1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật việt nam

76 274 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 494,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nội dung quan trọng của Luật Doanh nghiệp 2005 là những quy định về vốn của doanh nghiệp: Việc hình thành vốn; việc chuyển nhượng vốn, mua lại cổ phần; thay đổi vốn hay v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN PHƯƠNG ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI NGỌC CƯỜNG

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Bản luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu thực

sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu kiến thức lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của

Tiến sĩ Bùi Ngọc Cường

Các số liệu, kết quả trong bài luận văn là trung thực và chưa từng được công bố

Học viên

Nguyễn Phương Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Bùi Ngọc Cường đã tận tình hướng

dẫn và quý thầy cô khoa sau đại học trường đại học Luật đã truyền dạy những kiến thức quý báu trong chương trình cao học và giúp đỡ kinh nghiệm cho tôi

để hoàn thành bản luận văn này

Học viên

Nguyễn Phương Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

5

1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty cổ phần 5 1.2 Vốn và cấu trúc vốn trong công ty cổ phần 8 1.2.1 Khái niệm vốn trong công ty cổ phần 8 1.2.2 Cấu trúc vốn trong công ty cổ phần 14 1.3 Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần 21 1.3.1 Định nghĩa chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần 21 1.3.2 Đặc điểm chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần 21

Trang 5

1.3.3 Nội dung chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần 22

1.3.3.2 Chuyển nhượng và mua lại cổ phần 23

Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA

2.3 Các trường hợp thay đổi vốn trong công ty cổ phần 46

Trang 6

2.3.1.2 Tăng vốn điều lệ 49

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật

về chuyển nhượng, mua lại cổ phần trong công ty cổ phần

60

3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật

về quyền sở hữu đối với vốn trong công ty cổ phần

64

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 là một bước phát triển mới về pháp luật doanh nghiệp ở Việt Nam trong việc tiếp thu những chuẩn mực chung của Luật Công ty ở các nước phát triển trên thế giới Có thể nói Luật Doanh nghiệp 2005 đã góp phần đáng kể vào việc hoàn thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam Luật này chứa đựng nhiều nội dung mới (trước đây chưa được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 1999) Luật Doanh nghiệp 2005 không chỉ xác định mô hình pháp lý cho các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cũng như thuộc các hình thức sở hữu khác nhau mà nó còn tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, giảm rào cản gia nhập thị trường, nhất là đối với nhà đầu tư nước ngoài, theo hướng áp dụng hình thức đăng ký kinh doanh là phổ biến thay cho chế độ cấp phép đầu tư; các nhà đầu

tư nước ngoài có quyền tự chủ lựa chọn loại hình doanh nghiệp để kinh doanh; khung quản trị sẽ thống nhất và áp dụng như nhau đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Như vậy, Luật Doanh nghiệp

2005 đã mở rộng phạm vi và đối tượng điều chỉnh, cho phép các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở Việt Nam có được một công cụ pháp lý quan trọng để vận hành và phát triển bình đẳng trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa

Một trong những nội dung quan trọng của Luật Doanh nghiệp 2005 là những quy định về vốn của doanh nghiệp: Việc hình thành vốn; việc chuyển nhượng vốn, mua lại cổ phần; thay đổi vốn hay vấn đề sở hữu vốn … Công ty

cổ phần là một loại hình doanh nghiệp đang tồn tại và phát triển phổ biến trong nền kinh tế thị trường, không những nhà đầu tư trong nước mà nhà đầu tư nước ngoài cũng được phép hoạt động theo mô hình này, đặc biệt trong giai đoạn

Trang 8

hiện nay các doanh nghiệp nhà nước đang dần dần chuyển sang mô hình công

ty cổ phần

Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để thực hiện các hoạt động kinh doanh công ty cổ phần phải có vốn Vốn của công ty cổ phần là vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến bản chất kinh tế, khả năng tài chính mà còn là yếu

tố xác định vị thế, năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần trên thị trường, liên quan đến hàng loạt các vấn đề pháp lý như quyền sở hữu, chuyển nhượng, thế chấp Không thể không nhận thấy rằng vốn của công ty cổ phần là cơ sở vật chất cho hoạt động của nó, có thể nói sự tồn tại và độ tin cậy của một công ty

cổ phần trước các đối tác chủ yếu phụ thuộc vào cấu trúc vốn và tư cách pháp

lý của nó Những yếu tố đó được các đối tác của công ty quan tâm đến nhiều nhất Như vậy, vốn trong doanh nghiệp nói chung và trong công ty cổ phần nói riêng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là yếu tố cơ bản để quyết định sự ra đời và tồn tại của doanh nghiệp Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, quy định về vốn trong công ty cổ phần còn nhiều phức tạp, nó chưa được quy định một cách chi tiết, cụ thể dẫn đến chưa có sự thống nhất trong việc áp dụng luật Vì vậy, việc nghiên cứu để góp phần hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật về vốn của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2005 đặc biệt là công

ty cổ phần, đồng thời đưa ra những định hướng cơ bản cho sự phát triển của Luật Doanh nghiệp Việt Nam là điều cần thiết Điều đó không chỉ có ý nghĩa thiết thực cho người làm công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, các cơ quan quản lý nhà nước mà còn đối với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư đang và sẽ quan tâm tới hệ thống pháp luật về doanh nghiệp Việt Nam Với cách tiếp cận

như vậy cho nên, chúng tôi chọn đề tài “Chế độ pháp lý về vốn trong công ty

cổ phần theo pháp luật Việt Nam” để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, có nhiều đề tài, công trình cũng như tài liệu liên quan đến doanh nghiệp, công ty cổ phần nói chung và trong đó có đề cập đến vấn đề vốn trong công ty cổ phần Cụ thể có các giáo trình: Giáo trình Luật Doanh nghiệp năm

Trang 9

2005 của PGS.TS Nguyễn Đình Tài; Giáo trình Luật Kinh tế của Đại học Luật

Hà Nội; Giáo trình Luật Kinh tế của khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội … Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Châu với đề tài: “Xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền sở hữu tài sản của công ty đối vốn”; Luận án tiến sĩ luật học của tiến sĩ Đồng Ngọc Ba với đề tài: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam” …

Hầu hết, các công trình nghiên cứu nhiều vấn đề về doanh nghiệp dưới nhiều góc độ, nhưng nhìn chung chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về chế

độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số nội dụng về chế

độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần hoạt động theo pháp luật Việt Nam nhằm làm rõ những quy định mới về vốn của công ty cổ phần đồng thời hoàn thiện về mặt lý luận những vấn đề mà hiện đang còn bỏ ngỏ hoặc mới chỉ đề cập ở mức khái quát và đưa ra những định hướng phát triển của pháp luật Việt Nam

Để đạt được mục đích đó, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau: làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần; thực trang chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam; xây dựng các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần

4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn chỉ đề cập một trong những vấn đề cơ bản trong quy chế điều chỉnh vốn đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng của Luật Doanh nghiệp 2005, đó là chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần bao gồm cơ chế góp vốn; chuyển nhượng, mua lại cổ phần; thay đổi vốn và vấn đề

sở hữu vốn trong công ty cổ phần

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận chung để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trên nền tảng phương pháp đó, luận văn đã

sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp so sánh, thống kê

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của chế độ pháp lý về vốn trong công

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ

VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty cổ phần

Cũng giống như các hiện tượng kinh tế - xã hội khác, công ty ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện xã hội nhất định Vào khoảng thế kỷ thứ XIII, ở các thành phố lớn của một số nước Châu Âu – nơi có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán đã xuất hiện các công ty thương mại đối nhân đầu tiên Lúc này, các thương gia liên kết dưới hình thức một hãng buôn hay một công ty để hùn vốn đóng những con thuyền vượt đại dương, hoặc buôn bán xa hơn ở những lãnh thổ mới khám phá Trong quá trình cùng nhau kinh doanh, buôn bán theo phường hội, các thương gia rất cần niềm tin, sự sống chết

có nhau Yếu tố về nhân thân, sự quen biết mang tính chất “chọn mặt gửi vàng” được đặt lên hàng đầu Càng về sau, sự giao lưu thương mại được rộng mở, nền sản xuất hàng hóa – tiền tệ ngày càng phát triển, với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao nhất, nhiều nhà kinh doanh đã bắt đầu cạnh tranh quyết liệt nhằm tìm kiếm thị trường, mở rộng quy mô kinh doanh Sức mạnh của họ được dựa trên thực lực về tài chính, nên mục tiêu nâng cao năng lực về vốn luôn được các nhà kinh doanh chú ý Đến lúc này, yếu tố về vốn đã chi phối mạnh mẽ hoạt động của các công ty Vì thế, bước sang thế kỷ thứ XVIII và XIX cùng với

sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã có rất nhiều công ty cổ phần đã lần lượt ra đời ở Châu Âu và Bắc Mỹ Sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, công ty ngày càng phát triển mạnh mẽ về số lượng, cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động, nổi lên là những công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia

Trang 12

Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, nghĩa là khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động các thành viên công ty không quan tâm đến nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần góp vốn của họ Bởi vì đối với loại hình công ty này tư cách thành viên công ty và các quyền của cổ đông trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty được quyết định trước hết bởi số lượng các cổ phiếu của công ty mà người đó nắm giữ Công ty cổ phần được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng Với tính chất này, công ty cổ phần là một hình thức tổ chức đặc biệt, năng động có thể sử dụng để huy động vốn thông qua các giao dịch trên thị trường chứng khoán

Từ những phân tích trên, luận văn có thể đưa ra khái niệm và đặc điểm công ty cổ phần như sau:

Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp thuộc công ty đối vốn Vốn của công ty cổ phần được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản

nợ của công ty trong phạm vi giá trị cổ phiếu mà họ sở hữu Công ty cổ phần

có tư cách pháp nhân độc lập, mang tính chất tổ chức cao, có cấu trúc vốn phức tạp Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn

Đặc điểm của công ty cổ phần:

Về số lượng thành viên: Hầu hết pháp luật các nước đều quy định số lượng

thành viên tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa (theo quy định của Luật Công ty 1990 của Việt Nam thì số lượng thành viên tối thiểu trong suốt quá trình hoạt động của công ty cổ phần là 7 và theo Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 thì số lượng thành viên tối thiểu của công ty cổ phần

là 3) Đặc điểm này thể hiện đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần là loại hình

Trang 13

công ty đối vốn nên có sự liên kết của nhiều cổ đông tham gia góp vốn vào công ty cổ phần

Về hình thức góp vốn: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần

bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu, người mua cổ phiếu gọi là cổ đông, lợi nhuận có được hằng năm từ cổ phần gọi

là cổ tức Việc góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu, mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu

Về huy động vốn: Trong quá trình hoạt động của mình, công ty cổ phần

được quyền phát hành chứng khoán theo quy định của pháp luật về phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: đối với công ty trách nhiệm hữu hạn khi muốn tăng vốn điều lệ của mình thì phải thực hiện bằng cách tăng thêm phần vốn góp của các thành viên, hoặc kết nạp thành viên mới, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần Trong khi đó khả năng huy động vốn để tăng thêm vốn điều lệ của công ty cổ phần là rất lớn, bất cứ lúc nào khi hội đủ các điều kiện luật định công ty cổ phần cũng có quyền phát hành cổ phiếu mới để kêu gọi vốn đầu tư

từ các cổ đông mới

Về chuyển nhượng phần vốn góp: Phần vốn góp của các cổ đông được thể

hiện dưới hình thức cổ phiếu Cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành là “hàng hóa” nên người sở hữu các “hàng hóa” này có thể tự do chuyển nhượng Các cổ đông muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số cổ phiếu của mình cho các cổ đông khác đều được thực hiện một cách dễ dàng theo quy định của điều

lệ công ty, trừ những trường hợp pháp luật hạn chế quyền chuyển nhượng cổ phiếu

Như vậy, so sánh với các loại hình công ty khác thì công ty cổ phần có nhiều ưu việt hơn, khắc phục được những hạn chế của loại hình công ty đối nhân và công ty trách nghiệm hữu hạn Với loại hình công ty cổ phần có thể

Trang 14

huy động được nguồn vốn lớn thỏa mãn nhu cầu kinh doanh miễn là sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu quả, mức cổ tức đủ sức hấp dẫn những người

có vốn, đồng thời chia nhỏ rủi ro cho các thành viên Tuy vậy, do công ty cổ phần thường có quy mô kinh doanh lớn, số lượng thành viên đông nên quản lý, điều hành sẽ gặp nhiều phức tạp Kết quả hoạt động của công ty ảnh hưởng nhiều đến ổn định xã hội vì công ty được công khai phát hành cổ phiếu huy động vốn trong xã hội và số đông các thành viên góp vốn có thể là người lao động

1.2 Vốn và cấu trúc vốn trong công ty cổ phần

1.2.1 Khái niệm vốn trong công ty cổ phần

Đối với doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng, vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng Nó là điều kiện, là cơ sở thiết yếu để công ty ra đời và hoạt động trên thương trường Công ty cổ phần có quy mô càng lớn thì

số vốn càng nhiều, số vốn càng nhiều thì khả năng cạnh tranh và uy tín của công ty trên thị trường càng cao Vốn quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ và quan hệ với các đối tác bên ngoài Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội nguồn của quyền lực Quyền lực trong công ty cổ phần sẽ thuộc về những ai giữ phần lớn số vốn trong công ty Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của công ty cổ phần chỉ rõ thực lực tài chính của công ty Khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong công ty cổ phần là yếu tố năng động nhất Các quy luật kinh tế thị trường chỉ ra rằng cùng với sự lưu thông hàng hóa

là sự lưu thông tiền tệ, tức là sự chu chuyển các nguồn vốn Sự phát triển của công ty cổ phần tỷ lệ thuận với sự luân chuyển các nguồn vốn trong nền kinh

tế Sự vận động của vốn trong công ty cổ phần vừa chịu sự chi phối khách quan của các quy luật kinh tế, vừa bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người Điều này đặt ra một đòi hỏi là con người phải tạo ra cách thức góp vốn, cách tổ chức và quản lý vốn để có thể đáp ứng được sự vận động linh hoạt của vốn Sự

Trang 15

linh hoạt trong vận động của vốn vừa phải thích ứng với yêu cầu đòi hỏi đa dạng của nhà đầu tư, vừa không mất đi bản chất vốn có của công ty cổ phần Điều đó có nghĩa là phải tạo cho bản thân công ty cổ phần khả năng chuyển dịch các phần vốn góp một cách dễ dàng song tư cách pháp nhân của công ty không vì sự chuyển nhượng đó mà bị thay đổi

Trong lịch sử phát triển kinh tế, khái niệm vốn được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Các nhà kinh tế học thuộc nhiều trường phái kinh tế trước C.Mác đã dày công nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết

Khẳng định trên của C.Mác đã vạch rõ bản chất và chức năng của tư bản (vốn) trong phát triển kinh tế Bản chất của tư bản là giá trị; chức năng của tư bản là sinh lời Tuy nhiên, để giá trị trở thành tư bản và tư bản sinh lời phải trải qua sự vận động Thông qua sự vận động, tư bản sinh sôi nảy nở và lớn lên không ngừng

Ngày nay, do yêu cầu cao của sự phát triển, vốn không chỉ là yếu tố cần thiết đối với quá trình sản xuất của các nước phát triển mà còn là yếu tố đóng vai trò quan trọng của hầu hết các quốc gia đang phát triển và kém phát triển

Vì vậy, phạm trù vốn trong phát triển kinh tế vẫn được các nhà kinh tế học tiếp tục nghiên cứu và tiếp cận nó trên nhiều bình diện khác nhau

Dưới góc độ tài chính – tiền tệ, trong ấn phẩm Chú giải thuật ngữ kế toán

Mỹ, tác giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín cho rằng, vốn là “tổng số tiền biểu

Trang 16

hiện nguồn gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi tức” [19, tr 29]

Dưới góc độ nhân tố đầu vào, trong tác phẩm Lịch sử tư tưởng kinh tế, I.Đ.Udanxốp và F.I.Pôlianxki kết luận: Vốn là “một trong ba yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất (lao động, đất đai, vốn) Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ sản xuất tức là máy móc, công cụ, thiết bị, nhà cửa, kho dự trữ thành phẩm hoặc bán thành phẩm” [25, tr 11]

Ở Việt Nam, cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học cũng chỉ ra rằng: Vốn là “tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất kinh doanh nhằm sinh lợi” [27, tr 1126]

Những cách tiếp cận trên đây về vốn đã nêu rõ tính đa dạng, nhiều hình thái tồn tại của vốn Vốn có thể coi là tiền hay tài sản được giá trị hóa Mặt khác, với tư cách là vốn thì tiền hay tài sản phải được đầu tư vào hoạt động sản xuất – kinh doanh để tạo ra hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương lai Nghĩa là, vốn luôn gắn với sự vận động và đảm nhiệm chức năng sinh lời

Bản chất của vốn

Để hiểu rõ hơn bản chất của vốn cần nhận thức dưới góc độ sau:

Thứ nhất, về các hình thái biểu hiện của vốn

Xét về mặt trừu tượng, vốn là hình thành giá trị Giá trị của nó được ứng ra

để chuyển hóa nó thành các yếu tố cấu thành quá trình sản xuất, trải qua quá trình sản xuất, giá trị lớn lên không ngừng

Xét về mặt cụ thể, vốn được biểu hiện rất phong phú, đa dạng, bao gồm: tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính Những tài sản này tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, đồng thời làm tăng giá trị

Trang 17

Như vậy, về mặt nhận thức, có thể thấy rằng, vốn tồn tại dưới nhiều hình thái cụ thể: tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính Nhưng, hình thái giá trị - tiền tệ với tư cách vốn là loại hình linh hoạt, biến hóa nhất trong nền kinh tế thị trường Thị trường không những là nơi diễn ra các hoạt động đa dạng của vốn mà còn là nơi để vốn bộc lộ khả năng sinh lời của chúng Khả năng sinh lời vừa là mục đích cuối cùng của đầu tư kinh doanh đồng vốn, vừa

là phương tiện để vốn tiếp tục vận động với quy mô ngày càng được mở rộng ở chu kỳ kinh doanh tiếp theo Sự vận động của vốn trên thị trường tuân thủ quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường Song với khả năng nhận thức, con người có thể nắm bắt, vận dụng quy luật khách quan, tạo ra những kênh huy động vốn một cách có hiệu quả, đáp ứng mục đích sản xuất – kinh doanh của mình

Thứ hai, vốn là hàng hóa đặc biệt

Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là hàng hóa Muốn phát triển sản xuất – kinh doanh đòi hỏi phải có vốn đầu tư Nhu cầu vốn đầu tư được xem là cơ sở phát sinh quan hệ cung – cầu về vốn trên thị trường Như vậy, vốn hiển nhiên là đối tượng trao đổi, mua bán trên thị trường Với tư cách là hàng hóa, vốn có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng; có chủ sở hữu và là một trong những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất

Tính đặc biệt của “hàng hóa vốn” thể hiện ở chỗ: vốn có khả năng sinh lời Với tư cách là hàng hóa đặc biệt, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn tách rời nhau Đặc điểm này của vốn không có ở các loại hàng hóa thông thường Chủ sở hữu vốn sẽ nhận được một khoản lợi tức (giá bán hay lãi suất quyền sử dụng vốn) khi bán quyền sử dụng vốn cho người mua (các nhà đầu tư) Nhà đầu tư khi mua quyền sử dụng vốn phải bỏ ra một khoản gọi là chi phí (giá mua quyền sử dụng vốn) Nhờ có sự tách rời giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn làm cho vốn trở nên linh hoạt trong lưu thông và sinh lời

Trang 18

Thứ ba, vốn có mối quan hệ mật thiết với thời gian

C.Mác viết: tiền chỉ được đem nhượng lại với điều kiện, một là, nó sẽ quay trở về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định, và hai là, nó sẽ quay trở về điểm đó với tư cách là tư bản đã thực hiện, nghĩa là sau khi đã thực hiện được cái giá trị sử dụng của nó, thực hiện được các khả năng của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư [6, tr 525]

Như thế, chủ sở hữu vốn nhượng lại quyền sở dụng vốn cho nhà đầu tư trong một khoảng thời gian xác định Sau khi vốn trải qua chu kỳ vận động, nó quay về tay chủ sở hữu, với một lượng giá trị lớn hơn Đó chính là lợi tức của chủ sở hữu vốn hay là lãi suất phải trả của nhà đầu tư khi sử dụng vốn Mức lãi suất được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với lượng vốn khi chủ sở hữu vốn nhượng, bán quyền sử dụng vốn theo đơn vị thời gian (quý, năm…), phù hợp với nền kinh tế thị trường Sự tách rời giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn, gắn với khoảng thời gian xác định tất yếu dẫn đến quá trình tích tụ, tập trung vốn từ những khoản tiết kiệm nhỏ, lẻ; những đồng tiền chưa có cơ hội đầu tư trở thành vốn và chuyển chúng đến tay các nhà đầu tư Trong nền kinh tế thị trường, khi tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh, các nhà đầu tư luôn chú trọng tới yếu tố thời gian Các yếu tố như giá cả, lạm phát, lãi suất, tỷ giá… biến động thường xuyên, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp Bất kỳ nhà đầu tư nào, khi xác định hiệu quả đầu tư cũng phải đưa toàn bộ chi phí và thu thập về cùng một thời điểm để so sánh, tính toán các chỉ tiêu lợi nhuận, tỷ suất doanh lợi / vốn, tỷ suất doanh lợi / doanh thu, vòng quay của đồng vốn… Điều đó cắt nghĩa được tại sao vốn luôn

có giá trị về mặt thời gian (gắn với thời gian)

Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu, vốn là tổng giá trị của những tài

sản (tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính) tham gia trực tiếp

Trang 19

hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất – kinh doanh nhằm mục tiêu mang lại thu nhập trong tương lai

Pháp luật nói chung và Luật Doanh nghiệp 2005 nói riêng không đưa ra khái niệm chung về vốn mà chỉ đưa ra những khái niệm cụ thể như vốn điều lệ, vốn pháp định… Theo đó, vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp; vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty [15, khoản 6, 7 Điều 4] Như vậy, vốn là những gì

mà nhà đầu tư bỏ ra để hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận Vốn ở đây có thể là tiền hoặc những tài sản khác Đặc biệt khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, vốn được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau và quan niệm về vốn đã có những thay đổi căn bản Để thực hiện các hoạt động kinh doanh, ngoài nguồn vốn bằng tiền, còn huy động nhiều nguồn vốn mà không phải bằng tiền nhưng có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh

vì mục tiêu lợi nhuận, vốn có thể là nguồn tài sản (kể cả sức lao động) để làm tăng giá trị của doanh nghiệp, hoặc vốn có thể là toàn bộ hàng hóa, tài sản, những sở hữu khác được dùng làm ra lợi nhuận

Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường ngoài nguồn vốn là tài sản hoặc quyền tài sản thì lợi thế, uy tín, danh dự và thị phần trên thị trường mà doanh nghiệp

đó đang có cũng được coi là vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn này không thể xác định và tìm thấy ngay trước mặt, mà nằm ở lợi thế tương lai có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy, ngoài nguồn vốn bằng tiền với chức năng phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ, là thước đo trong quá trình lưu thông, trao đổi phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn có nguồn vốn không phải bằng tiền Như vậy, vốn bao gồm nhiều loại khác nhau, song điểm chính nhất vốn là tất cả giá trị (vật chất, phi vật chất) được doanh nghiệp sử dụng để làm ra lợi nhuận đó là tiền, giấy tờ

Trang 20

được trị giá bằng tiền, tài sản, quyền tài sản, lao động, chất xám, kỹ năng, lợi thế của doanh nghiệp

Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để thực hiện các hoạt động kinh doanh Công ty cổ phần phải có vốn Vốn của Công ty cổ phần là vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến bản chất kinh tế, khả năng tài chính mà còn là yếu

tố xác định vị thế, năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần trên thị trường, liên quan đến hàng loạt các vấn đề pháp lý như quyền sở hữu, chuyển nhượng, thế chấp Không thể không nhận thấy rằng vốn của công ty cổ phần là cơ sở vật chất cho hoạt động của nó, có thể nói sự tồn tại và độ tin cậy của một công ty

cổ phần trước các đối tác chủ yếu phụ thuộc vào cấu trúc vốn và tư cách pháp

lý của nó Những yếu tố đó được các đối tác của công ty quan tâm đến nhiều nhất

1.2.2 Cấu trúc vốn trong công ty cổ phần

Trong công ty cổ phần, cấu trúc vốn phản ánh vị thế, quy mô, uy tín của công ty cổ phần trên thị trường Một cấu trúc vốn mềm dẻo, linh hoạt sẽ đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của các nhà đầu tư, đáp ứng được các hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Vốn của công ty cổ phần bao gồm: vốn

do cổ đông góp dưới dạng mua cổ phần được xác định là vốn điều lệ và vốn vay dưới dạng các hợp đồng tín dụng, hoặc phát hành trái phiếu Mỗi bộ phận nằm trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần có những đặc điểm, vai trò và tính chất riêng, thể hiện đúng bản chất của nó, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ và

bổ sung cho nhau

Có thể hiểu, cấu trúc vốn của công ty cổ phần là một chỉnh thể bao gồm

các bộ phận hợp thành vốn của công ty và có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau

Cấu trúc vốn của công ty cổ phần được xét từ hai phương diện pháp lý và kinh tế Ở đây tác giả chỉ làm rõ cấu trúc vốn của công ty cổ phần dưới góc độ

Trang 21

pháp lý Cấu trúc vốn của công ty cổ phần bao gồm: Vốn điều lệ và vốn vay Tuy nhiên, hoạt động thực tế của công ty cổ phần có một loại vốn đó là vốn pháp định, vậy vốn pháp định có nằm trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần không?

Theo Luật Công ty 1990 vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập công ty do pháp luật quy định đối với từng ngành nghề [6, Điều 3] Như vậy, theo quy định tại Điều 15, Luật Công ty 1990 vốn pháp định là một điều kiện quan trọng để thành lập công ty Muốn thành lập công ty các nhà đầu

tư bắt buộc phải có vốn điều lệ tối thiểu phải bằng hoặc lớn hơn mức vốn pháp định quy định đối với ngành nghề đăng ký kinh doanh

Nghị định số 26/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/05/1998 quy định ba nhóm nghề: Chế biến nông lâm thủy sản; công nghiệp xây dựng; du lịch khách sạn Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân kinh doanh trong những nhóm ngành đó phải có vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định mà pháp luật quy định Như vậy, trong quan hệ kinh doanh, nhiều khi đối tác chỉ nhìn vào vốn pháp định để xác định độ tin cậy đối với bạn hàng của mình

Thực tiễn 10 năm thực hiện Luật công ty cho thấy, việc quy định về vốn pháp định mang tính hình thức, bất hợp lý Thực chất vốn pháp định của nhiều công ty chỉ là vỏ bao bên ngoài, không có thật dẫn đến tình trạng vốn pháp định

“ma” đã được hợp pháp hóa khiến cho các đối tác nhầm lẫn Trong thực tế có nhà đầu tư vay ngân hàng A sau đó gửi vào ngân hàng B lấy xác nhận có tài khoản ở ngân hàng để được thành lập công ty và đăng ký kinh doanh Việc hợp pháp hóa vốn vay của nhà đầu tư trở thành vốn điều lệ là hành vi lừa đảo của các đối tác Mặt khác việc quy định vốn pháp định với các thủ tục phức tạp, gây phiền hà cho các nhà đầu tư Nếu đặt ra mức vốn pháp định cao thì cản trở đầu

tư, ảnh hưởng đến việc thành lập công ty Có những nhà đầu tư có khả năng

Trang 22

quản lý, có bí quyết kinh doanh nhưng do mức vốn thấp hơn vốn pháp định nên

đã không thành lập được công ty để thực hiện ý tưởng đầu tư kinh doanh của mình Ngược lại, nếu quy định vốn pháp định thấp thì điều này làm mất đi ý nghĩa thực hiện quản lý Nhà nước đối với công ty cổ phần trong thành lập, đăng ký kinh doanh và bảo vệ lợi ích của các chủ nợ Mặt khác, vốn pháp định không phản ánh giá trị thực của công ty cổ phần khả năng kinh doanh, khả năng trả nợ không phụ thuộc vào vốn pháp định mà phụ thuộc vào năng lực tài chính thực sự của công ty

Luật Doanh nghiệp về cơ bản đã bỏ vốn pháp định đối với hầu hết các ngành nghề kinh doanh Theo đó, cơ quan nhà nước quản lý việc đăng ký kinh doanh về lĩnh vực này theo hình thức “tiền đăng hậu kiểm” Đây là bước đột phá trong thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh, trong việc gỡ bỏ rào chắn

về vốn để các nhà đầu tư có cơ hội đầu tư vào những ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng của họ Việc bỏ vốn pháp định là hoàn toàn phù hợp với cải cách hành chính trong việc quản lý doanh nghiệp, là bước thực hiện việc chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm Tuy nhiên, việc bãi bỏ vốn pháp định không phải là bỏ hẳn, cũng không đồng nghĩa với sự buông lỏng quản lý Nhà nước Với một số ngành nghề kinh doanh như: tiền tệ, bảo hiểm, chứng khoán, kinh doanh bất động sản vẫn cần có quy định về vốn pháp định Nghị định số 59/2006/NĐ-CP của Chính Phủ quy định 16 nhóm ngành nghề, dịch vụ đòi hỏi phải có vốn pháp định Ví dụ: Trong lĩnh vực chứng khoán như bảo lãnh phát hành chứng khoán vốn pháp định quy định là 165 tỷ đồng; kinh doanh dịch vụ đòi nợ vốn pháp định là 2 tỷ đồng… Đây là những ngành kinh doanh đặc thù, rủi ro cao Để đảm bảo an toàn cho các nhà đầu tư, pháp luật quy định vốn pháp định đối với những ngành nghề này

Như vậy, vốn pháp định không nằm trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần, việc quy định vốn pháp định chỉ là điều kiện thành lập và đăng ký kinh

Trang 23

doanh Vốn pháp định không thể phản ánh khả năng tài chính của công ty cổ phần

Vì vậy, dưới góc độ pháp lý cấu trúc vốn của công ty cổ phần được xem xét ở hai bộ phận: Vốn điều lệ và vốn vay

Vốn điều lệ

Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ công ty Nó bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình Tài sản vô hình không thể nhìn thấy được ngay nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp như quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kỹ thuật, uy tín của doanh nghiệp Toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được các cổ đông góp và được ghi vào điều lệ gọi là vốn điều lệ của công

ty cổ phần Luật Doanh nghiệp quy định vốn điều lệ là vốn do các thành viên góp và ghi vào điều lệ công ty [14, khoản 6, Điều 3; 15, khoản 6 Điều 4] Như vậy, điểm nhất quán ở đây là tài sản khi được các cổ đông góp và ghi vào điều

lệ của công ty cổ phần, gọi là vốn điều lệ của công ty cổ phần

Trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần, vốn điều lệ đóng vai trò quan trọng, là chỉ số kinh tế phản ánh năng lực tài chính Tuy nhiên, vốn điều lệ không hẳn phản ánh giá trị thực của công ty cổ phần vì giá trị thực của công ty

cổ phần có thể cao hoặc thấp hơn vốn điều lệ Thực tế, vốn điều lệ chỉ phản ánh một phần giá trị của công ty, giá trị của công ty phụ thuộc vào nhiều chỉ số khác nhau trong đó có vốn điều lệ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau Các cổ đông góp vốn vào công ty cổ phần bằng cách mua cổ phần

mà hình thức thể hiện là cổ phiếu

Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần [15, Điều 77] Cổ phần là phần chia nhỏ nhất vốn điều lệ của công ty Chủ thể sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông, có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phần Cổ phần là căn cứ pháp lý chứng minh tư cách của cổ đông Quyền, nghĩa vụ của cổ đông phụ thuộc vào loại cổ phần và giá trị cổ phần mà

họ nắm giữ Cổ phần có hai loại: cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi Cổ phần

