Nếu như thu hồi đất được thực hiện vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công công cộng và một số lý do khác thì trưng dụng đất được đặt ra trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, thiên tai hoặc trong tình trạng khẩn cấp khác đe doạ nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của tổ chức, tài sản tính mạng của nhân dân" [26, tr 5] Như vậy, hai hoạt động này có điểm chung là đều dẫn đến

hậu quả pháp lý là chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai của người sử dụng đất Tuy nhiên, giữa thu hồi đất và trưng dụng đất vẫn có nhiều điểm khác biệt Thu hồi đất chấm dứt hoàn toàn quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất Còn trưng dụng đất không chấm dứt hoàn toàn quyền sử dụng đất của người sử dụng đất mà hết thời hạn trưng dụng đất hoặc khi đã thực hiện xong mục đích trưng dụng đất, Nhà nước sẽ trả lại đất và bồi thường thiệt hại cho người bị trưng dụng đất

1.1.1.3 Hậu quả pháp lý của việc thu hồi đất

Đồng thời với việc giao đất, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành những biện pháp thu hồi đất Luật đất đai quy định các trường hợp bị thu hồi đất, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi và nguyên tắc chung khi thu hồi, trưng dụng đất trong những trường hợp cần thiết Tuy nhiên, với ý nghĩa là một nội dung của quản lý nhà nước về đất đai, vai trò và sự can thiệp của Nhà nước đối với việc thu hồi đất cần phải trên cơ sở các chính sách nhất định bởi hậu quả pháp lý của việc thu hồi đất là rất nghiêm trọng, liên quan đến quyền lợi của Nhà nước, của các chủ đầu tư và của người

bị Nhà nước thu hồi đất

Trang 10

Nhà nước với tư cách là chủ đầu tư lớn nhất có nhiệm vụ xây dựng các cơ sở kinh tế hạ tầng xã hội, sử dụng đất vào mục đích công cộng, bảo vệ chủ quyền quốc gia cùng với các chủ đầu tư khác có nhu cầu sử dụng đất rất lớn Lợi ích của việc thu hồi đất giúp cho Nhà nước có một vốn đất cần thiết để sử dụng vào mục đích quốc

phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế “Dự tính cả

nước, giai đoạn 2011-2020, cần thu hồi khoảng 3,7 triệu ha, trong đó có 20-25% là diện tích đất ở” [30, tr 5]

Còn đối với người bị Nhà nước thu hồi đất, trước khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân đều có cuộc sống ổn định vì họ có đất để xây dựng nhà ở sinh sống, có đất

để sản xuất và có tư liệu sản xuất đã được thừa kế, chuyển nhượng Sau khi thu hồi đất, cuộc sống của người dân gặp phải nhiều khó khăn.Tuy nhận được sự bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư nhưng hầu như những sự bồi thường, hỗ trợ đó đa phần đều không

đáp ứng được nhu cầu của người dân bị thu hồi đất “Việc thu hồi đất trong 5 năm qua

với diện tích hơn 366.000 ha đất nông nghiệp, tác động đến gần 627.495 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và ảnh hưởng tới đời sống của hơn 2,5 triệu người, trong đó có những hộ gia đình bị đẩy vào tình trạng bần cùng hoá” [30, tr 5]

Do vậy, khi thu hồi đất đặc biệt là thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất và có nghề nghiệp chính duy nhất là nghề nông, Nhà nước cần tính toán thật cẩn trọng các nhu cầu cho phát triển kinh tế xã hội Bởi lẽ, thu hồi đất không chỉ là lấy đất để phục vụ nhu cầu phát triển mà vấn đề là đất đai liên quan đến cuộc sống sinh tồn của hàng triệu nông dân Việt Nam, liên quan đến an sinh xã hội của phần lớn dân cư Việt Nam có cuộc sống còn hết sức khó khăn, liên quan đến an ninh lương thực quốc gia và sự tồn vong của nền văn minh nông nghiệp của đất nước Mỗi dự án đầu tư, mỗi quyết định thu hồi đất đều liên quan đến tư liệu sản xuất sống còn của nông dân, vì vậy trong quan hệ lợi ích giữa phát triển kinh tế và lợi ích bền vững lâu dài của nông dân phải được cân nhắc và tính toán chính xác, không có mục tiêu vụ lợi vì một mục đích nào đó

1.1.2 Khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Theo khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003: "Bồi thường khi Nhà nước thu hồi

đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất" Như vậy, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có một số

đặc điểm sau:

Trang 11

Thứ nhất, bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bù đắp tổn thất về

quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra bởi vì, khi thu hồi đất, người bị thu hồi đất mất đi nơi ở, tư liệu sản xuất ổn định của mình Tuy được bồi thường, hỗ trợ hay tái định cư thì họ vẫn phải mất một khoảng thời gian để ổn định lại cuộc sống như trước Do vậy, việc bồi thường khi thu hồi đất được đặt ra như là trách nhiệm của Nhà nước Mục đích của việc này là để bù đắp những tổn thất về mặt vật chất cũng như tinh thần cho đối tượng có đất bị thu hồi

Thứ hai, bồi thường là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất của Nhà

nước gây ra Điều này có nghĩa là bồi thường chỉ phát sinh sau khi có quyết định hành chính về thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn thu hồi đất hiện nay Theo trình tự, thủ tục thu hồi đất do pháp luật quy định, việc tiến hành bồi thường chỉ được thực hiện khi Nhà nước đã thu hồi được diện tích đất mà mình cần Do đó, để được bồi thường, người đang sử dụng đất phải tự nguyện bàn giao lại đất cho Nhà nước hoặc bàn giao đất khi bị cưỡng chế thu hồi đất

Thứ ba, bồi thường được thực hiện trong mối quan hệ song phương giữa một

bên là Nhà nước (chủ thể có hành vi thu hồi đất) với bên kia là người chịu tổn hại về quyền và lợi ích hợp pháp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra

Thứ tư, người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu hồi đất muốn được bồi thường

về đất phải thoả mãn các điều kiện do pháp luật quy định

Thứ năm, căn cứ để xác định bồi thường là diện tích đất thực tế bị thu hồi, thiệt

hại về tài sản trên đất và giá đất do Nhà nước quy định tại thời điểm thu hồi đất

Do vậy, quan hệ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải đặt trong mối quan

hệ lợi ích Nhà nước, lợi ích của người được nhà nước giao đất, cho thuê đất và lợi ích của người bị thu hồi đất Quan hệ này phải thống nhất hài hoà vì sự phát triển, không thuần tuý là quan hệ đền bù ngang giá như trong đời sống dân sự Qua đó để thấy được đặc trưng trong việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

1.1.3 Khái niệm về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Bên cạnh thuật ngữ bồi thường, trong các văn bản pháp luật hiện hành còn đề cập đến khái niệm hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Có thể nói, bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư là ba bộ phận cấu thành chính sách của Nhà nước nhằm đảm bảo quyền lợi của người có đất bị thu hồi Các chế định này không những bù đắp cho

Trang 12

người sử dụng đất quyền lợi kinh tế họ mất đi khi thu hồi đất mà còn giúp đỡ họ trong việc tạo lập cuộc sống mới

Từ năm 2010 đến năm 2020, Việt Nam cần thêm 1 tỉ m2 nhà ở để phục vụ nhu cầu nhà ở của xã hội và qua đó mỗi năm tới đây cần xây dựng 100 triệu m2 nhà ở để

đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người dân ở cả 2 khu vực thành thị và nông thôn “Theo

thống kê, cho đến tháng 8 năm 2010, Việt Nam có 254 khu công nghiệp với tổng diện tích 68.800 hecta, 15 khu kinh tế với tổng diện tích 627.623 hecta đất” [20, tr 29]

Những con số nói trên đã khẳng định rằng, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu đất đai cho việc đầu tư xây dựng các khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế nói riêng và cho sự phát triển kinh tế nói chung của đất nước là rất cần thiết Do vậy, quỹ đất phục vụ cho công cuộc phát triển nói trên phải lấy từ nhiều nguồn trong đó có phần từ thu hồi đất của tổ chức, cá nhân và hộ gia đình

Nhu cầu sử dụng đất cho công nghiệp hóa, đô thị hóa đối với một nước còn chậm phát triển như Việt Nam là rất lớn Vấn đề đặt ra là đảm bảo sự cân đối giữa việc giữ gìn an ninh lương thực quốc gia, giữa quỹ đất nông nghiệp cho nông dân với quá

trình đô thị hóa nhanh hiện nay để nông dân không bị mất đất “Việc thu hồi đất trong

