1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGUYEN THI THUY DUONG 11DKQ1 THUC DAY XUAT KHAU GO VIET NAM SANG THI TRUONG CANADA

99 431 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 915,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là cònchưa kể đến những khó khăn xuất phát từ những quy định pháp lý khắt khe và ngàycàng cao đối với hàng hóa nhập khẩu của thị trường Canada nói chung và sản phẩmgỗ từ gỗ nói riêng

Trang 1

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG LỚP: 11DKQ1 - KHÓA 08

ĐỀ ÁN THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP LẦN 2

TÊN ĐỀ TÀI: THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ

VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CANADA

CHUYÊN NGÀNH: KINH DOANH QUỐC TẾ

GIÁNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS LÊ QUANG HUY

Trang 2

KHOA THƯƠNG MẠI



NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG LỚP: 11DKQ1 – KHÓA 08

ĐỀ ÁN THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 2

TÊN ĐỀ TÀI: THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ

VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CANADA

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề án này, trước tiên, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy,

Ths Lê Quang Huy đã tận tình hướng dẫn cũng như giải đáp những thắc mắc của

em trong suốt quá trình thực hiện đề án

Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, quý Cô trong khoa Thương Mại, trường

Đại học Tài Chính – Marketing đã tận tình truyền đạt kiến thức cho em trong suốt

thời gian học tập Những kiến thức mà Thầy, Cô truyền đạt cho em chính là nền

tảng để em hoàn thành đề án môn học này

Cuối cùng, em xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công

trong sự nghiệp giảng dạy của mình

Trân trọng kính chào!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 12 năm 2013

Sinh viên thực hiệnNguyễn Thị Thùy Dương

Trang 5

LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng 12 năm 2014

Trang 6

Xác nhận của Giáo Viên hướng dẫn

Trang 7

DANH MỤC BẢNG I DANH MỤC HÌNH II

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Khái niệm xuất khẩu 4

1.2 Các hình thức xuất khẩu 5

1.2.1 Xuất khẩu trực tiếp 6

1.2.2 Xuất khẩu gián tiếp 6

1.2.3 Xuất khẩu ủy thác 6

1.2.4 Gia công quốc tế 7

1.2.5 Tạm nhập, tái xuất 7

1.2.6 Tạm xuất, tái nhập 8

1.2.7 Mua bán đối lưu 8

1.3 Quy trình tổ chức hoạt động kinh doanh xuất khẩu 8

1.3.1 Nghiên cứu thị trường và tìm kiếm đối tác 9

1.3.2 Lập phương án kinh doanh 10

1.3.3 Đàm phán và ký kết hợp đồng 11

1.3.4 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu 13

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu 13

1.4.1 Nguyên vật liệu đầu vào 13

1.4.2 Công nghệ chế biến 14

1.4.3 Nguồn nhân lực trong nước 14

1.4.4 Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước 15

1.5 Nhận xét chung chương 1 15

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÁC SẢN PHẨM GỖ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CANADA TRONG THỜI GIAN QUA 17

2.1 Tổng quan về ngành chế biến gỗ 17

Trang 8

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành chế biến gỗ Việt Nam.

17

2.1.2 Công nghệ, trình độ sản xuất 18

2.1.3 Năng lực cạnh tranh 20

2.2 Phân tích chung kết quả xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam trong thời gian qua 21

2.2.1 Phân tích kết quả xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam theo kim ngạch 21 2.2.2 Phân tích kết quả xuất khẩu sản phẩm gỗ theo chủng loại 24

2.2.3 Phân tích kết quả xuất khẩu sản phẩm gỗ theo thị trường 27

2.3 Phân tích hoạt động tổ chức xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canada 33

2.3.1 Phân tích hoạt động nghiên cứu thị trường và tìm kiếm đối tác 33

2.3.2 Phân tích hoạt động lập phương án kinh doanh 34

2.3.3 Phân tích hoạt động đàm phán và ký kết hợp đồng 35

2.3.4 Phân tích hoạt động thực hiện hợp đồng xuất khẩu 36

2.4 Phân tích kết quả xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canada 37

2.4.1 Phân tích kết quả xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canada theo kim ngạch 37

2.4.2 Phân tích kết quả xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canada theo chủng loại 41

2.4.3 Phân tích kết quả xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam theo hình thức xuất khẩu 47

2.5 Phân tích các nhân tố tác động đến xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canada 48

2.5.1 Nguồn nguyên vật liệu 48

2.5.2 Công nghệ chế biến 53

2.5.3 Lao động 54

2.5.4 Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước 54

2.6 Đặc điểm thị trường Canada đối với mặt hàng sản phẩm gỗ 56

Trang 9

2.6.2 Tình hình cung cầu sản phẩm gỗ tại thị trường Canada 57

2.6.3 Thị hiếu tiêu dùng đối với sản phẩm gỗ 59

2.6.4 Quy định liên quan đến nhập khẩu sản phẩm gỗ 65

2.6.5 Quan hệ kinh tế Việt Nam –Canada 68

2.7 Đánh giá thực trạng xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canada giai đoạn 2007 – 2013 71

2.7.1 Điểm mạnh 71

2.7.2 Điểm yếu 71

2.7.3 Cơ hội 72

2.7.4 Thách thức 74

2.8 Nhận xét chung chương 2 74

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CANADA 76

3.1 Mục tiêu và cơ sở, quan điểm đề xuất giải pháp 76

3.1.1 Mục tiêu và quan điểm đề xuất giải pháp 76

3.1.2 Cơ sở đề xuất giải pháp 77

3.2 Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canada 77

3.2.1 Giải pháp ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào 77

3.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm 79

3.2.3 Giải pháp khoa học – công nghệ 81

3.2.4 Giải pháp ổn định và phát triển nguồn nhân lực 82

3.2.5 Giải pháp xây dựng thương hiệu 84

3.3 Nhận xét chung chương 3 85

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2-1:Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam giai đoạn 2007-2013 22Bảng 2-2: Cơ cấu các chủng loại sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn

2007 - 2013 (tỷ trọng tính theo kim ngạch) 24Bảng 2-3: Cơ cấu các chủng loại sản phẩm gỗ xuất khẩu vào thị trường EU năm

2010 (tỷ trọng tính theo kim ngạch) 26Bảng 2-4: 10 thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam lớn nhất năm 2013 27Bảng 2-5:Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canada giai đoạn 2007 – 2013 37Bảng 2-6: Cơ cấu các chủng loại sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu sang Canada giaiđoạn 2007 – 2013 (tỷ trọng tính theo kim ngạch) 42Bảng 2-7: Cơ cấu các chủng loại sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu vào Canada

năm 2013 (tỷ trọng tính theo kim ngạch) 43Bảng 2-8: Tình hình nhập khẩu nguyên liệu giai đoạn 2007 – 2013 49Bảng 2-9: Kim ngạch nhập khẩu sản phẩm gỗ của Canada giai đoạn 2007 – 2013 59Bảng 2-10: Kích cỡ tiêu chuẩn các sản phẩm gỗ của Canada 64Bảng 2-11: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Canada giai đoạn 2007 -

2013 69

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2-1:10 thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam lớn nhất năm 2013 (tỷ

trọng tính theo kim ngạch) 30Hình 2-2: Xếp hạng xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt nam sang Canada giai đoạn 2007 –

2013 ( dựa vào kim ngạch, đơn vị: triệu USD) 31Hình 2-3: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canada giai đoạn 2007 – 2013 38Hình 2-4: Tỷ trọng các chủng loại sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu vào Canada

năm 2013 (tỷ trọng tính theo kim ngạch) 45Hình 2-5: Phần trăm tăng trưởng các chủng loại sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu

vào Canada năm 2013 45Hình 2-6: 10 nước xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Canada năm 2013 (Đơn vị: triệu

USD) 58Hình 2-7: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Canada giai đoạn 2007 -

2013 70

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Với dân số là 34.839 triệu người (tính đến tháng 7/2014) và tổng sản phẩmquốc nội (GDP) tính đến cuối năm 2013 đạt 1.825,1 tỷ đô la, Canada là một trongnhững quốc gia có nền kinh tế lớn mạnh trên thế giới1 Vì vậy, Canada là thị trườngvới sức mua lớn, nhu cầu nhập khẩu nhiều mặt hàng tiêu dùng của Canada, đặc biệt

là hàng thủ công mỹ nghệ (trong đó có các sản phẩm gỗ) đang ngày càng tăng Nhucầu tiêu dùng của Canada mở ra nhiều triển vọng mới cho các nước xuất khẩu đồ

gỗ, trong đó có Việt Nam Thị trường nhập khẩu gỗ nội thất tiềm năng Canada cócác sản phẩm mà doanh nghiệp Việt Nam có thể khai thác như đồ nội thất dùngtrong phòng ngủ, phòng khách và phòng ăn Với tăng trưởng kinh tế khả quan sovới các nước khác, nhu cầu tiêu dùng đồ gỗ của nước này cần được quan tâm Hiệnnay Canada là thị trường nhập khẩu các sản phẩm gỗ thứ bảy của Việt Nam với kimngạch 119 triệu USD (2013)2, tăng 5,6% so với năm ngoái Và dự báo trong tươnglai, con đường xuất khẩu gỗ sang Canada sẽ được mở rộng với nhiều thỏa thuậnkinh tế chủ chốt đã được ký kết giữa hai nước và xúc tiến nhiều sáng kiến chungnhư Hiệp định song phương Việt Nam_Canada, đặc biệt là Hiệp định đối tác kinh tếchiến lược xuyên Thái Bình Dương_TPP

