XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Họ tên sinh viên : LÊ THỊ TÂM Tên luận văn: “Khảo sát giá trị đệm của một số nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi ” Đã hoàn thành sửa chữa luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT GIÁ TRỊ ĐỆM CỦA MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU
SẢN XUẤT THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Sinh viên thực hiện: LÊ THỊ TÂM Lớp: DH08TA
Ngành: Chăn Nuôi Niên khoá: 2008 - 2012
Tháng 8/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
LÊ THỊ TÂM
KHẢO SÁT GIÁ TRỊ ĐỆM CỦA MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU
SẢN XUẤT THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kĩ sư chăn nuôi chuyên ngành
sản xuất thức ăn
Giáo viên hướng dẫn
TS NGÔ HỒNG PHƯỢNG
Tháng 08/2012
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên : LÊ THỊ TÂM
Tên luận văn: “Khảo sát giá trị đệm của một số nguyên liệu sản xuất thức ăn
chăn nuôi ”
Đã hoàn thành sửa chữa luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các
ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa Chăn Nuôi – Thú
Y, trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM ngày 17 tháng 8 năm 2012
Xác nhận của giáo viên
TS Ngô Hồng Phượng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với những tình cảm sâu sắc
Con luôn ghi ơn cha mẹ, người đã sinh thành và nuôi dạy con nên người
Chân thành biết ơn
Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm Khoa Chăn Nuôi - Thú Y, Bộ môn Dinh Dưỡng cùng toàn thể
quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi
cho em trong suốt quá trình học tập
TS Ngô Hồng Phượng đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và truyền đạt những
kinh nghiệm quý báu giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Các thầy cô ở Bộ môn Dinh Dưỡng trường Đại Học Nông Lâm đã tạo điều
kiện thuận lợi giúp em vượt qua những khó khăn trong quá trình thực tập tại phòng
thí nghiệm
Chị Nguyễn Thị Mộng Thùy và các anh chị lớp DH07TA đã giúp đỡ và
hướng dẫn em trong quá trình làm đề tài
Xin cảm ơn
Tất cả bạn bè, người thân và tập thể lớp DH08TA đã luôn đồng hành, động
viên, chia sẻ và giúp tôi vượt qua những khó khăn
Chân thành cảm ơn!
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài nghiên cứu: “Khảo sát giá trị đệm của một số nguyên liệu sản xuất
thức ăn chăn nuôi ”, được tiến hành tại Bộ môn Dinh Dưỡng trường Đại Học Nông
Lâm từ ngày 10/02/2012 đến ngày 15/06/2012 Thí nghiệm được tiến hành trên 17 nguyên liệu thức ăn với tổng số lượng là 236 mẫu thu thập chủ yếu là Đồng Nai,
Bình Dương, Tp Hồ Chí Minh
Kết quả thí nghiệm thu được như sau:
Nhóm nguyên liệu cung khoáng có giá trị ABC (Acid Binding Capacity) và BUF (Buffering Capacity) cao nhất Trong đó bột sò và bột đá vôi có giá trị ABC, BUF cao hơn DCP
Nhóm nguyên liệucung đạmcó giá trị ABC, BUF cao thứ hai Nhóm nguyên liệu cung đạm có nguồn gốc động vật thì bột cá có giá trị ABC, BUF cao nhất, trong
số các nguyên liệu cung đạm có nguồn gốc thực vật thì đậu nành có giá trị ABC, BUF cao nhất
Nhóm nguyên liệu cung năng lượng và nhóm cung axit amin có giá trị ABC
và BUF thấp nhất
Trang 6MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Giá trị đệm 3
2.1.1 Khái niệm giá trị đệm (Buffer Capacity Value) 3
2.1.2 Ý nghĩa của giá trị đệm 4
2.1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến giá trị đệm thức ăn chăn nuôi 5
2.1.4 Một số nghiên cứu về giá trị đệm 6
2.2 Hệ vi sinh vật đường ruột 7
2.2.1 Hệ vi sinh vật tùy nghi 8
2.2.2 Hệ vi sinh vật bắt buộc 8
2.2.3 Mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật và giá trị pH đường tiêu hóa 8
2.3 Sự thay đổi hệ thống enzym 10
2.4 Tổng quan về các nguyên liệu 10
Trang 72.4.3 Nguyên liệu cung khoáng 16
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Thời gian và địa điểm 18
3.2 Thiết bị dụng cụ và hóa chất 18
3.3 Nội dung thí nghiệm 18
3.4 Phương pháp tiến hành 18
3.4.1 Đối tượng khảo sát 18
3.4.2 Thu thập, xử lý và bảo quản mẫu 19
3.4.3 Phương pháp phân tích 20
3.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi 21
3.4.5 Tính ABC, BUF 21
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 22
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Đánh giá giá trị ABC, BUF của nhóm nguyên liệu cung năng lượng 23
4.2 Đánh giá giá trị ABC, BUF của nhóm nguyên liệu cung đạm 27
4.3 Đánh giá giá trị ABC, BUF của nhóm nguyên liệu cung khoáng 31
4.4 Đánh giá giá trị ABC, BUF của một số axit amin 34
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 42
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
TRANG
Bảng 2.1 Giá trị đệm của một số nguyên liệu thức ăn 4
Bảng 2.2 Giá trị đệm khuyến cáo trong thức ăn cho heo và gà 5
Bảng 3.1 Một số nguyên liệu dùng trong thí nghiệm 19
Bảng 4.1 Giá trị ABC của nhóm nguyên liệu cung năng lượng 23
Bảng 4.2 Giá trị BUF của nhóm nguyên liệu cung năng lượng 23
Bảng 4.3 So sánh kết quả ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của bắp 25
Bảng 4.4 So sánh kết quả ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của khoai mì 25
Bảng 4.5 So sánh kết quả ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của cám gạo 26
Bảng 4.6 So sánh kết quả ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của bột sữa gầy 27
Bảng 4.7 Giá trị ABC của nhóm nguyên liệu cung đạm 27
Bảng 4.8 Giá trị BUF của nhóm nguyên liệu cung đạm 28
Bảng 4.9 So sánh kết quả ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của khô dầu đậu nành 30
Bảng 4.10 So sánh kết quả ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của bột cá 30
Bảng 4.11 Giá trị ABC của nhóm nguyên liệu cung khoáng 31
Bảng 4.12 Giá trị BUF của nhóm nguyên liệu cung khoáng 32
Bảng 4.13 So sánh ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của DCP 33
Bảng 4.14 So sánh ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của bột đá vôi 33
Bảng 4.15 So sánh ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của bột sò 34
Bảng 4.16 Giá trị ABC của một số axit amin 34
Bảng 4.17 Giá trị BUF của một số axit amin 35
Bảng 4.18 So sánh ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của Lysine 36
Bảng 4.19 So sánh ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của Threonine 36
Trang 11Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Quá trình tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất của vật nuôi liên quan đến giá trị pH đường tiêu hóa (dạ dày – ruột) Ở thú non, bộ máy tiêu hóa chưa phát triển hoàn chỉnh, sự phân tiết axit trong dạ dày còn kém nhưng phải tiêu hóa một lượng thức
ăn lớn làm cho pH trong dạ dày có khả năng tăng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho
những loài vi khuẩn và vi rút có hại như: E.coli, Salmonella, Clostridium,
Rotavirus, Coronavirus… phát triển mạnh, gây tiêu chảy, làm giảm khả năng hấp
thu dinh dưỡng của vật nuôi
Một trong những yếu tố có mối quan hệ mật thiết với pH dạ dày là giá trị đệm của thức ăn, giá trị đệm của thức ăn được xác định bởi giá trị đệm của các nguyên liệu cấu thành nên khẩu phần Nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu thức ăn có giá trị đệm cao thì làm pH dạ dày tăng cao sẽ ảnh hưởng đến sự tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất, tạo điều kiện cho vi sinh vật bất lợi trong đường tiêu hóa phát triển, dẫn đến rối loạn tiêu hóa (Lawlor và ctv, 2005; Partanen, 2007) Việc xác định giá trị đệm của từng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi sẽ góp phần tăng hiệu quả trong việc lựa chọn nguyên liệu để tổ hợp khẩu phần phù hợp với nhu cầu phát triển của thú Ngoài ra, dựa vào giá trị đệm của mỗi nguyên liệu thành phần mà ta có thể dự đoán được giá trị đệm của khẩu phần thức ăn Thức ăn có giá trị đệm thấp sẽ làm giảm
pH dạ dày, giúp cho hệ vi sinh vật có lợi phát triển như vi khuẩn Bifidobacterium,
Lactobacilli… làm giảm sự rối loạn tiêu hóa, ngăn ngừa tiêu chảy và giúp vật nuôi
tăng trọng nhanh
Hiện nay, có rất ít công trình nghiên cứu về giá trị đệm của các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam và các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi chưa
Trang 12thực sự quan tâm đến vấn đề này Xuất phát từ thực trạng trên, được sự đồng ý của
Bộ môn Dinh Dưỡng trường Đại Học Nông Lâm TP HCM, dưới sự hướng dẫn của
TS Ngô Hồng Phượng chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát giá trị đệm của một
số nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi”
- Thu thập và xử lý các mẫu nguyên liệu, mẫu thức ăn có trên thị trường
- Đo pH, xác định giá trị đệm, năng lực đệm của các nguyên liệu sản xuất thức
ăn chăn nuôi
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN 2.1 Giá trị đệm
2.1.1 Khái niệm giá trị đệm (Buffer Capacity Value)
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về giá trị đệm Theo Boulduan và ctv (1988), B - value (Buffering value – giá trị đệm) là số ml axit HCl 0,1 M cần thiết phản ứng với 10 gam nguyên liệu thức ăn trong 90 ml nước cất để đưa pH nguyên liệu về giá trị 3
Lawlor và ctv (2005) định nghĩa ABC (Acid Binding Capacity – khả năng gắn kết ion H+ hay giá trị đệm) là lượng axit HCl 0,1 N (tính theo meq - miliequivalent)
để đưa pH của 1 kg nguyên liệu về mức pH = 4, pH = 3
Ryburger (2009) định nghĩa ABC là lượng axit cần thiết để giảm pH nguyên liệu về mức mong muốn
Ngoài ra, còn có định nghĩa về BUF (Buffering Capacity – năng lực đệm) của nguyên liệu là lượng axit HCl 0,1N (tính theo meq) để làm thay đổi 1 đơn vị pH của nguyên liệu Tuy nhiên, định nghĩa của Lawlor và ctv (2005) thường được sử dụng nhiều trong nghiên cứu và xác định giá trị đệm của thức ăn chăn nuôi
Trang 14Bảng 2.1 Giá trị đệm của một số nguyên liệu thức ăn chăn nuôi
giá trị đệm cao nên chúng làm tăng pH của đường ruột dẫn đến heo con sẽ giảm khả
năng tiêu hóa thức ăn nếu cung cấp nhiều nguyên liệu cung đạm động vật và
khoáng trong khẩu phần (Dương Thanh Liêm, 2005)
2.1.2 Ý nghĩa của giá trị đệm
Dương Thanh Liêm và ctv (2001) cho rằng giá trị đệm của thức ăn có một ý
nghĩa vô cùng quan trọng đối với thú non, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiêu hóa
dưỡng chất do giai đoạn này lượng HCl của dạ dày tiết ra còn ít không đủ sức hạ pH
Trang 15Sử dụng loại thức ăn có mang tính kiềm cao sẽ có hại cho thú non bởi những hạn chế sau:
• pH dạ dày cao sẽ trở ngại cho việc biến đổi pepsinogen thành pepsin hoạt động để tiêu hóa protein, dẫn đến rối loạn tiêu hóa protein ở thú non
• pH cao là điều kiện lý tưởng cho vi sinh vật có hại trong đường tiêu hóa
phát triển, điển hình là các vi khuẩn E.coli, Salmonella, Klebsiella…
• pH cao sẽ gây trở ngại cho việc hòa tan để hấp thu các chất khoáng, nhất
là khoáng vi lượng có trọng lượng phân tử lớn
Ngược lại, một loại thức ăn có giá trị đệm thấp thì rất có lợi vì sẽ khắc phục được những hạn chế trên Ngoài ra, theo Biagi và ctv (2003) cho rằng pH thấp còn
thúc đẩy hệ vi sinh vật có lợi phát triển (Bifidobacterium, Lactobacilli), làm giảm mật độ Clostridia, E.coli trong không tràng và kết tràng Do đó, đối với việc cân đối
tính toán khẩu phần thức ăn thì ngoài cân đối protein, năng lượng, axit amin, vitamin, khoáng ra người ta còn quan tâm đến giá trị đệm của nguyên liệu thức ăn Việc bổ sung các chế phẩm axit hữu cơ vào khẩu phần thức ăn sẽ là giảm giá trị đệm của thức ăn, tạo sự axit hóa đường ruột từ đó làm giảm rối loạn tiêu hóa, ngăn ngừa bệnh đường tiêu hóa
Bảng 2.2 Giá trị đệm khuyến cáo trong thức ăn cho heo và gà
(Nguồn: FeedFocus, Roche, 2003 trích dẫn bởi Nguyễn Quế Hoàng, 2006)
2.1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến giá trị đệm thức ăn chăn nuôi
Giá trị đệm của thức ăn hỗn hợp cho từng giai đoạn của heo phụ thuộc vào giá trị đệm của mỗi nguyên liệu được sử dụng để tổ hợp nên khẩu phần đó Giá trị đệm
Tập ăn heo con theo mẹ (0 – 20 ngày tuổi)
Thức ăn heo con cai sữa (20 – 30 ngày tuổi)
Thức ăn khởi đầu cho heo (30 – 35 ngày tuổi)
Thức ăn cho heo sinh trưởng (39 – 70 ngày tuổi)
Thức ăn gia cầm: pha I (0 – 10 ngày tuổi)
Thức ăn gia cầm: pha II (10 – 30 ngày tuổi)
Trang 16của mỗi nguyên liệu phụ thuộc chủ yếu vào thành phần hóa học của chúng, đặc biệt
là hàm lượng protein, hàm lượng khoáng (chủ yếu là canxi)
Partanen và Mroz (1999) đã nghiên cứu và cho thấy rằng các nguyên liệu tổ hợp khẩu phần thức ăn có giá trị đệm thay đổi lớn Hầu hết các nguyên liệu là ngũ cốc và các sản phẩm từ ngũ cốc có giá trị đệm thấp nhất, nguyên liệu cung protein
có giá trị từ trung bình đến cao, khoáng là nguyên liệu có giá trị đệm cao nhất ngoại trừ monocalcium phosphate Thí nghiệm của Gabert và ctv, 1995 trích dẫn bởi Hoàng Thị Nhuận (2011), cho thấy khi tăng gấp đôi hàm lượng của canxi và phospho trong khẩu phần heo con cai sữa làm tăng giá trị đệm khẩu phần
Theo Jasaitis và ctv (1987) nguyên liệu cung năng lượng có giá trị đệm thấp nhất, nguyên liệu cung protein (15 – 35 % protein thô) có giá trị đệm trung bình và nguyên liệu có hàm lượng protein thô lớn hơn 35 % có giá trị đệm cao Levic và ctv (2005) nhận thấy hai khẩu phần có cùng một giá trị dinh dưỡng, nhưng giá trị đệm của hai khẩu phần thức ăn khác nhau do thành phần hóa học của các nguyên liệu khác nhau
Hàm lượng khoáng có trong thức ăn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá trị đệm thức ăn Theo Jasaitis và ctv (1987) giá trị đệm của khẩu phần thức ăn gia súc
có mối tương quan với nhau giữa hiệu anion – cation [(Ca + Mg + K + Na) – (Cl +
N + P + Si + S) và (Ca + Mg + K +Na) – (Cl + P + S)], cation tổng số (Ca + K +
Mg + K) và tro tổng số Theo Lawlor và ctv (2005), những khoáng kiềm tính (canxi carbonate) có giá trị đệm cao so với khoáng có tính axit (dicanxi phosphate, canxi sulfate)
2.1.4 Một số nghiên cứu về giá trị đệm
Năm 1987, Jasaitis và ctv nghiên cứu giá trị đệm nguyên liệu thức ăn gia súc ở
pH = 4 với HCl 0,1 N Kết qua nghiên cứu cho thấy ở pH = 4, giá trị đệm của các thức ăn cung khoáng là 8012 meq/kg, thức ăn cung năng lượng 156 meq/kg và thức
ăn có hàm lượng protein thô lớn hơn 35 % là 704 meq/kg và thức ăn có hàm lượng
Trang 17Trong các nguyên liệu thức ăn thì nguyên liệu có nguồn gốc hữu cơ, nguyên liệu cung protein có giá trị đệm cao nhất, nguyên liệu cung năng lượng và thức ăn ủ chua có giá trị đệm thấp nhất
Năm 2003, Morz và ctv nghiên cứu ảnh hưởng của canxi benzoate có kết hợp hoặc không kết hợp với axit hữu cơ (300 meq axit/kg thức ăn) trên năng lực đệm của thức ăn, khả năng tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng của heo Kết quả canxi benzoate làm giảm giá trị đệm của thức ăn là 54 meq/kg thức ăn và làm pH giảm 0,4 đơn vị Ngoài ra, axit hữu cơ giúp tăng 2,4 % tiêu hóa hồi tràng của hầu hết các axit amin (trừ Arginine, Methionine và Cystine)
Levic và ctv (2005) xác định giá trị đệm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi ở pH =
5 với HCl 1M Kết quả cho thấy protein có giá trị đệm cao (15 – 24 ml), ngũ cốc có giá trị đệm thấp (2 – 5 ml), giá trị đệm thức ăn cho heo sinh trưởng 8,95 ml Như thế, giá trị đệm của thức ăn phụ thuộc vào thành phần nguyên liệu thức ăn
Lawlor và ctv (2005) đã xác định giá trị đệm nguyên liệu thức ăn sử dụng trong chăn nuôi heo ở pH = 3 và pH = 4 với HCl 0,1 N Tác giả kết luận các nguyên liệu cung khoáng có giá trị đệm cao nhất, tiếp theo là các nguyên liệu cung protein Ngũ cốc có giá trị đệm thấp và hầu hết các axit hữu cơ hay muối axit đều có giá trị đệm âm
Hoàng Thị Nhuận (2011) nghiên cứu giá trị đệm của nguyên liệu thức ăn đã đưa ra kết luận: Trong 4 nhóm nguyên liệu thức ăn, nhóm nguyên liệu cung khoáng
có giá trị đệm cao nhất và MCP có giá trị đệm thấp nhất trong nhóm Nguyên liệu cung protein có giá trị đệm cao thứ hai, trong đó protein có nguồn gốc động vật cao hơn protein có nguồn gốc thực vật Nguyên liệu cung năng lượng có giá trị đệm thấp Các chất hấp phụ độc tố nguồn gốc vô cơ có giá trị đệm cao hơn so với nguồn gốc hữu cơ Đa số chế phẩm axit hữu cơ đều có giá trị đệm âm
2.2 Hệ vi sinh vật đường ruột
Khi thú mới sinh, hệ vi sinh vật đường tiêu hóa không có hoặc có rất ít Nhờ tiếp xúc với môi trường bên ngoài mà vi sinh vật từ bên ngoài đã đi vào đường tiêu
Trang 18hóa của thú non Tại đây, những vi sinh như vậy không thích nghi với đường tiêu hóa sẽ bị tiêu diệt và thải ra ngoài Một số ít thích nghi sẽ sinh sản, phát triển và tạo thành hệ vi sinh vật đường ruột
Theo Nikolski (1986), Nguyễn Vĩnh Phước (1977) và nhiều tác giả khác, hệ vi sinh vật đường ruột có thể chia làm hai loại:
2.2.1 Hệ vi sinh vật tùy nghi
Đa số những vi sinh vật này là những loài có hại, chúng thay đổi theo điều kiện thức ăn, môi trường tiêu hóa, sức đề kháng của cơ thể như nấm men, nấm mốc,
Proteus, Salmonella, Klebsiella, E.Coli, Clostridium, Shigella, Staphylococcus…
Phần lớn chúng thích nghi với môi trường từ pH trung tính đến kiềm Dưới những môi trường thích hợp, chúng phát triển và sản sinh độc tố, xâm nhập phá vỡ tế bào đường ruột, gây tổn thương thành ruột và làm nguy hại cho gia súc, gia cầm
2.2.2 Hệ vi sinh vật bắt buộc
Đây là những vi sinh vật chịu được độ pH thấp chúng phát triển tốt trong đường ruột tiêu hóa của gia súc, gia cầm và định cư vĩnh viễn Đa số chúng có khả năng giúp cơ thể động vật tiêu hóa thức ăn được tốt hơn nhờ vào hệ thống enzym của chúng và giúp phòng chống một số bệnh do vi sinh vật cơ hội gây ra Hệ vi sinh vật bắt buộc gồm có:
- Vi khuẩn: Lactobacillus axitophilus, Streptococcus lactis, S faecium,
Bacillus subtitis…
- Nấm men: Aspergillus niger, A.oryzae, Mucor…
- Protozoa: Entodinium, Diplonidium, Isotrichs…
2.2.3 Mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật và giá trị pH đường tiêu hóa
Trị số pH của môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và khả năng sinh tổng hợp của vi khuẩn Sự ảnh hưởng này có thể xác định bởi 2 yếu tố Một là, sự tác động của ion H+ hoặc ion OH- đến tính keo của tế bào đến hoạt lực của enzym; hai là, sự tác động gián tiếp của pH môi trường đến tế bào Trị số pH điều chỉnh
Trang 19chết dần, pH tối ưu cho nấm men hoạt động ở khoảng 4,5 – 5 Đối với vi khuẩn lactic, khi pH < 4 nó sẽ ngừng hoạt động Trong môi trường có độ pH thấp, chỉ có những vi sinh vật chịu được pH thấp mới sinh trưởng và phát triển được (hệ vi sinh vật có lợi) Nhưng với độ pH này có thể kiềm hãm những vi sinh vật ưa kiềm hoặc trung tính hoặc có thể giết chúng (hệ vi sinh vật tùy nghi)
Axit hữu cơ làm giảm pH trong thức ăn và pH trong dạ dày Tại các giá trị pH thấp, các vi khuẩn có hại có thể bị ngừng phát triển hoặc bị chết Điều này còn phụ thuộc vào độ nhạy của vi sinh vật, độ pH, nồng độ và tính chất của axit hữu cơ được
sử dụng Hình 2.1 thể hiện sự nhạy cảm của một số vi sinh vật có hại ở độ pH thấp
Hình 2.1 Vi khuẩn có hại bị ức chế hoạt động ở mức pH thấp (< 3,5)
(Nguồn: theo INVE Company, 2002)
Hoạt động của vi khuẩn:
Tối thiểu ở pH = 3 – 4 Tối ưu ở pH = 6 – 8 Tối đa ở pH = 9 – 10
Trang 20Vì vậy, một số nghiên cứu gần đây quan tâm đến giá trị đệm của nguyên liệu thức ăn với mục đích tổ hợp khẩu phần với giá trị đệm thấp nhất để góp phần hạ thấp pH dạ dày – ruột từ đó tạo điều kiện cho nhóm vi sinh vật có lợi phát triển, ức chế nhóm vi sinh vật gây hại, kích hoạt một enzym tiêu hóa hoạt động tốt hơn, do vậy tăng khả năng tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất của heo con, đồng thời giảm pH đường ruột, giảm tỉ lệ tiêu chảy
2.3 Sự thay đổi hệ thống enzym
Từ 20 – 25 ngày tuổi, trong dịch vị của vật nuôi thiếu HCl, nên không đủ để hoạt hóa pepsinogen thành pepsin, do pepsin hoạt động yếu, sự tiêu hóa protein sữa nhờ vào enzym tripsin của tuyến tụy Ngoài ra, thiếu HCl sẽ không đủ làm tăng độ toan của dạ dày, không ức chế được sự phát triển của vi sinh vật có hại, chúng vẫn phát triển mạnh dễ gây tiêu chảy Việc thiếu hụt HCl còn dẫn đến thiếu hụt các men tiêu hóa như amylase, lipase và các enzym tiêu hóa này cũng sẽ thay đổi theo độ tuổi của vật nuôi
Theo Lawlor và ctv (2005), enzym pepsin làm việc tốt trong môi trường axit (pH 2 – 3,5), hoạt động của enzym này giảm nhanh chóng khi độ pH tăng cao Thủy phân tinh bột trong dạ dày xảy ra bởi hoạt động của emzym amilase Enzym amilase trái ngược với enzym pesin là nó bị bất hoạt khi giảm pH xuống 3,5
Các enzym tiêu hóa biến đổi theo độ tuổi của heo con, vì vậy khi cung cấp thức ăn cho heo con trong giai đoạn này cần phải nắm rõ nguyên tắc biến đổi của enzym trong từng giai đoạn của heo để tổ hợp khẩu phần sao cho phù hợp Sự thiếu hụt hay dư thừa chất dinh dưỡng đều gây bất lợi cho đường tiêu hóa của heo con
2.4 Tổng quan về các nguyên liệu
2.4.1 Nhóm nguyên liệu cung năng lượng
Là những nguyên liệu có hàm lượng các chất bột đường (carbonhydrate) và chất béo chiếm ít nhất 50 % trong thành phần hóa học của nguyên liệu Trong khẩu phần thức ăn, nhóm này thường chiếm hàm lượng lớn (60 – 80 %)
Trang 21Bắp
Bắp (Zea mays), còn gọi là ngô, có xuất xứ từ Châu Mỹ, là loại hạt quan trọng
dùng trong thực phẩm chăn nuôi Ở việt Nam, bắp được trồng nhiều ở các tỉnh miền Đông và cao nguyên như Đồng Nai, Bình Thuận, Lâm Đồng, và một số tỉnh đồng bằng sông cửu Long như An Giang, Long An, Đồng Tháp
Hạt bắp bao gồm phần vỏ ngoài mỏng, lớp cám, lớp phôi nhũ rồi đến phôi nằm trong cùng nhưng gần đầu nhỏ của hạt Bắp dùng chăn nuôi chủ yếu là bắp vàng Hạt bắp sau khi thu hoạch có thể chế biến bằng các biện pháp sấy khô, hấp, ép đùn, ép miếng Bắp trắng có thành phần dinh dưỡng giống như bắp vàng nhưng thiếu sắc tố nên không có lợi đặc biệt là khi dùng trong thức ăn của gà Bắp vàng là nguồn cung sắc tố caroten để tạo màu vàng da, lòng đỏ trứng gà
Trong khẩu phần cho heo, gà thì bắp là nguồn cung năng lượng chủ lực thường được dùng với tỉ lệ khá cao (60 - 70 %) Tuy nhiên, do trong bắp chứa nhiều axit béo không no nên giảm chất lượng mỡ, cần cho ăn ở mức thấp hơn ở cuối kỳ vỗ béo
Theo Dương Thanh Liêm và ctv (2002), bắp là nguyên liệu cung năng lượng nên hàm lượng protein của bắp thấp, chỉ khoảng 8 – 9,5 % và chất lượng protein cũng kém Protein chủ yếu của bắp là zein, là loại prolamine có lysine rất thấp và hầu như không có Tryptophan Hàm lượng khoáng Ca, P trong bắp cũng rất thấp (Ca: 0,1 – 0,25 %; P: 0,05 – 0,1 %) Do vậy, bắp là nguyên liệu có tính kiềm yếu nên khi trung hòa thì chỉ cần một lượng nhỏ axit Boulduan (1988), bắp là nguyên liệu có giá trị đệm thấp (130 – 180 meq/kg)
Nhược điểm chính khi dùng bắp là nguy cơ nhiễm nấm mốc và độc tố chính là
aflatoxin từ nấm mốc Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus Bắp sử dụng trong
thức ăn chăn nuôi cần có mức aflatoxin thấp hơn 50ppb Vì vậy, để dự trữ sử dụng trong chăn nuôi, hạt bắp cần phải được phơi hoặc sấy khô để hạ độ ẩm xuống dưới
13 %
Trang 22Cám gạo
Theo Dương Thanh Liêm và ctv (2002), cám gạo là phụ phẩm của lúa khi xay xát Lượng cám thu được bình quân là 10 % khối lượng lúa Tùy theo lượng trấu còn lẫn trong cám ít hay nhiều mà cám được phân loại làm cám loại I và loại II Ngoài ra, còn có loại cám lau là phụ phẩm của việc lau bóng gạo cho xuất khẩu Cám lau khó sử dụng trong thức ăn công nghiêp do độ ẩm cao, rất mau đóng vón, mau bị ôi làm hư hỏng các dưỡng chất
Cám gạo có hàm lượng chất béo khá cao nhưng hàm lượng xơ thô cũng cao Thường được sử dụng trong thức ăn heo, bò, không nên dùng quá 30 % trong khẩu phần vì lượng phospho dưới dạng phytin cao sẽ ức chế tiêu hóa các dưỡng chất như protein, axit amin, và các loại vi khoáng
Lúa mì
Về tổng thể, lúa mì là thực phẩm quan trọng cho loài người, sản lượng chỉ đứng sau bắp và lúa gạo trong số các loài cây lương thực Hạt lúa mì là một loại lương thực chung được sử dụng để làm bột mì trong sản xuất các loại bánh mì, mì sợi, bánh, kẹo v.v… cũng như được lên men để sản xuất bia rượu hay nhiên liệu sinh học
Lúa mì được gieo trồng rộng rãi ở một số nước có khí hậu ôn đới, do nó có sản lượng lớn trên mỗi đơn vị diện tích, với bột mì có chất lượng cao và đa dạng, được
sử dụng rộng rãi trong sản xuất bánh mì
Hầu như chỉ sử dụng phụ phẩm sau khi làm bánh mì và cám mì trong thức ăn vật nuôi Do sự cạnh tranh với thực phẩm của người nên người ta ít dùng lúa mì hạt
Khoai mì
Khoai mì còn được gọi là sắn (Manihot esculenta) Khoai mì sử dụng trong
chăn nuôi dưới dạng khoai mì thô, khoai mì lát phơi khô, bã bột mì, bột lá khoai mì
Củ khoai mì khô chứa khoảng 83 % chất bột đường, chủ yếu là tinh bột, khoảng 3 % protein thô và 3,7 % xơ thô
Trang 23Bột khoai mì có hàm lượng đạm rất thấp (2,5 %), hàm lượng Ca, P cung rất thấp ( Ca: 0,1 – 0,2 %; P: 0,05 – 0,06 %) nên giá trị đệm của khoai mì rất thấp thường chỉ dùng được trong thức ăn heo thịt
Mức sử dụng khoai mì trong thức ăn khoảng 0 – 35 %
Một số lưu ý khi sử dụng khoai mì là:
• Heo giai đoạn cuối sử dụng khẩu phần có nhiều khoai mì dễ dẫn đến có nhiều mỡ, quầy thịt có màu đỏ nhạt và làm giảm giá trị thương phẩm của thịt heo
• Một số giống khoai mì cao sản có hàm lượng HCN rất cao trong lá và củ khoai mì nên khi sử dụng cần phải lưu ý để khắc phục
Bột sữa gầy
Là phụ phẩm có được sau khi sữa nguyên chất đã lấy béo và lấy protein trong công nghệ chế biến phô mai Phần còn lại chứa chủ yếu là protein tan trong nước, khoáng và đường lactose
Bột sữa gầy dạng bột màu trắng hoặc vàng, chứa 70 – 75 % lactose và 12 % -
13 % protein thô rất thích hợp để làm chất thay thế sữa và trong khẩu phần cho heo con tập ăn và heo con cai sữa Ở thú non, bột sữa được tiêu hóa rất tốt trong khi thú lớn có thể gây tiêu chảy do thiếu men tiêu hóa lactose
2.4.2 Nhóm nguyên liệu cung đạm
Những nguyên liệu trong nhóm này có hàm lượng đạm của nó cao hơn so với nhu cầu về đạm thô của đối tượng mà nó cung cấp
2.4.2.1 Nguyên liệu có nguồn gốc động vật
Nhóm này thường chỉ chiếm một phần nhỏ trong khẩu phần (3 – 15 %), có hàm lượng đạm cao và chất lượng đạm tốt Tuy nhiên, có nhược điểm là giá cao, nguồn cung không thường xuyên, dễ nhiễm vi sinh vật có hại
Bột cá
Bột cá là nguồn cung đạm động vật không thể thiếu trong khẩu phần thức ăn cho gia súc, gia cầm, vì có giá trị sinh học protein cao Bột cá giàu Lysine, Methionine và Tryptophane, đó là các loại axit amin thường thiếu nhất trong khẩu
Trang 24phần thức ăn hạt cốc Không những bột cá có hàm lượng protein cao mà bột cá còn chứa hàm lượng khoáng rất cao: Ca (5 %), P (2,5 %)
Phân loại bột cá tùy theo hàm lượng đạm thô: Bột cá 40 % đạm, bột cá 50 % đạm, bột cá 60 % đạm, v.v… Dựa trên hàm lượng muối, bột cá được chia làm hai loại: bột cá mặn và bột cá lạt Bột cá lạt là những loại có hàm lượng muối dưới 5 %
và đạm khoảng 50 % trở lên Bột cá tốt là nguồn cung cấp protein chất lượng cao, nhưng giá thành bột cá cao so với nguyên liệu khác nên thường sử dụng trong các khẩu phần của heo, gà khi cần nhiều protein chất lượng cao Bột cá dùng cho gia súc được chế biến từ loại cá thứ phẩm hoặc những phần bỏ của nhà máy chế biến thủy sản cho người
Trên thế giới các nước sản xuất nhiều bột cá chất lượng cao là Peru, Chile, Ecuador, Mỹ, Nam Phi Những loại cá thường được dùng để sản xuất bột cá là cá trích, cá mòi, cá cơm Ở Việt Nam khu vực có nguồn nguyên liệu cá cơm dồi dào là Bình Thuận nhưng bột cá cơm ở Việt Nam chỉ đạt khoảng 55 % đạm (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002)
Sử dụng bột cá trong khẩu phần nhằm kích thích tính thèm ăn và tạo độ ngon miệng cho heo nhưng nhược điểm chính của nó là khả năng nhiễm vi sinh vật gây
bệnh (Salmonella, E.coli), hoặc nồng độ muối cao trong các loại bột cá mặn có thể
gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thú, nhất là thú non Hàm lượng bột cá được khuyến cáo sử dụng trong khẩu phần là 0 – 10 %
Bột thịt xương
Là sản phẩm được chế biến từ thịt và xương động vật hoặc các phụ phẩm sau khi chế biến ở lò mổ gia súc Thành phần dinh dưỡng của bột thịt xương không ổn định, nó phụ thuộc vào nguyên liệu chế biến Hàm lượng protein khoảng 30 – 50 % tùy theo bột thịt xương hay bột thịt Trong protein của bột thịt xương giàu các axit amin, đặc biệt là lysine, methionine, tryptophan và threonine Bột thịt xương là nguồn cung canxi và phospho hữu dụng rất tốt (Ca: 7 – 10 %; P: 3,8 – 5 %) Ngoài
Trang 25Tuy nhiên, bột thịt xương được sản xuất từ các nguyên liệu có nguồn gốc từ động vật nên không được sử dụng trong khẩu phần ăn của bò, cừu, dê và các gia súc nhai lại khác do sợ bị lây nhiễm qua các mầm bệnh còn hiện diện trong bột thịt xương (điển hình như bệnh bò điên)
2.4.2.2 Nguyên liệu có nguồn gốc thực vật
Khô dầu đậu nành
Là phụ phẩm của hạt đậu nành sau khi đã được ép lấy dầu Khô dầu đậu nành
là nguồn cung protein quan trọng trong thức ăn gia súc ở nhiều nước trên thế giới
Nó có thành phần dinh dưỡng biến động phụ thuộc vào công nghệ ép dầu Hàm lượng đạm thô trong khoảng 43 – 49 %, xơ thô 8,8 %, giàu axit amin thiết yếu, nhất
là Lysine, mặc dù hàm lượng các axit amin chứa lưu huỳnh hơi thấp so với nhu cầu của gia cầm Khô dầu đậu nành có màu vàng nhạt tới vàng sậm và có mùi thơm đặc trưng của đậu nành nên người ta thường bổ sung với hàm lượng khá cao trong thức
ăn của vật nuôi để kích thích tính thèm ăn của chúng Theo Nguyễn Thị Mộng Thùy (2011) cho thấy mặc dù khô dầu đậu nành có hàm lượng đạm khá cao nhưng do hàm lượng Ca, P rất thấp (khoảng 0,5 %) so với bột cá và bột thịt nên giá trị đệm của nó thấp hơn so với bộ cá và bột xương thịt
Các nhà chăn nuôi cần lưu ý khi sử dụng các khô dầu: Các loại khô dầu khi bảo quản trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao rất dễ bị nhiễm nấm mốc và sản sinh nhiều độc tố nấm mốc, rất nguy hại cho sức khỏe vật nuôi và năng suất chăn nuôi
DDGS (Distillers Dried Grain with Solubles)
DDGS là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất ethanol công nghiệp Ở Mỹ và Châu Âu đã cung cấp một nguồn DDGS lớn cho thị trường nguyên liệu thức ăn chăn nuôi Do có hàm lượng chất dinh dưỡng cao nên hiện nay DDGS được sử dụng làm thức ăn cho heo
Màu sắc DDGS thay đổi từ vàng sáng đến nâu tối, mùi thay đổi từ bình thường đến mùi khói Do có màu tự nhiên của nguyên liệu trong việc chưng cất, thời gian sấy và nhiệt độ sấy
Trang 26Giá trị năng lượng của DDGS tương đương với đậu nành, hàm lượng protein thô của DDGS là 27 %, thấp hơn đậu nành (44 – 48 %) DDGS và đậu nành đều có các axit amin thiết yếu như Lysine, Methionin, Threonin, Tryptophan Tuy nhiên các axit amin này ở đậu nành có hàm lượng cao hơn và dễ tiêu hóa hơn so với trong DDGS
Khô dầu cọ
Cọ dầu được trồng để lấy các buồng quả của nó, mỗi buồng quả có thể cân nặng tới 40 - 50 kg Sau khi thu hoạch, toàn bộ quả (cùi thịt, hạt) đều được dùng để sản xuất xà phòng và dầu thực vật dùng trong nấu ăn; các phẩm cấp dầu cọ khác nhau thu được từ hạt hay cùi thịt, trong đó dầu từ cùi thịt chủ yếu dùng cho nấu ăn còn dầu từ hạt được dùng để chế biến thực phẩm Những sản phẩm phụ còn lại được đưa vào máy sấy, ép thành khô dầu
Một số nước nhiệt đới như Malaysia, Indonesia, Nigeria trồng và sản xuất nhiều khô dầu cọ từ cây cọ dầu
Khô dầu cọ thường chỉ chứa 18 – 19 % protein thô nhưng có đến 13 % xơ thô nên chất lượng thấp hơn so với khô dầu dừa và thường được dùng nhiều trong thức
ăn của thú nhai lại
2.4.3 Nguyên liệu cung khoáng
Bột đá vôi vôi
Bột đá vôi vôi được sản xuất từ việc nghiền đá vôi trong tự nhiên nên giá thành chế biến thấp, bột đá vôi vôi có chứa 33 – 34 % canxi Ngoài ra, còn có đá vôi đen (dolomite) là dạng CaMg(CO3)2 thường được sử dụng trong thức ăn thủy sản để tạo nguồn dinh dưỡng cho sự phát triển của tảo lục làm thức ăn cho tôm (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002) Bột đá vôi vôi có chứa nhiều Ca nên nó có tính chất kiềm cao do đó khả năng gắn kết với axit rất cao
DCP (Dicalcium Phosphate)
Là hóa chất thông dụng để cung cấp canxi và phospho Theo Dương Thanh
Trang 27Bột sò
Bột sò chứa khoảng 32 % canxi, được sản xuất từ việc nghiền các loại vỏ sò nghêu từ công nghiệp chế biến hải sản nên có giá thành rất thấp và là nguồn cung cấp canxi dồi dào (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002)
Trang 28Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: Thí nghiệm đã được tiến hành từ ngày 10/02/2012 đến ngày 15/06/2012
Địa điểm lấy mẫu: Mẫu được lấy ngẫu nhiên từ các cửa hàng mua bán thức ăn chăn nuôi, các trại chăn nuôi, các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi ở các tỉnh thành như Tiền Giang, Long An, Đồng Nai, Bình Dương và Thành Phố Hồ Chí Minh
Địa điểm phân tích: Bộ môn Dinh Dưỡng – khoa CNTY, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
3.2 Thiết bị dụng cụ và hóa chất
Thiết bị: Cân điện tử bốn số (Kern), máy đo pH (HANA HI – 2210) với điện
cực HI – 1131, máy khuấy từ, burrette 25 ml
Hóa chất: Dung dịch HCl 0,1 N, dung dịch NaOH 0,1 N, dung dịch chuẩn pH
= 7, dung dịch chuẩn pH = 4, nước cất, dung dịch bảo quản điện cực
3.3 Nội dung thí nghiệm
Xác định các giá trị ABC, BUF của một số nguyên liệu thức ăn
3.4 Phương pháp tiến hành
3.4.1 Đối tượng khảo sát
Thí nghiệm được tiến hành trên 17 nguyên liệu khác nhau với tổng số 236 mẫu Các nguyên liệu được thu thập một cách ngẫu nhiên
Trang 29Bảng 3.1 Các nguyên liệu dùng trong thí nghiệm
3.4.2 Thu thập, xử lý và bảo quản mẫu
Các mẫu nguyên liệu được lấy ngẫu nhiên khoảng 200 g – 500 g từ mỗi lô sản
phẩm dùng cho phân tích và lưu trữ Nguyên liệu sau khi lấy mẫu được ghi rõ: tên
nguyên liệu, nguồn gốc, ngày lấy mẫu, người lấy mẫu
Nhóm cung năng lượng
Trang 30Mẫu được đưa vào phòng thí nghiệm và mỗi mẫu được mã hóa theo kí hiệu riêng Sau đó mỗi mẫu được đổ ra khay riêng để đảo trộn và làm đều Tiếp đó mẫu được đưa vào máy nghiền thô và nghiền tinh để xay mịn (kích thước hạt cỡ 0,1 mm) Sau khi xay xong đổ ra khay và tiếp tục trộn đều Cuối cùng, chia mẫu thành hai phần, một phần cho vào lọ nhựa để làm thí nghiệm và phần còn lại thì được đưa vào phòng lạnh để lưu trữ Đặc biệt, kiểm tra mẫu sao cho mẫu có độ ẩm tối đa nhỏ hơn 14 % để tránh ẩm mốc trong quá trình phân tích và bảo quản mẫu
3.4.3 Phương pháp phân tích
Cân chính xác 0,5 g nguyên liệu thức ăn đã được nghiền mịn cho vào cốc thủy tinh 150 ml và cho thêm 49,5 ml nước cất vào cốc, đưa dung dịch này lên máy khuấy để mẫu hòa tan vào nước Đo pH dung dịch sau khi khuấy 30 phút (đo bằng máy đo pH HANNA – HI 2210) và ghi nhận kết quả sau 3 phút cân bằng Dung dịch này được dùng để xác định giá trị đệm của nguyên liệu (phương pháp này phù hợp với điều kiện thực tế của phòng thí nghiệm, do vậy kết quả giá trị ABC, BUF được xác định theo Lawlor và ctv, 2005)
Chuẩn độ dung dịch của nguyên liệu thức ăn sau khi đo pH ban đầu về pH =
5, pH = 4, pH = 3 bằng dung dịch HCl 0,1 N Ghi nhận thể tích HCl cần dùng để chuẩn độ tại các mức pH Nếu pH của dung dịch nguyên liệu thấp (tức là pH nhỏ hơn 3 hoặc 4) được chuẩn độ như trên bằng dung dịch NaOH 0,1 N về pH = 3, pH =
4, pH = 5 Ghi nhận thể tích NaOH cần dùng tại mỗi mức pH, giá trị ABC, BUF được cho giá trị âm
Mỗi mẫu nguyên liệu thí nghiệm được thao tác lặp lại 2 lần để đảm bảo độ chính xác cao hơn Tất cả các phép đo được thực hiện bằng cách sử dụng máy đo
pH phòng thí nghiệm (HANNA HI 2210) được hiệu chỉnh với dung dịch pH chuẩn với các mức pH = 4 và pH = 7
Trang 31Hình 3.1 Máy đo pH HANNA – HI2210 và hệ thống chuẩn độ
3.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi
Do nhiều tác giả khi mô tả khái niệm đã có những mốc pH khác nhau làm chuẩn, từ 5 – 4 hoặc 3 nên trong nghiên cứu này các đo lường được thực hiện ở cả
Trang 32ABC chia cho đơn vị pH thay đổi (nghĩa là pH ban đầu dung dịch trừ cho pH cuối cùng là 5 (BUF – 5), 4 (BUF – 4), 3 (BUF – 3)
ABC (meq) = số ml HCl dùng chuẩn độ * 10-3 (qui đổi mililit về lit) * 103(qui đổi ra meq vì 1 mol = 1 eq = 103 meq)* 103/0,5 (qui đổi cho 1 kg nguyên liệu)
=> ABC – 5 (meq) = số ml HCl dùng chuẩn độ đưa pH nguyên liệu về 5*100/0,5
=> BUF – 5 (meq) = ABC (meq) ở mức 5/ (pH ban đầu – 5)
Cách tương tự đối với ABC – 4, ABC – 3, BUF – 4, BUF – 3
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm Excel 2007 và phần mềm Minitab 16 for Windows
Trang 33Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đánh giá giá trị ABC, BUF của nhóm nguyên liệu cung năng lượng
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 5 nguyên liệu cung năng lượng với tổng
số lượng là 75 mẫu, kết quả được thể hiện ở bảng 4.1 và bảng 4.2 sau đây:
Bảng 4.1 Giá trị ABC của nhóm nguyên liệu cung năng lượng
Nguyên liệu n
pH ban đầu
X ± SD
ABC - 5 (meq/kg)
X ± SD
ABC - 4 (meq/kg)
X ± SD
ABC - 3 (meq/kg)
X ± SD Bắp 15 6,33b ± 0,30 35,87c ± 11,12 81,87d ± 19,49 188,53c ± 24,84
(Ghi chú: các trung bình trong cột có chữ theo sau khác nhau thì khác biệt có
ý nghĩa thống kê với ** là sự khác biệt có ý nghĩa ở mức 1%, *** là sự khác biệt có
rất ý nghĩa ở mức 0,1%)
Bảng 4.2 Giá trị BUF của nhóm nguyên liệu cung năng lượng
Nguyên liệu n
pH ban đầu
X ± SD
BUF-5 (meq/kg)
X ± SD
BUF-4 (meq/kg)
X ± SD
BUF-3 (meq/kg)
(Ghi chú: các trung bình trong cột có chữ theo sau khác nhau thì khác biệt có
ý nghĩa thống kê với ** là sự khác biệt có ý nghĩa ở mức 1%, *** là sự khác biệt có
rất ý nghĩa ở mức 0,1%)
Trang 34Qua bảng 4.1 và bảng 4.2 cho thấy trong nhóm nguyên liệu cung năng lượng, bắp có giá trị ABC và BUF thấp nhất với ABC - 5 là 35,87 meq/kg, BUF – 5 là 26,72 meq/kg và cám gạo có ABC và BUF cao nhất như ở mức ABC - 5 là 211,5 meq/kg, BUF – 5 là 156,05 meq/kg
Qua xử lý thống kê cho thấy giá trị pH ban đầu của các nguyên liệu cung năng lượng có sự khác biệt (P < 0,01) và giá trị ABC, BUF của mỗi nguyên liệu trong nhóm nguyên liệu cung năng lượng có sự khác biệt rất có ý nghĩa (P < 0,001)
Giá trị ABC, BUF của các nguyên liệu cung năng lượng được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao như sau: bắp < lúa mì < khoai mì < bột sữa gầy < cám gạo
Theo Boulduan (1988) và Levic (2005), giá trị đệm phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng protein và hàm lượng khoáng của mỗi nguyên liệu Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, hàm lượng các thành phần hóa học của bắp (protein: 7,96 %, Ca: 0,19 %, P: 0,3 %) thấp hơn nhiều so với cám gạo (protein: 12,01 %, Ca: 0,27 %, P: 1,08 %) Điều đó có thể ảnh hưởng đến giá trị đệm của bắp, làm cho giá trị đệm của bắp thấp và của cám gạo cao
Giá trị ABC, BUF của bắp, lúa mì, khoai mì so với giá trị ABC, BUF của bột sữa gầy và cám gạo ở tất cả các mức giá trị đệm đều có sự khác biệt rất có ý nghĩa
về mặt thống kê (P < 0,001) Do thời gian làm thí nghiệm hạn chế nên chúng tôi không phân tích được thành phần hóa học của lúa mì, khoai mì, bột sữa gầy Nhưng
sự khác biệt về giá trị ABC, BUF của từng nguyên liệu có thể là do sự khác biệt về hàm lượng protein và khoáng của mỗi nguyên liệu
Trên thú non hệ tiêu hóa chưa phát triển đầy đủ nên chúng ta cần sử dụng các nguyên liệu dễ tiêu hóa trong khẩu phần Nhóm nguyên liệu cung năng lượng chiếm
60 – 80 % khẩu phần thức ăn, trong đó bắp chiếm tới 40 – 50 % trong nhóm này Sở
dĩ bắp được sử dụng rộng rãi là vì bắp là cây trồng phổ biến thích hợp với khí hậu nhiều nơi trên thế giới Ngoài ra, theo kết quả thí nghiệm của chúng tôi cho thấy bắp còn có giá trị đệm thấp, với giá trị đệm thấp sẽ làm giảm giá trị đệm của khẩu phần
Trang 35So sánh kết quả ABC của các nguyên liệu cung năng lượng với kết quả ABC
của một số nghiên cứu trước đây
Bảng 4.3 So sánh kết quả ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của bắp
Bắp
ABC - 5 (meq/kg)
X ± SD
ABC - 4 (meq/kg)
X ± SD
ABC - 3 (meq/kg)
Bảng 4.3 cho thấy kết quả ABC của bắp ở thí nghiệm chúng tôi thực hiện đối
với ABC – 5 có giá trị tương đương với Makkink (2001) Ở mức ABC – 4, ABC – 3
của Lawlor và ctv (2005) có kết quả nghiên cứu cao hơn hẳn so với các tác giả mà
chúng tôi tham khảo và cũng cao hơn so với các kết quả phân tích từ thí nghiệm của
chúng tôi So với Nguyễn Thị Mộng Thùy (2011), Cao Thị Thu Thùy (2011) và
Boulduan và ctv (1988) thì kết quả của chúng tôi không có sự khác biệt nhiều ở các
giá trị ABC
Bảng 4.4 So sánh kết quả ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của khoai mì
Khoai mì
ABC - 5 (meq/kg)
X ± SD
ABC - 4 (meq/kg)
X ± SD
ABC - 3 (meq/kg)
Trang 36Bảng 4.4 ta thấy so với kết quả ABC của Nguyễn Thị Mộng Thùy (2011), Cao Thị Thu Thùy (2011), kết quả thí nghiệm của chúng tôi có sự khác biệt không nhiều Kết quả của chúng tôi thấp hơn kết quả của Lawlor và ctv (2005) ở ABC - 4, ABC - 3 Sự khác biệt này do các mẫu được thu thập từ các nguồn gốc khác nhau Hơn nữa, các mẫu khoai mì được thu thập có nhiều loại như mẫu khoai mì ngọt có
vỏ hoặc không vỏ, khoai mì đắng có vỏ hoặc không vỏ… Và khoai mì bị ảnh hưởng rất nhiều bởi điều kiện khí hậu, điều kiện canh tác khác nhau Do đó thành phần hóa học của các mẫu trong phân tích khác nhau dẫn đến sự chênh lệch về giá trị đệm này
Bảng 4.5 So sánh kết quả ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của cám gạo
Cám gạo
ABC - 5 (meq/kg)
X ± SD
ABC - 4 (meq/kg)
X ± SD
ABC - 3 (meq/kg)
Trang 37Bảng 4.6 So sánh kết quả ABC - 5, ABC - 4, ABC - 3 của bột sữa gầy
Bột sữa gầy
ABC - 5 (meq/kg)
X ± SD
ABC - 4 (meq/kg)
X ± SD
ABC - 3 (meq/kg)
4.2 Đánh giá giá trị ABC, BUF của nhóm nguyên liệu cung đạm
Chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm trên 5 nguyên liệu với tổng số là 93 mẫu Trong đó, số DDGS là nguyên liệu chúng tôi thu thập được nhiều mẫu nhất
Bảng 4.7 Giá trị ABC của nhóm nguyên liệu cung đạm
Nguyên
liệu n
pH ban đầu
X ± SD
ABC-5 (meq/kg)
X ± SD
ABC-4 (meq/kg)
X ± SD
ABC-3 (meq/kg)
X ± SD
DDGS 35 4,31d ± 0,32 - 94,90d ± 57,80 50,20d ± 58,60 272,70
e ± 57,80
Bã cọ 10 5,98 c ± 0,25 117,60 c ± 44,10 277,20 c ± 59,60 445,60
d ± 68,80 KDĐN 15 6,78b ± 0,17 271,70b ± 42,90 551,70b ± 87,80 898,30
b ± 119,00 Bột
huyết 23 6,89
b ± 0,55 218,30c ± 44,10 306,80c ± 53,20 661,90
c ± 83,10 Bột cá 20 7,37a ± 0,36 1185,00a ± 185,70 2096,50a ± 193,80 2908a ± 228,10
F *** *** *** ***
(Ghi chú: các trung bình trong cột có chữ theo sau khác nhau thì khác biệt có
ý nghĩa thống kê với *** là sự khác biệt có rất ý nghĩa ở mức 0,1%)
Trang 38Bảng 4.8 Giá trị BUF của nhóm nguyên liệu cung đạm
Nguyên
liệu n
pH ban đầu
X ± SD
BUF-5 (meq/kg)
X ± SD
BUF-4 (meq/kg)
X ± SD
BUF-3 (meq/kg)
X ± SD
DDGS 35 4,31d ± 0,32 -137,83d ± 41,36 188,49b ± 90,81 212,11b ± 26,83
Bã cọ 10 5,98c ± 0,25 117,92b ± 26,74 138,93bc ± 20,03 148,86c ± 15,50 KDĐN 15 6,78 b ± 0,17 152,46 b ± 19,94 198,02 b ± 27,45 237,28 b ± 27,96 Bột
huyết 23 6,89
b ± 0,55 70,13c ± 19,29 108,36c ± 19,79 171,84c ± 21,13
Bột cá 20 7,37a ± 0,36 526,09a ± 73,74 650,70a ± 114,87 687,66a ± 02,26
F *** *** *** ***
(Ghi chú: các trung bình trong cột có chữ theo sau khác nhau thì khác biệt có
ý nghĩa thống kê với *** là sự khác biệt có rất ý nghĩa ở mức 0,1%)
Kết quả bảng 4.7 và bảng 4.8 cho thấy giá trị pH ban đầu của các nguyên liệu biến động rất lớn Trong nhóm nguyên liệu cung đạm thì giá trị ABC và BUF của DDGS là thấp nhất, bột cá có giá trị ABC và BUF cao nhất Qua xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt về giá trị ABC, BUF giữa các nguyên liệu cung đạm rất có ý nghĩa
về mặt thống kê (P < 0,001)
Giá trị ABC của nhóm nguyên liệu cung đạm được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao như sau: DDGS < bã cọ < bột huyết < khô dầu đậu nành < bột cá Giá trị BUF của nhóm nguyên liệu cung đạm có sự thay đổi về thứ tự sắp xếp, cho nên giá trị này được sắp xếp từ thấp đến cao như sau: bột huyết < bã cọ < DDGS < khô dầu đậu nành < bột cá
Trong nhóm nguyên liệu cung đạm có nguồn gốc động vật mà chúng tôi khảo sát thì bột cá là nguyên liệu có giá trị ABC, BUF cao nhất với ABC - 5 (1185 meq/kg), BUF - 5 (526,09 meq/kg) Dựa trên thành phần hóa học thì bột cá có hàm lượng protein (54,93 %), và hàm lượng khoáng cao (Ca 10,33 %, P 2,74 %), mà
Trang 39phần cho heo con chúng ta nên chú ý cân đối hàm lượng bột cá cho vào khẩu phần
để tránh tình trạng làm tăng giá trị đệm gây nên hiện tượng tiêu chảy ở heo con Trong hai nguyên liệu cung đạm có nguồn gốc thực vật mà chúng tôi nghiên cứu thì khô dầu đậu nành có giá trị ABC, BUF cao với ABC - 5 (271,70 meq/kg), BUF – 5 (152,46 meq/kg) Mặc dù khô dầu đậu nành có hàm lượng protein khá cao (47,13 %) nhưng giá trị đệm của nó thấp hơn so với giá trị đệm của bột cá Đặc điểm này có thể là do khô dầu đậu nành có hàm lượng canxi và phospho thấp hơn rất nhiều so với bột cá Hàm lượng Ca của khô dầu đậu nành là 0,43 %, còn hàm lượng P là 0,5 % Đây là điều cần lưu ý khi chọn các nguyên liệu để tổ hợp khẩu phần cho heo con, vì khô dầu đậu nành vừa cung hàm lượng protein cao, vừa đảm bảo giá trị đệm của khẩu phần thấp, giúp cho heo con có khả năng tiêu hóa và hấp thu thức ăn hiệu quả Tuy nhiên, chúng ta cũng cần chú ý bổ sung thêm các axit amin thiết yếu mà khô dầu đậu nành không đáp ứng đủ
Bột huyết cũng là nguyên liệu cung đạm có nguồn gốc động vật nhưng giá trị ABC, BUF của nó thấp hơn so với bột cá như ở mức ABC – 5, BUF - 5 của bột huyết lần lượt là 218,3 meq/kg, 70,13 meq/kg Ngoài ra, bột huyết có giá trị BUF thấp hơn so với DDGS do bột huyết có giá trị pH cao hơn so với DDGS Mặc dù giá trị đệm của bột huyết thấp nhưng khi bổ sung nguyên liệu này vào khẩu phần chúng
ta nên cân nhắc lại vì hàm lượng protein của nó rất cao và trong quá trình dự trữ bột huyết dễ bị nhiễm vi sinh vật
DDGS là nguyên liệu có độ pH thấp nhất (pH = 4,31) nên chúng tôi sử dụng NaOH 0,1 N để chuẩn lên mức pH 5 do đó ở mức ABC – 5, BUF - 5 của DDGS có giá trị âm (-94,90 meq/kg), BUF – 5 (-137,83 meq/kg) Do DDGS là phụ phẩm quá trình sản xuất ethanol nên DDGS đã bị axit hóa dẫn đến nó có tính axit Hơn nữa, theo nguồn số liệu thu được từ phòng phân tích của Bộ Môn Dinh Dưỡng, trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh (2012), DDGS có hàm lượng protein là 27,1
% và hàm lượng canxi là 0,18 %, phospho là 0,61 % Nhờ đặc điểm giá trị đệm thấp, cho nên trong khi tổ hợp khẩu phần chúng ta có thể sử dụng DDGS nhằm góp phần làm giảm giá trị đệm của khẩu phần