1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về đấu thầu mua sắm công những vấn đề lý luận và thực tiễn

71 407 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 554,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Vấn đề chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng” của tác giả Nguyễn Trí Dũng đăng trên Tạp chí Luật học số 10/2006; “Những thủ đoạn tham nhũng phổ biến trong lĩnh vực xây dựng cơ bản” c

Trang 1

PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU MUA SẮM CÔNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS VŨ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI 2011

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ NHƯ TRANG

Trang 2

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo - Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giảng dạy chuyên ngành Luật Kinh

tế

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Lan Anh đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đồng thời tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

đã tạo điều kiện cho tôi trong việc thu thập số liệu thống kê để có thể hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

Học viên Nguyễn Thị Như Trang

Trang 3

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: Những vấn đề lý luận về đấu thầu mua sắm công và

pháp luật đấu thầu mua sắm công

7

1.2 Khái quát về pháp luật đấu thầu mua sắm công 19 Chương 2: Thực trạng pháp luật về đấu thầu mua sắm công và

thực tiễn áp dụng ở Việt Nam

26

2.1 Những quy định của pháp luật về đầu thầu mua sắm công 26

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật đấu thầu trong hoạt động mua sắm

công

39

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu thầu

mua sắm công và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đấu thầu

mua sắm công ở Việt Nam

3.3 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đấu

thầu mua sắm công

60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mua sắm trong lĩnh vực công là một trong những nhiệm vụ quan trọng của mọi chính phủ trên thế giới Thông thường, hoạt động mua sắm chiếm 20% chi tiêu của chính phủ Theo Tạp chí Tài chính điện tử số 74 ngày 15/08/2009, ở các nước đang phát triển, con số này có thể lên tới 50%

Ở Việt Nam, nhu cầu mua sắm công để phục vụ hoạt động của các

cơ quan, tổ chức, đơn vị Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn Chỉ tính riêng ngân sách Trung ương năm 2009 (số dự toán), tổng chi cân đối ngân sách Trung ương là 314.544 tỷ đồng, trong đó chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính sự nghiệp là 160.231 tỷ đồng (chiếm 51% tổng số chi), trong số này, khoảng 20% được sử dụng để mua sắm tài sản [40] Các lĩnh vực có tổng chi và số chi mua sắm tài sản, hàng hoá nhiều là quốc phòng, an ninh, giáo dục đào tạo, dạy nghề, y tế, khoa học, công nghệ, văn hoá, thể dục thể thao và quản lý hành chính Nhà nước

Chính vì mua sắm công chiếm một phần lớn trong tổng chi ngân sách Nhà nước nên đây cũng là lĩnh vực dễ nảy sinh thất thoát và sử dụng sai mục đích chi ngân sách Nếu không quản lý tốt thì đây là “cánh cửa” cho tham nhũng, biến “tiền công” thành “tiền riêng” Việc làm thế nào để quản lý chặt chẽ được mua sắm còn đang làm đau đầu các nhà quản lý

Nhằm mục đích đảm bảo tính công khai, minh bạch trong mua sắm công, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau, trong đó đấu thầu chính

là một công cụ hữu hiệu nhất Đấu thầu giúp cho việc mua sắm, thực hiện công việc được hiệu quả nhất, tránh thất thoát, lãng phí, đồng thời đảm bảo cho các nhà thầu được tự do cạnh tranh trong môi trường bình đẳng, công bằng và minh bạch Nhờ có hoạt động đấu thầu, xã hội sẽ được lợi khi kỹ thuật được cải tiến và tiết kiệm được nhiều chi phí, nhất là trong lĩnh vực mua sắm công; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các chủ thể kinh

Trang 5

doanh Mọi chủ thể kinh doanh đều có cơ hội tham gia đấu thầu khiến nền kinh tế ngày càng trở nên minh bạch hơn, tạo niềm tin cho các doanh nghiệp phấn đấu

Nước ta đã tiến hành thực hiện đấu thầu mua sắm công hơn 10 năm nay Trong quá trình vừa học hỏi, vừa thực hiện, nước ta đã có nhiều tiến

bộ vượt bậc trong lĩnh vực này, nhiều luật cùng với các văn bản hướng dẫn được ban hành, nhiều hình thức đấu thầu được thực hiện

Tuy nhiên, do Việt Nam mới thoát khỏi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp được một thời gian chưa phải là dài, việc triển khai xây dựng chính sách cũng như thực hiện chính sách còn nhiều bất cập, đặc biệt là nhiều lề thói cũ tồn tại trong thời bao cấp vẫn còn ảnh hưởng đến hệ thống phục vụ cho mua sắm công ở nước ta Các quy định về đấu thầu mua sắm trong lĩnh vực này còn gặp nhiều vướng mắc do tính chưa phù hợp của các quy định

về trình tự, thủ tục đấu thầu so với đòi hỏi thực tế của loại hình mua sắm tài

sản này Chính vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về đấu thầu mua sắm

công - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” nhằm tìm hiểu sâu hơn các quy

định của pháp luật hiện hành trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp, góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua sắm công ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nhiều cuộc hội thảo liên quan đến pháp luật đấu thầu mua sắm công

đã được tổ chức với các quy mô lớn nhỏ khác nhau: Hội thảo “Cạnh tranh

trong mua sắm công” được tổ chức tại thành phố Đà Nẵng vào ngày 25

tháng 05 năm 2010, do Cục quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công Thương phối hợp với Ủy ban cạnh tranh Thụy Sỹ, Tổ chức CUTS international tổ

chức Hội thảo quốc tế với chủ đề “Mua sắm công và hợp tác công tư”

được tổ chức tại Hà Nội ngày 26 tháng 03 năm 2011 và do Ban chỉ đạo thực hiện Đề án 165 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước của Ban Tổ chức Trung ương tổ chức… Một số nhà khoa học cũng có những nghiên cứu, những bài viết khoa học liên quan

Trang 6

đến đấu thầu, chủ yếu về đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng như: Luận án

tiến sĩ Luật học của tác giả Hồ Hoàng Đức với đề tài “Quản lý nhà nước

trên lĩnh vực đầu tư xây dựng trong cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa” năm 2005 “Vấn đề chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng”

của tác giả Nguyễn Trí Dũng đăng trên Tạp chí Luật học số 10/2006;

“Những thủ đoạn tham nhũng phổ biến trong lĩnh vực xây dựng cơ bản”

của tác giả Lê Thanh Hóa đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân, số 5/2010…

Các tác giả chủ yếu đề cập đến các vấn đề liên quan đến khái niệm đấu thầu, giới thiệu các quy định pháp luật về đấu thầu và thực tiễn áp dụng trong một lĩnh vực cụ thể… Nhưng nhìn chung, chưa có tác giả nào tiếp cận vấn đề dưới góc độ khoa học pháp lý để nghiên cứu giải quyết các vấn

đề về đấu thầu mua sắm công một cách khái quát nhất trong tính tổng thể của hoạt động này Chính vì vậy, trong đề tài này, tác giả nghiên cứu những vấn đề cơ bản về pháp luật đấu thầu mua sắm công cũng như thực tiễn áp dụng tại Việt Nam nhằm đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật mua sắm công ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật Việt Nam về đấu thầu mua sắm công cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật đấu thầu mua sắm công Do đối tượng nghiên cứu khá rộng, bên cạnh Luật đấu thầu còn nhiều văn bản luật khác điều chỉnh hoạt động mua sắm công nên tác giả giới hạn nghiên cứu các quy định pháp luật trong Luật đấu thầu năm 2005 và một số văn bản hướng dẫn, tập trung vào một số vấn đề mang tính khái quát, cơ bản về hoạt động đấu thầu mua sắm công, một số nội dung cơ bản về pháp luật mua sắm công cũng như việc áp dụng các quy định này trong thực tế, trên cơ sở đó đánh giá những gì đã đạt được, những

gì còn vướng mắc để đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ, đề tài không nghiên cứu một số nội dung

cụ thể, chi tiết liên quan đến đấu thầu như hợp đồng trong đấu thầu

Trang 7

4 Phương pháp nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu, phân tích các quy định của pháp luật

về đấu thầu mua sắm công, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng của những quy định này trên thực tế, cho nên trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… Phương pháp phân tích tài liệu đặc biệt hữu ích cho việc đưa ra một cách nhìn nhận logic về hoạt động đấu thầu mua sắm công thông qua các quy định của pháp luật đấu thầu tại Việt Nam, cũng như hiểu được phần nào quy định của pháp luật một số nước trên thế giới về đấu thầu mua sắm công Phương pháp tổng hợp cũng được sử dụng để đánh giá mức độ tác động của các quy định này với thực tế và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Phương pháp thống kê với các số liệu cụ thể kết hợp với phương pháp phân tích sẽ giúp chúng ta có cái nhìn khái quát và đánh giá đúng thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về đấu thầu mua sắm công trên thực tế Phương pháp so sánh sẽ giúp chúng ta đánh giá ưu nhược điểm của pháp luật đấu thầu mua sắm công của Việt Nam so với các nước khác trên thế giới, đồng thời đánh giá hiệu quả thực hiện đấu thầu mua sắm công trong thực tế qua các năm từ khi Luật đấu thầu bắt đầu có hiệu lực thi hành

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Đấu thầu hiện nay là một vấn đề phức tạp và tương đối nóng, thu hút được sự quan tâm của nhiều chủ thể Mục đích của đề tài này là tìm hiểu khái quát các quy định của pháp luật Việt Nam về đấu thầu mua sắm công, xem xét thực tiễn áp dụng hình thức đấu thầu trong hoạt động mua sắm công Trên cơ sở nhận định tồn tại, hạn chế của pháp luật Việt Nam, đề xuất ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua sắm công cũng như biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu mua sắm công cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta hiện nay

Trang 8

Để thực hiện mục đích đó, tác giả đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Làm rõ khái niệm, đặc điểm của đấu thầu mua sắm công và vai trò của nó đối với nền kinh tế;

- Khảo cứu quy định của một số nước về đấu thầu mua sắm công;

- Phân tích các quy định pháp luật về đấu thầu mua sắm công;

- Đánh giá những kết quả đạt được cũng như những bất cập còn tồn tại khi áp dụng pháp luật về đấu thầu mua sắm công;

- Đưa ra định hướng hoàn thiện cũng như một số giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về mua sắm công

6 Những điểm mới của luận văn

Vì chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu những vấn đề lý luận về đấu thầu mua sắm công ở Việt nam nên luận văn có nhiều điểm mới, cụ thể như sau:

- Luận văn đã đưa ra khái niệm mua sắm công - một khái niệm chưa được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật Việt nam

- Luận văn đã tiếp cận vấn đề đấu thầu mua sắm công dưới góc độ pháp lý để nghiên cứu những vấn đề khái quát nhất của hoạt động này

- Đưa ra những đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật đấu thầu mua sắm công ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Đưa ra phương hướng hoàn thiện và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn hiện pháp luật mua sắm công cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về mua sắm công ở Việt Nam

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về đấu thầu mua sắm công và pháp luật đấu thầu mua sắm công

Trang 9

Chương 2: Thực trạng pháp luật về đấu thầu mua sắm công và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua sắm công và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đấu thầu mua sắm công ở Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU THẦU MUA SẮM CÔNG VÀ PHÁP LUẬT ĐẤU THẦU MUA SẮM CÔNG 1.1 Khái quát về đấu thầu mua sắm công

1.1.1 Đấu thầu

1.1.1.1 Bản chất pháp lý của đấu thầu

Dưới góc độ ngôn ngữ học, đấu thầu là một thuật ngữ được đưa vào nhiều cuốn từ điển Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin năm 1998 thì đấu thầu là “phương thức giao dịch đặc biệt phổ biến trong mua sắm tài sản và xây dựng công trình, trong đó người gọi thầu công bố trước yêu cầu, điều kiện hàng hóa, công trình xây dựng, người dự thầu công bố giá muốn nhận để người gọi thầu lựa chọn”[tr.610] Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, Nhà xuất bản Đã Nẵng năm

2008 thì đấu thầu là “quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng đủ yêu cầu để ký kết hợp đồng mua hàng hoặc giao làm công trình”[tr.385] Và theo Từ điểm mở Wikipedia thì đấu thầu “là một quá trình chủ đầu tư lựa chon được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình theo quy định của pháp luật [39] Như vậy, bản chất của đấu thầu đã được thừa nhận như một sự ganh đua (cạnh tranh) đáp ứng tốt nhất các điều kiện để được thực hiện một công việc nào đó, một yêu cầu nào đó

Xét về bản chất kinh tế, đấu thầu là một phương thức lựa chọn nhà thầu cung cấp hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của các chủ thể trong

xã hội Đấu thầu là phạm trù kinh tế tồn tại trong nền kinh tế thị trường, trong đó, người mời thầu đóng vai trò tổ chức để các nhà thầu cạnh tranh nhau Mục tiêu của người mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng với chi phí thấp nhất Mục tiêu của các nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hóa dịch hoặc dịch vụ đó với giá cả bù đắp các chi phí đầu vào đồng thời đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể, trong điều kiện cạnh tranh với nhiều nhà thầu khác

Trang 11

Xét trên góc độ quản lý hành chính nhà nước thì đấu thầu là khái niệm chỉ xâu chuỗi các trình tự, thủ tục mà các bên tham gia phải thực

hiện trong quá trình đấu thầu bao gồm các bước sau: chuẩn bị đấu thầu; tổ

chức đấu thầu, xét thầu; trình duyệt thẩm định; đăng ký vào hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu

Dưới góc độ luật học, có một số định nghĩa khác nhau về thuật ngữ đấu thầu trong các công trình khoa học và văn bản pháp luật Theo Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng của Nhà xuất bản Giáo dục năm 1996 thì đấu thầu “là phương thức Nhà nước hay tư nhân sử dụng khi muốn làm một công việc, mua hoặc bán một mặt hàng nào đó, sẽ đặt giá công khai ai nhận làm, nhận mua hoặc nhận bán với giá trị có lợi nhất cho chủ thầu thì được giao cho làm công việc đó hoặc hàng đó”[tr.127] Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2000 thì đấu thầu hàng hóa là “mua hàng thông qua mời thầu nhằm lựa chọn thương nhân dự thầu đáp ứng được các yêu cầu về giá cả, điều kiện kinh tế - kỹ thuật do bên mời thầu đặt ra”[tr.46-47]

Theo Điều 214 Luật thương mại năm 2005, “đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hóa, dịch vụ thông qua mời thầu nhằm lựa chọn trong số các thương nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng” Theo quy định này, đấu thầu là quá trình diễn

ra trước khi ký kết hợp đồng, có mục đích cuối cùng là ký hợp đồng

Như vậy, dưới góc độ khoa học pháp lý, "đấu thầu" có thể hiểu dưới các khía cạnh sau:

Thứ nhất, đấu thầu là một chế định của pháp luật thương mại, là toàn

bộ các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước

Trang 12

Thứ hai, đấu thầu là một loại hoạt động đặc biệt của các cơ quan, tổ

chức, cá nhân nhằm lựa chọn người đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do mình đặt ra để ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng

Đấu thầu có các đặc điểm pháp lý sau đây:

- Đấu thầu luôn gắn liền với quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Đấu thầu chỉ được tổ chức khi các chủ thể có nhu cầu mua sắm hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ với mục đích lựa chọn được người cung cấp hàng hóa, dịch vụ tốt nhất Kết quả đấu thầu là cơ sở để các bên thương thảo hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các chi tiết của hồ

sơ dự thầu (HSDT)sẽ được đưa vào trong nội dung của hợp đồng Về thực chất, đấu thầu chỉ là giai đoạn tiền hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa các bên trong hợp đồng

- Các bên trong quan hệ đấu thầu hàng hóa dịch vụ cũng chính là các bên mua và bán hàng hóa, dịch vụ Bên mời thầu (BMT)là bên (có thể là thương nhân, có thể không) có nhu cầu mua sắm hàng hóa, sử dụng dịch vụ còn bên dự thầu là các thương nhân có năng lực cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho gói thầu

Quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ luôn được xác lập giữa một BMT và nhiều nhà thầu Về nguyên tắc, số lượng nhà thầu tham dự một gói thầu luôn phải nhiều hơn một Theo nguyên tắc này thì chỉ định thầu là một trường hợp ngoại lệ trong thủ tục đấu thầu

- Hình thức pháp lý của quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là hồ sơ mời thầu (HSMT ) và HSDT HSMT là văn bản pháp lý do bên mời thầu lập, trong đó thể hiện đầy đủ những yêu cầu kỹ thuật, tài chính và thương mại của hàng hóa, dịch vụ và những điều kiện khác của gói thầu Còn HSDT thể hiện năng lực, mức độ đáp ứng của bên dự thầu trước các yêu cầu trong HSMT

Trang 13

Tóm lại, dưới góc độ pháp lý thì đấu thầu hàng hóa, dịch vụ vừa có những tính chất chung của hoạt động thương mại độc lập, lại vừa có những đặc điểm riêng so với các hoạt động thương mại khác

Cần phân biệt hoạt động đấu thầu mua sắm và hoạt động đấu giá hàng hóa, dịch vụ vì chúng có nhiều điểm khác nhau, nhưng cũng có lúc bị hiểu lẫn lộn như một khái niệm Ở Việt nam, đấu thầu là hoạt động mua, ngược lại đấu giá là hoạt động bán Trong đấu thầu, bên chủ động tổ chức cuộc thầu bên mời thầu là người mua hàng hóa, dịch vụ, công trình từ các nhà thầu BMT chủ động tổ chức hoạt động đấu thầu nhằm mua được hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt nhất, giá cả tốt nhất, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng và tiến độ đề ra Trong đấu giá, bên chủ động tổ chức phiên đấu giá nhằm bán được hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cao nhất

có thể

Trong đấu giá, đối tượng bán là rõ ràng, người mua có thể kiểm tra, đánh giá trước khi đưa ra giá mua Nhưng ngược lại, trong đấu thầu, đối tượng chào bán của nhà thầu là chỉ có trên hồ sơ và BMT chỉ kiểm tra được sản phẩm định mua sau khi nhà thầu thực hiện hợp đồng đã ký

Đấu thầu cần thiết phải có sự khống chế về giá (trừ trường hợp đặc biệt), được gọi là giá gói thầu hay dự toán BMT (bên mua) mua hàng hóa, dịch vụ của người bán (nhà thầu) đảm bảo yêu cầu nhưng trong giới hạn về nguồn lực tài chính của họ, nhà thầu đưa ra giá cao hơn khả năng tài chính của chủ thể, thì dù có tốt đến mấy thì cũng không thể trúng thầu vì vượt khả năng thanh toán của BMT Nhà thầu nào đáp ứng các yêu cầu của BMT mà có giá bán càng thấp (tính trên một mặt bằng chi phí ) thì sẽ có cơ hội chiến thắng Trái lại, đấu giá cần thiết phải khống chế giá thấp nhất khi các bên tham gia đặt giá, được gọi là giá sàn Sở dĩ như vậy là vì giá mà các bên tham gia đưa ra phải đủ bù đắp những chi phí giới hạn của chủ thể

Ai đưa ra giá cao hơn sẽ là người chiến thắng trong phiên đấu giá

1.1.1.2 Vai trò của đấu thầu trong nền kinh tế thị trường

Trang 14

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu - rộng vào nền kinh tế thế giới Điều đó càng khẳng định vai trò và tầm quan trọng của đấu thầu đối với nền kinh tế quốc dân Trước đây, chúng ta đã bắt đầu xây dựng chính sách đấu thầu từ các Quyết định và chỉ hạn định trong lĩnh vực xây lắp hoặc mua sắm hàng hoá mà chưa có một hệ thống hoàn chỉnh Đến nay, chúng ta đã xây dựng và ban hành được Luật Thương mại quy định chung

về đấu thầu Luật Đấu thầu quy định thống nhất cho cả 3 lĩnh vực đấu thầu dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá và xây lắp

Hiện nay, có thể nói đấu thầu là một công cụ quan trọng của kinh tế thị trường Cụ thể vai trò của hoạt động đấu thầu thể hiện cơ bản qua các mặt sau:

Thứ nhất, là một công cụ quan trọng của kinh tế thị trường, giúp

người mua và người bán gặp nhau thông qua cạnh tranh Thông qua hoạt động đấu thầu, những người mua có nhiều cơ hội để lựa chọn những người bán phù hợp với mình, mang lại hiệu quả cao nhất, xứng với giá trị của đồng tiền mà người mua sẵn sàng bỏ ra Đồng thời những người bán có nhiều cơ hội để cạnh tranh nhằm đạt được các hợp đồng, có thể cung cấp các hàng hóa sản xuất ra, cung cấp các kiến thức mà mình có hoặc các dịch vụ mà mình có khả năng đáp ứng nhằm tối đa hóa lợi nhuận

Thứ hai, phát triển các ngành sản xuất theo hướng chuyên môn hóa

sâu và hợp tác hóa rộng đồng thời phát triển thị trường đấu thầu Thông qua đấu thầu đã phát triển được thị trường người bán, nhiều doanh nghiệp nhà thầu lớn mạnh, nhiều doanh nghiệp được thành lập mới hoặc đặt chân vào thị trường đấu thầu, kích thích thị trường trong nước phát triển, chống được

sự độc quyền tự nhiên Các chủ đầu tư, BMT cũng được tăng cường về năng lực, họ có kiến thức, thông tin và trở thành người mua ngày một thông thái hơn Bên cạnh đó, hoạt động đấu thầu góp phần tạo động lực cho

sự phát triển nhờ tăng cường sự công khai, minh bạch, công bằng, hiệu quả

và thúc đẩy cạnh tranh;

Trang 15

Thứ ba, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh

nghiệm giữa các quốc gia, các tổ chức phát triển với các quốc gia đang phát triển Hoạt động đấu thầu không chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp mà được diễn ra trên toàn thế giới

Chính vì hoạt động đấu thầu không chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp nên

nó cũng có tầm quan trọng nhất định trong quá trình toàn cầu hoá Cụ thể như sau:

Thứ nhất, bên cạnh việc chúng ta là thành viên của Diễn đàn Hợp

tác Kinh tế khu vực Châu á Thái Bình Dương (APEC) và cũng đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nên Luật Đấu thầu của Việt Nam ra đời thay thế cho QCĐT trước đây cho phép công tác tổ chức đấu thầu của Việt Nam dễ dàng hơn khi họ tổ chức đấu thầu quốc tế Và do đó các nhà thầu Việt Nam cũng đỡ tốn công sức khi tham dự các gói thầu quốc tế do các nước thành viên của APEC, WTO tổ chức, vì những quy định đó ngày càng phù hợp hơn với các quy định đấu thầu của các nước thành viên APEC, WTO Ngược lại, các nhà thầu quốc

tế là thành viên của các tổ chức APEC, WTO cũng thuận lợi hơn khi họ tham dự đấu thầu quốc tế các gói thầu do Việt Nam mời thầu

Thứ hai, với các tổ chức quốc tế lớn như Ngân hàng Thế giới (WB),

Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), việc thông qua Luật Đấu thầu của Việt Nam đảm bảo việc mua sắm công của nước ta tiến sát hơn với những quy định của các tổ chức này Việc đấu thầu đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu của các tổ chức này càng làm tăng

uy tín và tạo niềm tin của các tổ chức đó đối với Việt Nam Quá trình đấu thầu càng ngày càng được minh bạch hơn, công bằng hơn, hiệu quả hơn là

cơ sở để thu hút ngày càng nhiều các khoản tín dụng ưu đãi và cả các nguồn tài trợ không hoàn lại cho công cuộc phát triển đất nước của các tổ chức trên

Trang 16

Thực tế, trong nhiều năm qua, WB, ADB và JBIC đã không ngừng tăng cường hỗ trợ quá trình cải cách và đổi mới của Việt Nam bằng cả vật chất và tư vấn luật pháp làm cho công tác đấu thầu của Việt Nam ngày càng hiệu quả hơn, minh bạch hơn và do đó tăng được lòng tin của Thế giới vào tiến trình đổi mới và cải cách của Việt Nam Điều này dòi hỏi việc xây dựng, hoàn thiện Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như việc phổ biến truyền, nghiên cứu, học tập để quán triệt và thi hành tốt Luật Đấu thầu là một đòi hỏi cấp thiết

1.1.1.3 Phân loại đấu thầu

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau mà có các cách phân loại đấu thầu khác nhau

- Căn cứ vào đối tượng được mời tham gia đấu thầu mà chia thành đấu thầu rộng rãi (không hạn chế số lượng người tham gia) và đấu thầu hạn chế (chỉ mời một số nhà thầu)

Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn tạo ra sự cạnh tranh cao

nhất, do vậy sẽ đưa tới hiệu quả tốt nhất Theo hình thức này, không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự, trong HSMT không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu nào đó

Đấu thầu hạn chế được áp dụng cho một số gói thầu khi có tính đặc

thù như yêu cầu của nhà tài trợ, chỉ có một số nhất định nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu do gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật

- Căn cứ vào cách thức mở thầu mà người ta chia thành đấu thầu một túi hồ sơ và đấu thầu hai túi hồ sơ

Đấu thầu một túi hồ sơ: Đề xuất về kỹ thuật và tài chính đồng thời

để trong một túi hồ sơ dự thầu và được mở cùng một lúc (xét theo điểm, cả tài chính và kỹ thuật đều được cho điểm, nhà thầu nào đạt điểm tổng kết cao hơn thì trúng thầu)

Trang 17

Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ thường được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC Nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc mở thầu được tiến hành một lần (Khoản 2 Điều 26 Luật đấu thầu)

Đấu thầu hai túi hồ sơ: Áp dụng cho đấu thầu tư vấn, theo đó, đề

xuất về kỹ thuật và tài chính để trong hai túi hồ sơ dự thầu khác nhau, túi

kỹ thuật được mở trước, nếu đáp ứng thì mới mở túi tài chính Theo phương thức này, vấn đề kỹ thuật được đặt lên hàng đầu, vượt qua chấm thầu về kỹ thuật mới có cơ hội vào vòng xét tài chính

- Căn cứ vào phương thức đấu thầu mà chia thành đấu thầu một giai đoạn và đấu thầu hai giai đoạn

Đấu thầu hai giai đoạn: Phương thức này áp dụng cho những

trường hợp sau: Các gói thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp có giá từ 500 tỷ đồng trở lên; Các gói thầu mua sắm hàng hóa có tính chất lựa chọn công nghệ thiết bị toàn bộ, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật hoặc gói thầu xây lắp đặc biệt phức tạp; Dự án thực hiện theo Hợp đồng chìa khóa trao tay Trong phương thức này, hai giai đoạn đó là: Giai đoạn sơ tuyển lựa chọn nhà thầu và Giai đoạn đấu thầu

Đấu thầu một giai đoạn: Đối với các dự án thông thường, chỉ

thực hiện một giai đoạn trong đấu thầu Các bên sẽ không tiến hành giai đoạn sơ tuyển lựa chọn nhà thầu mà thực hiện một giai đoạn, đó là giai đoạn đấu thầu

- Căn cứ vào đối tượng của hoạt động đấu thầu mà chia thành đấu thầu mua bán tài sản; đấu thầu cung ứng dịch vụ

Đấu thầu mua bán tài sản lại chia thành đấu thầu mua sắm công sản

(mua bán tài sản từ nguồn vốn nhà nước) và mua bán các tài sản khác

Đấu thầu cung ứng dịch vụ được chia thành các loại dịch vụ khác

nhau tùy theo lĩnh vực dịch vụ như xây dựng, kiểm toán, giám định, tư vấn,

Trang 18

nghiên cứu… Đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng được chia thành dịch vụ tư vấn, dịch vụ xây lắp, dịch vụ thiết kế, dịch vụ giám sát…

- Căn cứ vào việc có chia nhỏ dự án hay không mà chia thành đấu thầu cả dự án và đấu thầu từng gói

Đấu thầu trọn gói cả dự án: đấu thầu một lần cho toàn bộ dự án Đấu thầu từng gói: chia dự án thành nhiều gói thầu và mỗi gói lại tổ

chức đấu thầu một lần riêng biệt

- Căn cứ vào quốc tịch của người tham gia đấu thầu mà chia thành đấu thầu trong nước (chỉ có nhà thầu có quốc tịch Việt Nam) và đấu thầu quốc tế (các nhà thầu có các quốc tịch khác nhau)

1.1.2 Đấu thầu mua sắm công

1.1.2.1 Khái niệm đấu thầu mua sắm công

Thuật ngữ mua sắm công được nhắc đến tại Khoản 2 Điều 214 Luật Thương mại 2005: “Các quy định đấu thầu trong Luật này không áp dụng đối với mua sắm công theo quy định của pháp luật” Nhưng mua sắm công

là gì thì Luật Thương mại, Luật Đấu thầu cũng như các văn bản pháp luật khác không đề cập đến Mua sắm được hiểu là hành động bỏ tiền để đổi lấy (thu lại) một sản phẩm hàng hóa hoặc một dịch vụ nào đó, chẳng hạn việc

bỏ tiền mua các sản phẩm như: máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liêu, hàng tiêu dùng, … Các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ này dù trực tiếp hay gián tiếp đều phục vụ cho nhu cầu của con người (cá nhân, tập thể hoặc cả cộng đồng) Nói cách khác, mua sắm là quá trình trao đổi giữa một bên là người có nhu cầu (được gọi là bên mua) và bên kia là bên có khả năng thỏa mãn nhu cầu của bên mua (được gọi là bên bán)

Nguồn vốn bỏ ra để mua sắm có thể từ ngân sách Nhà nước, từ các

tổ chức, cá nhân khác Để có thể xác định được đâu là mua sắm tư nhân, đâu là mua sắm công thì phải xem xét nguồn tiền dùng để mua sắm hàng hóa, dịch vụ đó Mua sắm hàng hóa, dịch vụ sử dụng vốn Nhà nước được coi là “mua sắm công” (public procurement), vì nó sử dụng vốn thuộc sở

Trang 19

hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân để mua sắm phục vụ lợi ích cộng đồng Như vậy, mua sắm công là mua sắm sử dụng nguồn vốn Nhà nước

Để hạn chế sự thất thoát, lãng phí khi sử dụng nguồn vốn nhà nước, hiện nay chúng ta sử dụng hình thức mua sắm thông qua đấu thầu Đấu thầu là một trong những phương thức giao kết hợp đồng gắn liền với các quy luật của nền kinh tế thị trường, thể hiện rõ nét nhất những quy luật này:

đó là quy luật cung - cầu mang tính cạnh tranh cao Đấu thầu được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ mua sắm tài sản, mua sắm công sản đến tư vấn, xây dựng…Giao kết hợp đồng với ai để mang lại hiệu quả cao nhất, có lợi nhất đồng thời cũng đáp ứng cao nhất những yêu cầu của chính mình là mục đích tổ chức đấu thầu Với càng nhiều người tham gia đấu thầu, nhà tổ chức càng có cơ hội mua bán tài sản hay thực hiện công việc theo mức giá và những điều kiện có lợi nhất, đồng thời kiểm soát tốt giá cả, điều kiện tiến hành các thủ tục giao kết hợp đồng để tránh được tham nhũng có thể xảy ra Chính vì thế đấu thầu là phương thức bắt buộc trong việc mua sắm từ nguồn vốn nhà nước ở đa số các nước văn minh trên thế giới

Theo Luật Đấu thầu của Việt Nam, đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của BMT để thực hiện gói thầu thuộc các dự

án sử dụng vốn nhà nước Kết quả của sự lựa chọn là có hợp đồng được ký kết với các điều khoản quy định chi tiết trách nhiệm của hai bên Một bên nhà thầu phải thực hiện các nhiệm vụ như nêu trong HSMT, có thể là dịch

vụ tư vấn, cung cấp hàng hóa hoặc chịu trách nhiệm xây dựng một công trình…; một bên là chủ đầu tư có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, nghiệm thu và thanh toán tiền Như vậy thực chất của quá trình đấu thầu ở Việt Nam đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước là một quá trình mua sắm - quá trình chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước

Theo Khoản 1 Điều 4 Luật Đấu thầu, vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu

Trang 20

tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do Nhà nước quản lý

Như vậy có thể hiểu đấu thầu mua sắm công là hoạt động mua sắm

sử dụng vốn của Nhà nước thông qua hình thức đấu thầu Tuy nhiên, không phải hoạt động mua sắm công nào cũng phải thực hiện thông qua đấu thầu, chỉ những hoạt động dưới đây phải thực hiện đấu thầu và chịu sự quy định của pháp luật về đấu thầu:

1 Dự án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên cho mục tiêu đầu tư phát triển, bao gồm: a) Dự án đầu tư xây dựng mới, nâng cấp mở rộng các

dự án đã đầu tư xây dựng; b) Dự án đầu tư để mua sắm tài sản kể cả thiết

bị, máy móc không cần lắp đặt; c) Dự án quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn; d) Dự án nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật; đ) Các dự án khác cho mục tiêu đầu tư phát triển;

2 Dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức

xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân;

3 Dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm phục vụ việc cải tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất, công trình, nhà xưởng đã đầu tư của doanh nghiệp nhà nước

1.1.2.2 Đặc điểm đấu thầu mua sắm công

Đấu thầu mua sắm công cũng có những đặc điểm chung của đấu thầu, bên cạnh đó nó cũng có những điểm khác biệt tạo nên đặc trưng riêng của hoạt động này:

- Trong đấu thầu mua sắm công, mục tiêu, nội dung đấu thầu mua

sắm rất rõ ràng Hoạt động đấu thầu mua sắm nhằm thực hiện công việc

thuộc các dự án được duyệt để đạt được mục tiêu cơ bản về tăng trưởng kinh tế, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, tăng cường mức sống của

Trang 21

dân cư…theo các kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế hàng năm, năm năm hoặc dài hạn Do vậy, mục tiêu của đấu thầu gắn chặt và là một hoạt động không tách rời với mục tiêu của dự án Đối với từng gói thầu cụ thể, mục tiêu thể hiện qua việc lựa chọn các nhà thầu đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ tư vấn), dịch vụ xây dựng các công trình, đào tạo, chuyển gia công nghệ Việc phải mua sắm hàng hóa; xây dựng công trình bảo đảm công năng, tính năng và hiệu năng sử dụng; cung cấp các dịch vụ đều được thể hiện rõ trong quyết định đầu tư, kế hoạch đầu tư của

dự án

- Trong hoạt động đấu thầu mua sắm công, bên mời thầu (bên mua)

là các cơ quan, đơn vị sử dụng vốn nhà nước Đó chỉ có thể là các tổ chức

đại diện cho vốn Nhà nước, chứ không thể là các cá nhân

Có thể thấy rằng đối với mỗi nhà nước, đấu thầu mua sắm công có vai trò hết sức to lớn: (i) Là một công cụ quan trọng giúp các chính phủ quản lý chi tiêu, sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước sao cho có hiệu quả

và chống thất thoát lãng phí Đó là những khoản tiền được chi dùng cho đầu tư phát triển mà có sự tham gia của các tổ chức Nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước ở một mức độ nào đó, cũng cho mục tiêu duy trì các hoạt động của bộ máy Nhà nước; (ii) Cùng với pháp luật về thực hành tiết kiêm chống lãng phí, pháp luật về phòng chống tham nhũng tạo thành công cụ hữu hiệu để chống lại các hành vi gian lận, tham nhũng và lãng phí trong việc chi tiêu các nguồn tiền của Nhà nước, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội nhờ thực hiện các hoạt động mua sắm công theo đúng luật pháp của Nhà nước; (iii) Việc chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước thông qua đấu thầu sẽ giúp các cơ quan quản lý có điều kiện xem xét quản lý và đánh giá một cách minh bạch các khoản chi tiêu do quá trình đấu thầu phải tuân thủ các quy trình chặt chẽ với sự tham gia của nhiều

Trang 22

bên; (iv) Tạo điều kiện để thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp, cơ chế “xin”, “cho” sang cơ chế cạnh tranh

1.2 Khái quát về pháp luật đấu thầu mua sắm công

1.2.1 Sự hình thành và phát triển pháp luật đấu thầu mua sắm công

Ở Việt Nam, hình thức đấu thầu đã và đang được sử dụng rộng rãi trong mua sắm công Về mặt lịch sử, hình thức đấu thầu đã xuất hiện từ thời

kỳ Pháp thuộc Khi đó các nhà thầu được gọi dưới tên các nhà thầu khoán Ở miền Bắc sau khi hòa bình lập lại năm 1954, để khôi phục và phát triển kinh

tế, nhà nước ta đã mua nhiều nhà máy, xí nghiệp của các nước XHCN bằng hình thức đàm phán trực tiếp với những nước cấp vốn Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ta đã tổ chức đấu thầu xây dựng công trình thủy lợi Dầu tiếng với vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) vào năm 1979 tại Câu lạc bộ Quốc tế Kể từ đó tới nay chúng ta đã tổ chức nhiều cuộc đấu thầu với số lượng và quy mô ngày càng lớn và chúng ta cũng dần xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động này

Lần đầu tiên, Quy chế Đấu thầu (QCĐT), ban hành kèm theo Nghị định số 43/1996/NĐ-CP và Nghị định số 93/1996/NĐ-CP) ra đời năm

1996 QCĐT lần 2 ra đời vào năm 1999 (với Nghị định số 88/1999/NĐ-CP, được bổ sung bằng Nghị định số 14/2000/NĐ-CP và Nghị định số 66/2003/NĐ-CP) Để thực thi QCĐT đã có một loạt văn bản hướng dẫn thực hiện Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có hai thông tư hướng dẫn thực hiện

đó là Thông tư số 04/2000/TT- BKH, Thông tư số 01/2004/TT- BKH; Bộ Tài chính có 02 Thông tư hướng dẫn thực hiện, đó là Thông tư 121/2000/TT- BTC và Thông tư 94/2001/TT- BTC; Bộ LĐTB&XH có Quyết định số 1037/2000/QĐ- BLĐTB&XH

Các quy định về đấu thầu được ban hành là nhằm quản lý việc chi tiêu sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước sao cho có hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí Đó là những khoản tiền được chi dùng cho đầu tư phát triển mà có sự tham gia của các tổ chức nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà

Trang 23

nước ở một mức độ nào đó, cũng như cho mục tiêu duy trì các hoạt động của

bộ máy Nhà nước

Quản lý chi tiêu sử dụng vốn nhà nước luôn luôn là vấn đề hệ trọng đối với từng quốc gia QCĐT được Chính phủ ban hành cũng nhằm vào nội dung này Nhờ thực hiện theo QCĐT, chúng ta đã có được một số thành tích, qua đấu thầu đã lựa chọn được nhà thầu có đủ kinh nghiệm, năng lực

để thực hiện gói thầu, đồng thời đảm bảo nguyên tắc là trúng giá thầu không vượt giá gói thầu Tuy nhiên, vì là một công việc mới nên bên cạnh những thành tích đã đạt được, không tránh khỏi những tồn tại, vướng mắc trong thực tế Chính vì vậy, yêu cầu xây dựng luật điều chỉnh lĩnh vực này được đặt ra cấp thiết Sự quyết tâm của Chính phủ, của Quốc hội là động lực chính để Luật đấu thầu được hình thành và thông qua trong thời gian chưa đầy 5 tháng, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đấu thầu sử dụng nguồn vốn của Nhà nước Luật đấu thầu được thông qua ngày 29/11/2005 Luật Đấu thầu gồm 6 chương với 77 điều Ngoài một số nội dung được bổ sung, phần cơ bản của Luật đấu thầu là kế thừa, phát triển từ QCĐT ban hành kèm theo các Nghị định số 88/1999/NĐ-CP, Nghị định số 14/2000/NĐ-CP & 66/2003/NĐ-CP

Cần lưu ý rằng ở Việt Nam hiện nay còn nhiều văn bản pháp luật khác cũng quy định về đấu thầu, đấu thầu mua sắm công như Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Thương mại…Trong đó Luật Thương mại 2005 là luật điều chỉnh mọi hoạt động đấu thầu trong mua bán hàng hóa và dịch vụ, trừ mua sắm công Như vậy, mua sắm công (những dự án bắt buộc phải đấu thầu) thì áp dụng theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Đấu thầu Những

dự án không bắt buộc phải đấu thầu thì chủ đầu tư có thể lựa chọn: nếu đấu thầu thì có thể áp dụng Luật Đấu thầu hoặc Luật Thương mại, nếu không đấu thầu thì ký hợp đồng với bất kỳ đối tượng nào thấy phù hợp

Trang 24

1.2.2 Nguồn và những nội dung cơ bản của pháp luật đấu thầu mua sắm công

1.2.2.1 Nguồn của pháp luật đấu thầu mua sắm công

Nguồn của pháp luật đấu thầu mua sắm công là những văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy tắc xử sự liên quan đến hoạt động đấu thầu mua sắm công Những vấn đề chủ yếu liên quan đến đấu thầu mua sắm công hiện nay được điều chỉnh chủ yếu bằng Luật Đấu thầu 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng; Quyết định 49/2007/QĐ-TTG ngày 11/04/2008 của Thủ tường Chính phủ về việc quy định các trường hợp đặc biệt được chỉ định thầu; Thông tư 63/2007/TT-BTC ngày 15/06/2007 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước bằng vốn nhà nước… Bên cạnh đó, lĩnh vực đấu thầu mua sắm công còn chịu sự điều chỉnh của một số điều ước quốc tế như Hiệp định mua sắm chính phủ của WTO (2004); Luật mẫu của UNCITRAL về mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ (1995)

1.2.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật đấu thầu mua sắm công

Pháp luật đấu thầu mua sắm công ở Việt Nam quy định về các vấn

đề cơ bản trong đấu thầu như: phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, tư cách hợp lệ của nhà thầu, điều kiện tham gia dự thầu, các hành vi bị cấm trong đấu thầu, chống khép kín trong đấu thầu, ưu đãi trong đấu thầu… Pháp luật quy định về các hình thức lựa chọn nhà thầu (7 hình thức), quy định về trình tự thực hiện đấu thầu, hủy thầu và loại bỏ hồ sơ dự thầu trong đấu thầu mua sắm công Nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu kém cạnh tranh như đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu…, pháp luật quy định rõ phải áp dụng đấu thầu rộng rãi đối với tất cả các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu, chỉ được áp dụng

Trang 25

các hình thức khác nếu có các điều kiện theo quy định của pháp luật là: Đấu thầu hạn chế; chỉ định thầu; mua sắm trực tiếp; chào hàng cạnh tranh;

tự thực hiện; lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt

Pháp luật đấu thầu quy định về nguyên tắc xây dựng hợp đồng, nội dung hợp đồng, ký kết hợp đồng, điều chỉnh và thanh toán hợp đồng mua sắm công Đồng thời, pháp luật cũng quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong đấu thầu mua sắm công, gồm có trách nhiệm và quyền hạn của người có thẩm quyền; chủ đầu tư; BMT; tổ chuyên gia đấu thầu; nhà thầu Theo đó, phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quá trình lựa chọn nhà thầu được xác định cụ thể nhằm làm rõ quyền hạn gắn liền với trách nhiệm của từng chủ thể trong quá trình thực hiện

Pháp luật còn quy định các nội dung quản lý nhà nước về đấu thầu mua sắm công, trách nhiệm và quyền hạn của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý hoạt động đấu thầu, xử

lý tình

huống trong đấu thầu, thanh tra, giải quyết các kiến nghị, yêu cầu, thắc mắc trong dấu thầu mua sắm công

1.2.3 Pháp luật về đấu thầu mua sắm công một số nước trên thế giới

Hầu hết các nước trên thế giới đều có pháp luật về đấu thầu nhưng chỉ áp dụng bắt buộc đối với việc ký hợp đồng công (Public contract) Các trường hợp còn lại không bắt buộc phải đấu thầu Việc quyết định có đấu thầu hay không tùy thuộc vào chủ đầu tư Khi chủ đầu tư tính đến hiệu quả kinh tế thì thường tự nguyện tổ chức đấu thầu, trình tự, thủ tục cũng không bắt buộc theo quy định của pháp luật đấu thầu

1.2.3.1 Đấu thầu mua sắm công ở Trung Quốc

Năm 1998, Bộ Tài chính Trung Quốc đã bắt đầu soạn thảo Luật Đấu thầu áp dụng cho mua sắm thường xuyên sử dụng Ngân sách Nhà nước Luật đấu thầu của Trung Quốc được ban hành ngày 30/08/1999, có hiệu lực

từ ngày 1/1/2000 gồm 6 chương (Quy định chung; mời thầu; dự thầu; mở

Trang 26

thầu; đánh giá, thắng thầu; trách nhiệm pháp lý; bổ sung) Luật này được áp dụng cho các dự án sau: Xây dựng; Mua thiết bị, vật tư cho các công trình xây dựng; Dự án hạ tầng lớn hoặc các công trình tiện ích công cộng; Dự án

có một phần, toàn bộ vốn Nhà nước hoặc Nhà nước vay; Dự án từ nguồn vay của các tổ chức quốc tế, chính phủ nước ngoài và quỹ hỗ trợ của nước ngoài

Ở Trung Quốc, Luật đấu thầu không chỉ bắt buộc đối với các dự án

có nguồn vốn Nhà nước mà còn có các công trình xây dựng vốn tư nhân BMT bắt buộc phải là tổ chức, có thể là pháp nhân hoặc không phải là pháp nhân Đấu thầu chia thành hai loại là đấu thầu công cộng và đấu thầu theo yêu cầu Đấu thầu công cộng không xác định cụ thể người dự thầu, có thể

là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào (giống đấu thầu rộng rãi của Việt Nam) Đấu thầu theo yêu cầu có đối tượng được mời thầu cụ thể (ít nhất là 3 nhà thầu) – tương tự đấu thầu hạn chế ở Việt Nam

Sau khi Luật đấu thầu hàng loạt Nghị định hướng dẫn thực hiện đã được ban hành Tuy nhiên, Luật đấu thầu Trung Quốc mới chỉ đưa ra các quy định về đấu thầu là đấu thầu công cộng và đấu thầu theo yêu cầu, chủ yếu áp dụng cho các công trình xây dựng Các hình thức lựa chọn nhà thầu khác như chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp chưa được đề cập trong Luật Sắp tới, Trung Quốc sẽ ban hành thêm Luật mua sắm Chính phủ

Một nguyên tắc quan trọng trong luật đấu thầu là đảm bảo tính công

khai Ở Trung Quốc đã hình thành mạng lưới website trên mạng với mục

đích đăng tải các thông tin về đấu thầu cũng như thông báo mời thầu trong phạm vi toàn quốc Các nhà thầu không chỉ được tiếp cận với nguồn thông tin đầy đủ và cập nhật mà còn có thể trực tiếp nêu thắc mắc và kiến nghị qua hệ thống thông tin trực tuyến này Công ty Công nghệ thông tin đảm trách công việc này, chịu trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc đăng tải và truy cập thông tin đấu thầu Khách hàng có thể lựa chọn phương thức sử dụng mật mã riêng của mình để truy cập hoặc sử dụng một thiết bị

Trang 27

kết nối dạng chìa khóa Bên lấy thông tin được miễn phí, bên đăng tải thông tin được miễn phí trong vòng 7 ngày hoặc chịu một mức phí rất thấp Nội dung đăng tải mời thầu bao gồm tên dự án, phạm vi công việc của gói thầu, tên của bên mua, ngày giờ bán hồ sơ, ngày giờ đóng và mở thầu

Nội dung đăng tải kết quả đấu thầu cũng được công bố công khai: Tên dự án, phạm vi công việc đấu thầu, ngày mở thầu, ngày dự kiến công

bố kết quả đấu thầu, tên nhà thầu dự kiến trúng thầu, giá đề nghị trúng thầu, tên nhà sản xuất, nguồn gốc thiết bị, thời gian hết hạn đưa khiếu nại liên quan, trạng thái hiện tại về khiếu nại, danh sách nhà thầu không trúng thầu cùng với lý do tóm tắt [3]

1.2.3.2 Đấu thầu mua sắm công ở Hàn Quốc

Quy định đấu thầu mua sắm công của Hàn Quốc được ghi nhận trong Luật hợp đồng (Luật HĐ), trong đó Nhà nước là một bên tham gia Luật này quy định những nguyên tắc cơ bản và thủ tục mua sắm công Trên cơ

sở Luật HĐ, Tổng thống, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện, Bộ Kinh tế và Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện chi tiết Về nội dung liên quan đến đấu thầu, Luật HĐ có quy định tương tự các quy định đấu thầu trên thế giới, đều đưa ra các mục tiêu

là đấu thầu cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế với một dung lượng lớn và quy định rất chi tiết

Tuy nhiên, điều khác biệt trong quy trình đấu thầu của Hàn Quốc là

hệ thống mua sắm của Hàn Quốc là hệ thống tập trung cao, thông qua một

cơ quan chuyên môn tổ chức các cuộc đấu thầu là SAROK với kim ngạch mua sắm lên đến hàng chục tỷ USD/năm [33] Nhờ sự tập trung này, SAROK là một cơ quan chuyên nghiệp trong lĩnh vực mua sắm để thực hiện các dự án lớn của Hàn Quốc Chính phủ Hàn Quốc dành một khoản ngân sách nhất định hàng năm cho SAROK nhằm nâng cao năng lực tổ chức đấu thầu và đặc biệt hình thành một trung tâm kiểm tra chất lượng các hợp đồng sau khi đấu thầu Do vậy, chất lượng hàng sau đấu thầu được

Trang 28

đảm bảo, tránh tình trạng nhà thầu không thực hiện đúng cam kết trong hồ

sơ dự thầu

Sự chuyên môn hóa đã tạo ra năng lực mua sắm là điều vô cùng quan trọng và không thể thiếu để đảm bảo tính hiệu quả của các cuộc đấu thầu

1.2.3.3 Đấu thầu mua sắm công ở Campuchia

Campuchia là một nước có diện tích nhỏ nhưng đã có những bước phát triển vượt bậc trong thời gian qua Hơn nữa, Campuchia vừa mới gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), do vậy nghiên cứu Quy chế đấu thầu của Campuchia cũng có ý nghĩa đối với Việt Nam Cũng dễ nhận thấy rằng, Quy chế quản lý đấu thầu Nhà nước của Campuchia khá đơn giản, ngắn gọn Nó chỉ bao gồm 9 điều với độ dài không quá 10 trang giấy, quy chế này quy định một cách khái quát các hình thức đấu thầu, quy trình đấu thầu tổng quát và quản lý, giám sát hoạt động đấu thầu Việc tổ chức đấu thầu ở Campuchia được tiến hành một cách tập trung thông qua một Hội đồng [33] Có thể nói rằng, tính đơn giản, gọn nhẹ và tập trung là điểm nổi bật trong Quy chế Đấu thầu xây dựng ở Campuchia Điều này giải thích tại sao, các quy chế quản lý của Campuchia mặc dù rất đơn giản nhưng hiệu lực rất cao

Trang 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU MUA SẮM CÔNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

2.1 Những quy định của pháp luật về đấu thầu mua sắm công

2.1.1 Các nguyên tắc trong đấu thầu mua sắm công

2.1.1.1 Đảm bảo tính hiệu quả kinh tế của hoạt động đấu thầu

Hiệu quả kinh tế của công tác đấu thầu chính là việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn tiền của Nhà nước Các gói thầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ phải được tiến hành trên cơ sở có sự tính toán về mặt hiệu quả kinh tế Đấu thầu có rất nhiều phương thức cho nên việc lựa chọn phương thức đấu thầu cần phải phù hợp với yêu cầu của từng gói thầu, sao cho nó mang lại hiệu quả cao nhất Không được lợi dụng việc tổ chức đấu thầu mua sắm công để thu lợi bất chính cho các cá nhân, tổ chức, cơ quan có liên quan, làm thất thoát, lãng phí nguồn vốn Nhà nước

2.1.1.2 Đảm bảo cạnh tranh lành mạnh

Một trong những yếu tố đạt được hiệu quả của công tác đấu thầu là phải bảo đảm được quy luật cạnh tranh theo cơ chế thị trường Có cạnh tranh thì mới có động lực để sáng tạo, cải tiến, kích thích người mua (BMT) đưa ra các yêu cầu phù hợp (thể hiện trong HSMT) và người bán (nhà thầu) cạnh tranh với nhau để giành được hợp đồng (bán được hàng) với giá bán cạnh tranh song vẫn bảo đảm chất lượng của hàng hoá, công trình, dịch vụ

Mỗi gói thầu phải có sự tham gia của một số lượng nhà thầu nhất định

có năng lực, đủ để đảm bảo cạnh tranh giữa các nhà thầu Những trường hợp ngoại lệ như chỉ định thầu là rất ít, chỉ được thực hiện trong những trường hợp cần thiết được pháp luật quy định cụ thể Những điều kiện mà bên mời thầu đưa ra và những thông tin cung cấp cho các nhà thầu phải ngang bằng nhau, tạo sự bình đẳng về cơ hội cho mỗi nhà thầu, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh

2.1.1.3 Đảm bảo tính minh bạch, khách quan trong thủ tục đấu thầu

Trang 30

Công khai, minh bạch trong đấu thầu vừa là một trong những mục tiêu, vừa là một trong những nguyên tắc quan trọng của hoạt động đấu thầu mua sắm công

Công khai trong đấu thầu có thể hiểu là sự không “che đậy, dấu giếm”, không bí mật vì lợi ích của một cá nhân hoặc tổ chức nào đó mà cần thể hiện, bày tỏ các nội dung thông tin theo quy định cho mọi người liên quan hoặc có quan tâm được biết Thông tin phải công khai bao gồm các yêu cầu về gói thầu được thể hiện trong HSMT phải rõ ràng, dễ hiểu, tránh

đa nghĩa Theo đó, tất cả những nội dung trong HSMT mới được coi là yêu cầu, ngoài những yêu cầu trong HSMT, nhà thầu không bị bắt buộc thực hiện các nội dung công việc khác Kể cả tiêu chuẩn đánh giá (TCĐG) cũng phải được thể hiện rõ ràng, minh bạch trong HSMT, quá trình xét thầu không được thêm bớt, bổ sung

Các thông tin liên quan tới việc tham dự thầu, tổ chức các cuộc thầu, thông tin về dự án, thông tin về trao thầu… đều phải được thông báo công khai rộng rãi theo quy định

2.1.1.4 Bảo mật thông tin đấu thầu

Trong bối cảnh một người bán, nhiều người mua ắt sẽ dẫn đến sự cạnh tranh để được chọn là người mua duy nhất Chính vì tính chất cạnh tranh gay gắt giữa các bên dự thầu nhằm mục đích trở thành người cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho bên mời thầu nên việc bảo mật thông tin trở nên hết sức quan trọng BMT phải bảo mật hồ sơ dự thầu, đồng thời, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc tổ chức đấu thầu và xét chọn nhà thầu phải giữ bí mật thông tin liên quan đến việc đấu thầu

2.1.2 Các chủ thể của hoạt động đấu thầu mua sắm công

2.1.2.1 Bên mời thầu

Trang 31

BMT là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh nghiệm được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp luật về đấu thầu (K10 Điều 4 Luật Đấu thầu)

Luật Đấu thầu đã quy định những tiêu chuẩn chung đối với những cá nhân tham gia BMT và tổ chuyên gia Theo đó, Điều 9 quy định cá nhân tham gia BMT phải có đủ điều kiện sau:

(i) Am hiểu pháp luật đấu thầu, có kiến thức về quản lí dự án, có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu của gói thầu, có trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu đối với các gói thầu được tổ chức đấu thầu quốc tế, gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn ODA;

(ii) Thành viên tổ chuyên gia phải thoả mãn các điều kiện như: Có chứng chỉ tham gia khoá học về đấu thầu, có trình độ chuyên môn liên quan đến gói thầu, am hiểu nội dung cụ thể tương ứng của gói thầu, có tối thiểu