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới núi cao ởkhu vực núi cao Đất nước lại chạy theo nhiều vĩ độ, tạo nên nhiều vùng sinh tháikhác nhau Đặc điểm khí hậu này tạo ra sự đa dạng, phong phú cho rừng Việt Namnói chung và các chủng loại gỗ nói riêng Đây được xem là một thuận lợi to lớn đốivới ngành khai thác chế biến gỗ xuất khẩu Bên cạnh đó, chúng ta có một đội ngũlao động sáng tạo, lành nghề từ xưa đến nay (thủ công mỹ nghệ vẫn được xem làmột ngành nghề truyền thống) Do vậy, phát triển hoạt động sản xuất sản phẩm gỗchế biến không những thúc đẩy nền kinh tế đất nước mà góp phần bảo vệ nét vănhóa dân tộc Tuy nhiên, trong điều kiện toàn cầu hóa và quốc tế hóa đời sống kinh tế

1 http://www.vietrade.gov.vn/images/stories/HSTT_Canada_-_update_2014.pdf

2 http://customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuanLichCongBo/Attachments/148/2013-T12T-5X(VN-CT).pdf

Trang 13

ngày càng sâu sắc hiện nay, cạnh tranh xuất khẩu nói chung và xuất khẩu sang thịtrường Canada nói riêng ngày càng gay gắt Những sản phẩm Việt Nam có lợi thếxuất khẩu sang Canada cũng là những sản phẩm mà nhiều nước và khu vực kháctrên thế giới đều có điều kiện lợi thế để xuất khẩu sang thị trường này Đó là cònchưa kể đến những khó khăn xuất phát từ những quy định pháp lý khắt khe và ngàycàng cao đối với hàng hóa nhập khẩu của thị trường Canada nói chung và sản phẩm

gỗ từ gỗ nói riêng dẫn đến giá trị xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Canadavẫn chưa được khai thác hết tiềm năng của nó3

Vì thế, nghiên cứu thực trạng và tìm ra giải pháp để thúc đẩy xuất khẩu cácsản phẩm gỗ sang Canada là hết sức cần thiết Điều này mang lại rất nhiều lợi íchcho các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ cũng như lợi ích to lớn cho nền kinh

tế Việt Nam Vì vậy, tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Thúc đẩy xuất khẩu sảnphẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canada”

2 Mục đích nghiên cứu.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là cần phải tìm ra những nguyên nhân chính

mà các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải gây ảnh hưởng đến hoạt động xuấtkhẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canada trong quá trình phân tích thựcxuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Canada giai đoạn 2007 –

2013 Từ đó, căn cứ vào cơ sở lý luận và kết quả phân tích, đánh giá , đưa các giảipháp giúp Nhà nước và các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm gỗsang thị trường Canada tăng cường hoạt động xuất khẩu sản phẩm, đem lại lợinhuận cao cho doanh nghiệp và phát triển kinh tế đất nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của các doanhnghiệp Việt Nam

 Phạm vị nghiên cứu:

 Phạm vi không gian: Thị trường Canada

 Phạm vi thời gian: 2007 - 2013

3 http://www.vietrade.gov.vn/images/stories/HSTT_Canada_-_update_2014.pdf

Trang 14

4 Phương pháp nghiên cứu.

Đề tài sử dụng các biện pháp nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu tại bàn, cụthể:

 Chương 1: Tổng hợp

 Chương 2: Thu thập, thống kê, mô tả và phân tích các tài liệu tiếp cận từwebside, sách báo, phương pháp tình huống

 Chương 3: Suy luận logic, duy vật biện chứng

Ngoài lời mở đầu và tài liệu tham khảo, đề án gồm 3 chương chính:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canadatrong thời gian qua

Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trườngCanada

Do giới hạn thời gian nghiên cứu cơ sở, tìm hiểu thực tế cũng như khả năngcủa bản thân em còn nhiều hạn chế nên đề án không tránh khỏi những khiếmkhuyết Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cô để từ đó, em sẽkhắc phục được những yếu kém của bản thân để hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp,cũng như tích lũy được những kinh nghiệm quý báu giúp ích cho công việc tươnglai của bản thân

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.

1.1 Khái niệm xuất khẩu.

Cùng với sự phát triển kinh tế của các quốc gia, xuất phát từ những khác biệt

về điều kiện, khí hậu, sự khác biệt về trình độ phát triển sản xuất và từ nhu cầuphong phú đa dạng của mọi tầng lớp dân cư trên thế giới…, nhu cầu buôn bán traođổi hàng hóa cũng ngày càng phát triển cả về bề rộng và chiều sâu, không nhữngchỉ trao đổi trong nội bộ quốc gia mà còn qua khỏi biên giới quốc gia, lan rộng ratoàn thế giới Thương mại quốc tế trong xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh

tế quốc tế hiện nay có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế một quốc gia,một khu vực và toàn cầu Trong đó, xuất khẩu là hình thức thâm nhập thị trườngnước ngoài ít rủi ro và chi phí thấp nhất, nhất là đối với các nước có trình độ kinh tếthấp như các nước đang phát triển Vậy xuất khẩu là gì?

Theo điều 28, mục 1, chương 2 Luật Thương mại Việt Nam 2005, xuất khẩuhàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khuvực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theoquy định của pháp luật

Hoặc hoạt động xuất khẩu hàng hóa là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho mộtquốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Tiền tệ ở đây cóthể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc cả hai quốc gia Mục đích của hoạt độngxuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao độngquốc tế Khi việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đềutích cực tham gia mở rộng hoạt động này4

Như vậy, có thể hiểu xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh vượt ra khỏi biêngiới quốc gia, là hoạt động mang tính quốc tế Đó chính là việc bán hàng hóa, dịch

vụ trong nước ra nước ngoài theo quy định của pháp luật

Xuất khẩu không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống cácquan hệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợinhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và

Trang 16

từng bước nâng cao mức sống của nhân dân Xuất khẩu là hoạt động dễ đem lạihiệu quả đột biến nhưng có thể gây thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với hệ thốngkinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước không dễ dàng khống chếđược.

Xuất khẩu là việc bán hàng hóa ra nước ngoài nhằm phát triển sản xuất kinhdoanh Song việc bán ở đây có những nét riêng phức tạp hơn trong nước vì phảigiao dịch với nhiều người có quốc tịch khác nhau, thị trường rộng lớn, đồng tiềnthanh toán bằng ngoại tệ mạnh, hàng hóa vận chuyển qua biên giới, cửa khẩu cácquốc gia khác nhau nên phải tuân theo các tập quán quốc tế cũng như địa phươngkhác nhau

Hoạt động xuất khẩu được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều khâu

từ điều tra thị trường, lựa chọn hàng hóa xuất khẩu, thương nhân giao dịch, cácbước tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng, tổ chức thực hiện hợp đồng cho đến khihàng hóa chuyển đến cảng giao quyền sở hữu cho người mua, hoàn thành các thanhtoán Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ này phải được nghiên cứu đầy đủ, kỹ lưỡng, đặtchúng trong mối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ nắm bắt những lợi thế nhằm đảm bảohiệu quả cao nhất

Mặc dù hoạt động xuất khẩu đem lại nhiều thuận lợi song vẫn còn tồn tạinhiều hạn chế:

Một là: Cạnh tranh dẫn đến tình trạng tranh mua hàng xuất khẩu Nếu không

có sự kiểm soát của Nhà nước một cách chặt chẽ, kịp thời sẽ gây ra các thiệt hại khibuôn bán với nước ngoài

Hai là: Cạnh tranh dẫn đến thôn tính lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế bằng

các biện pháp không lành mạnh nhằm phá hoại, cản trở công việc của nhau…Việcquản lý không chỉ đơn thuần tính toán về hiệu quả kinh tế mà còn phải chú trọng tớivăn hóa và đạo đức xã hội

Trang 17

1.2.Các hình thức xuất khẩu.

Dưới đây là các hình thức xuất khẩu chủ yếu mà các doanh nghiệp thường lựa chọn cho hoạt động kinh doanh của mình5

1.2.1 Xuất khẩu trực tiếp.

Hình thức xuất khẩu trực tiếp là hình thức, trong đó đơn vị kinh doanh xuấtnhập khẩu trực tiếp ký kết hợp đồng ngoại thương để bàn bạc thảo luận về hànghóa, giá cả và các điều kiện giao dịch khác Theo đó, các doanh nghiệp ngoạithương tự bỏ vốn ra mua các sản phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nước sau đó báncác sản phẩm này cho khách hàng nước ngoài

Ưu điểm: Lợi nhuận của đơn vị kinh doanh xuất khẩu thường cao hơn các hìnhthức khác do giảm bớt được các khâu trung gian Với vai trò là người bán trực tiếp,các đơn vị kinh doanh chủ động trong kinh doanh, nắm bắt được nhu cầu của thịtrường về số lượng, chất lượng, giá cả để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường

Nhược điểm: Hình thức này đòi hỏi một số vốn khá lớn và có thể gặp nhiều rủi

ro Do đó, chỉ nên áp dụng trong trường hợp đơn vị kinh doanh xuất khẩu có quy

mô lớn, vốn nhiều, kinh nghiệm lâu năm

1.2.2 Xuất khẩu gián tiếp.

Đây là hình thức xuất khẩu qua trung gian thương mại (đại lý, công ty quản lýxuất nhập khẩu, công ty kinh doanh xuất nhập khẩu) Người trung gian sẽ nhậnđược một khoản tiền nhất định

Ưu điểm: Người trung gian giúp cho người xuất khẩu tiết kiệm được thời gian,chi phí, giảm bớt nhiều việc liên quan đến tiêu thụ hàng Ngoài ra người trung gian

có thể giúp người xuất khẩu tín dụng trong ngắn hạn và trung hạn bởi vì trung gian

có quan hệ với công ty vận tải, ngân hàng…

Nhược điểm: Lợi nhuận bị chia xẻ do tốn phí, doanh nghiệp xuất khẩu mấtmối quan hệ trực tiếp với thị trường, thông tin nhiều khi không chính xác và phảiđáp ứng các yêu cầu của người trung gian

Trang 18

1.2.3 Xuất khẩu ủy thác.

Trong hình thức này, đơn vị có hàng xuất khẩu là bên ủy thác giao cho đơn vịxuất khẩu gọi là bên nhận ủy thác tiến hành xuất khẩu một hoặc một số lô hàng nhấtđịnh với danh nghĩa của mình (bên nhận ủy thác) nhưng với chi phí của bên ủy thác

Về bản chất, chi phí trả cho bên nhận ủy thác chính là tiền thù lao trả cho đại lý.Theo điều 21 nghị định 64-HĐBT, chi phí ủy thác xuất khẩu không cao hơn 1% củatổng số doanh thu ngoại tệ về xuất khẩu theo điều kiện FOB của Việt Nam

Ưu điểm: Công ty ủy thác xuất khẩu không phải bỏ vốn vào kinh doanh, tránhđược rủi ro mà vẫn thu được một khoản lợi nhuận là hoa hồng cho xuất khẩu Dochỉ thực hiện hợp đồng ủy thác xuất khẩu nên giảm cho phí cho hoạt động kinhdoanh của công ty

Nhược điểm: Do không phải bỏ vốn vào kinh doanh nên hiệu quả kinh doanhthấp, không đảm bảo tính chủ động trong kinh doanh Thị trường và khách hàng bịthu hẹp vì công ty không có liên quan tới việc nghiên cứu thị trường và tìm kiếmkhách hàng

1.2.4 Gia công quốc tế.

Gia công hàng xuất khẩu là hình thức trong đó một bên (gọi là bên nhận giacông) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặtgia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao(gọi là chi phí gia công)

Ưu điểm: Thị trường tiêu thụ có sẵn, không bỏ chi phí cho hoạt động bán sảnphẩm xuất khẩu Vốn đầu tư cho sản xuất ít, học hỏi kinh nghiệm sản xuất, tạo mẫu

mã bao bì

Nhược điểm: Tính bị động cao, phụ thuộc vào phía đặt gia công Nhiều trườnghợp bên phía nước ngoài lợi dụng hình thức gia công để bán máy móc cũ, lạc hậuvào nước nhận gia công làm giảm hiệu quả hoạt động và gây ra ô nhiễm môitrường

Trang 19

1.2.5 Tạm nhập, tái xuất

Theo Luật Thương mại Việt Nam 2005, tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việchàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổViệt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào ViệtNam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hànghoá đó ra khỏi Việt Nam

Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một

số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu Giao dịch này luôn luôn thu hút được banước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu Vì vậy người ta gọi giaodịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác (triangular transaction)

Ưu điểm của hình thức này là doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao màkhông cần phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng, thiết bị, khả năng thu hồivốn cũng nhanh hơn

1.2.6 Tạm xuất, tái nhập

Đây là hình thức ngược lại với hình thức tạm nhập tái xuất Theo Luật Thươngmại Việt Nam 2005, tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra nướcngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi làkhu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu rakhỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam

1.2.7 Mua bán đối lưu.

Đây là hoạt động giao dịch trong đó hoạt động xuất khẩu kết hợp chặt chẽ vớihoạt động nhập khẩu Mục đích của hoạt động xuất khẩu không phải nhằm thu vềmột khoảng ngoại tệ mà thu về một lượng hàng hóa khác tương đương với giá trịcủa lô hàng xuất khẩu Yêu cầu của buôn bán đối lưu là cân bằng về tổng giá trịxuất nhập khẩu, chủng loại hàng hóa quý hiếm, giá cả Doanh nghiệp có thể sử dụnghình thức này để nhập khẩu nhiều loại hàng hóa mà thị trường trong nước đang rấtcần hoặc có thể xuất khẩu sang một nước thứ ba

Trang 20

1.3.Quy trình tổ chức hoạt động kinh doanh xuất khẩu.

Để đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu được thực hiện một cách an toànvàthuận lợi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải tổ chức tiến hành theo cáckhâu sau của quy trình xuất khẩu chung Trong quy trình gồm nhiều bước có quan

hệ chặt chẽ với nhau bước trước là cơ sở, tiền đề để thực hiện tốt bước sau Tranhchấp thường xảy ra trong tổ chức thực hiện hợp đồng là do lỗi yếu kém ở một khâunào đó Để quy trình xuất khẩu được tiến hành thuận lợi thì làm tốt công việc ở cácbước là rất cần thiết Thông thường một quy trình xuất khẩu hàng hóa gồm một sốbước sau6

1.1.1 Nghiên cứu thị trường và tìm kiếm đối tác.

Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lưu thônghàng hoá ở đâu có sản xuất và lưu thông và ở đó có thị trường Thị trường nướcngoài gồm nhiều yếu tố phức tạp, khác biệt so với thị trường trong nước bởi vậynắm vững các yếu tố thị trường hiểu biết các quy luật vận động của thị trường nướcngoài là rất cần thiết phải tiến hành hoạt động nghiên cứu thị trường Nghiên cứu thịtrường có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế.Nghiên cứu thị trường phải trả lời một số câu hỏi sau: xuất khẩu cái gì, ở thị trườngnào, thương nhân giao dịch là ai, giao dịch theo phương thức nào, chiến lược kinhdoanh cho từng giai đoạn để đạt được mục tiêu đề ra

 Nắm vững thị trường nước ngoài

Đối với các đơn vị kinh doanh xuất khẩu, nghiên cứu thị trường có ý nghĩacực kỳ quan trọng Trong nghiên cứu cần nắm vững một số nội dung:những điềukiện chính trị, thương mại chung, luật pháp và chính sách buôn bán, những điềukiện về tiền tệ và tín dụng, điều kiện vận tải và tình hình giá cước Bên cạnh đó, đơn

vị kinh doanh cũng cần phải nắm vững một số nội dung liên quan đến mặt hàngkinh doanh trên thị trường đó như dung lượng thị trường, tập quán và thị hiếu tiêudùng của người dân, giá thành và dự biến động giá cả, mức độ cạnh tranh của mặthàng đó

Trang 21

 Nhận biết mặt hàng kinh doanh trước và lựa chọn mặt hàng kinh doanh.

Nhận biết mặt hàng kinh doanh trước tiên phải dựa vào nhu cầu của sản xuất

và tiêu dùng về quy cách chủng loại, kích cỡ, giá cả, thời vụ và thị hiếu cũng nhưtập quán tiêu dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất Từ đó xem xét các khíacạnh của hàng hoá trên thị trường thế giới Về khía cạnh thương phẩm phải hiểu rõgiá trị công dụng, các đặc tính, quy cách phẩm chất, mẫu mã… Vấn đề khá quantrọng trong giai đoạn này là xác định sản lượng hàng hoá xuất khẩu và thời điểmxuất khẩu để bán được giá cao nhằm đạt được lợi nhuận tối đa

Hiện nay do chủ trương phát triển nền kinh tế với nhiều thành phần tham giaikinh tế trên nhiều ngành nghề và nhiều lĩnh vực khác nhau từ sản phẩm thô sản xuấtbằng phương pháp thủ công đến sản phẩm sản xuất bằng máy móc tinh vi hiện đại.Tuyến sản phẩm được mở rộng với mặt hàng phong phú, đa dạng tạo điều kiện chocác đơn vị khinh doanh xuất khẩu có được nguồn hàng ổn định với nhiều nhómhàng kinh doanh khác nhau

 Tìm kiếm đối tác

Để có thể xuất khẩu được hàng hoá trong quá trình nghiên cứu thị trường nướcngoài các đơn vị kinh doanh phải tìm đựơc bạn hàng Lựa chọn thương nhân giaodịch cần dựa trên một số đặc điểm sau: uy tín của bạn hàng trên thị trường, thời gianhoạt động kinh doanh, khả năng tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, mạng lưới phânphối tiêu thụ sản phẩm…được như vậy, đơn vị kinh doanh xuất khẩu mới xuất khẩuđược hàng và tránh được rủi ro trong kinh doanh quốc tế

1.1.2 Lập phương án kinh doanh.

Dựa vào những kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thịtrường nứơc ngoài đơn vị kinh doanh xuất khẩu lập phương án kinh doanh Phương

án này là bản kế hoạch hoạt động của đơn vị nhằm đạt được những mục tiêu xácđịnh trong kinh doanh Xây dựng phương án kinh doanh gồm các bước sau:

 Bước 1: Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân, đơn vị kinh doanhphải đưa ra được đánh giá tổng quan về thị trường nước ngoài và đánh giáchi tiết đối với từng phân đoạn thị trường, đồng thời cũng phải đưa ra những

Trang 22

nhận định cụ thể về thương nhân nước ngoài mà đơn vị sẽ hợp tác kinhdoanh.

 Bứơc 2: Lựa chọn mặt hàng thời cơ, phương thức kinh doanh Từ tuyến sảnphẩm công ty phải chọn ra mặt hàng xuất khẩu mà công ty có khả năng sảnxuất, có nguồn hàng ổn định đáp ứng được thời cơ xuất khẩu thích hợp : khinào thì xuất khẩu, khi nào thì dự trữ hàng chờ xuất khẩu … và tuỳ thuộc vàokhả năng của công ty mà công ty lựa chọn phương thức kinh doanh phù hợp

 Bước 3: Đề ra mục tiêu Trên cơ sở đánh giá về thị trường nước ngoài khảnăng tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu thị trường đó mà đơn vị kinh doanh xuấtkhẩu đề ra mục tiêu cho từng giai đoạn cụ thể khác nhau

 Giai đoạn1: Bán sản phẩm với giá thấp nhằm cạnh tranh với sản phẩmcùng loại, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có cơ hội dùng thử, chiếmlĩnh thị phần

 Giai đoạn 2: Nâng dần mức giá bán lên để thu lợi nhuận Mục tiêu nàyngoài nguyên tố thực tế cần phù hợp với khả năng của công ty là mụcđích để công ty phấn đấu hoàn thành và có thể vượt mức

 Bước 4: Đề ra biện pháp thực hiện Giải pháp thực hiện là công cụ giúp công

ty kinh doanh thực hiện các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất, nhanhnhất, có lợi nhất cho công ty kinh doanh

 Bước 5: Đánh giá hiệu quả của việc kinh doanh Giúp cho công ty đánh giáhiệu quả kinh doanh sau thương vụ kinh doanh, đồng thời đánh giá được hiệuquả những khâu công ty kinh doanh đã và đang làm tốt, những khâu còn yếukém nhằm giúp công ty hoàn thiện quy trình xuất khẩu

1.1.3 Đàm phán và ký kết hợp đồng.

Đàm phám.

Chúng ta đã biết rằng đàm phám thực chất là việc trao đổi, học thuật vừa mangtính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật để sử dụng các kĩ năng, kĩ sảo trong giaodịch để nhằm thuyết phục đi đến việc chấp nhận những nội dung mà đôi bên đưa ra.Muốn đàm phán thành công thì khâu chuẩn bị đàm phán đóng góp một vai trò quan

Trang 23

trọng như: chuẩn bị nội dung và xác định mục tiêu, chuẩn bị dữ liệu thông tin,chuẩn bị nhân sự đàm phán chuẩn bị chương trình đàm phán.

Chúng ta đã biết rằng chuẩn bị chi tiết đầy đủ các nội dung cần đàm phán làviệc rất quan trọng để cho cuộc đàm phán đạt hiệu quả cao hơn và giảm được rủi rotrong quá trình thực hiện hợp đồng sau này Ngoài ra, việc chuẩn bị số liệu thông tinchẳng hạn như: thông tin về hàng hoá để biết được tính thương phẩm học của hànghoá, do các yêu cầu của thị trường về tính thẩm mĩ, chất lượng, các tiêu chuẩn quốcgia và quốc tế

Để đàm phán tốt cần phải chuẩn bị những thông tin về thị trường, kinh tế, vănhoá, chính trị, pháp luật của các nước, hay như thông tin về đối tác như sự pháttriển, danh tiếng, cũng như khả năng tài chính của đối phương Đòi hỏi các cán bộnghiệp vụ cần phải là những người nắm bắt thông tin về hàng hoá, thị trường, kháchhàng, chính trị, xã hội…chính xác và nhanh nhất sẽ giúp cho cuộc đàm phán kí kếthợp đồng đạt hiệu quả tốt

Hiện nay trong đàm phán thương mại thường sử dụng ba hình thức đàm phán

cơ bản là: đàm phán qua thư tín, đàm phán qua điện thoại, đàm phán bằng cách gặp

gỡ trực tiếp Nhưng ở Việt Nam hiện nay hai hình thức là đàm phán qua thư tín vàđàm phán qua điện thoại là được sử dụng phổ biến nhất

Kí kết hợp đồng.

Việc kí kết hợp đồng là hết sức quan trọng Hợp đồng có được tiến hành haykhông là phụ thuộc vào các điều khoản mà hai bên đã cam kết trong hợp đồng Khi

kí kết một hợp đồng kinh tế phải căn cứ vào các diều kiện sau đây:

 Các định hướng kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế của nhà nước

 Nhu cầu thị trường, đơn đặt hàng, chào hàng của bạn hàng

Hợp đồng hàng hoá bao gồm những nội dung sau:

 Số hợp đồng

 Ngày, tháng, năm và nơi kí kết hợp đồng

 Tên và địa chỉ các bên kí kết

 Các điều khoản bắt buộc của hợp đồng

Trang 24

Điều 1: Tên hàng, phẩm chất, qui cách, số lượng, bao bì, kí mã hiệu.

Điều 2: Giá cả

Điều 3: Thời hạn, địa điểm, phương thức giao hàng, vận tải

Điều 4: Điều kiện kiểm nghiệm hàng hoá

Điều 5: Điều kiện thanh toán trả tiền

Điều 6: Điều kiện khiếu nại

Điều 7: Điều kiện bất khả kháng

Điều 8: Điều khoản trọng tài

1.1.4 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu.

Sau khi đã kí kết hợp đồng xuất khẩu, công việc hết quan trọng mà doanhnghiệp cần phải làm là tổ chức thực hiện hợp đồng mà mình đã kí kết Căn cứ vàođiều khoản đã ghi trong hợp đồng doanh nghiệp phải tiến hành sắp xếp các côngviệc mà mình phải làm ghi thành bảng biểu theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng, kịpthời nắm bắt diễn biến tình hình các văn bản đã gửi đi và nhận những thông tin phảnhồi từ phía đối tác

Qui trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu gồm:

 Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá

 Chuẩn bị hàng xuất khẩu

 Thu gom tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu

 Đóng gói bao bì hàng xuất khẩu và kẻ kĩ mã hiệu hàng hoá

 Kiểm tra chất lượng hàng hoá

 Mua bảo hiểm hàng hoá

 Thuê phương tiện vận tải

Trang 25

1.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu.

Phần lớn các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu sản phẩm gỗ là các nhân tố ảnhhưởng bên trong đất nước nhưng ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp

1.1.5 Nguyên vật liệu đầu vào

Yếu tố này có mối quan hệ tỷ lệ thuận với khả năng xuất khẩu gỗ của mộtquốc gia Khi tiềm lực các yếu tố này càng mạnh thì khả năng xuất khẩu sản phẩmsang thị trường nước ngoài ngày càng cao và dễ dàng thâm nhập vào thị trườngnước ngoài Đồng thời đáp ứng kịp thời khi khách hàng có nhu cầu, tránh nhữngtrường hợp có nhu cầu nhưng bản thân các doanh nghiệp trong nước lại không cóhàng để xuất đi Ở Việt Nam, nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm gỗ đang là mộtvấn đề mà các doanh nghiệp chế biến gỗ và các ngành chức năng có liên quan quantâm Nguồn cung gỗ trong nước không đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất của ngành

Do đó, phần lớn nguyên liệu đầu vào phải nhập khẩu từ nước khác dẫn đến tìnhtrạng khả năng xuất khẩu của nước ta phụ thuộc vào tình hình biến động nguyênliệu đầu vào của thị trường khác Khi giá nguyên liệu đầu vào tăng làm cho giá sảnphẩm xuất khẩu tăng, dẫn đến sức cạnh tranh về giá của sản phẩm gỗ trên thị trườngnước ngoài sẽ giảm làm hạn chế xuất khẩu sản phẩm gỗ

1.1.6 Công nghệ chế biến.

Ngày nay khoa học công nghệ tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội,

và mang lại nhiều lợi ích , trong xuất khẩu cũng mang lại nhiều kết quả cao Nhờ sựphát triển của bưu chính viễn thông, các doanh nghiệp ngoại thương có thể đàmphán với các bạn hàng qua điện thoại, fax giảm bớt chi phí, rút ngắn thời gian.giúp các nhà kinh doanh nắm bắt các thông tin chính xác, kịp thời Yếu tố côngnghệ cũng tác động đến quá trình sản xuất, gia công chế biến hàng hoá xuất khẩu.Khoa học công nghệ còn tác động tới lĩnh vực vận tải hàng hoá xuất khẩu, kỹ thuậtnghiệp vụ trong ngân hàng và tất nhiên ảnh hưởng rất lớn đến ngành chế biến gỗ

1.1.7 Nguồn nhân lực trong nước.

Một nước có nguồn lực dồi dào là điều kện thuận lợi để doanh nghiệp trongnước có điều kiện phát triển xúc tiến các mặt hàng có sử dụng sức lao động Về mặt

Trang 26

ngắn hạn, nguồn lực đuợc xem là không biến đổi vì vậy chúng ít tác động đến sựbiến động của xuất khẩu Nước ta có nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ, làđiều kiện thuận lợi để xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như hàng thủcông mỹ nghệ, may mặc, giầy dép

Nhân lực cũng là vấn đề lớn của ngành gỗ, ở hầu hết các doanh nghiệp đềuthiếu cả công nhân lành nghề, kỹ sư giỏi cùng cán bộ quản lý khiến cho năng suấtlao động thấp, hiệu quả sản xuất không cao Điều này sẽ hạn chế sức cạnh tranh vớicác doanh nghiệp trong khu vực Ngành gỗ Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong việcchiếm lĩnh thị phần gỗ thế giới

1.1.8 Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.

Cạnh tranh một mặt có tác động thúc đẩy sự vươn lên của các doanh nghiệp,mặt khác nó cũng dìm chết các doanh nghiệp yếu kém Mức độ cạnh tranh ở đâybiểu hiện ở số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cùng ngành hoặc các mặthàng khác có thể thay thế được Hiện nay, Việt Nam có chủ trương khuyến khíchmọi doanh nghiệp mới tham gia xuất khẩu đã dẫn đến sự bùng nổ số lượng cácdoanh nghiệp tham gia

Ngoài ra, những biến động tình hình kinh tế - xã hội như khủng hoảng, đìnhcông… sẽ làm cho nền kinh tế trong nước phải chịu những tổn thất, ảnh hưởngkhông nhỏ đến sản xuất trong nước Do vậy cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tìnhhình xuất khẩu Yếu tố thiên nhiên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình xuấtkhẩu gỗ của quốc gia, ví dụ như bão, lũ lụt sẽ gây hư hại cho rừng và làm giảmnguồn nguyên liệu trực tiếp cho ngành chế biến gỗ Tóm lại, lúc này quốc gia đanggặp phải những biến động, vì vậy mọi giải pháp trước mắt đều tập trung nhằm hạnchế ảnh hưởng của những biến động này tới nền kinh tế, nên hoạt động xuất khẩu

gỗ sẽ gặp nhiều khó khăn

1.5.Nhận xét chung chương 1.

Bàn về thực trạng xuất khẩu sản phẩm gỗ, trước hết phải làm rõ lý thuyết vềxuất khẩu, các hình thức của xuất khẩu và xuất khẩu có vai trò như thế nào đối vớinền kinh tế quốc dân Sau đó là những hiểu biết cơ bản về quy trình tổ chức hoạt

Trang 27

động kinh doanh xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu được tổ chức thực hiện với nhiềunghiệp vụ, nhiều khâu từ điều tra thị trường, lựa chọn hàng hóa xuất khẩu, thươngnhân giao dịch, các bước tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng, tổ chức thực hiệnhợp đồng cho đến khi hàng hóa chuyển đến cảng giao quyền sở hữu cho người mua,hoàn thành các thanh toán Việc mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ này và đặt chúng trongmối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ nắm bắt những lợi thế sẽ giúp doanh nghiệp xuấtkhẩu đạt hiệu quả cao nhất.

Từ những hiểu biết cơ bản trên, ta sẽ tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnhhưởng đến hoạt động xuất khẩu của ngành công nghiệp chế biến gỗ và trong nhữngyếu tố đó thì những yếu tố nào ảnh hưởng lớn nhất đến xuất khẩu sản phẩm gỗ củaViệt Nam Tất cả những cơ sở lý luận trên sẽ giúp phân tích rõ ràng và sâu hơn thựctrạng xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Canada và tìm ra những giảipháp thích hợp

Trang 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÁC SẢN PHẨM GỖ

VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CANADA TRONG THỜI GIAN QUA.

1.6.Tổng quan về ngành chế biến gỗ.

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành chế biến gỗ Việt Nam.

Nghề sản xuất và chế biến đồ gỗ đã được hình thành, tồn tại và phát triển lâuđời ở nước ta Đây là ngành nghề có truyền thống đã hàng trăm ngàn năm, gắn liềnvới tên nhiều làng nghề, phố nghề, được biểu hiện qua nhiều sản phẩm tinh xảo vàhoàn mỹ Quá trình phát triển của các sản phẩm đồ gỗ truyền thống luôn gắn vớinhững thăng trầm trong lịch sử của xã hội Việt Nam Những kỹ năng, kinh nghiệmsản xuất được đúc rút, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác làm cho ngànhnghề này ngày càng phong phú, đa dạng Do vậy, nó đã phát triển và đúc kết đượcnhững tinh hoa truyền thống của dân tộc

Từ thế kỷ XI dưới thời nhà Lý việc xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ cùng với nhữngmặt hàng thủ công mỹ nghệ khác đã được thực hiện Qua 11 thế kỷ các phường thợ,làng nghề truyền thống đã trải qua nhiều bước thăng trầm, một số làng nghề bị suyvong nhưng bên cạnh đó cũng có một số làng nghề mới xuất hiện và phát triển.Hiện nay, chúng ta có khoảng hai trăm làng nghề làm đồ gỗ trên mọi miền Tổ quốc.Những làng nghề như: Vạn Điểm, Chàng Sơn, Hữu Bằng, Canh Đậu, Chuôn Ngọ(Hà Tây), Đồng Kỵ (Bắc Ninh), Vân Hà (Đông Anh, Hà Nội), Trực Ninh (NamĐịnh)… đã từ lâu trở nên quen thuộc với những người dân các tỉnh phía Bắc Còn ởphía Nam các làng nghề mộc nổi tiếng thuộc về các tỉnh Thừa Thiên – Huế, QuảngNam (Kim Bồng), Đà Nẵng, Khánh Hoà, Đắc Lắc, Đồng Nai…7Không chỉ đượcđánh giá cao về chất lượng, các sản phẩm gỗ mỹ nghệ của Việt Nam còn phong phú

về mẫu mã, chủng loại, phục vụ cho mọi nhu cầu đa dạng của cuộc sống từ đồ trangtrí nội thất như bàn, ghế, tủ, đèn… đến các loại tượng, đồ trang sức, đồ dùng nhàbếp

Thị trường xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam giai đoạn từtrước năm 1990 là khối các nước Đông Âu, Liên Xô theo những thoả thuận song

7 http://awsassets.panda.org/downloads/1_wood_processing_industry_overview.pdf

Trang 29

phương Sau 1990, thị trường này suy giảm bởi những biến động chính trị Từ saunăm 2000 thị trường xuất khẩu chính là Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga và nhiều nướcASEAN8 Sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chứcThương mại Thế giới (WTO), công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam càng thu hút

sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, còn các nhà đầu tư trong nước thì mạnhdạn mở rộng sản xuất với quy mô lớn, nên hoạt động đầu tư trong lĩnh vực sản xuất

và chế biến gỗ xuất khẳu đang tăng rất mạnh

2.1.2 Công nghệ, trình độ sản xuất.

Có thể thấy rằng tình trạng máy móc thiết bị chế biến gỗ và lâm sản chưađược đầu tư đổi mới nhiều Thiết bị cưa xẻ gỗ và đồ gỗ sơ chế chiếm 30% tổngcông suất chế biến, trong đó chủ yếu là máy cưa vòng, cưa đĩa, máy bào một mặt,máy xoi, khoan nằm được chế tạo trong nước, chỉ có một số ít là của Pháp, TrungQuốc, Nhật, Đài Loan, Nga, Tiệp… Thiết bị đồ gỗ tinh chế hoàn chỉnh sản phẩmchiếm khoảng 50% tổng công suất chế biến gồm các máy bào 2, 3 hay 4 mặt, máyphay 1 hay 2 trục Những năm gần đây, đa số các cơ sở nhập dây chuyền đồng bộhoặc các thiết bị lẻ có chất lượng cao của Nhật, Pháp, Đài Loan, Hàn Quốc… Dâychuyền thiết bị sản xuất ván nhân tạo chỉ chiếm khoảng 20% tổng công suất chếbiến.9 Một số dây chuyền tuy đồng bộ nhưng thuộc loại thiết bị cũ, công nghệ lạchậu Tuy nhiên các dây chuyền được xây dựng từ năm 1995 trở lại đây có côngnghệ, thiết bị tiên tiến hơn

Các sản phẩm gỗ của Việt Nam từ chỗ chỉ là sản phẩm thô (gỗ tròn, gỗ xé) đãphát triển lên một trình độ gia công cao hơn, áp dụng công nghệ tẩm, sấy, trang trí

bề mặt… xuất khẩu các sản phẩm hoàn chỉnh, sản phẩm có giá trị gia tăng về côngnghệ và lao động Có thể chia các sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam thành 4nhóm chính:

Trang 30

Bao gồm các sản phẩm chế biến có hàm lượng mỹ thuật cao được chế biến từ

gỗ rừng tự nhiên, gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng Đồ gỗ mỹ nghệ thường được chếbiến bằng máy móc kết hợp công nghệ thủ công như chạm, khắc, khảm sơn mài Đồ

gỗ mỹ nghệ bao gồm các loại sản phẩm sau đây:

 Các sản phẩm sơn mài

 Các loại tượng bằng gỗ, các sản phẩm bằng gốc và rễ cây

 Các lọai tranh gỗ: tranh chạm khắc, tranh khảm trai, tranh ghép gỗ

 Các sản phẩm trang trí lưu niệm, quảng cáo như: cốc, chén, đĩa, khay,thìa (muỗng), quạt, lọ, bình cung, kiếm, đế lọ, guốc, bài vị, thảm hạt,chuỗi hạt, hộp các loại, huy hiệu, biểu tượng, biểu trưng, khung tranh,khung ảnh, phao mỹ nghệ, thuyền buồm mỹ nghệ các loại, mành trangtrí, giá đỡ hàng mỹ nghệ

 Nhạc cụ, đồ chơi trẻ em, vợt cầu lông, vợt tennít, vợt bóng bàn, gậychơi bi-da, gậy chăn cừu, ót giầy (cái đón gót), chân tay giả, dù cán gỗ,cán dù, chổi cán gỗ, cán chổi sơn

 Bàn ghế giường tủ các loại, đôn kỷ, án thư, bàn trà, tủ chè, tủ chùa, tủđồng hồ, tủ gương, bàn thờ, tủ cao cấp, hòm (áo quan) cao cấp

 Sản phẩm gỗ mỹ nghệ kết hợp song, mây, tre, trúc, vật liệu khác

 Nhóm sản phẩm gỗ ván nhân tạo

Bao gồm các sản phẩm dạng tấm được sản xuất từ nguyên liệu gỗ và vật liệu

xơ sợi, được quét, tráng, trộn keo và dán ép, ghép nối trong những điều kiện áp suất,

Trang 31

nhiệt độ và thời gian nhất định Các loại ván nhân tạo chủ yếu gồm: ván ghép thanh,ván dán, ván dăm, ván sợi

2.1.3 Năng lực cạnh tranh.

Sự phát triển công nghiệp chế biến gỗ được nhìn nhận qua việc tăng số lượng

cơ sở chế biến, tăng công suất (bao gồm việc mở rộng công suất thiết kế của nhiềudoanh nghiệp) và tăng trưởng nhanh của giá trị kim ngạch xuất khẩu

Trong thời gian qua, ngành chế biến gỗ có bước phát triển rất mạnh Kimngạch xuất khẩu đến hết năm 2013 là 5,37 tỷ USD Việt Nam là nước chế biến gỗ

số 1 Đông Nam Á, số 2 Châu Á và số 6 thế giới10 Theo thống kê của Hiệp hội gỗ vàlâm sản Việt Nam (Hawa), cả nước có hơn 3000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnhvực chế biến gỗ thu hút khoảng 300.000 lao động với nhiều cụm công nghiệp quy

mô tương đối lớn ở Bình Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Quảng Nam…Trong đó, 95% là doanh nghiệp tư nhân, gồm cả doanh nghiệp nước ngoài (FDI)

Dù chỉ chiếm 10% về số lượng nhưng doanh nghiệp FDI lại có vai trò quan trọng,chiếm gần 50% về kim ngạch xuất khẩu, với thiết bị hiện đại, chất lượng sản phẩmcao, ổn định Năng lực chế biến gỗ khoảng 15 triệu m3 gỗ tròn/năm, chủ yếu nhậpkhẩu để đáp ứng nhu cầu chế biến

Nhìn chung quy mô của các xí nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu là các xínghiệp vừa và nhỏ, sản xuất kết hợp giữa thủ công và cơ khí Các doanh nghiệp sảnxuất các mặt hàng đồ gỗ công nghiệp thường có sự đầu tư mới về trang thiết bị vàcông nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất, trong khi đó đại bộ phận các doanh nghiệp sảnxuất đồ gỗ mỹ nghệ có hệ thống thiết bị khá lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầucủa các đơn hàng lớn hay các các thị trường yêu cầu chất lượng cao

Đa số sản phẩm gỗ Việt Nam là sản phẩm có chất lượng trung bình, hướng tớinhóm sản phẩm bình dân giá thấp Tuy nhiên theo nhiều doanh nghiệp tính toán, dochi phí đầu vào quá cao đã đẩy giá hàng đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam cao hơn cácnước khác (thậm chí, một số mặt hàng còn có giá cao hơn hàng sản xuất tại nướcnhập khẩu) nên khó cạnh tranh để giành đơn hàng Giá các sản phẩm của Việt Nam

10 http://www.baodongnai.com.vn/kinhte/201408/che-bien-go-chua-ben-vung-2331277/

Trang 32

cao hơn của Trung Quốc khoảng 20%, do đó sản phẩm Việt Nam đang gặp khókhăn trong cạnh tranh về giá với đối thủ lớn nhất là Trung Quốc Bên cạnh nhữngmặt hàng giá trị thấp, đồ gỗ Việt Nam cũng đã quan tâm phát triển mặt hàng có giátrị cao hơn Sản phẩm gỗ Việt Nam có xu hướng nhấn mạnh tính dân tộc hoặc vănhóa của sản phẩm, tuy nhiên cần xem xét những đặt tính này trong việc xuất khẩu vì

nó có thể có giá trị đối với dân tộc hoặc nền văn hóa này song lại không có ý nghĩa

gì đối với một dân tộc hoặc nền văn hóa khác Thực tế điểm yếu chung của cácdoanh nghiệp Việt Nam là sự nghèo nàn về kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm Nghĩa là

sự sáng tạo của các doanh nghiệp không theo kịp với những thay đổi nhanh chóng

về thị hiếu tiêu dùng Hiện tại, 90% mẫu mã hàng dựa trên mẫu đặt hàng từ ngườimua Ông Đỗ Xuân Lập (Phó Chủ tịch Hiệp hội gỗ và lâm sản Bình Định) nêu ramẫu mã các sản phẩm đồ gỗ của các doanh nghiệp Việt Nam rất giống nhau “Tạinhiều hội chợ quốc tế, khách hàng hầu như không nhận biết sự khác biệt mẫu mãhàng đồ gỗ giữa các doanh nghiệp của Việt Nam Cứ nhìn 19 doanh nghiệp côngnghiệp chế biến gỗ nước ngoài tại Việt Nam thì rõ, doanh nghiệp của chúng ta thìkhó khăn, nhưng họ thì vẫn phát triển và ngày càng mở rộng quy mô sản xuất”

Tuy nhiên sản phẩm đồ gỗ Việt Nam ở các làng nghề rất tinh tế, tận dụngđược trình độ lành nghề của lao động, đặc biệt là các nghệ nhân được đánh giá là tỷ

mỉ, sâu sắc và phong cách nghiêng về Châu Âu nên nhận được sự ưa chuộng củanhiều khách hàng ở các nước khác Đây là một trong những lợi thế cạnh tranh lớn

mà các doanh nghiệp Việt Nam nên nắm bắt và tiếp tục phát triển

1.7.Phân tích chung kết quả xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam trong

thời gian qua.

2.1.4 Phân tích kết quả xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam theo kim

ngạch.

Trong 7 năm, từ năm 2007 đến năm 2013, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm

gỗ của Việt Nam tăng liên tục, năm sau tăng so với năm trước, trung bình khoảng14% (trừ năm 2009, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ giảm nhưng không nhiều doảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ) Năm 2013, kim

Trang 33

ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam đã đạt 3,8 tỷ USD, tăng 12% so với năm

2012, vượt gần 7% so với kế hoạch

Bảng 2-1:Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam giai đoạn 2007-2013

Đơn vị tính: triệu USD

Kim ngạch xuất

khẩu

2.032,4

2.360,6

2.206 2.712,

3

2.851,2

3.394, 9 3.803,

4Tăng trưởng

(%)

Theo tính toán của tác giả11

Sau khi nhà nước chủ trương đổi mới nền kinh tế, đặc biệt kể từ khi nước tagia nhập WTO kể từ năm 2007, xuất nhập khẩu vào nước ta nói chung đều tăng cao.Đối với ngành chế biến gỗ, kể từ năm 2000 đã tăng rất cao Kim ngạch xuất khẩusản phẩm gỗ năm 2013 đạt 3,8 tỷ USD tăng 117,78% so với năm 2007 Kim ngạchcác năm còn lại cũng tăng đều và liên tục Kim ngạch năm 2013 đạt 3,8 tỷ USD,tăng 12,03% so với năm 2012, kim ngạch năm 2012 đạt 3,39 tỷ USD, tăng 19,07%

so với năm 2011, kim ngạch năm 2011 đạt 2,85 tỷ USD tăng 5,12% so với năm

2010, kim ngạch năm 2010 đạt 2,71 tỷ USD, tăng 22,95% so với năm 2009, kimngạch năm 2008 đạt 2,36 tỷ USD, tăng 16,15% so với năm 2007 Riêng năm 2008,cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra ở Mỹ đã nhanh chóng lan rộng ra toàn thế giới.Tuy nhiên, đến năm 2009 ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này mới có biểu hiện rõrệt tại Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng của Việt Nam từcác mặt hàng chủ lực đến các mặt hàng có kim ngạch thấp hơn đều giảm Và giảmmạnh nhất có thể kể đến các mặt hàng như: sắt thép các loại giảm 73,2%, sản phẩmgốm, sứ giảm 22,4%, sản phẩm mây, tre, cói và thảm giảm 20,8% 12 … và tất nhiên,sản phẩm gỗ cũng không ngoại lệ Kim ngạch xuất khẩu gỗ năm 2009 đạt 2,2 tỷ

11 Tổng hợp từ các Ấn phẩm Xuất nhập khẩu hàng hóa từ năm 2007 đến năm 2013 của Tổng cục Thống kê

12 http://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuanLichCongBo/Attachments/476/14b.pdf

Trang 34

USD, giảm 6,555% so với năm 2008 Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu gỗ đã nhanhchóng phục hồi và tăng mạnh vào năm sau, tức năm 2010 với mức tăng trưởng là22,95% Yếu tố giúp thị trường phục hồi được đánh giá là do nhu cầu của thế giớităng trở lại sau một thời gian dài sụt giảm bởi ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàncầu Thị trường gỗ xuất khẩu phục hồi, ngoài nguyên nhân chính là do cầu thế giớităng trở lại, doanh nghiệp Việt nam còn nhận được nhiều hợp đồng xuất khẩu từTrung Quốc chuyển qua Sự dịch chuyển này xuất phát từ việc giá nhân công TrungQuốc tăng, khiến cho các doanh nghiệp chế biến gồ gỗ đang đầu tư tại Trung Quốcphải chuyển sang các nước khác để gia công, trong đó có Việt Nam.

Theo ông Trần Đức Thuấn, Giám đốc Công ty TNHH công thương HưngLong, giá nhân công tại Việt nam hiện nay so với Trung quốc rẻ hơn nên nhiều nhàsản xuất đồ gỗ đã chuyển qua thị trường Việt Nam thuê gia công nhằm giảm chi phígiá thành Chính vì vậy số lượng đơn hàng sản xuất gỗ xuất khẩu cũng vì thế màtăng cao tại thời điểm này Thêm vào đó, nếu so sánh yếu tố chất lượng, có thểkhẳng định sản phẩm đồ gỗ Việt Nam ngày càng có chỗ đứng trên thị trường vàđược người tiêu dùng ưa chuộng do đã đầu tư dây chuyền công nghệ và nhân côngthì có tay nghề cao "Việt Nam có một nguồn nguyên liệu dồi dào, cộng thêm nhâncông chi phí hợp lý và thợ lành nghề vì nghề gỗ có ở Việt Nam rất lâu đời rồi Hơnnữa trước đây nghề gỗ làm manh mún nhưng hiện nay nhiều doanh nghiệp đã làm

ăn lớn Nên nếu trước đây thế giới chỉ quan tâm đến đồ gỗ tại Thái Lan, TrungQuốc và các nước lân cận nhưng khi vào nước ta thấy sản phẩm của Việt Nam rấttốt và có sự cạnh tranh hơn so với nước bạn nên các đơn hàng do đó đã chuyển sangViệt Nam", ông Thuấn khẳng định

Thực tế này đang mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và ngành gỗ xuấtkhẩu của Việt Nam cạnh tranh với các nước khác và hoàn toàn có thể tìm cho mìnhmột chỗ đứng vững chắc trên trường thế giới

2.1.5 Phân tích kết quả xuất khẩu sản phẩm gỗ theo chủng loại.

Về mặt hàng xuất khẩu, giá trị xuất khẩu chiếm tỷ lệ lớn là sản phẩm nội thấttrong nhà và ngoài trời Hiện nay, xuất khẩu các sản phẩm gỗ nước ta đứng thứ nhất

Trang 35

Đông Nam Á, thứ hai Châu Á và thứ sáu của thế giới Ông Nguyễn Chiến Thắng,Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (Hawa) cho biết, xu thế chung hiệnnay là sản phẩm đồ gỗ nội thất so với đồ gỗ ngoài trời của các doanh nghiệp đangtăng dần qua từng năm, có giá trị cao hơn, nhưng cũng đòi hỏi nhiều hơn về chấtlượng và các chi tiết Nếu như Malaysia có thế mạnh về nguyên liệu gỗ cao su vàsắt thép, Thái Lan mạnh về chế biến nguyên liệu gỗ cao su và da, Indonesia ngoàichế biến nguyên liệu gỗ còn có mây, tre, lá thì Việt Nam lại có thế mạnh tay nghềlao động, nhất là thế mạnh về kỹ thuật, cấu trúc kỹ thuật trên sản phẩm gỗ thiênnhiên Do vậy, doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam có thể đáp ứng bất kỳ yêu cầunào về mẫu mã mà nhà nhập khẩu cần Đặc biệt, doanh nghiệp Việt Nam không chỉcạnh tranh mạnh thị phần đồ gỗ ngoài trời mà còn lấn sân đồ gỗ chế biến nội thất vàđạt được những thành công nhất định Đến nay, hơn 70% sản phẩm gỗ xuất khẩucủa Việt Nam sang các thị trường khác là các sản phẩm gỗ nội thất.

Bảng 2-2: Cơ cấu các chủng loại sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn

Trang 36

sản phẩm ngoại thất do nhu cầu các sản phẩm này trên thị trường thế giới đangtăng nhanh.

Cũng giống như xu hướng chung, về sản phẩm, đến hơn 70% tỷ trọng kimngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ vào Mỹ là đồ nội thất dùng trong phòng ngủ; tiếp đến

là đồ nội thất dùng trong phòng khách, phòng ăn chiếm 15%; đồ nội thất văn phòngchiếm 10%…Theo số liệu thống kê của Hải quan Mỹ trong năm 2010, kim ngạchnhập khẩu đồ nội thất của thị trường này giảm 20,5%, trong khi nhập khẩu từ ViệtNam chỉ giảm 3,5% Trong bốn tháng đầu năm 2010, nhập khẩu đồ nội thất của Mỹtăng 17,7%, thì nhập khẩu từ thị trường Việt Nam tăng tới 23,6%13 Điều này chothấy khả năng cạnh tranh của sản phẩm nội thất Việt Nam trên thị trường Mỹ đangtăng Đây là tiền đề tốt để đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ sang thị trường này vàtất nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng điều này trong những năm tiếptheo

Tại thị trường EU, xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam trong năm 2009 sụtgiảm mạnh do kinh tế khủng hoảng khiến người dân có xu hướng chuyển sang sửdụng các sản phẩm giá thành thấp hơn khiến xuất khẩu sản phẩm gỗ cao cấp sụtgiảm mạnh Đây là một trong những nguyên nhân kéo kim ngạch xuất khẩu sảnphẩm gỗ sang thị trường này sụt giảm Tuy nhiên vào năm 2010, nhập khẩu đồ nộithất của EU từ các thị trường ngoại khối đã tăng, và xuất khẩu sản phẩm gỗ của ViệtNam vào thị trường này cũng tăng

Bảng 2-3: Cơ cấu các chủng loại sản phẩm gỗ xuất khẩu vào thị trường EU năm

Trang 37

Nguồn: Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM

Trong năm 2010, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng nội thất phòng ngủ của ViệtNam vào thị trường EU đạt cao nhất với 365 triệu USD, tăng 27,6% so với năm

2007 và chiếm 46,1% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thịtrường này trong năm Tiếp đến là đồ nội thất dùng trong phòng khách và phòng ăn,với kim ngạch xuất khẩu trong năm 2010 đạt 192 triệu USD, tăng 7,9% so với năm

2008 và chiếm 24,3% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thịtrường này trong năm Các mặt hàng đồ nội thất dùng trong phòng khách và phòng

ăn xuất khẩu chính vào thị trường EU trong năm 2010 là : bàn ghế, tủ, bàn ăn, kệ

TV, kệ, Tủ búp phê, Bàn cà phê, tủ chén, tủ rượu, kệ sách… Kim ngạch xuất khẩughế gỗ của Việt Nam vào thị trường EU trong năm 2010 đạt 114 triệu USD, tăng94,8% so với năm 2009 và chiếm 14,4% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của

cả nước vào thị trường này trong năm, trong khi tỷ lệ này của năm 2009 là 9,2%.Nhìn lại những năm trước, đồ nội thất dùng trong phòng ngủ của Việt Nam chủ yếu

là xuất khẩu vào thị trường Mỹ, nhưng trong năm 2010, khi mà xuất khẩu nhómhàng này vào thị trường Mỹ đang chững lại, thì sự tăng trưởng về kim ngạch xuấtkhẩu đồ nội thất dùng trong phòng ngủ của Việt Nam vào thị trường EU là tín hiệutốt, các doanh nghiệp cần tập trung khai thác tốt nhằm đa dạng hoá thị trường xuấtkhẩu

Có xu hướng giống như thị trường Mỹ và EU, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm

gỗ qua các thị trường lớn khác của Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Canadađều tập trung chủ yếu vào mặt hàng gỗ nội thất dùng trong phòng ngủ, phòngkhách, phòng ăn và văn phòng Tiếp đó là các mặt hàng ngoại thất, đồ gỗ mỹ nghệ

và các sản phẩm khác Theo dự báo của Cục xúc tiến thương mại, dựa trên các sốliệu thống kê từ CSIL tổng hợp từ Liên hợp quốc, Eurostat và số liệu các nước thìtiềm năng xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Việt Nam là rất cao khi mà các thị trườnglớn trên thế giới về nhu cầu nhập khẩu đồ gỗ nội thất như Mỹ, Đức, Pháp, Anh,Canada… đều tăng cao14

14 http://www.vietrade.gov.vn/ni-tht/4606-trien-vong-thi-truong-do-go-noi-that-nam-2014.html

Trang 38

2.1.6 Phân tích kết quả xuất khẩu sản phẩm gỗ theo thị trường.

Thị trường xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam cũng đã có nhiều chuyển biến mạnh

mẽ trong những năm gần đây Từ chỗ tập trung vào các thị trường trung chuyển nhưĐài Loan, Singapore, Hàn Quốc… để tái xuất sang nước thứ ba, đến nay nhiềudoanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường tiêu dùng Năm

2012, sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên 100 quốc gia và vùnglãnh thổ

Bảng 2-4: 10 thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam lớn nhất năm 2013

Đơn vị tính: triệu USD

Theo tính toán của tác giả15

Theo báo cáo của Tổng cục thống kê, năm 2013, kim ngạch xuất khẩu sảnphẩm gỗ của Việt Nam đạt 3,8 tỷ USD, tăng 12,03% so với cùng kỳ năm 2012 Mỹ

là thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ chủ lực của Việt Nam, đạt kim ngạch xuất khẩu1,75 tỷ USD, tăng 23,31% so với năm 2012 và chiếm 45,9% tỷ trọng Năm 2008,kinh tế Mỹ đang rơi vào suy thoái sâu đồng nghĩa với việc người dân Mỹ cắt giảmnhu cầu tiêu dùng Tuy nhiên, vì có những đơn hàng được đặt trước nên kim ngạchxuất khẩu vào thị trường này vẫn tăng mạnh Trong năm 2009, khi mà ảnh hưởngcủa cuộc khủng hoảng tài chính chính thức ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam

Trang 39

dẫn đến tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành gỗ giảm sút, thì xuất khẩu vào thịtrường Mỹ vẫn tăng 6,2% Trong năm 2010, xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Namvào thị trường này tăng 33,15% và vẫn tiếp tục tăng vào các năm sau Trong tươnglai, Mỹ sẽ giữ vững vị trí đứng đầu trong các thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗViệt Nam.

Nhật Bản là nhà nhập khẩu sản phẩm gỗ lớn thứ 2 của Việt Nam với tốc độtăng trưởng về kim ngạch của thị trường cũng tăng đều qua các năm Tổng kimngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Nhật Bản cả năm 2013 đạt 405,2 triệu USD,tăng 12,21% so cùng kỳ năm ngoái Cũng như thị trường Mỹ, mặc dù ảnh hưởngcủa khoảng hoảng tài chính, kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản vẫn không giảm

mà còn tăng nhẹ, tăng 2,82% Và sau đó tăng đều qua các năm với mức tăng trưởngtrung bình khoảng 18% một năm và vẫn sẽ tiếp tục tăng trong tương lai

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường EU trong năm

2013 đạt 1,09 tỷ USD, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm 2012 và chiếm 28,68% tổngkim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của cả nước trong năm Trong đó, sản phẩm gỗxuất sang Anh đạt cao nhất đạt 185 triệu USD; sản phẩm gỗ sang Đức, Pháp, HàLan là những thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ lớn của Việt Nam tăng khá, một sốthị trường nhỏ nhưng đầy tiềm năng là Thuỵ Điển, Phần Lan, Hy Lạp tăng rấtmạnh… Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang một số thị trường lại sụtgiảm như Bỉ, CH Ai Len… Nhìn lại năm 2012, xuất khẩu sản phẩm gỗ của ViệtNam vào thị trường EU chiếm 26,4% , thì trong năm 2013, tỷ lệ này đã tăng lên28,3% và tiếp tục tăng trong những năm sau Trong số 28 thành viên EU, các nướcĐức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Italia, Hà Lan, Thuỵ Điển là những thị trường nộithất lớn nhất với mức tiêu thụ hàng năm chiếm 70% - 80% tổng tiêu dùng hàng nộithất của EU

Trang 40

Hà Lan Trung Quốc

Nguồn: Tổng cục hải quan

đã được nhà nhập khẩu đặt hàng ngày càng nhiều hơn Giờ đây, ở khu vực Đông

Ngày đăng: 31/03/2018, 13:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Xuân Lưu, Giáo trình kinh tế ngoại thương, NXB Giáo Dục, 1997 Khác
2. Đoàn Thị Hồng Vân – Kim Ngọc Đạt, Quản trị xuất nhập khẩu, NXB Tổng hợp TP HCM, 2013 Khác
3. Hoàng Thị Chỉnh (Chủ biên), Giáo trình kinh tế quốc tế, NXB Thống Kê, 2005 Khác
4. Nguyễn Thị Liên Diệp, Quản trị học, NXB Thống Kê, 2012 Khác
5. Võ Thanh Thu, Kỹ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu, NXB Lao động – Xã hội, 2006 Khác
6. Vũ Hữu Tửu , Giáo trình kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương, NXB Giáo Dục, 2007 Khác
8. Nghị định Chính Phủ số 30/CP về quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất, nhập khẩu Khác
9. Nghị định số 12/2011/QĐ-TTg của Thủ thướng Chính Phủ về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ Khác
10. Trang Web của Tổng cục Hải Quan Việt Nam Các trang web đã tham khảo khác Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w