5.Những đóng góp về khoa học của luận văn Là một trong những công trình khoa học nghiên cứu một cách khá toàn diện, có hệ thống về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, kết
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRỊNH THỊ NGỌC DỰ
GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI XUÂN NHỰ
HÀ NỘI – 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ 7
1.1 Khái niệm thừa kế và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài 7
1.1.1 Khái niệm thừa kế 7
1.1.2.Thừa kế trong Tư pháp quốc tế 8
1.2.Mối quan hệ giữa quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài và thừa kế có yếu tố nước ngoài 12
1.3 Quyền sở hữu tại Việt Nam của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài 14
1.3.1.Hiến pháp năm 1992 14
1.3.2.Bộ luật dân sự năm 2005 15
1.3.3.Luật đầu tư năm 2005 15
1.3.4.Luật đất đai 2003 16
1.3.5.Luật nhà ở năm 2005 17
1.4.Phương pháp điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 19
1.4.1 Phương pháp thực chất 20
1.4.2 Phương pháp xung đột 20
1.5 Ý nghĩa của quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
Chương 2 PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 26
2.1.Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật các nước 26
2.1.1.Thừa kế theo luật 26
2.1.2 Thừa kế theo di chúc 27
2.2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế qua các Điều ước quốc tế giữa các nước trên thế giới 28
2.3 Pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 30
Trang 42.3.1 Nguyên tắc giải quyết các vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật
Việt Nam qua các thời kỳ 30
2.3.2 Các quy định về giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Bộ luật dân sự năm 2005 33
2.3.2.1 Thừa kế theo pháp luật 33
2.3.2.2 Thừa kế theo di chúc 37
2.4 Vấn đề thừa kế trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia 39
2.4.1.Tình hình ký kết Hiệp đinh tương trợ tư pháp 39
2.4.2 Các quy định về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong các Hiệp đinh 40
2.5 Vấn đề di sản không người thừa kế trong Tư pháp quốc tế 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44
Chương 3 THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 46
3.1 Thực tiễn pháp luật về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 46
3.1.1 Pháp luật về quyền thừa kế bất động sản tại Việt Nam của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài 46
3.1.1.1.Thời kỳ trước khi Luật đất đai 2003 ra đời 47
3.1.1.2.Thời kỳ sau khi Luật đất đai 2003 ra đời 48
3.1.2 Tình hình giải quyết tranh chấp về thừa kế trong Tư pháp quốc tế tại Việt Nam 53 3.1.3Thực tiễn vấn đề thừa kế tại Việt Nam của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài 54
3.1.3.1 Thừa kế nhà ở được mở trước ngày 1-7-1991 55
3.1.3.2 Vấn đề quản lý kỷ phần của người không rõ địa chỉ 57
3.1.3.3 Uỷ thác tư pháp về thừa kế có yếu tố nước ngoài 58
3.1.3.4 Thời hiệu yêu cầu thi hành án và thực tiễn thi hành 59
3.1.3.5 Việc giải quyết di sản thừa kế là tiền gửi của người nước ngoài………… 60
3.2.Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam62 3.2.1.Quan điểm mang tính định hướng chung 62
3.2.2 Các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 65
Trang 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 68 KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật.Với ý nghĩa
có tầm quan trọng như vậy, nên trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa
kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu
để bảo vệ các quyền của công dân Và bản thân nó cũng phản ánh phần nào bản chất chế độ xã hội đó, thậm chí còn phản ánh được tính chất từng giai đoạn trong quá trình phát triển của một chế độ xã hội nói riêng Chính vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội
Mỗi Nhà nước dù có các xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân và được ghi nhận trong Hiến pháp.Và đặc biệt là sự ra đời của BLDS 1995, sau đó BLDS năm 2005 đã đánh dấu một bước phát triển của pháp luật thừa kế Việt Nam nói chung và pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng BLDS 2005 được xem là kết quả cao của quá trình pháp điển hoá những quy định của pháp luật về thừa kế Nó kế thừa và phát triển những quy định phù hợp với thực tiễn, không ngừng hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của người thừa kế một cách có hiệu quả nhất
Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay đã trở thành một đòi hỏi có tính tất yếu khách quan của mọi quốc gia trong tiến trình phát triển Trong bối cảnh năng động tại các đô thị, thành phố lớn, Vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhân ngày càng phong phú, thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp phức tạp, vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời Do đó, mặc dù sau khi BLDS 2005 có hiệu lực, vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài đã có sự phát triển mạnh mẽ, nhưng pháp luật không phải bao giờ cũng dự liệu hết để điều chỉnh Thực tiễn áp dụng vẫn còn bộc lộ nhiều vướng mắc, hạn chế nhất định Điều này đã xâm phạm đến quyền thừa kế của công dân, đôi khi còn gây bất ổn trong đời sống sinh hoạt của mỗi
Trang 7gia đình, cộng đồng, xã hội và ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia Pháp luật chỉ đi vào cuộc sống khi các quy định của nó phù hợp với thực tiễn
và từ thực tiễn mà nhà làm luật kịp thời sửa đổi, bổ sung pháp luật cho hoàn thiện Bởi vậy, quá trình hội nhập quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện Điều đó cũng có nghĩa là, cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung
và pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng là một yêu cầu tất yếu khách quan và có tính cấp thiết hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: "Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế - Lý luận và thực tiễn tại Việt Nam" để làm đề tài luận văn
thạc sĩ Luật học Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng cấp bách cả về phương diện
lý luận cũng như thực tiễn nhất là trong bối cảnh hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thừa kế di sản là vấn đề rộng và phức tạp, vừa có lịch sử hình thành và phát triển khá phong phú Do vậy, thừa kế đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu
Trước khi BLDS 1995 được ban hành, đã có một số sách nghiên cứu về thừa kế
dưới góc độ sách pháp luật thường thức như: "Câu hỏi và giải đáp PLTK" năm 1994 của Luật sư Lê Kim Quế; "Hỏi đáp về PLTK" năm 1995 của Trần Hữu Bền và TS
Đinh Văn Thành
Sau khi Nhà nước ta ban hành BLDS 1995, BLDS 2005 thì việc nghiên cứu đề tài về thừa kế vẫn tiếp tục được mở rộng Ngay các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ cũng đã có
một số tác giả nghiên cứu về thừa kế Tiểu biểu là: TS Phạm ánh Tuyết với đề tài "Thừa
kế theo di chúc theo quy định BLDS Việt Nam" năm 2003; TS Phùng Trung Tập với đề
tài "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam" năm 2001; Ths Nguyễn Hải An nghiên cứu đề tài "Một số vấn đề về thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong pháp luật dân sự
Việt Nam" năm 2004
Trang 8Có thể nói, vấn đề thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là cả một công trình nghiên cứu đồ sộ, được sự quan tâm đặc biệt của nhiều tác giả từ trước tới nay Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu khoa học về thừa kế có yếu tố nước ngoài thì lại không nhiều TS Nguyễn Văn Quyền viết Chương VII Thừa kế trong Giáo
trìnhTPQT Đại học luật Hà Nội, “Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ thừa kế trong tư
pháp quốc tế” - Kỷ yếu hội thảo- Nhà pháp luật Việt Pháp năm 2005 Một số bài
nghiên cứu đăng trên các tạp chí, trên các báo trả lời các câu hỏi về áp dụng pháp luật
để điều chỉnh các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, hỏi đáp các tình huống thực
tế về thừa kế có yếu tố nước ngoài, giải quyết XĐPL về thừa kế theo pháp luật trong TPQT Việt Nam, giải quyết XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo một số ĐƯQT mà Việt Nam ký kết với nước ngoài…Một số tác giả được nhắc đến như TS
Đỗ Văn Đại, TS Nguyễn Hồng Bắc, TS Đoàn Năng, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Trung Tín…Các đề tài nghiên cứu khoa hoc, luận văn, luận án tiến sĩ, thạc sĩ về vấn
đề này chưa có Nhìn chung, các bài viết nghiên cứu nói trên, đã nêu ra nhiều vấn đề
cơ bản cả về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật thừa kế có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, tính chất hệ thống, khái quát còn hạn chế Hơn nữa, đa số các bài viết này viết trước năm 2005 , nên có rất nhiều điểm thay đổi cả về mặt pháp luật thực định và
thực tiễn cuộc sống Việc chọn đề tài " Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế - Lý luận và thực tiễn tại Việt Nam " để làm luận văn thạc sĩ luật không có sự trùng lặp
nào đối với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích: Mục đích của luận văn là làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến
pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài và đánh giá thực trạng pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay Qua đó rút ra những ưu điểm, tồn tại, bất cập của pháp luật để tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, phù hợp với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật Trên cơ sở đó, kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay
*Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau
Trang 9- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về pháp luật thừa kế có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam như: khái niệm thừa kế và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, quyền sở hữu tại Việt Nam của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài một trong những
cơ sở quan trọng cho việc thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam Đồng thời có tìm hiểu pháp luật về thừa kế của một số nước trên thế giới
- Phân tích pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Cách thức giải quyết XĐPL quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, quyền thừa kế tại Việt Nam của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, vấn đề thừa kế trong các HĐTTTP Thực trạng thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam Qua đó, nhận xét, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài hiện hành
- Về phương hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, tác giả nêu lên một số quan điểm về phương hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
*Phạm vi nghiên cứu: Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các
quy phạm pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch
sử Nhưng đặc biệt tập trung nghiên cứu các quy phạm pháp luật về thừa kế từ năm 2005 đến nay Cùng với việc nghiên cứu các quy phạm pháp luật, trong bản luận văn cũng
đề cập và phân tích thực tiễn thi hành và áp dụng các quy phạm thừa kế có yếu tố nước ngoài , nhất là thực tiễn giải quyết các tranh chấp thừa kế trong ngành TAND Tuy nhiên, để luận văn có độ sâu, rộng cần thiết, trong một chừng mực nhất định, tác giả cũng đề cập đến một số quy định tương ứng trong pháp luật một số nước để so sánh và đưa ra những kết luận, kiến nghị có tính tham khảo nhất định
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Với đề tài liên quan đến một chế định pháp luật dân sự quan trọng mang đậm bản chất giai cấp và có tác động đến chế độ kinh tế - xã hội, mối quan hệ giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia trong thời đại hội nhập sâu rộng như hiện nay, do đó luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật Đặc biệt là các quan điểm
Trang 10của Đảng và Nhà nước về sở hữu tư nhân, về thừa kế trong thời kỳ đổi mới, mở cửa
và hội nhập
Đề tài được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khoa học chuyên ngành khác như: phương pháp lịch sử, phương pháp
logíc, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp
5.Những đóng góp về khoa học của luận văn
Là một trong những công trình khoa học nghiên cứu một cách khá toàn diện, có hệ thống về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của
đề tài sẽ mang lại những đóng góp mới về khoa học pháp lý như sau:
Thứ nhất, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và ứng dụng khái niệm "quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài" đã được pháp luật quy định, tác giả đưa ra quan điểm của cá nhân về quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài, quan hệ thừa kế, quan hệ thừa kế có yếu
tố nước ngoài Từ đó góp phần hoàn thiện hơn khoa học trong lĩnh vực thừa kế, đặc biệt thừa kế trong TPQT ở Việt Nam
Thứ hai, làm rõ các luận điểm khoa học về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật
điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay, đặc biệt trong mối tương quan với các quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài thông qua yếu tố tài sản - yếu
tố quan trọng nhất có giá trị chi phối và dễ làm phát sinh các tranh chấp trong giao lưu dân sự quốc tế Điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài thực
sự là vấn đề cấp bách Nhưng từ khi BLDS 2005 được thông qua cho đến nay, có rất ít các công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề này
Thứ ba, khẳng định bản chất tiến bộ, dân chủ và ngày càng phù hợp với thông lệ
quốc tế của pháp luật dân sự Việt Nam điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ về thừa kế Thông qua đó, đề cao vai trò của pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, góp phần ổn định các quan hệ xã hội dân
sự, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới đất nước
Trang 11Thứ tư, Về thực tiễn Luận văn đề ra các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật
thừa kế có yếu tố nước ngoài sẽ có ý nghĩa thiết thực góp phần giúp cho những người
có thẩm quyền áp dụng luật để giải quyết tranh chấp thừa kế thuận lợi hơn Ngoài ra luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ cho công dân trong quá trình thực hiện quyền
và nghĩa vụ dân sự của mình về lĩnh vực thừa kế trong xu thế hội nhập toàn cầu như hiện
nay
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương
Trang 12Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ
1.1 Khái niệm thừa kế và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm thừa kế
Pháp luật thừa kế đã có từ xa xưa và gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người Tuy có những đặc thù riêng nhưng dân tộc nào, đất nước nào và từng con người
cụ thể đều chịu sự tác động của pháp luật thừa kế
Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của lịch sử xã hội loài người Ở thời kỳ này, việc thừa kế được định nghĩa là nhằm di chuyển tài sản của người chết cho người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định
Ngày nay, trong khoa học pháp lý, có nhiều cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau về khái niệm thừa kế Trong một số Giáo trình Luật dân sự được xuất bản trong những năm gần đây, khái niệm thừa kế thường được hiểu là một hiện tượng xã hội tất yếu, xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu mà nội dung kinh tế của nó chính là sự phản ánh quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết sang người sống.[21, tr 168]
Theo từ điển Luật học định nghĩa, Thừa kế là sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.[58]
Thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điểu chỉnh sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật [25, tr 618]
Theo quan điểm khoa học của Mác: "Thừa kế không sinh ra cái quyền của một người chiếm dụng thành quả lao động từ túi của một kẻ khác-mà nó làm biến đổi chính con người có cái quyền ấy…Giống như pháp luật dân sự nói chung, các quy định về thừa kế không phải là nguyên nhân, mà là kết cục, là hậu quả pháp lý của sự tồn tại hình thái kinh tế xã hội dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, tức là về đất đai, tài nguyên, máy móc…” [11, tr 383-384]
Trang 13Như vậy, xét về bản chất, thừa kế được coi là một hiện tượng xã hội trong chế
độ có giai cấp, là hậu quả pháp lý tất yếu của sự tồn tại hình thái kinh tế xã hội dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Nói như thế, sự ra đời của chế định này cũng đồng thời với sự xuất hiện Nhà nước và pháp luật Nhưng trong khái niệm về thừa kế của Mác, ta thấy khởi thủy chế định này xuất hiện và được coi như một biện pháp chủ yếu nhằm bảo vệ quyền lợi tài sản (vật chất) của giai cấp bóc lột Tất nhiên càng về sau bản chất của chế định thừa kế càng thay đổi theo hướng dân chủ và tiến bộ hơn trong pháp luật các nước Nhưng tính chất giai cấp của nó- tùy thuộc vào mỗi hệ thống pháp luật-lại được thể hiện chủ yếu thông qua các biện pháp đảm bảo (bằng di chúc-ý chí của cá nhân, bằng pháp luật-ý chí của Nhà nước) đối với quyền tài sản của các bên trong quan hệ thừa kế, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia trong từng giai đoạn nhất định
Một người chỉ có thể để lại thừa kế những tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình Nói cách khác, người hưởng thừa kế chỉ được công nhận quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế, với điều kiện tài sản đó thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người chết Thông thường, sau khi nhận thừa kế, người hưởng thừa kế phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
Do đó, theo quan điểm của cá nhân, thừa kế phản ánh sự dịch chuyển tài sản hay cụ thể là sự dịch chuyển các quyền và nghĩa vụ về tài sản từ người chết sang người sống dưới các hình thức khác nhau Các hình thức dịch chuyển tài sản thừa kế (theo pháp luật hoặc theo di chúc) là sự thể hiện quyền tự định đoạt tài sản của một người, đồng thời lại là biện pháp xác lập quyền sở hữu tài sản đối với người khác được pháp luật công nhận và đảm bảo thi hành
1.1.2 Thừa kế trong tư pháp quốc tế
Theo giáo trình TPQT Đại học Luật Hà Nội thì : thừa kế trong TPQT là thừa kế
có yếu tố nước ngoài [47, tr 174] Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài được căn cứ vào các yếu tố sau:
- Các bên tham gia quan hệ thừa kế (có thể một hoặc hai bên) là người nước
ngoài, cơ quan hoặc tổ chức, pháp nhân hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Trang 14- Đối tượng của quan hệ thừa kế là di sản ở nước ngoài
- Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ thừa kế xảy ra ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài…
Theo Từ điển Luật học định nghĩa: Thừa kế có yếu tố nước ngoài là trường hợp trong đó; ít nhất một người bên để lại di sản hoặc bên nhận thừa kế có yếu tố nước ngoài, thường trú tại nước ngoài, tài sản thừa kế gồm tài sản ở nước ngoài, di chúc được lập ở nước ngoài [58]
Thừa kế có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đã xuất hiện từ lâu và được xem như một hiện tượng tất yếu khách quan của giao lưu dân
sự quốc tế Hiện nay trong BLDS cũng như các văn bản pháp luật dân sự khác, không
có quy định cụ thể nào về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Do đó, khái niệm về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài có thể được xây dựng dựa trên khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều
758 BLDS năm 2005: Thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ có ít nhất một bên chủ
thể là cá nhân người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài hoặc tài sản thừa kế ở nước ngoài
Trong cách hiểu về khái niệm quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài trên đây, có một số điểm tác giả xin được làm rõ như sau:
Thứ nhất, ,chủ thể tham gia quan hệ thừa kế nói chung và thừa kế có yếu tố nước
ngoài nói riêng chủ yếu là cá nhân Chỉ trong trường hợp hết sức đặc biệt thì tổ chức, pháp nhân hoặc Nhà nước mới tham gia với tư cách người hưởng di sản theo di chúc Do vậy, khi trong quan hệ thừa kế có ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, thì quan hệ đó
là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Đó là dấu hiệu thứ nhất để xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ thừa kế
Thứ hai, khi căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ thừa kế
xảy ra ở nước ngoài Trong trường hợp công dân Việt Nam công tác, học tập, lao động
…ở nước ngoài, không may bị chết trên lãnh thổ nước ngoài hoặc trước khi chết lập di
Trang 15chúc ở nước ngoài nhằm định đoạt tài sản của mình, thì đó là quan hệ thừa kế có yếu
tố nước ngoài Bởi sự kiện pháp lý (cái chết, việc lập di chúc) xảy ra trên lãnh thổ nước ngoài, cho nên pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng đối với quan hệ thừa kế
đó
Thứ ba, khi tài sản - đối tượng của quan hệ thừa kế - tồn tại ở nước ngoài vào
thời điểm mở thừa kế Trong trường hợp công dân Việt Nam để lại tài sản của mình ở nước ngoài trước khi chết, thì trước hết, phải xác định xem tài sản đó thuộc sở hữu hợp pháp của người chết hay không Mà việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản đó lại phải tuân theo pháp luật của nơi có tài sản (lex rei sitae), chứ không thể dựa vào pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch hoặc có nơi cư trú
Trong điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật của một quốc gia Vấn
đề này có thể liên quan đến một vài hệ thống pháp luật khác nhau [25, tr 619]:
Thứ nhất, vì có sự dịch chuyển quyền sở hữu tài sản của người để lại thừa kế
cho người còn sống, quan hệ thừa kế là một quan hệ tài sản và do đó có quan hệ với pháp luật nơi có tài sản
Thứ hai, vì có sự dịch chuyển quyền sở hữu tài sản của người để lại thừa kế cho
người còn sống trên cơ sở huyết thống, quan hệ thừa kế là một quan hệ nhân thân và
do đó có quan hệ với pháp luật nhân thân của người để lại thừa kế
Thứ ba, khi chết, người để lại thừa kế có thể chưa chấm dứt các quan hệ dân sự
thiết lập với các đối tác khác (người thứ ba) nhất là quan hệ dân sự trong hợp đồng và quan hệ dân sự ngoài hợp đồng, do vậy, quan hệ thừa kế cũng là quan hệ tài sản đối với người thứ ba Nói tóm lại, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là một quan hệ phức tạp, có quan hệ gắn bó với nhiều hệ thống luật khác nhau
Xét trên phương diện xã hội, thì việc tìm hiểu về những yếu tố tác động đến đến
sự hình thành và phát triển các giao lưu dân sự quốc tế và làm nảy sinh quan hệ thừa
kế có yếu tố nước ngoài, là điều rất có ý nghĩa Chúng ta đều biết, các giao lưu dân
sự quốc tế xuất hiện khi có sự tiếp xúc, trao đổi giữa các bộ phận dân cư từ các quốc gia khác nhau Sự tiếp xúc, trao đổi này diễn ra ngày càng mạnh mẽ trong bối cảnh
Trang 16khi trên lãnh thổ của một nước có những cá nhân mang quốc tịch khác nhau cùng tham gia vào các quan hệ dân sự, điển hình là quan hệ hôn nhân và gia đình Pháp luật của hầu hết các nước đều quy định vợ chồng, cha mẹ có quyền thừa kế đối với nhau Như vậy, khi trong gia đình đa quốc tịch (vợ chồng khác quốc tịch nhau, cha mẹ và con cái khác quốc tịch nhau), thì điều tất yếu là giữa họ phát sinh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Pháp luật cần điều chỉnh đối với loại quan hệ này Hiện tượng gia đình đa quốc tịch ngày nay có thể nói là khá phổ biến Mặc dù chưa có sự tổng kết, nhưng chắc chắn các gia đình đa quốc tịch ở Việt Nam hiện nay cũng không phải là ít
Có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng phát sinh quan hệ thừa kế có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam, trong đó có nguyên nhân chiến tranh trước đây hoặc do nhu cầu đầu tư, kinh doanh, học tập, du lịch…của công dân Việt Nam ở nước ngoài và của người nước ngoài tại Việt Nam… Chiến tranh có thể gây nên tình trạng một bộ phận dân cư nước này sang sinh sống ở nước khác Xét trong bối cảnh của Việt Nam, thì trong thời kỳ chiến tranh, trên lãnh thổ Việt Nam không chỉ người Pháp, người Mỹ,
mà còn có những người nước ngoài từ các quốc gia khác nữa (Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Koong, Thái Lan…) đến Việt Nam làm ăn, sinh sống, trong đó người Hoa chiếm
số lượng đáng kể nhất Sự “xáo trộn” dân cư đó đã phá vỡ một trật tự xã hội vốn được duy trì trước đó nởi một hệ thống pháp luật, làm cho trong một thời điểm, trong
xã hội Việt Nam đã xuất hiện nhiều người thuộc các quốc tịch khác nhau cùng sinh sống, tham gia vào các quan hệ hôn nhân và gia đình với nhau và đương nhiên đã làm phát sinh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh
Mặt khác, khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng phát sinh, trong đó có nhu cầu du lịch, du học, lao động…ở nước ngoài Đây cũng là một thực tế làm gia tăng các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Cùng với đó , sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ đã làm cho khoảng cách giữa các quốc gia dường như ngắn lại, các giao lưu dân sự quốc tế giờ đây có thể được thiết lập theo những cách thức hoàn toàn mới mẻ, khác xa so với các cách truyền thống
Tất cả tình hình trên đây đã và đang có những tác động đối với các quốc gia nói chung và trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay nói riêng đã cho thấy rõ những hậu
Trang 17quả (về mặt chính trị, pháp lý, xã hội) của sự tác động này Sự gia tăng của các quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ thừa kế là một nhu cầu tất yếu của
sự điều chỉnh pháp luật
1.2 Mối quan hệ giữa quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài và thừa kế yếu tố nước ngoài
Thừa kế là một trong nhưng chế định quan trọng của dân luật các nước và cũng
là một chế định quan trong trong TPQT Chế định thừa kế có mối quan hệ gắn bó hết sức chặt chẽ với chế định sở hữu Sự gắn bó biểu hiện ở chỗ việc để thừa kế và hưởng thừa kế sẽ dẫn đến vấn đề chuyển quyền sở hữu từ người để thừa kế cho người được hưởng quyền thừa kế chỉ có thể là đối tượng của chủ sở hữu Từ đó thấy rõ tính tối thượng của chế định sở hữu trong mối quan hệ với chế định thừa kế Không có quyền
sở hữu sẽ không phát sinh vấn đề thừa kế [47, tr 173]
Nghiên cứu pháp luật và thực tiễn của nhiều nước cho thấy, quan điểm được thừa nhận chung hiện nay là khi quốc gia công nhận và bảo đảm quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của họ, thì quốc gia đồng thời cho phép người đó thực hiện quyền tự định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình thông qua hình thức thừa kế Sự phát triển kinh tế -xã hội ở mỗi quốc gia đã có những tác động căn bản đối với chế độ
sở hữu, đồng thời khi “các quan hệ sở hữu thay đổi thì đương nhiên cũng kéo theo sự thay đổi trong lĩnh vực thừa kế”.[21, tr170] Trong mỗi hình thái kinh tế-xã hội, ở bất
kỳ giai đoạn nào trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, đều song song tồn tại hai phạm trù kinh tế có mối liên hệ gắn kết chặt chẽ với nhau đó là sở hữu và thừa kế Chúng “vừa là tiền đề, vừa là hậu quả đối với nhau Nếu sở hữu là cơ sở làm xuất hiện thừa kế thì chính thừa kế lại là phương tiện để duy trì, củng cố và xác định quan hệ sở hữu”[21,tr 171]
Do vậy, thừa kế cũng chính là sự công nhận của Nhà nước việc chuyển quyền
sở hữu tài sản hợp pháp từ người chết sang người sống dựa trên các căn cứ luật định hay theo ý chí của chủ sở hữu lúc còn sống Quan hệ sở hữu phản ánh quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản Quan hệ thừa kế phản ánh sự tiếp nối thực hiện quyền
và nghĩa vụ giữa các chủ thể đối với tài sản ấy (thông qua sự dịch chuyển từ người chết sang người sống) Thừa kế được coi là hệ quả tất yếu của sự công nhận quyền sở
Trang 18hữu, là hình thức định đoạt tài sản của cá nhân, thể hiện sự công nhận của Nhà nước đối với quy luật phát triển khách quan của các giao lưu dân sự thông qua các chế định pháp luật Nói cách khác, nếu đã thừa nhận quyền sở hữu tài sản của cá nhân, cũng tức
là thừa nhận quyền để lại thừa kế của họ đối với tài sản đó “Pháp luật về sở hữu là cơ
sở cho việc ban hành các văn bản pháp luật về thừa kế” [29, tr 117] Pháp luật đã điều chỉnh quan hệ sở hữu, thì không thể không điều chỉnh quan hệ thừa kế
Mặt khác, xét về mặt lý luận có thể khẳng định rằng, chính các quan hệ hôn nhân và gia đình cũng được coi là tiền đề làm xuất hiện quan hệ thừa kế và nhu cầu điều chỉnh các quan hệ này Nếu xét trên khía cạnh bản chất của các quan hệ dân sự, trong mối liên quan đến yếu tố quyền tài sản, thì chúng ta có thể khẳng định rằng, quan
hệ sở hữu là cái có trước, là tiền đề của quan hệ thừa kế Nhưng xét trên khía cạnh căn
cứ nguồn gốc làm phát sinh quan hệ thừa kế, thì pháp luật của hầu hết các nước hiện nay đều thừa nhận hai hình thức thừa kế, tương ứng với mỗi căn cứ pháp lý khác nhau
Đó là thừa kế theo pháp luật (chủ yếu dựa trên quan hệ hôn nhân và gia đình, lấy nguyên tắc quyền huyết thống làm chủ đạo) và thừa kế theo di chúc (dựa trên ý chí của người chết, không dựa trên căn cứ hôn nhân và gia đình)
Do mối quan hệ gắn bó, sâu sắc qua lại như vậy giữa chế định sở hữu và thừa
kế, ta có thể khẳng định rằng khi quyền sở hữu tại Việt Nam của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được thừa nhận và bảo đảm thì đương nhiên quyền thừa kế của họ cũng được thừa nhận Và tùy thuộc vào việc quyền sở hữu của
họ tại Việt Nam được mở rộng bao nhiêu thì quyền thừa kế cũng chịu ảnh hưởng bấy nhiêu Đó là một trong những cơ sở căn bản, cái gốc rễ sâu xa quan trọng đảm bảo quyền thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Quan hệ sở hữu và quan hệ thừa kế là những mối quan hệ dân sự luôn gắn bó với nhau, tồn tại trong một thể thống nhất, là tiền đề của nhau và tạo thành các chế định trung tâm của pháp luật dân sự Pháp luật không thể chỉ điều chỉnh quan hệ này
mà không điều chỉnh quan hệ khác Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ sở hữu của người nước ngoài, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài
Trang 191.3 Quyền sở hữu tại Việt Nam của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Dưới đây, tác giả chủ yếu phân tích về cơ sở pháp lý về việc bảo đảm thực hiện quyền sở hữu tại Việt Nam đối với người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, BLDS và các văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan khác
1.3.1 Hiến pháp 1992
Đây là cơ sở pháp lý cao nhất trong việc xác định quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài Chúng ta đều biết, theo truyền thống lập hiến và lập pháp ở nhiều quốc gia, nhất là các nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa, thường khẳng định nguyên tắc có tính hiến định về phát triển chế độ kinh tế của Nhà nước, làm cơ sở để xây dựng chế
độ sở hữu trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia mình Nói cách khác, các nguyên lý cơ bản chi phối quá trình phát triển kinh tế ở một quốc gia thường được ghi nhận trong Hiến pháp và có ý nghĩa quyết định, tạo nền tảng thiết lập chế độ sở hữu ở quốc gia
đó
Điều 25 Hiến pháp năm 1992 quy định: Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước
Theo quy định tại Điều 81 Hiến pháp năm 1992 thì: Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam Quyền lợi chính đáng ở đây phải bao gồm cả quyền thừa kế Vì vậy, về nguyên tắc thì có thể khẳng định người nước ngoài ở Việt Nam được Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền thừa kế tài sản hợp pháp
Như vậy, Điều 25 và Điều 81 của Hiến pháp quy định trực tiếp về việc bảo hộ quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài, hiểu rộng ra là quyền sở hữu đối với cả động sản
Trang 20và bất động sản tại Việt Nam của người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Đây được coi là cơ sở pháp lý cao nhất cho việc xây dựng, cụ thể hóa và thực thi các nguyên tắc, quy phạm pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài trong BLDS và các văn bản quy phạm pháp luật khác của Việt Nam, cũng như các biện pháp bảo đảm thực hiện những quyền đó trên thực tế, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam
1.3.2 Bộ luật dân sự năm 2005
BLDS 2005 là đạo luật quan trọng, cụ thể hóa các quyền dân sự cơ bản nói chung và quyền sở hữu nói riêng Đối với quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài, BLDS điều chỉnh một cách trực tiếp cũng như gián tiếp thông qua các quy định dưới đây:
- BLDS được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp ĐƯQT mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác (Khoản 3 Điều 2)
- Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác (Khoản 2 Điều 761)
- Khoản 1 Điều 766, phần VII Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, BLDS 2005: Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều này
Từ các quy định trên đây, có thể suy luận rằng, quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài được BLDS 2005 bảo vệ, tuy mới chỉ là sự bảo vệ về mặt nguyên tắc pháp lý Bởi xét về câu chữ, thì ngoài quy định tại Khoản 1 Điều 766, trong BLDS 2005 chưa
có điều khoản nào khác quy định cụ thể về quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài
1.3.3 Luật đầu tư năm 2005
Luật đầu tư tại Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này đã tạo cơ
sở pháp lý tương đối đồng bộ điều chỉnh quan hệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại
Trang 21Việt Nam Khoản 3 Điều 4 của Luật đầu tư 2005 khẳng định nguyên tắc: Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư; thừa nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của các hoạt động đầu tư Trong đó, vốn đầu tư gồm Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp (Khoản 9 Điều 3)
Các văn bản pháp luật về đầu tư nước ngoài đã quy định cụ thể, đầu đủ về quan
hệ sở hữu tài sản tại Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài Những văn bản này, một mặt đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 1992 về chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư nước ngoài của Việt Nam, mặt khác đã tạo ra các biện pháp bảo đảm pháp lý quan trọng cho hoạt động của nhà đầu tư (là cá nhân người nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài) thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam Nhà đầu tư là người nước ngoài được Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn và tài sản, kể cả quyền thuê đất để sử dụng cho việc thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam, phù hợp với thời hạn thực hiện dự án đầu tư
1.3.4 Luật đất đai 2003
Luật đất đai, Luật nhà ở là các văn bản quan trọng điều chỉnh quan hệ sở hữu bất
động sản có yếu tố nước ngoài
Khoản 6, Khoản 7 Điều 9 Luật đất đai 2003 quy định Người Việt Nam định cư
ở nước ngoài về đầu tư, hoạt động văn hoá, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở;
Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
Điều 121 sửa đổi quy định tại Luật số 34/2009/QH 12 quy định về quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà
ở tại Việt Nam ta thấy, pháp luật đất đai không ngừng mở rộng các quyền của người
sử dụng đất Bên cạnh các quyền lợi khác thì quyền thừa kế của công dân với đất đai
đã được pháp luật Việt Nam thừa nhận Với việc ghi nhận và bảo hộ cac quyền năng
Trang 22của người sử dụng đất, quyền sử dụng đất đã trở thành một loại quyền dân sự về tài sản thuộc sở hữu tư nhân của người sử dụng đất Ngoài ra, pháp luật đất đai còn từng bước xóa bỏ sự khác biệt trong các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Điều này thể hiện quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài ,
cá nhân người nước ngoài sử dụng đất đều được ghi nhận trong Luật đất đai năm 2003 Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, cho đến thời điểm hiện nay, nhìn lại nội dung của Luật đất đai 2003 và quá trình mười năm thi hành, có thể thấy còn tồn đọng, chứa đựng khá nhiều điểm bức xúc trong thực tế Hiện nay, chúng ta đang trong quá trình xây dựng Dự thảo sửa đổi Luật đất đai năm 2003 nhằm khắc phục những bất cập hiện nay Có quan điểm cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất, gốc của các bức xúc về đất đai hiện nay là quyền sở hữu đất đai “Trong khi chúng ta không quy định quyền sở hữu tư nhân đối vơi đất đai, ít nhất là đối với đất ở của người dân, thì trên thực tế, mảnh đất đó vẫn là tài sản hợp pháp của họ Chúng ta đã hình thành một thứ quyền pháp lý rất “đặc biệt”, với rất nhiều, nhiều hơn cả quyền sở hữu nhưng lại thiếu
đi thứ quyền cốt lõi nhất là quyền định đoạt Điều đó dẫn tới nhiều bất cập trong việc quản lý, sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế đất và từ đó này sinh nhiều hệ lụy”.1
“Quyền định đoạt của Nhà nước về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất…được áp dụng rộng hơn mức cần thiết, một mặt làm “méo” thị trường và mặt khác gây nguy cơ tham nhũng cao”2
Có thể nói, pháp luật đất đai Việt Nam là vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm Các quy định về đất đai không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới một góc nhỏ là quyền thừa
kế của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà còn là vấn đề thực
sự gắn với lợi ích của người dân, gắn với lợi ích thực sự của đất nước Bởi vậy, có được các quy định về pháp luật đất đai phù hợp, bảo đảm được quyền lợi của người dân hiện nay là điều hết sức cần thiết
Trang 23Với quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà tại Việt Nam theo quy định của Luật nhà ở năm 2005 đã gặp nhiều vướng mắc khi áp dụng trên thực tế, phần đông người Việt Nam định cư ở nước ngoài đều không thể mua được nhà tại Việt Nam Vì thế chúng ta đã tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật nhà ở để tạo sự bình đẳng giữa công dân Việt Nam trong nước và công dân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực nhà ở Với quy định của Điều 126 sửa đổi, Luật số 34/2009/QH12 thì đại đa số người Việt Nam định cư ở nước ngoài sẽ có quyền mua nhà tự do như công dân Việt Nam trong nước
Khoản 2 Điều 9 Luật nhà ở năm 2005 quy định về đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam là người Việt Nam định cư ở nước ngoài Cụ thể Điều 126 sửa đổi quy định tại Luật số 34/2009/QH12 quy định quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài như sau:
1 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì
có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:
a) Người có quốc tịch Việt Nam;
b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước
2 Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.”
Với quy định nêu trên, chúng ta có thể kết luận rằng, pháp luật về nhà ở của Việt Nam, một mặt bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân Việt Nam với nhau,
Trang 24không phân biệt nơi cư trú trong hay ngoài nước, mặt khác vẫn tạo điều kiện cho những người nước ngoài có gốc Việt Nam được có cơ hội sở hữu nhà tại Việt Nam với một số điều kiện nhất định Luật nhà ở đã phân biệt rạch ròi giữa công dân Việt Nam
và người có gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài Theo đó, người có quốc tịch Việt Nam định cư ở nước ngoài (tức công dân Việt Nam) sẽ có quyền sở hữu nhà tại Việt Nam như công dân Việt Nam trong nước, không cần thêm bất cứ điều kiện nào khác
Tóm lại, đánh giá về tình hình chính sách, pháp luật của nước ta về quyền sở
hữu có yếu tố nước ngoài nói chung và quyền ở hữu bất động sản (nhà ở) nói riêng của người nước ngoài tại Việt Nam, xét một cách tổng thể, có thể đi đến nhận định rằng, quyền sở hữu tài sản nói chung của người nước ngoài tại Việt Nam được pháp luật bảo
hộ, trong đó quyền sở hữu bất động sản tại Việt Nam của người nước ngoài chỉ được pháp luật bảo hộ một cách hạn chế Tùy thuộc vào từng đối tượng người nước ngoài (nhà đầu tư, người định cư…), pháp luật quy định bảo đảm quyền sở hữu nhà ở (bất động sản) cho họ trên các mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung theo hướng ngày càng
mở rộng hơn, tạo nhiều thuận lợi hơn cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài thực hiện quyền sở hữu tại Việt Nam
Đặc biệt từ khi Luật số 34/2009/QH 12 sửa đổi Điều 126 Luật nhà ở năm 2005
và Điều 121 Luật đất đai năm 2003 ra đời cùng các văn bản hướng dẫn đã mở rộng đối tượng cũng như quyền lợi của các Việt kiều khi được sở hữu nhà tại Việt Nam Với chính sách pháp luật như vậy đã tạo tâm lý yên tâm, sự tin tưởng và điều này thu hút ngày càng nhiều bà con kiều bào Việt Nam ở nước ngoài về sinh sống, làm ăn, đầu tư cho quê hương, đất nước
1.4 Phương pháp điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Bất kỳ quan hệ xã hội nào thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật, cũng đều được điều chỉnh bằng phương pháp nhất định, phù hợp với tính chất của ngành luật đó Mỗi ngành luật có phương pháp điều chỉnh riêng Thừa kế có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ nằm trong các loại quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài Bởi vậy, pháp luật Việt Nam điều chỉnh các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Trang 25cũng chủ yếu bằng các phương pháp cơ bản đã được thừa nhận chung, bao gồm phương pháp thực chất và phương pháp xung đột
1.4.1.Phương pháp thực chất
Đó là cách gọi khá thống nhất của các luật gia Việt Nam về phương pháp điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thông qua việc áp dụng các quy phạm thực chất thống nhất trong các ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập Lợi thế của phương pháp này là ở chỗ, góp phần trực tiếp giải quyết XĐPL liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Khi áp dụng quy phạm pháp luật thực chất (là quy phạm trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, kể cả biện pháp chế tài) để giải quyết tranh chấp phát sinh, Tòa án có thể thấy rõ ngay hậu quả của việc áp dụng pháp luật là phù hợp hay trái với nguyên tắc tôn trọng trật tự công cộng của quốc gia mình
Thực tiễn tư pháp ở nhiều nước cho thấy, phương pháp thực chất chỉ tỏ ra có hiệu quả khi điều chỉnh các quan hệ kinh tế - thương mại hoặc liên quan đến thương mại có yếu tố nước ngoài Đối với Việt Nam, trước yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, nước ta ngày càng ký kết, gia nhập ĐƯQT song phương và đa phương về kinh tế nói chung và liên quan đến lĩnh vực tư pháp có yếu tố nước ngoài nói riêng Đây chính là lợi thế quan trọng trong điều chỉnh các quan hệ kinh tế thương mại có yếu tố nước ngoài
Tuy nhiên, thực tiễn của Việt Nam và các nước cho thấy, không phải tất cả các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đều có thể được điều chỉnh bằng các quy phạm thực chất thống nhất Trong nhiều trường hợp khi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được điều chỉnh bằng phương pháp thực chất, đặc biệt là quan hệ nhân thân phi tài sản, khi đó nhà làm luật phải sử dụng phương pháp khác – phương pháp xung đột là phương pháp khá phổ biến được nhiều nước áp dụng – để điều chỉnh các quan hệ này
1.4.2 Phương pháp xung đột
Là phương pháp gián tiếp, không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, mà chỉ ra việc lựa chọn một trong các hệ thống pháp luật liên quan để điều chỉnh quan hệ đó Quan niệm này được
Trang 26đa số các luật gia, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thừa nhận Phương pháp điều chỉnh này thể hiện thông qua sự dẫn chiếu của các quy phạm xung đột (trong các văn bản pháp luật hoặc ĐƯQT) đến một hệ thống pháp luật có liên quan Nói cách khác, giải quyết XĐPL đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bằng quy phạm xung đột thông qua việc lựa chọn một hệ thống pháp luật áp dụng nhất định, đó chính
là bản chất của phương pháp gián tiếp
Phương pháp gián tiếp giải quyết XĐPL đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được thể hiện khá nhiều trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ trước đến nay Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 (hết hiệu lực từ ngày 01/01/2001)
có một điều (Điều 52) điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài bằng phương pháp xung đột; Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993 (hết hiệu lực từ ngày 01/01/2001) là văn bản pháp luật điều chỉnh một cách hệ thống các quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài bằng phương pháp xung đột; BLDS 1995, BLDS 2005 dành hẳn một phần (Phần thứ bày về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài) điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bằng phương pháp xung đột…
HĐTTTP giữa Việt Nam với các nước có nhiều quy phạm điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bằng phương pháp xung đột (đối với quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ thừa kế…)
Như vậy, lược qua các văn bản quy phạm pháp luật và ĐƯQT mà Việt Nam ký kết cho thấy, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bằng phương pháp thực chất, phương pháp xung đột ở Việt Nam ngày càng nhiều Hai phương pháp này luôn có mối liên hệ, bổ trợ tích cực và hoàn thiện cho nhau trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, phương pháp xung đột chỉ tỏ ra
có hiệu quả, nếu hệ thống pháp luật được dẫn chiếu tới đủ hoàn thiện để Tòa án có thể
áp dụng, kể cả về luật nội dung, cũng như luật thủ tục (luật hình thức)
1.5 Ý nghĩa của quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Trang 27Điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là đòi hỏi tất yếu trong điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Ngày nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển một cách biệt lập mà không có quan hệ với quốc gia khác Hợp tác không chỉ là nhu cầu nội tại của bản thân mỗi quốc gia nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước, mà còn là trách nhiệm, nghĩa vụ của các quốc gia xét dưới góc độ pháp luật quốc tế Theo Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc thì các quốc gia – chủ thể cơ bản của Luật quốc tế hiện đại – phải có nghĩa vụ hợp tác với nhau Nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia, một mặt xuất phát từ yêu cầu cùng nhau giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu mà bản thân một quốc gia hoặc một nhóm nước nhất định không thể giải quyết nổi (như bảo vệ môi trường, chống khủng bố quốc tế, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em…), mặt khác nhằm đáp ứng nhu cầu nội tại của mỗi quốc gia, trên cơ sở thỏa thuận lợi ích khi tham gia vào các quan hệ quốc tế
Nhu cầu hợp tác quốc tế ngày nay không chỉ dừng lại trong phạm vi các vấn đề
có tính phổ cập như ổn định hòa bình và an ninh quốc tế, phát triển kinh tế - khoa học
kĩ thuật, mà đã được mở rộng trên mọi lĩnh vực giữa các quốc gia, trong đó hợp tác về pháp luật và tư pháp (hiểu theo nghĩa rộng) giữ vai trò đặc biệt Có thể nói, nhu cầu hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa các quốc gia liên quan đến việc bảo hộ các quan
hệ dân sự của cá nhân và pháp nhân, thông qua việc thống nhất lựa chọn phương pháp điều chỉnh đối với mỗi loại quan hệ đó, ngày càng trở nên thân thiết và có tầm quan trọng bên cạnh sự hợp tác về kinh tế giữa các nước Bởi thực tế trên lãnh thổ của mỗi quốc gia ngày càng có nhiều người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống Trong các giao lưu hàng ngày về mọi mặt giữa cá nhân, pháp nhân nước ngoài với công dân, pháp nhân của nước sở tại đã làm phát sinh nhiều quan hệ về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế - thương mại, thừa kế… đòi hỏi phải được điều chỉnh kịp thời
Do đó, bên cạnh các quan hệ khác, việc điều chỉnh quan hệ thừa kế phát sinh giữa công dân, pháp nhân của các quốc gia với nhau, là đòi hỏi tất yếu xuất phát từ chủ quyền quốc gia, trên cơ sở nghĩa vụ hợp tác nhằm bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích của công dân
Trang 28Các quy định về pháp luật thừa kế trong TPQT ra đời đã góp phần bảo đảm tính thống nhất các quy phạm về lĩnh vực này, bảo đảm sự hài hòa giữa các quy định về quyền sở hữu và quyền thừa kế có yếu tố nước ngoài, không chồng chéo phủ nhận lẫn nhau [9, tr 551] Bởi trước đây, mặc dù Hiến pháp 1992 và nhiều văn bản khác có công nhận quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam nhưng quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài trong BLDS 1995 còn để trống Đến nay, BLDS năm 2005 đã được các nhà làm luật bổ sung hai điều luật quy định về vấn đề này Ngoài ra, việc quy định các quy định này cũng thể hiện rõ nét chế độ đãi ngộ như công dân, chế độ pháp lý cơ bản của TPQT được nhiều nước áp dụng
Việc pháp luật nước ta thừa nhận và quy đinh về pháp luật thừa kế có yếu tố nước ngoài bên cạnh các quan hệ khác còn phản ánh khá rõ nét chính sách đối ngoại rộng mở của Đảng và Nhà nước ta trong quan hệ quốc tế Qua đây có thể khẳng định rằng, phạm vi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài càng rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, thì cho thấy mức độ ảnh hưởng của chính sách đối ngoại của Nhà nước đối với sự phát triển của các quan hệ dân sự quốc tế càng lớn Ngược lại, nếu phạm vi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài càng hẹp, thậm chí chỉ xuất hiện một số quan hệ trên một số lĩnh vực nhất định, thì điều đó cũng phản ánh sự hạn chế nhất đinh trong chính sách đối ngoại của Nhà nước [29, tr 34]
Trong chừng mực nhất định, thông qua việc điều chỉnh quan hệ thừa kế, còn góp phần thúc đẩy sự hội nhập về nhiều mặt của quốc gia vào đời sống quốc tế Thông qua đó, sẽ giúp cho nhiều người nước ngoài thuộc các quốc tịch khác nhua hiểu
rõ hơn về chính sách, pháp luật của quốc gia Điều đó gây ảnh hưởng tích cực đối với
vị thế của quốc gia trên trường quốc tế Ngược lại, nếu quốc gia không có cơ chế điều chỉnh thích hợp đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài hoặc điều chỉnh nó không theo xu hướng chung của quốc tế, có thêt sẽ gây hạn chế, ngăn cản, thậm chí là cho các quan hệ này không phát triển được Điều đó không những đi ngược xu thế phát triển chung mà còn gây ảnh hưởng không tốt đối với chính sách đối ngoại của quốc gia nói chung, làm cản trở tiến trình hội nhập của quốc gia Nói chung lại khi môi trường pháp lý rộng mở, thuận lợi sẽ là tiền đề, là động lực thúc đẩy mạnh mẽ các quan hệ hợp tác quốc tế phát triển
Trang 29Khi quốc gia mở rộng các quan hệ đối ngoại, tạo điều kiện ủng hộ và khuyến khích các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát triển, thì cũng đồng nghĩa với việc quốc gia Việt Nam thừa nhận, tôn trọng và bảo hộ đối với các quyền và tự do cơ bản của con người, trong đó có các quyền và nghĩa vụ dân sự của người nước ngoài Đây
là quyền rất thiết thực gắn bó với con người từ lúc sinh ra (như quyền sở hữu tài sản) cho đến khi người ta chết (làm phát sinh quyền thừa kế) Cho nên, xét về mặt lý luận, thì phạm vi và mức độ của quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, một mặt nào đó, còn phản ánh chính sách tiến bộ về nhân quyền của quốc gia Việt Nam Đành rằng, sự thừa nhận và bảo hộ của quốc gia đối với các quyền và tự do cơ bản của con người còn tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó, không thể so sánh một cách máy móc với quốc gia khác Nhưng điều căn bản là ở chỗ, quốc gia phải xác định được trách nhiệm bảo hộ các quyền đó của công dân, nhất là khi các quyền của công dân bị vi phạm trên lãnh thổ nước ngoài Đòi hỏi quốc gia phải có đủ các quy phạm pháp luật để điều chỉnh nó
Từ những phân tích trên đây, có thể khẳng định rằng, điều chỉnh quan hệ thừa
kế có yếu tố nước ngoài, theo lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, là rất cần thiết và không thể thiếu trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:
Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, quan hệ đối ngoại được mở rộng theo nguyên tắc đa phương hóa, đa dạng hóa với tất cả các nước trên thế giới, thì các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa
kế có yếu tố nước ngoài nói riêng phát triển ngày càng mạnh mẽ Việc pháp luật điều chỉnh đối với quan hệ này là rất cần thiết, trước hết là yêu cầu khách quan, phù hợp với thực tiễn phát triển của xã hội Điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài còn góp phần làm ổn định các quan hệ xã hội, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan Nhà nước giải quyết các vấn đề phát sinh Đồng thời, điều chỉnh các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài còn là biểu hiện của chủ quyền quốc gia phù hợp với đòi hỏi tất yếu trong điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế giữa Việt Nam với các nước, góp phần thúc đẩy sự hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Trang 30Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự phổ biến trong đời sống xã hội, đã và đang phát sinh ngày càng nhiều ở Việt Nam Trên cơ sở ứng dụng một cách khoa học quy định tại Điều 758, tác giả đã xây dựng khái niệm (mới) quan
hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài luôn giữa vị trí đặc biệt và vai trò quan trọng trong tổng thể các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh Chính yếu tố nước ngoài đã làm nên nét đặc thù trong quan hệ thừa kế Sự phát triển của các quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài luôn gắn liền và phản ánh mức độ ảnh hưởng của chính sách đối ngoại của quốc gia Phạm vi và mức độ của nó còn phản ánh chính sách về quyền con người , cũng như mức độ bảo hộ đối với nó của quốc gia Thông qua hiệu quả của chính sách bảo hộ công dân còn cho thấy mức độ gắn kết trong quan hệ qua lại của công dân và Nhà nước Đó chính là sự thể hiện rõ nhất về hiệu quả của pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng
Quan hệ sở hữu và quan hệ thừa kế có mối quan hệ chặt chẽ, qua lại với nhau
Sự thừa nhận của quốc gia về quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của
họ (bao gồm động sản và bất động sản), đão tạo tiền đề cho việc bảo đảm thực thi quyền đó bằng nhiều hình thức khác nhau, và kéo theo đó là một loạt các hậu quả pháp
lý quan trọng khác, trong đó có việc cho phép cá nhân thực hiện quyền tự do định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình, trong đó có quyền để lại thừa kế Với các quy định của pháp luật nước ta về việc bảo đảm quyền sở hữu tại Việt Nam của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã tạo nên một trong những cơ sở quan trọng, căn bản để quyền thừa kế có yếu tố nước ngoài được thừa nhận và bảo vệ tại Việt Nam
Phương pháp điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay là phương pháp thực chất và phương pháp xung đột, phù hợp với thông lệ quốc tế Phạm vi các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được pháp luật điều chỉnh nhìn chung tương đối đầy đủ so với trước; tuy nhiên tính khả thi của pháp luật nhìn chung chưa cao Đó là những vấn đề cần khắc phục để nâng cao hiệu quả của điều chỉnh pháp luật đối với loại quan hệ có nhiều đặc thù này
Trang 31Chương 2: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI
VIỆT NAM
2.1 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật các nước
Do dựa trên chế độ sở hữu không giống nhau và do ảnh hưởng về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo ở mỗi nước…cho nên việc thừa kế
có yếu tố nước ngoài có cách giải quyết khác nhau Do có sự quy định khác nhau giữa pháp luật các nước, cho nên dẫn đến XĐPL trong giải quyết các vụ việc về thừa kế có yếu tố nước ngoài Để giải quyết vấn đề này, dựa vào đặc điểm chế độ kinh tế xã hội của mỗi nước, các quốc gia đã đề ra những nguyên tắc của mình Dưới đây, tác giả chỉ
đề cập một số nước trong các hệ thống pháp luật cơ bản có những nguyên tắc tiêu biểu trong giải quyết XĐPL về thừa kế theo luật và di chúc
2.1.1 Thừa kế theo luật
Ở các nước theo hệ thống pháp luật chung (common law) như Anh, Mĩ, Achentia, Đan Mạch… để giải quyết các vấn đề thừa kế, pháp luật của các nước này phân di sản thừa kế ra làm hai loại: Bất động sản và động sản Đối với bất động sản luật được áp dụng để xác định quyền thừa kế là luật nơi có tài sản (Lex rei sitae) kể cả trong trường hợp thừa kế sẽ được xác định theo luật nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản thừa kế (Lex Domicille) Cách giải quyết này cũng được nhiều nước khác áp dụng (chẳng hạn như Pháp)
Có điểm cần lưu ý là, trong khi áp dụng các nguyên tắc trên để giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế, các nước có thể áp dụng các nguyên tắc khác nhau để giải quyết vấn đề phân định di sản thừa kế mà người ta thường gọi là giải quyết xung đột pháp luật về định danh Chẳng hạn ở Anh, Mĩ nội dung của bất động sản được xem xét căn cứ vào nguyên tắc luật nơi có vật (Lex rei sitae) nhưng ở Pháp thì thực tiễn tư pháp lại chứng minh rằng vấn đề này giải quyết trên cơ sở luật tòa án (Lex fori)
Đối với một số nước Tây Âu như Đức, Italia, Bồ Đào Nha…việc giải quyết các vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài dựa trên nguyên tắc thống nhất về di sản thừa kế
Trang 32Điều này có nghĩa là pháp luật của các nước này không phân chia di sản thừa kế ra làm các loại khác nhau đề giải quyết, mà thống nhất giải quyết toàn bộ di sản thừa kế theo một nguyên tắc là luật nhân thân của người để lại di sản thừa kế, cụ thể là luật quốc tịch của người để lại di sản thừa kế (Lex patriae) Cách giải quyết trên về vấn đề thừa
kế cũng được một số nước khác áp dụng, chẳng hạn Nhật Bản, Ai Cập…
Ở các nước Đông Âu: cũng áp dụng nguyên tắc thống nhất về di sản thừa kế và giải quyết theo luật quốc tịch của người để lại di sản thừa kế vào thời điểm người đó chết Ở một số nước như Anbani, Hunggari…việc áp dụng nguyên tắc trên còn có kèm bảo lưu như sau: Đối với những vụ thừa kế có lien quan đến phần đất đai trên lãnh thổ quốc gia này phải áp dụng luật của chính các nước đó để giải quyết Theo pháp luật của Liên bang Nga, các quan hệ thừa kế xác định theo luật của nước mà người để lại
di sản thừa kế có nơi cư trú cuối cùng Đối với việc thừa kế các công trình xây dựng nằm trên lãnh thổ Nga được xác định theo luật của Nga Pháp luật của Mông Cổ cũng được quy định tương tự
2.1.2 Thừa kế theo di chúc
Để xác định quyền thừa kế theo di chúc trong các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, các nước trên thế giới áp dụng nhiều nguyên tắc khác nhau Theo pháp luật Anh, Mĩ năng lực hành vi lập di chúc cũng như hình thức của di chúc đối với di sản thừa kế là động sản đều do luật nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản thừa kế điều chỉnh (Lex domicilli)
Đức và một số nước Tây Âu khác, năng lực lập và hủy bỏ di chúc, hình thức hợp pháp của di chúc được pháp luật của các nước này quy định như sau: Năng lực hành vi lập di chúc được xác định theo luật nơi cư trú cuối cùng của người lập di chúc, hoặc theo luật nơi có di sản thừa kế Còn hình thức di chúc được coi là hợp pháp nếu
nó đáp ứng được yêu cầu của một trong các hệ thống pháp luật sau: Luật nơi có di sản thừa kế; Luật quốc tịch của người lập di chúc; Luật nơi người đó cư trú Nếu người lập
di chúc không tuân thủ quy định về hình thức di chúc của các hệ thống pháp luật trên
mà lại thỏa mãn yêu cầu đối với luật nơi lập di chúc thì di chúc đó cũng không bị coi
là bất hợp pháp
Trang 33Đối với các nước Đông Âu, các quan hệ về thừa kế theo di chúc, về nguyên tắc, chịu sự chi phối của chế định pháp luật chung về thừa kế Song tính hợp pháp của di chúc lại được xác định theo luật của nước mà người để lại di sản là công dân vào thời điểm lập di chúc Luật này cũng điều chỉnh cả vấn đề năng lực lập và hủy bỏ di chúc Trong việc giải quyết vấn đề hình thức của di chúc, cùng với luật nơi lập di chúc (Lex loci actus), còn có thể áp dụng luật quốc tịch của người lập di chúc vào thời điểm lập
di chúc để điều chỉnh Theo pháp luật của Nga trước đây, năng lực lập và hủy bỏ di chúc, hình thức của di chúc và các văn bản hủy bỏ di chúc xác định theo luật của nước nơi người để lại di chúc cư trú vào thời điểm lập giấy tờ Tuy nhiên, di chúc và việc hủy bỏ di chúc sẽ không bị coi là vô hiệu vì không thỏa mãn đòi hỏi về mặt hình thức, nếu như hình thức cuối cùng của nó thỏa mãn các yêu cầu của luật nơi lập giấy tờ hoặc các yêu cầu của luật Nga Về năng lực lập và hủy bỏ di chúc cũng như về hình thức di chúc đối với các công trình xây dựng trên lãnh thổ Nga đều xác định theo luật của Nga Pháp luật của Mông Cổ về thừa kế cũng quy định tương tự như vậy
2.2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế qua các Điều ước quốc tế giữa các nước trên thế giới
Quá trình phát triển giao lưu dân sự quốc tế đã dẫn tới việc các nước ký kết hàng loạt điều ước nhằm tạo ra các nguyên tắc chung giải quyết các vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài Những điều ước này có thể là đa phương hay song phương được
ký kết giữa các nước với nhau Khi giải quyết XĐPL trong các quan hệ thừa kế có yếu
tố nước ngoài, thì quyền lợi của quốc gia luôn được đề cao Quyền lợi của mỗi quốc gia phải phù hợp với những nguyên tắc cơ bản chi phối hệ thống pháp luật mà quốc gia theo đuổi Đó là lý do dẫn đến hiện tượng khó dung hòa trong cộng đồng quốc tế khi có nhu cầu ký kết ĐƯQT đa phương để giải quyết XĐPL trong lĩnh vực thừa kế
Từ đầu thế kỷ trước, các nước đã cố gắng để ký kết các ĐƯQT đa phương làm cơ sở pháp ký thống nhất cho việc giải quyết XĐPL về thừa kế, nhưng những cố gắng đó đều thất bại
Trong số điều ước đa phương, trước hết phải kể đến công ước La hay năm
1900 Đây là công ước đầu tiên có mục đích thống nhất hóa nguyên tắc giải quyết XĐPL về thừa kế [47, tr 180] Theo quy định của công ước này, luật được áp dụng để
Trang 34điều chỉnh các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài (kể cả với bất động sản và động sản) là luật nhân thân của người để lại di sản thừa kế mà cụ thể là luật quốc tịch của người để lại di sản thừa kế (Lex patriae) Hội nghị quốc tế Lahay các năm 1904, 1925,
1928 tiếp tục khẳng định nguyên tắc này
Tuy nhiên, trên thực tế, Công ước Lahay năm 1900 cũng như các công ước khác cho đến nay vẫn chưa có hiệu lực pháp luật, bởi vì trong lĩnh vực thừa kế, quyền lợi của các nước tư bản luôn va chạm nhau gay gắt Một nguyên tắc thống nhất (Lex patriae) được đề ra để giải quyết các vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài như Công ước Lahay năm 1900 đã ghi nhận có thể thuận lợi và dễ chấp nhận với nước này, nhưng khó chấp nhận với nước khác, với nhóm nước khác Đặc biệt là với đối với các nước từ trước đến nay áp dụng một nguyên tắc khác hẳn mà công ước đề ra để giải quyết XĐPL: Nguyên tắc luật nơi cư trú (Lex domicilli)
Tiếp theo, phải kể đến Công ước Lahay 1961 về việc giải quyết XĐPL về hình thức của di chúc Theo Công ước này, hình thức của di chúc sẽ có giá trị pháp lý, nếu
di chúc đó thỏa mãn yêu cầu của một trong các hệ thống pháp luật có liên quan (nơi lập di chúc; nơi người lập di chúc có quốc tịch vào thời điểm lập di chúc hoặc vào lúc người đó chết; nơi cư trú của người lập di chúc vào thời điểm lập di chúc hoặc vào lúc người đó chết; nơi cư trú của người lập di chúc vào thời điểm lập di chúc hoặc vào lúc người đó chết; nơi có bất động sản)
Công ước Lahay 1961 đã bổ sung những nguyên tắc quan trọng làm căn cứ xác định pháp luật áp dụng đối với thừa kế theo di chúc, giải quyết những vướng mắc, tồn tại của Công ước Lahay 1900, dung hòa quyền lợi của các quốc gia trong việc giải quyết quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, thông qua việc thừa nhận một số hệ thuộc
áp dụng đối với hình thức của di chúc Như vậy, trên bình diện quốc tế, vấn đề thừa
kế có yếu tố nước ngoài mới chỉ được ĐƯQT đa phương điều chỉnh một phần Để khắc phục sự thiếu toàn diện này, đồng thời tạo cơ sở pháp lý quốc tế giải quyết các quan hệ thừa kế phát sinh, các nước ký kết với nhau ĐƯQT song phương nhằm điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Chính vì thế, HĐTTTP, Hiệp định lãnh
sự Hiệp định lao động quốc tế….cũng được coi là cơ sở pháp lý quốc tế giữa các quốc gia điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Trang 35Có thể khẳng định rằng, giải quyết XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài trên
cơ sở các ĐƯQT song phương hiện đang là cách giải quyết có hiệu quả Tuy nhiên, để
đi đến ký kết một điều ước như thế đòi hỏi, nỗ lực quyết tâm và thiện chí của cả hai phía và thực tế cho thấy không phải lúc nào cũng thành công Vì thế, số lượng các điều ước song phương trong lĩnh vực này không nhiều, không đủ để giải quyết tất cả các vướng mắc phát sinh trong lĩnh vực này, nhất là khi quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài cùng một lúc có thể do nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh Vì vậy, các quốc gia đều cố gắng xây dựng trong luật quốc nội các quy phạm thực chất hay quy phạm xung đột (đơn phương) nhằm điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Đây là cách thức khắc phục có hiệu quả nhất sự thiếu thốn về cơ sở pháp lý trong cơ chế điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung Pháp luật Việt Nam hiện nay có các quy định điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại phần VII BLDS 2005
2 3 Pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
2.3.1 Nguyên tắc giải quyết các vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ
Nhìn vào pháp luật thừa kế hiện tại ta thấy, Pháp luật Việt Nam quy định về thừa kế có yếu tố nước ngoài đã trải qua một chặng đường phát triển khá dài Chặng đường đó đã cho thấy rõ những điểm mới, điểm tiến bộ mà chúng ta xây dựng được để khắc phục những tồn tại, hạn chế, bảo đảm quyền lợi cho công dân Dưới đây là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài từ trước đến nay
Quyết định 122/1977/QĐ-CP về chính sách đối với người nước ngoài, cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam
Quyết định số 122 ngày 25/4/1977 được coi là văn bản pháp luật đầu tiên có quy định trực tiếp về vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài, nhưng chính là về quyền thừa kế của ngoại kiều tại Việt Nam, chứ không phải là của người nước ngoài nói chung [29, tr 117] Theo Điều 8 của quyết định này, ngoại kiều được hưởng quyền
Trang 36thừa kế tài sản theo pháp luật Việt Nam Tất nhiên, việc ban hành Quyết định 122 vào thời điểm đó là có nguyên nhân về mặt lịch sử của nó Đối tượng điều chỉnh của văn bản cũng là diện hẹp (ngoại kiều) Nhưng ngay cả bản thân khái niệm “ngoại kiều”, cho đến nay vẫn có sự giải thích khác nhau Trong các văn bản pháp luật hiện hành không sử dụng khái niệm ngoại kiều, mà sử dụng khái niệm người nước ngoài cư trú (thường trú hoặc tạm trú) tại Việt Nam (Khoản 5 Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008) Nếu hiểu theo lẽ thông thường, thì ngoại kiều và người nước ngoài thường trú thực chất là một
Nhưng xét về nội hàm, thì quy định tại Điều 8 Quyết định 122 trên đây chỉ là quy định có tính tuyên ngôn thừa nhận quyền thừa kế của người nước ngoài tại Việt Nam Bởi sau đó, không có văn bản nào hướng dẫn việc người nước ngoài thực hiện quyền thừa kế tại Việt Nam ra sao, theo pháp luật Việt Nam là theo văn bản cụ thể nào, trên nguyên tắc bình đẳng như công dân Việt Nam hay theo các quy định riêng
Pháp lệnh thừa kế 1990 ngày 30 tháng 8 năm 1990:
Trong điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế ngày càng phát triển, các quan hệ nảy sinh lĩnh vực thừa kế không chỉ gói gọn trong phạm vi quốc gia mà đã vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật các nước khác Chính vì vậy, PLTK
1990 ra đời đã giải quyết được một phần nào đó về vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài
Pháp lệnh 1990 quy định tại điều 37 về quyền thừa kế của người nước ngoài như sau: “Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ quyền thừa kế của người nước ngoài đối với tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam theo quy chế về người nước ngoài tại Việt Nam, ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận” PLTK 1990 đã xác định nguyên tắc chung là: Nhà nước Việt Nam bảo đảm người nước ngoài được hưởng thừa
kế đối với di sản thừa kế có trên lãnh thổ Việt Nam để lại và việc thừa kế của công dân Việt Nam đối với tài sản ở nước ngoài do người thân của họ để lại ở nước ngoài cũng được cho phép bảo hộ
Như vậy, PLTK 1990 còn thiếu những quy định chi tiết, nhất là những quy phạm xung đột làm cơ sở để giải quyết những vụ việc cụ thể về thừa kế có yếu tố nước
Trang 37ngoài [47, tr 183] Nên trong thời gian nay việc giải quyết các quan hệ thừa kế có yếu
tố nước ngoài gặp nhiều khó khăn
Bộ luật dân sự năm 1995:
Trước những thiếu sót của PLTK 1990 và đòi hỏi của những quan hệ về thừa kế
có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều hơn Yêu cầu đặt ra phải xây dựng quy phạm pháp luật để điều chỉnh vấn đề này chính xác hơn Trước yêu cầu đó, nhà nước ta đã ban hành BLDS 1995 (Quốc Hội thông qua 28/10/1995)
Tại khoản 3 và 4 điều 15 BLDS quy định: “BLDS được áp dụng đối với các quan hệ dân sự có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia tại Việt Nam, trừ một số quan hệ dân sự mà pháp luật có quy định khác BLDS cũng áp dụng đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp ĐƯQT mà Cộng hòa XHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.”
Tại điều 826 BLDS cũng nêu rõ:“ Trong bộ luật này quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là các quan hệ dân sự có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài
BLDS 1995 đã có những quy định nguyên tắc chung áp dụng ĐƯQT và pháp luật nước ngoài đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (tại điều 827, 828, 829) Nhưng chế định thừa kế còn để trống, đây là một thiếu sót và hạn chế lớn [25, tr 621] Việc này gây nhiều khó khăn vì không có luật áp dụng để giải quyết trong suốt những năm BLDS 2005 chưa có hiệu lực Trong khi đó vấn đề về sở hữu và thừa kế nói chung, thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và phức tạp Nếu không có một hành lang pháp lý ổn định làm cơ sở thì sẽ không thể giải quyết được các vấn đề này trên thực tiễn Về nguyên tắc, như đã khẳng định, Nhà nước Việt Nam không từ chối bảo hộ quyền thừa kế của người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài song vì còn thiếu các quy phạm pháp luật điều chỉnh nên việc bảo hộ quyền thừa kế còn nhiều lúng túng
Để đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể của quan hệ dân sự quốc tế, việc hoàn thiện TPQT Việt Nam về vấn đề này là cần thiết Một số tác giả đã yêu cầu hoàn
Trang 38thiện vấn đề này; theo tác giả Đoàn Năng: “Nếu các văn bản pháp luật chuyên ngành
đã ban hành mà trong đó chưa có hoặc có nhưng chưa đầy đủ quy phạm xung đột thì nên sớm tiến hành bổ sung vào các văn bản này những quy phạm xung đột cần thiết để
áp dụng nhằm bảo đảm có đầy đủ quy phạm hướng dẫn chọn luật điều chỉnh tất cả các loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Ví dụ quan hệ thừa kế … thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS nhưng BLDS năm 1995 và các văn bản khác có liên quan đang hiện hành chưa hề có quy phạm xung đột nào” [46, tr 226] Tác giả Nguyễn Công Khanh cũng cho rằng, “trong pháp luật Việt Nam hiện nay có rất ít các quy định điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Đây là một hiện tượng không bình thường, trong khi các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trên các mức độ khác nhau, đã được pháp luật điều chỉnh Điều này càng cho thấy sự cần thiết phải bổ sung các quy định điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài vào phần 7 BLDS” [29,
tr 123]
Bộ luật dân sự năm 2005:
Đáp ứng nhữngđòi hỏi bức thiết từ thực tiễn, tại BLDS năm 2005 các nhà làm luật đã bổ sung hai điều luật mới quy định về thừa kế có yếu tố nước ngoài là Điều 767
và Điều 768 Quy định về thừa kế có yếu tố nước ngoài đã tạo ra nguyên tắc áp dụng luật điều chỉnh khi người để lại di sản, người thừa kế hoặc những người có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc di sản ở nước ngoài Có thể nói, BLDS năm 2005 là bước tiến dài trong việc xây dựng các quy phạm điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Bộ luật này đã làm được những điều mà các văn bản trước chưa quy định, tạo thuận lợi lớn trong việc giải quyết XĐPL
2.3.2 Các quy định về giải quyết xung đột pháp luật tại Bộ luật dân sự năm 2005
2.3.2.1 Thừa kế theo pháp luật
Trong trường hợp thừa kế theo pháp luật người chết không để lại di chúc, di
chúc không hợp pháp, không để lại di chúc với một phần tài sản hoặc di chúc không
hợp pháp một phần, việc thừa kế theo pháp luật phải “tuân theo pháp luật của nước
Trang 39mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết” (Khoản 1 Điều 767) Như
vậy, việc xác định người thừa kế, hàng thừa kế, thời điểm mở thừa kế, di sản thừa kế, quyền và nghĩa vụ của người thừa kế, người quản lý tài sản thừa kế được thực hiện theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết Chẳng hạn, một người Hàn Quốc sang Việt Nam kết hôn với người Việt Nam sinh sống và có tài sản là tiền, vật dụng sinh hoạt cá nhân tại Việt Nam, chẳng may, người
đó gặp tai nạn và chết, họ không kịp để lại di chúc Vợ của họ ở Việt Nam yêu cầu Tòa
án Việt Nam phân chia di sản, trong trường hợp này Tòa án Viêt Nam tiến hành chia
di sản thừa kế theo trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 của Việt Nam, nhưng các vấn đề về hàng thừa kế, thời điểm mở thừa kế…phải áp dụng quy định của pháp luật Hàn Quốc
Điều này khác với quan điểm của các nhà làm luật Pháp coi vấn đề thừa kế thuộc quy chế pháp lý về hành vi và sự kiện pháp lý (sự kiện người có tài sản chết và
sự kiện mở thừa kế), các sự kiện này chịu sự điều chỉnh của luật nơi cư trú Nơi cư trú của người để lại di sản được xác định theo quy định của pháp luật Pháp, cho dù đó là người nước ngoài hay người Pháp, nơi cư trú ở nước ngoài hay ở Pháp
Về vấn đề thừa kế đối với bất động sản, phù hợp với thông lệ quốc tế, khoản 2 Điều 767 BLDS năm 2005 quy định quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản (Lex rei sitae) Tham khảo kinh nghiệm quốc
tế cho thấy, án lệ của nước Cộng hòa Pháp luôn căn cứ vào quy định tại Điều 3 khoản
2 BLDS Pháp năm 1804 để áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản đối với trường hợp thừa kế bất động sản Hệ thuộc luật nơi có bất động sản có ưu điểm là áp dụng một hệ thống pháp luật thống nhất để điều chỉnh chế độ sở hữu bất động sản và chế độ thừa kế bất động sản Với giải pháp này, chúng ta tôn trọng bản chất tài sản của quan hệ thừa
kế, điều đó có thể tránh được những phản ứng không tốt của nước nơi có di sản cho những biện pháp ủy thác cũng như việc thừa nhận bản án của Tòa án Việt Nam đối với tài sản này vì ở đây chúng ta áp dụng pháp luật của nước nơi có tài sản [25, tr 626]
Trong dự thảo sửa đổi BLDS năm 1995 nội dung điều luật này được quy định
như sau: “Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước có người để lại
di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết” Quy phạm xung đột này được áp dụng
Trang 40để giải quyết XĐPL về thừa kế đối với cả động sản và bất động sản Bởi vậy, có những ý kiến không đồng tình với quy phạm trên, cho rằng quy phạm xung đột này thể hiện nhiều nhược điểm cần phải được cân nhắc, xem xét thêm Thực hiện quy phạm xung đột nói trên là không có lợi cho công dân nước ta khi để lại di sản hoặc được thừa kế di sản là bất động sản ở nước ngoài Chúng ta nên lựa chọn công thức
“luật theo nơi ở của bất động sản” bằng quy phạm xung đột với nội dung: Quyền thừa
kế đối với bất động sản được điều chỉnh theo pháp luật của nước, mà bất động sản ở nước này Còn quyền thừa kế đối với động sản, thì chúng ta nên lựa chọn công thức
“luật theo quốc tịch” của người để lại di sản bằng quy phạm xung đột với nội dung: Quyền thừa kế đối với động sản được điều chỉnh theo pháp luật của nước, mà người để lại di sản là công dân” [21] BLDS năm 2005 cũng giải quyết xung đột về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo xu hướng vừa nêu trên, có khác chỉ là cách sắp xếp câu chữ mượt mà, dễ hiểu hơn Khoản 1 Điều 767 BLDS năm 2005 áp dụng cho thừa kế về động sản, khoản 2 Điều 767 được bổ sung để giải quyết thừa kế về bất động sản
Quy định tại Điều 767 BLDS năm 2005 mở ra nhiều khả năng áp dụng pháp luật Việt Nam trong trường hợp người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài (chưa nhập quốc tịch nước ngoài) Việc BLDS năm 2005 lựa chọn hệ thuộc luật quốc tịch trong quan hệ thừa kế theo pháp luật là cần thiết và phù hợp, tạo ra nhiều cơ hội pháp luật Việt Nam được dẫn chiếu áp dụng Còn trong trường hợp, người để lại thừa kế có quốc tịch nước ngoài, lúc đầu chúng ta có thể kết luận là pháp luật nước ngoài sẽ được áp dụng Nhưng nếu pháp luật nước này từ chối và dẫn chiếu ngược trở lại thì chúng ta sẽ
áp dụng pháp luật nước ta Bởi pháp luật Việt Nam thừa nhận vấn đề dẫn chiếu ngược trong TPQT, cụ thể,quy định tại khoản 3 Điều 759 BLDS Việt Nam
Tại Dự thảo sửa đổi BLDS năm 1995 còn có quy định: “Thời điểm mở thừa kế phải tuân theo pháp luật của nước nơi có người để lại di sản thừa kế có quốc tịch vào thời điểm chết” Theo nhiều ý kiến cho rằng không có XĐPL về thời điểm mở
thừa kế [53] Xin được nêu ví dụ:
Công dân Việt Nam lập di chúc để lại tài sản cho công dân Pháp Trong Giấy chứng tử của người di chúc là công dân Việt Nam ghi thời điểm chết là ngày 1-5-2005 Trong Giấy chứng tử của người thừa kế là công dân Pháp ghi thời điểm chết vào lúc