5 năm qua theo báo cáo của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn với diện tích hơn 366.000 hecta đất nông nghiệp, tác động đến gần 627.495 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và ảnh hưởng tới đời sống của hơn 2,5 triệu người, trong đó có những hộ gia đình rơi vào tình trạng bần cùng hóa” [20, tr 29] bởi những nguyên

nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, khi bị thu hồi đất, người dân được nhận một khoản tiền bồi thường,

hỗ trợ nhưng đa phần những người nông dân đó lại tiêu tốn các khoản tiền lớn này vào việc mua sắm, xây dựng nhà cửa, có tiết kiệm thì sau một vài năm họ trở nên “vô sản”

Thứ hai, trong quá trình thực hiện Nghị định của Chính phủ số 17/2006/NĐ-CP

ngày 27/01/2006 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ về thi hành Luật đất đai, một số địa phương đã giao đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp cho người dân trong trường hợp bị thu hồi trên 30% đất nông nghiệp của người trực tiếp sản xuất Mục đích của việc giao đất dịch vụ này cho người dân là để họ có

kế sinh nhai trên đất kinh doanh phi nông nghiệp, bởi vì đa phần quỹ đất này thường được các địa phương bố trí gần các trục đường giao thông, liên thôn liên xã, thuận tiện cho kinh doanh và các nghề dịch vụ Song, người được giao các suất đất dịch vụ này lại sang nhượng cho các đối tượng không trực tiếp sản xuất nông nghiệp và dùng

Trang 13

khoản tiền này cho các mục đích tiêu dùng Hậu quả là họ dần trở nên trắng tay, không còn tư liệu sản xuất và đất đai lại rơi vào giới đầu cơ đất, găm đất chờ cho các quy hoạch triển khai để thu lợi

Thứ ba, tuy tha thiết với nghề nông nhưng thực tế là không có đất cho sản xuất,

cùng với việc trình độ học vấn còn thấp, kinh nghiệm lao động trong các lĩnh vực khác không có nên đại bộ phận những hộ nông dân này lại rơi vào cảnh thất nghiệp cùng với các tệ nạn xã hội kéo theo

Từ những khía cạnh đời sống đó, trong những năm qua, đặc biệt từ sau khi ban hành Luật đất đai năm 2003, Nhà nước đã nỗ lực đưa ra nhiều quy định mới về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cho các mục tiêu phát triển Các chính sách của Nhà nước cũng chính là để an dân, ổn định vè kinh tế - xã hội và chăm

lo đời sống người lao động khi mất tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai

Cụ thể là, các quy định về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đã được ghi nhận khá sớm tại Nghị định số 151/TTg ngày 14 tháng 4 năm 1959 của Hội đồng Chính phủ quy định về thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất Tuy nhiên, phải đến Luật Đất đai

2003, định nghĩa về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất mới được quy định cụ thể Theo

khoản 7 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà

nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới”

Tuy nhiên, định nghĩa trên mới chỉ đề cập đến góc độ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và tạo công ăn việc làm mới cho người lao động mà chưa phân biệt rõ từng loại

hỗ trợ khác nhau trong trường hợp thu hồi đất ở, thu hồi đất nông nghiệp của người trực tiếp sản xuất, thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất ao, vườn không được công nhận là đất ở và các loại hỗ trợ khác Do đó, từ khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời

và có hiệu lực đến nay, các quy định của Chính phủ và hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đã có những nhận thức mới khi phân biệt các hỗ trợ khi thu hồi loại đất khác nhau và quy định về hỗ trợ không chỉ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp mà còn bằng các hình thức đa dạng như hỗ trợ bằng tiền, hỗ trợ suất đất ở, nhà ở tái định cư hoặc suất đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người bị thu hồi đất

1.1.4 Khái niệm về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 14

Tái định cư là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong sách, báo pháp lý ở nước ta hiện nay; đặc biệt là trong các quy định của pháp luật đất đai về bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành lại không đưa ra khái niệm về tái định cư Theo Điều 4 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì tái định cư được giải thích là:

“Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này mà phải

di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:

2 Bồi thường bằng giao đất mới;

3 Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới”

Căn cứ vào quy định trên, khái niệm về tái định cư có thể hiểu là: “Tái định cư

là việc người sử dụng đất được bố trí nơi ở mới bằng một trong các hình thức: bồi thường bằng nhà ở mới hoặc bồi thường bằng giao đất ở mới hoặc bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới khi họ bị Nhà nước thu hồi đất ở và phải chuyển chỗ ở” [25, tr

4]

Trên thực tế, người bị Nhà nước thu hồi đất không còn nơi ăn chốn ở, phải di chuyển đến nơi khác để sinh sống, cuộc sống khó khăn thì Nhà nước phải có trách nhiệm xã hội của mình trong việc bố trí một trong các hình thức tái định cư để người

bị thu hồi đất tạo lập cuộc sống ở nơi mới Do đó, tái định cư chính là sự sắp xếp nơi ở mới cho người bị thu hồi đất không còn đất ở hoặc tạo điều kiện để người bị thu hồi đất tự lo nơi ở mới của mình thông qua các hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước

1.2 Ý nghĩa của việc hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.2.1 Đường lối, chính sách của Đảng về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Đất đai là tài nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Ngoài ra, đất đai còn được biết đến như là yếu tố quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, là nơi để xây dựng các cơ sở kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng Dưới góc độ chính trị pháp lý, đất đai còn là lãnh thổ quốc gia và gắn liền

với chủ quyền của quốc gia “Trong pháp luật quốc tế không thể có khái niệm quốc

gia mà thiếu đi yếu tố đất đai – lãnh thổ quốc gia” [25, tr 10] Đối với một nước nông

Trang 15

nghiệp như Việt Nam, đất đai lại càng có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt Nhận thức sâu sắc về vấn đề này, ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn quan tâm đến vấn đề đất đai Chính vì lý do đó, vấn đề này luôn được ghi nhận trong các cương lĩnh và văn kiện của Đảng

Thật vậy, ngay từ khi mới thành lập và chưa giành được chính quyền, Đảng ta vẫn luôn luôn coi trọng và bảo vệ quyền lợi về đất đai cho người dân nói chung và người nông dân nói riêng Quan điểm này được thực hiện một cách nhất quán khi Cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới – giai đoạn phát triển kinh tế, kiến thiết đất nước

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 khởi xướng đã làm thay đổi căn bản nội dung chính sách, pháp luật về đất đai: đất đai từ chỗ do tập thể các hợp tác xã, các đơn vị, tổ chức của Nhà nước quản lý sau đó thực hiện việc khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động theo Chỉ thị số 100/CT-TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 13/01/1981 Kế theo đó, ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10/NQ-BCT về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, đất đai giao trực tiếp và cụ thể cho người lao động để khai thác có hiệu quả, xóa bỏ hình thức khoán lại từ hợp tác xã, tập đoàn sản xuất

Đặc biệt, đến Nghị quyết số 26 ngày 12/03/2003 của Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đề ra những chính sách quan trọng về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như:

Thứ nhất, chính sách đất đai phải đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà

đầu tư và người sử dụng đất, trong đó, cần chú trọng đúng mức lợi ích của Nhà nước, của xã hội

Thứ hai, cần thực hiện tổng hợp các biện pháp phát triển ngành nghề, đào tạo

chuyển đổi nghề nghiệp, đổi mới cơ chế sản xuất nông nghiệp và những biện pháp hỗ trợ khác để giải quyết một cách cơ bản việc làm và thu nhập cho người nông dân có đất bị thu hồi để sử dụng vào mục đích công cộng, pháp triển kinh tế

Thứ ba, khi Nhà nước thu hồi đất của cá nhân hoặc tổ chức đang sử dụng hợp

pháp để phục vụ vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

và phát triển sản xuất – kinh tế, Nhà nước cần phải thực hiện chế độ hỗ trợ, tái định cư phù hợp

Trang 16

Thứ tư, phải lập và xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi đất với những dự

án thu hồi đất đang sử dụng Đồng thời phải chú trọng đào tạo về chuyển đổi nghề cho lao động tái định cư Việc hỗ trợ, tái định cư và đào tạo việc làm được thực hiện theo nguyên tắc “bảo đảm cho người thu hồi đất đến chỗ ở mới có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”

Như vậy, các quan điểm, đường lối của Đảng về quản lý và sử dụng đất trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng đã được Luật Đất đai năm 2003 thể chế hóa, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên thực tế

1.2.2 Cơ sở của việc quy định và thực thi chính sách về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.2.2.1 Cơ sở lý luận của việc hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, vấn đề hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra trên

cơ sở quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật quy định và bảo hộ Điều

12 Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân về tài sản như

sau: “Quyền sở hữu về tài sản của công dân Việt Nam được đảm bảo” Theo đó,

quyền này tiếp tục được khẳng định trong bản Hiến pháp năm 1992 tại Điều 58:

“Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”

Như vậy, quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức đã được Hiến pháp quy định và bảo hộ Khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì toàn bộ tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thu hồi của người đang sử dụng đất đều phải bồi thường, hỗ trợ thỏa đáng Đối với trường hợp người sử dụng đất bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở, Nhà nước cần phải thực hiện chính sách tái định cư cho những người thuộc trường hợp này

Thứ hai, việc thực hiện chính sách hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất được dựa

trên bản chất của Nhà nước ta Xuất phát từ chức năng xã hội của mình, Nhà nước ta

là Nhà nước của dân, do dân và vì dân nên Nhà nước cần phải đảm bảo, phục vụ và chăm lo cho lợi ích của nhân dân Chính vì lý do đó, khi Nhà nước thu hồi đất của người dân để sử dụng vì lợi ích chung thì Nhà nước vẫn phải đảm bảo, quan tâm đến quyền và lợi ích của người dân bị thu hồi đất Việc thu hồi đất không chỉ gây ra các

Trang 17

thiệt hại về vật chất mà còn ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của người dân bị thu hồi đất Do đó, để đảm bảo cho xã hội ổn định, đời sống của người dân phát triển, bên cạnh việc bồi thường cho người dân bị thu hồi đất, Nhà nước cần phải quan tâm sâu sắc tới các chính sách hỗ trợ, tái định cư cho những đối tượng này

Thứ ba, trên thực tế, chính sách bồi thường đối với người bị thu hồi đất là chưa

đủ Thiệt hại về vật chất đối với người bị thu hồi đất là rất lớn Tuy nhiên, không phải thiệt hại vật chất nào cũng được định lượng hóa thông qua việc bồi thường Người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp từ việc mất đi đất canh tác trở thành người thất nghiệp Cuộc sống của họ cũng vì vậy mà trở nên bấp bênh hơn Đối với những hộ gia đình, cá nhân, tổ chức bị thu hồi đất ở, đất công xưởng, nhà máy thì vấn đề cấp thiết nhất đối với họ là được sớm ổn định chỗ ở mới, ổn định cuộc sống mới Việc mất đi nghề nông, phải di chuyển chỗ ở, chỗ sản xuất không chỉ liên quan tới đời sống vật chất mà còn ảnh hưởng rất lớn tới đời sống và tinh thần của người bị thu hồi đất Chính sách bồi thường không thể bù đắp được hết các tổn thất mà người bị thu hồi đất phải gánh chịu Vì vậy, khi thu hồi đất, Nhà nước không những phải hoàn trả giá trị tài sản gắn liền với đất, giá trị sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi mà còn phải có chính sách hỗ trợ nhằm đảm bảo cho quyền lợi chính đáng, ổn định đời sống vật chất cũng như tinh thần của người bị thu hồi đất

1.2.2.2 Cơ sở pháp lý của việc thực thi chính sách hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Vấn đề thu hồi đất đã được pháp luật điều chỉnh từ khá sớm Nghị định số 151/TTg ngày 14/4/1959 của Hội đồng Chính phủ quy định về Thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về đền bù thiệt hại

Bên cạnh việc đền bù, Nhà nước cũng đã đề cập tới vấn đề hỗ trợ cho người bị trưng dụng ruộng đất nhằm đảm bảo được quyền lợi và đời sống của họ Thông tư số 1972/TTg ngày 11/01/1970 quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lưu niên, các hoa màu cho nhân dân các vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố đã ghi nhận quyền được đền bù thỏa đáng của người dân Tiếp đến, Quyết định số 201/CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về tăng cường quản lý Nhà nước về đất đai cũng bổ sung một số quy định về thu hồi đất và đền bù thiệt hại khi người bị thu hồi đất không có lỗi Từ những quy định bước đầu, Nhà nước đã có sự

Trang 18

quan tâm nhất định tới vấn đề bồi thường và hỗ trợ cho người bị trưng dụng đất Tuy nhiên, các quy định này chỉ mang tính khái quát, chưa đi vào thực tiễn

Ngày 29/12/1987, Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ hai đã thông qua Luật Đất đai năm 1987, trong đó có quy định đền bù thiệt hại khi thu hồi đất tại Điều 49 khoản 5:

“Khi đất đang sử dụng bị thu hồi vì nhu cầu của Nhà nước hoặc xã hội sẽ được đền bù

thiệt hại thực tế và được giao đất khác” Cụ thể hóa quy định của Luật Đất đai năm

1987, Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ) đã ra Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/5/1990 quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trong trường hợp chuyển mục đích từ đất nông nghiệp, lâm nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác Tuy nhiên, Quyết định số 186/HĐBT quy định việc bồi thường cho nhà nước trong trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích từ đất nông nghiệp, lâm nghiệp sang

sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp Điều này khác biệt với việc nhà nước thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất cho các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia và cho mục tiêu phát triển kinh tế quan trọng của Nhà nước

Tiếp đó, Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 14/07/1993 có hiệu lực pháp lý từ ngày 15/10/1993 đã quy định rõ hơn về vấn đề bồi

thường Theo Luật Đất đai 1993, “người sử dụng đất có quyền được bồi thường thiệt

hại về đất đai bị thu hồi” (khoản 6 Điều 73) và “trong trường hợp cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,

an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại” (Điều 27) Bên cạnh đó, “trước khi thu hồi phải báo cho người đang sử dụng đất biết về lý do thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại” (Điều

28) Tuy nhiên, Luật Đất đai 1993 vẫn còn thiếu các quy định về việc giải quyết vấn

đề tái định cư, vấn đề đào tạo chuyển đổi ngành, nghề, tìm kiếm việc làm mới cho người có đất bị thu hồi

Cụ thể hóa các quy định trên, ngày 17/8/1994, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 90/CP quy định về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Thực tiễn triển khai Nghị định này cho thấy còn tồn tại nhiều bất cập Để khắc phục những tồn tại đó, ngày 24/4/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP và Bộ Tài chính ra Thông tư số 145/1998/TT-BTC ngày 4/11/1998 hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP Các văn bản này đã có những sửa đổi, bổ sung và đặc biệt là

Trang 19

quy định thêm “ngoài việc được đền bù, người bị thu hồi đất còn được trợ cấp nhằm

ổn định đời sống trong trường hợp phải di chuyển chỗ ở, di chuyển địa điểm sản xuất – kinh doanh, trả chi phí chuyển đổi nghề nghiệp, được chuyển đến khu tái định cư nếu họ có nhu cầu”

Từ sau Luật Đất đai năm 2003, các Nghị định của Chính phủ đã cụ thể hóa nhiều chính sách quan trọng về thu hồi đất Trước hết là Nghị định số 197/2004/NĐ-

CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Văn bản này nhằm tạo ra chính sách bồi thường công khai, minh bạch và đáp ứng các lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất Tuy nhiên, qua thực tế thực hiện, vấn đề lớn nhất trong các quy định về bồi thường và hỗ trợ chính là thu xếp cuộc sống và việc làm ổn định cho người lao động Bởi vậy, Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/1/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển công ty Nhà nước thành Công ty cổ phần đã quy định cụ thể việc bố trí đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp cho người bị thu hồi đất từ trên 30% diện tích đất nông nghiệp Với quy định này, người lao động khi bị mất một diện tích khá lớn đất nông nghiệp và có khó khăn về tư liệu sản xuất sẽ được bố trí đất kinh doanh dịch vụ ở vị trí thuận lợi để có nguồn sống và thu nhập Đây là chính sách thể hiện sự quan tâm từ phía Nhà nước đối với thực trạng một bộ phận người lao động bị mất đất hoặc thiếu đất nông nghiệp cần có sự hỗ trợ cần thiết để an cư và ổn định cuộc sống

Để tiếp tục hoàn thiện các quỹ định về hỗ trợ và tái định cư, Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Văn bản này lần đầu tiên đã chi tiết hóa quy trình, thủ tục về thu hồi đất Từ đó, các địa phương đã từng bước nâng mức bồi thường và hỗ trợ cho người dân khi bị thu hồi đất, đặc biệt là chính sách về hỗ trợ

Thực tế, các quy định về bồi thường, hỗ trợ vẫn chưa đáp ứng đúng yêu cầu về mặt lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người bị thu hồi đất Trong quyền lợi chung này, người bị thu hồi đất vẫn là người chịu thiệt thòi nhất Do đó, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhằm cụ thể

Trang 20

hóa hơn nữa các quy định về bồi thường, hỗ trợ phù hợp với giá đất trên thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại các địa phương Trong đó, chính sách hỗ trợ, tái định cư có nhiều quy định mới và đáp ứng tốt hơn các lợi ích của người bị thu hồi đất

Trên thực tế, các khiếu kiện về đất đai nói chung và khiếu kiện về bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng luôn tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị và dễ phát sinh thành các điểm nóng Những vụ việc xảy ra ở Thái Bình năm 1997, ở Đồ Sơn Hải Phòng năm 2006, vụ việc nóng hiện nay ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng Hải Phòng thời gian qua phần nào đã nói lên tính phức tạp của những tranh chấp khiếu kiện liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất hoặc khi Nhà nước thực thi các quy định của pháp luật đất đai

Vì vậy, việc giải quyết tốt vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là thực hiện tốt chính sách an dân để phát triển kinh tế, xã hội, góp phần vào việc duy trì, củng cố sự ổn định về chính trị

1.2.3.2 Phương diện kinh tế - xã hội

Thực tiễn cho thấy, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư luôn là công việc khó khăn

và phức tạp Các dự án chậm triển khai thực hiện theo kế hoạch, tiến độ đề ra thường

có nguyên nhân là do công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không nhận được sự đồng thuận từ phía người dân

Trang 21

Dưới góc độ kinh tế, dự án chậm triển khai thực hiện sẽ khiến chủ đầu tư bị thiệt hại đáng kể về lợi ích kinh tế do máy móc, vật tư, thiết bị không được hoạt động, người lao động không có việc làm trong khi chủ đầu tư vẫn phải trả lương, … Do vậy, việc thực hiện tốt công tác hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là điều kiện để triển khai các dự án đầu tư, góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế và nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, kinh doanh Đồng thời, duy trì được tốc

độ tăng trưởng cao và bền vững sẽ tạo điều kiện thực hiện công bằng xã hội, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, tạo tiền đề cho các bước phát triển tiếp theo

1.3 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.3.1 Khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.3.1.1 Khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về các chi phí trong quá trình tái định cư

“Kinh nghiệm của Ngân hàng Thế giới (World Bank 2004) cho thấy rằng, tái định cư có thể dẫn đến những nguy cơ nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường như: hệ thống sản xuất bị phá vỡ, người dân phải đối mặt với nguy cơ nghèo đói khi những điều kiện sản xuất và nguồn tạo thu nhập của họ mất đi, người dân có thể bị di dời đến những nơi không có việc làm hay các tài nguyên kiếm sống không có nhiều, các thiết chế cộng đồng và mạng lưới xã hội bị phá vỡ, các mối quan hệ họ hàng thân thích cũng bị ảnh hưởng; các yếu tố truyền thống, văn hóa và tình tương thân tương ái

có thể bị mất đi” [29, tr 12] Đây có thể coi là những chi phí, những tổn thất vô hình

mà người dân tái định cư phải gánh chịu bên cạnh những mất mát về nhà cửa, đất đai

và tài sản

Bên cạnh đó, ngoài những thiệt hại kể trên, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB 1995) còn nêu thêm những thiệt hại khác mà người dân tái định cư có thể gặp phải

như: “cư dân tại chỗ các khu vực tái định cư không thân thiện hay không có những nét

tương đồng về văn hóa; những khó khăn về công việc làm ăn, nơi ở mới có thể khiến cho người dân tái định cư phải khai thác tối đa đến mức kiệt quệ các tài nguyên môi trường để sinh tồn và điều này sẽ gây ra những hậu quả hết sức tai hại cho môi trường” [29, tr 13]

Như vậy, có thể thấy, đối với các tổ chức quốc tế, việc di dời, giải tỏa, tái định

cư không chỉ mang đến những thiệt hại về nhà cửa, đất đai, tài sản cho người dân bị ảnh hưởng, mà họ còn phải chịu rất nhiều thiệt hại liên quan đến kinh tế, văn hóa, xã

Trang 22

hội và môi trường Những khuyến cáo này cho thấy việc phải giải tỏa, di dời sẽ khiến cho đời sống của người dân bị đảo lộn, cuốc sống mất ổn định và môi trường cũng bị

đe dọa Do vậy, nếu không quan tâm đến các chi phí, các tổn thất “vô hình” mà người dân tái định cư phải chịu khi di dời đã nêu ở trên thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng

Bên cạnh việc đưa ra những lời cảnh báo, các tổ chức quốc tế còn đề nghị những cách thức, những giải pháp để hạn chế tối đa những thiệt hại, những chi phí vô hình mà người dân tái định cư phải gánh chịu

Tổ chức UNDP đã đưa ra sáu nguyên tắc khuyến cáo cho hai thành phố lớn của Việt Nam là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cần thực hiện trong các dự

án phát triển, trong đó có nguyên tắc cơ bản sau: nguyên tắc bồi thường “phi vật chất” cho các hộ nên được chú trọng hơn so với việc bồi thường vật chất bằng tiền Tuy nhiên, thực tế tại các dự án ở Việt Nam, các bồi thường “phi vật chất” vẫn chưa được quan tâm đúng mức Hầu hết các khung chính sách hỗ trợ di chuyển tái định cư trong thời gian qua chỉ chú trọng đến việc xác định được mức giá bồi thường, giúp đỡ tối đa cho những người sử dụng đất bị ảnh hưởng bằng vật chất (bằng tiền) Riêng về khía cạnh hỗ trợ “phi vật chất” mặc dù có được đề cập nhưng dường như chưa được chú trọng nhiều qua việc cụ thể hóa trong các hành động như tạo việc làm gắn liền với đào tạo nghề, tạo những quyền cơ bản khi đến định cư tại nơi ở mới

1.3.1.2 Khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về cuộc sống hậu tái định cư cho người

sử dụng đất

Bên cạnh việc đề cập đến những chi phí và những tổn thất vô hình, các tổ chức quốc tế còn rất quan tâm đến việc ổn định đời sống của người dân sau tái định cư

Trong sáu nguyên tắc mà UNDP khuyến cáo cho thành phố Hà Nội và thành

phố Hồ Chí Minh có nguyên tắc: “Khi bắt buộc phải tiến hành giải tỏa, di dời, trước

tiên cần phải xây dựng một kế hoạch thực hiện thật chi tiết và cụ thể, kể cả kế hoạch quản lý hậu di dời, để đảm bảo rằng những người sử dụng đất bị di dời, tối thiểu có cuộc sống tốt hơn hoặc ngang bằng so với nơi ở trước đây về khía cạnh kinh tế và xã hội” [29, tr 14]

Để có thể thực hiện đầy đủ nguyên tắc này, những người có trách nhiệm không chỉ cần quan tâm đến vấn đề nhà ở cho người tái định cư mà còn cần phải có trách nhiệm quan tâm đầy đủ và tham khảo ý kiến của chính những người được tái định cư

Trang 23

để có thể có những kế hoạch cung cấp tốt nhất và sớm nhất các cơ hội về nhà ở, về cuộc sống của người bị thu hồi đất sau khi tái định cư

Tương tự như nguyên tắc của tổ chức UNDP, Ngân hàng thế giới cũng khẳng

định rằng: “khi việc di dời không thể tránh khỏi, cần phải lên một kế hoạch tái định cư

chi tiết Tất cả các hoạt động tái định cư cần phải được bàn thảo và thực hiện nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững Người dân tái định cư cần được cung cấp đầy đủ các nguồn lực đầu tư và được tạo cơ hội hưởng lợi từ dự án Người dân tái định cư phải được bồi thường mọi thiệt hại và mất mát do phải di dời, được hỗ trợ di dời và được trợ giúp trong suốt quá trình thích nghi với nơi ở mới, và được hỗ trợ để nâng cao mức sống và thu nhập, để có cuộc sống tốt hơn hoặc ít nhất là ngang bằng so với trước tái định cư” [29, tr 15]

Như vậy, các tổ chức quốc tế đã quan tâm rất nhiều đến cuộc sống “hậu tái định cư” của người bị thu hồi đất Đối với các tổ chức quốc tế, quan trọng nhất là người thu hồi đất phải được bồi thường đầy đủ và công bằng mọi mất mát và tổn thất mà họ phải chịu Tuy nhiên, bên cạnh đó, các tổ chức quốc tế cũng đề nghị các dự án phát triển nên quan tâm đến việc trang bị đầy đủ các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, … tại nơi ở mới cho người dân tái định cư để họ có thể mau chóng ổn định được việc làm và thu nhập tại nơi ở mới, tiến tới ổn định cuộc sống

1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về hỗ trơ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.3.2.1 Singapore

Pháp luật đất đai Singapore hiện hành có quy định rằng, Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất và người dân có nghĩa vụ chấp hành quyết định thu hồi đất của Nhà nước Việc thu hồi đất của Nhà nước được thực hiện dựa trên quy hoạch tổng thể đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và tuân thủ các nguyên tắc:

- “Thu hồi đất bắt buộc để sử dụng đất vào mục đích công cộng như phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng công trình phúc lợi xã hội và chỉnh trang đô thị;

- Hạn chế việc thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân và chỉ thu hồi trong các trường hợp cần thiết;

- Việc thu hồi đất phải được sự đồng ý của Chính phủ và các thành viên Nội các Chính phủ, sau khi đã thảo luận và tham khảo ý kiến của cộng đồng;

- Việc thu hồi đất được thực hiện theo quy trình chặt chẽ do pháp luật quy định” [22, tr 60]

Trang 24

Như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định của khi Nhà nước thu hồi đất ở Singapore có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, về mức bồi thường thiệt hại: mức bồi thường thiệt hại theo pháp

luật Singapore được xác định căn cứ vào giá trị thực tế bất động sản của chủ sở hữu, các chi phí tháo dỡ, di chuyển chỗ ở hợp lý; chi phí mua nguyên liệu xây dựng nhà ở mới; thuế nhà ở mới; …

Thứ hai, trình tự tái định cư: công tác tái định cư của Singapore được thực

hiện theo trình tự rõ ràng và cụ thể Trước hết, tiến hành các bước chuẩn bị thực hiện tái định cư Theo đó, các nhân viên của Cục phát triển nhà tiến hành điều tra xã hội học một cách cẩn thận, tỉ mỉ về các hộ gia đình bị thu hồi đất ở trước khi thực hiện tái định cư Việc điều tra nhằm thu thập, xác minh các thông tin về số lượng thành viên trong hộ gia đình, nguồn thu nhập, nghề nghiệp, nơi làm việc, … Bên cạnh đó, đối với người bị thu hồi đất là cơ quan, nhà thờ, cơ sở công nghiệp – thương mại, … cũng được điều tra cẩn thận để đưa vào danh sách đối tượng được hưởng chính sách tái định

cư Việc điều tra kỹ lưỡng, thận trọng sẽ tạo căn cứ vững chắc cho quá trình thực hiện tái định cư chính xác, công bằng

Tiếp đó, người bị thu hồi đất muốn được tái định cư tại các căn hộ do Cục phát triển nhà cung cấp thì cần phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định

Thứ ba, nhà ở tái định cư: Singapore đã cung cấp nhiều loại nhà ở khác nhau

để đáp ứng nhu cầu đa dạng của đối tượng thuộc diện tái định cư Các tòa nhà cao tầng chủ yếu được Cục phát triển nhà cung cấp trong việc tái định cư Các căn hộ hạng sang hoặc căn hộ dành cho người già cũng được Cục phát triển nhà cung cấp để đáp ứng nhu cầu phong phú của hầu hết người dân Singapore Để hạn chế tình trạng mua bán, đầu cơ nhà ở kiếm lời, Chính phủ Singapore đã quy định người dân khi mua nhà

ở của Cục phát triển nhà phải sử dụng để ở sau 5 năm mới được bán và sau 10 năm (kể

từ thời điểm bán căn nhà đầu tiền) mới được mua căn nhà thứ hai của Cục phát triển nhà

1.3.2.2 Trung Quốc

Có thể nói, Trung Quốc là nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng về chính trị, kinh tế, văn hóa với Việt Nam Pháp luật Trung Quốc nói chung và pháp luật đất đai Trung Quốc nói riêng cũng có nhiều điểm tương đồng với pháp luật đất đai của Việt Nam Trong những năm qua, Trung Quốc đã có những bước tiến vượt bậc về kinh

tế để trở thành nền kinh tế thứ ba thế giới Để có được những thành tựu đó, không thể

Trang 25

không kể đến những đóng góp của pháp luật đất đai nói chung và các quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư nói riêng Vấn đề hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi được pháp luật Trung Quốc quy định như sau:

Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường: Luật đất đai Trung Quốc quy định người

nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường Phần lớn tiền bồi thường do người sử dụng đất trả Khoản tiền bồi thường này bao gồm lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền phải trả cho người có đất bị thu hồi, trong đó: các khoản bồi thường cho người sử dụng đất bị thu hồi gồm tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất đai “Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đó rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy định” [22, tr 65] Còn đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi

Thứ hai, nhà ở sau khi thu hồi đất: Trung Quốc giải quyết vấn đề nhà ở cho

người dân sau khi thu hồi đất thông qua việc trả tiền bồi thường về nhà ở Số tiền này được xác định bao gồm giá xây dựng lại nhà ở, sự chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà ở mới và nhà cũ; giá đất tiêu chuẩn; trợ cấp về giá cả

“Giá xây dựng lại nhà mới được xác định là khoản chênh lệch giữa giá trị còn lại của nhà cũ và chi phí xây dựng lại nhà mới Giá đất tiêu chuẩn do Nhà nước xác định căn cứ theo giá đất của những nhà thương phẩm trong cùng một khu vực Trợ cấp về giá cả cũng do chính quyền xác định” [24, tr 16] Khoản tiền đền bù này được

tính theo m2, cộng lại và nhân với diện tích xây dựng của nhà ở Người bị thu hồi đất

sẽ được nhận số tiền đó và có thể đi mua nhà trên thị trường Trường hợp Nhà nước có diện tích nhà tái định cư thì nếu người được bồi thường có nhu cầu sẽ được phân nhà với diện tích tương đương số tiền họ đã nhận được bồi thường

1.3.2.3 Kinh nghiệm cho Việt Nam trong vấn đề hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Thông qua việc tìm hiểu pháp luật của Singapore và Trung Quốc về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như sau:

Trước hết, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải được thực hiện dựa trên quy hoạch đất đai đã được Nhà nước phê duyệt Việc thu hồi đất cần phải được

Trang 26

thông báo trước cho người bị thu hồi đất để họ chuẩn bị các công việc di dời và sắp xếp nhằm không gây xáo trộn lớn trong sản xuất và đời sống

Đối với trường hợp thu hồi đất ở, cần quy định rõ việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất phải dựa trên nguyên tắc bảo đảm cho họ nhanh chóng có chỗ ở mới để ổn định cuộc sống Phương thức bồi thường, hỗ trợ này có thể bao gồm bồi thường, hỗ trợ bằng tiền hoặc bồi thường, hỗ trợ bằng việc giao đất ở mới

có diện tích tương đương Việc bồi thường, hỗ trợ bằng tiền phải đảm bảo cho người

bị thu hồi đất có khả năng tự lo chỗ ở mới hoặc đủ khả năng để mua hay thuê nhà ở của Nhà nước

Theo pháp luật Trung Quốc, người nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường, hỗ trợ Điều này giúp làm giảm gánh nặng ngân sách Nhà nứoc trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Đặc biệt, pháp luật Trung Quốc còn rất quan tâm đên điều kiện sinh hoạt của người bị thu hồi đất tại khu tái định

cư thông qua quy định điều kiện của khu tái định cư phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc cũng đã quan tâm đến lợi ích của người dân dân khi

bị thu hồi đất nông nghiệp Để đảm bảo công ăn, việc làm cho người nông dân bị mất đất sản xuất, pháp luật Trung Quốc đã phân biệt rõ hai nhóm đối tượng bị thu hồi đất

là nhóm đối tượng những người nông dân trong độ tuổi lao động sẽ được bồi thường,

hỗ trợ một khoản tiền để để họ tự tìm kiếm việc làm mới và nhóm đối tượng người nông dân hết tuổi lao động khi bị thu hồi đất sẽ được bồi thường, hỗ trợ một khoản tiền dưỡng lão đủ để họ duy trì cuộc sống

Bên cạnh đó, kinh nghiệm pháp luật đất đai về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất còn cho thấy việc tái định cư được thực hiện có hiệu quả thông qua chính sách nhà ở công nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đa dạng của người bị thu hồi đất Đồng thời, pháp luật cũng có những quy định cụ thể, rõ ràng nhằm hạn chế việc mua

đi bán lại nhà ở

Kết luận chương 1

Trên đây là một số vấn đề tổng quan về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Những lý luận trong chương này được sử dụng như tiền đề để nhận thức, phân tích

và đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về hỗ trợ, tái định cư đối với người

bị thu hồi đất khi Nhà nước thu hồi đất ở các chương tiếp theo

Trang 27

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI

ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 2.1 Các quy định chung về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 2.1.1 Phạm vi hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các Nghị định hướng dẫn thực hiện, việc hỗ trợ, tái định cư chỉ được thực hiện trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất

để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế theo quy định tại khoản 1 Điều 38

So với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 đã bổ sung quy định về trường hợp người bị thu hồi đất được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế Cụ thể hóa quy định này của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về Thi hành Luật đất đai, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 về Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đấy, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại

về đất đai đã quy định các trường hợp Nhà nước thu hồi đất vào mục đích phát triển kinh tế Theo đó, các trường hợp thu hồi đất vào mục đích phát triển kinh tế bao gồm:

- Sử dụng đất để đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao và khu kinh doanh tập trung khác có chế độ sử dụng đất;

- Sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư có nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);

- Sử dụng đất để thực hiện các dự án có 100% vốn đầu tư nước ngoài đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc cho phép đầu tư mà dự án đó không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

- Sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư sản xuất – kinh doanh, dịch

vụ, du lịch thuộc nhóm A theo quy định của pháp luật đầu tư đó được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc cho phép đầu tư mà dự án đó không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

- Sử dụng đất để đầu tư xây dựng các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư và dự án quan trọng do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư;

Trang 28

- Sử dụng đất để thực hiện các dự án khu dân cư (bao gồm cả dự án hạ tầng khu dân cư và dự án nhà ở)

Ngoài ra, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP còn quy định: “Nhà nước không thực

hiện việc thu hồi đất vào mục đích phát triển kinh tế đối với các dự án không thuộc quy định trên hoặc trong trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của người sử dụng đất” Như vậy,

bên cạnh việc quy định các trường hợp khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế, Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn đã mở rộng hình thức nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất hoặc trực tiếp thuê đất của người sử dụng đất

Bên cạnh đó, các trường hợp không thuộc phạm vi tái định cư cũng được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 1 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP gồm: Cộng đồng dân cư xây dựng, chỉnh trang các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước hỗ trợ và khi Nhà nước thu hồi đất không

để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế

2.1.2 Đối tượng được hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Đối tượng được hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy Nghị định

số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 về Quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi

thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định tại khoản 1 Điều 14 như sau: “trường hợp

không đủ điều kiện được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét để hỗ trợ” và tại khoản 1 Điều 19: “Đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất mà không có chỗ ở nào khác thì được giao đất hoặc nhà ở tái định cư”

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, điểm 2 phần I Thông

tư số 116/2004/TT-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị

định số 197/2004/NĐ-CP: “Tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo; hộ gia đình,

cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất và có đủ điều kiện bồi thường đất, tài sản thì được bồi thường theo quy định; trường hợp sau khi bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở thì được bố trí tái định cư”

Trang 29

Như vậy, đối tượng được hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm

tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất So với Luật Đất đai năm 1993, đối tượng được hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2003 đã được mở rộng hơn, không chỉ có tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước mà còn bao gồm cả cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất cũng được hỗ trợ, tái định cư Việc mở rộng đối tượng hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phù hợp với thực tế sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay; bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất là cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài Hơn nữa, việc mở rộng đối tượng được hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất còn phù hợp với mục tiêu đảm bảo tính tương thích về pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, đồng thời xóa dần sự khác biệt về quyền sử dụng đất giữa người Việt Nam trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Ngoài ra, điểm 2 phần I Thông tư số 116/2004/TT-BTC còn quy định rõ

“Không chi trả bồi thường, tái định cư cho người thuê, mượn đất của người có đất bị thu hồi; người nhận góp vốn liên doanh, liên kết nhưng chưa chuyển giao quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản sang tổ chức liên doanh, liên kết; các đối tượng khác không được Nhà nước giao đất, cho thuê đất”

Việc xử lý tiền hỗ trợ (nếu có) giữa người có quyền sử dụng đất hợp pháp với chủ sở hữu tài sản trên đất bị thu hồi là người thuê, mượn đất, nhận góp vốn liên doanh, liên kết sẽ được giải quyết theo quy định về quan hệ dân sự và hợp đồng thương mại đã ký kết

2.1.3 Các nguyên tắc về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

2.1.3.1 Các nguyên tắc về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Trong những năm qua, Nhà nước đã rất quan tâm tới chế định hỗ trợ, tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất Có thể nói, các quy định về hỗ trợ, tái định cư được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc đã được pháp luật ghi nhận Nguyên tắc thực hiện chính sách hỗ trợ, tái định cư là những phương hướng chỉ đạo, là cơ sở chủ yếu để dựa vào đó mà pháp luật điều chỉnh những quy định về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 30

Các nguyên tắc về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã được ghi nhận cụ thể tại Điều 14 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định được thể hiện tại các văn bản pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư được ban hành trước đây khi tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2003

Theo quy định trên, việc hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng có đủ điều kiện quy

định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10 và 11 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và các Điều 44, 45 và 46 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét để hỗ trợ Điều kiện để được bồi thường theo Luật Đất đai năm 2003 và các Nghị định hướng dẫn đã được cụ thể hóa tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-

CP và được chi tiết hóa tại Điều 3 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 1/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất Cụ thể là:

- Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

- Có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai;

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau: Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính; hoặc giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất; hoặc giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15/10/1993; hoặc giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật; hoặc giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

Trang 31

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định như trên mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến thời điểm

có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp;

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp;

- Trường hợp thu hồi đối với đất sử dụng trước ngày 15/10/1993 nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều

50 của Luật Đất đai và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất theo khoản 1 Điều 44 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP;

- Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao sử dụng trước ngày 18/12/1980 đã được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP mà thửa đất này được tách ra từ thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì thửa đất còn lại sau khi đã tách thửa mà được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận không có tranh chấp cũng được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với đất ở theo hạn mức quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP;

- Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước, nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý, mà hộ gia đình, cá nhân đó vẫn sử dụng;

- Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, chùa, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp;

- Tổ chức sử dụng đất trong các trường hợp sau đây: Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; đất nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp mà tiền trả

Trang 32

cho việc chuyển nhượng không có nguồn từ ngân sách Nhà nước; đất sử dụng có nguồn gốc hợp pháp từ hộ gia đình, cá nhân;

- Trường hợp thu hồi đối với đất đã sử dụng trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2004 nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp thì việc bồi

thường, hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định tại điều 45 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP;

- Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 1/7/2004 nhưng

người đang sử dụng đất đã nộp tiền để được sử dụng đất mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất được thực hiện theo quy định tại điều 46

Nghị định số 84/2007/NĐ-CP

Như vậy, những trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét để hỗ trợ Việc quy định hỗ trợ cho người bị thu hồi đất xuất phát từ nguyên nhân trên thực tế, vì nhiều lý do, không ít người bị thu hồi đất không đáp ứng đủ các điều kiện để được bồi thường về đất và không ít trường hợp khi

bị thu hồi đất, họ rơi vào tình cảnh khó khăn Do đó, chính sách của Nhà nước yêu cầu pháp luật cần có những quy định xem xét, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất trong trường hợp không đủ điều kiện để bồi thường Việc hỗ trợ của Nhà nước nhằm mục đích bồi thường những thiệt hại, rủi ro mà người bị thu hồi đất phải gánh chịu và giúp họ nhanh chóng ổn định được cuộc sống sau khi bị thu hồi đất

Thứ hai, Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng vào mục đích nào thì

được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất

để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá đất tại thời điểm quyết định thu hồi đất; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo quy định

Việc bồi thường bằng đất trong điều kiện hiện nay đang ngày càng trở nên khó khăn vì diện tích đất ngày càng bị thu hẹp do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, để đảm bảo lợi ích chính đáng của người bị thu hồi đất, Nhà nước sẽ bồi thường giá trị quyền sử dụng đất theo giá đất tính tại thời điểm quyết định thu hồi đất Tuy nhiên, trên thực tiễn thực thi pháp luật, giá đất để tính bồi thường được đánh giá là thấp hơn so với thực tế giá đất trên thị trường và thời điểm quyết định thu hồi

Trang 33

đất đến thời thời điểm thu hồi đất là một khoảng thời gian dài nên giá đất để tính bồi thường không còn phù hợp với thực tại

Đối với trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở tái định

cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo cách sau: trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ lớn hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền mua nhà ở tại khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch; còn trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền mua nhà ở tái định cư thì người tái định cư phải nộp phần chênh lệch trừ

trường hợp “hộ gia đình, cá nhân nhận đất đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được

bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ khoản chênh lệch đó” (khoản 1 Điều 19 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP)

Thứ ba, trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi

đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước

Theo khoản 3 Điều 107 Luật Đất đai năm 2003, người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật Nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, tiền thu từ xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai, tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản

lý và sử dụng đất đai, phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai Trường hợp các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai phải nộp lớn hơn hoặc bằng tiền được bồi thường thì số tiền được trừ tối đa bằng số tiền bồi thường Nhà nước không trừ vào tiền bồi thường tài sản; tiền hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư, hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm

Nguyên tắc này bảo đảm sự công bằng về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất với Nhà nước Nhà nước luôn tôn trọng và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người

sử dụng đất song đồng thời người sử dụng đất cũng phải thực hiện đầy đủ những nghĩa

vụ của mình đối với Nhà nước

Thứ tư, Nhà nước điều tiết một phần lợi ích từ việc thu hồi, chuyển mục đích

sử dụng đất để thực hiện các khoản hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi

Trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa hiện nay, vốn ngân sách Nhà nước gặp rất nhiều khó khăn trong việc bảo đảm kinh phí để bồi thường, hỗ trợ và tái

Trang 34

định cư người bị thu hồi đất Thực tiễn thu hồi đất cho thấy, sau khi đầu tư các dự án, ngân sách Nhà nước đã phải bỏ ra một khoản tiền rất lớn để đầu tư, nhưng giá trị gia tăng từ đất mang lại vẫn chưa được phân bổ hợp lý mà theo nhận định của nhiều người

là thường thuộc về các nhà đầu tư Do đó, trong thời gian tới, Nhà nước cần có những quy định cụ thể hơn để điều tiết một phần lợi ích từ việc thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện các khoản hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi như hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư, hỗ trợ ổn định đời sống sản xuất

2.1.3.2 Các nguyên tắc về chi trả hỗ trợ, tái định cự khi Nhà nước thu hồi đất

Các nguyên tắc này đã được quy định cụ thể hóa tại Điều 15 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP bao gồm:

Thứ nhất, tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài;

tổ chức, cá nhân nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai nếu thực hiện ứng trước tiền hỗ trợ, tái định

cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng theo phương án đã được xét duyệt thì được ngân sách Nhà nước hoàn trả bằng hình thức trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp

Thứ hai, tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ

chức, cá nhân nước ngoài được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất

có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì tiền hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã phê duyệt được tính vào vốn đầu tư của dự án

Theo đó, tổ chức chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm lập dự toán chi phí cho công tác này của từng dự án như sau:

“- Đối với các khoản chi đã có định mức, tiêu chuẩn, đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì thực hiện theo quy định hiện hành;

- Đối với các khoản chi chưa có định mức, tiêu chuẩn, đơn giá thì lập

dự toán theo thực tế cho phù hợp với đặc điểm của từng dự án và thực tế ở địa phương;

- Chi in ấn tài liệu, văn phòng phẩm, xăng xe, hậu cần phục vụ và các khoản phục vụ cho bộ máy quản lý được tính theo nhu cầu thực tế của từng dự án” (điều

26 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP)

Kinh phí đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện hỗ trợ và tái định cư được trích không quá 2% tổng số kinh phí bồi thường, hỗ trợ của dự án Đối với các dự án thực hiện trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, dự

Trang 35

án xây dựng công trình hạ tầng theo tuyến thì tổ chức được giao thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được lập dự toán kinh phí tổ chức hỗ trợ, tái định cư của

dự án theo khối lượng công việc thực tế, không khống chế mức trích 2% Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường quyết định kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho từng dự án theo quy định của pháp luật

2.1.4 Thẩm quyền thực hiện hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất:

Căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ giao

việc thực hiện hỗ trợ, tái định cư cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường “Tổ chức làm

nhiệm vụ bồi thường gồm Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cấp huyện và tổ chức phát triển quỹ định” (khoản 1 điều 25 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP) Trong đó,

Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện do lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện làm Chủ tịch Hội đồng, các thành viên gồm đại diện cơ quan Tài chính, đại diện cơ quan Tài nguyên và Môi trường, đại diện cơ quan Kế hoạch và Đầu tư, chủ đầu tư, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã có đất bị thu hồi, đại diện của những hộ gia đình bị thu hồi đất từ một đến hai người và một số thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng quyết định cho phù hợp với thực tế ở địa phương

2.1.5 Trình tự, thủ tục hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất:

Sau khi dự án đầu tư được xét duyệt hoặc chấp thuận thì Hội đồng bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm lập và trình phương

án về hỗ trợ và tái định cư theo quy định tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Nghị định

số 17/2006/NĐ-CP Phương án hỗ trợ và tái định cư cần được lấy ý kiến của người bị thu hồi đất và những người có liên quan bằng cách niêm yết công khai phương án tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và tại các điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi Việc niêm yết phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, đại diện những người có đất bị thu hồi và thời gian niêm yết và tiếp nhận ý kiến đóng góp ít nhất là 20 ngày, kể từ ngày đưa ra niêm yết

Hết thời hạn niêm yết và tiếp nhận ý kiến, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, hoàn chỉnh và gửi phương án đã hoàn chỉnh kèm theo bản tổng hợp ý kiến đóng góp đến Cơ quan Tài nguyên và Môi trường để thẩm định Trong trường hợp còn nhiều ý kiến không tán thành phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì Tổ chức làm nhiệm vụ

Trang 36

bồi thường, giải phóng mặt bằng cần giải thích rõ hoặc xem xét, điều chỉnh trước khi chuyển Cơ quan Tài nguyên và Môi trường thẩm định

Trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt và công bố công khai phương án hỗ trợ và tái định cư Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư

2.2 Các quy định cụ thể về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Theo quy định tại Nghị định số 69/2009/NĐ-CP thì cần phải phân biệt các loại

hỗ trợ sau: hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư trong trường hợp thu hồi đất ở; hỗ trợ

ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm trong trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư

và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở; hỗ trợ khác

2.2.1 Hỗ trợ đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất

2.2.1.1 Hỗ trợ đối với hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp thu hồi đất ở

Có thể nói, quyết định thu hồi đất ở có tác động rất lớn tới đời sống của người

sử dụng đất Tuy nhiên, mức độ thiệt hại đối với từng đối tượng là rất khác nhau Có những người bị thu hồi đất dẫn đến mất toàn bộ đất ở hoặc chỉ mất một phần, có thể tái định cư tại chỗ hoặc là phải tái định cư ở nơi mới, có thể không phải di chuyển chỗ ở hoặc phải di chuyển tới nơi ở mới Vì vậy, để đảm bảo được quyền lợi của người bị thu hồi đất về nhà ở, bên cạnh chính sách bồi thường, Nhà nước còn có chính sách hỗ trợ với hai hình thức: hỗ trợ di chuyển và hỗ trợ tái định cư

* Hỗ trợ di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất ở

Việc di chuyển từ nơi ở cũ đến nơi ở mới hoặc từ cơ sở cũ đến cơ sở mới đều phát sinh thiệt hại nhất định cho người bị thu hồi đất Chủ thể bị thu hồi đất có thể là

tổ chức, cá nhân, hộ gia đình Họ phải tháo dỡ nhà ở, công trình xây dựng hoặc các cơ

sở vật chất của doanh nghiệp để đến nơi ở mới Ngay từ Nghị định số

197/2004/NĐ-CP, Nhà nước đã có những quy định về hỗ trợ di chuyển cho các hộ gia đình, cá nhân

bị thu hồi đất với mức cao nhất 3.000.000 đồng/ hộ khi phải di chuyển trong phạm vi tỉnh, thành phố và cao nhất là 5.000.000 đồng/ hộ khi phải di chuyển sang tỉnh, thành phố khác Bên cạnh đó, những trường hợp không có chỗ ở nào khác thì sẽ được Nhà nước hỗ trợ chỗ ở tạm hoặc tiền thuê nhà Hình thức hỗ trợ di chuyển của Nhà nước