Trang 24

phổ thông không thể chuyển thành cổ phần ưu đãi, nhưng cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông

Cổ phần phổ thông là loại cổ phần bắt buộc phải có Người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông Khi thành lập công ty, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% cổ phần phổ thông được quyền chào bán của công ty và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh

Công ty có thể phát hành cổ phần ưu đãi Các loại cổ phần ưu đãi chủ yếu bao gồm:

- Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Là cổ phần có số biểu quyết nhiều hơn so với

cổ phần phổ thông Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định Theo Luật Doanh nghiệp 2005, chỉ có Nhà nước (thông qua tổ chức được ủy quyền bởi Chính phủ) và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông

- Cổ phần ưu đãi cổ tức: Là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm Cổ tức được chia hằng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thường Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thường được ghi trên cổ phiếu của cổ phần

ưu đãi cổ tức

- Cổ phần ưu đãi hoàn lại: Là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp bất

cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại

cổ phiếu của cổ phiếu ưu đãi hoàn lại

Vốn vay

Trang 25

Ngoài vốn góp của các cổ đông, trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần còn có vốn vay Vốn vay có ý nghĩa quan trọng đối với các công ty đang trong tình trạng khó khăn về mặt tài chính Vốn vay là số vốn của các đơn vị khác mà công ty cổ phần được quyền sử dụng trong một thời gian nhất định sau đó phải trả lại cho chủ nợ Công ty không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền sử dụng và phải trả cho quyền sử dụng đó một khoản lợi nhuận gọi là lợi tức

Vốn vay bao gồm: Vốn vay từ ngân hàng, các cá nhân tổ chức khác, vay thông qua thuê tài chính, vay thông qua kênh phát hành trái phiếu (công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo) Thực tế, công ty cổ phần không thể tiến hành hoạt động kinh doanh

mà không có sự huy động vốn từ bên ngoài Nguồn vốn vay của công ty cổ phần rất đa dạng và phong phú So với công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần có lợi thế hơn trong việc huy động vốn nhờ cấu trúc vốn linh hoạt mềm dẻo, trong đó có một bộ phận quan trọng là vốn vay

Vậy vốn vay có thuộc quyền sở hữu của công ty cổ phần không? Hiện nay

có nhiều quan điểm khác nhau về vốn vay của công ty cổ phần Có quan điểm cho rằng vốn vay không thuộc sở hữu của công ty cổ phần và đặc biệt là vay thông qua hình thức thuê tài chính Quan điểm khác cho rằng vốn vay thuộc sở hữu của công ty cổ phần, từ vay thông qua hình thức thuê tài chính Để lý giải vấn đền này, vốn vay được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau

Dưới góc độ kinh tế, vốn vay là do công ty cổ phần huy động từ bên ngoài, vốn vay không phản ánh năng lực tài chính của công ty cổ phần Vì vậy, khó có thể nói vốn vay thuộc sở hữu của công ty cổ phần

Dưới góc độ tài chính, vốn vay là khoản nợ phải trả của công ty cổ phần

Vì vậy, các khoản vốn vay phải được hạch toán vào các khoản nợ và được chia thành các khoản nợ ngắn hạn, nợ dài hạn để công ty cổ phần có phương án trả

nợ Vốn vay không phản ánh năng lực tài chính thực sự của công ty cổ phần

Trang 26

Công ty cổ phần được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định Nếu sử dụng đúng mục đích có hiệu quả sẽ làm tăng lợi nhuận cho công ty cổ phần Dưới góc độ pháp lý “vay là một hình thức cấp tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [khoản 1, Điều 3, Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN]

Theo quy định của Bộ luật Dân sự bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó [3, Điều 472] Như vậy, vốn vay được công

ty cổ phần chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong hoạt động kinh doanh làm tăng lợi nhuận của công ty Công ty cổ phần có thể sử dụng vốn vay bổ sung vào vốn lưu động để mở rộng phạm vi, quy mô kinh doanh hoặc mua sắm tài sản cố định Những tài sản cố định được công ty cổ phần mua sắm bằng nguồn vốn vay như máy móc, thiết bị, nhà xưởng sẽ thuộc quyền định đoạt của công ty cổ phần và khi các khoản nợ đã đến kỳ đáo hạn công ty cổ phần phải có nghĩa vụ thanh toán cả gốc và lãi Như vậy, dưới góc độ pháp lý vốn vay là vốn của công

ty cổ phần từ vay thông qua hình thức tài sản, thuê tài chính

Ngoài việc huy động vốn vay trực tiếp thông qua các tổ chức tín dụng, công ty cổ phần còn huy động vốn vay thông qua việc phát hành trái phiếu:

“Trái phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ (bao gồm vốn gốc và lãi) của tổ chức phát hành đối với người sở hữu trái phiếu” [Thông tư số 01/1998/TT-UBCK ngày 13/10/1998 của Ủy ban chứng khoán Nhà nước]

Bản chất của trái phiếu là chứng chỉ ghi nợ Việc phát hành trái phiếu ra công chúng là hình thức vay nợ của Công ty cổ phần Khác với các hình thức vay khác như vay của các tổ chức tín dụng, cá nhân tổ chức khác, phát hành trái phiếu là hình thức vay thông qua việc phát hành chứng khoán Trong các nguồn vốn vay của công ty cổ phần nguồn vốn vay từ việc phát hành trái phiếu có vị trí quan trọng, thể hiện rõ ưu thế của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác trong việc huy động vốn Thực tế ở Việt Nam hiện nay các công ty

Trang 27

cổ phần huy động vốn vay chủ yếu bằng hình thức vay tín dụng, còn hình thức vay thông qua phát hành trái phiếu các công ty cổ phần không “mặn mà” lắm Hiện nay trên thị trường chứng khoán phần lớn chỉ có trái phiếu Chính phủ Tóm lại, vốn là cở sở thiết yếu để thành lập, “Khai sinh” ra công ty cổ phần Vì vậy, việc xác định rõ các nguồn vốn trong công ty cổ phần có ý nghĩa rất quan trọng về mặt pháp lý Nó xác định rõ ràng sở hữu của công ty cổ phần, đồng thời về mặt kinh tế nhằm xác định phạm vi quy mô, lợi thế, khả năng tài chính thực sự của công ty cổ phần

1.3 Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần

1.3.1 Định nghĩa chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần

Như phần trên đã phân tích, vốn là yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu khi thành lập doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng Nó không những quyết định sự sống còn của doanh nghiệp mà còn thể hiện khả năng gánh chịu nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp, quyết định quyền, nghĩa vụ của các chủ sở hữu, chủ đầu tư của công ty Thế nhưng, từ trước đến nay, pháp luật chưa có văn bản nào quy định riêng về vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên, khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 cũng như Luật Doanh nghiệp năm 2005 khi điều chỉnh về các loại hình doanh nghiệp, trong đó có công ty cổ phần thì văn bản này đã đề cập đến vốn với tính chất là một chế định hết sức quan trọng và không thể thiếu Vì vậy, xét về mặt khách quan, tất cả những quy định của pháp luật liên quan đến vốn của công ty đã hình thành nên chế độ pháp lý về vốn của doanh nghiệp

Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình góp vốn, chuyển nhượng vốn, thay đổi vốn và những vấn đề khác có liên quan đến vốn trong công ty cổ phần

1.3.2 Đặc điểm chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần

Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần là những quy phạp pháp luật,

do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, là cơ sở pháp lý cho các nhà kinh

Trang 28

doanh điều chỉnh hành vi của mình trong quá trình hình thành, quản lý và sử dụng vốn trong công ty cổ phần Những quy phạm pháp luật này mang tính bắt buộc chung cho mọi chủ thể kinh doanh

Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần nhằm tạo điều kiện cho vốn

và tài sản của công ty hình thành, phát triển trên cơ sở ý chí và lợi ích của các chủ sở hữu Nó là hành lang pháp lý cho hoạt động của các cổ đông trong việc góp vốn, chuyển nhượng cũng như thay đổi vốn trong công ty cổ phần

1.3.3 Nội dung chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần

1.3.3.1 Cơ chế góp vốn

Cơ chế góp vốn được hiểu là quá trình hình thành vốn và hình thành tài sản của công ty Nó được hiểu là quá trình các cổ đông chuyển tài sản của mình sang tài sản của công ty theo cam kết Đây là vấn đề hết sức quan trọng đầu tiên mà pháp luật về doanh nghiệp của bất cứ nước nào cũng đề cập và quy định Có ba nội dung cơ bản liên quan đến cơ chế góp vốn, đó là:

- Thứ nhất là chủ thể góp vốn vào công ty Chủ thể góp vốn vào công ty cổ phần là một nội dung quan trọng, không thể thiếu được của pháp luật bất cứ nước nào Nói đến chủ thể góp vốn tức là nói đến những tổ chức, cá nhân nào

có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để tham gia đầu tư vào công ty Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của cá nhân và

tổ chức kinh doanh được Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận nhưng điều đó không có nghĩa

ai cũng có quyền góp vốn, đầu tư vào công ty cổ phần Do đó, Luật Doanh nghiệp phải có quy định cụ thể để xác định những cá nhân, tổ chức nào được quyền góp vốn vào công ty và họ sẽ có tư cách như thế nào?

- Thứ hai là tài sản góp vốn Mặc dù khái niệm tài sản đã được Điều 163

Bộ luật Dân sự 2005 xác định “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Nhưng đây là khái niệm tài sản theo nghĩa rộng Trong quá

Trang 29

trình hình thành vốn, có phải tất cả những tài sản này đều được pháp luật thừa nhận là vốn góp trong công ty cổ phần hay không? Những quy định cụ thể của pháp luật sẽ xác định những tài sản nào coi là vốn góp trong công ty cổ phần nhằm đảm bảo các quyền, lợi ích của cổ đông góp vốn và của chính bản thân công ty

- Thứ ba là phương thức góp vốn Phương thức góp vốn là việc các cổ đông góp vốn như thế nào, cách thức nào, thời hạn, mức góp bao nhiêu? Luật Doanh nghiệp quy định những vấn đề này chủ yếu do các thành viên công ty thỏa thuận với nhau trong hợp đồng thành lập công ty hoặc trong Điều lệ công

ty Tuy nhiên, để đảm bảo khả năng thanh toán của công ty cũng như sự ổn định trong cấu trúc vốn của công ty, pháp luật của hầu hết các nước cũng như pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam đều điều chỉnh về vấn đề này

1.3.3.2 Chuyển nhượng và mua lại cổ phần

Xét về bản chất, việc chuyển nhượng vốn của thành viên công ty là sự dịch chuyển quyền sở hữu của người đó đối với phần vốn góp của họ trong công ty Luật Doanh nghiệp quy định không cho thành viên công ty nói chung và cổ đông của công ty cổ phần nói riêng được rút phần vốn góp của mình ra khỏi công ty Theo Luật Doanh nghiệp, việc điều chỉnh phần vốn trong công ty cổ phần được thực hiện dưới các hình thức sau: Cổ đông yêu cầu công ty mua lại

cổ phần của mình trong những điều kiện nhất định; chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác thông qua thị trường chứng khoán

Ở cách thứ nhất, trong những trường hợp nhất định công ty phải mua lại cổ phần của một cổ đông nào đó Trong trường hợp này, các cổ đông công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại giá trị của số cổ phần mà cổ đông sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo giá thị trường Có thể phần vốn góp của cổ đông đó so với tổng số vốn hiện tại của công ty chiếm một tỷ trọng rất nhỏ, không đáng kể, nhưng nếu công ty mua lại phần vốn góp đó, có thể sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ

Trang 30

hệ thống cơ cấu vốn và tài chính của công ty Vì thế, trên thực tế việc công ty mua lại

cổ phần của các cổ đông thường xảy ra trong những điều kiện nhất định Do đó, cổ đông muốn thu hồi vốn của mình thường thực hiện thông qua việc chuyển nhượng cổ phần của mình

Với cách thứ hai, ở nước ta hiện nay thị trường chứng khoán phát triển rất sôi động, nó đã tạo ra một thị trường mua bán cổ phiếu, trái phiếu thuận tiện và dễ dàng hơn Đặc biệt trong công ty cổ phần quy định cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp đó là cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập

Có thể nói rằng, chuyển nhượng vốn góp là quyền của các cổ đông trong công

ty, tuy nhiên, quyền này chỉ được thực hiện khi đáp ứng những điều kiện mà pháp luật hoặc Điều lệ công ty quy định

1.3.3.3 Các trường hợp thay đổi vốn

Trong quá trình hoạt động, kết quả sản xuất sẽ ảnh hưởng đến vốn của công ty

Sự thay đổi tư cách cổ đông của công ty cũng dẫn đến sự thay đổi của vốn Vì vậy, vốn của công ty có thể tăng hoặc giảm Tuy nhiên, vốn có vai trò quan trọng không chỉ đối với công ty mà tác động tới nền kinh tế Vì vậy, pháp luật đã đưa ra những quy định cụ thể để điều chỉnh Khi vốn của công ty cổ phần có sự thay đổi thì công ty phải có trách nhiệm khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh

Nói đến chế độ pháp lý về vốn của công ty cổ phần là nói đến những quy tắc mang tính chất pháp lý để điều chỉnh, quy định những vấn đề liên quan đến quá trình hình thành, sở hữu và phát triển vốn Có thể nói đây là một nội dung vô cùng quan trọng và phức tạp đối với pháp luật về doanh nghiệp Và nó càng trở nên quan trọng

và phức tạp hơn, càng cần sự quan tâm, nghiên cứu hơn nữa khi đó là một cơ chế pháp lý về vốn của công ty cổ phần – một loại hình doanh nghiệp đặc thù được thành lập trên cơ sở góp vốn của nhiều cổ đông và quyền, nghĩa vụ của các cổ đông được quyết định bởi tỷ lệ phần vốn góp của họ vào công ty

Trang 31

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN

TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 2.1 Những quy định của pháp luật về cơ chế góp vốn

Để cho công ty được ra đời và có đầy đủ nguồn năng lực hoạt động thì các thành viên của công ty phải tiến hành những công việc nhằm tạo lập công ty Một trong những công việc quan trọng hàng đầu đó là việc góp vốn, quá trình này là sự thể hiện một cách cụ thể, rõ nét nhất ý muốn tham gia công ty của các nhà đầu tư, thể hiện sự quyết tâm của họ vào công ty Việc góp vốn đó quyết định đến quyền và nghĩa vụ của các thành viên đối với công ty trong tương lai Với ý nghĩa như vậy, cơ chế góp vốn như thế nào đó là điều mà pháp luật và các nhà đầu tư đều rất quan tâm Cụ thể nó bao gồm: Chủ thể góp vốn; tài sản góp vốn; định giá tài sản góp vốn và cách thức góp vốn

2.1.1 Chủ thể góp vốn

Thể chế hóa quyền tự do kinh doanh đã được Hiến pháp ghi nhận, Luật Doanh nghiệp quy định phạm vi rất rộng các chủ thể có quyền thành lập và góp vốn vào doanh nghiệp, theo đó mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền thành lập và góp vốn vào doanh nghiệp, trừ một số trường hợp bị cấm Hay nói cách khác, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã xác nhận một cách tương đối rõ ràng về nhóm chủ thể có quyền góp vốn đồng thời có quyền quản lý và những chủ thế chỉ có quyền góp vốn để hưởng lợi nhuận tại Điều 13, cụ thể như sau:

Đối với tổ chức: tổ chức Việt Nam, tổ chức nước ngoài có quyền thành

lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần trừ những đối tượng bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005; Như vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã mở rộng nhiều đối tượng là tổ chức được quyền góp vốn, thành lập và quản lý doanh nghiệp so với Luật Doanh nghiệp năm 1999 (không cho phép các tổ chức nước ngoài

Trang 32

không có trụ sở tại Việt Nam được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp)

Sở dĩ pháp luật quy định cấm các cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để góp vốn vào doanh nghiệp thu lợi riêng cho cơ quan đơn vị mình là vì đây là những pháp nhân công quyền, có nhiệm vụ thực hiện việc quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội; còn các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân (mang bản chất là doanh nghiệp nhà nước) được thành lập để thực hiện mục tiêu kinh tế -

xã hội Nhà nước giao trong khối lực lượng vũ trang Chính vì vậy, mọi tài sản

có trong cơ quan, đơn vị này đều thuộc sở hữu Nhà nước và đều được cấp từ ngân sách Nhà nước Các tổ chức này không được sử dụng ngân sách công quỹ

để tìm kiếm lợi nhuận bằng cách này hay cách khác và từ đó lập quỹ không phù hợp với pháp luật về tài chính Việc hạn chế những tổ chức này nhằm tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng hoạt động kinh doanh

Tóm lại, mọi tổ chức (trừ cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân trong trường hợp nói trên) đều có thể sử dụng tài sản, nguồn tài chính của mình để đầu tư góp vốn vào công ty dưới bất cứ hình thức nào

Đối với cá nhân: Cá nhân muốn trở thành thành viên của công ty, trước

hết họ phải có đầy đủ năng lực chủ thể Nếu Luật Công ty năm 1990 chưa phân biệt hành vi góp vốn với hành vi thành lập và quản lý công ty thì tại Điều 9 Luật Doanh nghiệp 1999 và Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã phân tách hai loại chủ thể có mức độ quyền tạo lập công ty khác nhau, đó là người có quyền sáng lập và quản lý công ty, bên cạnh đó là người chỉ có quyền góp vốn vào công ty

Với phương pháp loại trừ, khoản 2 và khoản 4 Điều 13 Luật Doanh nghiệp

2005 đã xác định những chủ thể có quyền góp vốn vào doanh nghiệp bằng cách quy định các đối tượng sau đây không có quyền góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, mua cổ phần của công ty cổ phần:

Trang 33

Thứ nhất, cán bộ, công chức theo quy định của Pháp lệnh cán bộ công

chức và Luật Phòng, chống tham nhũng: “cán bộ công chức nhà nước không được phép thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý điều hành các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần…” [21, Điều 17]

Pháp luật về doanh nghiệp lại quy định công ty cổ phần có nhiều loại cổ phần khác nhau và quyền lợi ích của mỗi loại đó cũng khác nhau, có loại cổ phần có đủ quyền biểu quyết, vậy liệu cán bộ công chức nhà nước có thể trở thành các cổ đông của công ty cổ phần không?

Trước hết, đối với cổ phần phổ thông thì cán bộ công chức có quyền sở hữu nó không? Cổ đông phổ thông là người sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông có quyền tham dự và biểu quyết tất cả các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông (mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết) Và theo một cách hiểu thông thường, một người có quyền biểu quyết về mọi hoạt động của công ty theo Điều lệ công ty quy định thì hoàn toàn đồng nghĩa với việc người đó có quyền tham gia quản lý điều hành công ty Tuy nhiên, trong Luật Doanh nghiệp 2005 không đưa ra định nghĩa mà chỉ liệt kê “người quản lý doanh nghiệp” là thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

và các chức danh quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định [15, khoản 13 Điều 4] Luật Doanh nghiệp đã không quy định cổ đông có quyền biểu quyết là người quản lý công ty Vì vậy, trên thực tế có nhiều ý kiến cho rằng cán bộ công chức nhà nước vẫn có thể trở thành cổ đông phổ thông công

Trang 34

Bên cạnh đó, một vấn đề đặt ra là liệu cán bộ công chức nhà nước có thể mua cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại của công ty cổ phần không? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải xem xét tới những quy định của pháp luật về cán bộ công chức

Tại Pháp lệnh cán bộ công chức: “người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành nghề mà người

đó trực tiếp thực hiện việc quán lý nhà nước” [21, Điều 19] Như vậy, tất cả các đối tượng nêu trên không được góp vốn với bất kỳ tư cách nào trong các doanh nghiệp, công ty hoạt động trong lĩnh vực liên quan trực tiếp đến vai trò quản lý nhà nước của cán bộ công chức đó Theo đó, phải là những cán bộ công chức không phải là thủ trưởng, phó thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước không có quan hệ vợ chồng hay cha mẹ con cái đối với những người đó thì vẫn

có quyền góp vốn vào công ty cổ phần với tư cách là cổ đông có cổ phần ưu đãi

cổ tức và cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại? Hiện nay, vấn đề này còn đang bỏ ngỏ

Có thể thấy rằng, so với Luật Doanh nghiệp 1999, quy định về chủ thể có quyền tham gia đầu tư, quyền tham gia đầu tư, quyền thành lập công ty của Luật Doanh nghiệp 2005 đã có sự mở rộng về phạm vi Cán bộ, công chức ngoài việc bị hạn chế quyền thành lập, quản lý công ty có bị hạn chế cả quyền góp vốn theo khoản 4 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005, tuy nhiên không phải mọi cán bộ công chức mà chỉ những cán bộ, công chức theo quy định về cán

bộ, công chức bị cấm quyền góp vốn [15, Điều 19] Quy định này nhằm ngăn ngừa tiêu cực khi thực hiện nhiệm vụ của công chức, tránh tình trạng “chân trong, chân ngoài” Nhưng trên thực tế thì pháp luật chưa kiểm soát được tình trạng này Do đó, pháp luật về công ty cũng nên có những dự liệu điều chỉnh thích hợp trong trường hợp này

Trang 35

Thứ hai, Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2005 không cho phép những đối

tượng sau đây được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, đó là: Các sỹ quan, hạ sỹ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo quản

lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn thuộc quyền sở hữu Nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác Quy định này nhằm hạn chế việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn và tài sản của Nhà nước để tư lợi, mặt khác, nhằm tách bạch chức năng quản lý và chức năng kinh doanh để đảm bảo cho các đối tượng nói trên chuyên tâm với công việc Nhà nước, tận tâm, tận lực phục vụ Nhà nước và nhân dân

Thứ ba, đối với cá nhân là chưa thành niên, người thành niên nhưng bị hạn

chế hoặc bị mất năng lục hành vi dân sự Luật Doanh nghiệp 2005 chỉ hạn chế quyền thành lập và quản lý công ty với lý do những đối tượng này bị hạn chế

về thể lực và trí lực nên họ khó có điều kiện kinh doanh thuận lợi Trường hợp người đó có tài sản riêng thì họ vẫn được quyền khai thác lợi ích từ tài sản thuộc sở hữu của mình thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ

Thứ tư, người đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc bị Tòa án cấm quyền

kinh doanh cũng bị pháp luật cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp mà không bị cấm quyền góp vốn, vì những đối tượng này ít nhiều uy tín và thanh danh của

họ bị ảnh hưởng, trong khi đối với nhà kinh doanh, uy tín là tài sản vô cùng quý báu của họ nên họ không thể thành lập và quản lý hoạt động kinh doanh là hợp

Thực chất, Luật Doanh nghiệp hạn chế quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp của những đối tượng này là nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chính họ cũng như các đối tác và bảo vệ lợi ích chung của xã hội Quy định

Trang 36

này sẽ giải quyết được những vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động của công ty, đảm bảo sự ổn định của công ty cũng như quyền lợi khai thác tài sản của chủ sở hữu

Thứ năm, những trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản

trong trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản vì những lý do không được coi là bất khả kháng thì chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, giám đốc (tổng giám đốc); chủ tịch và các thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị của doanh nghiệp, chủ nhiệm, các thành viên Ban quản trị hợp tác xã sẽ không được thành lập doanh nghiệp, không được làm người quản lý doanh nghiệp trong thời hạn từ 1-3 năm kể từ ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản [18, Điều 94] Quy định như vậy nhằm thề hiện thái độ của Nhà nước đối với người quản lý kinh doanh, đòi hỏi họ cần một thời gian nhất định để xem xét lại, học hỏi thêm về kiến thức kinh doanh

để có quản lý doanh nghiệp tốt hơn

Theo Luật Doanh nghiệp 2005, ngoài chủ thể là cá nhân mang quốc tịch Việt Nam có quyền góp vốn vào các doanh nghiệp thì tất cả cá nhân nước ngoài cũng có quyền góp vốn vào doanh nghiệp, mặc dù vấn đề này Luật Doanh nghiệp 1999 không quy định như vậy Khoản 8 Điều 9 Luật Doanh nghiệp 1999 không cho phép cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, ngoài ra theo khoản 2 Điều 10 Luật Doanh nghiệp 1999 quy định “tổ chức nước ngoài, người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật khuyến khích đầu tư trong nước”

2.1.2 Vốn góp vào công ty

Góp vốn là hành vi của nhà đầu tư nhằm tạo lập nên vốn cho công ty bằng cách chuyển một phần tài sản của mình sang công ty, đồng thời họ trở thành

Trang 37

chủ sở hữu của công ty, được hưởng quyền và lợi ích tương ứng với phần vốn góp Theo Luật Doanh nghiệp 2005 “góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty Tài sản góp vốn

có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty” [15, khoản 4 Điều 4] Như vậy, tài sản mà cổ đông cam kết góp vào công ty có thể phân thành hai loại là góp vốn bằng tiền mặt và góp vốn bằng các tài sản khác Vấn đề đặt ra ở đây là đối tượng của hành vi góp vốn bao gồm những tài sản nào Theo cách hiểu chung, phù hợp với tính thống nhất của pháp luật thì khái niệm “tài sản” trong Luật Doanh nghiệp thống nhất với khái niệm “tài sản” trong Bộ luật Dân sự 2005 Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, “tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” [3, Điều 163] Theo đó, tài sản bao gồm:

Vật: Vật ở đây được hiểu vật đang có và sẽ có trong tương lai Trong thực

tế, vật đang được hình thành nhưng cũng là đối tượng được giao dịch (hợp đồng mua bán hàng hóa trong tương lai, quy định trong Luật Thương mại) Vật được chia thành động sản và bất động sản

Tiền: được hiểu là giá trị đại diện cho giá trị thực hàng hóa, là phương tiện lưu thông trong giao dịch dân sự Tiền giữ một vai trò rất quan trọng và được coi là một tài sản quý giá của xã hội

Giấy tờ có giá cũng được coi là tài sản Không phải mọi giấy tờ có giá đều được coi là tài sản mà phải đáp ứng được yêu cầu là có thể trở thành đối tượng của giao dịch dân sự và khi góp vốn vẫn trong thời hạn được lưu thông Giấy tờ

có giá phải có một mệnh giá nhất định như: Cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, công trái, séc, thương phiếu, giấy ủy nhiệm chỉ…

Trang 38

Các quyền tài sản: Đây là quyền gắn liền với tài sản và khi thực hiện các quyền

đó, lợi ích vật chất sẽ phát sinh đối với chủ sở hữu Ví dụ: Quyền đòi nợ, quyền sở hữu đối với các phát minh sáng chế…

Như vậy, góp vốn bằng tiền mặt: là việc cá nhân hay tổ chức chuyển một khoản tiền mặt (Việt Nam đồng, ngoại tệ) hay những giấy tờ có giá trị như ngân phiếu, séc… của mình vào công ty và được hưởng các quyền lợi từ việc góp vốn Những tài sản trên đã có tính đo lường về mặt giá trị chung trên thì trường cho nên không phải tiến hành định giá tài sản

Đối với công ty cổ phần, phương thức góp vốn bằng tiền mặt không đòi hỏi những người tham gia đăng ký góp vốn phải đóng đủ ngay phần của mình trước khi công ty được cấp đăng ký kinh doanh mà chỉ có sáng lập viên buộc phải đăng ký mua một tỷ lệ xác định còn các thành viên khác thực hiện góp vốn thông qua việc mua cổ phiếu của công ty

Góp vốn bằng hiện vật hoặc giá trị quyền tài sản là việc một cá nhân hay một tổ chức đem chuyển một tài sản nhất định bằng hiện vật hoặc giá trị quyền tài sản của mình cho công ty để hưởng các quyền và lợi ích phát sinh từ việc góp vốn Những tài sản ấy có thể là máy móc, vật tư, thiết bị, nhà xưởng, trụ sở làm việc, cửa hàng, cửa hiệu, đất đai hoặc giá trị quyền sử dụng đất, tài nguyên, vật liệu, hàng hóa hay các bí quyết công nghệ, giá trị quyền sở hữu công nghiệp… Những tài sản này phải là những tài sản công ty có nhu cầu sử dụng, có khả năng mang lại lợi ích cho công ty

và giá trị tính được bằng tiền Mặt khác, những tài sản này phải bảo đảm tính hợp pháp trong lưu thông của nó Không thể coi tài sản góp vốn là một lượng thuốc phiện, một kho thuốc nổ hay những sản phẩm văn hóa đồi trụy khi chúng được đem góp vốn vào công ty

Theo Điều 2 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư quy định: Vốn đầu tư

là đồng Việt Nam ngoại tệ tự do chuyển đổi và các tài sản hợp pháp khác Tài sản hợp pháp khác gồm: Cổ phần, cổ phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác của nhà đầu tư; các quyền theo hợp đồng, bao gồm hợp đồng chìa kháo trao tay, hợp đồng xây dựng,

Ngày đăng: 31/03/2018, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nguyễn Thị Hương Giang (2005), Chế độ trách nhiệm hữu hạn của pháp nhân theo pháp luật hiện hành, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật.11. Hiến pháp năm 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ trách nhiệm hữu hạn của pháp nhân theo pháp luật hiện hành
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Giang
Năm: 2005
12. Phạm Thị Khanh (2004), Huy động vốn trong nước phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động vốn trong nước phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Phạm Thị Khanh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
19. Hồ Văn Mộc, Điêu Quốc Tín (1994), Chú giải thuật ngữ kế toán Mỹ, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chú giải thuật ngữ kế toán Mỹ
Tác giả: Hồ Văn Mộc, Điêu Quốc Tín
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1994
22. PGS.TS. Nguyễn Như Phát (2005), “Góp ý dự thảo Luật Doanh nghiệp (thống nhất)”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý dự thảo Luật Doanh nghiệp (thống nhất)”
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Như Phát
Năm: 2005
23. PGS.TS. Nguyễn Đình Tài, Bài giảng Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Luật Doanh nghiệp năm 2005
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
24. Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Hữu Đạt (2004), Một số vấn đề sở hữu ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề sở hữu ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
27. Viện Ngôn ngữ học (2000), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000
2. Bộ Tài chính, Thông tư số 144/2003/TT-BTC ngày 17/6/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thành viên và giao dịch chứng khoán.3. Bộ luật Dân sự năm 2005 Khác
4. Chính phủ, Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 20/7/2006 của Chính phủ quy định ngành nghề kinh danh có điều kiện Khác
5. Chính phủ, Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư Khác
6. C.Mác và Ăngghen (1994), Toàn tập, Tập 23, Tập 25, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
8. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
9. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
20. Nghị quyết số 51/2001/NQ-QHX sửa đổi bổ sung một số điều Hiến pháp 1992 Khác
25. Thời báo kinh tế Việt Nam (08/4/2005), số 74 Khác
26. Viện Nghiên Cứu quản lý kinh tế trung ương, Báo cáo nghiên cứu Luật Công ty ở bốn quốc gia Đông Nam Á: Thái Lan, Singapore, Malyasia và Philippine - Dự án UNDP VIE/97/016 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w