03 năm công tác trong lĩnh vực liên quan

Với những quy định như vậy sẽ dần nâng cao năng lực của cán bộ tham gia đấu thầu, nâng cao hiệu quả, tính chính xác và sự công bằng trong các hoạt động đấu thầu Cùng với việc tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ tham gia đấu thầu, khoản 2 Điều 9 của Luật Đấu thầu quy định “trong trường hợp chủ đầu tư không đủ nhân sự hoặc nhân sự không đáp ứng các điều kiện quy định thì tiến hành lựa chọn một tổ chức tư vấn hoặc tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp có đủ năng lực và kinh nghiệm thay mình làm bên mời thầu”

Như vậy, chủ đầu tư có thể tự mình đứng ra mời thầu nếu có đủ năng lực, đủ nhân sự đáp ứng đủ các điều kiện mà pháp luật quy định Trường hợp chủ đầu tư không đáp ứng đủ điều kiện có thể thuê tổ chuyên gia hoặc một tổ chức kinh tế khác làm bên mời thầu thông qua hợp đồng thuê dịch

vụ

2.1.2.2 Bên dự thầu

Trang 32

Bên dự thầu (nhà thầu) là tổ chức, cá nhân có đủ tư cách hợp lệ theo quy định tại Điều 7 và điều 8 Luật Đấu thầu Nếu bên dự thầu là tổ chức thì

phải có đủ các điều kiện sau: Thứ nhất là phải có Giấy chứng nhận đăng ký

kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư được cấp theo quy định của pháp luật hoặc có quyết định thành lập đối với các tổ chức không có đăng ký kinh doanh trong trường hợp là nhà thầu trong nước; có đăng ký hoạt động do

cơ quan có thẩm quyền của nước mà nhà thầu mang quốc tịch cấp trong

trường hợp là nhà thầu nước ngoài; Thứ hai là hạch toán kinh tế độc lập;

Thứ ba, không bị cơ quan có thẩm quyền kết luận về tình hình tài chính không lành mạnh, đang lâm vào tình trạng phá sản hoặc nợ đọng không có khả năng chi trả; đang trong quá trình giải thể

Nhà thầu là cá nhân có tư cách hợp lệ khi có đủ các điều kiện sau

đây: Thứ nhất, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định pháp luật của nước mà cá nhân đó là công dân; Thứ hai, có đăng ký hoạt động hợp

pháp hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp do cơ quan có thẩm quyền cấp;

Thứ ba, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Như vậy, có thể thấy rằng tất cả các tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật và có năng lực cung cấp hàng hóa, dịch vụ đáp ứng các yêu cầu của BMT đưa ra đều có thể tham gia đấu thầu với tư cách là bên dự thầu

2.1.3 Các hình thức lựa chọn nhà thầu trong đấu thầu mua sắm công

2.1.3.1 Đấu thầu rộng rãi

Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu tạo ra sự cạnh tranh cao nhất, do vậy sẽ đưa tới hiệu quả tốt nhất Theo hình thức này, BMT phải thông báo mời thầu ít nhất 10 ngày trên tờ báo về đấu thầu và trang Web về đấu thầu của Nhà nước và phải dành đủ thời gian cho nhà thầu chuẩn bị HSDT của mình theo yêu cầu của HSMT (tổi thiểu là 15 ngày đối với đấu thầu trong nước và 30 ngày đối với đấu thầu quốc tế) Mọi nhà thầu

Trang 33

có tư cách hợp lệ theo quy định tại Điều 7 và Điều 8 Luật Đấu thầu, đều có thể đăng ký tham dự cuộc thầu Theo hình thức này, không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự, trong HSMT không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu nào đó

2.1.3.2 Đấu thầu hạn chế

Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu có số nhà thầu tham gia theo giới hạn nhất định Hình thức này được áp dụng cho một số gói thầu khi có

tính đặc thù trong những trường hợp nhất định Thứ nhất, theo yêu cầu của

nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói thầu Nhiều trường hợp các nhà tài trợ nước ngoài thường đưa ra các yêu cầu về tuyển chọn nhà thầu hoặc yêu cầu đấu thầu hạn chế, coi đó là điều kiện cho việc

tài trợ của mình Thứ hai, khi gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc có

tính đặc thù, gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu nhất định có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu

Đối với hình thức này, yêu cầu phải mời tối thiểu 5 nhà thầu tham

dự, trường hợp thực tế chỉ có ít hơn 5, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định HSMT trong đấu thầu hạn chế cũng phải bảo đảm tính cạnh tranh như Hồ sơ mời thầu đối với đấu thầu rộng rãi

2.1.3.3 Chỉ định thầu

Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng Đây là hình thức cho phép lựa chọn một nhà thầu được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu và theo quy trình do Chính phủ quy định Theo đó, BMT vẫn phải đưa ra các yêu cầu đối với gói thầu (tương tự như hồ sơ mời thầu) để nhà thầu chuẩn bị đề xuất (tương tự như hồ sơ dự thầu) Tiếp đó BMT vẫn đánh giá đề xuất của nhà thầu chuẩn bị đề xuất của nhà thầu so với các yêu cầu của gói thầu, nếu đạt yêu cầu thì phê duyệt kết quả chỉ định thầu theo quy định và mời nhà thầu này vào thương thảo hợp đồng để ký

Trang 34

kết Đồng thời, dự toán đối với gói thầu phải được duyệt theo quy định để

có cơ sở cho việc quyết định chỉ định thầu

Do sự hạn chế về cạnh tranh của hình thức này nên nó chỉ được áp dụng trong một số trường hợp mua sắm hết sức đặc biệt được pháp luật quy định, đó là trường hợp sự cố bất khả kháng (do thiên tai địch họa, hoặc sự

cố cần khắc phục ngay); bí mật quốc gia, cấp bách vì lợi ích quốc gia, an ninh, an toàn năng lượng; các gói thầu có giá trị nhỏ (dưới 500 triệu); yêu cầu cần đảm bảo tính tương thích của thiết bị (ví dụ, nhà thầu là nhà sản xuất đã cung cấp thiết bị cho giai đoạn trước thì được chỉ định tiếp tục cung cấp cho giai đoạn sau để thiết bị được đảm bảo tính đồng bộ)

Như vậy, việc thực hiện chỉ định thầu cũng được tiến hành qua các bước như một cuộc đấu thầu Tuy không tốn thời gian để đánh giá so sánh các hồ sơ dự thầu nhưng cũng phải đánh giá hồ sơ đề xuất của nhà thầu và vẫn phải tiến hành thương thảo, hoàn thiện hợp đồng để gắn trách nhiệm của hai bên

2.1.3.5 Mua sắm trực tiếp

Hình thức này được áp dụng trên cơ sở hợp đồng thông qua đấu thầu

đã được ký trước đó không quá 6 tháng khi có nhu cầu mua sắm với nội

Trang 35

dung tương tự, với đơn giá không vượt đơn giá tương ứng đã ký trong hợp đồng trước đó Hình thức này cũng được áp dụng đối với gói thầu tương tự thuộc cùng một dự án hoặc các dự án khác

Đơn giá đối với các nội dung thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp không được vượt quá đơn giá của các nội dung tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã ký hợp đồng trước đó Trường hợp tại thời điểm mua sắm

mà giá cả hàng hóa có biến động, không phù hợp với việc mua sắm trực tiếp thì phải tổ chức đấu thầu như một gói thầu mới

2.1.3.7 Mua sắm đặc biệt

Trường hợp gói thầu có đặc thù riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu quy định tại các điều từ Điều 18 đến Điều 23 của Luật Đấu thầu thì chủ đầu tư phải lập phương án lựa chọn nhà thầu, bảo đảm mục tiêu cạnh tranh và hiệu quả kinh tế trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định

2.1.4 Thủ tục đấu thầu mua sắm công

Trên cơ sở kế hoạch đầu tư được duyệt, chủ đầu tư sẽ tiến hành triển khai thực hiện cho từng gói thầu theo hình thức lựa chọn nhà thầu xác định trong kế hoạch đầu tư Thủ tục đấu thầu được tiến hành thông qua các bước: Mời thầu, tổ chức đấu thầu, Đánh giá hồ sơ dự thầu, Thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu; Thông báo kết quả đấu thầu; Thương thảo hoàn thiện hợp đồng và cuối cùng là ký kết hợp đồng

2.1.4.1 Mời thầu

Ngày đăng: 31/03/2018, 21:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm