BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y LÊ VĂN TRUNG KHẢO SÁT KHẢ NĂNG BẢO HỘ SAU TIÊM PHÒNG VẮC XIN NHŨ DẦU TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG BẢO HỘ SAU TIÊM PHÒNG VẮC XIN NHŨ DẦU TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ CHỦNG P52 TRÊN BÒ SỮA TẠI MỘT SỐ QUẬN, HUYỆN
THUỘC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sinh viên thực hiện: LÊ VĂN TRUNG Lớp: DH07DY
Ngành: Dược Thú Y Niên khóa: 2007 – 2012
Tháng 08/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
LÊ VĂN TRUNG
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG BẢO HỘ SAU TIÊM PHÒNG VẮC XIN NHŨ DẦU TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ CHỦNG P52 TRÊN BÒ SỮA TẠI MỘT SỐ QUẬN, HUYỆN
THUỘC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn
TS LÊ ANH PHỤNG
Tháng 08/2012
Trang 3i
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực hiện: LÊ VĂN TRUNG
Tên luận văn: “Khảo sát khả năng bảo hộ sau tiêm phòng vắc xin nhũ dầu tụ
huyết trùng trâu bò chủng P52 trên bò sữa tại một số quận, huyện thuộc Tp HCM”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến
đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa Chăn nuôi – Thú y, trường đại học
Nông Lâm Tp HCM
Ngày tháng năm 2012 Giáo viên hướng dẫn
Trang 4ii
LỜI CẢM TẠ
Chúng tôi chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu trường đại học Nông Lâm Tp HCM
Ban chủ nhiệm khoa và quý Thầy Cô trong Khoa Chăn nuôi – Thú y cũng như các Thầy
Cô của trường đại học nông lâm Tp HCM
Đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức và những kinh nghiệm quý báu cho chúng tôi trong suốt quãng đời sinh viên
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến:
Xin chân thành cảm ơn:
Ban lãnh đạo chi cục thú y Tp HCM
Ban lãnh đạo công ty thuốc thú y NAVETCO
Đã tạo điều kiện và giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian thực tập tốt ngiệp
Tôi cũng xin cảm ơn các bạn lớp Dược Y 33 đã cùng tôi trãi qua thời gian dài học tập, cùng tôi sẻ chia những buồn vui, khó khăn và vất vả trong suốt những năm qua cũng như trong quá trình thực hiện đề tài
Sau hết tôi xin dành tình cảm chân thành của mình gửi đến những người bạn thân thuộc đã luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong suốt quãng thời gian dài
Lê Văn Trung
Trang 5iii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài nghiên cứu “Khảo sát khả năng bảo hộ sau tiêm phòng vắc xin nhũ dầu tụ
huyết trùng trâu bò chủng P52 trên bò sữa tại một số quận, huyện thuộc Tp HCM” được tiến hành tại Trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị thuộc Chi Cục Thú Y Tp HCM và công ty thuốc thú y Trung Ương II – NAVETCO thời gian từ tháng 01/2012 đến tháng 07/2012 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu nghiên cứu cắt ngang xác định kháng thể trong huyết thanh bò sữa sau tiêm phòng ở một số quận, huyện thuộc Tp HCM (ngoại thành: Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi và quận ven: quận 12, Bình Tân, Thủ Đức, quận 9) bằng kỹ thuật ELISA Kết quả thu được:
Tỷ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ là 81,25%
Tỷ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ trên bò sữa ở khu vực ngoại thành là 81,85%, khu vực quận ven là 80,15%
Tỷ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ trên bò sữa ở thời điểm 3 tháng sau tiêm phòng là 85,22%, 6 tháng là 75,32%
Tỷ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ trên bò sữa thấp nhất là bò sữa 6 – < 24 tháng tuổi (78,43%), kế đến là bò sữa > 36 tháng tuổi (81,75%) và cao nhất là bò sữa 24 – 36 tháng tuổi (84,76%)
Tỷ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ trên bò sữa cao nhất ở quy mô chăn nuôi 10 – 20 con (84,06%), kế đến là quy mô > 20 con (80,20%), và thấp nhất ở quy mô < 10 con (77,27%)
Tỷ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ trên bò sữa cao nhất ở nhóm máu lai F3 (86,14%), kế đến là F2 (77,61%) và thấp nhất ở thế hệ F1 (76,47%)
Trang 6iv
MỤC LỤC
Trang Trang tựa
Phiếu xác nhận của giáo viên hướng dẫn i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt khóa luận iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các bảng xiii
Danh sách các hình ix
Danh sách các sơ đồ và biểu đồ ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Lịch sử bệnh tụ huyết trùng trâu bò 3
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh trên thế giới 3
2.1.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước 4
2.2 Một số đặc điểm dịch tễ học 4
2.2.1 Phân bố bệnh trên thế giới 4
2.2.2 Phân bố bệnh trong nước 4
2.2.3 Động vật cảm thụ 6
2.3 Bệnh tụ huyết trùng trâu bò 6
Trang 7v
2.3.1 Phân loại, đặc điểm hình thái và nhuộm màu vi khuẩn 6
2.3.2 Đặc điểm nuôi cấy 7
2.3.3 Đặc tính sinh hóa 8
2.3.4 Cấu trúc kháng nguyên và độc tố 9
2.3.5 Khả năng tồn tại của vi khuẩn 10
2.3.6 Cách sinh bệnh và lây lan 11
2.3.7 Chẩn đoán bệnh tụ huyết trùng trâu bò 12
2.4 Điều trị và phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò 12
2.4.1 Điều trị 12
2.4.2 Phòng bệnh 13
2.5 Vắc xin và miễn dịch 14
2.5.1 Vắc xin 14
2.5.2 Miễn dịch 15
2.5.3 Các yếu tố ảnh hướng đến khả năng đáp ứng miễn dịch của thú sau tiêm phòng vắc xin 17
2.6 Sơ lược sản xuất và sử dụng vắc xin tụ huyết trùng trâu bò ở Việt Nam 17
2.7 Một số phương pháp kiểm tra đáp ứng miễn dịch 20
2.7.1 Phương pháp bảo hộ thụ động trên chuột (Passive Mouse Protection Test – PMPT) 20
2.7.2 Kỹ thuật ELISA (Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay) 20
2.8 Một số công trình có liên quan 21
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Thời gian và địa điểm 22
3.2 Đối tượng nghiên cứu 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Dụng cụ và hóa chất 22
Trang 8vi
3.4.2 Phương pháp tiến hành 23
3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi 29
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Tỷ lệ bò sữa có kháng thể đạt bảo hộ sau tiêm phòng vắc xin nhũ dầu tụ huyết trùng trâu bò chủng P52 31
4.2 Tỷ lệ bảo hộ bệnh tụ huyết trùng trên bò sữa đã tiêm phòng ở các thời điểm khảo sát 33
4.3 Tỷ lệ bảo hộ bệnh tụ huyết trùng trên bò sữa theo lứa tuổi khảo sát 34
4.4 Tỷ lệ bảo hộ bệnh tụ huyết trùng trên bò sữa theo khu vực khảo sát 35
4.5 Tỷ lệ bảo hộ bệnh tụ huyết trùng trên bò sữa ở các thời điểm khảo sát theo khu vực 37
4.6 Tỷ lệ bảo hộ bệnh tụ huyết trùng trên bò sữa theo quy mô chăn nuôi 39
4.7 Tỷ lệ bảo hộ bệnh tụ huyết trùng bò sữa theo nhóm máu lai 40
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC 47
Trang 9PBST : phosphate buffer saline Tween
PMPT : Passive Mouse Protection test
YPC : yeast extract pepton L – cystine
Trang 10viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Một số đặc tính sinh hóa của P multocida 9
Bảng3.1 Phân bố mẫu huyết thanh bò sữa kiểm tra kháng thể tụ huyết trùng 24
Bảng 4.1 Tỷ lệ mẫu huyết thanh bò sữa có kháng thể đạt bảo hộ 31
Bảng 4.2 Tỷ lệ mẫu huyết thanh bò sữa có kháng thể đạt bảo hộ ở các thời điểm khảo
sát 33
Bảng 4.3 Tỷ lệ mẫu huyết thanh bò sữa có kháng thể đạt bảo hộ theo lứa tuổi 34
Bảng 4.4 Tỷ lệ mẫu huyết thanh bò sữa có kháng thể đạt bảo hộ theo khu vực 35
Bảng 4.5 Tỷ lệ mẫu huyết thanh bò sữa có kháng thể đạt bảo hộ ở các thời điểm khảo
sát theo khu vực 38
Bảng 4.6 Tỷ lệ huyết thanh bò sữa có kháng thể bảo hộ theo quy mô chăn nuôi 39
Bảng 4.7 Tỷ lệ mẫu huyết thanh bò sữa có kháng thể đạt bảo hộ theo nhóm máu lai 40
Trang 11ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Vắc xin tụ huyết trùng trâu bò chủng P52 của NAVETCO 19
Hình 3.1 Mẫu huyết thanh dương tính ELISA 25
Hình 3.2 Mẫu huyết thanh âm tính ELISA 26
DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ Trang Sơ đồ 2.1 Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn P multocida 11
Sơ đồ 3.1 Tóm tắt quy trình kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể kháng
P multocida 27
Sơ đồ 3.2 Các bước tiến hành kỹ thuật ELISA gián tiếp 28
Biểu đồ 4.1 Hiệu quả bảo hộ của vắc xin tụ huyết trùng nhũ dầu chủng P52 32
Trang 121
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Bệnh tụ huyết trùng trâu bò được Bollinger thông báo lần đầu tiên tại Đức năm
1878 Hiện nay bệnh xảy ra ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước thuộc châu Á
và châu Phi Tại châu Á vi khuẩn gây bệnh là Pasteurella multocida serotype B:2, trong khi đó ở châu Phi là P multocida serotype E:2 (theo phân loại của Carter – Heddleston,
OIE, 2004) Ở Việt Nam bệnh được phát hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XIX (Phan Đình Đỗ, Trịnh Văn Thịnh, 1958) Đến nay bệnh được ghi nhận có mặt ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước và gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi trâu bò Một số nước trong vùng như: Indonesia, Philippine, Malaysia, Thái Lan… hàng năm đều có thông báo bệnh tụ huyết trùng trên đàn trâu bò nuôi và thiệt hại do bệnh gây ra
Bệnh có thể được điều trị bằng kháng sinh, tuy nhiên do đặc điểm bệnh diễn biến nhanh, tính đề kháng thuốc của vi khuẩn ngày càng tăng nên việc điều trị bệnh thường không mang lại hiệu quả cao Vì vậy, tiêm phòng vắc xin là biện pháp phòng bệnh có hiệu quả nhất trong phòng chống bệnh tụ huyết trùng trâu bò Bệnh tụ huyết trùng trâu
bò là đối tượng bệnh được quan tâm của ngành thú y, bệnh thuộc danh mục các bệnh phải công bố dịch và tiêm phòng bắt buộc theo quy định của Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn (theo quyết định số 63/2005/QĐ – BNN, ngày 25/03/2005)
Nhận thức được vai trò quan trọng của phòng bệnh bằng vắc xin, từ phát hiện của Pasteur về vắc xin tụ huyết trùng gia cầm, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và sản xuất thành công vắc xin tụ huyết trùng, trong đó có vắc xin tụ huyết trùng trâu bò Hiện nay một số loại vắc xin tụ huyết trùng đã được sản xuất như bacterin, vắc xin với chất bổ trợ keo phèn, phèn chua và vắc xin nhũ dầu
Thực tế đặt ra một yêu cầu là phải nâng cao hiệu quả tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng cho đàn trâu bò trong cả nước nói chung và một số quận, huyện thuộc thành phố
Trang 132
Hồ Chí Minh nói riêng, được sự hướng dẫn của TS Lê Anh Phụng và ThS Huỳnh Thị Thu Hương cùng sự chấp thuận của Trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị thuộc Chi Cục Thú Y Tp HCM và công ty thuốc thú y Trung Ương II – NAVETCO, chúng
tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát khả năng bảo hộ sau tiêm phòng vắc xin nhũ dầu tụ huyết trùng trâu bò chủng P52 trên bò sữa tại một số quận, huyện thuộc Tp HCM”
Khảo sát tỷ lệ bò sữa có kháng thể bảo hộ theo một số yếu tố như: khu vực, tuổi,
thời điểm sau tiêm phòng, theo quy mô chăn nuôi, theo nhóm máu lai (F1, F2, F3)
Trang 143
Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Lịch sử bệnh tụ huyết trùng trâu bò
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh trên thế giới
Năm 1878, lần đầu tiên bệnh tụ huyết trùng được Perronit và Seaner phát hiện
trên gà và cũng năm này Bollinger (Đức) đã phát hiện bệnh này trên một số loài vật
huyết trùng Năm 1885, Kitt đã tiến hành nuôi cấy, phân lập vi khuẩn và ông đã gây
bệnh thành công cho chuột và chim bồ câu Loeuffler (1886) cũng phát hiện được bệnh
tụ huyết trùng trên heo Cùng năm này, Hueppe (Đức) đã nghiên cứu và nhận thấy có
sự giống nhau về đặc điểm bệnh lý bại huyết, xuất huyết (haemorrhagic septicaemia) trong bệnh tụ huyết trùng trên gà, thỏ và heo, do đó ông gọi chung là vi khuẩn gây bại
huyết, xuất huyết (Bacterium septicaemia haemorrhagic)
Đến năm 1887, Trevisan đổi tên cho vi khuẩn là Pasteurella để ghi nhớ công
lao của Louis Pasteur, người đã có nhiều đóng góp vào việc phát hiện ra vi khuẩn này
Tên của vi khuẩn được đặt dựa trên các ký chủ mà chúng gây bệnh như Pasteurella
aviseptica (trên loài cầm), Pasteurella suiseptica (trên heo), Pasteurella boviseptica
(trên bò), Pasteurella oviseptica (trên cừu) và Pasteurella lepseptica (trên thỏ)
Năm 1929, Toyley và Wilson đề nghị đặt tên cho vi khuẩn là Pasteurella septic Sau đó, đến năm 1939, Rosenbusch và Merchant đề nghị đặt tên cho vi khuẩn là P
multocida
Trang 154
2.1.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước
Bệnh tụ huyết trùng trâu bò được phát hiện ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ XIX Năm 1868, Condamine lần đầu tiên phát hiện ra một bệnh truyền nhiễm trên trâu ở Bà Rịa, Long Thành Sau đó, năm 1869 Carnieim phát hiện bệnh ở Gò Công tỉnh Tiền
Giang (Trích dẫn của Trần Thanh Phong, 2003)
Năm 1901, Schein bằng phương pháp phân lập và tiêm truyền qua động vật thí nghiệm đã xác định được nguyên nhân gây ra ổ dịch trên trâu bò ở Tây Ninh là do vi khuẩn tụ huyết trùng (Trích dẫn của Đoàn Thị Băng Tâm, 1987)
2.2 Một số đặc điểm dịch tễ học
2.2.1 Phân bố bệnh trên thế giới
Bệnh tụ huyết trùng trâu bò phân bố ở nhiều vùng trên thế giới Ở châu Âu, bệnh xảy ra ở Italia, Rumani và ở Anh, thường tập trung vào tháng 9 đến tháng 12 (Gilmour, 1992) Ở châu Phi bệnh thường xảy ra ở vùng ẩm ướt, nhiều đầm lầy và những vùng quanh năm chỉ một mùa Tại châu Á, bệnh xảy ra phổ biến ở các nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan,…và xảy ra quanh năm, tập trung vào những tháng giao mùa và mùa mưa Sri Lanka là một trong những nước có tỷ lệ trâu bò bị bệnh tụ huyết trùng nhiều nhất (tỷ lệ trâu bị bệnh là 45,2%, cao hơn nhiều so với bò bị bệnh là 15,8% và tỷ lệ tử vong có thể đến 64,5%) (De Alwis, 1992)
2.2.2 Phân bố bệnh trong nước
Tại Việt Nam, bệnh tụ huyết trùng trâu bò có ở hầu hết các vùng, miền và xảy ra
lẻ tẻ quanh năm Theo thống kê 10 năm từ 1986 đến 1995 dịch bệnh tụ huyết trùng trâu
bò là nguyên nhân gây chết hơn 70% số trâu bò chết hàng năm (Dương Thế Long, 1994)
Trang 165
Miền Bắc
Khu vực miền Bắc, bệnh xuất hiện quanh năm nhưng tập trung vào các tháng mưa nhiều, cao điểm từ tháng 7 đến tháng 9 và khoảng 82% số ổ dịch xuất hiện tại các tỉnh phía Bắc vào tháng 8 – 9, trong khi đó ở các tỉnh phía Nam dịch thường xuất hiện
từ tháng 4 – 10 và số ổ dịch quan sát được từ tháng 7 đến tháng 9 chiếm 78% số ổ dịch trong cả năm (Bùi Quý Huy, 1998) Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, dịch bệnh tụ huyết trùng trâu bò phát triển mạnh vào lúc giao mùa, chuyển mùa đột ngột hoặc có mưa nhiều, trời rét đậm Những điều kiện như vậy dễ dẫn đến giảm sức đề kháng của vật nuôi, trong khi đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát tán của mầm bệnh và bệnh xuất hiện với cường độ cao Tại Lạng Sơn bệnh tụ huyết trùng trâu bò thường bắt đầu vào tháng 4, đỉnh cao là tháng 6 và giảm đến mức thấp nhất vào tháng 10 hàng năm
Số lượng trâu bò chết tại tỉnh Lạng Sơn trong vòng 6 năm từ 1991 đến 1996 cũng rất cao, lên tới 8.000 con, có huyện chỉ trong một ổ dịch đã chết gần 2.000 con (Đỗ Được, 1998) Trong khi đó tại tỉnh Sơn La thì số lượng trâu bò chết do bệnh tụ huyết trùng từ năm 1980 đến 1993 biến động từ 21 đến 155 con/tháng (Dương Thế Long, 1994)
Miền Trung
Bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại các tỉnh miền Trung xảy ra chủ yếu vào lúc giao mùa (tháng 3 – 5 và tháng 9 – 10), tỷ lệ trâu bò bị bệnh trong thời gian này chiếm khoảng 70% tổng số trâu bò mắc bệnh trong năm (Nguyễn Ngã và ctv, 1995) Tại Đắc Lắc, mùa dịch bệnh tụ huyết trùng trâu bò là tháng 5 – 6 và tháng 8 – 9 trong năm, các yếu tố khí hậu thời tiết có tác động đến bệnh tụ huyết trùng gia súc, trong đó ảnh hưởng lượng mưa đến số gia súc bệnh là rõ nhất (Cao Văn Hồng và ctv, 2002)
Trang 176
Miền Nam
Tại một số tỉnh phía Nam, bệnh tụ huyết trùng trâu bò cũng là nguyên nhân gây chết hàng nghìn trâu bò nuôi mỗi năm ở Long An, Kiên Giang, Bình Phước Những năm gần đây dịch bệnh xảy ra có ít hơn, nhưng thiệt hại do bệnh vẫn ở mức độ đáng lo ngại cho ngành chăn nuôi trâu bò (Nguyễn Vĩnh Phước và ctv, 1979)
2.2.3 Động vật cảm thụ
Trâu và bò là những loài mắc bệnh chủ yếu, trâu bị nhiều và nặng hơn bò Về lứa tuổi, trâu bò non (6 tháng – 2, 3 tuổi) dễ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao nhất
Các loài động vật khác nhau có sự mẫn cảm khác nhau đối với vi khuẩn gây bệnh
tụ huyết trùng trâu, bò Mức độ mẫn cảm của các loài động vật khi thí nghiệm với vi
khuẩn P multocida thuộc serotype B:2 được trình bày theo thứ tự giảm dần như sau:
thỏ – chuột bạch – trâu, bò – chuột lang – bồ câu – heo – ngựa – cừu, dê – chó (Bain và ctv, 1982)
Một số ổ dịch tụ huyết trùng trâu, bò có thể xảy ra đồng thời với bệnh tụ huyết trùng ở heo và ngựa Tại Quảng Ninh đã xác nhận xác heo rừng chết trong ổ dịch tụ huyết trùng trâu, bò (Bùi Quý Huy, 1998)
2.3 Bệnh tụ huyết trùng trâu bò
2.3.1 Phân loại, đặc điểm hình thái và nhuộm màu vi khuẩn
Bệnh tụ huyết trùng do vi khuẩn thuộc bộ Eubacteriales, họ Pasteurellaceae, giống Pasteurella, loài P multocida gây ra
Vi khuẩn P multocida là một trực khuẩn nhỏ, ngắn, hình trứng, bầu dục hay hình
cầu (cầu trực khuẩn), kích thước thay đổi từ 0,3 – 0,4 µm x 0,6 – 2,5 µm, gram âm, không sinh bào tử, không di động, có nội độc tố, có giáp mô mỏng, bề dày của giáp mô thay đổi tùy theo serotype (rõ nhất là ở type A và D) Trong mô bào động vật mắc bệnh,
vi khuẩn P multocida thường ở dạng đồng nhất nhưng trong môi trường nuôi dưỡng
Trang 187
nhân tạo thì hình dạng của P multocida thường rất khác nhau (hình que, hình cầu, hình
trứng)
Vi khuẩn P multocida có một đặc tính đặc biệt là khi được nhuộm bằng phương
pháp nhuộm Wright hoặc Giemsa tiêu bản làm từ máu, tế bào bị bệnh hoặc vi khuẩn mới phân lập thì vi khuẩn sẽ bắt màu lưỡng cực Tuy nhiên, khi nuôi cấy vi khuẩn trên môi trường nhân tạo thì đặc tính này không ổn định Đặc tính này đã được Manniger (1919) giải thích là khi đang ở giai đoạn sinh sản, vi khuẩn gia tăng về kích thước để phân chia, nguyên sinh chất tập trung về hai đầu nên khi tiến hành nhuộm, hai đầu của
vi khuẩn thường bắt màu đậm hơn
2.3.2 Đặc điểm nuôi cấy
Vi khuẩn P multocida thuộc loại hiếu khí tùy nghi hoặc yếm khí không bắt buộc,
nhiệt độ thích hợp là 37 – 380 C với pH : 7,2 – 7,4
Môi trường tốt nhất cho vi khuẩn P multocida phát triển là môi trường YPC
(yeast extract pepton L – cystine) có thêm sucrose và sodium sulfit (Na2SO4) Vi khuẩn
P multocida phát triển trên môi trường YPC thạch máu sẽ tạo nhiều kháng nguyên quan
trọng hơn là cấy trên các môi trường tổng hợp khác Đây cũng là môi trường giúp tái tạo
giáp mô của vi khuẩn Vi khuẩn P multocida còn có khả năng mọc tốt trong môi trường chế từ đậu phụ Tuy nhiên vi khuẩn P multocida không phát triển trên môi trường thạch
Mac Conkey (Namioka và Murata, 1961; trích dẫn của Tô Minh Châu và Trần Thị Bích Liên, 2006)
Trên môi trường canh dinh dưỡng, trong điều kiện nuôi cấy tĩnh, ở 370 C trong
24 giờ, vi khuẩn mọc gây vẩn đục, khi lắc có vẩn sương mù Khuẩn lạc có mùi đặc biệt giống mùi tanh nước dãi khô Vi khuẩn mọc tốt nếu thêm vào môi trường vài giọt huyết thanh
Đối với môi trường thạch thường, P multocida thường mọc rất yếu nhưng lại
mọc rất tốt trên môi trường có bổ sung 5 – 19 % máu thỏ Trên hai môi trường này sau
Trang 198
24 giờ nuôi cấy, P multocida phát triển thành 3 dạng khuẩn lạc S, R, M nhỏ, tròn, long
lanh như hạt sương Nếu để vài ngày sau, khuẩn lạc sẽ phát triển to hơn và có màu trắng đục, trong vài ngày khuẩn lạc chuyển sang màu trắng ngà dính vào môi trường
Môi trường Hottinger cũng rất tốt cho vi khuẩn P multocida phát triển Trong môi trường Hottinger có bổ sung thêm đường, tụy đệm, P multocida phát triển mạnh và
có thể đạt đựơc nồng độ cao Nuôi cấy có sục khí có thể làm tăng sinh khối vi khuẩn lên gấp 20 lần so với nuôi cấy tĩnh Sục khí bằng hỗn hợp khí có tỷ lệ CO2 và O2 khác nhau cũng tác dụng như sục khí bằng không khí thường Nuôi cấy động trên máy lắc vi khuẩn cần 12 giờ để đạt tới pha dừng, còn nuôi cấy có sục khí và khuấy đảo liên tục trong fermentor bằng công nghệ lên men hiện đại chỉ cần 5 – 6 giờ đã đạt mức phát triển tối
đa (Trần Đình Từ và ctv, 2000)
2.3.3 Đặc tính sinh hóa
Về đặc điểm sinh hóa học của P multocida đã có nhiều tác giả nghiên cứu
Vi khuẩn P multocida sinh oxydase, catalase và indole, khử nitrate Nó không
sản xuất urease hoặc sinh H2S, không sử dụng citrate hoặc làm tan chảy gelatin Lên men glucose và sucrose tạo acid nhưng không sinh hơi Đa số chủng vi khuẩn lên men sorbitol, một số chủng lên men arabinose, xylose và maltose, trong khi salicin và lactose không bao giờ lên men (Lê Anh Phụng, 2011)
Trang 20Catalase + Oxydase + Gelatin _ Glucose + Lactose _ Succrose + Maltose _
(Nguồn: Tô Minh Châu, Trần Thị Bích Liên,1999)
2.3.4 Cấu trúc kháng nguyên và độc tố
P multocida có kháng nguyên giáp mô K (Kapsul) và kháng nguyên thân (O)
Theo quy ước quốc tế khi trình bày cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn tụ huyết trùng
được giám định, người ta viết kháng nguyên giáp mô trước và kháng nguyên thân sau
(Trần Xuân Hạnh, 2004)
Kháng nguyên giáp mô (K): cấu tạo từ polysaccharide, và chỉ có ở vi khuẩn P
multocida tạo dạng khuẩn lạc láng (S), không bao giờ gặp ở vi khuẩn tạo dạng nhầy (M)
và dạng gồ ghề (R) Giáp mô ngăn cản quá trình thực bào, chống lại hoạt động diệt
khuẩn của bổ thể (Trần Xuân Hạnh, 2004)
Trên cơ sở khác nhau về cấu trúc của kháng nguyên giáp mô, Carter (1955) dùng
phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp đã phân biệt 5 serotype kháng nguyên của vi
khuẩn P multocida là: A, B, D, E và F Ở trâu bò thường gặp type A và B với type A
gây viêm phổi và type B thường gây bại xuất huyết
Trang 2110
Kháng nguyên thân (O): kháng nguyên thân được cấu tạo bởi phức hợp protein – polysaccharide – lipopolysaccharide
Từ kết quả của phản ứng kết tủa khuyếch tán trên thạch, Heddleston và ctv
(1972) đã xác định được vi khuẩn P multocida có 16 type kháng nguyên thân (O) khác nhau được ký hiệu từ 1 – 16 Hiện nay để xác định serotype của vi khuẩn P multocida
là sự kết hợp cách phân loại của Carter – Heddleston, như vậy một serotype sẽ được ký hiệu bằng một chữ cái in đại diện kháng nguyên K và một chữ số Ả Rập dùng chỉ kháng nguyên thân (O) Bệnh bại xuất huyết trâu bò ở Việt Nam thường có cấu trúc kháng nguyên là B:2 (theo Carter – Heddleston)
Vi khuẩn P multocida có cả nội và ngoại độc tố Nội độc tố có bản chất
lipopolysaccharide gây độc cho nhiều loài động vật Còn ngoại độc tố có bản chất là protein gây hoại tử da, gây độc đối với tế bào phổi bò, gây tiêu chảy có màng giả
2.3.5 Khả năng tồn tại của vi khuẩn
Vi khuẩn P multocida có khả năng tồn tại kém đối với ngoại cảnh, dễ dàng bị
tiêu diệt bởi ánh sáng, chất sát trùng, nhiệt độ (sức nóng 580 C chết trong vòng 20 phút,
800 C trong 10 phút, còn ở 1000 C vi khuẩn chết tức khắc) (Lê Anh Phụng, 2011)
Tuy nhiên, P multocida sống khá lâu trong đất ẩm, trong nền chuồng và đồng cỏ nơi có dịch Trong máu, P multocida có thể sống từ 14 đến 21 ngày Trong xác chết, tồn tại 1 đến 3 tháng Trong máu, mô bào, nước tiểu của gia súc bị chết bệnh P
multocida vẫn giữ đựơc độc lực trong 5 – 9 ngày Trong tủy xương, P multocida giữ
được độc lực trong 8 ngày Trong phân, P multocida có thể sống đựoc 14 ngày Các chất sát trùng đều có thể diệt nhanh P multocida : HgCl2 1/5000 và acid phenic 5% diệt trong 1 phút; formol 1%, NaOH 1%, cresyl 3% diệt trong 3 – 5 phút; nước vôi 10% diệt trong 2 giờ (Trích dẫn của Tô Minh Châu và Trần Thị Bích Liên, 2006)
Trang 2211
2.3.6 Cách sinh bệnh và lây lan
Yếu tố mở đường vi khuẩn xâm nhập
Hạch hầu Hạch lâm ba ruột
Hạch vai
Sơ đồ 2.1 Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn P multocida
(Nguồn: Lê Anh Phụng, 2011)
Vi khuẩn P multocida có độc lực mạnh qua đường niêm mạc hô hấp hay tiêu
hóa, qua hệ lâm ba vào máu gây bại huyết sau đó đến hạch bạch huyết gây sưng hạch
hầu, hạch vai, hạch phổi, làm xáo trộn hô hấp Vi khuẩn P multocida có độc lực thấp
thường định vị tại chỗ, sản sinh độc tố Bệnh tụ huyết trùng thường phát ra ở những vùng ẩm thấp vào mùa nóng, ẩm Vào mùa nóng, nhiệt độ cao, áp lực không khí thay
đổi bất thường, mưa rào đột ngột, vi khuẩn được nước mưa đưa lên dính vào lá cây,
ngọn cỏ rồi vào cơ thể trâu bò qua đường tiêu hóa và vào máu do những sây xát tại niêm
mạc đường tiêu hóa Từ những vết thương này, P multocida vào hệ lâm ba, nhất là hạch sau hầu nên thường làm hạch hầu họng sưng to Hơn nữa, P multocida có thể sống
trong đường hô hấp và tiêu hóa của động vật khỏe mạnh hay còn ở trong cơ thể động
Trang 2312
vật khỏi bệnh nhưng không gây bệnh, vì giữa vi khuẩn và động vật có trạng thái cân bằng Khi trạng thái cân bằng này bị phá vỡ theo hướng có lợi cho vi khuẩn thì vi khuẩn tăng độc lực tác động, gây bệnh (Theo tổng hợp của Trần Văn Phương, 2012)
2.3.7 Chẩn đoán bệnh tụ huyết trùng trâu bò
Bệnh tụ huyết trùng trâu bò có thể được chẩn đoán qua triệu chứng lâm sàn điển hình, bệnh tích đại thể, tiền sử bệnh trong đàn, tỷ lệ bệnh và chết bệnh và tính mùa vụ, loài thú mẫn cảm, tuổi mắc bệnh, phân lập và giám định vi khuẩn Chẩn đoán phân biệt với các bệnh nhiệt thán, bệnh dịch tả trâu bò, bệnh lê dạng trùng, bệnh ung khí thán (Lê Anh Phụng, 2011)
Phương pháp miễn dịch bệnh lý cũng đã được ứng dụng trong chẩn đoán bệnh tụ huyết trùng trâu bò Đây là phương pháp khá đơn giản, có độ nhạy cao, có sự tương ứng giữa kính hiển vi quang học và kính hiển vi điện tử, có thể chẩn đoán được bệnh ngay
cả khi không phân lập được vi khuẩn (Đỗ Tuấn Cương và ctv, 2004)
Dùng kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction) để phát hiện vi khuẩn P
Trên thế giới, sự lựa chọn kháng sinh để điều trị tại các nước có khác nhau Tại Italia, các thú y sĩ sử dụng danofloxacin, trimethoprim (Grimshaw, 1990) Tại Mỹ, Canada và Australia, các thú y sĩ dùng ceftiofur hoặc tilmicosin, một số kháng sinh khác
Trang 2413
cũng được sử dụng như: ampicillin, erythromycin, tetracyclin, sulfamethazin nhưng phải với liều cao (Stephens và ctv, 1993; Watts và ctv, 1994) Tại Pakistan sử dụng các loại kháng sinh như clamoxyl, farmox 15% và gentakel (Sheikh và ctv, 1996) Tại Đức, kháng sinh được dùng nhiều nhất để điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu bò là spectinomycin (Schwarz và ctv, 2004; theo tổng hợp của Trần Văn Phương, 2012)
2.4.2 Phòng bệnh
2.4.2.1 Vệ sinh an toàn sinh học
Thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học trong chăm sóc, dinh dưỡng, tách nhập đàn, quản lý, vệ sinh, cắt đứt đường truyền lây…
Bồi dưỡng chăm sóc tốt, tăng cường sức đề kháng cho thú nhất là những tháng giao mùa
Cách ly thú bệnh, thú nhập đàn, không nhốt chung thú bệnh với thú khỏe
Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, định kỳ phun thuốc sát trùng
Tiêu diệt chuột, không nuôi các loại thú khác nhau trong trại
2.4.2.2 Phòng bệnh bằng vắc xin
Việc phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp chủ động và mang lại hiệu quả cao Hiện nay đã nhiều loại vắc xin được sử dụng để tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò như: bacterin, vắc xin với chất bổ trợ keo phèn, phèn chua và vắc xin nhũ dầu Tùy từng điều kiện mà quyết định dùng loại vắc xin nào cho thích hợp Nhìn chung vắc xin nhũ dầu sử dụng an toàn và cho hiệu quả phòng bệnh cao hơn các vắc xin tụ huyết trùng khác (Trần Xuân Hạnh, 2008)
Trang 25để làm giảm độc lực của chúng) và vắc xin dại nhược độc (1885) đã mở đầu cho kỷ nguyên sử dụng vắc xin phòng bệnh Có nhiều loại vắc xin: (1) Vắc xin cổ điển bao gồm vắc xin sống nhược độc và vắc xin chết bất hoạt (2) Vắc xin thế hệ mới bao gồm vắc xin protein bất hoạt hay vắc xin tiểu đơn vị (tiểu phần), vắc xin peptide tổng hợp, vắc xin sống hủy bỏ gen, vắc xin sống tái tổ hợp, vắc xin DNA (Theo Lâm Thị Thu
bổ trợ là loại vắc xin được sử dụng nhiều nhất hiện nay, kháng nguyên đã được vô hoạt
Trang 2615
và cho thêm chất bổ trợ (keo phèn, phèn chua, nhũ dầu) để nâng cao đáp ứng miễn dịch Tác động của chất bổ trợ chủ yếu là kích thích quá trình thực bào, giúp quá trình đáp ứng miễn dịch xảy ra mạnh hơn Loại vắc xin này có nhiều ưu điểm hơn so với vắc xin bất hoạt không có chất bổ trợ như đáp ứng miễn dịch tốt hơn, thời gian miễn dịch kéo dài hơn, và an toàn khi sử dụng
Vắc xin nhược độc là loại vắc xin được chế tạo từ một hoặc nhiều chủng vi sinh vật được làm giảm độc lực Ưu điểm của loại vắc xin này là tạo miễn dịch phòng
hộ nhanh (7 – 14 ngày), hiệu lực miễn dịch cao, kéo dài và liều tiêm nhỏ Tuy nhiên, vắc xin nhược độc dể mất tác dụng khi điều kiện bảo quản không đảm bảo (Phan Thanh Phượng, 2007)
2.5.2 Miễn dịch
Miễn dịch là khả năng của cơ thể có thể nhận biết, tiêu diệt và loại bỏ các vật lạ khi bị xâm nhập
Hệ thống miễn dịch được chia làm miễn dịch đặc hiệu và miễn dịch không đặc
hiệu Miễn dịch không đặc hiệu là khả năng tự bảo vệ sẵn có ngay khi mới được sinh ra
và mang tính di truyền trong các cơ thể cùng một loài, không đòi hỏi phải có sự tiếp xúc kháng nguyên trước đó, luôn hiện diện trên những cá thể khỏe mạnh và là hàng rào bảo
vệ đầu tiên chống sự xâm nhiễm của mầm bệnh Miễn dịch đặc hiệu bao gồm miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào Miễn dịch dịch thể liên quan đến sự sản xuất kháng thể bởi lympho B để đáp ứng với một kháng nguyên, còn miễn dịch tế bào liên quan tới sự sản xuất các lympho bào T: một số sản xuất cytokine để hoạt hóa đại thực bào, tế bào diệt tự nhiên, và một số có chức năng tiêu diệt các tế bào lạ hay tế bào nhiễm vi sinh vật (Lâm Thị Thu Hương, 2009)
Trang 2716
2.5.2.1 Nguyên lý tác dụng khi tiêm vắc xin vào cơ thể động vật
Lần đầu đưa vắc xin vào cơ thể, đáp ứng miễn dịch diễn ra 3 giai đoạn:
Giai đoạn tiềm ẩn: giai đoạn này được tính khi đưa vắc xin vào cơ thể đến lúc xuất hiện kháng thể Thời gian của giai đoạn tiềm ẩn dao động từ 24 giờ đến 2 tuần tùy thuộc sự phát triển của hệ thống miễn dịch của từng cá thể và loại vắc xin
Giai đoạn tăng trưởng: Tiếp theo giai đoạn tiềm ẩn là giai đoạn tăng trưởng Lượng kháng thể tăng nhanh đạt mức tối đa trong khoảng từ 4 ngày đến 4 tuần Kháng thể IgM luôn được tạo thành trước kháng thể IgG
Giai đoạn giảm: Sau khi đạt nồng độ tối đa trong máu, lượng kháng thể giảm nhanh, sau đó giảm từ từ, IgM và IgA giảm nhanh hơn IgG
(Nguyễn Đình Bảng và Nguyễn Thị Kim Hương, 2003)
2.5.2.2 Đáp ứng miễn dịch ở trâu, bò trong phòng bệnh tụ huyết trùng
Miễn dịch dịch thể và một phần miễn dịch tế bào có vai trò quan trọng trong
miễn dịch đối với bệnh tụ huyết trùng trâu bò gây ra bởi P multocida serotype B:2 Tuy
nhiên rất nhiều nghiên cứu đã xác nhận miễn dịch dịch thể đóng vai trò chính trong hoạt
động miễn dịch của bệnh này (Bain và ctv, 1982) Trâu bò bị phơi nhiễm tự nhiên với P
multocida serogroup B hay được tiêm vắc xin tụ huyết trùng sẽ thu được trạng thái miễn
dịch chống lại bệnh Trong đáp ứng miễn dịch dịch thể, lớp kháng thể IgG đóng vai trò
quan trọng, tiêu diệt và làm mất khả năng gây bệnh của vi khuẩn P multocida khi
chúng xâm nhập vào cơ thể Kháng thể này được hình thành ngay cả trong điều kiện nhiễm bệnh tự nhiên và cả trong trường hợp trâu, bò được tiêm phòng vắc xin và có thể phát hiện được khi dùng các phương pháp huyết thanh học như IHA, ELISA (Bain và ctv, 1982) Kháng thể mẹ truyền có vai trò quan trọng bảo vệ bê, nghé trong những tháng đầu chống lại bệnh tụ huyết trùng trâu bò El – Eragi và ctv (2001) xác định hàm lượng kháng thể IgG tồn tại trong máu tới tuần thứ 16 đối với bê sinh ra từ bò mẹ đã được tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng
Trang 282.5.3.2 Số lần sử dụng vắc xin
Khi dùng vắc xin lần đầu, đáp ứng miễn dịch thường yếu, hàm lượng kháng thể thấp và giảm đi rất nhanh Để có được lượng kháng thể đủ bảo hộ thường phải tiêm nhắc lại (thường 3 – 4 tuần) Đáp ứng miễn dịch lần 2 sẽ cao hơn và tồn tại lâu hơn Sau
đó tiếp tục sử dụng vắc xin theo quy trình để duy trì sức miễn dịch cho cơ thể
2.5.3.3 Bảo quản, sử dụng vắc xin
Vắc xin phải được bảo quản tốt để đảm bảo chất lượng và hiệu lực vắc xin Điều kiện vận chuyển, bảo quản vắc xin có ảnh hưởng đến thời hạn sử dụng và hiệu lực của vắc xin Tùy từng loại vắc xin, điều kiện bảo quản có thể khác nhau
Thực hiện đúng quy trình tiêm phòng, đúng liều lượng, đúng loài, đúng lứa tuổi, thao tác tiêm đúng kỹ thuật, đảm bảo đủ lượng kháng nguyên trong mỗi liều vắc xin để kích thích tạo kháng thể
Hiệu lực vắc xin còn phụ thuộc vào đường cấp Mỗi loại vắc xin tương ứng với phương pháp sử dụng khác nhau
Chỉ cấp vắc xin phòng bệnh cho động vật khỏe mạnh
2.6 Sơ lược sản xuất và sử dụng vắc xin tụ huyết trùng trâu bò ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vắc xin tụ huyết trùng trâu bò đã được chế tạo và đưa vào sử dụng Đầu tiên Elin và Carongean (1903) chế vắc xin bằng đun nóng canh trùng 30 – 320 C, giảm độc lực ở những mức độ khác nhau Sau đó viện Pasteur Nha Trang chế vắc xin
đun nóng từ canh trùng P multocida ở 600 C trong nước cất có formol Huyễn dịch canh
Trang 2918
trùng được cho thêm chất keo phèn và sử dụng tiêm cho trâu bò ở những vùng bị dịch
uy hiếp và tiêm nhắc lại sau 6 tháng
Từ năm 1954 – 1980 ở các tỉnh đồng bằng Nam bộ sử dụng vắc xin tụ huyết trùng trâu bò chủng Robert I, các tỉnh miền trung từ vĩ tuyến 17 trở vào đến Ninh Thuận
sử dụng vắc xin tụ huyết trùng chủng Iran do viện Pasteur Nha Trang sản xuất, riêng các tỉnh phía Bắc (từ vĩ tuyến 17 trở ra) dùng vắc xin phèn chua chế từ chủng Trung Quốc bằng phương pháp nuôi cấy tĩnh
Từ năm 1980 trở lại đây bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở Việt Nam mới được tập trung nghiên cứu từ khâu phân lập, định type huyết thanh và đầu tư, thay đổi công nghệ sản xuất vắc xin như công nghệ nuôi cấy lên men, dùng chất bổ trợ keo phèn, nhũ dầu Hiện nay một số loại vắc xin tụ huyết trùng trâu bò được sản xuất và sử dụng rộng rãi ở nước ta như: vắc xin tụ huyết trùng vô hoạt keo phèn chủng P52, sản xuất tại công ty thuốc thú y Trung Ương NAVETCO; vắc xin tụ huyết trùng vô hoạt keo phèn chủng T1, T2, T3, T4, sản xuất tại Xí Nghiệp thuốc thú y Trung Ương; vắc xin tụ huyết trùng vô hoạt keo phèn chủng Iran, sản xuất tại phân viện thú y miền Trung Vắc xin dùng phòng bệnh cho bê, nghé từ 6 tháng tuổi trở lên và quy trình tiêm chủng thường được áp dụng 2 lần trong một năm là tháng 3 và tháng 9, ngoài ra còn có các đợt tiêm
bổ sung
Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng vắc xin keo phèn hoặc phèn chua vẫn tồn tại một số nhược điểm Đó là đáp ứng miễn dịch sau khi tiêm vắc xin chưa cao, độ dài miễn dịch ngắn, hiệu quả đạt cao ở tháng thứ 3 và giảm rất nhanh sau tháng thứ 4 (Hoàng Xuân Nghinh và ctv, 2004), phản ứng của vắc xin sau khi tiêm vẫn xảy ra, gây
lo ngại cho người chăn nuôi và đây cũng là một trong những lý do khiến tỷ lệ tiêm phòng đạt thấp
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, cùng với việc áp dụng phương pháp nuôi cấy hiện đại, thay đổi từ phương pháp nuôi cấy tĩnh sang nuôi cấy bằng phương pháp
Trang 3019
nuôi cấy liên tục, số lượng vi khuẩn trong 1 ml canh khuẩn tăng lên đáng kể Đó là cơ
sở cần thiết để các nhà khoa học thú y Việt Nam áp dụng nghiên cứu cải tiến chất bổ trợ miễn dịch, trong đó có chất bổ trợ nhũ dầu
Nghiên cứu vắc xin nhũ dầu tụ huyết trùng trâu, bò đầu tiên được Phan Thanh
Phượng và ctv (1990) thực hiện tại Việt Nam Tác giả đã dùng vi khuẩn P multocida
chủng Iran và môi trường Hottinger để chuẩn bị canh khuẩn và dùng các nguyên liệu dầu với các công thức khác nhau để tạo nhũ như: Lanolin – paraffin; Marcol 52 – Montanide 888; và Montanide# ISA 50 và Montanide# ISA 70 Nhìn chung vắc xin được đánh giá đạt hiệu lực trong điều kiện phòng thí nghiệm và thử nghiệm trong điều kiện sản xuất đã được thực hiện với quy mô hạn chế tại một số tỉnh
Từ năm 2008 – 2010, công ty thuốc thú y Trung Ương II – NAVETCO đã thực hiện dự án “Hoàn thiện quy trình sản xuất và sử dụng vắc xin nhũ dầu tụ huyết trùng trâu bò chủng P52”
Hình 2.1 Vắc xin tụ huyết trùng trâu bò chủng P52 của NAVETCO
(Nguồn: Công ty thuốc thú y trung ương – NAVETCO)
Với chất bổ trợ là nhũ dầu thì vắc xin nhũ dầu tụ huyết trùng trâu bò chủng P52
do công ty NAVETCO sản xuất có nhiều ưu điểm hơn so với vắc xin keo phèn và phèn chua như tính an toàn cao khi tiêm phòng cho trâu, bò, bê, nghé khỏe mạnh từ 2 tháng tuổi trở lên Vắc xin tạo miễn dịch nhanh, độ dài miễn dịch 12 tháng và độ dài bảo quản
Trang 3120
lên tới 18 tháng (2 – 80 C) Vắc xin dễ sử dụng, độ nhớt thấp, không gây phản ứng cục
bộ, phù hợp với mọi hình thức chăn nuôi trâu, bò
2.7 Một số phương pháp kiểm tra đáp ứng miễn dịch
Các phương pháp thông thường được sử dụng là phương pháp bảo hộ thụ động trên chuột (PMPT – Passive Mouse Protection Test), phương pháp ngưng kết hồng cầu gián tiếp (IHA – Indirect Haemagglutination) và phương pháp ELISA (Enzyme Linked Immunosorbent Assay) Các phương pháp này cũng được dùng để xác định độ dài miễn dịch và đánh giá miễn dịch của quần thể động vật sau khi tiêm vắc xin phòng bệnh
2.7.1 Phương pháp bảo hộ thụ động trên chuột (Passive Mouse Protection Test – PMPT)
Phương pháp được thực hiện trên nguyên tắc bảo hộ chuột với huyết thanh từ trâu, bò đã được miễn dịch Bain và ctv (1982) dùng 0,5 ml huyết thanh miễn dịch và
100 LD50 của chủng vi khuẩn để công cường độc Chuột lô thí nghiệm sống ít nhất 1 con trong số 5 chuột và lô đối chứng chết hết, thì huyết thanh thử được cho là dương tính
2.7.2 Kỹ thuật ELISA (Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay)
Phương pháp ELISA đã được dùng để đo mức độ đáp ứng miễn dịch và giám
định kháng nguyên của vi khuẩn P multocida (Johnson, 1992) Phương pháp ELISA
được đánh giá là ổn định và có độ nhạy cao hơn IHA từ 3 đến 5 lần (Pati và ctv, 1996) Neramitmansook (1992) đã sử dụng kỹ thuật ELISA để tiến hành đo hàm lượng kháng thể chống bệnh tụ huyết trùng với một số lượng mẫu lớn đã cho rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa hiệu giá kháng thể xác định bằng kỹ thuật ELISA và kết quả bảo hộ thụ động trên chuột, cũng như mức độ hiệu giá kháng thể xác định bằng kỹ thuật ELISA và kết
quả công cường độc trực tiếp
Tại Việt Nam, Trần Xuân Hạnh và ctv (2007) đã áp dụng kỹ thuật ELISA để kiểm tra tình trạng miễn dịch ở trâu bò sau khi tiêm vắc xin tụ huyết trùng nhũ dầu