TÓM TẮT Đề tài được thực hiện từ ngày 14 /2/2012 đến ngày 10/5/2012 tại trại heo tư nhân Chiến Hiền với nội dung “khảo sát khả năng sinh sản của nái và bệnh thường gặp trên heo con theo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA NÁI VÀ CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN HEO CON
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực tập: LÊ NGỌC THÀNH
Tên luận văn: “Khảo sát sức sinh sản của nái và các bệnh thường gặp trên heo con theo mẹ”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội Đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa, ngày …… tháng
…… năm …
TS VÕ THỊ TRÀ AN
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Trong suốt thời gian qua, trường Đại học Nông Lâm TP.HCM là căn nhà thứ hai của em Toàn thể Thầy Cô và tất cả bạn bè đã tận tâm truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu cũng như tiếp thêm sức mạnh và động lực giúp em hoàn thành tốt chương trình học của mình
XIN GỞI LỜI BIẾT ƠN
Cô Võ Thị Trà An đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP HCM
Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi - Thú Y
Cùng toàn thể Quý Thầy Cô khoa Chăn Nuôi - Thú Y
Gia Đình đã luôn yêu thương, che chở và dạy bảo giúp con có nghị lực, phấn đấu để có được ngày hôm nay
XIN TRÂN TRỌNG CẢM TẠ
Chú Chiến chủ trại heo tư nhân Chiến Hiền
Toàn thể Chú, Bác, Anh, Em công nhân đã nhiệt tình giúp đỡ, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm và tạo điều kiện thuân lợi cho em thực hiện đề tài trong suốt thời gian thực tập tại trại heo
CẢM ƠN
Toàn thể các bạn lớp DH07 TY thân yêu và những người bạn yêu quý đã thương yêu, chia sẻ và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua
LÊ NGỌC THÀNH
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài được thực hiện từ ngày 14 /2/2012 đến ngày 10/5/2012 tại trại heo tư
nhân Chiến Hiền với nội dung “khảo sát khả năng sinh sản của nái và bệnh thường
gặp trên heo con theo mẹ” nhằm đóng góp cơ sở dữ liệu cho công tác giống, tình
hình bệnh trên heo con theo mẹ Đề tài thực hiện trên 41 nái đẻ, 38 nái nuôi con,
415 heo con sơ sinh, 396 heo con sơ sinh còn sống, 376 heo con giao nuôi, 361 heo con cai sữa
Kết quả trung bình về khả năng sinh sản của nái được ghi nhận như sau: số con đẻ ra trên ổ là 10 con, số con sơ sinh còn sống trên ổ là 9,59 con, trọng lượng toàn ổ heo con sơ sinh còn sống là 14,9 kg, trọng lượng bình quân heo con sơ sinh còn sống trên ổ là 1,57 kg, số heo con giao nuôi là 9,83 con, số con cai sữa trên ổ là 9,43 con, trọng lượng toàn ổ cai sữa đã điều chỉnh là 53,69 kg, trọng lượng bình quân heo con cai sữa đã hiệu chỉnh là 5,66 kg Tỷ lệ ngày con tiêu chảy trung bình
là 8,01%, trong giai đoạn khảo sát không ghi nhận trường hợp heo con ho
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt iv
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt ix
Danh sách các bảng x
Danh sách các sơ đồ xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nái 3
2.1.1 Yếu tố di truyền 3
2.1.2 Yếu tố ngoại cảnh 4
2.2 Một số bệnh ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của nái 5
2.2.1 Bệnh dịch tả heo 5
2.2.2 Bệnh do Parvovirus 6
2.2.3 Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo (Porcin Reproductive and Respiratory Syndrome – PRRS) 6
2.2.4 Bệnh Aujeszky (giả dại) 6
2.2.5 Bệnh do Leptospira 7
2.3 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của heo con theo mẹ 7
2.4 Bệnh tiêu chảy heo con 8
2.5 Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy 8
Trang 72.5.1 Do heo mẹ 8
2.5.2 Do heo con 9
2.5.3 Do chăm sóc nuôi dưỡng 10
2.5.4 Do điều kiện môi trường và ngoại cảnh 11
2.5.5 Do vi sinh vật 11
2.6 Triệu chứng 12
2.7 Cơ chế của tiêu chảy 13
2.8 Đặc điểm sinh lý hô hấp của heo 14
2.9 Nguyên nhân gây bệnh hô hấp 15
2.10 Tóm tắt một số nguyên cứu trước 16
2.10.1 Khả năng sinh sản của nái 16
2.10.2 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 18
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 19
3.1.1 Thời gian 19
3.1.2 Địa điểm 19
3.2 Đối tượng nghiên cứu 19
3.3 Giới thiệu sơ lược về trại tư nhân Chiến Hiền 19
3.3.1 Vị trí địa lý 19
3.3.2 Lịch sử hình thành 19
3.3.3 Nhiệm vụ và hướng phát triển của trại 19
3.3.4 Cơ cấu đàn 19
3.4 Điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng ở trại 20
3.4.1 Chuồng trại và trang thiết bị chuồng trại 20
3.4.1.1 Chuồng trại 20
3.4.1.2 Trang thiết bị chuồng trại 20
3.4.2 Thức ăn và nước uống 21
3.4.2.1 Thức ăn 21
Trang 83.4.3 Quy trình vệ sinh sát trùng chuồng trại 22
3.4.4 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng heo nái đẻ, nuôi con, heo con sơ sinh và heo con theo mẹ 23
3.4.5 Quy trình thú y 25
3.5 Nội dung nghiên cứu 25
3.5.1 Khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản của nái 25
3.5.1.1 Số heo con đẻ ra trên ổ (con/ổ) 25
3.5.1.2 Số heo con sơ sinh còn sống (con/ổ) 26
3.5.1.3 Trọng lượng toàn ổ heo con sơ sinh còn sống và trọng lượng bình quân heo con sơ sinh còn sống 26
3.5.1.4 Số heo con giao nuôi (con/ổ) 26
3.5.1.5 Số heo con cai sữa (con/ổ) 26
3.5.1.6 Trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa (kg/ổ) 26
3.5.1.7 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa (kg/con) (TLBQHCCS) 26
3.5.2 Các bệnh thường gặp trên heo con theo mẹ 26
3.5.2.1 Phương pháp nghiên cứu 27
3.5.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi các bệnh trên heo con theo mẹ 27
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 27
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản của nái 28
4.1.1 Số heo con đẻ ra trên ổ 28
4.1.2 Số heo con sơ sinh còn sống trên ổ 29
4.1.3 Trọng lượng toàn ổ heo con sơ sinh còn sống và trọng lượng bình quân heo con sơ sinh còn sống 31
4.1.4 Số heo con giao nuôi 33
4.1.5 Số heo con cai sữa 33
4.1.6 Trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa (kg/ổ) 34
4.1.7 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa 36
4.2 Các bệnh thường gặp trên heo con theo mẹ 37
Trang 94.2.1 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 37
4.2.2 Tỷ lệ ngày con hô hấp 38
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Đề nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC 45
Trang 10DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NSIF: National Swine Improvement Federation
Trang 11
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Hệ số di truyền một số tính trạng trên heo nái 4
Bảng 2.2: Tần xuất phân lập mầm bệnh gây bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ 11
Bảng 3.1: Cơ cấu đàn heo 20
Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng cám cho từng loại heo 21
Bảng 3.3: Thành phần dinh dưỡng cám 550 S, 551 S 22
Bảng 3.4: Quy trình thú y 25
Bảng 3.5: Hệ số điều chỉnh trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa về 21 ngày tuổi 26
Bảng 4.1: Số heo con đẻ ra trên ổ 28
Bảng 4.2: Số heo sơ sinh còn sống 30
Bảng 4.3: Trọng lượng toàn ổ heo con sơ sinh còn sống và trọng lượng bình quân heo con sơ sinh còn sống 31
Trang 12DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1: Cơ chế sinh bệnh 13
Trang 13Ngày nay chăn nuôi heo ở nước ta không ngừng phát triển, từ chăn nuôi nhỏ
lẻ hộ gia đình đến chăn nuôi theo hình thức công nghiệp với quy mô lớn và mức độ tập trung cao
Qua thực tế để chăn nuôi heo thành công thì phải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giá cả trong đó có giá thức ăn và giá bán heo tùy theo đối tượng heo nuôi, khả năng sinh sản của nái, dịch bệnh … Nhưng hai yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến sự thành công đó là khả năng sinh sản của nái và bệnh thường gặp ở heo nhất là heo con theo mẹ Trong các bệnh thường gặp ở heo con theo mẹ thì bệnh tiêu chảy và hô hấp là những bệnh thường xảy ra và ảnh hưởng nghiêm trọng nhất lên sức khỏe đàn heo, tỷ lệ chết và trọng lượng heo khi cai sữa
Do đó, việc đánh giá khả năng sinh sản của nái và tình hình dịch bệnh, để có biện pháp phòng trị hiệu quả nhất để bảo vệ đàn heo nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế cho nhà chăn nuôi là yêu cầu rất cấp thiết Xuất phát từ yêu cầu trên, được sự chấp nhận của Khoa Chăn Nuôi Thú Y Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, với sự hướng dẫn của TS Võ Thị Trà An và sự giúp đỡ của trại chăn nuôi heo tư nhân Chiến Huyền, huyện Hớn Quảng, tỉnh Bình Phước chúng tôi tiến hành đề tài khảo sát khả năng sinh sản của nái và các bệnh thường gặp trên heo con
Trang 15Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nái
2.1.1 Yếu tố di truyền
Là đặc tính sinh học được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác những đặc tính của tổ tiên đã có Những giống có đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh sản và sức đề kháng tốt thì thế hệ con của nó cũng mang những đặc điểm đó và ngược lại Khi chọn heo làm giống phải dựa trên phả hệ của giống đó thông qua thành tích ông bà, cha mẹ xem có tốt không rồi mới tiến hành để chọn giống
Theo Morrow (1986) (trích dẫn bởi Võ Thị Tuyết, 1996), khả năng sinh sản của một số giống được đánh giá theo thứ tự từ xấu đến tốt như sau: Duroc, Yorkshire, Landrace, Pietrain Thường heo nái lai có khả năng đậu thai tốt và số heo con đẻ ra trong một lứa nhiều hơn so với heo nái giống thuần
Theo Galvil và ctv (1993) (trích dẫn bởi Võ Thị Tuyết, 1996), cho rằng tính mắn đẻ của heo nái phần lớn là do di truyền từ đời trước truyền lại cho con cháu các đặc điểm của mình Đặc tính này không thể thay đổi được mặc dù đã có những biện pháp khác như dinh dưỡng và kỹ thuật phối giống tốt
Theo Trần Thị Dân (2003), sự sai lệch về di truyền chịu trách nhiệm đến 50% của số phôi thai chết, dù vật nuôi ở ngoại cảnh tốt nhất cũng không thể làm cho con vật vượt khỏi tiềm năng di truyền của bản thân nó
Hệ số di truyền (h2) được dùng để đo lường sự di truyền của tính trạng và cho biết trung bình thế hệ sau giống thế hệ trước là bao nhiêu
Hệ số di truyền (h2) được trình bày qua Bảng 2.5
Trang 16Bảng 2.1: Hệ số di truyền một số tính trạng trên heo nái
1 Tuổi thành thục 0,33
2 Số con đẻ ra/lứa 0,11
3 Số con đẻ ra còn sống 0,09
4 Số con cai sữa 0,07
5 Số heo con còn sống đến cai sữa 0,05
6 Trọng lượng sơ sinh toàn ổ 0,29
7 Trọng lượng cai sữa toàn ổ ở 21 ngày tuổi 0,17
8 Thời gian lên giống lại sau cai sữa 0,25
(Lamberson, 1990, Mclaren và Bovey, 1992 và Blasco và ctv, (1993,1995), trích
dẫn bởi Bùi Tố Nhi, 2007)
2.1.2 Yếu tố ngoại cảnh
Là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến chức năng sinh sản của heo nái gồm:
khí hậu, mùa vụ, nhiệt độ, dinh dưỡng, chăm sóc quản lý, bệnh tật…
*Tiểu khí hậu chuồng nuôi gồm các yếu tố như: ẩm độ, nhiệt độ, ánh sáng,
độ thông thoáng… đều có ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sinh sản của heo
nái Khí hậu nóng làm thú mệt mỏi dễ bị stress nhiệt, khí hậu lạnh cùng với ẩm độ
cao cùng làm heo dễ bệnh đồng thời làm giảm khả năng sinh sản của nái
Theo Zimmerman (1996), (trích dẫn bởi Võ Thị Tuyết, 1996), nhiệt độ cao
(trên 350C), sẽ làm chậm hoặc ngăn cản sự xuất hiện động dục, giảm rụng trứng,
tăng tình trạng chết thai sớm, heo cái hậu bị mỗi ngày chịu đựng 400C trong 2 giờ
trong khoảng từ 1 – 13 ngày thì sau khi phối giống tỷ lệ đậu thai giảm 35% - 40%
Theo Nguyễn Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004), ẩm độ chuồng nuôi lên
khoảng 50 – 70% ẩm độ quá cao (> 90%) sẽ làm vật nuôi khó chịu mất cảm giác
ngon miệng và giảm khả năng tiêu hóa thức ăn Với điều kiện Việt Nam ẩm độ
trung bình 75 – 80% là đạt yêu cầu (Võ Văn Ninh, 2007)
Trang 17*Dinh dưỡng
Bên cạnh việc chọn con giống tốt, chế độ dinh dưỡng cho heo nái cũng rất quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của nái Khẩu phần ăn cần phải có đầy đủ và cân đối các thành phần dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nái
Heo hậu bị 5 – 6 tháng tuổi phải hạn chế, định lượng thức ăn để tránh hiện tượng mập mỡ kém khả năng sinh sản
Trong tháng đầu của thai kỳ, không nên cho heo nái ăn ở mức năng lượng cao Nái có lượng thức ăn tiêu thụ trong ngày cao (nhiều hơn 1,5 kg/ngày) thì năng suất sinh sản giảm do tỷ lệ phôi sống giảm khi nái ăn 1,5 kg/ngày thì tỷ lệ phôi sống là 82,8 %, còn khi ăn 3kg/ngày thì tỷ lệ phôi sống là 71,9 % (Trần Thị Dân, 2003)
*Chăm sóc nuôi dưỡng
Để không làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nái, người chăn nuôi cần phải chú ý đến yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng heo nái Việc chăm sóc tốt phát hiện kịp thời thú mắc bệnh để điều trị hiệu quả và can thiệp đúng lúc sẽ làm giảm tỷ lệ heo con chết ngộp hay bị mẹ đè và các nghi cơ khác
2.2 Một số bệnh ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của nái
2.2.1 Bệnh dịch tả heo
Là bệnh truyền nhiễm do vius lây lan rất mạnh, bệnh số và tử số cao trên đàn nhạy cảm Đặc điểm của bệnh là gây bại huyết, xuất huyết và hoại tử ở nhiều cơ quan nhất là đường tiêu hóa Heo mọi lứa tuổi đều mắc bệnh, bất kể mùa vụ Tuy nhiên heo con nhạy cảm hơn heo lớn nhất là những chủng độc lực yếu, dòng heo cao sản nhạy hơn những dòng heo bản sứ Những heo 5 – 35 kg thường nhạy cảm nhất và mắc thể cấp tính, heo nái thường là ổ chứa virus và truyền vius sang phôi của nó Tùy độc lực, số lượng virus, sức đề kháng… mà thời gian nung bệnh có thể
từ 5 – 10 ngày, heo nái có mang có thể sẩy thai, hấp thu những phôi hoặc đẻ ra những heo con yếu ớt và thường run rẩy Những heo nái cảm nhiễm sau khi chữa
Trang 18khỏi không còn triệu chứng nữa, nhưng vius xuyên qua nhau và heo con sinh ra run
và bài thải vius đến ngày thứ 56 sau khi sinh (Trần Thanh Phong, 1996)
2.2.2 Bệnh do Parvovirus
Là bệnh truyền nhiễm do AND vius gây xáo trộn sinh sản: Nâng, giảm lứa
đẻ, thai hóa gỗ và chết lúc sinh ra Heo nái cảm nhiễm vào cuối thai kỳ, sẽ đẻ ra những heo con nhiễm với kháng thể trung hòa rất cao hay trở nên tự miễn và giữ sự cảm nhiễm này cho đến hơn 8 tháng sau khi đẻ Heo nái cảm nhiễm vào đầu thời kỳ
có mang, thì chết phôi và heo nái chậm lên giống, hay giảm số heo con trong lứa do chết một phần phôi Khi cảm nhiễm phôi sau ngày 35 của kỳ có mang (lúc bắt đầu calci hóa xương sườn) sự hấp phụ hoàn toàn không thể xẩy ra, mà có dáng dấp của
sự “hóa gỗ” sự hóa gỗ có thể xẩy ra ở một số phôi thai hay toàn bộ Nếu cảm nhiễm chậm hơn, sẽ sinh ra những heo con rồi chết ngay sau khi sinh (Trần Thanh Phong, 1996)
2.2.3 Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome – PRRS)
Là một bệnh do virus gây ra với đặc điểm gây chứng ăn không ngon, khó thở, sốt, sảy thai, chậm lên giống trở lại, chậm tăng trưởng và tăng tỉ lệ chết trên heo cai sữa Bệnh sẽ phát triển nhẹ trong những trại nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý tốt và
sẽ nặng nề với giảm trọng lượng, những xáo trộn dai dẳng trong những trại nuôi dưỡng, quản lý tồi Do gây suy giảm miễn dịch, bệnh PRRS mở đường cho những
vi sinh vật cơ hội như Pasteurella multocida, Haemophilus parasuis, Streptococcus
suis, Actinobacillus pleuropneumoniae, Chlamydia psittaci, Lepstospira interrogans, virus giả dại, virus cúm, Enterovirus, Parvovirus…
Trên heo nái bệnh có biểu hiện ăn không ngon (1 – 4 ngày), thở khó, sốt thường không cố định (ít khi > 40 oC), sẩy thai có thể xảy ra ở nhiều giai đoạn của
sự có mang, lần đầu có thể vào ngày thứ 22 (Trần Thanh Phong, 1996)
2.2.4 Bệnh Aujeszky (giả dại)
Là bệnh truyền nhiễm do vius gây nên ở heo, loài gậm nhấm và nhiều loài động vật khác Ở heo, bệnh lan tràn dưới dạng nhiễm trùng tiềm ẩn, gây tử vong
Trang 19heo con bằng chứng viêm não cấp Heo là động vật cảm thụ mạnh nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc bài xuất căn bệnh và lây lan, sự nhạy cảm khác nhau tùy theo tuổi Heo nái sinh sản hầu như là cảm nhiễm thầm lặng, đôi khi người ta ghi nhận sốt, ăn không ngon hay kém ăn Trên heo nái có mang, thấy những xáo trộn sinh sản: Sẩy thai, 50% thường thấy ở tháng đầu hơn là tháng sau, thai khô hay thai ngậm nước trường hợp nái không sẩy thai, khi đẻ trong ổ có con sống, con chết (Trần Thanh Phong, 1996)
2.2.5 Bệnh do Leptospira
Là bệnh truyền nhiễm cho nhiều gia súc và người Trên heo bệnh có thể biểu hiện thầm lặng hoặc tạo sốt, hoàng đản trên heo con và sẩy thai hay đẻ ra những heo con chết lúc sinh trên heo nái Bệnh có nguồn từ dịch thiên nhiên, nhiều gia súc, gia cầm, động vật hoang dã, động vật máu lạnh (rắn, rùa, cá…) côn trùng, tiết túc đều nhiễm Riêng trên heo, heo nái thường nhiễm cao hơn cả Sẩy thai có thể 10 – 30% heo nái cảm thụ, sinh ra heo con chết (lúc mới sinh ra) và cùng với sốt, thai khô (Trần Thanh Phong, 1996)
2.3 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của heo con theo mẹ
Cơ quan tiêu hóa của heo con phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần
về chức năng tiêu hóa Khi mới sinh hàm lượng men α – amylase thấp ở heo con tăng dần khi heo được 2 – 3 tuần, rennin phân tiết nhiều khi gia súc mới sinh, giảm dần khi gia súc được 2 – 3 tuần tuổi đặc biệt lúc mới sinh đến hai tuần tuổi hàm lượng HCl phân tiết ít nên pepsinogen không được hoạt hóa thành pepsin Vì lẽ đó
vi sinh vật dễ phát triển dẫn tới tiêu chảy nếu cung thức ăn dặm sớm (Dương Nguyên Khang, 2009)
Về miễn dịch, heo con chỉ nhận được miễn dịch thụ động từ mẹ qua sữa đầu Miễn dịch mạnh lúc mới sinh nhưng sau đó giảm dần và còn rất ít ở 2 tuần tuổi Trong khi đó, miễn dịch chủ động đến lúc 4 tuần tuổi mới hoạt động tích cực nên trong khoảng từ 2 đến 4 tuần tuổi heo con có sức đề kháng giảm dễ bị nhiễm bệnh (Nguyễn Như Pho, 2001)
Trang 202.4 Bệnh tiêu chảy heo con
Bệnh tiêu chảy trên heo con là một bệnh gây tổn thất rất nhiều cho heo con trong thời kỳ theo mẹ, đồng thời làm giảm đi sức tăng trưởng của heo con trong giai đoạn sau khi lành bệnh
Tiêu chảy là tình trạng bệnh lý xảy ra trên các loài động vật với đặc điểm gia tăng lượng phân thải ra hằng ngày, gia tăng lượng nước trong phân, gia tăng số lần thải phân Hậu quả của tiêu chảy là cơ thể bị mất nhiều nước, mất nhiều ion điện tích và ngộ độc do độc tố của vi khuẩn gây tiêu chảy sản sinh ra, con vật suy nhược rất nhanh, nhất là thú nhỏ tuổi gầy ốm, sức chịu đựng kém (Võ Văn Ninh, 2001)
2.5 Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy
2.5.1 Do heo mẹ
Sữa mẹ là nguồn thức ăn chính và quan trọng đối với heo con theo mẹ Do
đó, sự chăm sóc nuôi dưỡng heo mẹ trọng giai đoạn mang thai và nuôi con ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng bệnh tật của heo con
Heo mẹ trong thời gian mang thai không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng như thiếu protein, thiếu vitamin A, thiếu Cu, Zn, Fe… làm rối loạn quá trình trao đổi chất ở bào thai nên heo con sinh ra yếu ớt, sức đề kháng kém sẽ dễ mắc bệnh, nhất là bệnh ở đường tiêu hóa
Ở những đàn có heo mẹ tốt sữa, sữa mẹ nhiều và giàu chất dinh dưỡng, heo con bú nhiều không kịp tiêu hóa và có nhiều dưỡng chất bị đẩy xuống ruột già là môi trường thuận lợi cho những vi sinh vật có hại nhân lên nhanh gây bệnh tiêu chảy trên heo con (Võ Văn Ninh, 1985)
Nái đẻ lứa đầu có thể có nhiều con không có sữa (vú lép, tuyến sữa không phát triển hoặc kém phát triển, không có núm vú hoặc núm vú không có lỗ tia) Heo
mẹ bị bệnh trước khi sinh mặc dù đã điều trị và khỏi triệu chứng nhưng vẫn còn mang mầm bệnh như thương hàn, xoắn khuẩn… Khi mang thai vi trùng xâm nhập qua màng nhau, gây xẩy thai hoặc heo con đẻ ra có thể nhiễm các vi trùng này (Võ Văn Ninh, 1999)
Trang 21Heo mẹ mắc bệnh hội chứng MMA, heo con bú sữa có sản dịch viêm hoặc liếm dịch viêm rơi vãi trên nền chuồng gây viêm ruột tiêu chảy Trên những heo mẹ kém sữa hay mất sữa, heo con được bú ít hoặc không bú được sữa đầu nên sức đề kháng kém cũng dễ phát sinh bệnh (Nguyễn Như Pho, 1995)
Chế độ chăm sóc nái mang thai nhất là 2 tháng cuối không hợp lý làm cho bào thai và heo con có sức sống và sức đề kháng kém là yếu tố làm bệnh dễ phát sinh nhất là bệnh đường tiêu hóa (Đào Trọng Đạt, 1999)
2.5.2 Do heo con
Heo con mới sinh bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện về cấu trúc và chức năng, men tiêu hóa còn nghèo về số lượng và chất lượng, HCl phân tiết ít làm cho pH trong dịch tiêu hóa cao tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn độc hại phát triển và gây bệnh (Kvanhixki, 1960 – dẫn liệu của Nguyễn Như Pho, 1995)
Ở sữa đầu, ngoài các chất thiết yếu còn chứa các loại kháng thể (globuline) khá cao, loại kháng thể này chủ yếu là IgG Tuy nhiên, vi sinh vật trong đường tiêu hóa thường hiện diện trên màng nhày ruột, đó là nơi IgG ít xuất hiện và hoạt động không hữu hiệu Khi sữa đầu bị ngưng sản xuất, hàm lượng IgG giảm nhanh, IgA được thay thế để chở thành kháng thể chính trong sữa thường Ở heo sơ sinh khả năng hấp thu kháng thể trong sữa đầu chỉ xảy ra trong vòng 36 – 48 giờ đầu sau khi sinh, nếu heo con bú sữa và hấp thu tốt kháng thể thì hiệu giá kháng thể trong máu của heo sơ sinh gần bằng hiệu giá kháng thể của heo mẹ ở 24 giờ sau khi sinh (Trần Thị Dân, 2002)
Do khả năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên heo con rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của thời tiết, nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, ẩm độ chuồng nuôi cao sẽ dẫn đến tiêu chảy (Phùng Ứng Lân, 1986)
Do đặc tính heo con hay liếm láp nước đọng nên dễ nhiễm vi khuẩn gây bệnh vào đường ruột hay do heo ăn thức ăn dơi vãi của mẹ không tiêu hóa được dẫn đến tiêu chảy
Heo con sơ sinh chỉ sử dụng được các vitamine tan trong nước như:
Trang 22tuần mới sử dụng được (Phạm Khắc Hiếu, 1997) Vì thế heo con thiếu các vitamine tan trong dầu làm rối loạn chức năng nhu động, phân tiết và hấp thu dạ dày ruột dẫn đến tiêu chảy
Thời kỳ heo con mọc răng cũng dễ mắc bệnh tiêu chảy Hai thời điểm mà heo con sốt và tiêu chảy với tỉ lệ cao nhất là lúc 10 – 17 ngày tuổi và 23 – 29 ngày tuổi, ứng với thời gian mọc răng sữa tiền hàm số 3 ở hàm dưới và răng sữa tiền hàm
số 4 ở hàm trên (Võ Văn Ninh, 1999)
2.5.3 Do chăm sóc nuôi dưỡng
Chăm sóc nuôi dưỡng không đúng kỹ thuật tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập, phát triển và gây bệnh
Thứ nhất heo con không được bú sữa đầu đầy đủ Trong sữa đầu ngoài thành phần dinh dưỡng cao, còn có một lượng lớn kháng thể mẹ truyền giúp heo con phòng chống bệnh trong những ngày đầu sau khi sinh
Do cắt rốn, buộc rốn, cắt đuôi, bấm răng không đúng kỹ thuật heo con dễ bị viêm nhiễm vi sinh vật dẫn đến tiêu chảy
Theo Võ Văn Ninh (2001), 80% tiêu chảy ở heo con do viêm rốn, sức đề kháng giảm
Theo Nguyễn Như Pho (1995), do bấm răng không kỷ khi bú heo con làm trầy vú mẹ và heo con bú sữa của heo bị viêm gây tiêu chảy
Không úm hoặc úm heo con không đúng quy cách, làm cho heo con bị lạnh dẫn đến tiêu chảy
Vệ sinh chuồng trại kém, bao gồm không sát trùng chuồng nái trước khi sinh, cho nái ăn thức ăn kém chất lượng, bị chua ôi, có chứa độc tố vi trùng hoặc nấm mốc, nguồn nước uống không sạch cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiễm trùng đường ruột và tiêu chảy
Thiết kế máng ăn cho heo mẹ không hợp lý, làm thức ăn rơi vãi, heo con liếm láp thức ăn heo mẹ cũng dẫn đến tiêu chảy
Trang 232.5.4 Do điều kiện môi trường và ngoại cảnh
Khi mới sinh ra khả năng thích ứng và bảo vệ của heo con còn kém nên heo
con rất nhạy cảm với những thay đổi đột ngột của điều kiện ngoại cảnh Trong đó
yếu tố ẩm độ và nhiệt độ là rất quan trọng
Trong những yếu tố tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và ẩm độ Ở
những tháng mùa mưa số heo tiêu chảy tăng rõ rệt, có thể lên đến 90-100% (Đào
Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng, 1986)
Sử An Ninh (1995) cho biết ở heo con theo mẹ thì độ ẩm tương đối thích hợp
là 70-85%, nhiệt độ thích hợp là 32-34 oC Vì vậy, việc giữ ấm và khô chuồng nuôi
là rất quan trọng
Sự thay đổi môi trường sống như: chuyển chuồng, nhập đàn, cai sữa… làm
heo con bị stress dẫn đến cơ thể suy yếu, nhu động ruột bị giảm đột ngột nên thức
ăn bị ứ đọng lại, một số vi khuẩn bình thường như E coli phát triển nhanh, gia tăng
số lượng, gây bệnh và sinh độc tố (Võ Văn Ninh, 1985)
Trang 24Vi sinh vật là nguyên nhân luôn hiện diện trong mọi trường hợp của bệnh
tiêu chảy trên heo con, trong đó một số vi khuẩn như: E.coli, Salmonella
Clostridium perfringen… và virus như Rotavirus, Eenterovirus, Coronavirus… là
nguyên nhân chủ yếu gây tiêu chảy trên heo con theo mẹ
Ký sinh trùng và nguyên sinh động vật: tác động qua việc tranh chấp chất dinh dưỡng với ký chủ, tiết độc tố, làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, tạo
điều kiện cho các tác nhân khác tấn công Thường thấy là Isospora suis, Eimeria,
Balantidium coli…
2.6 Triệu chứng
Lúc mới đầu tiêu chảy heo con vẫn bú bình thường Khi tiêu chảy nhiều và kéo dài heo con bỏ bú, lông xù, gầy còm, niêm mạc mắt mũi, miệng nhợt nhạt do thiếu máu Heo con thường nằm một chỗ, giun cơ, co giật, nhiệt độ giảm và thường dẫn đến chết
Tính chất phân sền sệt hoặc loãng, vàng, đôi khi tiêu chảy phân trắng hay vàng nhiều bọt khí Heo con có thể nôn ra sữa không tiêu Đối với tiêu chảy do
E.coli thì bệnh xuất hiện rất nhanh nên heo con bị mất nước trầm trọng, lông xù
Trước khi chết heo con gầy hốc hác và kiệt sức Tiêu chảy do Clostridium
Perfringens thì bệnh thường xảy ra đột ngột và tiến triển tiêu chảy rất nhanh, phân
tiêu chảy nước có mùi thối rất khó chịu và thường lẫn máu và màng nhày ruột do niêm mạc ruột bị hoại tử bong tróc ra Tiêu chảy do cầu trùng thì thường xảy ra lúc 5-10 ngày tuổi, cao nhất 7-10 ngày tuổi, heo con tiêu chảy phân lỏng, vàng hay xám
nhạt Dịch tiêu chảy trên heo (PED) do Coronavirus thì tiêu chảy phân vàng lỏng,
ói, tiếp theo tiêu chảy nước, bệnh lây lan rất nhanh giữa các ô chuồng trong trại gần như 100%, heo con nhỏ hơn 1 tuần tuổi sẽ chết trong vòng 3 – 4 ngày do không có kháng thể và bị mất nước quá nhiều, mắt lõm sâu do tiêu chảy phân nước Bệnh viêm dạ dày ruột (TGE) thì thường tiêu phân vàng có nhiều nước, có thể lẫn thức ăn không tiêu, ói mửa, heo con gầy mất nước nặng, suy nhược, thường chết sau 3 – 5 ngày (Trần Thanh Phong, 1996)
Trang 252.7 Cơ chế của tiêu chảy
Theo Nguyễn Như Pho (1995), cơ chế sinh bệnh được trình bày theo sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1: Cơ chế sinh bệnh
Nguyên nhân không do vi sinh vật Do vi sinh vật có hại
Stress, giảm sức
đề kháng
Nhiễm trùng đường tiêu hóa Độc tố vi sinh vật Viêm ruột
Thần kinh bất ổn
Giảm nhu động ruột
Giảm tiết dịch tiêu hóa
Thức ăn ứ đọng lại
không tiêu Vi sinh vật có hại phát triển
Kích thích nhu động ruột
Tiêu chảy
Mất nước và chất điện giải
Thiếu dinh dưỡng
Ngộ độc
Chết
Trang 262.8 Đặc điểm sinh lý hô hấp của heo
Hô hấp nói đến tiến trình trao đổi các chất khí giữa không khí và mô bào Vận chuyển không khí ra vào phổi gọi là thông khí phổi hoặc thở Vận chuyển oxy
và carbonic giữa phổi và tế bào gọi là trao đổi khí hay hô hấp phổi, trái lại hô hấp
mô bào nối đến tiến trình các phân tử hữu cơ được oxid hóa thành carbonic, nước
và ATP ở mô bào
Trong lúc thông khí phổi, không khí ra vào phổi qua đường dẫn khí tạo thành
hệ thống ống dẫn giữa không khí và vùng hô hấp phổi Vùng hô hấp phổi là nơi trao đổi các chất khí và mạch máu Đường dẫn khí gồm xoang hốc mũi, xoang miệng, vùng hầu, thanh quản, khí quản, phế quản và các nhánh nhỏ hơn Phế quản nhỏ nhất gọi là tiểu phế quản tận cùng Tiểu phế quản tận cùng tạo thành vùng chuyển tiếp giữa đường đẫn khí và chùm phế nang có thành mỏng Trao đổi khí diễn ra giữa không khí phế nang và mạng mao mạch bao quanh
Ngoại trừ xoang miệng và vùng hầu, biểu mô đường dẫn khí cấu tạo bằng
tế bào có lông rung và tiết chất nhầy Chất nhầy bẫy bắt vi sinh và vật lạ từ không khí đưa vào Lông rung vận động liên tục đẩy chất nhầy ra vùng hầu để nuốt vào miệng Màng nhầy đường dẫn khí, đặc biệt ở xoang hốc mũi, được cung cấp nhiều máu làm không khí hít vào được sưởi ấm và bảo hòa hơi nước trước khi vào phế nang
Hít vào phụ thuộc co thắt cơ vân được kiểm soát chủ động, mặc dù hoạt động hô hấp là tự động và không theo ý thức Cơ hít vào làm nhiệm vụ mở rộng thể tích xoang ngực, do đó giảm áp suất không khí phế nang, vì thế không khí theo đường dẫn khí từ ngoài vào phế nang
Carbonic hòa tan trong máu dễ dàng hơn oxy Do phần lớn carbonic trong máu chuyển thành HCO3-, vì HCO3- dễ hòa tan hơn carbonic Một ít carbonic vận chuyển bằng cách kết hợp
với hemoglobin
Hệ thống hô hấp còn có các chức năng khác như: Giúp máu tĩnh mạch về tim (bơm không khí), cân bằng axít-bazơ bằng cách loại thải chất tạo ra axít carbonic,
Trang 27loại bỏ hơi nóng và nước ra khỏi cơ thể, tạo âm thanh để trao đổi (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006)
2.9 Nguyên nhân gây bệnh hô hấp
*Dinh dưỡng
Khẩu phần dinh dưỡng kém là nguyên nhân chung cho rất nhiều bệnh trong
đó có bệnh đường hô hấp Theo Nguyễn Như Pho (2001) khi thiếu vitamine A tổ chức biểu mô đường hô hấp phát triển không bình thường, giảm sức bền từ đó dễ mắc bệnh
Sự mất cân đối Ca / P trong khẩu phần làm hệ xương lồng ngực bị biến dạng cũng ảnh hưởng đến chức năng hô hấp Quá trình chế biến thức ăn cũng ảnh hưởng đến bệnh đường hô hấp, sự xay quá nhuyễn làm tăng độ bụi của thức ăn hỗn hợp nên heo dễ bị hắt hơi, viêm phổi (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 1997)
*Do môi trường
Theo Võ Văn Ninh (2007), heo có lớp mỡ dưới da rất dày, không có tuyến
mồ hôi (trừ vùng mõm) nên khả năng chống nóng và điều hòa thân nhiệt kém Nhiệt
độ môi trường cao làm tăng nhịp hô hấp rất nhanh, gây rối loạn chức năng trao đổi khí, ảnh hưởng xấu đến cân bằng sinh lý của heo Khi nhiệt độ tăng lên 40 0C, gia súc giảm tiết dịch, mất nước dẫn đến rối loạn axít - bazơ, mất muối gây co giật, đau khắp cơ, tim đập nhanh, trên da có những điểm tụ huyết
Theo Nguyễn Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004), nhiệt độ cao làm thyroxin được tiết ra rất ít, thú biếng ăn, mất nước, máu cô đặc, sự vận chuyển máu dưới da kém, mất muối, thú thở nhanh, co giật, đau khắp cơ Khi nhiệt độ ở 40 – 42 0C thì chức năng tế bào bị rối loạn không phục hồi lại được, gia súc thường bị cảm nóng, mệt mỏi, tăng nhịp tim, nếu không can thiệp hạ nhiệt kịp thời thì thú sẽ chết Trường hợp nhiệt độ thấp sẽ làm co mạch máu ngoại vi nên làm giảm sự truyền nhiệt từ bên trong ra bên ngoài cơ thể thú, thú run cơ, dựng lông, sự hấp thu đạm và tổng hợp globulin giảm, từ đó giảm sức đề kháng, heo dễ mắc bệnh đường hô hấp,
xù lông, kém ăn, chậm lớn
Trang 28Ẩm độ chuồng nuôi gồm 10 – 15 % từ không khí bên ngoài đi vào, 20 – 25
% từ mặt chuồng và 70 % do sự bốc hơi nước của gia súc
Khi ẩm độ lớn hơn hoặc bằng 90 %, sự phân hủy các chất hữu cơ trên nền chuồng và vách chuồng tăng Các chất khí như NH3, CO2 và H2S tích tụ làm cho heo mệt mỏi, giảm sức đề kháng, dễ mắc bệnh đường hô hấp Ẩm độ cao gây trở ngại cho sự khuếch tán nhiệt trên bề mặt da ảnh hưởng đến chức năng hô hấp của heo
Khí NH 3, H 2 S
NH3 sinh ra từ sự khử amine của protein trong chất thải Nồng độ khuyến cáo trong chuồng nuôi ≤ 25 – 35 ppm, NH3 được hấp thu di chuyển sâu vào đường hô hấp mở đường cho vi sinh vật gây các bệnh trên đường hô hấp
Khi nồng độ NH3 > 10 ppm gia tăng tỷ lệ gia súc bị ho, 50 ppm giảm tăng trọng ngày 12%, 100 ppm giảm tăng trọng ngày 30%, 61 ppm giảm 5% lượng thức ăn.Nồng độ NH3 cao tăng tỷ lệ viêm phổi, viêm teo xương mũi truyền nhiễm và làm chậm động hớn trên heo nái hậu bị (Nguyễn Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
H2S là khí rất độc, sinh ra từ sự phân hủy phân, mùi trứng thối, có thể nhận
ra mùi ở nồng độ 1 ppm
Cơ chế gây độc của H2S là kích thích màng nhầy (ngứa mắt, mũi), phù phổi, kết hợp với Fe của cytochrome oxydase của mitochondria dẫn đến không vận chuyển được oxy
H2S còn tác động mạnh nhất đến thần kinh trung ương Nồng độ H2S = 20 ppm heo có biểu hiện sợ ánh sáng, ăn không ngon, có hiện tượng thần kinh không bình thường, nồng độ H2S = 200 ppm có thể sinh chứng thủy thủng ở phổi, có thể bất tỉnh và chết (Nguyễn Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
2.10 Tóm tắt một số nguyên cứu trước
2.10.1 Khả năng sinh sản của nái
*Số con đẻ ra trên ổ
Lư Ngọc Minh Châu (2004) khảo sát tại xí nghiệp chăn nuôi heo 2/9 là 9,71 con/ổ, của Trương Thị Diệu Linh (2009) khảo sát tại xí nghiệp chăn nuôi heo
Trang 29Phước Long là 8,79 con/ổ, của Huỳnh Thanh Sơn (2010) khảo sát tại xí nghiệp chăn nuôi heo Đồng Hiệp là 11,18 con/ổ, của Báo Thị Thu Hiền (2007) khảo sát tại trại chăn nuôi Hưng Việt là 10,67 con/ổ, của Nguyễn Thị Hạnh (2011) khảo sát tại trại Xuân Thành là 10,24 con/ổ, của Dương Thị Linh Giang (2011) khảo sát tại trại heo Suối Cao I là 10,34 con/ổ
*Số con sơ sinh còn sống trên ổ
Nguyễn Thị Hạnh (2011) khảo sát tại trại Xuân Thành là 10,11 con/ổ, của Dương Thị Linh Giang (2011) khảo sát tại trại heo Suối Cao I là 10,07 con/ổ, của Trương Thị Diệu Linh (2009) khảo sát tại xí nghiệp chăn nuôi heo Phước Long là 8,79 con/ổ
*Trọng lượng toàn ổ heo con sơ sinh
Cao Văn Kha (2006) khảo sát tại công ty Sanmiguel pure foods tỉnh Bình Dương là 12,46 kg/ổ, của Trương Thị Diệu Linh (2009) tại xí nghiệp chăn nuôi heo Phước Long, là 13,37 kg/ổ, của Dương Thị Linh Giang (2011) tại trại heo Suối Cao
I là 15,49 kg/ổ
*Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh còn sống
Dương Thị Linh Giang (2011) khảo sát tại trại heo Suối Cao I là 1,44 kg/con, của Nguyễn Thị Hạnh (2011) khảo sát tại trại Xuân Thành là 1,54 kg/con, Phạm Thị Hồng Ngân (2011) khảo sát tại xí nghiệp chăn nuôi heo Đồng Hiệp là 1,56 kg/con, Nguyễn Thị Thùy Trang (2010) khảo sát tại trại Gia Tân 5 là 1,52 kg/con
*Số con cai sữa trên ổ
Nguyễn Thị Thùy Trang (2010) khảo sát tại trại Gia Tân 5 là 9,12 con/ổ, của Cao Văn Kha (2006) khảo sát tại công ty Sanmiguel pure foods tỉnh Bình Dương là 7,72 con/ổ, của Lư Ngọc Minh Châu (2004) khảo sat tại xí nghiệp chăn nuôi 2/9 là 8,77 con /ổ, của Dương Thị Linh Giang (2011) khảo sát tại trại heo Suối Cao I là 9,5 con/ổ
*Trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa
Dương Thị Linh Giang (2011) khảo sát tại trại heo Suối Cao I là 68,2 kg/ổ,
Trang 30là 59,8 kg/ổ, của Đỗ Quang Lượng (2009) khảo sát tại trại chăn nuôi heo Tân Trung
là 48,97 kg/ổ
*Trọng lượng bình quân heo con cai sữa
Lư Ngọc Minh Châu (2004) khảo sát tại xí nghiệp chăn nuôi 2/9 là 5,22 kg/con, của Cao Văn Kha (2006) khảo sát tại công ty Sanmiguel pure foods tỉnh Bình Dương là 6,77 kg/con, của Dương Thị Linh Giang (2011) khảo sát tại trại heo Suối Cao I là 6,62 kg/con, của Nguyễn Thị Thùy Trang (2010) khảo sát tại trại Gia Tân 5 là 6,57 kg/con, của Phạm Thị Hồng Ngân (2011) khảo sát tại xí nghiệp chăn nuôi heo Đồng Hiệp là 7,11 kg/con
2.10.2 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy
Dương Thị Thanh Loan (2002) tại trại heo Đồng Hiệp là 7,33%, của Huỳnh Thanh Sơn (2008) là 6,94 %, của Phan Thị Minh Thùy (2003) khảo sát tại trại heo 30/4 Tiền Giang là 5,21%, Nguyễn Thị Hồng Diễm (2009) khảo sát tại xí nghiệp chăn nuôi heo Thân Hửu Nghĩa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiềng Giang là 5,79%, Lưu Phương Nam (2007) khảo sát tại trại heo Gia Phát – TP Hồ Chí Minh là 2,3 %