Trang 37

không nhằm bù đắp hoàn toàn thiệt hại mà hộ gia đình, cá nhân phải chịu khi bị thu hồi đất mà chỉ nhằm mục đích giúp đỡ, giảm đi những thiệt hại mà họ phải chịu

Hiện nay, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP đã có quy định thay thế các quy định tại Điều 27 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP Theo đó, Điều 18 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định:

“1 Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ kinh phí di chuyển

3 Người bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở khác thì trong thời gian tạo lập chỗ

ở mới (bố trí tái định cư) được bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở

4 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức hỗ trợ cụ thể quy định tại khoản 1,

2, 3 điều này”

Có thể nói, quy định mới của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP đã tiếp tục ghi nhận

hỗ trợ di chuyển của Nhà nước đối với hộ gia đình, cá nhân khi bị Nhà nước thu hồi đất Ngoài ra, trong quá trình di chuyển chỗ ở cũng cần phân biệt trường hợp có thể thu xếp chỗ ở mới ổn định trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới với trường hợp không

có chỗ ở nào khác cần sự hỗ trợ của Nhà nước Đối với trường hợp này, họ sẽ được bố trí vào khu tái định cư, khu nhà tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà Tuy nhiên, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP đã không đưa ra mức hỗ trợ cụ thể mà lại trao quyền quyết định mức

hỗ trợ cụ thể cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

* Hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở

Mỗi gia đình, mỗi cá nhân đều có một chốn sinh sống để an cư, ở đó gắn với phong tục, tập quán, truyền thống, thói quen sinh hoạt và môi trường văn hóa riêng biệt Do đó, di chuyển để sinh sống ở một nơi mới, với tập quán mới, cơ sở vật chất mới và điều kiện sống mới là những vấn đề luôn được người bị Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở quan tâm Về nguyên tắc, các chính sách về bồi thường, hỗ trợ phải tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất có cuộc sống ở nơi ở mới phải bằng hoặc tốt hơn so với nơi ở cũ cùng với điều kiện sống phải tốt hơn, cơ sở hạ tầng tốt hơn tại nơi tái định cư Từ đó, người bị thu hồi đất mới hoàn toàn yên tâm với cuộc sống khi

di chuyển đến nơi ở mới

Cụ thể hóa chính sách tái định cư, Luật Đất đai năm 1993, Nghị định số 22/1998/NĐ-CP cũng đã đề cập đến vấn đề này Tiếp đó, Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ra đời đã có những quy định rõ ràng và cụ thể hơn

Trang 38

trách nhiệm của các cơ quan nhà nước phải quan tâm và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của những đối tượng được bố trí tái định cư Cụ thể, Điều 34 Nghị định số 197/2004/NĐ-

án bố trí tái định cư

2 Ưu tiên tái định cư tại chỗ cho người bị thu hồi đất tại nơi có dự án tái định

cư, ưu tiên vị trí thuận lợi cho các hộ sớm thực hiện giải phóng mặt bằng, hộ có vị trí thuận lợi tại nơi cũ, hộ gia đình chính sách

3 Tạo điều kiện cho các hộ vào khu tái định cư được xem cụ thể khu tái định cư

và thảo luận công khai về dự kiến bố trí tái định cư quy định tại khoản 1 điều này”

Đồng thời, khoản 3 Điều 35 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP cũng bổ sung thêm

quy định: “Trước khi bố trí đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân, khu tái định cư phải

được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ bảo đảm đủ điều kiện cho người sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ” Ngoài ra, tại mục 7, Chỉ thị số 05/2006/CT-TTg ngày 22/2/2006,

Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ đạo: “Làm tốt công tác tái định cư, dành diện tích tại

những vị trí thuận lợi, kể cả bên cạnh các khu công nghiệp (trừ những nơi do yêu cầu bảo vệ môi trường hoặc do quá hạn hẹp về quỹ đất) để bố trí tái định cư, bảo đảm cho những hộ có đất bị thu hồi có chỗ ở mới ở khu tái định cư Trong việc lập quy hoạch các khu công nghiệp, chỉnh trang, mở rộng khu đô thị hoặc khu dân cư nông thôn, cần chú ý dành quỹ đất cho tái định cư tại chỗ Từ nay, các địa phương không được cưỡng chế buộc tháo dỡ nhà ở khi người bị thu hồi đất chưa được giải quyết chỗ tái định cư” Tiếp đó, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP lần đầu tiên ghi nhận hình thức hỗ trợ tái

định cư Đây được coi là chính sách hỗ trợ quan trọng nhằm giúp hộ gia đình, cá nhân

bị thu hồi đất ổn định chỗ ở mới Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP đã

quy định: “Nhà ở, đất ở tái định cư được thực hiện theo nhiều cấp nhà, nhiều mức

diện tích khác nhau phù hợp với mức bồi thường và khả năng chi trả của người được tái định cư”

Các quy định trên đã lượng hóa việc tái định cư cho người bị thu hồi đất Đối với nhà ở tái định cư không thể có mô hình chung cho mọi đối tượng thụ hưởng suất

Trang 39

nhà ở tái định cư bởi vì diện tích nhà đất bị thu hồi của các hộ gia đình không giống nhau, số nhân khẩu khác nhau, khả năng chi trả của từng gia đình cũng khác nhau Do

đó, nhà ở tái định cư sẽ có quy mô, diện tích khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người bị thu hồi đất Mặt khác, đối với đất tái định cư, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trng ương cũng cần có những quy định về hạn mức giao đất ở tái định cư hoặc suất đất ở tái định cư trong trường hợp có quỹ đất Các quy định phải công khai trên cơ sở nguyên tắc công bằng, có tính đến số diện tích từng hộ bị thu hồi

Bên cạnh việc quy định về đối tượng được giao đất ở hoặc được nhận nhà ở tái

định cư, pháp luật đất đai cũng xác định rõ khoản tiền chênh lệch trong ba trường hợp sau:

Thứ nhất, nếu số tiền bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị suất tái định cư tối

thiểu: khi đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ cho người bị thu hồi phần chênh lệch

Thứ hai, nếu người bị thu hồi đất không nhận nhà ở, đất ở tái định cư: khi đó,

người bị thu hồi đất sẽ được hỗ trợ phần chênh lệch giữa giá trị số tiền bồi thường, hỗ trợ và suất đất ở, nhà ở tái định cư mà họ không nhận

Thứ ba, hộ gia đình, cá nhận tự lo được nhà ở, đất ở mà không nhận phần

chênh lệch giữa tiền bồi thường, hỗ trợ với suất đất ở, nhà ở tái định cư: trong trường hợp này, hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ một khoản tiền tương đương suất đầu tư hạ tầng tính cho mỗi hộ gia đình, cá nhân tại khu tái định cư tập trung

Quy định này được đánh giá là đã tạo ra rất nhiều thuận lợi cho các hộ gia đình,

cá nhân bị thu hồi đất Những người dân khi bị thu hồi đất ở đều có điều kiện để có nơi định cư mới phù hợp với điều kiện của bản thân Những hộ gia đình, cá nhân có số tiền được bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ phần chênh lệch, đảm bảo cho mọi người dân đều có chỗ ở ổn định Nhiều địa phương còn có chính sách cho người dân bị thu hồi đất nếu cả khoản bồi thường,

hỗ trợ khi thu hồi đất và phần chênh lệch không đủ mua suất tái định cư tối thiểu thì có thể mua dưới hình thức trả góp

2.2.1.2 Hỗ trợ đối với hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp thu hồi đất nông nghiệp

Hiện nay, thu hồi đất nông nghiệp luôn là đề tài có nhiều ý kiến trái chiều trong

dư luận Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất quan trọng bậc nhất đối với ngành nông nghiệp, vốn là ngành chiếm hơn 50% tỉ trọng ngành nghề và hơn 70% lao động ở nước

ta Thu hồi đất nông nghiệp sẽ dẫn tới nhiều hậu quả mà việc giải quyết vô cùng phức tạp và lâu dài Vấn đề đặt ra hiện nay khi thu hồi đất nông nghiệp là ổn định đời sống

và sản xuất, giải quyết vấn đề việc làm cho lực lượng lao động nông thôn bị mất tư

Ngày đăng: 31/03/2018, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w