BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI LÊ QUỐC THỂ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ VIỆC RA CÁC QUYẾT ĐỊNH TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN H
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ QUỐC THỂ
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ VIỆC RA CÁC QUYẾT ĐỊNH TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Luật Hình sự
Mã số: 60 38 40
LUẬN VĂN TH ẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tài liệu sử dụng trong Luận văn được trích dẫn trung thực
Tác giả
Lê Quốc Thể
Trang 31.3 Phân loại các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 13
Chương 2: Quy định của bltths năm 2003 về các quyết định tại phiên
Chương 3: Thực tiễn thi hành quy định của bltths năm 2003 về các
quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện các quy định đó
44
3.1 Thực tiễn thi hành quy định của bltths năm 2003 về các quyết định tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
44
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của bltths năm 2003 về việc ra
các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
57
Trang 4TANDTC Tòa án nhân dân Tối cao
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong khoa học pháp lý, Tố tụng hình sự luôn được nhìn nhận dưới góc
độ là một lĩnh vực nhạy cảm vì nó trực tiếp đụng chạm tới các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng Theo đúng trình tự quy định, để giải quyết một vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành các giai đoạn tố tụng khác nhau, mỗi một giai đoạn lại có nhiệm vụ, chức năng và đặc thù riêng của nó Giai đoạn xét xử của Tòa án có thể nói là khâu quyết định, then chốt mà ở đó sự thật khách quan của vụ án sẽ được chứng minh làm sáng tỏ, và chính giai đoạn xét xử trong thực tiễn cũng như lý luận phần nào thể hiện nhiều nét riêng, đặc thù so với các giai đoạn điều tra, truy tố trước đó Xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành có hai cấp xét xử là xét xử sơ thẩm (XXST) vụ án hình sự và xét xử phúc thẩm (XXPT ) vụ án hình sự Tuy nhiên, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là cấp xét xử mà ở đó mới thể hiện hết bản chất quy định của pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta Bởi lẽ, XXST là giai đoạn quan trọng nhất trong các giai đoạn tố tụng hình sự XXST đánh dấu sự kết thúc quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm XXST nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật sẽ góp phần tích cực đấu tranh phòng chống tội phạm, đề cao
vị thế, quyền lực Nhà nước, hạn chế phải xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm hoặc xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, giảm được chi phí cho Nhà nước, tránh được phiền hà cho nhân dân Một trong những nét đặc thù của xét xử là Hội đồng xét
xử (HĐXX) nhân danh Nhà nước thực hiện quyền lực tư pháp một cách trực tiếp
và phải chịu sự giám sát trực tiếp của nhân dân HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự qua quá trình điều tra, xét hỏi, xem xét đánh giá chứng cứ công khai tại phiên tòa
để ra một bản án hoặc quyết định hình sự ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, có khả năng hạn chế hoặc tước bỏ một số quyền của công dân thậm chí cả quyền được sống Bản án, quyết định của HĐXX có thể nói
là mang một ý nghĩa như một sự phán quyết cuối cùng đối với hành vi phạm tội và
Trang 6khi bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật thì đó là hiệu lực chung của Nhà nước và các chủ thể có liên quan phải có nghĩa vụ tuyệt đối chấp hành Chính do tính chất, mức độ nghiêm trọng đó mà mọi hoạt động của HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự đều phải được thực hiện chặt chẽ, chính xác, đảm bảo tính đúng đắn, nếu
để xảy ra sai lầm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện nhiệm vụ của tố tụng hình sự là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Để đảm bảo tốt được yêu cầu của xét xử, ngoài việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, ra các quyết định từ giai đoạn chuẩn bị xét xử thì nhiệm vụ trọng tâm và quan trọng nhất của HĐXX sơ thẩm vụ
án hình sự tại phiên tòa sơ thẩm là việc ra các quyết định trong quá trình xét xử Trong quá trình xét xử vụ án hình sư, HĐXX tiến hành xem xét, đánh giá các chứng cứ trực tiếp tại phiên tòa thông qua kết quả của việc thẩm vấn và tranh luận giữa các bên Nếu nhận thấy các chứng cứ được chứng minh tại phiên tòa phù hợp với thực tế khách quan và diễn biến vụ án được thu thập có trong hồ sơ vụ án thì HĐXX nghị án, ra bản án và tuyên án Còn qua quá trình chứng minh các chứng
cứ tại phiên tòa mà thấy rằng chưa thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm hoặc không cấu thành tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố thì HĐXX ra quyết định trả hồ
sơ để điều tra bổ sung hoặc quyết định đình chỉ vụ án Bên cạnh đó, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa còn có thể ra các quyết định như cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bắt giữ đối với người có hành vi vi phạm trật tự phiên tòa HĐXX còn ra các quyết định khác như quyết định thay đổi thành viên HĐXX, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa, người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ
án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp trong trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố mà HĐXX thấy rằng việc rút truy tố đó là không có căn cứ
Những quy định về các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự được quy định tại các Điều 198,199 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 So với các quy định tương ứng tại BLTTHS năm 1988 thì những quy định của HĐXX tại phiên tòa hình sự sơ thẩm đã có nhiều tiến
bộ, chặt chẽ và khoa học hơn Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng các quy định
Trang 7này đã bộc lộ một số bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ mục đích, yêu cầu của thực tiễn xét xử, gây ra sự nhận thức thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật
Từ những vấn đề nêu trên, học viên chọn chuyên đề “ Hoàn thiện quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự về việc ra các quyết định tại phiên tòa xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự ” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua quá trình tìm hiểu thông tin dựa trên dữ liệu của các cơ sở đào tạo luật, học viên nhận thấy đây là vấn đề mà chưa có công trình khoa học, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ nào nghiên cứu trực tiếp đầy đủ về đề tài này Tuy nhiên, vấn đề này luôn được sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà lý luận
và hoạt động thực tiễn, theo đó đã có một số công trình nghiên cứu dưới từng góc độ khác nhau được công bố, một số công trình nghiên cứu chuyên sâu nhưng chỉ viết về một phần nào đó liên quan đến các quyết định của Tòa án như:
Luận văn “Chế định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam” ThS Lê Đình Long, năm 2002; Luận văn “Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong tố tụng hình sự Việt Nam” ThS Nguyễn Cảnh Minh, năm 2009; Luận văn “ Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” ThS Nguyễn Văn Mai, năm 2009; Luận văn “ Quyết định của Tòa án trong quá trình chuẩn bị xét xử” ThS Phạm Thị Minh Hiền, năm
2011
Tạp chí Luật học số 7/2009 “Sửa đổi quy định của pháp luật về điều tra
bổ sung” của ThS Nguyễn Hải Ninh; Tạp chí Kiểm sát số 5/2008 “Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hình sự đối với trường hợp không có sự việc phạm tội và hành
vi không cấu thành tội phạm” của tác giả Mai Văn Lư; Tạp chí Luật học số 7/2009 “Một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyết định của Tòa án trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm và thực tiễn áp dụng” của TS Hoàng Thị Minh
Sơn
Ngoài ra có một số công trình nghiên cứu các Quyết định của Tòa án, của HĐXX nhưng chỉ giới hạn ở mức độ đại cương, chưa sâu sắc như cuốn
Trang 8sách Giáo trình Luật tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội; các
cuốn sách Bình luận khoa học BLTTHS; Cuốn Trình tự, thủ tục giải quyết vụ
án hình sự của hai tác giả Mai Thanh Hiếu và Nguyễn Chí Công
Tình hình nêu trên cho thấy việc chọn đề tài hoàn thiện quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự về việc ra các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự là vấn đề mới, không trùng lặp với các công trình đã được công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích chính của luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc ra các quyết định của HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự; trên
cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện lý luận chuyên ngành
và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự về việc ra các quyết định trong quá trình xét xử
Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu dưới góc độ lý luận để hình thành khái niệm các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
+ Phân tích, đánh giá các quy định của BLTTHS năm 2003 về các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
+ Nghiên cứu dưới góc độ khái quát thực trạng để đánh giá đúng thực tiễn, chỉ rõ những ưu, nhược điểm của các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, từ đó chỉ rõ các nguyên nhân của các ưu, nhược điểm đó
+ Tổng hợp kết quả nghiên cứu, dự báo tình hình, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả về việc ra các quyết định t ại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án
Trang 9hình sự; thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam
bản án hình sự sơ thẩm được quy định tại Điều 224 BLTTHS năm 2003
+ Về lý luận, nghiên cứu khái niệm các quyết định tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự và phân loại các quyết định đó
+ Nghiên cứu các quy định của BLTTHS năm 2003 về các quyết định của chủ tọa phiên tòa và của HĐXX tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự
+ Thực tiễn được thi hành quy định của pháp luật về việc ra các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án h ình sự ở Việt Nam, tập trung xem xét đánh giá trong khoảng thời gian 5 năm từ 2006 đến 2010
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, cùng đó
sử dụng phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành luật hình sự và các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: Phân tích tổng hợp, thống kê so sánh, phân tích thuần tuý quy phạm pháp luật, phương pháp lý luận kết hợp với thực tiễn
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn là công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách tương đối có
hệ thống dưới góc độ chuyên ngành luật hình sự ; theo đó các kết quả rút ra qua
Trang 10nghiên cứu được cho là mới, có đóng góp cho khoa học chuyên ngành, cụ thể là:
+ Khái quát lý luận về các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự để làm rõ hơn dưới góc độ chuyên ngành luật hình sự về việc ra các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự;
+ Khái quát tương đối cụ thể thực trạng ra quyết định của tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, đánh giá được ưu, nhược điểm Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để tham khảo khi nghiên cứu, sửa đổi bổ sung các quy định về việc ra các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự;
+ Luận văn nêu được một số kiến nghị, các kiến nghị này được xây dựng trên cơ sở tham khảo kết quả của các công trình khoa học đã được công bố, tổng kết lý luận và thực tiễn nên có tính khả thi nếu được áp dụng vào thực tiễn
để thực hiện tốt việc ra các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 3 chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề chung về các quyết định tại phiên tòa xét
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUN G VỀ QUYẾT ĐỊN H TẠI P HIÊN TÒA XÉT XỬ
có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau Nói cách khác, hoạt động của HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự là “hoạt động của các cá nhân được giao nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, họ được quyền căn cứ vào pháp luật để xem xét những vấn đề pháp lý và đưa ra những quyết định pháp lý có tính chất bắt buộc” 28,tr.246.
Hoạt động xét xử là hoạt động có tính đặc trưng riêng của ngành Tòa
án, ngay trong Hiến pháp năm 1946, H iến pháp đầu tiên của Nhà nước ta, mặc dù không quy định rõ Tòa án là cơ quan xét xử nhưng trên tinh thần Hiến pháp chúng ta cũng có thể hiểu Tòa án là cơ quan xét xử Điều 46 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Trong khi xét xử các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”
Trang 12Đến các bản Hiến pháp sau này vào các năm 1959, 1980, 1992 đã quy định rõ ràng và cụ thể về chức năng xét xử của Tòa án, Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định: “TANDTC, các TAND địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác theo luật định là những cơ quan xét xử của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” 15, tr.71. Đánh giá một cách tổng thể thì Hoạt động xét xử của Tòa án mà cụ thể hơn là hoạt động xét xử của HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động mang dấu ấn của quyền lực Nhà nước với mục đích thông qua việc cá biệt hoá các quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ chế độ, pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự góp phần làm ổn định trật tự xã hội
Trong phạm vi luận văn này, học viên chỉ tập trung làm sáng tỏ khái niệm quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm trong vụ án hình sự, mà cụ thể chỉ tập trung vào một số loại quyết định điển hình như các quyết định mang tính mệnh lệnh hành chính, ví dụ như quyết định cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bắt giam đối với người có hành vi vi phạm nội qui phiên tòa; các quyết định mang tính tố tụng hình sự như quyết định về việc trả hồ sơ điều tra bổ sung, quyết định tạm đình chỉ vụ án, chuyển vụ án, bắt giam hoặc trả tự
do cho bị cáo; Quyết định mang tính pháp luật là một dạng quyết định đặc biệt tại phiên tòa đó chính là Bản án của HĐXX
Theo từ điển tiếng Việt thì quyết định được hiểu là theo nghĩa danh từ
có nghĩa là “tên gọi văn bản của các cấp có thẩm quyền” 26,tr.883
BLTTHS năm 2003 không xây dựng khái niệm quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là gì Theo chúng tôi để có thể xây dựng một khái niệm quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là gì cần phải tập trung phân tích, làm rõ một số yếu tố sau:
Trang 13- Thời điểm ra các quyết định nêu trên diễn ra khi nào?
- Chủ thể ra các quyết định tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là ai?
- Thủ tục ra các quyết định được thực hiện như thế nào?
- M ục đích của việc ra các quyết định tại phiên tòa để làm gì?
Trước hết, vấn đề thời điểm ra quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự, theo tên gọi “quyết định tại phiên tòa” chúng ta phải khẳng
định ngay là nó nằm trong giai đoạn đang diễn ra phiên tòa hình sự sơ thẩm chứ không thể là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, hay giai đoạn khác Tuy nhiên, giai đoạn diễn ra phiên tòa xét xử sơ thẩm một vụ án hình sự có thể là một buổi sáng, một ngày nhưng cũng có những phiên tòa diễn ra trong nhiều ngày, thậm chí cả tháng mới có thể tuyên án Vì thế, đối với những quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn này, thì thời điểm ra quyết định chỉ có thể được chủ tọa phiên tòa hoặc HĐXX ra trong khoảng thời gian phiên tòa đang diễn ra tại phòng
xử án trước sự chứng kiến của những người tham dự phiên tòa
Vấn đề chủ thể ra quyết định tại phiên tòa BLTTHS năm 2003 quy định, chủ thể ra các quyết định mang tính mệnh lệnh hành chính tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự về việc cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng
xử án hoặc bị bắt giữ đối với người vi phạm trật tự phiên tòa theo điều 198 BLTTHS là Chủ tọa phiên tòa Chủ thể ra các quyết định mang tính tố tụng hình sự và tính pháp luật như quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án, ra Bản án quy định tại Điều 199 BLTTHS là HĐXX được phân công xét xử vụ án đó Đây là điểm khác biệt so với chủ thể ra các quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Cũng là quyết định tạm đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án hay trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng nếu như tại giai đoạn chuẩn bị xét xử các quyết định này do một mình Thẩm phán, người được Chánh án giao nhiệm vụ làm chủ tọa phiên tòa ra quyết
Trang 14định Còn tại phiên tòa hình sự sơ thẩm nếu phải ra các quyết định nêu trê n thì chủ thể ra quyết định lại là HĐXX sau khi đã được biểu quyết theo đa số
Về vấn đề thủ tục ra các quyết định nêu trên, BLTTHS năm 2003 không quy định cụ thể thủ tục, hình thức đối với việc ra các quyết định mang tính mệnh lệnh hành chính, mang tính tố tụng hình sự và mang tính pháp luật như thế nào Tuy nhiên, trong thực tiễn thi hành chủ tọa phiên tòa
và HĐXX vụ án hình sự sơ thẩm khi ban hành các quyết định nêu trên đều phải tuân theo hệ thống mẫu biểu chung của ngành Tòa án nhân dân ban hành và đặc biệt là các mẫu biểu đã được quy định trong Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số qui định trong phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của BLTTHS năm 2003 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 04)
Việc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hay HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự ra các quyết định tại phiên tòa nhằm mục đích bảo đảm cho phiên tòa được diễn
ra đúng theo trình tự, qui định của pháp luật, một mặt nhằm khắc phục những sai sót của các giai đoạn tố tụng trước đó mà tại phiên tòa mới phát hiện hoặc làm rõ để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án chính xác đúng qui định của pháp luật, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các bên tham gia tố tụng Việc ra các quyết định trên kịp thời, chính xác sẽ có tác dụng rất lớn tới việc thực hiện nhiệm vụ chính trị là giáo dục ý thức pháp luật cho người dân thông qua hoạt động xét
tự, thủ tục qui định của pháp luật, hoặc nhằm khắc phục những sai sót ở các giai
Trang 15đoạn tố tụng trước đó mà tại phiên tòa mới phát hiện, làm rõ để việc giải quyết
vụ án đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các bên tham gia tố tụng Các quyết định đó có thể mang tính chất mệnh lệnh hành chính, có thể mang tính chất tố tụng hình sự và cá biệt nhân danh Nhà nước mang tính chất pháp luật”
1.2 Ý NGHĨA VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Như đã trình bày ở trên, hoạt động xét xử tại phiên tòa của HĐXX là hoạt động nhân danh Nhà nước nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay quyết định của pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau Chính vì lẽ đó, việc ra các quyết định trong giai đoạn này có ý nghĩa sau:
+ Các quyết định này là cơ sở pháp lý để làm phát sinh, thay đổi hoặc chấp dứt trình tự tố tụng, quan hệ tố tụng đang diễn ra tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm Nếu tại phiên tòa hình sự sơ thẩm HĐXX thấy rằng cần phải ra một quyết định cụ thể để khắc phục những sai xót của giai đoạn tố tụng trước đó như giai đoạn điều tra, truy tố hay ngay tại phiên tòa phát sinh tình thiết mới không thể chứng minh làm rõ tại phiên tòa được thì HĐXX phải ra một trong các quyết định: trả hồ sơ điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án, đình chỉ
vụ án để đảm bảo giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật tố tụng, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các bên tham gia tố tụng Quan hệ tố tụng lúc này
có thể là quan hệ giữa HĐXX sơ thẩm với những người tham gia tố tụng, với cơ quan điều tra, với Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên Nếu HĐXX quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì trình tự tố tụng
đó là việc kiểm tra của Viện kiểm sát cùng cấp về yêu cầu điều tra bổ sung
Trang 16của HĐXX, nếu yêu cầu điều tra bổ sung của HĐXX có cơ sở pháp lý nhưng Viện kiểm sát không tự mình bổ sung được thì Viện kiểm sát phải chuyển cho Cơ quan điều tra bổ sung Quan hệ tố tụng trong trường hợp này là quan
hệ giữa HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự với Viện kiểm sát cùng cấp Trường hợp HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự ra quyết định tạm đình chỉ vụ án vì có dấu hiệu bị cáo bị mắc bệnh tâm thần thì trình tự tố tụng cũng tạm dừng Trước khi tạm đình chỉ xét xử thì HĐXX phải yêu cầu trưng cầu giám định tình trạng tâm thần của bị cáo Khi đó phát sinh quan hệ tố tụng mới đó là quan hệ giữa HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự với Hội đồng giám định pháp y Trong trường hợp HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự quyết định đình chỉ vụ án thì đồng thời cũng chấm dứt trình tự tố tụng và quan hệ tố tụng trong trường hợp này đó là quan hệ giữa HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự với Viện kiểm sát cùng cấp, quan hệ giữa người tham gia tố tụng với cơ quan tiến hành tố tụng
+ Thông qua việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tài liệu tại phiên tòa, HĐXX ra các quyết định cụ thể nêu trên phần nà o đã phát hiện và khắc phục được thiếu sót trong quá trình điều tra, truy tố, chính điều đó đã đảm bảo pháp chế, đảm bảo việc tuân theo pháp luật góp phần đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, nhất là trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay
+ Việc HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự ra các quyết định nêu trên, phần nào đã góp phần tích cực vào việc nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với công việc của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết một
vụ án hình sự Bởi lẽ, trong quá trình ra quyết đ ịnh trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án hay đình chỉ vụ án, HĐXX đều phân tích, yêu cầu làm rõ và chỉ ra nguyên nhân tại sao lại HĐXX phải ra quyết định như vậy Trong quyết định nêu rõ các yêu cầu của HĐXX để các cơ quan tiến hành tố tụng khác như Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên, Cơ quan điều tra hình sự theo đó mà bổ sung yêu cầu của HĐXX Qua những quyết định
Trang 17đó của HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự các cơ quan tiến hành tố tụng khác cũng như cá nhân những người trực tiếp tham gia giải quyết vụ án ở các giai đoạn trước đó hiểu rõ trách nhiệm của mình, thấy được bản thân mình còn
có những hạn chế gì trong quá trình tác nghiệp, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân, tích cực học tập trau dồi kiến thức chuyên môn, trong những lần thực hiện công việc sau này nếu gặp trường hợp tương tự sẽ không bao giờ phạm phải sai lầm đó nữa Quan trọng nhất chính là từ việc rút kinh nghiệm những sai xót trước đây sẽ giúp hạn chế được những mâu thuẫn (trong thực tiễn xét xử gặp rất nhiều) về qu an điểm đối với việc giải quyết một vụ án hình sự giữa HĐXX và Viện kiểm sát
+ Việc HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự ra các quyết định nêu trên, phần nào đã góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục ý thức pháp luật trực tiếp cho nhân dân tham dự phiên tòa nói riêng, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của người dân, của tòan thể xã hội nói chung Quan trọng hơn thông qua các quyết định của mình, HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự đã góp phần củng cố lòng tin của nhâ n dân vào hoạt động của HĐXX nói riêng và rộng hơn là xây dựng lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp nước ta nói chung; qua đó góp phần quan trọng vào việc ổn định trật tự xã hội và sự vững mạnh của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củ a công dân
