Để đạt được mục đích trên, đề tài nghiên cứu có các nhiệm vụ sau đây: - Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hoạt động cho thuê tài chính và pháp luật cho thuê tài chính; - Nghiên cứu thự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHAN ĐĂNG HẢI
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM VÀ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo, TS Trương Thị Kim Dung đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tôi có thể hoàn thành được bản luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, các cô chú tại thư viện của trường đã trang bị cho tôi đầy đủ kiến thức và tài liệu cần thiết để tôi hoàn thành bản luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
Trang DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ
PHÁP LUẬT CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm hoạt động cho thuê tài chính
1.1.1.1 Định nghĩa
1.1.1.2 Bản chất của hoạt động cho thuê tài chính
1.1.2 Các phương thức cho thuê tài chính điển hình
1.1.2.1 Bán và cho thuê lại
1.1.2.2 Cho thuê tài chính bắc cầu
1.1.2.3 Cho thuê tài chính giáp lưng
1.1.2.4 Cho thuê tài chính trả góp
1.1.3 Những lợi ích của cho thuê tài chính
1.1.3.1 Đối với bên cho thuê
1.1.3.2 Đối với bên đi thuê
1.1.3.3 Đối với nhà sản xuất (nhà cung cấp thiết bị)
1.1.3.4 Đối với nền kinh tế
1.2 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
1.2.1 Khái niệm pháp luật cho thuê tài chính
1.2.2 Những yếu tố chi phối đến pháp luật cho thuê tài chính
1.2.2.1 Chính sách về hoạt động cho thuê tài chính của Nhà nước
1.2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
1.2.2.3 Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính
1.2.2.4 Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 41.2.3.1 Những quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài
chính
1.2.3.2 Những quy định pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT
NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
2.1.2 Những thành tựu đạt được
2.1.2 Những hạn chế cần khắc phục
2.1.2.1 Về tình hình tổ chức của các công ty cho thuê tài chính
2.1.2.2 Về tình hình nguồn vốn của các công ty cho thuê tài chính
2.1.2.3 Về tình hình hoạt động cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính
2.1.2.4 Về tình hình thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính
2.2 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHO
THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
2.2.1 Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật cho thuê tài chính ở Việt
Nam
2.2.2 Những định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật cho thuê tài chính ở
Việt Nam
2.2.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện của giao dịch cho thuê tài chính
2.2.2.2 Hoàn thiện một số quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của công ty cho
thuê tài chính
2.2.2.3 Hoàn thiện một số quy định pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính
2.2.2.4 Hoàn thiện một số quy định pháp luật về khuyến khích, ưu đãi đối với hoạt động
cho thuê tài chính
2.2.2.5 Hoàn thiện một số quy định pháp luật cho thuê tài chính khác
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
thể lệ tín dụng thuê mua
tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam
Quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP
sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
"Đẩy mạnh đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực hoạt động khác, thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ so với các nước tiên tiến trong khu vực Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với những ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp không gây ô nhiễm và khai thác được lợi thế về lao động Chú trọng nhập khẩu công nghệ mới, cải tiến từng bộ phận tiến tới tạo ra những công nghệ đặc thù Việt Nam Hiện đại hoá công nghệ trong quản lý" Đây là những
yêu cầu để thực hiện "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI - Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp" mà Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII tại Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra
Ở Việt Nam, để đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ nhằm cạnh tranh trên thị trường của các doanh nghiệp, nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm nhanh chóng đưa đất nước bắt kịp tốc độ phát triển của thế giới thì nhu cầu về vốn đầu tư rất lớn Mặc dù Nhà nước ta đã tích cực tìm mọi biện pháp để thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, chủ trương đa dạng hoá các loại hình cung ứng vốn và tập trung đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh nhưng nguồn vốn vẫn khan hiếm và là bài toán làm đau đầu các doanh nghiệp Thực tế cho thấy, khả năng tích luỹ vốn của các doanh nghiệp rất hạn chế, khả năng tái đầu tư, đổi mới thiết bị cũng rất thấp dẫn đến chất lượng sản phẩm kém, giá thành cao Do đó, doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm
và cạnh tranh Mặt khác, doanh nghiệp cũng khó vay được vốn ngân hàng bởi vốn cho sản xuất kinh doanh là vốn trung và dài hạn trong khi ngân hàng chỉ dư thừa vốn ngắn hạn Hơn nữa, khi ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn, nếu doanh nghiệp làm ăn thua
lỗ, ngân hàng khó có thể thu hồi được vốn bởi đất đai, tài sản của doanh nghiệp lại do Nhà nước nắm giữ, dây chuyền thiết bị lại lạc hậu, giá trị thanh toán thấp Chính vì
Trang 7những lý do đó nên số các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ ngày càng nhiều Tình trạng nợ nần kéo dài, kể cả nợ ngân sách và nợ chiếm dụng vốn lẫn nhau diễn ra khá phổ biến Đứng trước thực trạng này, cho thuê tài chính như một phương thuốc hữu hiệu giải quyết căn bệnh trầm kha thiếu nguồn vốn Đây là công cụ vừa giảm thiểu rủi ro đối với vốn đầu tư vừa nhanh chóng đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, đưa nền kinh tế sớm tiếp cận với trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất trên thế giới
Hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam tuy còn là một hoạt động cấp tín dụng trung và dài hạn hết sức mới mẻ nhưng có thể thấy nhu cầu của nền kinh tế nước ta đối với hoạt động này là rất lớn Nhưng qua thời gian thực tế thực hiện cho thấy sự phát triển của hoạt động này trên thị trường Việt Nam còn chậm, chưa tương xứng với vai trò, khả năng và chưa phát huy hết những ưu điểm của nó Một trong các nguyên nhân chính là hành lang pháp lý của chúng ta còn thiếu, nhiều sơ hở và chưa đồng bộ Sự không phù hợp của pháp luật trong mối quan hệ với kinh tế nói chung và trong mối quan hệ với hoạt động cho thuê tài chính nói riêng sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động này
Xuất phát từ những lý do nêu trên, qua tìm hiểu thực tế và tiến hành phân tích đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính,
tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một số vấn đề pháp lý cơ bản về cho thuê tài chính
ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện” làm đề tài luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có một số công trình khoa học, một số bài viết nghiên cứu về cho thuê tài chính Ngoài một số bài báo khoa học nhỏ được đăng trên các Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Luật học…, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: Luận
án tiến sỹ kinh tế “Giải pháp hoàn thiện và phát triển hoạt động cho thuê tài chính ở
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” năm 2005 của tác giả Vũ
Quốc Trung, Học viện Ngân hàng; Luận văn thạc sỹ kinh tế “Giải pháp mở rộng hoạt
động của các công ty cho thuê tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế” năm 2008
của tác giả Dương Thân Thiện, Học viện Ngân hàng… Những nghiên cứu của các tác giả trên chủ yếu tập trung nghiên cứu khía cạnh kinh tế của hoạt động cho thuê tài
Trang 8chính Ngoài ra, đi sâu nghiên cứu khía cạnh pháp lý của hoạt động cho thuê tài chính
thì có thể kể tới Luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật về công ty cho thuê tài chính
trực thuộc tổ chức tín dụng” năm 2003 của tác giả Đinh Tiểu Khuê, Khoa Luật Đại
học Quốc gia và một số khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật… Tuy nhiên, các công trình này chỉ tập trung vào việc nghiên cứu một số nội dung nhất định, chưa bao quát được toàn bộ pháp luật cho thuê tài chính và đối tượng nghiên cứu đã có một
số thay đổi tại thời điểm hiện tại (khi chưa có nhiều Nghị định sửa đổi, bổ sung và các Thông tư hướng dẫn chi tiết)
Bản luận văn này đi sâu phân tích, đánh giá những vấn đề cơ bản nhất của pháp luật cho thuê tài chính trong bối cảnh kinh tế, pháp lý mới; xác định lại vai trò của hoạt động cho thuê tài chính, đi sâu nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật và thực tế áp dụng pháp luật cho thuê tài chính, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật cho thuê tài chính phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận về cho thuê tài chính và pháp luật cho thuê tài chính; đánh giá thực trạng pháp luật cho thuê tài chính ở Việt Nam; so sánh pháp luật cho thuê tài chính Việt Nam với mảng pháp luật tương ứng của một số nước và thông lệ quốc tế; trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cho thuê tài chính ở Việt Nam
Bản luận văn không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những vấn đề pháp lý cơ bản
về cho thuê tài chính mà còn đi sâu nghiên cứu, đánh giả mảng pháp luật này và đưa ra quan điểm riêng của tác giả về một số vấn đề cốt lõi của pháp luật cho thuê tài chính cần hoàn thiện
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu đề tài là quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài gồm: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê nhằm làm sáng tỏ các vấn
đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trang 95 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Thông qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về hoạt động cho thuê tài chính và thực trạng quy định pháp luật cho thuê tài chính, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, luận văn sẽ tìm ra hướng hoàn thiện pháp luật cho thuê tài chính ở Việt Nam
Để đạt được mục đích trên, đề tài nghiên cứu có các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hoạt động cho thuê tài chính và pháp luật cho thuê tài chính;
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật cho thuê tài chính, so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới và thông lệ quốc tế về cho thuê tài chính, tìm ra những ưu điểm và những hạn chế của mảng pháp luật này;
- Đưa ra những định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật cho thuê tài chính
ở Việt Nam và chỉ ra các giải pháp hoàn thiện cụ thể
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Qua việc nghiên cứu đề tài, tôi mong muốn sẽ đóng góp một số điểm mới như sau:
- Làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, vai trò của hoạt động cho thuê tài chính và pháp luật cho thuê tài chính
- Pháp luật cho thuê tài chính sẽ được nghiên cứu một cách toàn diện, cả mặt tích cực và mặt hạn chế, từ đó, xác định lại vai trò của hoạt động này
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật cho thuê tài chính ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại; tập trung phân tích, bình luận và đưa ra quan điểm riêng đối với những vấn đề về cho thuê tài chính còn có nhiều quan điểm đối lập nhau
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước và thông lệ quốc tế về cho thuê tài chính So sánh, đánh giá pháp luật hiện hành về cho thuê tài chính ở Việt Nam trong với pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới và thông lệ quốc tế về cho thuê tài chính, nhằm rút ra những kinh nghiệm trong việc hoàn thiện xây dựng pháp luật cho thuê tài chính ở Việt Nam
Trang 10- Đưa ra một số định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật cho thuê tài chính
ở Việt Nam, góp phần không nhỏ cho sự phát triển hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam trong thời gian tới
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn được bố cục bởi 2 Chương:
Chương 1: Khái quát về hoạt động cho thuê tài chính và pháp luật cho thuê tài chính
Chương 2: Thực trạng pháp luật cho thuê tài chính ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ
PHÁP LUẬT CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm hoạt động cho thuê tài chính
1.1.1.1 Định nghĩa
Được xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử thế giới văn minh nhân loại, cho thuê tài chính là một loại hình rất được ưa chuộng trên thế giới, không những vì nó đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt tiêu dùng và sản xuất cho nền kinh tế mà còn bởi tính an toàn
và hiệu quả của nó
Theo các tài liệu cũ, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy phiến đất có khắc chữ ở thành phố cổ của người Summerian (gần vịnh Ba Tư) ghi nhận giao dịch cho thuê tài sản đầu tiên được thực hiện vào năm 2010 trước Công nguyên [56, tr260] Các thầy tu
là người giữ vai trò cho thuê và người thuê là nông dân tự do Tài sản thời kỳ đó khá đa đạng bao gồm: công cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật kéo, nhà cửa… Nền văn minh cổ đại Ai Cập, Hy Lạp, La Mã đã chứng kiến nhiều giao dịch cho thuê bất động sản và tài sản cá nhân Trong các giao dịch này, bên cho thuê sẽ chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho bên thuê trong một thời gian nhất định và bên thuê có nghĩa vụ trả tiền thuê Các giao dịch cho thuê tài sản này, ở thời cổ đại, thuộc hình thức cho thuê truyền thống Trong suốt lịch sử hàng ngàn năm tồn tại của nó, không có sự thay đổi lớn nào
về tính chất giao dịch bởi tín dụng thuê mua hay còn gọi là cho thuê tài chính
Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, nghiệp vụ về tín dụng thuê mua đã có những bước tiến khá quan trọng, tăng cả về số lượng và chủng loại thiết bị, máy móc cho thuê, khi đó, hoạt động có dáng dấp cho thuê tài chính bắt đầu xuất hiện Đến đầu những năm 50 của thế kỷ XX, hoạt động tín dụng thuê mua đã có bước tiến nhảy vọt, được đánh dấu bằng sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các công ty cho thuê tài chính độc lập ở Mỹ (1952), chủ yếu để tài trợ vốn cho ngành vận tải xe ngựa và đường sắt [56, tr261] Ở thời kỳ này, nghiệp vụ cho thuê tài chính được tiến hành trên cơ sở kết
Trang 12hợp giữa nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ cho thuê Chỉ trong thời gian ngắn, đầu thập niên 60, hoạt động cho thuê tài chính đã phát triển rộng đến Châu Âu và Nhật Bản Chính sự phục hồi nền kinh tế của Nhật Bản và Châu Âu sau chiến tranh thế giới lần thứ II, đặc biệt là ở các nước Tây Âu đã cho thấy những tác động tích cực, có hiệu quả của hoạt động cho thuê tài chính đối với nền kinh tế
Đến thập niên 70, cho thuê tài chính đã lan rộng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là khu vực Châu Á Một số nước đã ban hành đạo luật riêng về hoạt động cho thuê tài chính như Hàn Quốc, Philippin Đến những năm 80 – 90 của thế kỷ XX, hoạt động này đã chuyển sang một giai đoạn mới – giai đoạn quốc tế hóa hoạt động cho thuê tài chính Ở các nước phát triển, trong nhiều thập kỷ, dịch vụ cung cấp bởi các công ty cho thuê tài chính: cho thuê ô tô, dụng cụ làm vườn, thiết bị gia dụng rất đắt khách Ở Mỹ, giữa thập kỷ 90, non nửa số lượng xe mới được tiêu thụ bằng con đường cho thuê tài chính Nhu cầu lớn về dịch vụ cho thuê tài chính trong giai đoạn này đã kéo theo sự gia tăng số lượng của công ty cung cấp dịch vụ cho thuê tài chính, đồng thời buộc các công ty này phải mở rộng phạm vi tìm kiếm nguồn vốn nhàn rỗi không chỉ từ ngân hàng mà còn từ công chúng bằng cách phát hành giấy nhận nợ và tín phiếu Điều đó được lý giải bởi chính sự tiện lợi, hiệu quả của hình thức này
Theo điều tra về hoạt động cho thuê tài chính của Công ty tài chính quốc tế IFC đối với 25 nước đang phát triển và 12 nước phát triển thì chỉ có 19 nước có các định nghĩa cụ thể trong Luật về cho thuê tài chính và các lĩnh vực liên quan Trong số 19 nước có định nghĩa thì có 9 nước đưa các định nghĩa này vào trong “Luật cho thuê tài chính” và 10 nước còn lại đưa định nghĩa này vào trong các Luật thuế hay các hướng dẫn do nhiều cơ quan của Chính phủ ban hành Trong 9 nước có “Luật cho thuê tài chính” thì chỉ có 1 nước là nước phát triển (Pháp); 8 nước kia là các nước đang phát triển và việc xây dựng các luật này chủ yếu là để thúc đẩy ngành dịch vụ này phát triển một cách có trật tự theo ý muốn của từng Chính phủ của mỗi nước Có thể khái quát một số quan điểm của các tổ chức nước ngoài về cho thuê tài chính như sau:
- Theo quan điểm của Societe Generale Bank: Cho thuê tài chính là một thỏa thuận trong đó bên cho thuê chuyển cho bên đi thuê quyền sử dụng một loại tài sản
Trang 13trong một thời gian thỏa thuận để đổi lấy phí cho thuê Trong suốt thời hạn hợp đồng, quyền sở hữu tài sản không chuyển cho bên thuê nhưng bên thuê phải chịu trách nhiệm giữ gìn tài sản đó [4, tr5]
- Theo quan điểm của Công ty tài chính quốc tế IFC - International Finance Corporation: Cho thuê tài chính là một hoạt động mà bên cho thuê cho bên đi thuê thuê một tài sản cụ thể nào đó do bên đi thuê chọn lựa từ một nhà sản xuất hay người bán tài sản này Bên đi thuê có toàn quyền giữ và sử dụng đối với tài sản này trong một thời gian nhất định khi trả tiền thuê tài sản [4, tr5]
- Theo quan điểm của Ủy ban về chuẩn mực kế toán quốc tế IASC - International Accounting Standards Committee: Cho thuê tài chính là loại cho thuê có khả năng chuyển dịch về căn bản tất cả những rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản Quyền sở hữu đó cuối cùng cũng có thể được chuyển giao hoặc không được chuyển giao [4, tr5]
Ở Việt Nam, hoạt động cho thuê tài chính xuất hiện vào năm 1995, muộn hơn nhiều so với các nước khác trên thế giới Khái niệm cho thuê tài chính lần đầu tiên được đề cập tại Điều 1 Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam (ban hành kèm theo Nghị định 64/CP ngày 09/10/1995 của
Chính Phủ): “Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua
việc cho thuê máy móc - thiết bị và các động sản khác Bên cho thuê cam kết mua máy móc - thiết bị và động sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ hợp đồng trước hạn Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê.” Tuy nhiên, trước khi
có sự ra đời của Nghị định 64/CP, tại Quyết định số 149/QĐ-NH5 ngày 27/05/1995 về việc ban hành Thể lệ tín dụng thuê mua đã ghi nhận khái niệm về tín dụng thuê mua,
theo đó, tín dụng thuê mua được hiểu là: “hoạt động cho thuê máy móc thiết bị và các
động sản khác phục vụ cho sản xuất kinh doanh được các tổ chức tín dụng mua theo yêu cầu của bên thuê Bên thuê thanh toán tiền thuê cho tổ chức tín dụng trong suốt
Trang 14thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền sở hữu tài sản thuê, hoặc được mua lại tài sản thuê, hay tiếp tục thuê tài sản thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng thuê mua” Xét về bản chất, tín dụng thuê mua chỉ là một cách gọi khác của cho thuê tài
chính, khi trong định nghĩa của cả hai hoạt động này đều có những tiêu chí rất đặc trưng của hoạt động cho thuê tài chính, ví dụ như: không được quyền hủy ngang hợp đồng; khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được ưu tiên mua lại tài sản thuê…
Hiện nay, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Điều 113) và Điều 1 Nghị định
số 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính (đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1, Khoản 1 Nghị định số 65/2005/NĐ-CP) định nghĩa về loại giao dịch này rất chi tiết:
“Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung hạn và dài hạn thông qua việc
cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận
Một giao dịch cho thuê tài chính phải thỏa mãn một trong những điều kiện sau đây:
a) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo sự thỏa thuận của hai bên;
b) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua lại tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại;
c) Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê;
d) Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.”
Trang 15(xem thêm “Phụ lục 01: Tóm tắt những tiêu chuẩn về giao dịch cho thuê tài chính
tại một số quốc gia” để có cái nhìn tổng quan hơn về khái niệm cho thuê tài chính của
Việt Nam và của một số quốc gia trên thế giới)
Có thể nói, đây là một định nghĩa về cho thuê tài chính đầy đủ và chi tiết nhất
So với các định nghĩa đã đề cập trên đây, định nghĩa này vừa khái quát một cách đầy
đủ nhất về hoạt động cho thuê tài chính, vừa nêu ra được những tiêu chí rõ ràng để phân biệt hoạt động cho thuê tài chính với các hoạt động khác Hoạt động cho thuê tài chính khác với các hoạt động cho thuê tài sản và các hoạt động tín dụng khác bởi các đặc trưng cơ bản của nó
1.1.1.2 Đặc trưng của hoạt động cho thuê tài chính
Thứ nhất, cho thuê tài chính mang tính chất của hoạt động cho thuê tài sản thông thường
Thực chất trong giao dịch cho thuê tài chính, bên cho thuê tài trợ vốn cho bên thuê bằng cách bỏ tiền mua tài sản mà bên thuê yêu cầu Công ty cho thuê tài chính giành quyền khai thác giá trị sử dụng tài sản đó cho bên thuê nhưng vẫn giữ lại quyền
sở hữu đối với tài sản cho thuê Ở đây, bên thuê chỉ có quyền khai thác giá trị sử dụng tài sản chứ không có quyền sở hữu tài sản Chính sự tách rời giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu tài sản trong các giao dịch này cho thấy cho thuê tài chính có một số dấu hiệu giống với cho thuê tài sản thông thường
Tuy nhiên, cho thuê tài chính lại khác với cho thuê tài sản thông thường (hoặc cho thuê vận hành) ở rất nhiều điểm Trong quan hệ cho thuê tài chính, tổng số tiền bên thuê đồng ý trả cho bên cho thuê trong suốt thời hạn thuê ít nhất phải bằng hoặc lớn hơn giá trị của tài sản thuê, tức là tối thiểu phải tương đương với vốn đầu tư vào tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn hoặc có nghĩa vụ mua lại tài sản thuê khi hết hạn hợp đồng Trường hợp mua lại tài sản thuê, giá mua thường tương đương hoặc nhỏ hơn giá trị còn lại của tài sản Trong quan hệ cho thuê tài sản thông thường, bên thuê không phải trả tổng số tiền thuê tương đương hoặc vượt quá giá trị của tái sản thuê Tiền thuê thường được xác định căn cứ vào nhiều yếu tố như công suất của máy, nhu cầu thị trường đối với sản phẩm sản xuất ra… Ngoài ra, quyền lựa chọn hoặc nghĩa vụ mua lại
Trang 16tài sản thuê không được đặt ra trong loại giao dịch này (xem thêm “Phụ lục 03: Sơ đồ
phân biệt giữa cho thuê tài chính và cho thuê vận hành” và “Phụ lục 04: Bảng phân biệt giữa cho thuê tài chính và cho thuê vận hành”)
Thứ hai, cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng
Cho thuê tài chính là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong
đó bên cho vay chuyển tiếp tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên
đi vay khi đến hạn thanh toán
Trong một giao dịch cho thuê tài chính, bên cho thuê chuyển giao tài sản thực cho bên thuê sử dụng Trong quá trình sử dụng tài sản, bên thuê phải thanh toán tiền thuê định kỳ cho đến khi hết hạn hợp đồng, khoản tiền thuê này cũng bao gồm hai phần: phần vốn gốc và lãi Đặc biệt, đối với các hợp đồng cho thuê tài chính thanh toán một phần sau khi chấm dứt hợp đồng thuê, tiền lãi được thanh toán đầy đủ trong thời gian sử dụng vốn, nhưng phần vốn gốc chưa hoàn trả đầy đủ
Trường hợp này có ba cách giải quyết và được thực hiện trong hợp đồng:
- Bên thuê đồng ý mua tài sản: phần vốn gốc đã được hoàn trả dưới dạng tiền thanh toán mua tài sản
- Bên thuê muốn thuê tiếp tài sản: phần vốn gốc được hoàn trả dưới dạng thanh toán tiền thuê trong thời gian hợp đồng cho thuê được gia hạn
- Bên thuê không muốn thuê tiếp tài sản: phần vốn gốc lại được hoàn trả dưới dạng hiện vật, tức là tài sản thuê mua
Có thể thấy rằng, trong giao dịch cho thuê tài chính, nguyên tắc hoàn trả của tín dụng luôn luôn được bảo đảm; tiền thuê và giá trị tài sản còn lại thường lớn hơn giá trị tài sản ban đầu Đây chính là sự trao đổi tài sản không ngang giá – bản chất của một quan hệ tín dụng Việc quay trở về điểm xuất phát của tín dụng không phải như lúc đã nhượng đi mà là một giá trị lớn hơn – đó gọi là tiền lãi mà người đi vay được hưởng ngoài giá trị ban đầu của tín dụng
Trang 17Tuy nhiên, khi so sánh giữa hoạt động cho thuê tài chính và cấp tín dụng để mua tài sản, chúng ta có thấy giữa chúng có những điểm không tương đồng Điểm khác biệt
cơ bản giữa hai hoạt động này là ở quyền sở hữu tài sản được hình thành từ nguồn vốn tài trợ Trong hoạt động cho thuê tài chính, bên cho thuê giữ lại quyền sở hữu tài sản thuê và thu tiền trích khấu hao tài sản thuê Khi hết thời hạn hợp đồng, bên thuê có quyền lựa chọn giữa việc tiếp tục thuê hoặc mua lại tài sản theo giá trị còn lại của tài sản Trong hoạt động cấp tín dụng để mua tài sản, bên đi vay không những có quyền sử dụng mà cả quyền sở hữu tài sản hình thành từ vốn vay và có quyền giữ lại tiền trích khấu hao tài sản đó; còn bên cho vay có quyền đòi lại cả gốc và lãi vốn cho vay
Hoạt động cho thuê tài chính còn có những lợi thế nhất định so với hoạt động
cấp tín dụng để mua tài sản Một là, đối với cho thuê tài chính, tài sản thuê thường
cũng chính là tài sản bảo đảm cho giao dịch cho thuê tài chính; trong khi đối với cấp tín dụng để mua tài sản, người đi vay thường phải có tài sản khác để thế chấp vốn vay
Hai là, trong cho thuê tài chính, kết thúc hợp đồng thuê, bên thuê nếu muốn có thể
chuyển giao lại tài sản đã thuê cho bên cho thuê cùng tất cả những rủi ro do sự lỗi thời (hao mòn vô hình) của tài sản thuê đem lại Ngược lại, ở các hoạt động cấp tín dụng để mua máy móc, thiết bị, người đi vay, với tư cách là chủ sở hữu tài sản hình thành từ vốn vay, phải tự mình gánh chịu tất cả rủi ro do sự mất giá của máy móc, thiết bị đó
Ba là, trong các giao kết cho thuê tài chính, vấn đề đặt cọc, bảo lãnh thường được đưa
vào điều khoản tùy nghi mà hai bên có thể thỏa thuận Bên cho thuê có thể yêu cầu một khoản tiền đặt cọc nhỏ hoặc thậm chí không yêu cầu tiền đặt cọc, nhưng sẽ tài trợ toàn
bộ chi phí để mua được tài sản đó cho khách hàng của mình thuê Khoản tiền này dự tính sẽ được bên thuê trả dần trong suốt thời hạn hiệu lực của hợp đồng Bên thuê thường lựa chọn mua tài sản với giá bằng giá trị còn lại của tài sản khi kết thúc hợp đồng thuê Trong khi đó, khi ký kết hợp đồng tín dụng, bên vay thường phải có tài sản
làm đảm bảo nợ hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba (xem thêm “Phụ lục 02: Sơ đồ quy
trình cho thuê tài chính” để hiểu rõ hơn các đặc trưng của hoạt động cho thuê tài
chính)
Thứ ba, cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn
Trang 18Khác với các hình thức cấp tín dụng như cho vay, bảo lãnh, chiết khấu hoặc bao thanh toán, cho thuê tài chính luôn là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, tức là thời hạn thuê phải từ 1 năm trở lên Đặc điểm này xuất phát từ lý do sau: Trong giao dịch cho thuê tài chính, bên cho thuê vẫn nắm giữ quyền sở hữu tài sản và vì thế họ phải là người quản lý tài sản cho thuê Để hợp thức hóa hành vi này, bên cho thuê phải tiến hành các thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, đăng ký tài sản giao dịch đảm bảo… điều này sẽ phát sinh nhiều loại chi phí Nếu tài trợ bằng những tài sản có giá trị thấp và thời gian ngắn sẽ khó thực hiện được vì chi phí quản lý sẽ rất cao và bên đi thuê sẽ khó có thể chấp nhận Ngược lại, nếu tài trợ trung và dài hạn với những tài sản có giá trị cao, tuổi thọ cao thì tỉ trọng chi phí quản lý tính trên giá trị tài sản sẽ thấp hơn Như vậy, tài trợ trung và dài hạn dưới hình thức cho thuê tài chính là một yêu cầu khách quan xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của các chủ thể trong nền kinh
tế Với thời gian thuê trung và dài hạn, bên thuê có khả năng trả tiền thuê dễ dàng hơn
so với trường hợp thuê ngắn hạn
Đặc điểm tín dụng trung và dài hạn này của cho thuê tài chính ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của công ty cho thuê tài chính Công ty cho thuê tài chính sẽ không được sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để mua tài sản cho thuê tài chính
1.1.2 Các phương thức cho thuê tài chính điển hình
Để thực hiện một giao dịch cho thuê tài chính, người ta có thể sử dụng nhiều phương thức khác nhau nhằm đảm bảo sự thuận tiện và mang lại những lợi ích tốt nhất cho cả bên thuê và bên cho thuê Dưới đây là một số phương thức cho thuê tài chính điển hình được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước
1.1.2.1 Bán và cho thuê lại
Người sở hữu tài sản bán tài sản cho một công ty cho thuê tài chính và đồng thời
ký kết một thỏa ước thuê lại tài sản đó trong một thời gian nhất định dưới dạng một hợp đồng thuê tài chính Bán và cho thuê lại là một phương thức cho thuê tài chính mà trong đó bên cho thuê tài sản giao lại tài sản cho người bán (bên đi thuê) sử dụng thông qua hợp đồng cho thuê tài chính hoàn trả toàn bộ hay hoàn trả từng phần Bên đi thuê (người đã bán tài sản của mình rồi thuê lại) nhận được một số tiền cho việc bán tài sản
Trang 19nhưng đồng thời vẫn không mất quyền sử dụng đối với tài sản đó mặc dù không còn quyền sở hữu tài sản này Tài sản dùng để giao dịch trong phương thức cho thuê tài chính này có thể là thiết bị mới hay thiết bị đã qua sử dụng nhưng vẫn còn giá trị sử dụng hữu ích
Các giao dịch bán rồi cho thuê lại ngoài mục đích giải quyết nhu cầu lưu động cho người bán tài sản còn được sử dụng để tài trợ vốn trung, dài hạn đối với những tài sản trước đó đã được mua bằng nguồn tiền vay hay được dùng để làm giảm chi phí huy động vốn, do đó hình thức này có mức lãi suất thấp hơn các hình thức sử dụng vốn khác Đây là hình thức giao dịch có sức cạnh tranh cao trong ngành kinh doanh bất
động sản (xem thêm “Phụ lục 05: Sơ đồ phương thức bán và cho thuê lại”)
1.1.2.2 Cho thuê tài chính bắc cầu
Cho thuê tài chính hợp tác là phương thức cho thuê tài chính mà trong đó bên cho thuê đi vay phần lớn (có khi đến 80%) chi phí mua sắm tài sản cho thuê từ một hoặc nhiều bên cho vay với việc thế chấp tài sản cho thuê để đảm bảo số tiền vay Tiền cho thuê nhận được trong từng định kỳ hạn nợ là nguồn tiền dùng để trả nợ cho các tổ chức tài chính, tín dụng đã cho bên cho thuê tài sản vay vốn Hình thức này giúp bên cho thuê mở rộng khả năng tài trợ ra khỏi phạm vi nguồn vốn tự có của mình (xem
thêm “Phụ lục 06: Sơ đồ phương thức cho thuê tài chính bắc cầu”)
1.1.2.3 Cho thuê tài chính giáp lưng
Cho thuê tài chính giáp lưng là một phương thức cho thuê tài chính mà bên đi thuê thứ nhất cho bên đi thuê thứ hai thuê lại tài sản mà bên đi thuê thứ nhất đã thuê từ bên cho thuê thông qua sự đồng ý của bên cho thuê bằng văn bản Hình thức này giúp bên đi thuê tận dụng được khoản thời gian nhàn rỗi của máy móc, thiết bị trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình để cho thuê lại tài sản nhằm tận dụng tối đa công suất sử dụng của máy móc, thiết bị để làm giảm chi phí thuê tài sản khi họ thu được
một khoản phí khi cho thuê lại tài sản đang thuê (xem thêm “Phụ lục 07: Sơ đồ
phương thức cho thuê tài chính giáp lưng”)
1.1.2.4 Cho thuê tài chính trả góp
Trang 20Cho thuê tài chính trả góp là một hình thức tài trợ thông qua mua trả góp tài sản trong một khoảng thời gian ấn định thường là từ 1 đến 5 năm, được áp dụng chủ yếu cho trường hợp người mua không có tài sản bảo đảm tiền vay nhưng đôi khi áp dụng đối với cả người mua có tài sản bảo đảm tiền vay Hợp đồng được thiết lập giữa người mua với người sở hữu tài sản là nhà sản xuất hay định chế tài chính buộc người mua phải thanh toán ngay một khoản tiền bằng 25 – 30% giá trị của tài sản Số tiền còn lại được thanh toán làm nhiều kỳ vào các thời điểm là các kỳ hạn nợ đã được ấn định trước Khi người mua đã trả hết gốc và lãi phải trả cho tài sản mua trả góp thì người bán sẽ chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người mua
Mặc dù hình thức này có thuận lợi cho người mua là có ngay tài sản để sử dụng nhưng họ cũng có bất lợi ở chỗ họ phải trả chi phí cao do không được hưởng phần chiết khấu như mua tài sản bằng tiền mặt Mặt khác, lãi suất trong cho thuê tài chính
trả góp thường là cao hơn lãi suất vay ngân hàng (xem thêm “Phụ lục 08: Sơ đồ
phương thức cho thuê tài chính trả góp”)
1.1.3 Những lợi ích của hoạt động cho thuê tài chính
Hoạt động cho thuê tài chính không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia nói riêng mà còn đem lại rất nhiều lợi ích cho nền kinh tế nói chung
1.1.3.1 Đối với bên cho thuê:
- Cho thuê tài chính là một phương thức tài trợ hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra Vì trong suốt thời hạn thuê, quyền sở hữu tài sản luôn thuộc về bên cho thuê, do đó, nếu có những đe doạ đối với sự an toàn của tài sản thuê (chẳng hạn bên thuê lâm vào tình trạng phá sản hoặc giải thể…), bên cho thuê hoàn toàn có khả năng thu hồi tài sản thuê ngay lập tức Mặt khác, trong cho thuê tài chính, vốn tài trợ được thể hiện bằng hiện vật (tài sản thuê) nên không bị ảnh hưởng của lạm phát Bên cho thuê cũng không phải chịu những rủi ro do sự giảm giá trị của tài sản hoặc do tác động của điều kiện khách quan
- Bên cho thuê có thể biết chắc rằng vốn mà họ cho vay được sử dụng đúng mục đích như trong hợp đồng, vì dưới hình thức này, bên cho thuê trực tiếp mua máy móc thiết bị từ nhà cung cấp (thường là sau khi bên đi thuê đã lựa chọn) và do đó bên đi
Trang 21thuê không có cơ hội sử dụng vốn được tài trợ vào mục đích khác Qua đó, bên cho thuê đảm bảo được khả năng thu hồi nợ từ bên đi thuê
- Cho thuê tài chính giúp bên cho thuê mở rộng diện khách hàng, đa dạng hoá việc sử dụng vốn, đồng thời mở rộng mối quan hệ kinh doanh đa phương
- Cho thuê tài chính giúp bên cho thuê linh hoạt trong kinh doanh Trong thời gian tài trợ, vốn của bên cho thuê bỏ ra để mua máy móc tài sản cho thuê, số tiền này
sẽ được thu hồi dần và cho phép bên cho thuê có thể sử dụng vốn đó để tái đầu tư vào những hoạt động sản xuất kinh doanh sinh lợi nhuận và giữ vững được nhịp độ hoạt động của mình
- Hồ sơ tài trợ đơn giản nên bên cho thuê có thể quyết định tài trợ nhanh Trong giao dịch cho thuê tài chính, bên cho thuê tham gia với tư cách là nhà tài trợ, cung cấp vốn để mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê nên họ không nhất thiết phải chịu trách nhiệm về các yếu tố mang tính chất kỹ thuật, nghiệp vụ
1.1.3.2 Đối với bên thuê:
- Bên thuê có thể gia tăng năng lực sản xuất trong những điều kiện hạn chế về nguồn vốn đầu tư Trong quá trình kinh doanh, nhu cầu gia tăng công suất của doanh nghiệp có thể được đặt ra vào bất cứ lúc nào Việc đáp ứng các nhu cầu này đòi hỏi phải có nguồn vốn tích luỹ Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam phổ biến là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những doanh nghiệp này thường gặp rất nhiều khó khăn về nguồn vốn trung và dài hạn Nếu đi vay theo các hình thức tín dụng thông thường, các doanh nghiệp này lại thiếu tài sản thế chấp Thông qua cho thuê tài chính, các doanh nghiệp có thể từ tay không mà vẫn mua được máy móc, thiết bị phục vụ yêu cầu của sản xuất và sau một số năm có thể có được một số tài sản tích luỹ nhất định
- Những doanh nghiệp không thoả mãn các yêu cầu vay vốn của các tổ chức tài chính cũng có thể nhận được vốn tài trợ thông qua cho thuê tài chính Các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay những doanh nghiệp mới thành lập, chưa có uy tín với các tổ chức tài chính thường rất khó thoả mãn các điều kiện chống rủi ro nên thường bị các tổ chức này từ chối cho vay Trong khi đó, do đặc thù của cho thuê tài chính là bên cho thuê nắm quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản thuê và họ có
Trang 22thể trực tiếp kiểm soát theo dõi việc sử dụng tài sản, tình hình kinh doanh của bên thuê
Vì vậy, các công ty cho thuê tài chính có thể sẵn sàng thoả mãn nhu cầu đầu tư của khách hàng ngay cả khi vị thế tài chính, uy tín của họ có những hạn chế
Hơn nữa, do chuyên biệt kinh doanh cho thuê tài chính là các loại máy móc, thiết bị nên các công ty cho thuê tài chính thường có mạng lưới hoạt động rộng rãi, có nhiều mối quan hệ với nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị), có đội ngũ cán bộ hiểu biết về thiết bị - công nghệ cao nên họ có thể cung cấp cho các doanh nghiệp các loại thiết bị đúng yêu cầu, điều này tránh rủi ro cho các doanh nghiệp so với trường hợp doanh nghiệp tự mua lấy Đồng thời, thông qua cho thuê tài chính mà doanh nghiệp có thể thanh lý, chuyển nhượng các máy móc, công nghệ đã cũ Dĩ nhiên, điều này phải đi đôi với việc phát triển một thị trường công nghệ cũ và mới thông qua các trung gian là các công ty cho thuê tài chính Cũng nhờ có chuyên môn cao về thiết bị, công nghệ nên các công ty cho thuê có thể cải tiến, điều chuyển các loại tài sản cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng ở các khu vực thị trường khác nhau
- Cho thuê tài chính có thể giúp các doanh nghiệp đi thuê không bị đọng vốn trong tài sản cố định Thông qua nghiệp vụ bán và cho thuê lại, các doanh nghiệp có thể chuyển nguồn tài sản cố định thành tài sản lưu động hay chuyển dịch vốn đầu tư cho các dự án kinh doanh khác có hiệu quả cao hơn trong khi vẫn duy trì được hoạt động đầu tư hiện hành vì tài sản vẫn được tiếp tục sử dụng Mặt khác, nếu doanh nghiệp muốn dành vốn tích luỹ cho kinh doanh mà có nhu cầu về thiết bị và tài sản thì vẫn có thể thực hiện được thông qua mua tài sản cố định
- Cho thuê tài chính là phương thức rút ngắn thời gian triển khai đầu tư đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh So với các phương thức tăng vốn khác, cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp hơn nên các thủ tục và điều kiện tài trợ cũng đơn giản hơn
Do bên thuê có thể tự tìm kiếm nguồn cung ứng tài sản thiết bị, hay đàm phán, thoả thuận trước về hợp đồng mua bán thiết bị với nhà cung cấp, sau đó mới yêu cầu công
ty cho thuê tài chính tài trợ nên điều này cho phép bên thuê rút ngắn thời gian tiến hành đầu tư thiết bị Mặt khác, nếu tài sản cho thuê là tài sản của công ty cho thuê tài chính thì các thông số kỹ thuật của thiết bị, các ý kiến tư vấn cho những vấn đề phát sinh
Trang 23trong đầu tư được các công ty này đưa ra phục vụ khách hàng thường rất hữu ích Hiện nay, các công ty cho thuê tài chính có xu hướng hoạt động chuyên môn hoá sâu trong lĩnh vực tài sản cho thuê thường tổ chức cung ứng các loại thiết bị theo phương thức khép kín (thiết bị gắn liền với phụ tùng, linh kiện, kỹ năng quản trị, sản phẩm cho khách hàng) Điều này giúp bên thuê nhanh chóng đáp ứng được các cơ hội kinh doanh
- Cho thuê tài chính cho phép bên thuê hiện đại hoá sản xuất theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ mới Trong điều kiện bùng nổ công nghệ hiện nay, việc thay đổi thiết bị, máy móc theo kịp đà phát triển của công nghệ mới, góp phần sản xuất ra những sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường là một vấn đề sống còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Nhưng đây cũng là một khó khăn đối với nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị), nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các quốc gia đang phát triển hoặc đối với các doanh nghiệp phải tự xuất vốn hay vay vốn để đầu tư Cho thuê tài chính có thể góp phần vào việc giải bài toán về vốn và công nghệ này
- Số tiền thuê mà bên thuê phải trả được tính vào chi phí kinh doanh Do đó, chúng làm giảm số thuế mà họ phải trả Sau khi hợp đồng cho thuê kết thúc, nếu bên thuê được quyền chọn mua tài sản thì giá mua thường thấp hơn so với giá trị còn lại của tài sản trong khi nghĩa vụ trả nợ đã hết
1.1.3.3 Đối với nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị)
Nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) khi chào bán sản phẩm của mình trên thị trường đều mong muốn bên mua sẽ trả đủ tiền để nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) có vốn lưu động, tạo cơ hội mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nhưng trên thực tế, không phải tất cả các chủ thể muốn mua thiết bị đều có đủ khả năng về tài chính hoặc trong trường hợp có doanh nghiệp đủ khả năng về tài chính nhưng họ không muốn đầu tư số tiền này vào việc mua tài sản cố định mà muốn giữ làm vốn lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, thông qua hợp đồng cho thuê tài chính mà bên cho thuê trong hợp đồng này sẽ mua tài sản thuê
để cho thuê và trả toàn bộ số tiền tương ứng với giá trị tài sản
Trang 24- Thông qua hoạt động cho thuê tài chính, nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) sẽ tìm hiểu được nhu cầu thiết yếu của bản thân người sử dụng thiết bị, từ đó có kế hoạch đầu tư đúng đắn
- Thông qua cho thuê tài chính, các nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) có thể bán thiết bị cũ, nhập thiết bị mới hay nhận được lời khuyên nên áp dụng trình độ công nghệ ở mức nào cho phù hợp với doanh nghiệp, thị trường và môi trường kinh tế
vĩ mô
1.1.3.4 Đối với nền kinh tế
Cho thuê tài chính không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với các chủ thể có liên quan mà hình thức này còn góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế Điều này thể hiện:
- Cho thuê tài chính là hình thức thu hút vốn đầu tư trung, dài hạn cho nền kinh
tế Do cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp, phạm vi tài trợ rộng rãi hơn các hình thức khác nên có thể khuyến khích các thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân và nhất là các tổ chức tài chính đầu tư vốn để kinh doanh Do đó, hoạt động cho thuê tài chính đã huy động được những nguồn vốn nhàn rỗi trong nội bộ nền kinh tế, thậm chí thu hút vốn đầu tư từ các lĩnh vực đầu tư khác Mặt khác, trong điều kiện giao lưu quốc tế ngày nay, cho thuê tài chính góp phần giúp cho quốc gia thu hút các nguồn vốn quốc tế cho nền kinh tế thông qua các loại máy móc, tài sản cho thuê
mà quốc gia đó nhận được Đồng thời, hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài này không làm tăng khoản nợ nước ngoài của quốc gia nhận được tài sản cho thuê
- Cho thuê tài chính thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức tài chính Ở nhiều quốc gia, sự phát triển của cho thuê tài chính đã dẫn tới việc giảm các chi phí, đồng thời tăng các nguồn vốn cho hoạt động đầu tư
- Cho thuê tài chính là nhân tố tác động tích cực cho sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi lẽ hầu hết các doanh nghiệp này đều không đáp ứng được một
số điều kiện nhất định khi có ý định vay tín dụng tại ngân hàng Đồng thời, nó góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến kỹ thuật Thông qua hoạt động cho thuê tài chính, các loại máy móc, thiết bị có trình độ công nghệ tiên
Trang 25tiến được đưa vào các doanh nghiệp góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền sản xuất trong những điều kiện khó khăn về vốn đầu tư Ngay cả đối với các nước có nền kinh tế phát triển cao như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp…, cho thuê tài chính vẫn phát huy tác dụng, cập nhật khoa học công nghệ hiện đại cho nền kinh tế Đối với các quốc gia chậm phát triển, nếu có những biện pháp đúng đắn, đồng bộ và toàn diện thì tác dụng của hoạt dộng cho thuê tài chính còn mạnh mẽ hơn nữa, nhất là trong thời đại ngày nay, việc đầu tư công nghệ hiện đại một cách kịp thời nhanh chóng đối với các nền kinh tế chậm phát triển gặp rất nhiều khó khăn Nếu có chính sách đúng đắn, hoạt động cho thuê tài chính có thể đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ một cách nhanh chóng
Bên cạnh những lợi thế, cho thuê tài chính cũng có những hạn chế nhất định Điều này lý giải tại sao hoạt động cho thuê tài chính không thể thay thế hoàn toàn cho các hoạt động tín dụng khác với tư cách là một kênh cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Những hạn chế đó là:
- Đối với bên thuê: Vào giai đoạn cuối của hợp đồng thuê, mặc dù bên thuê đã trả gần như đủ số tiền thuê nhưng bên thuê vẫn chưa được sử dụng tài sản vào mục đích khác Hơn nữa, bên thuê có thể phải chịu những rằng buộc bởi một số biện pháp bảo đảm đối với tài sản thuê như: không cho người khác thuê lại khi chưa được sự đồng ý của bên cho thuê hoặc phải chịu sự kiểm tra bất cứ khi nào theo yêu cầu của bên cho thuê
- Đối với bên cho thuê, có thể xảy ra các rủi ro như: rủi ro về tài chính khi bên thuê không trả tiền thuê đúng hạn hoặc tiền thuê nhận được không đủ bù đắp vốn gốc; hoặc rủi ro liên quan đến tài sản thuê khi tài sản cho thuê thu hồi về không thể cho thuê tiếp hay không bán được; tài sản do nhà nhà sản xuất giao cho bên cho thuê không đúng theo hợp đồng, tài sản không được phép kinh doanh; hoặc rủi ro do thay đổi về luật pháp, do biến động của thị trường bởi khủng hoảng kinh tế [10]
1.2 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 1.2.1 Khái niệm pháp luật cho thuê tài chính
Sự ra đời và hoạt động của công ty cho thuê tài chính đã làm phát sinh mối quan
hệ giữa công ty cho thuê tài chính với khách hàng, giữa công ty cho thuê tài chính với
Trang 26Ngân hàng Nhà nước… Để điều chỉnh các quan hệ phát sinh đó, Nhà nước phải ban hành nhiều quy phạm pháp luật khác nhau ở nhiều văn bản khác nhau nhằm đảm bảo
an toàn cho hoạt động kinh doanh của công ty cho thuê tài chính, giúp công ty hoạt động có hiệu quả, thông qua đó Nhà nước kiểm soát, hạn chế được rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính cũng như bảo vệ quyền lợi của các bên chủ thể tham gia
Ở Việt Nam, cho thuê tài chính là hoạt động còn tương đối mới mẻ Trong suốt một thời kỳ dài, pháp luật nước ta không đề cập đến hoạt động cho thuê tài chính Mãi tới năm 1995, lần đầu tiên chúng ta mới có nền tảng pháp lý tối thiểu cho hoạt động tín dụng thuê mua khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 149/QĐ-
NH ngày 27/05/1995 Sau đó quyết định này được thay thế bằng Nghị định số 64-CP ngày 09/10/1995 do Chính phủ ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam Hiện nay, quy định pháp luật cho thuê tài chính tại Việt Nam có thể tìm thấy trong Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Nghị định số 16/2001/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính, Nghị định 65/2005/NĐ-CP và Nghị định 95/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 16/2001/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành các văn bản nói trên
Vậy, pháp luật cho thuê tài chính là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước về cho thuê tài chính và các quan hệ hình thành trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ cho thuê tài chính
Theo nghĩa đó, pháp luật cho thuê tài chính bao gồm bộ phận pháp luật điều chỉnh các chủ thể tham gia vào giao dịch cho thuê tài chính và bộ phận pháp luật điều chỉnh hình thức pháp lý của các giao dịch cho thuê tài chính, tức điều chỉnh hợp đồng cho thuê tài chính
Cùng với quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng, pháp luật cho thuê tài chính được thể hiện trong các văn bản pháp luật cũng ngày càng được hoàn thiện, phản ánh và theo kịp sự chuyển biến của nền kinh tế thị trường Nó đã tạo
ra được cơ sở pháp lý với các quy định tương đối đầy đủ, cụ thể hóa các nội dung như: điều kiện thành lập và hoạt động của công ty cho thuê tài chính, quyền và nghĩa vụ của
Trang 27các bên khi tham gia hoạt động cho thuê tài chính, quy định về quản lý Nhà nước đối với hoạt động của công ty cho thuê tài chính, hợp đồng cho thuê tài chính…
Với các quy phạm pháp luật về hoạt động cho thuê tài chính, Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các công ty cho thuê tài chính cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh với các thành phần kinh tế khác trong xã hội, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi đặt ra cho các doanh nghiệp đầu tư, đổi mới máy móc, trang thiết bị, tạo cơ sở để Nhà nước hoàn thiện chức năng quản lý của mình
1.2.2 Những yếu tố chi phối đến pháp luật cho thuê tài chính
Có rất nhiều yếu tố chi phối đến pháp luật cho thuê tài chính, sau đây là những yếu tố cơ bản và chủ yếu nhất:
1.2.2.1 Chính sách về hoạt động cho thuê tài chính của Nhà nước
Đối với bất kỳ quốc gia nào, chính sách của Nhà nước luôn là một công cụ quan trọng để quản lý về mặt vĩ mô, điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế Ở Việt Nam, do đặc thù của nền kinh tế gắn liền với quá trình đấu tranh giữ nước trong một thời gian dài, ở thời kỳ đó, Nhà nước điều tiết nền kinh tế theo cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp Trong cơ chế đó, các doanh nghiệp không thực sự có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh mà làm việc theo kế hoạch chi tiết Nhà nước giao Trong lĩnh vực ngân hàng cũng không tồn tại khái niệm tổ chức tín dụng như hiện nay, chỉ có Ngân hàng Nhà nước Trung ương cùng toàn bộ chi nhánh Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh trực thuộc Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12/1986, đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước không còn quản lý nền kinh
tế bằng mệnh lệnh như trước đây Thay vào đó, Nhà nước hoạch định chính sách chung, quản lý ở tầm vĩ mô, tạo môi trường bình đẳng cho các thành phần kinh tế khác nhau trong mọi lĩnh vực kinh tế nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng Nhà nước không còn giữ vai trò độc quyền, cho phép tất cả các thành phần kinh tế tham gia, nhằm đa dạng hóa các hình thức trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ Điều đó đáp ứng nhu cầu mới và phù hợp với bước phát triển kinh tế thế giới Sự ra đời của các công ty cho thuê tài chính với các mô hình khác nhau (công ty trực thuộc, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài) và hàng loạt các
Trang 28quy định pháp lý ra đời điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính cũng chính là kết quả của quá trình đổi mới đó
Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng cũng phải nhải nhắc tới nữa đó chính là chính sách phát triển thị trường vốn của Nhà nước, đây là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các quy định pháp luật về các hình thức huy động vốn nói chung và hình thức cho thuê tài chính nói riêng Nhờ có chính sách này, các hình thức huy động vốn một mặt phát triển đa dạng về loại hình để đáp ứng nhu cầu huy động vốn và đầu tư của mọi đối tượng trong nền kinh tế, một mặt được hoàn thiện về thể chế, đảm bảo tính công khai, minh bạch và có sự kiểm soát của Nhà nước đối với toàn bộ thị trường; từng bước đưa thị trường vốn trở thành một cấu thành quan trọng của thị trường tài chính
Ngoài ra, những chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước đối với các công ty cho thuê tài chính cũng quyết định nhiều đến khả năng thành công của hoạt động cho thuê tài chính Tại nhiều nước trên thế giới, những ưu đãi về thuế và khấu hao luôn là mặt mạnh và ưu thế của hoạt động cho thuê tài chính Do đó, nếu không áp dụng những quy định riêng cho hoạt động cho thuê tài chính thì sẽ không phát huy được tác dụng Điều đó có thể dẫn tới nguy cơ như Thái Lan, do quan niệm cho thuê tài chính như một hình thức kinh doanh thương mại nên các quy định quản lý hoạt động thương mại đều được áp dụng cho nó và kết cục là hoạt động cho thuê tài chính đã không đóng góp được vào sự phát triển của kinh tế Thái Lan Việc quy định mức thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị tăng, thuế chuyển tiền, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài… đối với hoạt động cho thuê tài chính một cách hợp lý một mặt sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật về cho thuê tài chính, mặt khác sẽ thúc đẩy sản xuất và phát triển ngành cho thuê tài chính ở Việt Nam Bên cạnh đó, hoạt động cho thuê tài chính là hoạt động gia tăng đầu tư trong nước, do đó các công ty cho thuê tài chính cũng cần được hưởng các ưu đãi ghi nhận trong các chính sách về khuyến khích đầu tư trong nước Do vậy, pháp luật cho thuê tài chính sẽ hoàn thiện hơn nếu như Nhà nước có những chính sách về khuyến khích đầu tư mạnh mẽ và hợp lý
Có thể nói rằng, chính sách kinh tế nói chung và chính sách về hoạt động cho thuê tài chính của Nhà nước nói riêng chi phối rất nhiều đến pháp luật cho thuê tài
Trang 29chính, là nhân tố quyết định sự ra đời của pháp luật cho thuê tài chính, đồng thời nó còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến những nội dung pháp luật cho thuê tài chính trong từng thời kỳ cụ thể
1.2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Trên thế giới, các công ty cho thuê tài chính đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch
sử, đặc biệt là những nước có nền kinh tế công nghiệp phát triển Các công ty này đã đưa đến một loại hình mới đáp ứng được nhu cầu của xã hội trước sự phát triển mạnh
mẽ của sản xuất công nghiệp và nhu cầu lớn về vốn đầu tư cho sản xuất
Ở Việt Nam, hoạt động cho thuê tài chính chỉ mới xuất hiện trong hơn 15 năm trở lại đây Cuối 1995, sau gần mười năm đổi mới (từ 1986), nước ta cơ bản đã có những thành tựu nhất định Trong quá trình phát triển kinh tế đó, nhu cầu về vốn đầu
tư, đổi mới máy móc trang thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh là khá lớn Lượng vốn
có thể được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu thông qua các trung gian tài chính Sự ra đời của các công ty cho thuê tài chính đóng góp một phần quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu về “cơn khát vốn” cho các doanh nghiệp trong thời kỳ đó Tiện ích mà hoạt động cho thuê tài chính đem lại gián tiếp thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ sản xuất Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 8 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng nêu rõ: “tạo thị trường cho khoa học công nghệ, đổi mới cơ chế tài chính nhằm
khuyến khích sáng tạo và gắn ứng dụng khoa học công nghệ với sản xuất kinh doanh, quản lý, dịch vụ, có chính sách khuyến khích và buộc các doanh nghiệp đầu tư và nghiên cứu đổi mới công nghệ”
Ngoài ra, trong thời gian đó, nước ta đang trong tiến trình hội nhập với các nước trên thế giới và khu vực Việc thừa nhận hoạt động cho thuê tài chính góp phần thúc đẩy đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư tại Việt Nam, thực hiện tốt hơn chính sách mở cửa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, giúp các doanh nghiệp nước ta có được cơ hội mới trong lĩnh vực kinh doanh Hoạt động cho thuê tài chính ra đời là một tất yếu đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế đất nước và phù hợp với quy luật phát triển của xã hội cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế Điều
Trang 30đó được cân nhắc trong nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính phù
hợp với vị trí, vai trò, chức năng của nó
Hoạt động cho thuê tài chính là một lĩnh vực kinh doanh mới lạ ở Việt Nam, để
mở rộng và phát triển được hoạt động này, ngoài nỗ lực của bản thân các công ty cho thuê tài chính và nhu cầu của xã hội cũng cần có sự trợ giúp từ Nhà nước trong việc tạo lập một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh đồng bộ nhằm góp phần đưa nền kinh tế phát triển ổn định Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội kéo theo sự phát triển nhanh chóng của hoạt động cho thuê tài chính: các công ty cho thuê tài chính ra đời ngày càng nhiều; nhu cầu thuê và cho thuê tài chính tăng cao; các hình thức cho thuê tài chính được mở rộng; trình tự, thủ tục cho thuê tài chính ngày càng hoàn thiện Điều này dẫn đến một nhu cầu cấp thiết là pháp luật cho thuê tài chính cần phải thay đổi, nếu không có sự thay đổi thì có thể sẽ dẫn những đến hậu quả lớn, đó là: các hoạt động trên thực tế sẽ thiếu hoặc không có sự điều chỉnh của pháp luật; những quy định pháp luật
cũ, lạc hậu sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động cho thuê tài chính
1.2.2.3 Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính
Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính là yếu tố quan trọng, có tác động to lớn đến việc hình thành và phát triển của pháp luật cho thuê tài chính ở Việt Nam Đối với mỗi một ngành nghề kinh doanh khác nhau, đều có những cách thức tiến hành riêng biệt, vì vậy, việc ban hành các quy định pháp luật tương ứng điều chỉnh từng hoạt động
là điều hết sức cần thiết Hoạt động cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng, được
ra đời nhằm mục đích đầu tư vốn trung, dài hạn dưới hình thức hiện vật để cho thuê Đây là một hình thức cấp tín dụng đặc biệt, các công ty không phải cho vay bằng một lượng tiền cụ thể mà ở đây đối tượng tác động tới là các loại tài sản cho thuê Với tính chất ngành nghề riêng biệt đó, cần có một cơ chế điều chỉnh riêng hoạt động này Hoạt động cho thuê tài chính đã đáp ứng nhu cầu đổi mới máy móc trang thiết bị của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ Trên cơ sở đó, Nhà nước từng bước ban hành các văn bản điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính cũng như việc tổ chức, hoạt động công ty cho thuê tài chính, xây dựng cơ chế pháp lý thích hợp nhằm đáp ứng được yêu cầu đặt ra
Trang 31Có thể thấy rằng, pháp luật ra đời từ thực tiễn Khi xuất hiện những quan hệ mới nảy sinh trong thực tiễn, các quy định pháp luật mới sẽ được ban hành để điều chỉnh quan hệ đó Khi có những quan hệ đã được pháp luật điều chỉnh nhưng trên thực tế thực thi gặp phải vướng mắc, khó khăn, Nhà nước sẽ tiến hành sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật không hợp lý nhằm đảm bảo cho sự phát triển của các quan hệ đó Pháp luật cho thuê tài chính ra đời và phát triển cũng không nằm ngoài nguyên tắc này
Và chính thực trạng hoạt động cho thuê tài chính đã ảnh hưởng không nhỏ đến pháp luật cho thuê tài chính
Ra đời một cách riêng lẻ, các doanh nghiệp cho thuê tài chính đã xuất hiện ở Việt Nam từ trước khi Nghị định 64/CP ban hành Việc hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airline) thuê mua 4 chiếc máy bay ATR và 4 chiếc máy bay của Hãng AIRBUS như là một mốc lịch sử đánh dấu sự xâm nhập của hoạt động cho thuê tài chính vào Việt Nam [30, tr36] Sau đó một số công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thuê các thiết bị nhỏ dùng trong hoạt động sản xuất Và đúng theo quy luật tất yếu của thị trường: khi có cầu ắt hẳn sẽ có cung Các công ty cho thuê tài chính đã ra đời, góp phần hình thành nên thị trường cho thuê tài chính Việt Nam, cho dù dến nay thị trường này còn rất non trẻ Nhận biết được hướng phát triển của hoạt động này, Nhà nước đã lần lượt ban hành các văn bản điều chính hoạt động cho thuê tài chính như: Quyết định 149/QĐ-NH5, Nghị định 64/CP, Nghị định 16/2001/NĐ-CP… Trải qua thời gian hơn 15 năm phát triển, hoạt động cho thuê tài chính đã và đang ngày càng được mở rộng Xuất phát từ những nhu cầu thực tế đặt ra, pháp luật cho thuê tài chính được sửa đổi và bổ sung nhằm điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính một cách hiệu quả và hợp lý nhất
1.2.2.4 Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Ở các nước công nghiệp phát triển, cơ chế quản lý mô hình thị trường phát triển
có sự điều tiết của Nhà nước thông qua các tập đoàn kinh tế mạnh và hệ thống cơ quan thuế quan, công ty cho thuê tài chính đã trở thành khá phổ biến và được pháp luật thừa nhận rộng rãi Tùy theo pháp luật và định chế mỗi nước mà có các công ty cho thuê tài chính khác nhau với những quy định cụ thể
Trang 32So với ngành công nghiệp cho thuê tài chính trên thế giới, ở Việt Nam, cho thuê tài chính là một loại hình kinh doanh khá mới mẻ Trong quá trình xây dựng các quy phạm pháp luật về công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam, các nhà làm luật của chúng
ta đã tiếp thu được nhiều kinh nghiệm của các nước phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội để từ đó có những quan điểm riêng cho công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam nhưng vẫn bảo đảm tính phù hợp với thông lệ quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực cho thuê tài chính được Nhà nước coi trọng và gắn với lộ trình thực hiện cụ thể như: gắn với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực cho thuê tài chính và các quy định, điều lệ của Hiệp hội tín dụng thuê mua quốc tế cũng như các quy định khác có liên quan mà Nhà nước đã cam kết song phương, đa phương với các quốc gia và tổ chức quốc tế trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế như: Công ty tài chính quốc tế IFC, Ủy ban về chuẩn mực kế toán quốc tế IASC, Ngân hàng thế giới WB, Tổ chức thương mại thế giới WTO… Trên cơ sở đó, pháp luật cho thuê tài chính ở Việt Nam từng bước được hoàn thiện, thực hiện thành công hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực cho thuê tài chính
Ngoài ra, đối với lĩnh vực ngân hàng nói chung và hoạt động cho thuê tài chính nói riêng, tác động của hội nhập quốc tế được thể hiện thông qua mức độ mở cửa dịch
vụ ngân hàng trong hội nhập quốc tế Mức độ mở cửa dịch vụ ngân hàng được hiểu là mức độ tham gia của tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép cung ứng dịch vụ ngân hàng ở quốc gia sở tại Mức độ mở cửa dịch vụ ngân hàng sẽ làm cho sự lệ thuộc của các nền kinh tế ngày càng sâu sắc hơn và những rủi ro của hệ thống tài chính toàn cầu
sẽ trực tiếp tác động đến hệ thống tài chính quốc gia, trong đó hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng lớn nhất Bởi lẽ, hội nhập quốc tế vừa tạo ra những cơ hội vừa xuất hiện thách thức đối với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, trong đó đặc biệt là lĩnh vực tài chính – ngân hàng Trong xu hướng hội nhập này, thị trường tài chính phát triển theo hướng liên kết đa ngành, đa quốc gia, hình thành các tập đoàn tài chính, ngân hàng lớn
Hệ thống công ty cho thuê tài chính Việt Nam dần được hoàn thiện, có những bước phát triển nhất định thể hiện ở qui mô, ở sự đa dạng hoá các loại hình, các loại sản phẩm, dịch vụ, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn rủi ro cao và thể hiện tính thiếu bền vững Năng
Trang 33lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính Việt Nam (về vốn, về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, về quản lí, công nghệ) chưa đủ mạnh để có thể chống đỡ và phòng ngừa các rủi ro phát sinh Không những thế, xu thế cạnh tranh ngày một gay gắt giữa các công ty cho thuê tài chính có thể dẫn tới nguy cơ đỗ vỡ của các công ty cho thuê tài chính yếu kém Do vậy, để đảm bảo cho sự an toàn của hệ thống ngân hàng, cần có những quy định pháp luật cụ thể và thống nhất, giúp cho hoạt động cho thuê tài chính phát huy được hết những khả năng, những ưu điểm của nó, đưa hoạt động cho thuê tài chính trở thành một ngành công nghiệp vững mạnh ở Việt Nam
1.2.3 Một số nội dung cơ bản về pháp luật cho thuê tài chính ở Việt Nam
1.2.3.1 Những quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính
a Thành lập công ty cho thuê tài chính
* Các loại hình công ty cho thuê tài chính
Luật pháp của hầu hết các quốc gia đều cấm các thể nhân, các doanh nghiệp tư nhân hay công ty phi tài chính tham gia vào hoạt động cho thuê tài chính Các chủ thể cho thuê tài chính thường gặp là các ngân hàng thương mại, các hãng sản xuất, các công ty cho thuê tài chính độc lập và có thể là các công ty bảo hiểm (Pháp) Tuy nhiên,
ở một số quốc gia có quy chế rộng rãi, coi những doanh nghiệp kinh doanh cho thuê tài chính như một công ty thương mại (Thái Lan) hay coi cho thuê tài chính là một hình thức hỗ trợ bán sản phẩm của các công ty công nghiệp nếu hoạt động này được thực hiện qua các công ty con (dealers) chuyên kinh doanh cho thuê tài chính (Hoa Kỳ) [26] Pháp luật cho thuê tài chính của Nhật bản ghi nhận có tới 03 loại hình công ty cho thuê tài chính gồm: công ty cho thuê tài chính độc lập, công ty cho thuê tài chính phụ thuộc ngân hàng và công ty cho thuê tài chính phụ thuộc vào công ty sản xuất (xem
thêm “Phụ lục 09: Các loại hình công ty cho thuê tài chính tại Nhật Bản”)
Ở Việt Nam, dịch vụ cho thuê tài chính do các công ty cho thuê tài chính và ngân hàng cung cấp (Khoản 2 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010) Tuy nhiên trường hợp ngân hàng muốn hoạt động cho thuê tài chính phải thành lập công ty cho thuê tài chính trực thuộc Do đó, thực chất chỉ có các công ty cho thuê tài chính độc lập
Trang 34và công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng được trực tiếp cung cấp dịch vụ cho thuê tài chính
Trong hệ thống các tổ chức tín dụng ở Việt Nam, công ty cho thuê tài chính thuộc nhóm các tổ chức tín dụng phi ngân hàng Công ty cho thuê tài chính có thể được thành lập dưới các hình thức: công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên hoặc 2 thành viên trở lên và công ty cổ phần (Mục 1 Điều 1 Nghị định 95/2008/NĐ-CP), trong đó bao gồm: công ty con của các các tổ chức tín dụng, công ty liên doanh và công ty 100% vốn nước ngoài Như vậy, ngoài chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật chuyên ngành về cho thuê tài chính, tùy thuộc vào hình thức sở hữu của công ty cho thuê tài chính mà công ty còn phải chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật đầu tư 2005
* Điều kiện thành lập công ty cho thuê tài chính
Nhìn chung ở các nước phát triển, trước đây thủ tục thành lập các định chế tài chính tương đối đơn giản Do diễn biến xấu của thị trường tài chính, Chính phủ các nước đã thắt chặt hơn quy chế thành lập các định chế tài chính này và yêu cầu phải thỏa mãn những điều kiện nhất định để được thành lập các định chế tài chính đã được luật hóa ở nhiều nước Ví dụ ở Mỹ, từ cuối thế kỷ 18 đến trước cuộc khủng hoảng thị trường tài chính năm 1929, được coi là kỷ nguyên tự do của các định chế tài chính Các sáng lập viên của các định chế tài chính chỉ cần có mức vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật là được Chính quyền Bang chuẩn y điều lệ hoạt động Sau cuộc khủng hoảng thị trường tài chính nói trên, yêu cầu về thành lập các định chế tài chính ở Mỹ trở nên chặt chẽ hơn Ngoài yêu cầu về mức vốn tối thiểu, các yêu cầu khác về khả năng quản
lý, về nhu cầu của thị trường… đã được đặt ra Ngoài ra, các sáng lập viên còn phải đệ đơn cùng nhiều văn bản khác để xin được chuẩn y điều lệ hoạt động Ở Nhật, để thành lập các định chế tài chính cần phải có giấy phép thành lập do Thủ tướng Chính phủ cấp [56, tr273]
Pháp luật Việt Nam cũng đề ra các điều kiện mà một tổ chức muốn hoạt động cho thuê tài chính phải thỏa mãn Các điều kiện này chủ yếu liên quan tới khả năng về vốn, về phương án kinh doanh khả thi của công ty cho thuê tài chính trong tương lai,
Trang 35tới năng lực tài chính, uy tín và trình độ chuyên môn của các thành viên sáng lập và người quản trị, điều hành Đối với bên nước ngoài, trong các công ty liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài còn phải thỏa mãn thêm một điều kiện nữa, đó là được cơ quan
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nước ngoài cho phép liên doanh, cho phép hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam (Khoản 2 Điều 8 Nghị định 16/2001/NĐ-CP)
Về vấn đề vốn, luật pháp các quốc gia đều quy định cụ thể về mức vốn tối thiểu của các công ty hoạt động cho thuê tài chính, tùy theo trình độ phát triển của nền kinh
tế nói chung và công nghiệp cho thuê tài chính nước đó nói riêng Ví dụ như Hàn Quốc quy định vốn điều lệ của công ty ít nhất phải là 30 triệu Won và huy động dưới dạng tiền mặt, Mỹ là 17 triệu USD [30, tr22] Hay như ở Italia, vốn điều lệ tối thiểu được quy định đối với từng loại công ty như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty thuộc ngân hàng từ 20 triệu ITL đến 2 tỷ ITL [26] Ở Việt Nam, vốn pháp định
áp dụng khi thành lập công ty cho thuê tài chính là 150 tỷ Việt Nam đồng (“Danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng” ban hành kèm theo Nghị định 10/2011/NĐ-CP) So với quy định của pháp luật các nước trên thế giới, mức vốn này chưa cao nhưng có thể được coi là phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay
Như vậy, khi hội đủ các yêu cầu về vốn và các yêu cầu khác, tổ chức xin kinh doanh dịch vụ cho thuê tài chính phải gửi hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động tới Ngân hàng Nhà nước Nếu được chấp thuận, công ty cho thuê tài chính phải nộp lệ phí cấp phép và phải thực hiện một số yêu cầu theo quy định của pháp luật trước khi bắt đầu hoạt động (Điều 11 Nghị định 16/2001/NĐ-CP)
Từ những quy định trên, chúng ta có thể thấy rằng môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh của các công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam đã được xác lập khá cụ thể Những điều kiện, tiêu chuẩn pháp luật đưa ra khá chi tiết, nhiều quy định vừa phù hợp với các quy định của nước ngoài vừa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi đối với loại hình kinh doanh này ở Việt Nam Đây là cơ sở tạo nền tảng tốt cho các công ty trước khi tiến hành hoạt động
b Hoạt động của công ty cho thuê tài chính
Trang 36Đây được xem là nội dung quan trọng nhất của công ty cho thuê tài chính và là vấn đề được quan tâm nhất bời nó phản ánh hiệu quả kinh doanh của công ty Hoạt động của công ty cho thuê tài chính bao gồm:
* Huy động vốn
Ở nước ta hiện nay, mức vốn tự có của các công ty cho thuê tài chính còn thấp
do nhiều nguyên nhân khác nhau Nếu các công ty chỉ hoạt động kinh doanh trong phạm vi phần vốn này tất yếu dẫn tới hiện tượng thiếu vốn khi nhu cầu thuê của khách hàng ngày càng lớn Chính vì thế, ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, các công ty sẽ huy động vốn từ việc nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân; phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác có kỳ hạn trên một năm; vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; nhận các nguồn vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (Khoản 1 Điều 16 Nghị định 16/2001/NĐ-CP) Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định chặt chẽ tương tự về huy nguồn vốn của các công ty cho thuê tài chính Sở dĩ như vậy vì kỳ hạn cho thuê là trung và dài hạn, do
đó tính thanh khoản của các công ty cho thuê tài chính rất thấp và không có khả năng cân đối vốn với kỳ hạn của các hình thức tiền gửi Nếu các công ty cho thuê tài chính nhận tiền gửi của dân chúng thì rủi ro mất khả năng thanh khoản rất cao và thực tế cho thấy việc huy động này cũng đạt doanh số và hiệu quả rất thấp
Trong khi đó, ở một số nước trên thế giới, việc huy động vốn các công ty cho thuê tài chính được pháp luật dành cho rất nhiều ưu đãi Ví dụ như Hàn Quốc, bên cạnh các nguồn vốn vay từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, Luật kinh doanh cho thuê của Hàn Quốc còn cho phép các công ty cho thuê tài chính được phép phát hành trái phiếu với giá trị phát hành tối đa lên tới 10 lần giá trị ròng của công ty (Điều 7.3 Luật kinh doanh cho thuê Hàn Quốc) Trái phiếu do các công ty cho thuê tài chính phát hành không cần đảm bảo Sự ưu đãi này giúp cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực cho thuê tài chính nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh của mình Hơn nữa, thời hạn của trái phiếu thường được ấn định “khớp” với thời hạn các hợp đồng cho thuê, do đó giảm được rủi ro về sự không ăn khớp giữa vốn vay với các thời hạn cho thuê Bên cạnh đó, các công ty cho thuê tài chính của Hàn Quốc còn
Trang 37được tạo điều kiện thuận lợi trong việc đi vay của các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài Tiền lãi của khoản vay nước ngoài được miễn thuế chuyển tiền ra nước ngoài [26]
Ngoài ra, Luật kinh doanh cho thuê Hàn Quốc cũng cho phép công ty cho thuê tài chính “tiếp cận” với các quỹ khuyến khích đầu tư của Hàn Quốc, như: Quỹ đầu tư quốc gia, Quỹ nội địa hóa máy móc, Quỹ tín dụng ngoại tệ đặc biệt… Công ty cho thuê tài chính được hưởng sự ưu tiên đặc biệt này khi doanh nghiệp đi thuê thỏa mãn các điều kiện để được tài trợ từ quỹ đó Chỉ cần xuất trình cho tổ chức quản lý các quỹ trên hợp đồng cho thuê tài chính và các tài liệu chứng nhận bên đi thuê thuộc đối tượng được tài trợ, công ty cho thuê tài chính sẽ được sử dụng nguồn vốn từ các quỹ này để tiến hành giao dịch cho thuê (Điều 7.4 Luật Kinh doanh cho thuê và Điều 6.3 Nghị định Tổng thống) [26]
* Hoạt động cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là nội dung chủ yếu nhất, chiếm phần lớn hoạt động của công
ty và mang lại những lợi nhuận nhất định Theo các quy định hiện hành ở Việt Nam, công ty cho thuê tài chính được cho thuê theo các hình thức sau đây:
- Thứ nhất, các công ty cho thuê tài chính được phép cho thuê tài chính theo
hình thức tài trợ vốn để mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển hoặc các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản thuê; bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã cam kết trong hợp đồng Hình thức này thường được gọi là cho thuê tài chính thông thường
- Thứ hai, công ty cho thuê tài chính được phép mua tài sản và cho thuê lại theo
hình thức cho thuê tài chính thông thường Theo hình thức này, các công ty cho thuê tài chính mua lại máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải và các động sản thuộc sở hữu của bên thuê và cho chính bên thuê thuê lại tài sản đó dưới hình thức cho thuê tài chính thông thường để bên thuê tiếp tục sử dụng phục vụ hoạt động của mình (Thông tư 07/2006/TT-NHNN hướng dẫn Nghị định 16/2001/NĐ/CP và Nghị định 65/2005/NĐ-
CP về hoạt động mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính)
Trang 38- Thứ ba, công ty cho thuê tài chính được phép cho thuê hợp vốn Hình thức này
cho phép sử dụng trong hai trường hợp: khi nhu cầu thuê của một khách hàng vượt quá
tỉ lệ pháp định về vốn tự có của công ty cho thuê tài chính và khi khách hàng có nhu cầu thuê từ nhiều nguồn vốn (Thông tư 08/2006/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động cho thuê tài chính hợp vốn của các công ty cho thuê tài chính theo quy định tại Nghị định 16/2001/NĐ-CP và Nghị định 65/2005/NĐ-CP)
Do hoạt động kinh doanh đặc thù của mình, công ty cho thuê tài chính ngoài việc phải duy trì tỷ lệ bảo đảm an toàn mà Luật các tổ chức tín dụng áp đặt đối với các
tổ chức tín dụng mà còn phải tuân thủ những giới hạn pháp định đặc biệt áp dụng riêng với hoạt động cho thuê tài chính, thể hiện ở các mặt sau:
- Thứ nhất, các công ty cho thuê tài chính không được cho thuê tài chính đối với
người nội bộ công ty như thành viên hội đồng quản trị, của ban kiểm soát, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc và những thân nhân của những người nói trên (Điều 29 Nghị định 16/2001/NĐ-CP và Khoản 1 Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng 2010) Công ty cho thuê tài chính cũng không được tham gia vào những giao dịch cho thuê tà chính
mà bên thuê là người thẩm định, xét duyệt cho thuê tài chính Pháp luật còn cấm các công ty cho thuê tài chính tham gia vào các giao dịch cho thuê tài chính mà người bảo lãnh là các đối tượng nói trên
- Thứ hai, các công ty cho thuê tài chính không được cho thuê tài chính với các
điều kiện ưu đãi khi bên thuê là những đối tượng đặc biệt như tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại công ty mình, kế toán trưởng, thanh tra viên, các cổ đông lớn của công ty cho thuê tài chính và các doanh nghiệp có cổ đông lớn đồng thời là thành viên của hội đồng quản trị, của ban kiểm soát, là tổng giám đốc, phó tổng giám đốc (và thân nhân của những người này) của công ty cho thuê tài chính Tổng giá trị tài sản cho thuê đối với các đối tượng này không được vượt quá 5% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính (Điều 30 Nghị định 16/2001/NĐ-CP và Khoản 1 Điều 127 Luật các
tổ chức tín dụng 2010)
- Thứ ba, các công ty cho thuê tài chính phải tuân thủ giới hạn cho thuê tài chính
đối với một khách hàng Trừ trường hợp pháp luật quy định, các công ty này không
Trang 39được phép có tổng mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng vượt quá 30% vốn
tự cố của công ty cho thuê tài chính (Điểm a Khoản 2 Điều 31 Nghị định CP) Tuy nhiên, để tránh những bế tắc trong trường hợp một khách hàng có nhu cầu thuê vượt quá giới hạn này, pháp luật cho phép các công ty cho thuê tài chính được cho thuê hợp vốn Trường hợp khả năng hợp vốn của các công ty cho thuê tài chính chưa
16/2001/NĐ-đủ đáp ứng nhu cầu thuê của một khách hàng, và nếu khách hàng thuê để thực hiện các
dự án trọng điểm của Nhà nước, thì Thủ tướng Chính phủ sẽ quyết định tổng dư nợ cho thuê tài chính tối đa đối với từng trường hợp cụ thể (Điểm b Khoản 2 Điều 31 Nghị định 16/2001/NĐ-CP)
Tại các nước trên thế giới, nhìn chung các quốc gia đều có quy chế nới lỏng hạn mức tín dụng của các công ty cho thuê tài chính hơn các định chế tài chính khác, do đó giá trị giao dịch có thể rất lớn Các quốc gia quy định hạn mức tài trợ cho một hợp đồng có thể dao động từ 20% - 200% vốn tự có của bên cho thuê Với mức quy định như vậy hợp đồng thuê có thể đạt giá trị rất lớn và linh hoạt Sở dĩ có sự ưu đãi này là
do hoạt động của các công ty cho thuê tài chính có mức rủi ro về chênh lệch thời hạn tín dụng thấp hơn do không nhận tiền gửi và không có sự biến động lớn về vốn [30, tr22]
* Hoạt động cho thuê vận hành
Đây là một nội dung mới của công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam được thực hiện theo Quyết định số 731/2004/QĐ-NHNN ban hành quy chế về hoạt động cho thuê vận hành của các công ty cho thuê tài chính
Cho thuê vận hành hay còn gọi là cho thuê truyền thống, thuê dịch vụ là một hình thức đã có từ lâu trong lịch sử phát triển của ngành công nghiệp cho thuê và chiếm thị phần tương đối lớn Theo khái niệm của Ủy ban về chuẩn mực kế toán quốc
tế IAS 17 thì: “cho thuê vận hành là cho thuê tài sản không có sự chuyển giao phần
lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu” Ở các nước có ngành công nghiệp cho
thuê phát triển hoặc tương đối phát triển, có trình độ về nghiệp vụ cho thuê thành thạo, thị trường mua bán máy móc phong phú, đa dạng như Hàn Quốc, Mỹ, Thụy Điển…, cho thuê vận hành rất phổ biến So với cho thuê tài chính thì đây là thị trường có nhiều
Trang 40rủi ro hơn, tuy nhiên nó vẫn ra đời và hoạt động khá tốt, vì rằng: ngành công nghiệp cho thuê phát triển lâu dài thì sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt, dẫn đến sự phân nhánh hoạt động cho thuê theo sản phẩm, hình thành những công ty cho thuê được chuyên môn hóa cao theo từng thiết bị cho thuê Do đó, các nhà kinh doanh phải nỗ lực hơn trong việc tìm kiếm những hình thức tài trợ mới để đáp ứng nhu cầu và làm nổi bật
ưu thế của công ty mình
Tại Việt Nam, trước năm 2004, pháp luật chưa ghi nhận hình thức cho thuê vận hành trong hoạt động của công ty cho thuê tài chính Việc thừa nhận hình thức cho thuê vận hành đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi mới của sự phát triển kinh tế, phù hợp với thông lệ quốc tế trong quá trình tham gia hội nhập quốc tế hóa đời sống
Điều 1 Quy chế về hoạt động cho thuê vận hành của các công ty cho thuê tài
chính (ban hành kèm theo Quyết định 731/2004/QĐ-NHNN) ghi nhận “cho thuê vận
hành (cho thuê hoạt động) là hình thức cho thuê tài sản thông thường, theo đó bên thuê sử dụng tài sản cho thuê của bên cho thuê trong một thời hạn nhất định và sẽ trả lại tài sản đó cho bên thuê khi kết thúc thời hạn thuê tài sản Bên cho thuê giữ quyền
sở hữu tài sản cho thuê và nhận tiền cho thuê gồm một phần nguyên giá trị của tài sản thuê” Hoạt động cho thuê vận hành được các bên chủ thể thiết lập trên cơ sở hợp
đồng Trong đó thỏa thuận các nội dung cơ bản cũng như thể hiện rõ quyền và nghĩa vụ các bên Hợp đồng cho thuê vận hành có thời gian ngắn hơn so với cho thuê tài chính
và các bên có quyền hủy ngang sau khi báo trước một thời gian cần thiết Để thực hiện hoạt động này, các công ty cho thuê tài chính phải đáp ứng các điều kiện nhất định được ghi nhận tại Điều 6 Quy chế tạm thời về hoạt động cho thuê vận hành của các công ty cho thuê tài chính (ban hành kèm theo Quyết định 731/2004/QĐ-NHNN)