BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y ****************** LÊ THỊ NGA CHẨN ĐOÁN BỆNH MAREK TRÊN GÀ ĐẺ THƯƠNG PHẨM, GÀ TA CHĂN NUÔI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
******************
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHẨN ĐOÁN BỆNH MAREK TRÊN GÀ ĐẺ THƯƠNG PHẨM,
GÀ TA CHĂN NUÔI THEO PHƯƠNG THỨC CÔNG NGHIỆP
BẰNG KỸ THUẬT PCR, NUÔI CẤY PHÂN LẬP
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
******************
LÊ THỊ NGA
CHẨN ĐOÁN BỆNH MAREK TRÊN GÀ ĐẺ THƯƠNG PHẨM,
GÀ TA CHĂN NUÔI THEO PHƯƠNG THỨC CÔNG NGHIỆP
BẰNG KỸ THUẬT PCR, NUÔI CẤY PHÂN LẬP
TRÊN PHÔI TRỨNG VÀ BỆNH TÍCH VI THỂ
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sĩ Thú y
Giáo viên hướng dẫn
ThS Nguyễn Thị Thu Năm
Tháng 08/2012
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực hiện: Lê Thị Nga
Tên luận văn: “Chẩn đoán bệnh Marek trên gà đẻ thương phẩm, gà ta chăn
nuôi theo phương thức công nghiệp bằng kỹ thuật PCR, nuôi cấy phân lập trên phôi trứng và bệnh tích vi thể”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa ngày……
Giáo viên hướng dẫn
ThS.Nguyễn Thị Thu Năm
Trang 4Xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô trong Khoa Chăn Nuôi Thú Y đã tận tình truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức khoa học chuyên môn, cũng như về thực
tế đời sống trong suốt năm năm qua Đó là những kiến thức vô cùng quý giá, là hành trang không thể thiếu cho mỗi sinh viên trước khi bước vào đời
Xin được khắc ghi lòng kính trọng và nhớ ơn cô Nguyễn Thị Thu Năm đã hết lòng dìu dắt, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài tốt nghiệp, luôn chia sẽ chỉ bảo và động viên em những lúc khó khăn nhất
Xin cảm ơn Ban Quản Lý Bệnh Viện Thú Y đã tạo mọi điều tốt nhất để tôi hoàn thành đề tài
Xin cảm ơn anh Lê Trần Thái Anh (công ty thuốc Viphavet), chị Lê Thị Tuyết Toan, anh Nguyễn Phạm Huỳnh cùng các chị làm việc ở Bệnh Viện Thú Y đã giúp đỡ tôi rất nhiều khi thực tập
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả bạn bè của tôi đã giúp đỡ, chia sẽ với tôi những khó khăn trong suốt thời gian học tập và thực tập
Chân thành cảm ơn
Lê Thị Nga
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài “Chẩn đoán bệnh Marek trên gà đẻ thương phẩm, gà ta chăn nuôi
theo phương thức công nghiệp bằng kỹ thuật PCR, nuôi cấy phân lập trên phôi trứng và bệnh tích vi thể” được tiến hành tại Bệnh Viện Thú Y, thời gian từ ngày
01/02/2012 đến 30/06/2012
Chúng tôi thu thập 21 ca có triệu chứng và bệnh tích nghi ngờ bệnh Marek, tiến hành lấy mẫu thực hiện phản ứng PCR, nuôi cấy phân lập trên phôi trứng và cắt vi thể
để xác định bệnh Marek trên gà Chúng tôi ghi nhận được kết quả như sau:
Kỹ thuật PCR xác định bệnh Marek cho kết quả dương tính là: 85,71 %
16 ca nuôi cấy phân lập qua phôi trứng cho kết quả âm tính (không xuất hiện nốt pock)
Thực hiện bệnh tích vi thể cho kết quả nghi ngờ bệnh Marek là 100 %
Trang 6MỤC LỤC
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt iv
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các hình ix
Danh sách các bảng x
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Lịch sử bệnh 3
2.2 Căn bệnh 4
2.2.1 Phân loại và hình thái 4
2.2.2 Kháng nguyên 4
2.2.3 Sức đề kháng 5
2.2.4 Nuôi cấy 5
2.2.5 Khả năng gây bệnh 6
2.3 Dịch tễ học 6
2.3.1 Loài mắc bệnh 6
2.3.2 Chất chứa căn bệnh 6
2.3.4 Cơ chế sinh bệnh 7
Trang 72.4 Triệu chứng 8
2.4.1 Thể mãn tính 8
2.4.2 Thể cấp tính 10
2.5 Bệnh tích đại thể 11
2.5.1 Thể mãn tính 11
2.5.2 Thể cấp tính 11
2.6 Bệnh tích vi thể 12
2.7 Chẩn đoán 13
2.7.1 Chẩn đoán lâm sàng 13
2.7.2 Chẩn đoán cận lâm sàng 13
2.7.3 Chẩn đoán phân biệt 13
2.8 Phòng bệnh 15
2.3 Giới thiệu phương pháp PCR 15
2.3.1 Giới thiệu 15
.2.3.2 Nguyên tắc chung 15
2.3.3 Các giai đoạn của phản ứng PCR 16
2.3.4 Thành phần phản ứng PCR 18
2.3.4.1 Tag DNA polymerase 18
2.3.4.2 Đoạn mồi hay primer 18
2.3.4.3 Các nucleotide (dNTP) 18
2.3.4.4 MgCl2 19
2.3.4.5 Bufer 19
2.3.4.6 Nước 19
2.3.4.7 DNA khuôn mẫu 19
2.3.5 Ưu và nhược điểm của kỹ thuật PCR 20
2.3.6 Kiểm tra kết quả PCR 20
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 22
Trang 83.1 Thời gian và địa điểm 22
3.1.1 Thời gian 22
3.1.2 Địa điểm 22
3.2 Đối tượng khảo sát 22
3.3 Vật liệu, hóa chất và dụng cụ thí nghiệm 22
3.3.1 Vật liệu 22
3.3.2 Hóa chất 22
3.3.3 Dụng cụ 23
3.4 Nội dung thí nghiệm 23
3.5 Phương pháp nghiên cứu 23
3.5.1 Xác định bệnh Marek bằng kỹ thuật PCR 25
3.5.1.1 Ly trích DNA từ bệnh phẩm 25
3.5.1.2 Phản ứng PCR để xác định bệnh Marek trên gà 26
3.5.2 Phân lập MDV trên phôi trứng gà 27
3.5.3 Lấy mẫu cắt vi thể 30
3.6 Đánh giá 3 phương pháp khi chẩn đoán MD 32
3.7 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Kết quả chẩn đoán bệnh Marek bằng kỹ thuật PCR 33
4.3 Kết quả chẩn đoán MD qua bệnh tích vi thể 36
4.4 Đánh giá kỹ thuật PCR, nuôi cấy trên phôi trứng và bệnh tích vi thể dùng trong chẩn đoán MD 38
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC 43
Trang 9DANH SÁCH CÁC CHỮ TÓM TẮT
MDV: Marek’s Disease Virus
HVT: Herpese Virus of Turkey
MATSA: Marek’s disease turmor – associated surface antigent
dNTP: deoxyribonucleic triphosphate
PBS: Phosphate Buffered Saline
PCR: Polymera Chain Reaction
Ds DNA: Double strand Deoxyribonucleic acid
ss DNA: single strand Deoxyribonucleic acid
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cơ chế sinh bệnh của MDV 8
Hình 2.2 Gà bị liệt 9
Hình 2.3 Trên da có nhiều khối u 9
Hình 2.4 Con ngươi bị hẹp méo mó, mống mắt đổi màu (a), mắt gà bình thường (b)
10
Hình 2.5 Dây thần kinh sưng to 11
Hình 2.6 Gan có nhiều khối u 12
Hình 2.7 Nguyên tắc của PCR 17
Hình 3.1 Cách chọn lông cánh 24
Hình 3.2 Gan có khối u 24
Hình 3.3 Lách sưng, có khối u 25
Hình 3.4 Dạ dày tuyến sưng to, xuất huyết 25
Hình 3.5 Đường tiêm túi lòng đỏ 28
Hình 3.6 (a) sát trùng buồng hơi; (b) tiêm huyễn dịch 28
Hình 3.7 Cắt vỏ trứng và hút nước trứng 29
Hình 4.1 Kết quả chạy PCR .34
Hình 4.2 Màng CAM khi thu hoạch trứng 35
Hình 4.3 Lympho lan tràn khắp nơi trong mô gan 38
Hình 4.4 Lmpho xâm nhập trong các múi tuyến của dạ dày tuyến 37
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân biệt bệnh Marek và Lymphoid Leukosis 14
Bảng 3.1 Bảng bố trí các phương pháp khảo sát 23
Bảng 3.2 Số các cơ quan thực hiện cắt mẫu vi thể 30
Bảng 4.1 Kết quả xác định bệnh Marek bằng kỹ thuật PCR 33
Bảng 4.2 Kết quả kiểm tra MDV từ nước trứng bằng kỹ thuật PCR 35
Bảng 4.3 Kết quả bệnh tích vi thể 36
Bảng 4.4 Đánh giá các kỹ thuật dùng trong chẩn đoán MD 38
Trang 12Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng đã có những bước tiến đáng kể Chúng góp phần cung cấp một khối lượng lớn thịt, trứng cho nhu cầu sinh hoạt ngày càng tăng của con người Đó là nguồn thực phẩm vô cùng bổ dưỡng làm tăng chất lượng bữa ăn cho gia đình
Để thỏa mãn nhu cầu thịt, trứng gia cầm ngày càng cao, ngành chăn nuôi gia cầm theo hướng công nghiệp hóa đang trên đà phát triển Tuy nhiên, việc phát triển đàn một cách nhanh chóng đã làm tăng nguy cơ lây lan và thậm chí phát sinh nhiều dịch bệnh nguy hiểm gây thiệt hại lớn cho nhà chăn nuôi Hiện nay, tình hình dịch bệnh hết sức phức tạp Trong đó, một trong những bệnh gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi gia cầm là bệnh Marek
Bệnh Marek được phát hiện từ năm 1907, là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của gà do virus thuộc nhóm Herpes gây nên Với các triệu chứng lâm sàng như gầy ốm, mặt mồng tái, đi lại khó khăn, cánh liệt sã xuống một bên hoặc hai bên, viêm mống mắt dẫn đến mù, liệt chân
Bệnh Marek gây chết, làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, tăng tỉ lệ loại thải, giảm chất lượng quầy thịt, giảm sản lượng trứng, tăng chi phí thuốc thú y, do đó làm giảm hiệu quả chăn nuôi
Vì thế, việc phải chẩn đoán bệnh Marek nhanh và chính xác nhằm kiểm soát, khống chế bệnh có hiệu quả và giảm thiệt hại do MDV gây ra là nhu cầu rất cần thiết trong thực tế sản xuất
Trang 13Xuất phát từ vấn đề trên, được sự đồng ý của Khoa Chăn nuôi Thú Y – Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và dưới sự hướng dẫn tận tình của ThS
Nguyễn Thị Thu Năm, chúng tôi thực hiện đề tài “Chẩn đoán bệnh Marek trên gà đẻ
thương phẩm, gà ta chăn nuôi theo phương thức công nghiệp bằng kỹ thuật PCR, nuôi cấy phân lập trên phôi trứng và bệnh tích vi thể”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Chẩn đoán bệnh Marek trên gà đẻ thương phẩm, gà ta chăn nuôi theo phương thức công nghiệp giúp người chăn nuôi tìm được nguyên nhân gây bệnh, từ đó làm giảm thiệt hại kinh tế và có biện pháp phòng bệnh tốt hơn, cũng như trao dồi kinh nghiệm cho bản thân
1.2.2 Yêu cầu
Lấy mẫu thực hiện phản ứng PCR xác định hiện diện của virus Marek
Lấy mẫu nuôi cấy virus gây bệnh Marek trên phôi trứng 4 – 5 ngày tuổi
Thực hiện cắt vi thể nhằm xác định tỷ lệ xuất hiện bệnh tích nghi bệnh Marek trêncác cơ quan
Đánh giá kết quả chẩn đoán bệnh Marek từ 3 phương pháp trên
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN 2.1 Lịch sử bệnh
Bệnh Marek là bệnh u lympho ở gà với sự xâm nhiễm và tăng sinh cao độ tế bào lympho và sự hủy myelin của tế bào ngoại biên, từ đó gây rối loạn cơ năng vận động làm bại liệt (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2010)
Năm 1907, Jozef Marek là nhà nghiên cứu người Hungary lần đầu tiên mô tả hiện tượng bại liệt trên gà cùng những bệnh tích vi thể ở não, tủy sống và thần kinh ngoại biên và gọi là “polyneuritis” (viêm dây thần kinh ngoại biên)
Tính đa dạng về bệnh lâm sàng của bệnh Marek, sự kết hợp triệu chứng bại liệt
và xuất hiện những khối u lympho…khiến nó được gọi dưới nhiều tên khác nhau như: viêm đa dây thần kinh, viêm thần kinh tủy, ung thư thần kinh…và trong thời gian dài
đã lầm lẫn nó với bệnh Leucose do Retrovirus gây nên Trên cơ sở dịch tễ học mô tả,
năm 1961, Biggs đề nghị tên gọi “bệnh Marek” (Marek’s disease) để phân biệt với tăng sinh các tế bào lympho khác
Mãi đến năm 1967, Churchill mới phân lập được virus gây bệnh Một số đặc điểm của virus cho phép hiểu rõ hơn về mặt dịch tễ học của bệnh
Năm 1970 - 1971, vaccin Marek đầu tiên ra đời ở Mỹ từ một loại virus Herpese trên gà tây Đây là sự kiện lịch sử quan trọng trong lịch sử y học – một loại vaccin được dùng để phòng bệnh ung thư
Riêng ở nước ta, trước năm 1975, người ta ghi nhận những biểu hiện trên gà tại một số trại chăn nuôi ở miền Nam Sau đó Nguyễn Văn Hanh (1978 – 1988), Lê Thanh Hòa (1982), Hồ Đình Chúc (1983) nghiên cứu bệnh Marek… Virus Marek đã được Hồ Đình Chúc phân lập và giám định (Trần Thanh Phong, 1996)
Trang 152.2 Căn bệnh
2.2.1 Phân loại và hình thái
Năm 1967, Biggs và Churchill đã xác định Marek là do một loại Herpese virus type B gây ra Đến 1969 thì Cook và sau đó là Glasser và cộng sự đã chứng minh virus
có cấu tạo AND, có vỏ bọc hình khối lục giác 6 cạnh với 162 capsul Tóm tắt phân loại của MDV như sau:
Về gen và cấu kháng nguyên của virus
Gen có liên quan đến sinh khối u: pp38 (38 kD) hiện diện trong các dòng
tế bào và các khối u có mặt ở cả 3 serotype và meq (Marek’ EcoQ) 40kD chỉ có mặt ở serotype 1
Gen glycoprotein gồm gen C mã hóa cho kháng nguyên A kích thích sự sản xuất kháng thể kết tủa khuếch tán trên thạch và gen B mã hóa cho kháng nguyên B làm tăng miễn dịch bảo vệ
Trang 16Kháng nguyên MATSA (Marek’s disease turmor – associated surface antigent) là kháng nguyên bề mặt có liên quan đến khối u ở bệnh Marek, thấy xuất hiện trên những tế bào T bị biến đổi
Những kháng nguyên này tồn tại không chỉ ở trong bản thân virus mà còn tồi tại
ở những tế bào sống chứa virus Marek (Marek’s Disease Virus – MDV)
(Nguyễn Thị Phước Ninh, 2010)
2.2.3 Sức đề kháng
MDV không có vỏ bọc tức virus chưa hoàn chỉnh do đó có sức đề kháng kém Chúng bị tiêu diệt ở môi trường pH nhỏ hơn 5,5 hoặc lớn hơn 8,4, và ở 56 0C chúng chết trong vài giây
MDV có vỏ bọc tức virus trưởng thành được thải ra với tế bào biểu bì nang lông
có sức đề kháng cao dưới tác động bất lợi của các yếu tố lý hóa… Trong chuồng trại chúng tồn tại 19 – 44 ngày, trong tế bào nang lông đã thoát ra khỏi cơ thể chúng tiếp tục sống 28 – 42 ngày, trong chất độn chuồng MDV tồn tại 28 – 112 ngày và nếu ở nhiệt độ chuồng 25 0C, độ ẩm 65 – 75 % chúng tồn tại trên 8 tháng, trong điều kiện pH
= 3 hoặc pH = 11 virus Marek bị bất hoạt trong thời gian 10 phút, ở 4 0C trong 2 tuần,
MDV được nuôi cấy tốt trên nhiều môi trường tế bào, đặc biệt là môi trường tế bào thận gà một lớp Sau khi nuôi cấy 4 – 5 ngày hình thành bệnh tích đặc hiệu (CPE –
Trang 17Cytopathogen Effect) tế bào bị tác động vón lại thành từng đám nhỏ gọi là syncytium
có hai hay nhiều nhân Tạo những plaque có đường kính < 1mm và những thể bao hàm trong nhân (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2010)
2.2.5 Khả năng gây bệnh
Khả năng gây bệnh khác nhau tùy chủng, vị trí địa lý phân lập được virus Một
số MDV có độc lực cao luôn gây bệnh Marek ác tính, số khác có động lực trung bình chỉ gây bệnh Marek mãn tính Ngoài ra có một số độc lực yếu không có khả năng gây bệnh, được dùng để điều chế vaccine (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2010)
3 – 6 tuần tuổi (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2010)
2.3.2 Chất chứa căn bệnh
MDV tồn tại trong tế bào nang lông và sống dai hơn virus trong chất bài tiết của
gà bệnh (Lê Hồng Mận, Trần Công Xuân, Lưu Kỷ và Phùng Đức Tiến, 1999) Sự phát tán những tế bào này trong không khí làm lây lan bệnh Virus cũng được thải qua phân, chất độn chuồng Không thấy virus truyền qua phôi trứng Não, gan, lách, dây thần kinh là nơi chứa virus nhiều nhất
Trang 182.3.3 Đường xâm nhập
Bệnh lây lan trực tiếp hoặc gián tiếp, con đường lây lan thông thường là đường
hô hấp và cũng là con đường nguy hiểm nhất Virus trong nang lông phát tán trong không khí theo các tế bào nang lông hoặc do sự tiếp xúc giữa gà bệnh và gà khỏe, giữa
gà và các phương tiện, dụng cụ trong chăn nuôi, kể cả con người Virus từ không khí nhiễm vào nước, thức ăn, dụng cụ chăn nuôi, bụi…từ đó xâm nhập vào cơ thể gây bệnh cho gà qua tiêu hóa hay hô hấp (Phan Đức Thắng, 2007)
2.3.4 Cơ chế sinh bệnh (Trần Thanh Phong, 1996)
Sauk hi gà hít phải bụi bẩn có lẫn nang lông chứa virus, virus Marek sẽ định vị tại đường hô hấp Sau vài ngày, virus sẽ được bạch cầu trong hệ thống hô hấp tiếp nhận
và vận chuyển đến lách, tuyến ức và túi Fabricius Tại đây, virus sẽ gây nhiễm và phá hủy tế bào lympho B, làm cho lách sưng, túi Fabricius sưng hoặc teo
Vào ngày thứ 5, do việc nhiễm, tế bào lympho B bị phá hủy, hệ miễn dịch của
gà bắt đầu nhận ra và phản ứng chống lại virus, điều này lại làm chậm sự tấn công lan rộng của virus
Từ ngày 5 – 7, nhiều tế bào lympho T được sản sinh để đối phó, nhưng chính nó lại là tế bào đích của virus này và bị nhiễm virus một cách từ từ và dần trở thành tế bào ung thư chứa virus
Từ ngày 7 – 14, qua đường máu các bạch cầu bị nhiễm virus sẽ đến các cơ quan khác, đặc biệt là tại tế bào nang lông, tế bào thượng bì (da) Nó phân chia và hình thành những virion gây nhiễm đủ sức truyền lây bệnh cho những gà khác
Sau ngày 14, sự suy giảm miễn dịch thường xuyên bắt đầu xuất hiện Sự phân hủy tế bào T và B xảy ra nặng nề hơn
Tuần thứ 4 – 5 sau khi bị nhiễm, những tế bào lympho xâm nhập thần kinh gây bại liệt
Tuần 5 – 6 sau khi nhiễm, gà bắt đầu hình thành khối u do sự biến đổi nhanh chóng của tế bào lymppho T thành tế bào ung thư
Trang 19Thể thần kinh: Theo Lê Văn Năm (2003) thì tác giả thường quan sát thấy các
biểu hiện của thần kinh ngoại biên nhiều hơn là thần kinh trung ương Đó là gà bị liệt hoặc bán bại liệt Lúc đầu thì gà đi lặc nhẹ, ngón chân chụm lại với nhau, gà sã một trong hai cánh, sau đó nặng dần lên và liệt hoặc bán liệt Gà đi không cân đối loạng choạng thất thểu, lúc ngã bên này lúc ngã bên kia Khi bệnh nặng chân gà có thể bị liệt hoàn toàn, gà nằm với tư thế rất điển hình: một chân duỗi thẳng căng ra phía trước, chân còn lại duỗi căng ra phía sau, bàn chân sau ngửa hẳn lên trời Liệt cánh một hoặc hai bên
Trang 20Hình 2.2 Gà bị liệt
(http://gatredatviet.com/showthread.php?422-B%E1%BB%87nh-Marek)
Thông thường gà liệt hay bán liệt vẫn ăn uống bình thường Song vì không có khả năng tự tìm kiếm thức ăn, nước uống nên chúng cứ gầy dần và chết vì đói và khát hoặc bị những con khát chèn đạp đến chết Một số khác cũng vì lí do trên sinh bệnh thứ phát và cũng chết vì bệnh thứ phát
Thể da, mắt: Một số gà chết hoặc chưa chết, quan sát kỹ da và sờ vào chân
lông đùi, hai bên cánh, bụng sẽ thấy các nốt thịt thừa có độ lớn khác nhau, kích thước
từ hạt kê đến hạt đỗ hoặc sau khi vặt lông ta còn thấy những lỗ chân lông nổi cộm lên như các nốt thịt thừa bám chặt vào da ở đùi, bụng, ngực, vai, cánh…những nốt thịt thừa đó là những khối u da của bệnh Marek
Hình 2.3 Trên da có nhiều khối u
(http://agriviet.com/nd/2788-benh-marek/)
Trang 21Ngoài những biến đổi ở da, còn thấy một số ít gà có những biểu hiện ở mắt Con ngươi bị hẹp lại hoặc biến dạng một trong hai mắt, ít khi cả hai mắt Con ngươi mắt có hình lá, hình sao, tam – tứ giác hoặc nhiều góc cạnh Theo Biggs và Payner thì thể mắt xảy ra ở gà lớn tuổi, thường là trên 134 ngày tuổi Bình thường, mống mắt có màu da cam, đồng tử tròn to, ở gà con thì mống mắt có màu đen Khi bị bệnh thần kinh, thị giác mắt bị tổn thương không hoàn thành chức năng điều tiết dẫn đến đồng tử mắt bị biến đổi hay bị sưng, thủy tinh thể đục lại, mống mắt chuyển sang màu vàng lưu huỳnh
và bị biến dạng hình sao, có thể bị mù
Bệnh ở thể dạng này thì ít gây chết (Lê Văn Năm, 2003)
Hình 2.4 Con ngươi bị hẹp méo mó, mống mắt đổi màu (a), mắt gà bình thường (b)
(http://www.aquabird.com.vn/forum/showthread.php?t=80377&page=1 (a);
http://chovietvn.com/thu-nuoi-cay-canh/33948-ha-noi-hcm-ga-tre-choi-nuoc-gia - 300k.html (b))
2.4.2 Thể cấp tính
Bệnh Marek cấp tính thường biểu hiện chủ yếu ở trạng thái ức chế và thần kinh ngoại biên Tỷ lệ chết cao từ 10 – 30 %, có khi lên tới 70 % (OIE Terestrial Mannual 2010) Tất cả gà ốm và chết do bệnh Marek cấp tính đều có khối u nội tạng Gà bị bệnh
có biểu hiện lâm sàng sớm: 1,5 – 5 tháng tuổi đối với gà hướng thịt và 2 – 2,5 tháng
Trang 22tuổi đối với gà hướng trứng Gà ít có triệu chứng bệnh điển hình, gà thường chết đột ngột, gà suy yếu, liệt rồi chết Gà chết nhiều lúc trước và sau khi đẻ vài ba tuần Khả năng đẻ và tỉ lệ trứng giảm sút ghê gớm Nhiều khi hiện tượng giảm đẻ là hiện tượng đáng chú ý nhất của bệnh (Lê Văn Năm, 2003)
2.5 Bệnh tích đại thể
2.5.1 Thể mãn tính
Viêm tăng sinh dây thần kinh ngoại biên, dây thần kinh đùi, hông – chậu, cánh… sưng to gấp 4 – 5 lần, mất vân óng ánh, có màu trắng đục và dễ đứt Mống mắt viêm, đổi màu, con ngươi biến dạng Khối u trên các cơ quan nội tạng, da và cơ (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2010)
Hình 2.5 Dây thần kinh sưng to
Trang 23Những khối u trên da đóng vai trò quan trọng trong việc lây truyền bệnh Marek
Vì chân lông nơi có nhiều khối u đặc biệt là các tế bào hóa sừng chứa rất nhiều virus hoàn chỉnh có khả năng gây bệnh
Hình 2.6 Gan có nhiều khối u
(http://www.biopharmachemie.com/vi/technical/benh-marek-tren-ga-de-va-ga-thit-109)
2.6 Bệnh tích vi thể
Dạng A: Thường đặc trưng cho thể Marek cấp tính Thành phần khối u chủ yếu
là sự tăng sinh của các tế bào bạch huyết, tế bào nguyên thủy, tế bào lưới hoạt động và lympho bào Tế bào lympho có dạng to, nhỏ, trung bình
Dạng B: Thường đặc trưng cho thể Marek mãn tính Gây viêm dây thần kinh, phù, tăng sinh cao độ các tế bào lympho, tập trung ở mức độ vừa và nhẹ của tương bào
và tế bào lympho dạng nhỏ
Dạng C: Là loại bệnh tích nhẹ của thể bệnh ẩn không có triệu chứng lâm sàng
Xuất hiện những vùng biến đổi nhỏ và phân tán, tập trung các tế bào lympho non và
tương bào
Dạng bệnh tích A và B phá hủy myelin của thần kinh dẫn đến bại liệt
(Lê Văn Năm, 2003)
Trang 242.7 Chẩn đoán
2.7.1 Chẩn đoán lâm sàng
Dựa vào các triệu chứng điển hình của bệnh Marek như: các triệu chứng thần kinh liệt hoặc bán liệt với sự có mặt của các khối u nội tạng, u da, và biến đổi ở mắt, các trạng thái thuộc triệu chứng ức chế: xù lông, sệ cánh, gầy tọp, teo cơ và chết trong khi gà vẫn ăn uống bình thường Cần chú ý hiện tượng liệt cũng có thể xuất hiện ở nhiều bệnh khác song ở đây liệt xuất hiện từ từ và trở nên cố định Bên cạnh đó, chúng
ta cần kết hợp với việc mổ khám để xác định các bệnh tích đại thể cũng như vi thể
2.7.2 Chẩn đoán cận lâm sàng
Những khối u, dây thần kinh đùi, mắt gà bị bệnh…được phân lập trên môi trường tế bào một lớp (tế bào thận gà, tế bào xơ phôi vịt) và phôi trứng gà 4 – 6 ngày tuổi là các phương pháp thường được sử dụng trong chẩn đoán bệnh Marek
Để chẩn đoán nhanh bệnh Marek, ngày nay người ta thường sử dụng phương pháp huyết thanh học Xác định kháng nguyên bằng PCR hoặc sử dụng kính hiển vi điện tử Xác định kháng thể bằng các phương pháp như: kết tủa khuếch tán trên thạch, miễn dịch huỳnh quang, ELISA hay phản ứng trung hòa (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2010)
2.7.3 Chẩn đoán phân biệt
Theo Trần Thanh Phong, 1996, cần phân biệt bệnh Marek với:
o Bệnh Newcastle: Triệu chứng thần kinh thường đi kèm với gây bệnh tích đường hô hấp, đường tiêu hóa, không có khối u
o Bênh viêm não tủy truyền nhiễm: Triệu chứng thần kinh thường thấy trên
gà con và không có khối u
o Bệnh nấm phổi (Aspergillosis): Triệu chứng thần kinh với các u nấm ở đường hô hấp, ở não
o Bệnh độc thịt (Botulism): Sự bại liệt mềm, lan rộng khắp toàn thân gà
Gà không có khối u
Trang 25o Bệnh Lymphoid Leukosis (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Phân biệt bệnh Marek và Lymphoid Leukosis
Triệu chứng Thường xuyên liệt Không
Bệnh tích đại thể
U ở da, cơ và dạ dày tuyến Có thể có Thường không có
Bệnh tích vi thể
Túi Fabracius U giữa nang hay teo các nang U bên trong nang
Tăng sinh bạch huyết ở da hay
Tế bào khối u
Tế bào bạch huyết đa dạng:
nguyên bào lympho, tế bào lympho lớn, vừa, nhỏ và những
tế bào lưới Hiếm khi chỉ có nguyên bào
Nguyên bào lympho
Loại của tế bào bạch huyết
(OIE Terestrial Mannual 2010)
Trang 262.8 Phòng bệnh
Căn nguyên của bệnh Marek là do virus, nên chưa có thuốc điều trị Do vậy, vấn
đề phòng bệnh cho đàn gà là giải pháp được đặt lên hàng đầu
- Dinh dưỡng:Thức ăn phải đầy đủ chất dinh dưỡng, tốt nhất là sử dụng thức ăn tổng hợp Nguồn nước và thức ăn phải luôn luôn giữ cho sạch
- Quản lý đàn thật tốt: Cần thực hiện chính sách cùng vào cùng ra
- Vệ sinh thú y: kiểm tra và vệ sinh trạm ấp, chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi, giữ vệ sinh cho gà 1 ngày tuổi, tăng độ thông thoáng cho chuồng nuôi
- Vaccine: sử dụng vaccine có hiệu quả phòng bệnh một liều duy nhất lúc 1 ngày tuổi
2.3 Giới thiệu phương pháp PCR
2.3.1 Giới thiệu
Phương pháp PCR (Polymerase chain reaction – phản ứng tổng hợp dây chuyền nhờ polymerase) được phát minh bởi K.Mullis và cộng sự vào năm 1985 Đây là một phương pháp dùng để khuếch đại một đoạn gen mong muốn lên hàng triệu lần trong thời gian ngắn nhờ hoạt động của enzyme DNA polymerase và một cặp mồi đặc hiệu cho đoạn DNA này Hiện nay, kỹ thuật này được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu sinh và y học nhằm phục vụ nhiều mục đích khác nhau, như phát hiện các các sinh vật biến đổi gen, phát hiện nhanh các mầm bệnh ở mức độ thấp, là một phương tiện hữu ích trong việc sàng lọc bộ gen để phát hiện sự có mặt của một gen đích bất kỳ nào đó
Kỹ thuật PCR được ứng dụng để chẩn đoán một số bệnh di truyền, nhận dạng chẩn đoán các bệnh nhiễm trùng, tách dòng gene và phát hiện huyết thống (Tạ Thành Văn, 2010)
.2.3.2 Nguyên tắc chung
Tất cả DNA polymerase khi hoạt động tổng hợp một mạch DNA mới từ mạch khuôn mẫu điều cần sự hiện diện của những mồi chuyên biệt Mồi là những đoạn
Trang 27oligonucleotide ngắn dài khoản 20 – 30 base có khả năng bắt cặp bổ sung với một đầu của mạch khuôn và DNA polymerase sẽ nối dài mồi để hình thành mạch mới Phương pháp PCR đã được hình thành dựa vào đặc tính đó của các DNA polymerase Kỹ thuật PCR đòi hỏi chúng ta phải biết trình tự các đầu tận cùng của đoạn DNA cần khuếch đại, để tạo nên các olygonucleotide bổ sung chúng Đoạn mồi tác động lên sợi DNA theo chiều từ 3’ → 5’ gọi là mồi xuôi Đoạn mồi tác động theo chiều 5’ → 3’ gọi là mồi ngược
PCR là kỹ thuật khuếch đại một đoạn trình tự DNA đặc hiệu in vitro do sự xúc tác của enzyme DNA polymerase Sự khuếch đại được thực hiện nhờ các chu trình nhiệt lặp lại (có thể từ 30 – 40 lần) gồm đun nóng (94 – 95 oC), làm nguội (45 – 60 oC),
và ủ dài ở 72 oC Trong dung dịch có các primer (thường có 2 primer) bắt cặp bổ sung
ở hai đầu mạch đơn tương ứng
2.3.3 Các giai đoạn của phản ứng PCR
Một phản ứng PCR là một chuỗi gồm nhiều chu kỳ nối tiếp nhau, mỗi chu kỳ gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn biến tính: Nhiệt độ tăng lên 94 – 96 oC để làm biến tính
nucleic acid đích từ dạng sợi đôi (dsDNA) thành sợi đơn (ssDNA), dùng để làm khuôn tổng hợp sợi mới Thời gian 1 – 2 phút
Giai đoạn bắt cặp: Lúc này nhiệt độ trong buồng ủ PCR hạ xuống thấp hơn nhiệt độ nóng chảy của các mồi để các đoạn mồi (primer) bắt cặp theo nguyên tắc
bổ sung vào hai đầu của chuỗi nucleic acid đích, đây là giai đoạn quyết định nên tính đặc hiệu thì những sản phẩm PCR (PCR product) sẽ đặc hiệu Bước này gọi là gắn mồi Nhiệt độ giai đoạn này thường dao động trong khoảng 45 – 60 oC tùy thuộc vào nhiệt
độ biến tính (Tm :Temperature melting) của các mồi sử dụng Thời gian 1 – 2 phút tùy thuộc vào kích thước của sản phẩm khuếch đại