1.3 PHÂN LOẠI CÁC QUYẾT ĐỊNH TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự chủ tọa phiên tòa hoặc HĐXX có thể phải ra một quyết định hoặc một số quyết định trong quá trình giải quyết vụ án Các quyết đ ịnh ấy có thể chỉ do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định cũng có thể phải do HĐXX thảo luận, bàn bạc, nghị án mới
Trang 18ra được quyết định Chính vì lẽ đó, chúng ta cần phân loại các quyết định tại phiên tòa ra thành các loại tương ứng với tính chất, thẩm quyền và hình thức của quyết định Có thể dựa vào các tiêu chí sau để phân loại quyết định tại phiên tòa:
1.3.1 Phân loại theo tính chất của Quyết định
a) Các quyết định mang tính chất mệnh lệnh hành chính
Theo tính chất và hoàn cảnh diễn ra tại phiên tòa, cần phải quy định một loại quyết định nhằm điều chỉnh kịp thời những diễn biến xấu xảy ra ngoài dự liệu trong kế hoạch của HĐXX khi xét xử vụ án Ví dụ trong khi đang xét xử tại phiên tòa, có người tham gia tố tụng hoặc tham dự phiên tòa
có vi phạm nội quy phiên tòa, hoặc có hành vi chống đối, đe dọa HĐXX gây mất trật tự, cản trở việc xét xử (những trường hợp này xảy ra nhiều trong thực tiễn xét xử) thì chủ tọa phiên tòa phải ra một quyết định tương ứng, phù hợp để kịp thời chấn chỉnh các hành vi quá khích đó của người tham gia tố tụng hay tham dự phiên tòa và ổn định trật tự phiên tòa Trong thực tiễn xét
xử thường gặp, có thể là quyết định cảnh cáo, buộc rời khỏi phòng xử án, hoặc bắt giữ người vi phạm Quyết định mang tính chất mệnh lệnh hành chính trong xét xử vụ án hình sự là các quyết định được ban hành trực tiếp
và được thi hành ngay tại phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định nhằm đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi trên tại phiên tòa Các quyết định loại này được quy định trong BLTTHS nhằm giúp cho chủ tọa phiên tòa duy trì
sự ổn định, tính nghiêm minh của phiên tòa hình sự, đảm bảo phiên tòa được diễn ra theo đúng qui định của pháp luật, đạt hiệu quả và mục đích xét xử đề
ra Các quyết định này được sắp xếp trong BLTTHS theo hướng từ nhẹ tới nặng, bao gồm: Quyết định cảnh cáo; Quyết định phạt tiền; Quyết định buộc rời khỏi phòng xử án; Quyết định bắt giữ
b) Các quyết định mang tính chất tố tụng hình sự
Trang 19Quyết định mang tính chất tố tụng hình sự là các quyết định được ban hành tại phiên tòa thông qua việc nghị án và bắt buộc phải được lập thành văn bản do HĐXX quyết định Các quyết định này được BLTTHS quy định nhằm mục đích khắc phục các sai sót trong việc giải quyết vụ án mà các cơ quan tiến hành tố tụng giai đoạn trước đó chưa phát hi ện hoặc do có phát sinh những tình tiết mới, người phạm tội mới tại phiên tòa sơ thẩm mà nếu không ra quyết định để xử lý thì sẽ dẫn tới việc giải quyết vụ án không chính xác, đúng pháp luật, bỏ lọt tội phạm Loại quyết định mang tính chất tố tụng này theo quy định của BLTTS hiện hành nó khác với các quyết định mang tính chất mệnh lệnh hành chính ở chỗ nó được HĐXX ban hành sau khi đã tiến hành xét hỏi, thẩm tra và đánh giá kỹ các chứng cứ hay nói cách khác là
đã xác định sự thật khách quan của vụ án tại phiên tòa Như vậy để ra được quyết địnhnày phải trải qua một thời gian nhất định và phải được họp bàn, thông qua biểu quyết theo đa số chức không phải do chủ tọa phiên tòa quyết địnhngay để kịp thời cho việc duy trì phiên tòa Các quyết định này theo quy định của BLTTHS hiện hành thì về hình thức bắt buộc phải lập thành văn bản BLTTHS năm 2003 quy định loại quyết định này tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm bao gồm:
+ Quyết định về việc thay đổi thành viên của HĐXX, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định , người phiên dịch; Quyết định chuyển vụ án; Quyết định yêu cầu điều tra bổ sung; Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án; Quyết định về việc bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo; Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự
c) Quyết định đặc biệt mang tính pháp luật
Quyết định mang tính pháp luật là loại quyết định đặc biệt Vậy tại sao lại gọi nó là quyết định đặc biệt và nó đặc biệt như thế nào? Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án được
Trang 20coi là một dạng quyết định đặc biệt tại phiên tòa Bản án sơ thẩm của Tòa án quyết định việc bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác (Điều 199 BLTTHS) Bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 224 BLTTHS) Nói Bản án của Tòa án mang tính pháp luật và là một dạng quyết định đặc biệt vì nếu ta đem loại quyết định này so sánh với hai dạng quyết định mang tính chất mệnh lệnh hành chính và quyết định mang tính chất tố tụng hình sự chúng ta thấ y: các quyết định mang tính chất mệnh lệnh hành chính được ban hành nhằm mục đích điều chỉnh tại chỗ đối với một người hoặc một nhóm người có hành vi
vi phạm trật tự phiên tòa, quyết định này có hiệu lực ngay và do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, h ình thức ban hành trong thực tiễn xét xử thường là quyết định bằng mệnh lệnh (bằng miệng) của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa; các quyết định mang tính chất tố tụng hình sự thì được ban hành nhằm mục đích khắc phục sai xót, vướng mắc của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, hay nói cách khác quyết định này được ban hành để điều chỉnh trình tự tố tụng và mối quan hệ giữa các cơ quan tố tụng với nhau sau khi có sự phân tích, đánh giá chứng cứ, nhận định tại phiên tòa của HĐXX Còn Bản án sơ thẩm của Tòa án sau quá trình điều tra, xét hỏi, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa HĐXX mới tiến hành nghị án và biểu quyết theo đa số và ra Bản án để tuyên án Bản án sơ thẩm của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, theo quy định của BLTTHS năm 200 3 thì sau 30 ngày kể từ ngày tuyên án, tức là sau khi hết thời hạn kháng nghị của Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp thì Bản án sơ thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật và được thi hành Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm mang tính pháp luật vì hiệu quả tác động của nó rộng hơn rất nhiều so với hai loại quyết định nêu trên Nó tác động rộng ở chỗ khi có hiệu lực pháp luật thì tất
cả mọi người tham gia tố tụng, tiến hành tố tụng phải tuân theo quyết định
Trang 21của nó Bản án hình sự sơ thẩm khi được thi hành còn có ý nghĩa giáo dục ý thức pháp luật và tuân thủ pháp luật cho toàn thể xã hội
1.3.2 Phân loại theo thẩm quyền ban hành Quyết định
a) Quyết định do một người ban hành
Theo quy định của BLTTHS, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự có thể có nhiều quyết định được ban hành Tuy nhiên, quyết định do một người ban hành khác các quyết định khác ở chỗ thẩm quyền ban hành quyết định do một mình Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa ra quyết định Tại sao lại có quy định về thẩm quyền ban hành các quyết định tại p hiên tòa hình sự sơ thẩm khác nhau như vậy? Sao không quy định tất cả các quyết định tại phiên tòa đều phải do HĐXX quyết định ban hành?
C ó hai lý do để giải thích vì sao cần phải quy định trong luật tố tụng hình sự loại quyết định mang tính chất mệnh lện h hành chính tại phiên tòa và quyết định này chỉ do chủ tọa phiên tòa quyết định Thứ nhất, xuất phát từ hoàn cảnh diễn biến tại phiên tòa, nếu trong khi đang duy trì phiên tòa mà xảy ra sự việc ngoài kế hoạch xét xử của HĐXX, ví dụ có người hoặc một số người gây rối, phá phách, đe dọa HĐXX làm phiên tòa hỗn loạn, mất trật tự, làm giảm tính uy nghiêm của một phiên tòa hình sự (trong thực tiễn xét xử có HĐXX phải rời vào trong phòng nghị án để tránh) thì cần phải có ngay một quyết định mang tính chất mệnh lệ nh, xử phạt giống như quyết định hành chính để duy trì sự ổn định, tính nghiêm minh của phiên tòa Nếu lại phải chờ HĐXX nghị án, thảo luận , biểu quyết xem áp dụng hình thức gì rồi mới ra quyết định thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xét
xử, người có hành vi gây rối sẽ làm loạn phiên tòa thậm chí dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng khác Thứ hai, đã gọi là mệnh lệnh, quyết định xử phạt hành chính thì chỉ do cá nhân một người ra quyết định, không thể là quyết định của tập thể Do đó BLTTHS tại Điều 198 đã quy định cho Thẩm
Trang 22phán chủ tọa phiên tòa cái quyền được ra quyết định ngay lập tức đối với những người có hành vi vi phạm trật tự phiên tòa, và quyết định đó trên thực tiễn xét xử thường được ban hành bằng miệng Chủ tọa phiên tòa có thể tuyên bố trước mọi người có mặt trong phòng xử án rằng tôi cảnh cáo anh A, chị B ; vì có hành vi vi phạm trật tự phiên tòa hoặc lệnh cho bộ phận bảo vệ phiên tòa buộc người vi phạm trật tự phiên tòa rời khỏi phòng xử án, hoặc bắt giữ họ các quyết định này của chủ tọa phiên tòa trên thực tế đều được ban hành bằng mệnh lệnh, hay nói cách khác là bằng miệng
b) Quyết định do Hội đồng xét xử ban hành
Bên cạnh các quyết định mang tính chất mệnh lệnh hành chính như đã phân tích ở trên do một người là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ban hành thì các quyết định còn lại tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự đều phải do HĐXX quyết định ban hành
BLTTHS năm 2003 quy định giao thẩm quyền ban hành các quyết định về việc thay đổi thành viên của HĐXX, Kiểm sát viên, Thư ký Tò a án, người giám định, người phiên dịch; chuyển vụ án; yêu cầu điều tra bổ sung; tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án; bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo và một
số quyết định về các vấn đề khác cho HĐXX (Đ199); quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự (Đ104); và một loại quyết định đặc biệt nữa được BLTTHS quy định giao cho HĐXX ban hành đó chính là Bản án hình sự sơ thẩm Như vậy, có rất nhiều quyết định trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa được HĐXX ban hành Các quyết địn h này là loại quyết định mang tính chất tố tụng hình sự và mang tính chất pháp luật, trong thực tiễn xét xử về mặt hình thức ban hành các quyết định này thường được ban hành dưới dạng văn bản Sở dĩ pháp luật tố tụng quy định cho HĐXX thẩm quyền ban hành loại quyết định này là vì, xét về tính chất
và hoàn cảnh để ban hành quyết định thì các quyết định này có tính chất
Trang 23phức tạp hơn so với các quyết định mang tính chất mệnh lệnh hành chính Thứ nhất, nó trực tiếp làm ảnh hưởng tới đường lối, kết quả giải quyế t vụ án, ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng Để ban hành được một trong các quyết định loại này cần phải có thời gian phân tích, đánh giá, phải huy động trí tuệ của tập thể mới đi đến kết luận cuối cùng, như vậy mới tránh được tối đa nguy cơ xét xử sai, làm oan người vô tội hay
bỏ lọt tội phạm Thứ hai, hoàn cảnh khi ban hành quyết định không bị tác động, chi phối bởi ngoại cảnh, tức là người ban hành quyết định hoàn toàn chủ động về mọi mặt hay nói cách khác các quyết định n ày được ban hành trong hoàn cảnh không phải là tình thế cấp thiết Chính vì hai lý do trên mà BLTTHS quy định loại quyết định này phải do HĐXX ban hành là hoàn toàn phù hợp
1.3.3 Phân loại theo hình thức Quyết định
a) Quyết định được ban hành bằng miệng
Thông thường, khi chúng ta nói tới một quyết định nào đó thì mọi người đều có liên tưởng rằng đó là một văn bản chứa đựng những nội dung nhất định về một vấn đề nào đấy trong các lĩnh vực khác nhau Như vậy, trong tiềm thức mỗi con người chúng ta đều c oi quyết định là một văn bản được cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào đó ban hành nhằm những mục đích nhất định khác nhau Nhận thức đó hoàn toàn có cơ sở vì trong thực tế cuộc sống mỗi chúng ta ít nhiều cũng gặp một vài lần các quyết định như vậy Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại các quyết định được ban hành dưới hình thức khác không phải bằng văn bản thì chúng ta ít quan tâm tới
Trong cuộc sống, có rất nhiều lĩnh vực công tác khác nhau, mỗi lĩnh vực đều có những mối quan hệ ràng buộc điều chỉnh đặc trưn g riêng của nó
Tố tụng hình sự là một lĩnh vực trong cuộc sống xã hội, và lĩnh vực này luôn được xem là có chứa đựng nhiều vấn đề nhạy cảm Chính vì lẽ đó, các quyết
Trang 24định được ban hành trong lĩnh vực tố tụng hình sự cũng nhạy cảm không kém Có quyết định chỉ để kịp thời ngăn chặn một hành vi vi phạm nào đó, nhưng có quyết định có thể làm thay đổi số phận một con người, điều đó luôn đặt ra cho những người có thẩm quyền ban hành một trách nhiệm nặng
nề
Và để phân biệt các quyết định trong tố tụng hình sự, nhất là tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự, cũng như giúp cho những người có thẩm quyền ban hành quyết định trong lĩnh vực này dễ dàng áp dụng trong thực tiễn xét xử BLTTHS năm 2003 đã quy định về hình thức ban hành quyết định tố tụng hình sự tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự dưới dạng các quyết định được ban hành bằng miệng (mệnh lệnh), có tính chất như quyết định hành chính do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ban hành trong quá trình duy trì việc xét xử, các quyết định này thông thường có hiệu lực ng ay sau khi thẩm phán chủ tọa phiên tòa công bố quyết định Ví dụ: Chủ tọa phiên tòa lệnh cho bộ phận bảo vệ phiên tòa bắt giữ người có hành vi vi phạm trật tự phiên tòa, sau khi chủ tọa ra lệnh xong thì bộ phận bảo vệ phiên tòa lập tức thi hành mệnh lệnh bắt giữ người vi phạm đó ngay
b) Quyết định được ban hành bằng văn bản
Nếu như nói các quyết định mang tính chất mệnh lệnh hành chính trong thực tế xét xử đều được ban hành dưới hình thức bằng miệng thì ngược lại các quyết định mang tính chất tố tụng hìn h sự hay mang tính chất pháp luật lại bắt buộc phải được ban hành dưới hình thức văn bản
BLTTHS năm 2003 có nhiều Điều luật quy định hình thức các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng phải được ban hành bằng văn bản Đối với các quyết định tại phiên tòa hình sự sơ thẩm do HĐXX ban hành chúng
ta có thể liệt kê như sau: Quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự; quyết định thay đổi thành viên HĐXX, Thẩm phán,
Trang 25Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch; quyế t định chuyển vụ án; quyết định yêu cầu điều tra bổ sung; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và một số quyết định về các vấn đề khác
Các quyết định được ban hành bằng văn bản trong lĩnh vực tố tụng hình sự nêu trên về mặt hình thức cũng giống như hầu hết các loại quyết định khác trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, như quyết định trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, kinh tế, chính trị Tuy nhiên, các quyết định này mặc dù mỗi quyết định có thể chứa đựng các nội dung khác nhau, điều chỉnh
về từng trường hợp cụ thể trong lĩnh vực tố tụng hình sự nhưng tựu chung lại, về bản chất chúng đều là các quyết định mang tính chất tố tụng hình sự Chúng được ban hành nhằm mục đích giúp cho HĐXX có những động thái, quyết sách phù hợp với quy định của pháp luật, tuân thủ pháp luật, hạn chế các sai xót trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của tiến trình cải cách tư pháp hiện nay
Như vậy, từ việc khái quát, tìm hiểu chung về bản chất quyết định chính là tên gọi của một văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành chúng
ta đã tiến tới xây dựng được một khái niệm chung nhất về các quyết định tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Ý nghĩa của việc ra các quyết định đó tại phiên tòa, phân loại các quyết định tại phiên tòa ra thành các loại khác nhau phù hợp với tính chất, mức độ, hoàn cảnh, thẩm quyền và hình thức ban hành của quyết định Chúng ta đã xây dựng và hoàn thiện chương 1 của luận văn
“những vấn đề chung về các quyết định tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” Tuy nhiên, đây mới chỉ là những vấn đề mang tính chất lý luận, còn cụ thể như thế nào, quy định ra sao, quy định tại đâu chúng ta phải tìm hiểu và cùng nhau phân tích tại chương 2: “Quy định của BLTTHS năm
2003 về việc ra các quyết định tại phên tòa sơ thẩm vụ án hình sự”
Trang 26Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS NĂM 2003 VỀ CÁC QUYẾT ĐỊN H TẠI P HIÊN
Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, học viên chỉ lựa chọn một số loại quyết định mà trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự thường gặp phải và còn có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau trong cách tiếp cận và giải quyết để tập trung phân tích, làm rõ nguyên nhân từ đó đề xuất các kiến nghị, sửa đổi bổ sung, hoàn thiện BLTTHS
2.1 Quy định của BLTTHS năm 2003 về các Quyết định tại phiên tòa mang tính chất mệnh lệnh hành chính
Điều 198 BLTTHS năm 2003 quy định những biện pháp đối với người vi phạm trật tự phiên tòa như sau:
- Những người vi phạm trật tự phiên tòa thì tuỳ từng trường hợp, có thể
bị chủ tọa phiên tòa cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bị bắt giữ
- N g ư ời bảo v ệ phiên tò a có nh iệ m vụ b ảo vệ trật tự phiên tò a và thi
Trang 27hành lệnh của chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bắt giữ người gây rối trật tự tại phiên tòa
Trường hợp thứ nhất quy định về việc Chủ tọa phiên tòa quyết định cảnh cáo người có hành vi vi phạm trật tự phiên tòa
Nói đến phiên tòa xét xử vụ án hình sự chúng ta nghĩ rằng đó là một phiên tòa uy nghiêm, mang nặng màu sắc của các chế tài hình sự Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số vụ án hình sự mà trong quá trình xét xử tại phiên tòa đã phát sinh những tình huống ngo ài “kịch bản” của HĐXX Có thể kể đến những tình huống mà HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự hay gặp nhất đó là thái độ bực tức, bất mãn của những người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại hay đại diện gia đình của họ khi họ cho rằng việc xét xử của HĐXX hay lời khai của bị cáo, nhân chứng không có lợi cho phía họ Lúc này, họ có thể chửi bới, đập phá bàn ghế, hoặc có những hành động quá khích làm náo loạn phiên tòa
Khi gặp phải những tình huống trong quá trình xét xử vụ án hình sự như vậy, đòi hỏi Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa phải có ngay động thái nào
đó nhằm ổn định phiên tòa ngay tức khắc, tránh để cho những hành vi quá khích đó làm ảnh hưởng đến việc xét xử của Tòa án BLTTHS quy định trao quyền cho chủ tọa phiên tòa được quyền cảnh cáo đối với nhữn g người có hành vi vi phạm trật tự phiên tòa, nhưng không quy định rõ vi phạm như thế nào thì cảnh cáo Tuy nhiên, theo pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định thì chúng ta có thể hiểu rằng cần áp dụng hình thức cảnh cáo đối với người có hành vi vi phạm trật tự phiên tòa, nếu là trường hợp họ vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu trong phiên tòa, chưa cấu thành tội phạm hình sự
Thông thường trong thực tiễn xét xử, các Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nếu gặp trường hợp có người vi phạm trật tự phiên tòa như vậy thì sẽ có động thái bằng lời nói trực tiếp: “Tôi cảnh cáo ông/bà/anh/chị, nếu còn vi
Trang 28phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật” Như vậy, chúng ta hiểu đó chính là một quyết định cảnh cáo mà vị Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đưa ra
để kịp thời trấn chỉnh trật tự phiên tòa và quyết định đó đã hoàn thành, có hiệu lực Hiện nay, có nhiều ý kiến cho rằng nếu chủ tọa phiên tòa chỉ đơn thuần ra một mệnh lệnh trực tiếp để cảnh cáo người vi phạm trật tự phiên tòa như vậy thì nếu họ vẫn còn tiếp tục có hành vi vi ph am tương tự sau đấy thì chủ tọa lấy cơ sở nào để xử lý họ bằng hình thức nặng hơn như phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bắt giữ họ Mặt khác, BLTTHS không quy định hình thức ban hành quyết định cảnh cáo của chủ tọa phiên tòa là phải bằng văn bản Tuy nhiên theo quy định tại văn bản pháp luật khác là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 2007
và 2008 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh XLVPHC) thì lại quy định cụ thể: “
Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản ” (Đ13 Pháp lệnh XLVPHC) Như
vậy phải chăng ở đây có sự xung đột pháp luật?
Chúng tôi đồng ý với quan điểm quyết định cảnh cáo của chủ tọa phiên tòa phải được ban hành dưới dạng văn bản bởi lẽ: Trong diễn biến suốt cả phiên tòa hình sự, có rất nhiều thời điểm những người tham gia tố tụng, những người tham dự phiên tòa (thường là những người bị hại hoặc đại diện của họ trong vụ án) tỏ rõ thái độ không đồng tình với HĐXX, với bị cáo ngay tại phiên tòa Mà nếu xét ra hành vi vi phạm của họ mỗi lần chỉ thuộc dạng không nghiêm trọng, được coi là vi phạm nhỏ, nếu xử lý chỉ bị xử phạt bằng hình thức cảnh cáo Như vậy, chả nhẽ mỗi lần họ vi phạm thì chủ tọa lại cảnh cáo họ, nếu làm vậy chắc chắn tính nghiêm minh của phiên tòa hình
sự không có nữa Mà muốn xử phạt họ bằng hình thức nặng hơn thì căn cứ vào đâu? nếu nói rằng họ đã bị cảnh cáo mà còn vi phạm thì dựa vào lý lẽ nào nếu họ cãi chưa bị cảnh cáo? Do đó, để có căn cứ xử phạt những người
có hành vi vi phạm trật tự phiên tòa bằng các hình thức khác nặng hơn đồng thời cũng phù hợp với hình thức quyết định cảnh cáo được quy định trong
Trang 29Pháp lệnh XLVPHC thì cần sửa đổi về hình thức quyết định cảnh cáo của chủ tọa phiên tòa được quy định tại Điều 198 BLTTHS từ cảnh cáo bằng miệng thành cảnh cáo bằng văn bản
Trường hợp thứ hai quy định về việc Chủ tọa phiên tòa quyết định phạt tiền đối với người có hành vi vi phạm trật tự phiên tòa
Những người có hành vi vi phạm trật tự phiên tòa làm cản trở các hoạt động tố tụng của HĐXX, hành vi đó được xác định không phải là vi phạm nhỏ chỉ cần áp dụng hình phạt cảnh cáo nữa Lúc này Chủ tọa phiên tòa cần một quyết định nghiêm hơn, mang tính chế tài nặng hơn để kịp thời răn đe người vi phạm cũng như những người tham dự phiên tòa khác Điều 198 BLTTHS quy định: “Những người vi phạm trật tự phiên tòa có thể bị chủ tọa phiên tòa phạt tiền” Như vậy, rõ ràng về mặt nội dung, BLTTHS không quy định cụ thể chủ tọa phiên tòa sẽ phạt tiền người vi phạm trong trường hợp nào? phạt tiền bao nhiêu ? và về mặt hình thức cũng không quy định cụ thể
là xử phạt theo hình thức nào, quyết định bằng miệng hay bằng văn bản
Trong thực tiễn xét xử loại quyết định hình phạt này mặc dù được quy định trong BLTTHS tuy nhiên hầu như không có vị Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nào áp dụng để xử lý người vi phạm trật tự phiên tòa c ả Lý do không áp dụng loại quyết định này có thể kể ra như sau:
Thứ nhất, nếu áp dụng, chủ tọa phiên tòa không biết phạt bao nhiêu cho từng trường hợp vi phạm Trong phiên tòa có người hành vi vi phạm của họ gây hậu quả xấu tới phiên tòa nhưng chưa đến mức phải xử lý bằng hình sự, có người hành vi vi phạm của họ chỉ vượt qua hình thức cảnh cáo một chút thôi Vậy chủ tọa phiên tòa dựa vào đâu để đưa ra mức phạt tiền cụ thể đối với họ
Thứ hai, quy định hình thức xử phạt trong BLTTHS không mang tính khả thi trong thực tiễn vì nếu như tuyên bố phạt tiền bằng miệng đối với người vi phạm trật tự phiên tòa thì sau đó lấy căn cứ ở đâu mà yêu cầu họ thi hành quyết định đó Thực tế không có vị chủ tọa nào có thể tuyên bố tôi phạt anh/chị/ông/bà bao nhiêu tiền cả, tuyên bố như thế rất vô lý và thiếu căn cứ
Trang 30Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật khác như tại Điều 40 của Pháp lệnh XLVPHC, lại có quy định về người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và các hình thức xử phạt vi phạm hành chính Cụ thể như sau:
+ Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền:
Trường hợp thứ ba quy định về việc chủ tọa phiên tòa lệnh cho người bảo vệ phiên tòa buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bắt giữ đối với người vi phạm trật tự phiên tòa
Đối với quy định này, trong thực tiễn xét xử các Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hay sử dụng nhất Lý do bởi hai trường hợp trước đó quy định về cảnh cáo và phạt tiền không có căn cứ khả thi cho nên nếu có người vi phạm trật tự phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu người bảo vệ trật tự phiên tòa buộc họ rời khỏi phòng xử án là xong
2.2 Quy định của BLTTHS năm 2003 về các Quyết định tại phiên tòa mang tính chất Tố tụng hình sự
a Quy định về quyết định yêu cầu điều tra bổ sung
Khoản 2 Điều 199 BLTTHS quy định việc HĐXX quyết định yêu cầu điều tra bổ sung Mặc dù tại Điều 199 không quy định rõ trường hợp nào thì HĐXX yêu cầu điều tra bổ sung, tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rằng
Trang 31trường hợp này cũng giống như trường hợp trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 179 BLTTHS năm 2003, đó là:
- Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không bổ sung tại phiên tòa được;
- Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác;
- Khi phát hiện có hành vi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Đối với trường hợp “cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không bổ sung tại phiên tòa được”
Thông thường, trong quá trình chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa đã nghiên cứu hồ sơ, đánh giá các chứng cứ có trong hồ
sơ xem đã đầy đủ chưa? bị cáo bị truy tố về tội đó có đúng không Nếu phát hiện chứng cứ không đầy đủ thì ra quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung Như vậy, đối với những vụ án bình thường việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra
bổ sung thường được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và quyết định
đó do Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa quyết định Tuy nhiên, trong thực tiễn có không ít những vụ án mà qua nghiên cứu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không phát hiện ra những thiếu xót trong việc thu thập chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng trước đó, hoặc có phát hiện ra nhưng cho rằng có thể bổ sung tại phiên tòa được Cũng có vụ án tại phiên tòa
bị cáo hoặc những người tham gia tố tụng khác mới trình cho HĐXX chứng cứ mới có thể làm ảnh
hưởng tới việc chứng minh sự thật khách quan của vụ án
Vì vậy, tại phiên tòa HĐXX phải ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung đối với những trường hợp nêu trên Tuy nhiên xung quanh vấn đề
“chứng cứ quan trọng không thể bổ sung tại phiên tòa” hiện nay có nhiều
quan điểm khác nhau, có quan điểm coi chứng cứ đó là bổ sung tại phiên tòa
Trang 32được, có quan điểm lại coi chứng cứ đó không thể bổ sung tại phiên tòa được mà phải được thu thập bổ sung lại theo trình tự tố tụng quy định trong BLTTHS
BLTTHS năm 2003 không quy định và giải thích chứng cứ quan trọng
là gì Tuy nhiên, tại Thông tư liên tịch số 01 ngày 27/8/2010 hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung (sau đây gọi tắt là Thông tư số 01) có hướng dẫn chứng cứ quan trong là các chứng
cứ quy định tại Điều 64 BLTTHS dùng để chứng minh các vấn đề quy định tại Điều 63 BLTTHS Nếu thiếu các chứng cứ này việc giải q uyết vụ án một
là không thể được hoặc dẫn đến thiếu khách quan, không toàn diện và trái pháp luật Như vậy, chứng cứ quan trọng theo Thông tư số 01 thường là những chứng cứ về hành vi phạm tội của bị cáo; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo bên cạnh đó một số chứng cứ về dân sự nhưng liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự hay còn gọi là chứng cứ về phần dân sự trong vụ án hình sự cũng được coi là chứng cứ quan trọng Một điểm cần lưu ý không phải mọi chứng cứ về phần dân sự chưa được làm rõ đều thuộc trường hợp yêu cầu điều tra bổ sung mà chứng
cứ đó phải liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo 24,tr.128
Hiện nay có quan điểm cho rằng “nh ững chứng cứ m à Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể khắc phục bổ sung được như chứng cứ về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc về mức bồi thường thiệt hại thì không nên trả hồ sơ” 05,tr.40-43 Theo quan điểm của chúng tôi, quan điểm trên không hẳn đúng trong mọi trường hợp được, có những vụ án nếu chỉ nhìn nhận ở khía cạnh bên ngoài tưởng đơn giản có thể bổ sung tại phiên tòa tuy nhiên đi sâu phân tích cụ thể từng vấn đề lại thấy rất phức tạp, không thể không trả
Trang 33hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung thu thập thêm chứng cứ được Ví dụ: Trong một vụ án trộm cắp tài sản chẳng hạn, bị cáo đã đột nhập vào một trường học chiếm đoạt hai chiếc máy vi tính xách tay, 20 triệu đồng và một số thiết
bị máy chiếu phục vụ cho giảng dạy với tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt theo lời khai của bên bị hại là 60 triệu đồng Qúa trình điều tra, truy tố cơ quan điều tra cũng như Viện kiểm sát dựa vào lời khai của bị hại rằng số tài sản đó mới mua có tổng giá trị như vậy mà không xác định giá trị của mỗi tài sản và tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là bao nhiêu có căn cứ phù hợp với lời khai của người bị hại không Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã yêu cầu điều tra bổ sung vấn đề này, tuy nhiên Viện kiểm sát cho rằng không cần điều tra bổ sung và khẳng định tại phiên tòa sẽ yêu cầu bên bị hại là trường học kia xuất trình hoá đơn mua hàng để chứng minh tổng giá trị tài sản cũng được vì tài sản mới mua theo bị hại khai Bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố theo điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS Tuy nhiên, tại phiên tòa phía bị hại không xuất trình được hoá đơn chứng minh giá trị từng loại tài sản bị chiếm đoạt để tính tổng giá trị tài sản chiếm đoạt có đúng là 60 triệu đồng hay không Trong trường hợp này bắt buộc HĐXX phải yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung vì việc điều tra chứng minh tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt thực tế là bao nhiêu là rất quan trọng, vì gianh giới giữa khoản 1 và khoản 2 Điều 138 trong trường hợp này rất là mong manh và nó cũng chính là căn cứ để
HĐXX buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho phía bị hại
Một loạt các chứng cứ được coi là quan trọng nếu thiếu được quy định tại khoản 2 Điều 1 Thông tư số 01 như: Chứng cứ dùng để chứng minh có hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế không; chứng cứ dùng để chứng minh ai
là người thực hiện hành vi phạm tội; chứng cứ dùng để chứng minh có lỗi hay không có lỗi, lỗi gì; chứng cử dùng để chứng minh người phạm tội có
Trang 34năng lực trách nhiệm hình sự hay không; chứng cứ dùng để chứng minh mục đích và động cơ phạm tội của bị cáo; chứng cứ dùng để chứng minh các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự Tuy nhiên mặc dù là những chứng cứ quan trọng nhưng không phải tất cả các trường hợp cứ thiếu một trong các chứng cứ quan trọng là Thẩm phán ở giai đoạn chuẩn bị xét xử hay HĐXX ở giai đoạn xét xử đều phải trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung Vì nếu thực hiện một cách máy móc như vậy sẽ dẫn đến hệ quả lượng án hình
sự tồn đọng rất lớn, gây khó khăn, tốn kém mọi mặt cho các cơ quan tiến hành tố tụng và cả những người tham gia tố tụng khác khi phải chời đợi một thời gian nữa mới biết kết quả giải quyết vu án ra sao Ví dụ như ở vụ án trộm cắp tài sản nêu trên, giả sử tại phiên tòa phía bị hại xuất trình được cá tài liệu, hoá đơn mới mua hàng, chứng minh được tổng số giá trị tài sản bị chiếm đoạt, và HĐXX xét thấy các hoá đơn chứng từ đó phù hợp với giá trị tài sản bị chiếm đoạt như truy tố của Viện kiểm sát thì không cần thiết phải yêu cầu điều tra bổ sung nữa mà xét xử luôn bị cáo theo như truy tố của Viện kiểm sát
Đối với trường hợp “khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm tội khác hoặc có đồng phạm khác”
Vấn đề “phạm một tội khác” BLTTHS cũng như các văn bản dưới luật khác chưa có quy định cụ thể Tuy nhiên, trong giới nghiên cứu khoa học luật hình sự ở nước ta hiện nay tồn tại một số quan điểm về vấn đề này như sau:
- T rường hợp thứ nhất: Bị cáo phạm một tội khác có nghĩa tội đó phải
khác với tội đã bị Viện kiểm sát truy tố Ví dụ: bị cáo C bị Viện kiểm sát truy tố về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 BLHS Các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng thể hiện hành vi khách quan của tội
Trang 35lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, tại phiên tòa qua thẩm vấn bị cáo, người bị hại và người làm chứng HĐXX thấy rằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là không chính xác Bị cáo đã lừ a dối bị hại làm cho
bị hại tin vào kế hoạch làm ăn của bị cáo và đưa tiền cho bị cáo để làm ăn chung Sau khi thấy bị cáo không thanh toán đúng hẹn thì bị hại với bị cáo
đã làm một hợp đồng vay tài sản để hợp thức hoá số nợ của bị cáo Sau khi làm hợp đồng vay tài sản thì bị cáo bỏ trốn Như vậy trường hợp này HĐXX nhận định bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS
là chính xác
Trường hợp thứ hai: Bị cáo phạm tội khác nghĩa là ngoài tội bị Viện kiểm sát truy tố bị cáo còn phạm thêm một hoặc vài tội khác nữa Trường hợp phạm tội khác này trong thực tiễn xét xử chúng ta hay gặp ở tội giết người; cố ý gây thương tích, cướp tài sản bị cáo thường sử dụng vũ khí quân dụng làm phương tiện phạm tội Thông thường trong hồ sơ vụ án các dấu hiệu CTTP của các tội này đã được thể hiện trong các tài liệu có trong
hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập Tuy nhiên, có thể
do nhận thức, đánh giá chưa hết tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, có thể do nhầm lẫn các văn bản hướng dẫn pháp luật trước đây về trường hợp thu hút tội cho nên cơ quan tiến hành tố tụng trước đó đã không khởi tố, truy
tố Kể cả Thẩm phán tại giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng không chú ý đến tình tiết này, đến khi thẩm vấn tại phiên tòa HĐXX m ới thấy hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng là rõ ràng lúc này mới quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự theo khoản 1 Điều 104 BLTTHS năm 2003
Chúng tôi cho rằng không nhất thiết cứ phát hiện ra trường hợp bị cáo phạm một tội khác nào thì HĐXX cũng yêu cầu điều tra bổ sung Chỉ tiến hành động tác đó khi tội mới phát hiện nặng hơn tội Viện kiểm sát truy tố
Trang 36hoặc có liên quan đến tội mà viện kiểm sát truy tố cần giải quyết chung trong một vụ án nhằm đảm bảo xác định sự thật khách quan và toàn diện của
vụ án Còn nếu HĐXX thấy tội mới phát hiện bằng hoặc nhẹ hơn tội mà viện kiểm sát truy tố thì không cần yêu cầu điều tra bổ sung Điều đó hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 196 BLTTHS năm 2003 và Điều 2 Thông tư
số 01 Điều 196 BLTTHS quy định: “Tòa án có thể xét xử về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà viện kiểm sát đã truy tố” Khoản 2 Điều 2 Thông
tư số 01 quy định: “nếu có căn cứ bị can, bị cáo phạm một tội khác nhưng tội này không ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án thì Việ n kiểm sát vân truy tố, Tòa án vẫn xét xử mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung”
Như vậy, đối với các trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều
179 BLTTHS năm 2003 HĐXX chỉ yêu cầu điều tra bổ sung nếu đó là chứng cứ quan trọng và tại tòa đã tiến hành bổ sung nhưng không bổ sung được, còn trường hợp phát hiện tội phạm khác tại điểm b khoản1 Điều 179 không nhất thiết phải trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung Về mặt nội dung yêu cầu điều tra bổ sung như vậy, song về hình thức quyết định nó có điểm khác biệt về tên gọi của quyết định so với giai đoạn chuẩn bị xét xử Quyết định tại phiên tòa do HĐXX ban hành theo quy định của BLTTHS năm
2003 cũng như mẫu biểu trong Nghị quyết số 04/2004 gọi là quyết định yêu cầu điều tra bổ sung còn quyết định trong gia i đoạn chuẩn bị xét xử do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ban hành gọi là quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung Theo chúng tôi mặc dù tên gọi khác nhau, thẩm quyền ban hành khác nhau nhưng về bản chất của nó là một Nội dung hai quyết định này đều hàm chứa những yêu cầu giống nhau của HĐXX cũng như của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đó là yêu cầu bổ sung những chứng cứ quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết đúng đắn vụ án Trong thực tiễn xét xử, có HĐXX nào ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung mà không trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để họ
Trang 37điều tra bổ sung không? câu trả lời là không Vì vậy tại sao lại có sự khác nhau
về tên gọi của hai quyết định như vậy? Chúng tôi đề nghị sửa đổi quy định về việc yêu cầu điều tra bổ sung tại khoản 2 Điều 199 BLTTHS v à mẫu biểu tại Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP trong trường hợp HĐXX yêu cầu điều tra bổ sung đều có tên gọi là quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung giống như quy định trong giai đoan chuẩn bị xét xử
b Quy định về quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án
Về trường hợp tạm đình chỉ vụ án tại Điều 180 BLTTHS năm 2003 quy định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa tạm đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ sau:
- Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y
- Chưa xác định được bị can hoặc không biết bị can đang ở đâu
Trường hợp bị can bị bệnh tâm thần ở căn cứ thứ nhất, nếu ở giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa khi nghiên cứu hồ sơ thấy nghi ngờ về năng lực TNHS của bị can, bị cáo thì ra quyết định trưng cầu giám định pháp y Trong thời gian đó nếu thời hạn chuẩn bị xét xử đã hết thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án chờ kết quả giám định pháp y Nếu kết quả pháp y khẳng định bị can, bị cáo bị bệnh tâm thần, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽ ra quyết định bắt buộc chữa bệnh theo quy định tại Điều 311 và Điều 314 BLTTHS Đối với trường hợp tại phiên tòa HĐXX mới nghi ngờ về năng lực TNHS của bị cáo thông qua việc thẩm vấn thì HĐXX cũng phải đình chỉ việc xét xử để trưng cầu giám định và nếu hết thời gian tạm đình chỉ xét xử
mà chưa có kết quả giám định thì HĐXX ra quyết định tạm đình chỉ vụ án chờ kết quả giám định Nếu kết quả pháp y khẳng định bị can, bị cáo bị bệnh tâm
Trang 38thần, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì HĐXX sẽ ra quyết định bắt buộc chữa bệnh theo quy định tại Điều 311 và Điều 314 BLTTHS
Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt trường hợp nào thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoặc HĐXX phải q uyết định tạm đình chỉ vụ án để trưng cầu giám định đối với bị can bị cáo và trường hợp nào thì phải trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung Tại mục 2.7 phần II báo cáo tham luận về công tác xét xử các vụ án hình sự năm 2006 của Tòa hình sự - Tòa án nhân dân tối cao thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoặc HĐXX chỉ ra quyết định trưng cầu giám định trong trường hợp sau: Trong giai đoạn điều tra, truy tố
mà bị cáo và người tham gia tố tụng không biểu hiện tâm thần hoặc một bệnh khác có liên quan đến năng lực TNHS của bị cáo nhưng trong giai đoạn xét xử bị cáo và người tham gia tố tụng khác có biểu hiện tâm thần thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoặc HĐXX m ới ra quyết định trưng cầu giám định, còn đối với trường hợp trong giai đoạn điều tra bị cáo và người tham gia tố tụng khác đã có biểu hiện tâm thần nhưng cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không trưng cầu giám định hoặc những vấn đề khác buộc phải giám định
mà chưa giám định thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoặc HĐXX phải trả hồ
sơ để điều tra bổ sung 23,tr.35
Trường hợp bị can, bị cáo bị bệnh hiểm nghèo đã có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nếu ở giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc HĐXX nếu ở giai đoạn xét xử phải tạm đình chỉ vụ án Tuy nhiên, hiện nay hiểu thế nào là bệnh hiểm nghèo cho đúng BLTTHS năm 2003 không quy định cụ thể trường hợp nào thì coi là bị can, bị cáo bị bệnh hiểm nghèo Hiện nay, các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ mới dựa vào văn bản dưới luật là Thông tư số 02/2006/TTLT -BCA-BQP-BYT-TANDTC -VK SN DTC ngày 18/5/2006 hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang