Trong đó, tình hình bệnh tiêu chảy và bệnh hô hấp là một trong những vấn đề đáng lo ngại cho nhà chăn nuôi, đặc biệt là trong giai đoạn từ sơ sinh đến 90 ngày tuổi, heo phải chịu hàng lo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN - NUÔI THÚ Y
****************
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT BỆNH TIÊU CHẢY VÀ HÔ HẤP TRÊN HEO
TỪ SƠ SINH ĐẾN 90 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI HEO
Ở XUÂN LỘC ĐỒNG NAI
Sinh viên thực hiện: KHƯU PHỤNG THANH Lớp: DH07TY
Ngành: Bác sỹ Thú Y Niên khoá: 2007 – 2012
Tháng 08/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
****************
KHƯU PHỤNG THANH
KHẢO SÁT BỆNH TIÊU CHẢY VÀ HÔ HẤP TRÊN HEO
TỪ SƠ SINH ĐẾN 90 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI HEO
Ở XUÂN LỘC ĐỒNG NAI
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác Sỹ Thú Y
Giáo viên hướng dẫn
ThS NGUYỄN VĂN NHÃ
TS NGUYỄN TẤT TOÀN
Tháng 08/2012
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực hiện: Khưu Phụng Thanh
Tên khóa luận: “Khảo sát bệnh tiêu chảy và hô hấp trên heo từ sơ sinh đến 90 ngày tuổi tại trại heo ở Xuân Lộc Đồng Nai”
Đã hoàn thành khóa luận theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các
ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa Chăn Nuôi Thú Y ngày … tháng … năm 2012
Giáo viên hướng dẫn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin bày tỏ lòng thành kính ghi ơn đến
Ba, mẹ người đã sinh con ra và nuôi dưỡng thương yêu con hết mình, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho con được học hành
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
ThS Nguyễn Văn Nhã, TS Nguyễn Tất Toàn đã tận tâm hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu và tạo điều kiện tốt cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài
để hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Bộ môn Nội Dược Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Cùng toàn thể quý thầy cô Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Đã truyền đạt nhiều kiến thức và tạo nhiều điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong thời gian học và thực tập đề tài
Trân trọng cảm ơn
Chú Bùi Duy Hoàng chủ tại heo tư nhân công nghiệp huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai cùng toàn thể các anh chị em trong trại đã nhiệt tình, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để hoàn thành luận văn này
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài: “Khảo sát bệnh tiêu chảy và hô hấp trên heo từ sơ sinh đến 90 ngày tuổi tại trại heo ở Xuân Lộc Đồng Nai” được tiến hành tại trại nuôi heo công nghiệp
thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai thời gian từ ngày 5/1 đến ngày 30/4 năm
2012 Quá trình khảo sát được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn từ 1-24 ngày tuổi với số lượng là 1319 con và giai đoạn từ 25-90 ngày tuổi với số lượng 1809 con cho kết quả như sau:
Nhiệt độ trung bình chuồng nuôi cao nhất vào tháng 4 (29,370C) và thấp nhất vào tháng 1 (28,090C), trung bình 28,780C Ẩm độ trung bình cao nhất vào tháng 1 (64,21 %) và thấp nhất vào tháng 4 (62,16 %), trung bình 63,15 %
Bệnh tiêu chảy, giai đoạn từ 1-24 ngày tuổi có tỷ lệ tiêu chảy là 27,99 %, tỷ
lệ ngày con tiêu chảy là 2,81 %, tỷ lệ chết do tiêu chảy là 3,47 % và tỷ lệ loại thải là 1,23 % Giai đoạn 25-90 ngày tuổi tỷ lệ tiêu chảy là 14,28 %, tỷ lệ ngày con tiêu chảy là 1,02 %, tỷ lệ chết do tiêu chảy là 2,04 % và tỷ lệ loại thải là 2,06 %
Bệnh hô hấp, ở giai đoạn từ 1-24 ngày tuổi không thấy có triệu chứng hô
hấp Giai đoạn 25-90 ngày tuổi có tỷ lệ hô hấp là 23,11 % Tỷ lệ ngày con hô hấp ở giai đoạn này là 1,96% Tỷ lệ chết do hô hấp là 1,05 % Không có trường hợp loại thải do hô hấp
Vi khuẩn hiện diện trong mẫu phân heo con tiêu chảy là E.coli; tỷ lệ dương tính với vi khuẩn E.coli là 100 % Kết quả thử kháng sinh đồ cho thấy vi khuẩn
E.coli đều đa đề kháng với nhiều loại kháng sinh
Liệu pháp điều trị tại trại hiệu quả Tỷ lệ khỏi bệnh tiêu chảy ở giai đoạn
1-24 ngày tuổi là 93,39 %, thời gian điều trị tiêu chảy trung bình là 1,96 ngày, tỷ lệ tái phát trung bình là 15,81 % Giai đoạn 25-90 ngày tuổi tỷ lệ khỏi bệnh tiêu chảy
là 94,17 %, thời gian điều trị tiêu chảy trung bình là 3,67 ngày, tỷ lệ tái phát trung bình là 14,98 % Tỷ lệ khỏi bệnh hô hấp ở giai đoạn 25-90 ngày tuổi là 91,36 % Thời gian điều trị hô hấp trung bình là 5,36 ngày, tỷ lệ tái phát trung bình là 26,40%
Trang 6MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA i
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Tìm hiểu sơ lược về trại chăn nuôi 3
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 3
2.1.2 Vị trí địa lý 3
2.1.3 Nhiệm vụ của trại 3
2.1.4 Cơ cấu tổ chức 3
2.2 Công tác chăn nuôi thú y tại trại 4
2.2.1 Cơ cấu đàn 4
2.2.2 Hệ thống chuồng trại 4
2.2.3 Sơ đồ trại chăn nuôi 5
2.2.4 Quy tình chăm sóc và nuôi dưỡng 5
2.2.5 Quy trình tiêm phòng vaccine cho các loại heo tại trại 7
Trang 72.2.6 Vệ sinh thú y 7
2.3 Đặc điểm sinh lý heo con 8
2.3.1 Heo con theo mẹ 8
2.3.2 Heo con cai sữa 8
2.4 Một số bệnh thường gặp trên heo 9
2.4.1 Bệnh tiêu chảy 9
2.4.2 Bệnh hô hấp 18
2.4.2.2 Một số bệnh hô hấp thường gặp 20
2.5 Lược duyệt các công trình nghiên cứu liên quan 23
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 25
3.1 Thời gian và địa điểm 25
3.1.1 Thời gian 25
3.1.2 Địa điểm 25
3.2 Đối tượng khảo sát 25
3.3 Nội dung khảo sát 25
3.4 Phương pháp khảo sát 25
3.4.1 Khảo sát tiểu khí hậu chuồng nuôi 25
3.4.2 Khảo sát bệnh tiêu chảy 26
3.4.3 Khảo sát bệnh hô hấp 27
3.4.4 Khảo sát bệnh tích đại thể 28
3.4.5 Phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ 28
3.4.6 Khảo sát liệu pháp và hiệu quả điều trị 29
3.5 Xử lý số liệu 29
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Khảo sát nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi 30
4.2 Khảo sát bệnh tiêu chảy 31
4.2.1 Tỷ lệ bệnh tiêu chảy 31
4.2.2 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 33
4.2.3 Tỷ lệ heo chết do tiêu chảy 34
Trang 84.3 Khảo sát bệnh hô hấp 35
4.3.1 Tỷ lệ bệnh hô hấp 35
4.3.2 Tỷ lệ ngày con bị hô hấp 36
4.3.3 Tỷ lệ heo chết do hô hấp 37
4.4 Tỷ lệ heo loại thải do tiêu chảy và hô hấp 38
4.4.1 Tỷ lệ heo loại thải do tiêu chảy 38
4.4.2 Tỷ lệ heo loại thải do hô hấp 38
4.5 Kết quả đánh giá triệu chứng, bệnh tích đại thể 39
4.6 Kết quả phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ 41
4.7 Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh 43
4.7.1 Liệu pháp điều trị tại trại 43
4.7.2 Thời gian điều trị trung bình 44
4.7.3 Tỷ lệ khỏi bệnh 46
4.8 Tỷ lệ tái phát 48
4.8.1 Bệnh tiêu chảy 48
4.8.2 Bệnh hô hấp 49
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 54
Trang 9DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
APP : Actinobacillus pleuropneumoniae
ARN : acid ribonucleic
E.coli : Escherichia coli
FMD : Foot and Mouth Disease
PED : Porcine Epidemic diarrhea
TGE : Transmissible Gastroenteritis
SCDTTC : số con điều trị tiêu chảy
SCDTHH : số con điều trị hô hấp
SCHH : số con hô hấp
SCKBHH : Số con khỏi bệnh hô hấp
SCKBTC : số con khỏi bệnh tiêu chảy
SCKS : số con khảo sát
SCTC : số con tiêu chảy
TGDTTB : thời gian điều trị trung bình
TLCTB : tỷ lệ chết trung bình
TLHH : tỷ lệ hô hấp
TLKBHH : tỷ lệ khỏi bệnh hô hấp
TLLTTB : tỷ lệ loại thải trung bình
TLNCHH : tỷ lệ ngày con hô hấp
TLNCTC : tỷ lệ ngày con tiêu chảy
TLTC : tỷ lệ tiêu chảy
TLTP : tỷ lệ tái phát
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng heo các loại 4
Bảng 2.2 Lịch tiêm phòng của trại 7
Bảng 2.3 Mức nhiệt độ thích hợp cho heo 10
Bảng 2.4 Tác hại của NH3 đối với heo (Hồ Thị Kim Hoa, 2009) 19
Bảng 4.1 Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi 30
Bảng 4.2 Tỷ lệ bệnh tiêu chảy 31
Bảng 4.3 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 33
Bảng 4.4 Tỷ lệ heo chết do tiêu chảy 34
Bảng 4.5 Tỷ lệ bệnh hô hấp 35
Bảng 4.6 Tỷ lệ ngày con bị hô hấp 36
Bảng 4.7 Tỷ lệ heo chết do hô hấp 37
Bảng 4.8 Tỷ lệ heo loại thải do tiêu chảy 38
Bảng 4.9 Kết quả thử kháng sinh đồ 42
Bảng 4.10 Thời gian điều trị bệnh tiêu chảy 44
Bảng 4.11 Thời gian điều trị bệnh hô hấp 45
Bảng 4.12 Tỷ lệ khỏi bệnh tiêu chảy 46
Bảng 4.13 Tỷ lệ khỏi bệnh hô hấp 47
Bảng 4.14 Tỷ lệ tái phát bệnh tiêu chảy 48
Bảng 4.15 Tỷ lệ tái phát bệnh hô hấp 49
Trang 11DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ trại chăn nuôi 5
Sơ đồ 2.2 Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy trên heo con 12
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 4.1 Bao tim tích nước 39
Hình 4.2 Màng ngoài tim phủ fibrin 39
Hình 4.3 Phổi hóa gan 40
Hình 4.4 Viêm khớp tích casein 40
Hình 4.5 Hạch màng treo ruột xuất huyết 40
Hình 4.6 Ruột chứa máu 40
Hình 4.7 Thận xuất huyết 41
Hình 4.8 Lồng ruột 41
Trang 13
Trong đó, tình hình bệnh tiêu chảy và bệnh hô hấp là một trong những vấn
đề đáng lo ngại cho nhà chăn nuôi, đặc biệt là trong giai đoạn từ sơ sinh đến 90 ngày tuổi, heo phải chịu hàng loạt stress do phải xa mẹ, ghép bầy, chuyển chuồng, thay đổi thức ăn, tiểu khí hậu kém,… đã làm giảm sức đề kháng của heo đối với bệnh tật Mặc dù công tác thú y ngày càng được chú trọng, nhưng giai đoạn này tỷ
lệ heo bệnh còn rất cao Theo Trần Minh Tấn (2011), heo bị tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao (80,30 %), kế đến là viêm đường hô hấp (14,04 %) và theo Châu Ngọc Ánh (2010) tỷ lệ heo tiêu chảy chiếm 35,60 % tổng số ca bệnh, tỷ lệ bệnh trên đường
hô hấp chiếm 52,31 % tổng số ca bệnh Kết quả trên cho thấy trong giai đoạn từ sơ sinh đến 90 ngày tuổi heo thường mắc các bệnh gây tiêu chảy và rối loạn hô hấp, hậu quả của những bệnh này làm giảm khả năng tăng trưởng, tăng tỷ lệ còi cọc và nặng hơn heo sẽ chết do đó gây tổn thất về kinh tế cho nhà chăn nuôi
Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của khoa Chăn Nuôi – Thú
Y, trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của ThS
Trang 14Nguyễn Văn Nhã và TS Nguyễn Tất Toàn chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Khảo sát bệnh tiêu chảy và hô hấp trên heo từ sơ sinh đến 90 ngày tuổi tại trại heo ở Xuân Lộc Đồng Nai”
1.2 MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
Khảo sát tình hình bệnh tiêu chảy và bệnh hô hấp trên heo từ sơ sinh đến 90 ngày tuổi, từ đó đề xuất một số biện pháp chăm sóc và phòng trị thích hợp cho người chăn nuôi heo
1.2.2 Yêu cầu
- Ghi nhận tiểu khí hậu chuồng nuôi
- Ghi nhận triệu chứng lâm sàng bệnh tiêu chảy và bệnh hô hấp trên heo từ
sơ sinh đến 90 ngày tuổi
- Ghi nhận bệnh tích đại thể
- Phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ mẫu phân tiêu chảy
- Ghi nhận liệu pháp điều trị và hiệu quả điều trị
Trang 15số lấy từ heo nhà đạt chuẩn Khi nhập về, chúng được cách ly khoảng 2 tháng mới đem vào trại (chuồng cách ly cách trại khoảng 1,5 km)
2.1.2 Vị trí địa lý
Trại nằm ở ấp Thọ Chánh, xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (cách thị xã Long Khánh khoảng 10 km về phía Bắc) Chuồng heo được thiết kế theo hướng Đông Tây với diện tích khoảng 2 hecta, có tường rào bao bọc xung quanh Trại nằm cập một con đường nhựa, cách quốc lộ 1A khoảng 9 km, xe tải vào được tận trại, rất thuận lợi cho việc chăn nuôi
2.1.3 Nhiệm vụ của trại
Sản xuất heo thịt, heo con nuôi thịt trên cơ sở các giống ngoại nhập như Yorkshire, Landrace và lai giữa 2 giống này nhằm cung cấp cho thị trường thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận
Trang 162.2 Công tác chăn nuôi thú y tại trại
2.2.1 Cơ cấu đàn
Số lượng heo chúng tôi thống kê theo bảng 2.1 tính đến ngày 30/4/2012
Bảng 2.1 Số lượng heo các loại Loại heo Số lượng (con)
2.2.2 Hệ thống chuồng trại
Toàn bộ các dãy chuồng được lợp bằng thiếc và được thiết kế theo hướng Đông Tây Chuồng được phân thành nhiều khu khác nhau Mái chuồng nuôi được lợp theo kiểu hai mái, sử dụng tôn lạnh
Chuồng đẻ là loại chuồng sàn có kích thước mỗi ô chuồng là 3,74 m2 (trong đó diện tích dành cho heo mẹ 1,1 m2 được lót bằng đan bê tông có những rãnh nhỏ song song để thoáng khí, tránh đọng nước và 2,64 m2 dành cho heo con, nền lót bằng tấm nhựa cứng dẻo kích thước 0,4m x 0,5m, mỗi tấm đều có vạch để thoáng khí và phân heo con có thể rơi xuống gầm sàn)
Chuồng cai sữa gồm 2 loại (18 ô chuồng sàn, mỗi ô nuôi 12 con và 12 ô chuồng bê tông nền xi măng, mỗi ô nuôi 25 con) Một máng ăn bán tự động ghép cho 2 ô sàn (tổng cộng có 8 máng) và 2 máng ăn tay được làm bằng sắt Riêng mỗi
ô chuồng bê tông nền xi măng chứa một máng ăn bán tự động
Chuồng bầu là loại chuồng sàn lót bằng tấm đan xi măng có những rãnh nhỏ dài để thoáng khí và tránh đọng nước (3 heo đực thí tình cũng được nuôi ở đây nhằm phát hiện nái lên giống)
Trang 17Chuồng thịt nhỏ và thịt lớn là loại chuồng bê tông nền xi măng Chuồng thịt nhỏ gồm 24 ô, máng ăn bán tự động Chuồng thịt lớn có 28 ô, máng ăn bằng xi măng Chuồng được bố trí 1 máng ăn và 3 núm uống tự động
Trừ chuồng đẻ và chuồng bầu, các chuồng còn lại đều có xây thêm một số ô riêng dành cho heo bệnh với kích thước nhỏ hơn
2.2.3 Sơ đồ trại chăn nuôi
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ trại chăn nuôi
2.2.4 Quy tình chăm sóc và nuôi dưỡng
2.2.4.1 Chế độ nuôi dưỡng
Thức ăn
Thức ăn có dạng viên và các nguyên liệu dạng bột (để pha trộn) làm thức ăn
Thức ăn dạng viên được mua từ nhiều các công ty có uy tín trong lĩnh vực chăn
Heo Thịt Lớn
Heo Thịt Nhỏ
Ô bệnh
Nhà công nhân
Cổng vào
Lối đi cho heo
Trang 18nuôi thú y như công ty Cargill Việt Nam (Red – 1012, 1922 - HE), công ty Anco (U20), công ty Greenfeed (HP 054, HP 104, HP 024), thức ăn gia súc Bình Phước
(số 8, số 9) Thức ăn trộn (cám trộn tại trại dùng cho heo thịt nhỏ và thịt lớn)
nguyên liệu được mua từ công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam
Nước uống
Nước uống được bơm trực tiếp từ 4 giếng khoan lên bồn chứa, rồi nước sẽ được dẫn đến từng ô chuồng thông qua hệ thống ống nhựa PVC Heo uống nước qua vòi uống nước tự động Trong một tuần các bồn chứa nước uống được khử trùng ít nhất 1 lần bằng thuốc khử trùng nước Aquasept F
2.2.4.2 Quy tình chăm sóc và quản lý
Đối với heo con mới sinh: một tay giữ ngang bụng và một tay lau sạch nhớt
ở mũi và miệng để kích thích hô hấp heo, dùng bột làm ấm rắc đều từ vùng cổ đến mông và chỗ rốn bị đứt, sau đó bỏ heo vào lồng sưởi ấm Một lúc sau đem heo con
ra khỏi lồng úm để cho chúng bú sữa đầu (những con nhỏ không bú được thì phải bắt cho bú) Tất cả heo được cho uống kháng thể ngay sau sinh Một ngày sau, heo được bấm răng và cắt đuôi Thiến heo đực trong khoảng từ ngày 6 đến ngày 15 Tiêm sắt và uống chế phẩm ngừa cầu trùng được tiến hành song song vào ngày thứ
3 và 10 Heo con tập ăn lúc 7 ngày tuổi, lượng ăn lúc đầu chỉ vài viên cho một máng
ăn và sau đó tăng dần theo ngày tuổi và sức ăn Heo được tiêm ngừa vaccine
Circovirus và Mycoplasma lúc 18 ngày tuổi và cai sữa khoảng 24 ngày tuổi
Đối với heo cai sữa khi chuyển từ chuồng đẻ sang chuồng cai sữa, heo con
được chích Catosal 10 % nhằm giảm stress Thức ăn theo công thức trộn cám của trại Heo được cho ăn bằng máng ăn tự động, việc theo dõi bệnh và điều trị được thực hiện hai lần mỗi ngày Thời gian xịt chuồng vào lúc 9-10 giờ sáng và khoảng
2-3 giờ chiều thì xịt chuồng lần 2
Trang 192.2.5 Quy trình tiêm phòng vaccine cho các loại heo tại trại
Bảng 2.2 Lịch tiêm phòng của trại
Aujezky PR-Vac Plus Tuần 11 sau khi phối 2 ml
Phòng bệnh hô hấp,
Tuần 14 sau khi phối
1ml/ 10kg TTPhòng nội ngoại ký
Tuần 15 sau khi phối
1ml/ 33kg
Parvovirus (lần 2) Parvo Shield LSE Tuần 5 2 ml
APP: Actinobacillus pleuropneumoniae, FMD: Foot and Mouth Disease
2.2.6 Vệ sinh thú y
Trước cổng ra vào trại có hố và máy phun thuốc sát trùng các phương tiện ra vào trại Tất cả các chuồng đều được sát trùng định kỳ vào ngày thứ 3, thứ 6 và chủ nhật trong tuần Đối với những thời điểm khi dịch bệnh xảy ra nhiều, lịch sát trùng
chuồng trại dày hơn bình thường (có thể tăng thêm 1 – 2 lần trong tuần)
Trang 202.3 Đặc điểm sinh lý heo con
2.3.1 Heo con theo mẹ
Trong tử cung heo mẹ nhiệt độ luôn ổn định và cao hơn nhiệt độ bên ngoài Vì vậy khi mới ra khỏi cơ thể heo mẹ thì heo con phải sử dụng một lượng lớn nhiệt để chống lạnh Nếu nhiệt độ bên ngoài thấp, heo con không thể thích nghi ngay nên thường bị giảm thân nhiệt trong những ngày đầu sau khi sinh Do đó, nhiệt độ thích hợp ở chuồng nuôi là 28 – 340C Cùng với sự điều chỉnh thân nhiệt, thú non còn chuyển từ hô hấp qua cuống rốn sang hô hấp bằng phổi Cho nên trong lúc đỡ đẻ cần tạo điều kiện tốt cho heo con hô hấp, phải lau sạch chất nhờn trên mũi
Ở heo con mới sinh, cơ quan tiêu hóa đã hình thành đầy đủ nhưng chức năng
và hoạt động cơ học chưa hoàn chỉnh Dạ dày heo con mới sinh rất ít pepsin nên protein được phân giải chậm, được tiêu hóa bởi trypsin Các emzyme tiêu hóa bột đường hoạt động kém do thiếu amylase trong tụy và maltase trong ruột
Heo con từ 7 ngày tuổi có thể liếm láp thức ăn, do đó tập cho heo con ăn sớm
là một yêu cầu kỹ thuật giúp cho heo con phát triển nhanh không bị mất sức khi lượng sữa mẹ giảm dần từ ngày tuổi thứ 21 trở đi (Võ Văn Ninh, 1998)
Heo con sơ sinh đến 25 ngày tuổi lượng acid chlohidric tiết ra trong dịch vị rất
ít và nó nhanh chóng kết hợp với dịch nhầy làm lượng acid chlohidric tự do trong dịch vị rất thiếu, độ toan trong dạ dày thấp tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh đường ruột (Phùng Ứng Lân, 1986; dẫn liệu Lê Hiếu Thuận, 2007)
2.3.2 Heo con cai sữa
Sau khi cai sữa chế độ ăn có sự thay đổi đột ngột về số lần ăn trong ngày và loại thức ăn Bên cạnh đó, khả năng tiêu hóa thức ăn kém, và sức đề kháng của heo con giảm rất nhiều trong giai đoạn này, do đó khả năng tiêu hóa rất hạn chế
Ngoài yếu tố dinh dưỡng, heo con còn chịu ảnh hưởng bởi tiểu khi hậu chuồng nuôi và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Do thay đổi chuồng nuôi, vận chuyển, ghép đàn… nên heo bị hàng loạt stress Ngoài ra, heo con khi cai sữa chịu lạnh kém vì xa
mẹ và hàm lượng mỡ dự trữ của cơ thể còn ít, do đó chuồng heo cai sữa cần có đèn
úm với nhiệt độ thích hợp
Trang 21Màng nhầy ruột non có những thay đổi khi heo cai sữa ở 3 – 4 tuần tuổi Theo Hampson and Kidder, (1986) (trích dẫn bởi Trần Thị Dân, 2003), so với trước khi cai sữa, nhung mao (để hấp thu chất dinh dưỡng) ngắn đi 75 % trong vòng 24 giờ sau cai sữa và tình trạng ngắn này vẫn tiếp tục giảm dần cho đến ngày thứ 5 sau cai sữa Mào ruột là nơi mà tế bào của chúng di chuyển dần lên đỉnh nhung mao để trở thành tế bào ruột trưởng thành với vi nhung mao hấp thu chất dinh dưỡng Vài enzyme tiêu hóa (lactase, glucosidase, protease) bị giảm nhưng maltase lại tăng, do
đó khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của ruột cũng giảm Việc giảm chiều dài của nhung mao và hình dạng chưa trưởng thành của quần thể tế bào ruột (do tốc độ thay thế nhanh) có thể giúp giải thích tại sao heo cai sữa tăng nhạy cảm với bệnh do
E.coli (Trần Thị Dân, 2003) Tình trạng trên có thể được khắc phục bằng cách cung
cấp thức ăn thơm ngon, đầy đủ chất dinh dưỡng và nhiệt độ phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của heo Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại hợp lý, nhằm đảm bảo không gây ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng và phát triển của heo trong giai đoạn này
2.4 Một số bệnh thường gặp trên heo
2.4.1 Bệnh tiêu chảy
Theo Võ Văn Ninh (2008), tiêu chảy là hiện tượng rối loạn tiêu hóa, thay vì nhu động của ruột diễn ra bình thường thì trở nên co thắt quá độ làm cho những chất chứa trong lòng ruột non, ruột già thải qua hậu môn quá nhanh, dưỡng chất không kịp tiêu hóa và ruột già chưa hấp thu được nước … tất cả đều bị tống ra hậu môn với thể lỏng hoặc sền sệt Hậu quả nghiêm trọng là cơ thể bị mất nhiều nước, mất nhiều ion điện tích và ngộ độc các loại độc tố do vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy sản sinh ra, con vật suy nhược rất nhanh và có thể chết rất nhanh nếu là thú sơ sinh
nhỏ tuổi, gầy ốm kém sức chịu đựng
2.4.1.1 Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy
Do thức ăn nước uống
Thức ăn thay thế sữa mẹ có thể khó tiêu hóa hơn sữa, do đó heo con giảm khả năng tiêu hóa, vi sinh vật ruột già dễ lên men nên giảm hấp thu nước ở đường ruột
Trang 22Hậu quả là heo bị tiêu chảy (Trần Thị Dân, 2004) Do khẩu phần có nhiều chất xơ,
cơ thể không tiêu hóa được, chất xơ kích thích tăng nhu động ruột và hấp thu nhiều nước làm phân trở nên lỏng hơn Ngoài ra thức ăn kém phẩm chất như bị lên men, thức ăn khó tiêu, hoặc lẫn các chất kích thích, các chất độc như thuốc sát trùng, thức
ăn quá mặn hoặc tỷ lệ đạm quá cao cũng là nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2001) Nước uống không đảm bảo vệ sinh, nguồn nước dơ, nhiễm bẩn, có nhiều NH3+, NO3-, SO42- và các vi sinh vật có hại đều gây bất lợi cho đường tiêu hóa
Do chăm sóc và môi trường
Heo con không được làm quen với thức ăn sớm nên bộ máy tiêu hóa bị rối loạn khi cai sữa heo Do heo phải chịu hàng loạt yếu tố bất lợi như: tách mẹ, chuyển đàn, nhập đàn, thay đổi thức ăn,… heo con dễ bị strees dẫn đến cơ thể suy yếu, sức
đề kháng giảm Môi trường thay đổi đột ngột từ nóng chuyển sang lạnh, từ nắng chuyển qua mưa sẽ làm heo con tiêu hao nhiều năng lượng Nhiệt độ ban đêm thường thấp, cơ thể chống lạnh bằng cách oxy hóa glycogen tạo ra năng lượng, nếu lạnh kéo dài thì lượng đường trong máu giảm thấp sẽ gây bệnh tiêu chảy Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (1997) khi ẩm độ khoảng 60 % - 70 % thì mức nhiệt độ thích hợp cho heo được trình bày ở bảng 2.3
Bảng 2.3 Mức nhiệt độ thích hợp cho heo
Trọng lượng (kg)
<10 10 – 15 15 – 30 30 – 60 >60 Nhiệt độ (0C) 26 – 30 22 – 26 18 – 22 16 – 20 14 – 20
Do bản thân heo con
Theo Trần Thị Dân (2004), trong sữa đầu, loại kháng thể chủ yếu là IgG Sự hấp thu kháng thể xảy ra tối đa ở giai đoạn 4 – 12 giờ sau khi bú Kháng thể có thể được phát hiện trong máu heo con vào 3 giờ sau khi sanh Khoảng 48 giờ sau khi sanh ruột không còn khả năng hấp thu kháng thể Vì vậy heo con không được bú đầy đủ sữa đầu trong thời gian này hệ miễn dịch sẽ kém phát triển dẫn đến giảm sức
đề kháng với bệnh
Trang 23Do heo con thiếu sắt (Fe), mỗi ngày heo con cần 7 mg Fe nhưng sữa mẹ chỉ cung cấp 1 mg mỗi ngày Heo con lại dự trữ Fe ít (30 mg), vì màng nhau là hàng rào hạn chế vận chuyển từ mẹ sang bào thai Trong khi đó tốc độ sinh trưởng của heo con rất nhanh, lượng máu trong cơ thể cũng phải tăng lên cho phù hợp, sự thiếu Fe
sẽ làm ngưng trệ quá trình thành lập hemoglobin của hồng cầu dẫn đến thiếu máu
và sẽ gây tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 1995)
Theo Phùng Ứng Lân (1985), do khả năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên heo con rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của thời tiết, nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, ẩm độ chuồng nuôi cao sẽ dẫn đến tiêu chảy
Do vi sinh vật
Vi sinh vật luôn hiện diện trong mọi trường hợp của bệnh tiêu chảy trên heo con, có thể nói đây là tác nhân chủ yếu của bệnh tiêu chảy trên heo con Bình thường trong đường tiêu hóa của heo con, hệ vi sinh vật cộng sinh có vai trò quan trọng trong sự tiêu hóa, khi gặp điều kiện bất lợi cho heo con thì một số vi sinh vật trở thành gây bệnh Có 3 nhóm chính:
Vi khuẩn: gồm hai nhóm chính, đó là nhóm vi khuẩn thường trú trong ống tiêu
hóa như E coli, Samonella spp.,… nhóm vi khuẩn tạp nhiễm đồng hành với thức
ăn, nước uống, và đường tiêu hóa như Staphylococcus spp., Streptococcus spp.,…
Virus: cũng là một trong những tác nhân gây tiêu chảy, thường thấy là
Trang 24Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy
Theo Nguyễn Như Pho ( 1995 ), cơ chế sinh bệnh được trình bày qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.2 Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy trên heo con Hậu quả của tiêu chảy (Nguyễn Tất Toàn, 2010)
Hậu quả của tiêu chảy cấp: Khi bị mất nước quá nhiều qua phân dẫn đến máu
bị cô đặc, làm cho khối lượng tuần hoàn giảm và dẫn đến trụy tim mạch Sự rối loạn huyết động học cũng dẫn đến tình trạng rối loạn chuyển hóa các chất như chuyển hóa yếm khí làm tình trạng nhiễm acid càng nặng thêm nên gây ra nhiễm độc thần kinh, gây dãn mạch và cuối cùng đưa đến tăng rối loạn huyết động học và hình thành vòng xoắn bệnh lý ngày càng trầm trọng
Nguyên nhân không
do vi sinh vật
Viêm ruột
Độc tố vi sinh vật tấn công niêm mạc ruột
Nhiễm trùng đường tiêu hoá
Stress giảm
sức đề kháng
Kích thích nhu động ruột
Ức chế thần
kinh giao cảm
Tiêu chảy Giảm nhu động
ruột
Thiếu dinh dưỡng
Mất nước chất điện
giải
Nhiễm độc
Vi sinh vật có hại phát triển
Thức ăn ứ lại
không tiêu
Chết
Do vi sinh vật có hại
Trang 25Hậu quả của tiêu chảy mãn: Tiêu chảy mãn không gây tình trạng mất nước tuy nhiên, tiêu chảy kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng rối loạn hấp thu, thiếu protein,
vitamin, muối canxi từ đó đưa đến tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu máu, còi xương 2.4.1.2 Một số bệnh tiêu chảy thường gặp
Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE: Transmissible Gastroenteritis)
Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm thường xảy ra ở giai đoạn heo từ sơ sinh đến 2 tháng tuổi Bệnh có tính chất lây lan cao Heo ở mọi lứa tuổi đều có thể nhiễm bệnh, song heo từ 5 tuần tuổi trở lên bị bệnh rất ít chết
Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm do 1 loại virus thuộc nhóm Coronavirus gây ra, họ Coronaviridae, virus được phủ 1 lớp bọc dễ bị phá hủy bởi chất sát
trùng, nhiệt độ cao và ánh sáng mặt trời Virus kháng acid, bởi vậy sống qua dạ dày và nhiễm vào ruột non, sống được lâu dài ở môi trường lạnh và ẩm
Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm có tỷ lệ chết khá cao Tiêu chảy thường bắt đầu từ 16 – 30 giờ sau khi heo con tiếp xúc với virus Dấu hiệu ban đầu là heo con nôn mửa sau đó tiêu chảy rất nhanh, heo bị mất nước tai cụp, mắt bị trũng sâu Theo Nguyễn Như Pho (2001), heo con bị tiêu chảy do virus có triệu chứng là tiêu chảy phân vàng với nhiều nước, có thể có các mảnh thức ăn không tiêu Ói mửa ít xảy ra, chỉ xuất hiện nhưng không thường xuyên trên những heo con nhỏ hơn 3 tuần tuổi Heo con gầy, mất nước nặng, suy nhược, và chết sau 3 – 5 ngày mắc bệnh Không có dấu hiệu sốt hoặc triệu chứng thần kinh
Cách phòng bệnh trong chăn nuôi có hiệu quả nhất là dựa trên công tác vệ sinh, giữ sao cho mầm bệnh và gia súc không tiếp xúc với nhau Đối với hầu hết bệnh do virus không có thuốc đặc trị, heo bệnh thường mất nước mất máu và chết đói Đối heo nhiễm virus TGE luôn giữ nước uống sạch, đảm bảo không có gió lùa
và nhiệt độ thích hợp
Dịch tiêu chảy ( PED: Porcine Epidemic Diarrhea )
Theo Trần Thanh Phong (1996), dịch tiêu chảy ở heo là bệnh truyền nhiễm
rất dễ lây do Coronavirus khác virus TGE gây nên với đặc điểm gây ói mửa, tiêu
Trang 26chảy và ăn không ngon trên heo mọi lứa tuổi (tử số trên heo con thường thấp hơn TGE) Căn bệnh gồm 2 type:
Type 1: gây tiêu chảy chủ yếu trên heo choai, heo thịt, hậu bị, nái nhưng
không gây tiêu chảy trên heo con theo mẹ
Type 2: gây tiêu chảy ở mọi lứa tuổi, gây chết cao trên heo sơ sinh
Heo con có biểu hiện tiêu chảy, có thể ói mửa Tỷ lệ mắc bệnh có thể dẫn đến 100 %, tỷ lệ chết thấp Bệnh lan rất nhanh 20-30 % heo cai sữa có thể mắc biểu hiện ói mửa, tiêu chảy Gần 100 % heo kém ăn hay bỏ ăn Heo bệnh lờ đờ, buồn bã hiếm khi sốt, tiêu chảy phân có màu xanh nâu nhiều dịch chảy Heo mất nhiều nước, gầy và suy nhược Tiêu chảy và ói mửa có thể xuất hiện trong khoảng
3 ngày ở thể cấp tính và có thể kéo dài đến 7-8 ngày Những heo cảm nhiễm có thể lướt qua, nhưng heo thịt sẽ kém ăn và chậm tăng trưởng Chứng tắc sữa có thể xảy ra ở heo nái
Về bệnh tích thì dạ dày luôn đầy hay được làm đầy bởi dịch có màu mật Cả phần ruột già và ruột non thì nhợt nhạt chứa đầy dịch Vài sự bất dưỡng nhung mao ruột có thể thấy ở ruột non của heo con mắc bệnh
Cách phòng trị là cho đàn nái tiếp cận mầm bệnh Khi nhập đàn nái hậu bị, cho tiếp xúc với nái đã mắc bệnh Không có phương pháp điều trị đặc hiệu, cần cung cấp nước và sữa (do heo mẹ mất sữa), hoặc cung cấp glucose, chất điện giải cho heo con từ heo nái bị cảm nhiễm
Bệnh phó thương hàn (Salmonellosis)
Là bệnh ở gia súc do vi khuẩn Salmonella gây ra là loại trực khuẩn Gram âm
Bệnh thường gặp ở heo con cai sữa đến 4 tháng tuổi, heo lớn ít bị Bệnh lây truyền
từ phân, nước tiểu heo ốm
Bệnh gây ra với đặc điểm bại huyết, gây viêm dạ dày ruột, tạo mụn loét ở ruột già, thường gây viêm phổi (trên heo cai sữa tuổi 10 – 16 tuần), gây xáo trộn sinh sản (trên heo nái) Ở thể cấp tính, heo con thường sốt cao 40 – 41,5 0C, bỏ ăn, nằm tụm lại một chỗ Heo ói mửa, tiêu chảy phân vàng hôi thối, đau vùng bụng, đỏ
ở vùng da mỏng, viêm khớp, viêm gan, viêm phổi, đi đứng không vững, run rẩy
Trang 27Thể mãn tính: heo rất gầy yếu, da tái nhợt, sốt từng hồi, tiêu chảy lỏng có lẫn tế bào niêm mạc ruột, một số có thể ho, khó thở, viêm khớp, chậm tăng trưởng (Trần Thanh Phong, 1996)
Khi mổ khám thấy bệnh tích: hạch ruột tăng sinh, xuất huyết; lách sung huyết triển dưỡng; thành ruột dày, có nhiều chỗ hoại tử, đôi khi có vết loét hình nút
ở van hồi manh tràng và thường xuất huyết, các vết loét liền với nhau thành từng mảng; gan sưng, đôi khi có đốm hoại tử (Trần Thanh Phong, 1996)
Cách phòng bệnh hữu hiệu nhất là tiêm phòng vaccine phó thương hàn, tiêm
2 lần trong năm để đàn có miễn dịch Vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi tốt
Điều trị bằng kháng sinh tetracycline, flopheniol, norfloxacin
Bệnh tiêu chảy do Escherichia coli (E.coli)
Theo Đào Trọng Đạt và ctv (1999), bệnh do E.coli gây ra là bệnh truyền
nhiễm, diễn biến cấp tính ở dạng nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở động vật non, nhất là vào 3 – 5 ngày sau khi sinh, thậm chí bị bệnh vào
lúc 1 ngày tuổi Có 48 % các trường hợp tiêu chảy ở heo con là do E.coli gây ra, vì vậy bệnh do E.coli có tầm quan trọng đặc biệt trong các bệnh nhiễm khuẩn ở heo con Trong các vi khuẩn đường ruột thì loài Escherichia là loài phổ biến nhất Loài
này xuất hiện và sinh sống trong động vật chỉ vài giờ sau khi sinh và tồn tại cho đến khi con vật chết Khi các điều kiện nuôi dưỡng, khẩu phần thức ăn, vệ sinh thú y
kém, sức chống đỡ bệnh tật của con vật yếu, thì E.coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh Theo Nguyễn Như Pho (2001), bệnh tiêu chảy do E.coli có chiếm tỉ
lệ rất cao trong bệnh tiêu chảy heo con Thường gây bệnh lúc tập ăn, lúc mọc răng sữa, và lúc cai sữa
Trên 70 % trường hợp tiêu chảy heo con là do E.coli với 3 thể bệnh: tiêu chảy phân trắng do nhiễm E.coli thường có triệu chứng ói, sốt, heo con không bỏ
bú Mức độ mất nước không nhiều như tiêu chảy do virus Lây lan chậm trong đàn, một số heo tiêu chảy, một số khác bình thường Không xuất huyết hoặc loét ở niêm mạc ruột Dùng kháng sinh sẽ có hiệu quả Tiêu chảy phân vàng khi kết hợp với virus thường xảy ra trên heo con trong 2 tuần đầu sau khi sinh Phân vàng, nhiều
Trang 28nước, lây lan nhanh trong bầy Khi tiêu chảy thì kèm theo ói mửa, heo con bỏ bú, mất nước rất nặng, heo con có thể gầy sút rất nhanh Mổ khám thấy thành ruột rất mỏng, ruột chứa nhiều hơi, căng bóng Dùng kháng sinh điều trị không khỏi
Cách phòng bệnh là phải nuôi dưỡng heo mẹ tốt, ổn định không thay đổi thức
ăn đột ngột Chuồng trại vệ sinh sạch sẽ, heo con có ổ úm, được sưởi ấm 2 tuần đầu Điều trị khi bị nhiễm bằng cách tiêm gentamicin + ampicillin liều 10-15mg/lần/kg thể trọng, trong 3-4 ngày Giảm khẩu phần ăn, trộn thêm vitamin C
Bệnh hồng lỵ ở heo
Là bệnh tiêu chảy cấp tính ở heo, với đặc điểm tiêu chảy dữ dội, phân có máu (màu đen hoặc đỏ), bệnh chết nhanh sau 1-3 ngày phát bệnh
Do xoắn khuẩn Treponema hyodysenteriae Mầm bệnh xâm nhập qua đường
tiêu hóa do lây nhiễm qua thức ăn và nước uống Khi nào tới ruột gây viêm ruột già, làm tổn thương xuất huyết dẫn đến tiêu chảy ra máu
Bệnh xảy ra ở thể cấp tính: dấu hiệu đầu tiên quan sát là luôn ngoắt đuôi, đau vùng bụng lưng cong vòng lên, đỏ nhẹ ở da và bỏ ăn Vài heo có thể sốt 40-40,50C nhưng thường biến mất khi tiêu chảy xuất hiện Tiêu chảy cũng có thể là dấu hiệu đầu tiên Máu, chất nhầy và các mảnh hoại tử xuất hiện trong phân vàng khi mới xuất hiện về sau biến sang màu nâu đỏ với nhiều chất nhầy hơn Biểu hiện này xuất hiện từ 3 – 7 ngày Heo bệnh sút cân rất nhiều, mắt quầng sâu, gầy còm, da lông xù xì, Xác chết thú còi cọc, nhợt nhạt (do thiếu máu) Bệnh tích có tính chất định hướng bệnh là ở đường ruột, bệnh tích viêm, manh kết tràng hoại tử xuất huyết Thường có sự sung huyết và thủy thủng màng treo ruột Các hạch bạch huyết nâu nhạt và sưng to
Tiêm phòng vaccine cho heo nái trước khi phối giống và heo con trước khi tách đàn Vệ sinh tẩy uế sát trùng chuồng trại định kỳ Dùng kháng sinh tylosin hoặc lincomycin trộn vào thức ăn trong giai đoạn heo mới tách đàn hay khi mới nhập về trại Thuốc đặc trị hiện nay có 3 loại kháng sinh: tylosine, lincomycin, gentamicine
Trang 29Bệnh do Clostridium perfringens
Trên heo có thể cảm nhiễm Clostridium perfringens type A, type C Trong
đó Clostridium perfringens type C là căn bệnh chính, thường phân lập được nhiều nhất Clostridum perfringens type C gây viêm ruột hoại tử chết nhanh ở heo con
nhỏ hơn 10 ngày nhất là những heo có thể trạng tốt của trại Mầm bệnh xâm nhập qua da và niêm mạc bị tổn thương
Viêm ruột hoại tử do Clostridium perfringens chết nhanh khoảng 3 ngày
tuổi Ở thể mãn tính hay bán cấp tính: vài con có biểu hiện tiêu chảy dịch lỏng
thường xuyên hay từng hồi Còn trường hợp nhiễm Clostridium perfringen type A
với biểu hiện phân nhão, hiếm khi chết Khi khám tử thấy viêm ruột cấp tính hoại
tử và xuất huyết có tính định vị (tại chỗ) hay mở rộng vùng ruột tùy theo tốc độ phát triển Chất chứa trong ruột có màu đỏ, mảng hoại tử ở vùng không tràng có thể gặp khí thủng ở thành Đôi khi gặp viêm phúc mạc có sợi huyết cấp tính
Bệnh thường phát triển nhanh dẫn đến thất bại trong điều trị Chỉ có thể phòng bệnh bằng cách tiêm vaccine cho heo nái để truyền miễn dịch qua sữa đầu cho heo con
Tiêu chảy do cầu trùng
Do một số loài thuộc giống Eimeria và Isospora ký sinh ở ruột heo non Trong đó có những loài thuộc giống Isospora quan trọng hơn và thường gặp nhất
là Isospora suis Loài này có khả năng gây bệnh nặng nhất đối với heo con Bệnh
xảy ra nhiều vào mùa nóng, tỷ lệ tử vong của heo con từ 10-20 %
Bệnh tập trung vào giai đoạn heo con theo mẹ từ 5-25 ngày tuổi, tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất ở 7-10 ngày tuổi Heo bị bệnh cầu trùng có những biểu hiện lâm sàng như: tiêu chảy phân trắng sau đó chuyển sang vàng, phân hơi lỏng, tính chất giống như kem chảy, mùi phân rất tanh Heo con gầy ốm, xù lông, không có dấu hiệu sốt, ói mửa Nếu bị phụ nhiễm màu phân có thể thay đổi sang màu vàng đậm, hoặc đỏ tính chất phân rất lỏng, không sền sệt như thể cầu trùng nguyên phát
Về bệnh tích thường định vị ở không tràng và hồi tràng, có hiện tượng viêm
loét ruột có phủ fibrin, có thể tiến triển thành dạng hoại tử nếu nhiễm cầu trùng với
Trang 30số lượng lớn và bội nhiễm với những vi sinh vật gây bệnh đường ruột khác Có sự bất dưỡng và thoái hóa niêm mạc ruột, những nhung mao ruột bị ngắn
Để phòng bệnh cần thực hiện đầy đủ vệ sinh thú y chuồng trại, dụng cụ, thiết
bị sân vườn, định kỳ diệt mầm bệnh hàng tháng bằng crezyl 5 %, xút 3 % Dùng
thuốc đặc hiệu trị cầu trùng như: toltrazuril hoặc sulphaclozine sodium monohydrate
2.4.2 Bệnh hô hấp
Hô hấp rất cần cho sự trao đổi khí O2 và CO2 trong cơ thể Nếu nghẹt thở 6-8 phút thì gia súc sẽ chết, mà bộ máy hô hấp lại là cơ quan thường xuyên tiếp xúc với môi trường bên ngoài Do đó, nếu hàng rào bảo vệ (niêm mạc, hệ thống lông rung,…) bị tổn thương thì bệnh hô hấp dễ xảy ra Có 3 thể hô hấp:
Thở thể hỗn hợp: bình thường gia súc thở thể này (trừ chó), khi thở thành bụng và thành ngực hoạt động nhịp nhàng
Thở thể ngực: lúc gia súc thở thành ngực hoạt động rõ (cơ liên sườn ở vùng ngực) còn thành bụng và cơ hoành hoạt động ít hay không hoạt động Các gia súc thở thể ngực là có bệnh (trừ chó), một số bệnh thường gặp: viêm phúc mạc, liệt cơ hoành, bị thương cơ hoành, những ca bệnh làm thể tích xoang bụng tăng lên như giãn dạ dày, chướng hơi dạ cỏ, chướng hơi ruột, bội thực dạ cỏ, báng nước Ngoài
ra, còn có một số nguyên nhân khác như gan sưng to, lách sưng to, bàng quang căng
do bí tiểu
Thở thể bụng: khi gia súc thở thành bụng hoạt động rõ, thành ngực hoạt động yếu hay không hoạt động (chỉ có cơ hoành và cơ bụng hoạt động) Gia súc thở thể bụng khi bị viêm màng phổi, tích nước xoang ngực, có thể bị liệt cơ liên sườn, gãy xương sườn (Nguyễn Tất Toàn, 2008)
2.4.2.1 Nguyên nhân gây bệnh hô hấp
Dinh dưỡng
Ảnh hưởng của khẩu phần, đặc biệt là vitamin, lên hệ thống kháng thể rất lớn
Nó không những quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất kháng thể để phòng các bệnh truyền nhiễm do vi trùng, siêu vi trùng mà ngay cả bệnh ung thư vitamin cũng
Trang 31có giá trị phòng ngừa rất cao (Dương Thanh Liêm, 2002) Sự mất cân đối Ca/P trong khẩu phần làm giảm khả năng hấp thu các chất khoáng ở ruột và làm xương lồng ngực bị biến dạng ảnh hưởng đến chức năng hô hấp (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 1997)
Môi trường
Tiểu khí hậu chuồng nuôi ảnh hưởng trực tiếp đến sức tăng trưởng và khả năng đề kháng của heo Sự chênh lệch nhiệt độ, ẩm độ quá lớn trong ngày, trong tháng làm ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý của heo mà trong đó bệnh đường hô hấp
là mẫn cảm nhất Chuồng trại không thông thoáng cộng với chiếu sáng không thích hợp gây kích ứng niêm mạc dẫn đến tình trạng mất bão hòa hệ hô hấp (Nguyễn Hoa
Lý, 1998)
Hàm lượng của NH3 và H2S trong không khí có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của gia súc: đối với NH3 thì nồng độ khuyến cáo là nhỏ hơn hay bằng 25-35 ppm, nếu khí NH3 được bụi hấp thu vào sâu trong đường hô hấp, gây kích ứng màng nhầy
và niêm mạc đường hô hấp sẽ mở đường cho các vi sinh vật gây bệnh đường hô hấp
Bảng 2.4 Tác hại của NH3 đối với heo (Hồ Thị Kim Hoa, 2009)
Nồng độ tiếp xúc (ppm) Tác hại hay triệu chứng
<50 Tăng tỷ lệ viêm phổi, làm tăng bệnh viêm teo xoang
mũi truyển nhiễm trên heo (atrophic rhinitis)
>50 Gia tăng tỷ lệ ho ở heo
50-100 Giảm tăng trọng hàng ngày từ 12-30%
61 Giảm 5% lượng thức ăn
Đối với khí H2S thì nồng độ khuyến các trong chuồng nuôi là khoảng 8-10 ppm Ảnh hưởng của nó đến đường hô hấp cũng là gây kích màng nhầy (ngứa mắt, mũi), khi heo tiếp xúc với khí H2S liên tục ở nồng độ khoảng 20 ppm thì heo sợ ánh sáng ăn không ngon, có hiện tượng thần kinh không bình thường, ở nồng độ khoảng
Trang 32200 ppm có thể gây thủy thủng ở phổi, khó thở, có thể bất tỉnh và chết (Hồ Thị Kim Hoa, 2009)
Chăm sóc quản lý
Sự chăm sóc quản lý tốt làm tăng sức đề kháng của cơ thể đối với bệnh tật Mật độ nuôi cao, nhập đàn mà không rõ tình trạng sức khỏe hoặc sức khỏe kém là những nguy cơ ảnh hưởng đến bệnh đường hô hấp trên heo (Trần Văn Đức, 2001) Thức ăn dạng bột mịn cũng ảnh hưởng đến bệnh hô hấp Sự xay nhuyễn thường làm tăng độ bụi của thức ăn hỗn hợp nên heo dễ bị hắt hơi, viêm phổi (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 1997)
Yếu tố di truyền
Theo Lundchein (1979) yếu tố di truyền cũng ảnh hưởng lên sự rối loạn các hoạt động hô hấp Những khảo sát trên đàn heo thuần Hampshire và Yorkshire trong điều kiện môi trường chăm sóc, quản lý, cho ta thấy tỷ lệ viêm teo xoang mũi nhiều hơn Landrace (trích dẫn Lê Văn Minh, 2002)
2.4.2.2 Một số bệnh hô hấp thường gặp
Bệnh viêm phổi địa phương
Theo Trần Thanh Phong (1996) bệnh viêm phổi địa phương là bệnh truyền
nhiễm do Mycoplasma thuộc họ Mycoplasmataceae, giống Mycoplasma thường
xảy ra ở thể mãn tính, với đặc điểm gây viêm phế quản, phổi tiến triển chậm Tỷ lệ mắc bệnh khá cao, tuy nhiên tỷ lệ chết thường thấp nếu không ghép với các bệnh
khác
Mycoplasma có hình cầu hình bầu dục hoặc hình sợi, kích thước 200-500nm,
rất nhạy cảm với các tác nhân vật lý khác với virus Thường chỉ có heo mắc bệnh (sức đề kháng kém dễ mắc bệnh nhất) Mầm bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường
hô hấp
Thời gian nung bệnh có thể từ 1 – 3 tuần lễ Khi mắc bệnh thân nhiệt tăng
400C có thể kéo dài nhiều ngày, kém ăn hay bỏ ăn, da có phần nhợt nhạt Có biểu hiện xáo trộn hô hấp như ho, thở, hắt hơi, khịt mũi, mũi chảy nhiều nước Có thể xáo trộn tiêu hóa nhẹ
Trang 33Bệnh tích chủ yếu ở bộ máy hô hấp và hạch phổi Ở thể cấp tính: viêm phổi cata, có những vùng hóa gan (đỏ, xám) đối xứng trên phổi, có nhiều dịch trong màng phế quản Còn ở thể mãn tính: vùng phổi bệnh dày đặc lại, cứng nhạt màu, nhục hóa phổi Phế quản và khí quản có nhiều dịch viêm đục, có thể có mủ Có thể viêm màng phổi, phổi dính sườn, có những ổ mủ ở phổi Hạch lâm ba phổi sưng to gấp 2-5 lần bình thường
Biện pháp phòng bệnh hữu hiệu là vệ sinh tốt chuồng trại, nhiệt độ thích hợp thông thoáng, định kỳ tiêu độc sát trùng, nuôi dưỡng đủ chất Sử dụng vaccine để phòng Điều trị bằng kháng sinh kết hợp với tăng cường trợ lực trợ sức, cải thiện điều kiện môi trường nuôi dưỡng Kháng sinh thường dùng như: tylosine, enrofloxacine…
Bệnh tụ huyết trùng
Là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Pasteurella multocida và Pasterella
haemolytica là loại cầu trực Gram âm gây ra hiện tượng tụ huyết, xuất huyết ở một
số nơi trong cơ thể chủ yếu là phổi, tim, có thể cả ruột Vi khuẩn xâm nhập vào máu gây bại huyết toàn cơ thể Bệnh này mang tính chất địa phương cục bộ Heo
từ 3-8 tháng tuổi thường hay bị bệnh
Bệnh xảy ra ớ các thể: Thể quá cấp heo bệnh hung dữ điên cuồng, chết rất nhanh trong 24 giờ Thể cấp tính là thường gặp, thân nhiệt tăng 41 – 420C, niêm mạc mũi và mắt đỏ Heo bệnh chảy nước dãi, nước mũi, nước mắt, ho khan, hạch lâm ba sưng, nhất là hạch hầu, có khi bụng chướng to có thể chết Thể mãn tính heo ho kéo dài, gầy yếu, viêm khớp, viêm da hoại tử, có thể chết sau 1 đến 2 tháng
Xuất huyết, tụ huyết ngoài da có nốt tím bầm, tổ chức liên kết dưới da xuất huyết lấm tấm Toàn bộ 2 lá phổi tụ máu màu đen Hạch lâm ba sưng đỏ, thủy thủng, lách sưng tụ máu, thận ứ máu Trong bao tim và xoang ngực tích nhiều nước có lẫn firin và máu Thận ứ máu đỏ sẫm, mổ ra có cục máu
Trang 34Đảm bảo vệ sinh chuồng trại, dụng cụ, thực hiện tốt nội quy ra vào, xuất nhập heo, tiêm phòng vaccine Có thể sử dụng các loại kháng sinh để điều trị: streptomycin, gentamicin…
Hội chứng rối loạn sinh sản hô hấp
Là bệnh truyền nhiễm do một ARN virus có vỏ bọc, kích thước 45 – 55nm gây ra làm chậm lên giống, hô hấp khó khăn, giảm sức đề kháng, mở đường cho
các bệnh khác
Trên heo nái bệnh làm cho heo kém ăn, sốt không cố định, sẩy thai ở nhiều giai đoạn Có thể cương mạch hay xung huyết ở tai, mũi, đuôi Nái kém sữa chậm lên giống trở lại Trên heo nọc thì heo lờ đờ, tái xanh ở tai, chất lượng tinh giảm
Ở heo con theo mẹ thì thủy thủng ở mí mắt, viêm màng tiếp hợp mắt, da tái xanh, tiêu chảy phân lỏng màu đỏ nâu hay xám, thở khó, viêm màng não Heo cai sữa thì gia tăng xáo trộn hô hấp và biến đổi màu da (Trần Thanh Phong, 1996)
Bệnh tích trên da có thể có vết xuất huyết hay bị thâm tím, phổi bị xung
huyết và viêm phổi thùy trước có nhiều dịch ở phổi và quanh tim Thoái hóa các
đại thực bào phế nang và viêm phổi liên thùy có những hoại tử trên nhau của heo
nái bệnh (Trần Thanh Phong, 1996)
Hiện chưa có thuốc đặc hiệu để trị Kiểm dịch nghiêm ngặt khi xuất nhập đàn, đặc biệt là khi nhập heo vào cơ sở chăn nuôi Không nhập heo ở các cơ sở xuất hiện bệnh và vùng dịch cũ
Bệnh do Actinobacillus pleuropneumoniae (APP)
Là bệnh truyền nhiễm do Actilobacillus pleuropneumoniae gây ra với đặc
điểm bại huyết, gây viêm nội tâm mạc, viêm khớp trên heo con từ 1 – 6 tuần tuổi Trên thú lớn có thể gây bệnh tích ở da và viêm phổi
Heo 1 – 6 tuần tuổi: trên đàn heo con chết rất nhanh Một số heo khác có biểu hiện sốt 400C Xuất huyết nhiều ở da, đặc biệt vùng lỗ tai và vùng bụng Xuất huyết điểm trên thận Trường hợp bệnh kéo dài có thể thấy: viêm nội tâm mạc, viêm bao tim tích dịch fibrin, viêm phổi, viêm đa khớp
Trang 35Để phòng bệnh hiệu quả thì người chăn nuôi phải quản lý tốt khâu chăm sóc: giữ ấm cho đàn heo vào những lúc thời tiết lạnh, cách ly đàn heo bệnh để tránh lây lan Theo Trần Thanh Phong (1996) để điều trị có thể dùng các loại kháng sinh như amoxcillin, enrofloxacin, ampicillin kết hợp với việc cung cấp chất điện giải
2.5 Lược duyệt các công trình nghiên cứu liên quan
Theo Châu Ngọc Ánh (2010), “Khảo sát các triệu chứng bệnh gặp trên heo
từ giai đoạn sau cai sữa đến 60 ngày tuổi” nhận thấy tỷ lệ heo tiêu chảy chiếm 35,60% tổng số ca bệnh, tỷ lệ bệnh trên đường hô hấp chiếm 52,31 % tổng số ca bênh, tỷ lệ viêm khớp 2,26 % tổng số ca bệnh Kết quả điều trị khỏi bệnh tiêu chảy 99,17 %, bệnh hô hấp là 98,50 %, viêm khớp là 17,39 %
Nguyễn Hữu Hiếu (2010) đã khảo sát bệnh hô hấp trên heo sau cai sữa đến
80 ngày tuổi tại một trại nuôi heo công nghiệp tỉnh Đồng Nai, kết quả ghi nhận như sau nhiệt độ cao nhất ở tháng 4 (30,780C ), thấp nhất ở tháng 6 (29,240C) Ẩm
độ trung bình cao nhất ở tháng 6 (80,74 %), thấp nhất ở tháng 4 (73,4 %), tỷ lệ heo
hô hấp trung bình giai đoạn I (24-60 ngày tuổi) và II (61-80 ngày tuổi) lần lượt là
42 %, 31,32 %, tỷ lệ ho, ngày con hô hấp trung bình ở giai đoạn I lần lượt là 32,21%; 28,93 % và ở giai đoạn II là 1,79 %; 2,79 % Tỷ lệ chết và loại thải trung bình ở giai đoạn I lần lượt là 1,91 %; 0,57 % và ở giai đoạn II là 13,05 % và 3,44
% Tỷ lệ tiêu chảy trung bình ở giai đoạn I và II lần lượt là 25,24 % và 12,16 % Phạm Hùng Trường (2009) đã khảo sát bệnh tiêu chảy trên heo con heo mẹ
và hiệu quả điều trị trại heo Kim Long, kết quả ghi nhận như sau nhiệt và ẩm độ chuồng nuôi trung bình (cho 3 tháng 9, 10, 11) là 28,000C và 83,61 %, tỷ lệ heo tiêu chảy 67,55 %, tỷ lệ ngày con tiêu chảy 6,84 %, tỷ lệ khỏi bệnh 89,58 %, tỷ lệ chết do tiêu chảy 1,43 %, thời gian điều trị trung bình 2,56 ngày, tỷ lệ nhiễm
E.coli là 100 % trên 22 mẫu phân gửi xét nghiệm, vi khuẩn đa đề kháng với nhiều
loại kháng sinh và chỉ nhạy với một số loại kháng sinh như norfloxacin 45,45 %,
gentamicin 31,82 %, cephalexine 18,19 %
Trần Văn Viên (2009), kết quả tình hình bệnh hô hấp trên heo 28 đến 80 ngày tuổi tại trại chăn nuôi công nghiệp ở huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai như
Trang 36sau: Tỷ lệ heo có triệu chứng hô hấp là 82,13 % Ở giai đoạn 28-60 ngày tuổi, tỷ
lệ ho, thở bụng lần lượt là 63,5 %, 5 % ; ở giai đoạn 61-80 ngày tuổi tỷ lệ ho, thở bụng lần lượt là 3,55 %, 4,57 %
Bùi Chí Hiếu (2008) đã khảo sát tình trạng tiêu chảy ở heo con theo mẹ từ sơ sinh đến cai sữa tại trại Darby – Cj Genetics, kết quả đạt được như sau nhiệt và ẩm
độ chuồng nuôi trung bình (cho 3 tháng 4, 15, 16) là 31,040C và 65,73 %; tỷ lệ heo con tiêu chảy 59,80 %; tỷ lệ ngày con tiêu chảy 6,94 %; tỷ lệ chữa khỏi 91,23 %;
tỷ lệ tái phát 24,09 %; tỷ lệ chết do tiêu chảy 0,67 %; thời gian điều trị trung bình 2,3 ngày; trọng lượng bình quân lúc sơ sinh 1,396 kg; trọng lượng bình quân lúc
cai sữa 6,55 kg; tỷ lệ E.coli dương tính 85 % trên 20 mẫu phân phân lập và vi
khuẩn đề kháng với 15 loại kháng sinh thường dùng trong thú y
Như vậy qua các nghiên cứu chúng tôi nhận thấy tình hình bệnh tiêu chảy và
hô hấp ngày càng xảy ra thường xuyên hơn ở giai đoạn từ sơ sinh đến 90 ngày tuổi, xuất hiện với tỷ lệ mắc bệnh khá cao, hậu quả là làm cho heo còi cọc, chậm lớn, ảnh hưởng đến năng suất và thiệt hại đáng kể đến kinh tế của nhà chăn nuôi