Mặc dù hạn chế cạnh tranh là một khuyết tật cố hữu của kinh tế thị trường, nhưng trong điều kiện của Việt Nam, một nền kinh tế vừa thoát ra từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, sự quản lý v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN PHƯƠNG ANH
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
CỦA VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 603850
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS BÙI NGỌC CƯỜNG
HÀ NỘI - 2011
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU:………1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH……… 5 1.1 KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG ……… ……… 5 1.1.1 Khái niệm……… 5 1.1.2 Các dấu hiệu của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường………… 8 1.1.3 Tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh tới cạnh tranh nói riêng và nền kinh tế nói chung……… .11 1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ XÁC ĐỊNH HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG……… 13 1.2.1 Xác định thị trường liên quan……… 13 1.2.2 Xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường……… 19 1.3 KIỂM SOÁT BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG……… 27 1.31 Vai trò của pháp luật đối với việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường……… 27 1.3.2 Pháp luật đưa ra các dấu hiệu để kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường……… 29 1.3.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường……… 32 CHƯƠNG 2: HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM……… 36
Trang 32.2 ÁP ĐẶT GIÁ MUA, GIÁ BÁN HÀNG HÓA, DỊCH VỤ BẤT HỢP LÝ HOẶC ẤN ĐỊNH GIÁ BÁN LẠI TỐI THIỂU GÂY THIỆT HẠI CHO KHÁCH HÀNG……… 41 2.3 HẠN CHẾ SẢN XUẤT, PHÂN PHỐI HÀNG HÓA, DỊCH VỤ, GIỚI HẠN THỊ TRƯỜNG, CẢN TRỞ SỰ PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ GÂY THIỆT HẠI CHO KHÁCH HÀNG……… 42 2.4 ÁP ĐẶT ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI KHÁC NHAU TRONG GIAO DỊCH NHƯ NHAU NHẰM TẠO BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG CẠNH TRANH;……… 45 2.5 ÁP ĐẶT ĐIỀU KIỆN CHO DOANH NGHIỆP KHÁC KÝ KẾT HỢP ĐỒNG MUA, BÁN HÀNG HÓA, DỊCH VỤ HOẶC BUỘC DOANH NGHIỆP KHÁC CHẤP NHẬN CÁC NGHĨA VỤ KHÔNG LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG……… .48
2.6 NGĂN CẢN VIỆC THAM GIA THỊ TRƯỜNG CỦA NHỮNG ĐỐI THỦ CẠNH TRANH MỚI……… 52
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG……… .59 3.1 QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG……… 59 3.1.1 Hoàn thiện pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường phải phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế và hướng tới mục đích đảm bảo duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh……… 59 3.1.2 Pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường phải phù hợp với thông lệ quốc tế……… 62
Trang 43.2 MỐT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG……… 66 3.2.1 Hoàn thiện các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường……… 66 3.2.2 Tổ chức bộ máy Nhà nước kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường……… 69 3.2.3 Xây dựng cơ chế thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường……… 72 KẾT LUẬN……… .76 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 78
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng từ năm
1986 đến nay đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên bên cạnh những thành công bước đầu đó chúng ta cũng phải đối mặt với những hệ quả tiêu cực của cơ chế thị trường, đó là các hành vi hạn chế cạnh tranh trong đó
có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là hành vi còn mới đối với Việt Nam mà chúng ta cần phải tìm hiểu thêm
Mặc dù hạn chế cạnh tranh là một khuyết tật cố hữu của kinh tế thị trường, nhưng trong điều kiện của Việt Nam, một nền kinh tế vừa thoát ra từ
cơ chế kế hoạch hóa tập trung, sự quản lý và điều tiết của nhà nước còn đang tiến dần đến sự phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế thị trường, sự thống trị của các doanh nghiệp quốc doanh vẫn còn dai dẳng, sự gia tăng nhanh chóng
và không ngừng lớn mạnh của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân; sự hiện diện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có sự vượt trội về khả năng tài chính, tư duy kinh tế và kinh nghiệm thương trường đã khiến cho các hành vi hạn chế cạnh tranh mà trong đó có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường đang diễn ra một cách hết sức lộn xộn, gây ra những hậu quả về kinh tế xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đầu tư
Vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu lý luận và thực tiễn nhằm xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường từ đó xây dựng chính sách pháp luật có thể kiểm soát và ngăn chặn các hành vi trên, duy trì trật tự cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích cho các chủ thể trong nền kinh tế là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt được Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm trong thời gian gần đây Đặc biệt là từ khi Luật Cạnh tranh có hiệu lực từ tháng 7 năm
Trang 62005, đã có rất nhiều vấn về phát sinh mà cần phải nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế tại Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật cạnh tranh là lĩnh vực mới mẻ trong khoa học pháp lý của Việt
Nam, trong đó các hành vi hạn chế cạnh tranh là được nghiên cứu muộn hơn
cả Do vậy, những nghiên cứu trong lĩnh vực này còn khá khiêm tốn Tuy nhiên đã có một số công trình nghiên cứu như: PGS.TS Nguyễn Như Phát và Ths.Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các quy định của luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền
để hạn chế cạnh tranh, NXB Tư pháp; Đặng Vũ Huân (2002), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam, luận
án tiến sĩ luật học; PGS.TS Lê Danh Vĩnh, Ths Hoàng Xuân Bắc, Ths
Nguyễn Ngọc Sơn (2010), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Đại học Quốc gia TP
Hồ Chí Minh
Các nghiên cứu nói trên tiếp cận, xem xét các nội dung của hạn chế cạnh tranh dưới góc độ kinh tế học và khoa học pháp lý Có những công trình đã nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật về hạn chế cạnh tranh cũng như nghiên cứu những khía cạnh, nội dung cụ thể của các chế định này Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu khoa học độc lập nào xem xét một cách tổng thể, toàn diện và chuyên sâu về các khía cạnh của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu các quy định của pháp luật cạnh
tranh hiện hành và các vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo Luật Cạnh tranh của Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài là phương
pháp triết học Mác - Lênin mà hạt nhân là phép duy vật biện chứng và phép
Trang 7duy vật lịch sử cũng như các quy luật, phạm trù cơ bản, nhất là quy luật cơ sở
hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, các quan hệ kinh tế quyết định các quan hệ pháp luật Trên nền tảng các phương pháp đó, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội như phương pháp phân loại
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về chính sách cạnh tranh và các hành vi độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được thể hiện trong các văn kiện của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
* Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tiếp cận nghiên cứu các vấn
đề có tính chất lý luận và thực tiễn của các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường ở Việt Nam, từ đó có căn cứ để xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong thực tiễn và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về lĩnh vực trên
* Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:
- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường
- Phân tích làm rõ nội dung pháp lý cơ bản của các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường kết hợp cùng việc tìm hiểu thực trạng, qua đó rút ra những đánh giá chung trong việc thực thi pháp luật về kiểm soát, ngăn chặn
và xử lý các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
- Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực thi có hiệu quả pháp luật điều chỉnh các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
6 Những kết quả nghiên cứu mới đề tài
- Kết quả tổng hợp, phân tích về các quy định pháp luật điều chỉnh các
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
- Một số đánh giá về thực trạng pháp luật điều chỉnh hành vi lạm dụng
Trang 8vị trí thống lĩnh thị trường
- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế, tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được
chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh
Chương 2: Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp
luật cạnh tranh của Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh liên quan
đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
1.1.1 Khái niệm
Khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường thì ngay lập tức cũng xuất hiện sự cạnh tranh Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, là năng lực phát triển của nền kinh tế thị trường Đồng thời, cạnh tranh cũng dẫn đến việc triệt tiêu lẫn nhau giữa các đối thủ cạnh tranh, quá trình cạnh tranh diễn ra đến một mức độ nào đấy sẽ xuất hiện tình trạng thống lĩnh thị trường
Vị trí thống lĩnh được hiểu là khả năng kiểm soát thực tế hoặc tiềm năng đối với thị trường liên quan của một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch
vụ của một hoặc một số doanh nghiệp Với cách hiểu như vậy thì vị trí thống lĩnh không chỉ được xem xét dưới góc độ vị trí của một doanh nghiệp mà còn
có thể là vị trí của một nhóm doanh nghiệp cùng hành động Tức là giữa nhóm doanh nghiệp này không có sự thỏa thuận trước nhưng đã cùng hành động, cùng nhau thực hiện các hành vi như bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ
Khi đã xác lập được vị trí thống lĩnh, các doanh nghiệp thống lĩnh tìm mọi cách để duy trì vị trí thống lĩnh thị trường của mình với các cách thức như: thôn tính, tiêu diệt các đối thủ cạnh tranh, ngăn cản không cho các đối thủ tiềm năng gia nhập thị trường, tiếp tục củng cố ưu thế và sức mạnh thị trường bằng việc lôi kéo các đối thủ liên kết tạo sức mạnh, phân chia thị trường, định giá cả
Các nhà kinh tế học đều thống nhất rằng thống lĩnh thị trường là hiện
Trang 10tượng khách quan, tồn tại trong tất cả các nền kinh tế Nó là kết quả của quá trình cạnh tranh, một yếu tố không thể thiếu để thúc đẩy nền kinh tế phát triển Vấn đề ở chỗ, các doanh nghiệp sau khi đã có được vị trí thống lĩnh thì luôn có xu hướng lạm dụng vị trí của mình để duy trì và củng cố vị thế, thu lợi nhuận, gây hại đến lợi ích của các chủ thể khác và của Nhà nước Chính từ thực trạng các doanh nghiệp khi có vị trí thống lĩnh thường lạm dụng vị trí của mình đã làm cho pháp luật tất yếu phải có những quy định để điều chỉnh
và kiểm soát Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh để kiếm lợi và xâm phạm đến lợi ích của các chủ thể khác thì bị coi là bất chính [15]
Để kiểm soát được một quan hệ nào đó thì trước hết pháp luật phải nhận diện được đối tượng đó và những thuộc tính của nó Tương tự như vậy,
để điều chỉnh hành vi thống lĩnh thị trường thì pháp luật về cạnh tranh và chống lạm dụng vị trí thống lĩnh phải đưa ra được khái niệm về vị trí thống lĩnh và những tiêu chí để xác định đâu là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh Tùy theo đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau mà pháp luật của mỗi nước cũng đưa ra nhũng quan niệm và tiêu chí xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh khác nhau
Trong Luật cạnh tranh 2004 của Việt Nam chỉ đưa ra khái niệm chung
về hành vi hạn chế cạnh tranh mà không định nghĩa thế nào là hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh, thế nào là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, theo đó, hành
vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế (khoản 3 Điều
3 Luật cạnh tranh) Ngoài ra, để cụ thể hóa, đạo luật đã liệt kê từng hành vi cụ thể trong ba nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh kể trên (Điều 8, 13, 14, 16 Luật cạnh tranh)
Điều 79 Luật cạnh tranh của Canada quy định ba dấu hiệu của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là: (i) một hoặc một nhóm doanh nghiệp kiểm soát
Trang 11thị trường liên quan; (ii) thực hiện hành vi phản cạnh tranh được quy định trong luật cạnh tranh; (iii) hành vi đó đã, đang hoặc có thể làm cản trở, làm giảm cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể [8] Bên cạnh đó, còn có một xu hướng khác trong pháp luật cạnh tranh trên thế giới khi định nghĩa về hành vi lạm dụng Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc được thông qua ngày 22 tháng 4 năm 1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của tổ chức hợp tác
và phát triển Liên hợp quốc định nghĩa hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị
trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường
vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh [19, tr52] Ở đây có sự khác nhau giữa
Luật Cạnh tranh của Canada và Bộ Quy tắc mẫu ở dấu hiệu chủ quan của hành vi Nếu như Luật Cạnh tranh của Canada mô tả hành vi lạm dụng luôn mang trong mình nó khả năng (hậu quả) làm sai lệch, cản trở hoặc làm giảm cạnh tranh, thì Bộ Quy tắc và luật mẫu về cạnh tranh lại nhấn mạnh đến mục đích duy trì, củng cố vị trí của doanh nghiệp vi phạm bằng cách ngăn cản người khác gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh
Nếu so sánh từ góc độ lý luận, cách tiếp cận của Luật Cạnh tranh Canada có vẻ trừu tượng hơn so với khái niệm của Luật mẫu về cạnh tranh, bởi lẽ việc xác định mức độ sai lệch, giảm hoặc cản trở cạnh tranh không phải
là việc đơn giản, do cạnh tranh là khái niệm phản ánh mối quan hệ ganh đua trên thương trường nên khó có đại lượng khách quan nào có thể cân đong được mức độ của quan hệ cạnh tranh một cách chính xác Trong khi đó, xác định khả năng duy trì và củng cố vị trí của doanh nghiệp sẽ là đơn giản hơn, người ta có thể dựa vào những thông số kinh tế, kỹ thuật trên thị trường liên quan về số lượng doanh nghiệp, về thị phần, mức chênh lệch thị phần giữa các doanh nghiệp là có thể đưa ra các kết luận khá chính xác
Trang 12
1.1.2 Các dấu hiệu của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Cho dù được mô tả bằng cách thức nào đi nữa, hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường luôn có ba dấu hiệu nhận dạng
Dấu hiệu thứ nhất: Chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan Lý thuyết
cạnh tranh đã chỉ ra rằng vị trí thống lĩnh có thể được hình thành từ sự tích tụ trong quá trình cạnh tranh; từ những điều kiện tự nhiên của thị trường như: sự biến dị của sản phẩm, sự tồn tại của các rào cản gia nhập thị trường Trong những trường hợp nói trên, vị trí thống lĩnh là hợp pháp và đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường, hay còn gọi là khả năng chi phối các quan hệ thị
trường Theo cuốn Từ điển kinh tế học hiện đại quyền lực thị trường là khả
năng của một doanh nghiệp hoặc một nhóm các doanh nghiệp trong việc tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua [11, tr 682]
Về mặt học thuật, có hai vấn đề cần phải làm rõ là: thứ nhất, hành vi
lạm dụng chỉ xảy ra sau khi vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan đã được xác lập Do đó, pháp luật chống lạm dụng không nhằm đến việc xóa bỏ vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp, pháp luật chỉ hướng đến việc loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để trục lợi hoặc để bóp méo cạnh tranh Một khi doanh nghiệp có quyền lực thị trường chưa có các biểu hiện của sự
lạm dụng thì chúng vẫn là chủ thể được pháp luật bảo vệ; thứ hai, chủ thể
thực hiện việc lạm dụng có thể là một doanh nghiệp đơn lẻ hoặc một nhóm doanh nghiệp (tối đa là 4) có vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan
Đối với vụ việc điều tra về hành vi lạm dụng của nhóm doanh nghiệp
có quyền lực thị trường, cơ quan có thẩm quyền cần phải phân biệt được hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Bởi trong pháp luật hạn chế cạnh tranh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi lạm dụng có một số điểm giống nhau, ví dụ (i) đều có thể do một nhóm doanh
Trang 13nghiệp thực hiện; (ii) nội dung của chúng giống nhau, như: phân chia thị trường, hạn chế sản xuất, phân phối sản phẩm, hạn chế phát triển khoa học kỹ
`thuật Tuy nhiên, khi một nhóm doanh nghiệp (với tổng thị phần kết hợp đủ
để thống lĩnh thị trường) thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh thì giữa họ không có sự thỏa thuận trước Ngược lại, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền có đủ chứng cứ chứng minh rằng đã tồn tại một thỏa thuận trong nhóm doanh nghiệp đó để thực hiện những hành vi nói trên thì hành vi của họ sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật chống thoả thuận hạn chế cạnh tranh
Dấu hiệu thứ hai: Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là những hành vi
được Luật Cạnh tranh liệt kê Ngoài những khái niệm căn bản mang tính học
thuật về hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung, cần phải gọi tên được từng hành vi lạm dụng Dựa vào đó, người ta có thể phân tích bản chất của hành vi dưới góc độ của lý thuyết, đồng thời trong công tác thực thi pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể dễ dàng xác định sự vi phạm bằng cách đối chiếu các hành vi thực tế với các quy định của pháp luật Một hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh trên thị trường chỉ bị quy kết là lạm dụng để hạn chế cạnh tranh khi nó mang đầy đủ các dấu hiệu của một hành vi nào đó đã được luật quy định là lạm dụng Khi chưa thể hoặc chưa có đủ chứng cứ cần thiết
để kết luận về việc doanh nghiệp đã thực hiện một trong số các dạng vi phạm được quy định thì cũng không thể quy kết trách nhiệm về sự lạm dụng [15]
Dấu hiệu thứ ba: Hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là
làm sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh tranh trên thị trường liên quan Dấu
hiệu này cho thấy khả năng hạn chế cạnh tranh của hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh và tác hại của nó đối với thị trường Như đã phân tích, doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng với mục đích duy trì, củng cố vị trí hiện có hoặc tận hưởng các lợi ích có được từ việc bóc lột khách hàng Các nhà hoạch định chính sách cạnh tranh của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (viết tắt
Trang 14là OECD) đẫ đưa ra nhiều khuyến nghị về việc xác định hành vi lạm dụng, trong đó họ cảnh báo rằng chỉ có thể chống lại sự lạm dụng quyền lực thị
trường thành công, khi pháp luật và người thi hành nó xác định được những
hành vi cụ thể có thể gây hại cho cạnh tranh và đánh giá được những tác động toàn diện của chúng trên thị trường có liên quan [20, tr 160] Đối với
hành vi hạn chế cạnh tranh, lý luận và kinh nghiệm pháp lý của các nước đã chỉ ra rằng, nhóm hành vi này có ba loại vi phạm với bản chất pháp lý khác nhau là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế, nên không thể đưa ra một khái niệm chung chứa đựng những căn cứ cụ thể cho mọi trường hợp Trong tình trạng đó, dấu hiệu
về hậu quả của hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ được diễn tả rất khái quát, mang tính định dạng về mặt lý luận hơn là lượng hóa bằng những căn cứ cụ thể Mặt khác, do hành vi vi phạm được liệt kê rất đa dạng bao gồm các hành
vi về việc định giá bán, giá mua sản phẩm, hành vi hạn chế sản lượng sản xuất, phân phối, hạn chế thị trường; hành vi phân biệt đối xử; áp đặt các điều kiện thương mại bất hợp lý đối với khách hàng , mỗi hành vi có đối tượng xâm hại khác nhau và mức độ thiệt hại có thể gây ra cũng không giống nhau, nên việc đưa ra một tiêu chuẩn chung để làm căn cứ xác định hậu quả gây ra của mọi hành vi là không thể Vì thế, khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng
buộc phải dựa vào việc phân tích từng hành vi vi phạm để kết luận về khả
năng và mức gây thiệt hại của nó đối với thị trường Theo đó, từng hành vi có
thể làm cản trở, giảm và sai lệch cạnh tranh ở mức độ khác nhau
Dấu hiệu hậu quả của hành vi là căn cứ để phân biệt hành vi lạm dụng với hiện tượng tập trung kinh tế (cũng là một loại hành vi hạn chế cạnh tranh) Tập trung kinh tế được Luật cạnh tranh mô tả thông qua bốn biểu hiện cụ thể
là sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh, là những chiến lược do doanh
nghiệp thực hiện có khả năng hình thành nên các thế lực độc quyền không thông qua sự tích tụ dần từ hiệu quả kinh tế Như vậy, nếu mức giảm, sai lệch
Trang 15hoặc hạn chế cạnh tranh mà hành vi lạm dụng gây ra được chứng minh bằng những lợi ích mà các doanh nghiệp khác, hoặc khách hàng phải gánh chịu, thì
đối với tập trung kinh tế, điều đó được chứng minh bằng những suy đoán là
việc các doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh có thể làm thay đổi cấu trúc và tương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường do chúng đã tạo ra doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có quyền lực thị trường Nói cách khác, pháp luật chống lạm dụng hướng đến việc cấm đoán hành vi, còn pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế có nhiệm vụ ngăn chặn khả năng hình thành các thế lực có quyền lực trên thị trường bằng việc tiến hành tập trung kinh tế
1.1.3 Tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh tới cạnh tranh nói riêng và nền kinh tế nói chung
Giống như các hiện tượng khác, thống lĩnh có tác động rất lớn đối với
cạnh tranh nói riêng và nền kinh tế nói chung của mỗi quốc gia, theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực
Về mặt tích cực, thống lĩnh góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung các nguồn lực để phát triển, nhất là trong những ngành kinh tế mũi nhọn Sau khi đã xác lập được vị trí thống lĩnh, các công ty thống lĩnh thường phát triển nhanh chóng thành những tập đoàn hùng mạnh Sự tích tụ và tập trung nguồn lực vào tay một hoặc một nhóm doanh nghiệp tạo điều kiện đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng quy mô, tăng năng suất lao động, tạo ra những bước ngoặt mang tính đột phá cho bản thân doanh nghiệp và cho ngành sản xuất đó [13, tr 32] Sự mở rộng về quy mô sản xuất, đến lượt nó sẽ tạo động lực kích thích trở lại các doanh nghiệp, bởi trên thực
tế ai cũng biết rằng lợi nhuận của một doanh nghiệp sẽ tăng lên theo quy mô sản xuất kinh doanh Không phải ngẫu nhiên mà nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ là Joseph Schumpeter (1883-1950) đã ủng hộ mô hình kinh tế trong
đó có sự tồn tại của các thế lực thống lĩnh và độc quyền
Trang 16Nhưng bên cạnh những tác động tích cực nói trên, thống lĩnh cũng có những mặt trái của nó:
Thứ nhất, thống lĩnh đi ngược lại trật tự cạnh tranh lành mạnh, kìm hãm
động lực phát triển của nền kinh tế Khi đã có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các doanh nghiệp luôn tìm cách duy trì vị trí thống lĩnh của mình bằng cách tiêu diệt các đối thủ tiềm năng, hạn chế sự xuất hiện trên thị trường của các đối thủ này Bằng thủ đoạn bóp chết đối thủ cạnh tranh thực chất đã triệt tiêu sự cạnh tranh trên thương trường, mà một khi không còn cạnh tranh thì sẽ không còn áp lực để các doanh nghiệp phát triển
Thứ hai, thống lĩnh tạo ra nguy cơ khủng hoảng và suy thoái của nền
kinh tế Các doanh nghiệp thống lĩnh sử dụng vị thế này vào việc tự định giá
cả hàng hóa độc quyền, kìm hãm sản lượng hàng hóa để tăng giá bán nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch mà không chú trọng tới việc đổi mới công nghệ, tăng năng suất nữa Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho năng lực của các công ty thống lĩnh bị suy yếu, thậm chí dẫn đến bị suy giảm và suy thoái của cả một ngành sản xuất nào đó Sự khan hiếm của hàng hóa và giá cả leo thang do tình trạng thống lĩnh gây ra sẽ là nguyên nhân đưa đến sự lạm phát và gây mất ổn định nền kinh tế, làm tăng số người thất nghiệp
Thứ ba, thống lĩnh tạo ra cho các công ty thống lĩnh những khoản thu
nhập bất chính từ lợi nhuận siêu ngạch, góp phần làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất công trong xã hội Lợi nhuận của các công ty thống lĩnh có được thực chất là nhờ vào việc hưởng mức chênh lệch quá đáng của giá cả áp đặt so với giá tự nhiên của hàng hóa, tức là đã bòn rút thu nhập của đại bộ phận người tiêu dùng bỏ vào túi của một số ít các công ty thống lĩnh, đẩy những người nghèo đi đến chỗ ngày càng nghèo thêm, còn các công ty thống lĩnh thì phất lên nhanh chóng
Trang 17Thứ tư, thống lĩnh còn dẫn đến tình trạng “cửa quyền” hay “đặc quyền”
cho một nhóm người có lợi ích Thống lĩnh tất yếu sẽ sản sinh ra cơ chế “xin - cho”, “ban phát” và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt và sản xuất
Ngoài ra thống lĩnh còn là bạn đồng hành với tiêu cực và tham nhũng Các doanh nghiệp thống lĩnh luôn có xu hướng liên hệ và tranh thủ của các cơ quan quản lý Nhà nước để bảo vệ vị thế thống lĩnh của mình Điều này làm xuất hiện nguy cơ tham nhũng, tha hóa trong bộ máy công quyền Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, khi các Cheabol vượt ra ngoài tầm kiểm soát, chúng quay trở lại mua chuộc, lôi kéo các quan chức nhà nước, gây nên nạn tham nhũng trầm trọng [21, tr 84] Ở Việt Nam hiện nay cũng vậy, trong bối cảnh dư luận xã hội đang lên tiếng mạnh mẽ phản đối tình trạng thống lĩnh, độc quyền nhà nước, để duy trì vị trí thống lĩnh, các doanh nghiệp thống lĩnh phải tìm cách “nuôi” bộ máy công quyền, mua chuộc những nhà chức trách có thẩm quyền để họ lên tiếng bảo vệ sự thống lĩnh của mình Một số vụ án kinh
tế lớn được đưa ra xét xử trong thời gian qua có liên quan đến các quan chức cao cấp trong bộ máy Nhà nước đã phần nào chứng minh cho điều này
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ XÁC ĐỊNH HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
1.2.1 Xác định thị trường liên quan
Khoản 1 Điều 3 Luật cạnh tranh quy định thị trường liên quan bao
gồm thị trường sản phẩm liên quan và trị trường địa lý liên quan
Đánh giá về tầm quan trọng của việc xác định thị trường liên quan, Cục
thương mại công bằng của Anh đã nhận định định nghĩa thị trường là một giai
đoạn rất quan trọng trong bất cứ cuộc điều tra nào về hành vi lạm dụng Bởi
lẽ, thị phần chỉ được tính toán sau khi những ranh giới của thị trường đã được xác định Do đó, nếu thị trường được xác định sai, thì tất cả những phân tích tiếp theo dựa trên thị phần hoặc cấu trúc thị trường đều không hoàn thiện
Trang 18[18] Do đó, pháp luật cạnh tranh của các nước cho đến nay vẫn đang nỗ lực tìm kiếm những căn cứ và phương pháp hiệu quả để đánh giá chính xác thị trường liên quan
Dưới góc độ kinh tế, thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về một
loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định Nếu như các sản phẩm trên thị trường có thể thay thế hoàn toàn cho nhau (giống hệt nhau) thì người tiêu dùng có thể lựa chọn bất cứ doanh nghiệp nào trong số các doanh nghiệp đang cung cấp sản phẩm trên thị trường Lúc này, mỗi nhà cung cấp đều phải chịu sức ép cạnh tranh từ doanh nghiệp khác Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy rất hiếm khi tồn tại một thị trường mà các sản phẩm lại có thể thay thế hoàn toàn cho nhau Các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để dị biệt hóa sản phẩm của mình trước thói quen tiêu dùng của khách hàng Khi đã được dị biệt hóa, các sản phẩm chỉ còn có thể liên quan đến nhau khi có khả năng thay thế cho nhau theo sự lựa chọn của khách hàng Vì thế, xác định thị trường liên quan là xác định số lượng doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau cũng như vị trí của chúng trong khu vực thị trường nhất định Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Trong đó, thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả; thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó, có những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận Kinh nghiệm thực thi pháp luật của các nước trên thế giới đã cho thấy, việc điều tra và xác định thị trường liên quan có rất nhiều nội dung cần làm rõ Trong đó tập trung vào những vấn đề sau:
+ Thị trường địa lý liên quan
Việc xác định khu vực không gian liên quan được thực hiện dựa trên quan điểm của người sử dụng về khả năng thay thế cho nhau của những sản
Trang 19phẩm được sản xuất hoặc được mua bán tại những địa điểm khác nhau Nếu người đang sử dụng sản phẩm được bán hoặc được sản xuất tại một địa điểm nhất định chuyển sang mua sản phẩm tương tự tại địa điểm khác để phản ứng lại việc tăng giá đáng kể trong một thời gian đủ dài, khi đó hai địa điểm được xem xét nằm trong khu vực địa lý mà các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, nói cách khác là chúng có cùng thị trường địa lý liên quan và ngược lại
Theo quy định của Luật cạnh tranh, thị trường địa lý liên quan là: (i)
khu vực địa lý cụ thể có sự hiện diện của những sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau; (ii) có sự tồn tại của các điều kiện cạnh tranh tương tự trong khu vực đó; (iii) giữa khu vực đó với các khu vực lân cận tồn tại những sự
khác biệt về điều kiện cạnh tranh Khu vực địa lý là những vùng thị trường
được đo bằng khoảng cách không gian, bao gồm địa điểm mà tại đó những sản phẩm có thể thay thế cho nhau được phân phối cho khách hàng, có thể là một quận, một thành phố, hoặc trong phạm vi cả nước Trong ranh giới của
khu vực địa lý đó có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia phân phối
sản phẩm liên quan và khu vực địa lý lân cận đủ gần có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác để có thể tham gia phân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa lý nói trên Các điều kiện cạnh tranh được xem xét để xác định bao
gồm chi phí vận chuyển, thời gian vận chuyển giữa các địa điểm trong cùng một khu vực thị trường hoặc giữa vùng thị trường này và vùng thị trường khác; sự tồn tại của các rào cản gia nhập vùng thị trường được xem xét
Như đã trình bày ở trên, xác định thị trường địa lý suy cho cùng là
việc đi tìm kiếm những căn cứ để đánh giá tâm lý của người tiêu dùng có sẵn sàng chuyển thói quen mua sản phẩm ở một địa điểm nào đó sang mua sản phẩm tương tự ở một địa điểm khác hay không Do đó, ngoài việc phải xác định những địa điểm có khả năng nằm trong một khu vực thị trường địa lý, những người có trách nhiệm còn cần phải phân tích mọi yếu tố có thể tác động đến nhu cầu, tâm lý tiêu dùng của khách hàng như chi phí và thời gian
Trang 20đi lại giữa các địa điểm khác nhau và khả năng tham gia phân phối trong khu vực đó Bởi khi thay đổi địa điểm mua sản phẩm từ địa điểm này sang địa điểm khác chỉ vì sự tăng giá của sản phẩm đang sử dụng, người tiêu dùng sẽ phải cân nhắc xem các chi phí phát sinh và thời gian bỏ ra cho việc đi lại là có lợi hơn cho sự tăng lên của giá cả hay không Nếu họ chấp nhận được thì các địa điểm khác nhau đó được coi là cùng một khu vực mà các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, và ngược lại Theo Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, mức chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển giữa các địa điểm trong khu vực được suy đoán là người tiêu dùng chấp nhận nếu nó không làm giá bán lẻ sản phẩm tăng quá 10% Do đó nếu, chi phí vận chuyển hoặc thời gian vận chuyển có thể làm giá bán lẻ tăng quá 10% thì việc thay đổi nhu cầu sẽ không thể xảy ra
+ Thị trường sản phẩm liên quan
Khả năng thay thế cho nhau phản ánh mức độ cạnh tranh giữa các sản
phẩm khác nhau Bởi lẽ, khi các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, tức là chúng cùng phục vụ cho một nhu cầu của thị trường Trong thị trường hiện đại, sự đa dạng của nhu cầu thị trường đã kéo theo sự phân hóa, dị biệt hóa các sản phẩm, các dòng sản phẩm Thậm chí các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm cũng đã và đang cố gắng tạo ra cho sản phẩm của mình sự khác biệt nhất định so với sản phẩm của người khác Do đó, sẽ có nhiều khó khăn cho việc tìm kiếm khả năng thay thế cho nhau giữa các sản phẩm Thông thường, Luật Cạnh tranh của các nước không quy định thế nào là khả năng thay thế cho nhau của sản phẩm mà chỉ đưa ra ba tiêu chí để xác định, đó là đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả của sản phẩm Kế thừa những kinh nghiệm đó, Luật Cạnh tranh và chủ ý lập pháp của nhà làm luật Việt Nam khi chi tiết hóa Luật Cạnh tranh đã đưa ra hai căn cứ để xác định khả năng thay thế của sản phẩm là (i) tính chất của sản phẩm thể hiện thông qua hai tiêu chí đầu tiên nói trên và (ii) phản ứng của người tiêu dùng khi có sự thay đổi giá
Trang 21cả của các sản phẩm có liên quan Tính chất của sản phẩm được thể hiện bằng việc phân tích các đặc tính lý hóa và mục đích sử dụng
Theo đó, các sản phẩm được coi là có thể thay thế cho nhau về mục đích sử dụng, về đặc tính nếu như chúng có mục đích sử dụng, có nhiều tính chất vật lý, tính chất hóa học, tác động phụ với người sử dụng giống nhau Nói cách khác, các sản phẩm được coi là cạnh tranh với nhau khi tính chất của nó giống nhau Dưới góc độ khoa học, có hai nội dung cần phải xem xét là: Thứ nhất, mục đích sử dụng là những yếu tố cơ bản được nhìn nhận dưới con mắt của người sử dụng Các sản phẩm cho dù có khác nhau nhưng nếu có chung một mục đích sử dụng thì được người sử dụng coi là có thể thay thế cho nhau Trong trường hợp này, khoản 3 Điều 4 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định mục đích sử dụng của hàng hóa, dịch vụ được xác định căn cứ vào mục
đích sử dụng chủ yếu nhất của hàng hóa, dịch vụ đó Thứ hai, xác định sự tương tự về đặc tính của sản phẩm đòi hỏi phải phân tích các yếu tố trong
cấu tạo vật chất của sản phẩm như các yếu tố lý hóa, các tác dụng phụ đối với người sử dụng Bởi lẽ các sản phẩm không tương đồng nhau về những yếu tố trên thì không thể thay thế cho nhau, ví dụ các loại Vitamin không thể thay thế cho nhau vì thành phần dinh dưỡng, đặc tính vật lý, nguyên lý chuyển hóa chất khi sử dụng của chúng không giống nhau Có thể nói, việc xác định tương đồng về các yếu tố vật chất lý hóa của sản phẩm là khâu quan trọng hàng đầu trong việc điều tra thị trường liên quan, chỉ khi có kết luận về vấn đề này cơ quan điều tra mới có thể khoanh vùng các sản phẩm có khả năng nằm trong
một vùng thị trường và thực hiện các bước điều tra tiếp theo
Xác định phản ứng của người tiêu dùng khi có sự thay đổi giá cả của sản phẩm Việc xác định khả năng thay thế về tính chất của sản phẩm nhằm
mục đích tìm kiếm sự tương tự nhau giữa các sản phẩm khác nhau, từ đó khẳng định chúng đều đáp ứng cho cùng một nhu cầu sử dụng Tuy nhiên nhu cầu sử dụng là phạm trù diễn tả thái độ của khách hàng (đại diện cho nhu cầu
Trang 22của thị trường) đối với sản phẩm Do đó, việc điều tra về khả năng có thể thay thế giữa các sản phẩm cần phải được kiểm chứng từ phản ứng của thị trường thông qua thái độ của khách hàng đối với sản phẩm khi có sự thay đổi giá cả của chúng trên thị trường Một khi khách hàng bày tỏ thái độ sẵn sàng thay đổi thói quen sử dụng một mặt hàng nhất định nào đó bằng sản phẩm khác, có nghĩa là cả hai sản phẩm nói trên có khả năng thay thế cho nhau Điểm C khoản 5, khoản 7 Điều 4 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định:
Hàng hóa dịch vụ được coi là có thể thay thế được cho nhau về giá cả nếu trên 50% của lượng ngẫu nhiên trong tổng số 1000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hóa, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hóa dịch vụ
họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong sáu tháng liên tiếp Trường hợp số người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan quy định tại điểm này không đủ 1000 người thì lượng mẫu ngẫu nhiên được xác định tối thiểu bằng 50% tổng số người tiêu dùng Trong đó trường hợp cần thiết, cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có thể xác định thêm nhóm người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan không thể chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ khác có đặc tính sử dụng, mục đích sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định
sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa dịch vụ đó tăng lên quá 10% và đươc duy trì trong sáu tháng liên tiếp
Có thể thấy hướng giải quyết hai vấn đề đã nói trên mà các nhà làm luật Việt Nam đưa ra là, mức độ tăng giá thể hiện ở mức tăng lên quá 10% (không khống chế tối đa) so với giá bán lẻ hiện tại và thời hạn tăng giá là 6 tháng liên tiếp (không phải là tăng giá quá độ); đồng thời, số lượng khách hàng có thể thay đổi nhu cầu tiêu dùng là trên 50% của 1000 số mẫu thống kê ngẫu nhiên
từ người tiêu dùng trên thị trường thực tế
Trang 231.2.2 Xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
Điều 11 Luật cạnh tranh năm 2004 quy định:
- Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị
phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể;
- Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu
cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể và thuộc một trong các trường hợp sau: hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan
Như đã phân tích, một trong ba dấu hiệu của hành vi lạm dụng là chủ thể thực hiện hành vi có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan Do đó, trong vụ việc cạnh tranh về các hành vi lạm dụng, nếu không có đủ cơ sở để kết luận về vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp
bị điều tra thì không thể kết luận là có sự vi phạm Mặt khác, căn cứ vào các quy định nói trên, sự việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền được thực hiện qua hai bước cơ bản: (i) xác định thị trường liên quan; (ii) xác định mức độ thống lĩnh hoặc độc quyền của doanh nghiệp trên thị trường dựa vào các căn cứ luật định Luật cạnh tranh đặt ra hai căn cứ để xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp trên thị trường liên quan, áp dụng theo thứ tự ưu tiên là thị phần của doanh nghiệp; và khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể
Thứ nhất: xác định theo thị phần của doanh nghiệp Thị phần của
doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng
Trang 24doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm
Như vậy, căn cứ để xác định thị phần là: (i) tổng doanh thu hoặc
doanh số của tất cả các doanh nghiệp cùng trên một thị trường liên quan; (ii) doanh thu hoặc doanh số của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp bị điều tra
theo Điều 9 Nghị định 116/2006/NDD-CP Doanh thu, doanh số mua vào đối
với một loại hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp được xác định theo quy định của pháp luật về thuế, chuẩn mực kế toán Việt Nam Ngoài ra Nghị định còn
quy định một số trường hợp xác định doanh thu, doanh số mua vào đối với nhóm doanh nghiệp liên kết trực tiếp về tổ chức và tài chính; doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm; tổ chức tín dụng tại các Điều 10, 11 và 12
Dưới góc độ lý thuyết, thị phần là một tiêu chí quan trọng để xác định
sự thành công của nhà kinh doanh trên thị trường, là tỷ lệ chiếm hữu thị trường liên quan của doanh nghiệp Vì thế, pháp luật của nhiều quốc gia coi thị phần như một căn cứ cơ bản và quan trọng để xác định vị trí thống lĩnh Sự khác nhau trong pháp luật của các nước chủ yếu là ấn định mức thị phần mà
doanh nghiệp chiếm giữ để được coi là có quyền lực thị trường Ví dụ, ở
Vương quốc Anh, một doanh nghiệp được xem là có vị trí thống lĩnh khi mua hoặc bán 25% trở lên của một loại hàng hóa, trong nước hoặc trên một khu vực nhất định Trong khi đó, luật của Mông cổ và Ucraina cho rằng vị trí thống lĩnh của một hoặc một nhóm công ty chỉ xuất hiện khi chúng chiếm trên 50% mức cung ứng của một loại sản phẩm nào đó; mức Liên bang Nga đưa
ra là 65% [18, tr 52, 53]
Luật cạnh tranh của Việt Nam đưa ra bốn mức thị phần tương ứng với
số lượng doanh nghiệp là 30% (nếu là một doanh nghiệp); 50% (2 doanh nghiệp); 65% (3 doanh nghiệp); 75% (4 doanh nghiệp) Cơ sở để đề xuất mức
thị phần như trên là dựa vào thực tiễn thị trường Việt Nam, trong đó, có đến
96% doanh nghiệp tham gia kinh doanh là doanh nghiệp vừa và nhỏ Do đó,
Trang 25số doanh nghiệp có được thị phần từ 30% trở lên không phải là nhiều Hơn nữa, các văn bản pháp luật tương ứng như Pháp lệnh bưu chính viễn thông cũng đang sử dụng ngưỡng thị phần 30% để xác định doanh nghiệp viễn thông có vị trí thống lĩnh [7] Tóm lại, tất cá các doanh nghiệp hoặc nhóm
doanh nghiệp có thị phần đạt mức tối thiểu nói trên đều được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường
Như vậy, pháp luật Việt Nam đã sử dụng phương pháp định lượng (ấn định mức thị phần cụ thể) để xác định vị trí thống lĩnh thị trường Do đó, chỉ cần xác định doanh nghiệp bị điều tra có thị phần bằng hoặc vượt ngưỡng quy định là kết luận có vị trí thống lĩnh thị trường mà không cần chứng minh doanh nghiệp đó có khả năng kiểm soát thị trường trên thực tế hay không Với cách tiếp cận này, pháp luật không cần đưa ra khái niệm mang tính học thuật
mà chỉ quy định căn cứ pháp lý để xác định vị trí thống lĩnh Do đó, có thể dễ dàng kết luận một doanh nghiệp đang thống lĩnh thị trường nếu đã xác định được thị trường liên quan và thị phần của doanh nghiệp đó Pháp luật của nhiều nước (đặc biệt là những nước có nhiều kinh nghiệm trong việc xử lý các
vụ việc về hạn chế cạnh tranh như các nước trong cộng đồng châu Âu, Hoa
Kỳ, Canađa ) ưu tiên sử dụng cách đánh giá đa tiêu chí theo từng vụ việc cụ thể để xác định vị trí thống lĩnh thị trường Với quan niệm cho rằng doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh là doanh nghiệp có khả năng kiểm soát thị trường trên thực tế hoặc là doanh nghiệp có khả năng thoát khỏi cạnh tranh, không chịu sự ràng buộc của thị trường và đóng vai trò chủ đạo trên thị trường, án lệ của các nước đều khẳng định thị phần là một trong những nhân tố quan trọng song chưa phải là duy nhất cấu thành nên quyền lực thị trường Tại Pháp, việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường được tiến hành dựa trên nhiều tiêu chí, trong đó chủ yếu là các tiêu chí sau: thị phần của doanh nghiệp; sự mất cân đối giữa các lực lượng trên thị trường (quy mô của doanh nghiệp, doanh nghiệp có trực thuộc tập đoàn, khả năng tài chính, sự yếu kém của các đối thủ
Trang 26cạnh tranh); những lợi thế của doanh nghiệp bị điều tra như trình độ công nghệ, hiệu quả quản lý, uy tín nhãn hiệu ; các yếu tố khách quan khác có khả năng cho phép doanh nghiệp tránh được áp lực cạnh tranh như các rào cản Pháp luật của Canada yêu cầu cơ quan điều tra cần phân tích kết hợp nhiều yếu tố như thị phần của doanh nghiệp bị điều tra, thị phần của các doanh nghiệp còn lại trên thị trường, sự tồn tại của các rào cản gia nhập Từ đó, Cục Quản lý cạnh tranh Canađa đã đặt ra nguyên tắc: một doanh nghiệp có thị phần thấp hơn 35% không thể có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp có thị phần từ 35% trở lên cần được tiếp tục xem xét bằng cách đánh giá thêm những yếu tố khác Pháp luật về cạnh tranh của Hoa Kỳ không quy định cụ thể về vị trí thống lĩnh, nhưng trong các án lệ, Toà án của nước này lại xác định vị trí thống lĩnh là quyền kiểm soát giá cả thị trường hoặc loại trừ cạnh tranh… Do đó, pháp luật ở nhiều quốc gia không coi thị phần là yếu tố duy nhất hay quan trọng nhất mà các yếu tố tổng hợp có thể tác động đồng thời đến khả năng chi phối thị trường của doanh nghiệp sẽ phản ánh quyền lực của doanh nghiệp trên thị trường liên quan
Như vậy, mặc dù có sự khác nhau về số lượng các tiêu chí được sử dụng, song pháp luật của các nước nói trên đều có chung quan điểm cho rằng doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh phải có khả năng kiểm soát thị trường trên thực tế (cụ thể là kiểm soát giá cả của sản phẩm) Do đó, một doanh nghiệp có thị phần lớn, song không thể chi phối thị trường vì có nhiều yếu tố khác ngăn trở như sự tồn tại của các rào cản, quy mô của đối thủ cạnh tranh thì không thể kết luận là doanh nghiệp đó có vị trí thống lĩnh Ngược lại, có thể tồn tại
vị trí thống lĩnh với một doanh nghiệp có thị phần không lớn nhưng lại chi phối được thị trường vì đang nắm giữ nhiều lợi thế cạnh tranh như trình độ công nghệ, khả năng tài chính, sự hậu thuẫn của các tập đoàn Với cách tiếp cận này, pháp luật không đặt ra ngưỡng thị phần cụ thể mà trao cho cơ quan
Trang 27cạnh tranh quyền đánh giá về khả năng kiểm soát thị trường của các doanh nghiệp bị điều tra theo điều kiện của từng vụ việc cụ thể
Kinh nghiệm của các nước cho thấy, phương pháp định lượng mà Luật Cạnh tranh năm 2004 sử dụng một mặt đem lại sự thuận lợi cho cơ quan điều tra nhưng mặt khác có thể tồn tại những sai số cho việc kết luận về vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp bị điều tra Bởi vẫn còn khả năng doanh nghiệp chưa đủ ngưỡng thị phần luật định song lại có thể chi phối thị trường bằng tiềm lực về công nghệ, về tài chính, về hệ thống phân phối và ngược lại
Theo khoản 2 Điều 11 Luật Cạnh tranh, một nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nếu thỏa mãn hai điều kiện sau:
Một, cùng hành động gây hạn chế cạnh tranh (thực hiện cùng một hành
vi hạn chế cạnh tranh); Hai, tổng thị phần của các doanh nghiệp trong nhóm đạt các mức sau:
- Nếu nhóm có hai doanh nghiệp, tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;
- Nếu nhóm có ba doanh nghiệp, tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
- Nếu nhóm có bốn doanh nghiệp, tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
Theo nghĩa thông thường, nhóm doanh nghiệp bao gồm những doanh nghiệp có mối liên hệ về kinh tế, tài chính và tổ chức với nhau như nhóm doanh nghiệp có quan hệ mẹ - con, nhóm doanh nghiệp trong cùng tập đoàn, nhóm doanh nghiệp cùng tham gia một thỏa thuận Tuy nhiên, trong trường hợp này, khái niệm nhóm doanh nghiệp không được xác định từ những quan
hệ kinh tế, tài chính, tổ chức hay thỏa thuận nói trên mà bao gồm các doanh nghiệp đã thực hiện cùng một hành vi hạn chế cạnh tranh Các doanh nghiệp trong nhóm là những doanh nghiệp độc lập và đã thực hiện hành vi hạn chế
Trang 28cạnh tranh giống nhau trong cùng một khoảng thời gian trên cùng thị trường liên quan
Với một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật xử lý các doanh nghiệp tham gia bởi mục đích hạn chế cạnh tranh đã được chứng minh một cách rõ ràng qua sự thống nhất ý chí (thỏa thuận) cùng thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh Với việc lạm dụng của một nhóm doanh nghiệp, pháp luật không xử lý doanh nghiệp vì mục đích hạn chế cạnh tranh mà vì hậu quả hạn chế cạnh tranh mà hành vi của họ gây ra cho thị trường Việc cùng thực hiện một hành vi hạn chế cạnh tranh giống nhau có thể là phản ứng ngẫu nhiên của các doanh nghiệp, có thể là những phản ứng dây chuyền, thậm chí là sự thỏa thuận ngầm mà cơ quan có thẩm quyền không thể tìm được bằng chứng về thỏa thuận
Song, trong mọi trường hợp, hành vi của các doanh nghiệp nếu không được chấm dứt sẽ làm sai lệch, làm giảm hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường Chế định về nhóm doanh nghiệp thống lĩnh được đặt ra nhằm bảo vệ
cơ cấu cạnh tranh của thị trường cho dù không chứng minh được ý chí hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp
Vì khuyết các bằng chứng về ý chí của doanh nghiệp thực hiện hành vi nên các quy định về nhóm doanh nghiệp thống lĩnh thị trường đặt ra những điều kiện chặt chẽ hơn so với việc xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh:
- Với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các doanh nghiệp tham gia chỉ cần thống nhất thực hiện một trong những hành vi hạn chế cạnh tranh là có thể xử lý nếu đáp ứng các điều kiện xử lý theo nguyên tắc cấm tuyệt đối hoặc nguyên tắc thị phần từ 30% trở lên (hành vi hạn chế cạnh tranh có thể đã, đang hoặc chưa được thực hiện trên thực tế) Trong khi đó, các doanh nghiệp chỉ bị quy kết là có vị trí thống lĩnh tập thể khi hành vi hạn chế cạnh tranh đã được thực hiện trên thực tế;
Trang 29- Số lượng các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận không là căn cứ để
xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Có nghĩa là chỉ cần có từ hai doanh nghiệp trở lên cùng nhau thống nhất thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh là
đủ cấu thành nên thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh chỉ có thể bao gồm từ 2 đến 4 doanh nghiệp Do đó, nếu có từ 5 doanh nghiệp trở lên trên thị trường liên quan cùng thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh mà cơ quan có thẩm quyền không có đủ bằng chứng về việc giữa
họ có thỏa thuận thi cũng không thể quy kết là nhóm doanh nghiệp thống lĩnh thị trường
- Tổng thị phần để kết luận nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh luôn cao hơn nhiều so với tổng thị phần để có thể xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Khi có hai doanh nghiệp cùng thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, pháp luật chỉ có thể xử lý theo chế định về nhóm thống lĩnh khi tổng thị phần đạt từ 50% trở lên trên thị trường liên quan (tương ứng với 3 doanh nghiệp là 65%; 4 doanh nghiệp là 75% trở lên trên thị trường liên quan) Trong khi đó, trừ ba loại thỏa thuận bị cấm tuyệt đối (không căn cứ vào thị phần), các thỏa thuận còn lại bị cấm khi tổng thị phần của các doanh nghiệp tham gia đạt từ 30% trở lên trên thị trường liên quan (dù số lượng tham gia là
2 doanh nghiệp trở lên)
Thứ hai: xác định theo khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường khi
có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Trường hợp này được
sử dụng để xác định vị trí thống lĩnh khi một doanh nghiệp chưa tích lũy đủ mức thị phần tối thiểu (tức là có thị phần dưới 30% trên thị trường liên quan) nhưng có khả năng thực hiện những hành vi gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Nghị định số 116/2005/NĐ-CP không giải thích mà chỉ đưa ra các căn cứ để xác định khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể, bao gồm:
Trang 30- Năng lực tài chính của doanh nghiệp;
- Năng lực tài chính của tổ chức cá nhân thành lập doanh nghiệp;
- Năng lực tài chính của tổ chức, cá nhân có quyền kiểm soát hoặc chi phối hoạt động của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp;
- Năng lực tài chính của công ty mẹ;
- Năng lực công nghệ;
- Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp;
- Quy mô của mạng lưới phân phối;
- Các căn cứ khác mà Cơ quan Quản lý cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh cho là phù hợp (Điều 22 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP)
Việc quy định về vị trí thống lĩnh cho các doanh nghiệp có thị phần dưới 30% trên thị trường nhưng có khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể nhằm bổ sung và khắc phục những hạn chế của việc sử dụng thị phần làm căn cứ duy nhất để xác định vị trí thống lĩnh Nghị định 116/2005/NĐ-CP chỉ liệt kê các tiêu chí xác định khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể
mà không đưa ra mức định lượng cho từng tiêu chí Do đó, tùy theo từng vụ việc cụ thể, cơ quan có thẩm quyền sẽ phân tích, đánh giá và đưa ra kết luận
Cơ quan có thẩm quyền có thể sử dụng tất cả hoặc một số tiêu chí trên để đánh giá về vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp
Việc sử dụng khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể làm căn
cứ dự phòng khi xác định vị trí thống lĩnh thị trường nếu yếu tố thị phần chưa
đủ để kết luận sẽ có ý nghĩa đối với quá trình đấu tranh chống các toan tính lạm dụng sức mạnh tài chính, công nghệ để lũng đoạn thị trường từ phía các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước Khả năng xuất hiện những thủ đoạn cấu kết ngầm hoặc đầu tư ngầm để chiếm lĩnh, lũng đoạn thị trường
Trang 31từ các thế lực tài chính quốc tế và trong nước không phải là ít Chúng có thể dựng lên các doanh nghiệp dưới hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hoặc doanh nghiệp trong nước làm bình phong để thực hiện những tính toán nói trên Nếu phân tích từ thị phần, thì những doanh nghiệp này không
đủ tiêu chuẩn để được coi là thống lĩnh hoặc độc quyền, song với sự tài trợ của các doanh nghiệp mẹ, chúng có thể thực hiện những hành vi hạn chế cạnh tranh và có khả năng gây ra hậu quả không khác gì doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thực sự Vì vậy, khi sử dụng khả năng hạn chế cạnh tranh làm căn
cứ kết luận về vị trí thống lĩnh, chúng ta sẽ có cơ sở để đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực nhằm hạn chế cạnh tranh ngay từ trong những giai đoạn đầu của một chiến lược chiếm lĩnh thị trường, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế đảm bảo sự phát triển lành mạnh và an ninh cho nền kinh tế [16]
1.3 KIỂM SOÁT BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
1.31 Vai trò của pháp luật đối với việc kiểm soát hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường
Hầu hết các quốc gia đều nhận thức được rằng không thể xóa bỏ thống lĩnh bằng sức mạnh nhà nước hay bằng bất kỳ cách thức nào khác, trái lại, Nhà nước chỉ có thể áp dụng những biện pháp nhằm hạn chế và kiểm soát nó Bằng những thuộc tính của mình, đặc biệt là tính quy phạm và tính cưỡng chế bắt buộc, pháp luật được xem là công cụ quan trong nhất cho việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Tình trạng lạm dụng vị thế thống lĩnh chỉ được kiểm soát tốt nếu như các hành vi của doanh nghiệp bị kiềm tỏa bởi hệ thống các quy định của pháp luật ổn định, chặt chẽ, đi kèm những chế tài nghiêm khắc Ngược lại, nếu thiếu điều này thì các giải pháp kiểm soát thống lĩnh khác sẽ khó phát huy tác dụng
Thông qua pháp luật, Nhà nước xác định ranh giới pháp lý mà nếu vượt qua ranh giới đó thì một doanh nghiệp sẽ bị coi là ở vào vị thế thống lĩnh,
Trang 32pháp luật cũng xác định đâu là những hành vi lạm dụng vị thế thống lĩnh mà doanh nghiệp bị cấm hoặc bị hạn chế và những chế tài nếu doanh nghiệp vi phạm Pháp luật về chống độc quyền còn thiết lập cơ chế pháp lý nhằm kiểm soát từ xa tất cả các thỏa thuận, liên kết và các hành vi tập trung kinh tế có thể dẫn đến sự hạn chế hoặc triệt tiêu cạnh tranh và tạo ra nguy cơ hình thành nên
vị trí thống lĩnh Có thể nói, mục đích lớn nhất của pháp luật kiểm soát thống lĩnh, độc quyền là duy trì sự tương quan thị trường trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, giới hạn và điều hòa giữa lợi ích của các chủ thể có vị thế độc quyền trên thị trường với lợi ích chung của toàn xã hội Thông qua cơ chế điều chỉnh như trên, pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
có những vai trò như sau:
- Đảm bảo sự ổn định và phát triển của nên kinh tế thị trường, ngăn chặn các tác hại và khuyến khích những mặt tích cực của hoạt động cạnh tranh trong cơ chế thị trường;
- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh của các doanh nghiệp;
- Đảm bảo quyền lợi của các chủ thể kinh doanh khác trong một thị trường liên quan (bảo đảm quyền lợi của các đối thủ cạnh tranh đối với cùng một loại hàng hóa, dịch vụ ở một khu vực địa lý nhất định);
Tựu chung lại, vai trò của pháp luật cạnh tranh là duy trì sự tương quan thị trường trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, duy trì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và các doanh nghiệp khác trên thị trường, góp phần tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng Với vai trò phân tích ở trên, việc ban hành pháp luật cạnh tranh được xem là công cụ pháp lý hữu hiệu nhất trong tay nhà nước để can thiệp, điều tiết cạnh tranh, kiểm soát độc quyền có hiệu quả, duy trì sự vận hành bình thường của nền kinh tế, góp phần tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng
Trang 331.3.2 Pháp luật đưa ra các dấu hiệu để kiểm soát hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường
Bất luận trong một chế độ chính trị xã hội nào, nhà nước của kinh tế thị trường đều phải nâng niu và tôn trọng sự lớn lên và thành công của doanh nghiệp Đây là biểu hiện rõ nét nhất về sự phát triển của kinh tế, của khoa học
và công nghệ và cũng là dấu hiệu tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước Bản thân độc quyền là không có tội, có chăng, vấn đề là độc quyền hình thành bằng phương thức nào và nhà độc quyền có lạm dụng vị thế này để hạn chế hay thủ tiêu cạnh tranh trong thị trường hay không? Tương tự như vậy, một doanh nghiệp lớn lên và thông qua đó chiếm lĩnh một thị phần tương đối lớn trong thị trường liên quan là điều đáng mừng cho họ và vì vậy, nhà nước đứng đắn trong kinh tế thị trường phải ủng hộ và khuyến khích sự phát triển này
Để xác định sức mạnh kinh tế của một hay một nhóm doanh nghiệp trên thị trường, người ta tính đến một loạt các yếu tố như:
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp cũng như khả năng huy động vốn;
- Năng lực về công nghệ của doanh nghiệp;
- Khả năng sử dụng các nhãn hiệu và thương hiệu nổi tiếng;
- Quy mô của hệ thống đại lý, phân phối;
- Tỉ lệ thị phần của doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp trên thị trường;
Nhìn chung, các yếu tố trên đây là tương đối khó xác định về phương diện định lượng Vì vậy, pháp luật thường đặt trọng tâm của việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường vào yếu tố thị phần Điều 11 Luật cạnh tranh quy định:
“1 Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị
phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể
Trang 342 Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;
b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan”
Qua quy định trên đây, có hai vấn đề đáng lưu ý là:
Một là, đối với một doanh nghiệp sẽ được coi là có vị trí thống lĩnh trên thị trường nếu doanh nghiệp đó thể hiện một trong hai điều kiện, hoặc là chiếm từ 30% thị phần trên thị trường liên quan và hoặc là không có mức thị phần cao như vậy nhưng trên thực tế lại có thể gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể
Hai là, đối với một nhóm doanh nghiệp thì cần phải có dấu hiệu là mục tiêu hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh Như vậy, khác với trường hợp một doanh nghiệp mà ở đó, khả năng hạn chế cạnh tranh còn đang tồn tại ở dạng “hình thức” thì tại đây, ý đồ hạn chế cạnh tranh của nhóm doanh nghiệp
đã là rõ ràng Điều tiếp theo cần lưu ý là, các doanh nghiệp trong nhóm hành động phải ngẫu nhiên cùng hành động Trong trường hợp này nhà làm luật không đặt vấn đề phải có thỏa thuận giữa các doanh nghiệp này dưới bất kỳ hình thức nào Bởi lẽ, nếu họ có thỏa thuận thì đây là những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, bị cấm theo Điều 8 của Luật Chính vì vậy, thị phần kết hợp của những doanh nghiệp thống lĩnh này được quy định cao hơn so với thị phần kết hợp của các doanh nghiệp có thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Sau khi đã được coi là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, những doanh nghiệp này sẽ bị cấm lạm dụng vị thế này để hạn chế cạnh tranh
Trang 35theo Điều 13 của Luật cạnh tranh Những hành vi bị cấm đối với doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là:
- Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh Cạnh tranh kiểu này được gọi là bán phá giá; bán hàng dưới giá vốn Giá vốn ở đây được hiểu là tổng chi phí cấu thành giá thành sản xuất và chi phí lưu thông
- Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng Đây cũng là một dạng cạnh tranh thông qua yếu tố giá cả của hàng hóa, dịch vụ mà theo đó, trong điều kiện kinh doanh bình thường (không có thiên tai, khủng hoảng kinh tế ) lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để áp đặt giá mua thấp hơn giá thành sản xuất
- Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng Cũng giống như hiện tượng trên, hành vi bị cấm cũng là hành vi diễn ra trong điều kiện sản xuất kinh doanh bình thường
- Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh Đây thực chất là sự phân biệt đối xử trong kinh doanh, theo đó có một số khách hàng được ưu ái hơn và vì vậy, họ
có điều kiện cạnh tranh tốt hơn bằng phương thức không chính đáng
- Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác kí kết hợp đồng mua, bán hàng hóa dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng Hành vi cửa quyền này chắc hẳn không còn xa lạ đối với thị trường Việt Nam
- Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới Theo phương thức này, các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện việc tẩy chay hay ngăn cản sự nhập cuộc của những đối thủ cạnh tranh
Trang 36mới thông qua việc trực tiếp hay buộc khách hàng mới xuất hiện trên thị trường liên quan
1.3.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
a, Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh theo pháp luật của
Mỹ
Mỹ là quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển hàng đầu thế giới,
và cũng là nước mà các hành vi cạnh tranh diễn ra sôi động và khốc liệt nhất
Vì Mỹ luôn cổ vũ cho sự cạnh tranh tự do, nên pháp luật của Mỹ không thiết lập nên nhiều các ràng buộc pháp lý để kiểm soát hành vi cạnh tranh, vì theo
họ làm như vậy sẽ hạn chế sự cạnh tranh, mà tập trung chủ yếu vào ngăn ngừa, hạn chế nguy cơ hình thành độc quyền, mối đe dọa lớn nhất có thể bóp chết cạnh tranh
Ở Mỹ, một số trường hợp sẽ bị đưa ra xét xử tại tòa hình sự chứ không chỉ đơn thuần là xử phạt hành chính Luật sherman không cấm trở thành nhà độc quyền hoặc thậm chí là ứng xử như nhà độc quyền bằng cách tăng giá hoặc giảm sản lượng Thay vì đó, hành vi bị cấm là hành vi sử dụng các biện pháp không lành mạnh để đạt được hoặc duy trì chế độ độc quyền chủ yếu bằng cách loại các đối thủ cạnh tranh có hiệu quả
Việc duy trì chính sách pháp luật và thực thi nhiệm vụ kiểm soát độc quyền được giao cho hai cơ quan khác nhau Cơ quan thứ nhất là Vụ chống độc quyền (Antitrus Division) thuộc Bộ Tư Pháp, là một bộ phận thuộc một
cơ quan điều hành của Chính phủ Cơ quan thứ hai là Ủy ban thương mại liên bang (Federal Trade Commission), là một cơ quan độc lập được đặt giữa cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp Cán bộ của cả 2 cơ quan này là các Luật gia và các nhà kinh tế; cả hai cơ quan này đều kết hợp các kiến thức chuyên môn về chính sách và các kỹ năng tố tụng với sự điều giải chính trị; cả hai cơ quan này đều thực thi chính sách cạnh tranh chủ yếu bằng cách áp dụng các
Trang 37nguyên tắc chung vào từng trường hợp cụ thể và đều có đủ quyền lực hành động một cách độc lập, để thu thập thông tin cần thiết cho việc ra các quyết định có căn cứ và để bảo đảm quyết định của họ khả thi Trong một số ngành nghề, lĩnh vực quan trọng thì cả hai cơ quan này đều có thẩm quyền can thiệp
và chỉ cần một trong hai cơ quan có kết luận rằng vụ việc hoặc hành vi nào đó
vi phạm Luật cạnh tranh là coi như vụ việc hoặc hành vi đó có vi phạm và sẽ
Nếu cạnh tranh có nguy cơ bị hạn chế đáng kể trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên khi không có sự can thiệp của Ủy ban và nếu lợi ích của quốc gia thành viên này không có khả năng được bảo vệ một cách đầy đủ bởi những quy định khác với quy định của Quy chế này thì cần phải hạn chế thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh của quốc gia thành viên đó Các quốc gia thành viên khác có liên quan cần phải hành đọng nhanh chóng trong những trường hợp như vậy Do có sự khác biệt giữa pháp luật của các quốc gia thành viên cho nên Quy chế này không thể ấn định cho tất cả các quốc gia một thời hạn duy nhất trong việc ban hành những biện pháp cần thiết
Xét đến những hệ quả của hoạt động tập trung kinh tế một khi chúng được thực hiện tại các thị trường độc quyền ít người bán, càng thấy sự cần thiết phải duy trì cạnh tranh thực tế trên thị trường loại này Việc có nhiều thị trường độc quyền ít người bán là dấu hiệu về một mức độ cạnh tranh phù hợp
Trang 38Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những dự án tập trung kinh tế có nội dung loại bỏ những ràng buộc cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp này đối với doanh nghiệp khác hoặc làm giảm áp lực cạnh tranh đối với các đối thủ cạnh tranh khác thì cho dù không có sự liên kết giữa các thành viên của nhóm độc quyền, vẫn có thể coi những dự án như vậy là có hệ quả làm hạn chế đang kể cạnh tranh thực tế
c, Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền tại Trung Quốc
Trung Quốc là nước có nền kinh tế với đặc điểm rất giống nền kinh tế Việt Nam Ở nước này, sự “ ngự trị của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, tập trung trong suốt một thời gian dài với doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tập thể chiếm một tỷ trọng tuyết đối, sự tham gia của bộ phận kinh tế cá thể không đáng kể, nên việc cần thiết phải có một cơ chế pháp lý nhằm bảo hộ quyền tự do kinh doanh hầu như chưa được đặt ra
Luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Trung Quốc được chính thức ban hành ngày 02/09/1993 thể hiện sự khuyến khích, ủng hộ, bảo vệ mọi tổ chức, tham gia giám sát hành động cạnh tranh Phạm vi điều chỉnh của Luật rất rộng, về việc lạm dụng vị thế thống lĩnh, độc quyền có những quy định sau:
- Các xí nghiệp đang được pháp luật công nhận vị thế độc quyền không được ép buộc mọi người mua hàng hóa của doanh nghiệp do họ chỉ định nhằm loại trừ những người sản xuất kinh doanh khác ra khỏi vòng cạnh tranh lành mạnh (Điều 6)
- Chính quyền địa phương không được sử dụng các biện pháp hành chính để ép buộc khách hàng mua hàng hóa ở những địa chỉ chỉ định, không được ngăn cản sự giao lưu và chuyển chở hàng hóa giữa các vùng
Trang 39Ngăn cản mọi hành vi hối lộ, đút lót để có được lợi thế khi mua bán hàng hóa, ngăn cản hành vi bán phá giá, hạ giá một cách phi lý để loại trừ cạnh tranh
Để thực hiện tốt những điều khoản này, Bộ Luật còn quy định về công tác kiểm tra thanh tra nhằm tăng cường hiệu lực của luật Cấp cao nhất là Thanh tra trung ương Cơ quan này và những chi nhánh của nó có thẩm quyền kiểm tra và thanh tra với những chức năng quy định rất cụ thể: được quyền thẩm vấn nhà kinh doanh khi bọ nghi là có hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các đơn vị, cá nhân người làm chứng có liên quan; được quyền yêu cầu họ cung cấp tài liệu làm bằng chứng hoặc các thông tin khác có liên quan; Được phép khảo sát và sao lại các văn bản hợp đồng, sổ sách kế toán, phiếu thu, phiêu chi báo giá, phiếu nhập hàng ; được quyền thanh tra các khoản, tài sản có liên quan tới hoạt động cạnh tranh không lành mạnh đã được quy định
ở trên [22]
Như vậy, những nhân viên thực hiện thanh tra và kiểm soát những hành
vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền hạn rất lớn, tuy nhiên họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những quyết định của họ
Trang 40CHƯƠNG 2 HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
2.1 BÁN HÀNG HÓA, CUNG ỨNG DỊCH VỤ DƯỚI GIÁ THÀNH TOÀN BỘ NHẰM LOẠI BỎ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH
Lý thuyết cạnh tranh luôn cảnh báo về sự nguy hại mà hành vi định giá bán dưới chi phí nhằm loại bỏ đối thủ có thể gây ra cho thị trường và cho các doanh nghiệp Do đó, pháp luật cạnh tranh của nhiều nước đã dành sự quan tâm thích đáng đối với loại hành vi này Pháp luật của các nước sử dụng nhiều tên gọi khác nhau như hành vi ép giá, hành vi định giá mang tính cướp đoạt
và bán phá giá Luật cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam dùng khái niệm của hành vi để gọi tên nó, theo đó, đạo luật này cấm doanh nghiệp thực hiện hành
vi bán hàng hóa, dịch vụ dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ cạnh tranh
Dựa vào tên gọi của hành vi mà Luật cạnh tranh đưa ra và dưới góc độ kinh tế học, có thể phân tích hành vi này dựa vào những căn cứ sau:
Thứ nhất, về hình thức nhận dạng, hành vi định giá dưới giá thành được
biểu hiện thông qua hiện tượng giá của hàng hóa hoặc dịch vụ được ấn định với mức bình thường là dưới giá thành toàn bộ Như vậy, cơ sở để xác định có hay không có hành vi là giá bán hàng hóa hoặc giá cung ứng dịch vụ thực tế
và giá thành toàn bộ của chúng Phương pháp để xác định là so sánh hai loại giá nói trên Một khi kết quả so sánh cho thấy giá bán hàng hóa hoặc giá cung ứng dịch vụ thực tế thấp hơn giá thành toàn bộ thì có thể kết luận rằng đã có hành vi vi phạm xảy ra trong thực tế Dấu hiệu này phản ánh bản chất phi kinh tế của hành vi định giá nói trên và đồng thời cũng đặt ra cho luật pháp và cho các cơ quan, cán bộ hữu trách nhiều vấn đề cần giải quyết khi xác định hành vi Trên thị trường, kinh doanh được hiểu là hành vi tham gia thị trường nhằm tìm kiếm lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh Dưới góc độ pháp lý,