Kể từ khi bắt đầu đổi mới đến nay, chúng ta luôn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Điều này thể hiện con đường phát triển đúng đắn mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn. Trên con đường phát triển của mình, chúng ta đã xác định nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và trong đó yếu tố quan trọng nhất chính là đầu tư. Đã có rất nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu các mô hình tăng trưởng kinh tế và tác động của đầu tư. Tuy nhiên, không phải mô hình nào cũng hoàn hảo mà đều ẩn chứa trong đó những hạn chế và tồn tại. Bởi vậy thật khó để xác định con đường phát triển của đất nước theo một mô hình cụ thể. Bởi từ lý thuyết đến thực tế luôn là một khoảng cách khá xa. Chúng ta chỉ có thể nhìn con đường phát triển của mình dưới các mô hình để từ đó chỉ ra được những hạn chế dưới góc độ đó. Do đó mục đích của đề tài cung cấp cho các bạn các kiến thức về đầu tư và tăng trưởng và qua đó thấy được những hạn chế trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế dưới góc độ các lý thuyết về đầu tư. Trong quá trình nghiên cứu, tập thể nhóm xin chân thành cảm ơn thầy giáo Từ Quang Phương đã giúp đỡ hoàn thành đề tài.
Trang 1Đã có rất nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu các mô hình tăng trưởng kinh tế
và tác động của đầu tư Tuy nhiên, không phải mô hình nào cũng hoàn hảo màđều ẩn chứa trong đó những hạn chế và tồn tại Bởi vậy thật khó để xác định conđường phát triển của đất nước theo một mô hình cụ thể Bởi từ lý thuyết đếnthực tế luôn là một khoảng cách khá xa Chúng ta chỉ có thể nhìn con đườngphát triển của mình dưới các mô hình để từ đó chỉ ra được những hạn chế dướigóc độ đó Do đó mục đích của đề tài cung cấp cho các bạn các kiến thức về đầu
tư và tăng trưởng và qua đó thấy được những hạn chế trong quá trình tăngtrưởng và phát triển kinh tế dưới góc độ các lý thuyết về đầu tư
Trong quá trình nghiên cứu, tập thể nhóm xin chân thành cảm ơn thầygiáo Từ Quang Phương đã giúp đỡ hoàn thành đề tài
Trang 2PHẦN I CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ ĐỐI
VỚI TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
I MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1 Khái niệm
Ngày nay các quốc gia độc lập, có chủ quyền đều đề ra những mục tiêuphấn đấu cho sự tiến bộ của quốc gia mình Tuy có những khía cạnh khác nhaunhất định trong quan niêm, nhưng nói chung, sự tiến bộ trong một giai đoạn nào
đó của một nước thường được đánh giá trên hai mặt: sự gia tăng về kinh tế và sựbiến đổi về mặt xã hội Trên thực tế, người ta thường dùng hai thuật ngữ tăngtrưởng và phát triển để phản ánh sự tiến bộ đó
- Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm (hay giatăng) về qui mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời ký nhất định Đó làkết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra Dovậy, để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của tổngsản lượng nền kinh tế (tính toàn bộ hay tính bình quân theo đầu người) của thời
kỳ sau so với thời kỳ trước Như vậy, tăng trưởng kinh tế được xem xét trên 2mặt biểu hiện: đó là mức tăng tuyệt đối hay mức tăng phần trăm (%) hàng năm,hoặc bình quân trong một giai đoạn
Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giaiđoạn nhất định, sẽ cho ta khái niệm tốc độ tăng trưởng Đó là sự tăng thêm sảnlượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc
- Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) vềmọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sựtăng thêm về qui mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế- xãhội
Những vấn đề cơ bản nhất định của định nghĩa trên bao gồm:
Trang 3 Trước hết sự phát triển bao gồm cả sự tăng thêm về khối lượng củacải vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xãhội.
Tăng thêm qui mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế – xã hội làhai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tương đối của lượng vàchất
Sự phát triển là một quá trình tiến hoá theo kịp thời gian do nhữngnhân tố nội tại của bản thân nền kinh tế quyết định
Kết quả của sự phát triển kinh tế –xã hội là kết quả của một quátrình vận động khách quan, còn mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội đề ra là thểhiện sự tiếp cận tới các kết quả đó
2. Một số chỉ tiêu đánh giá
Phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất về một sự chuyển biến củanền kinh tế, từ trạng thái thấp lên một trạng thái cao hơn Do vậy, không có tiêuchuẩn chung về sự phát triển Các nhà kinh tế học phân quá trình đó ra các nấcthang: kém phát triển, đang phát triển và phát triển… gắn với các nấc thang đó
là những giá trị nhất định, mà hiện tại chưa có sự thống nhất hoàn toàn
Một số thước đo của sự tăng trưởng: tổng sản phẩm trong nước (GDP),tổng sản phẩm quốc dân (GNP), thu nhập bình quân đầu người
Một số chỉ số về cơ cấu kinh tế: chỉ số cơ cấu ngành trong tổng sản phẩmquốc nội, chỉ số về cơ cấu hoạt động ngoại thương (X-M), chỉ số về mức tiếtkiệm - đầu tư (I)
2.1 Một số thước đo của sự tăng trưởng
2.1.1 Tổng sản phẩm trong nước (hay tổng sản phẩm quốc nội – GDP)
Thường được hiểu là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ mới được tạo ra trongnăm bằng các yếu tố sản xuất trong pham vi lãnh thổ quốc gia Có nhiều cáchtiếp cận khác nhau:
Trang 4+ Về phương diện xa, GDP có thể được xác định bằng toàn bộ giá trị giatăng của các ngành, các khu vực sản xuất và dịch vụ trong cả nước Giá trị giatăng được xác định dựa trên cơ sở hạch toán các khoản chi phí, các yếu tố sảnxuất và lợi nhuận cảu các cơ sở sản xuất và dịch vụ.
Giá trị Giá trị Chi phí các yếu tố gia tăng = sản lượng trung gian(đầu vào)
(Y) (GO) (IE)
+ Về phương diện tiêu dùng, thì GDP biểu hiện ở toàn bộ hàng hoá vàdịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành của thị trường được tạo ra trên phạm
vi lãnh thổ quốc gia hàng năm
Xác định GDP theo tiêu dùng thường dựa trên cơ sở thống kê thực tế vềtổng các khoản tiêu dùng của các hộ gia đình (C), tổng đầu tư cho sản xuất củacác doanh nghiệp (I), các khoản chi tiêu của Chính phủ (G) và phần xuất khâuròng (X-Mso sánh trong năm
GDP=C + I + G + (X-M)
Do tính GDP theo giá hiện hành của thị trường, nó đã bao gồm cả thuếgián thu (Te), cho nên GDP tính theo giá thị trường sẽ chênh lệch với GDP tínhtheo các chi phí các yếu tố sản xuất một lượng giá trị, đó là thuế gián thu (Te)
GDPsản xuất = GDPtiêu dùng – Te = C + I + G +(X-M)
+Xác định theo phương diện thu nhập, GDP là toàn bộ giá trị mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức Nhà nước thu được từ giá trị gia tăng đem lại.Suy đến cùng thì đó là các khoản mà các hộ gia đinh được quyền tiêu
Trang 5dùng (C1), các doanh nghiệp tiết kiệm được (S1) dùng để đầu tư, bao gồm cả thuế khấu hao (S1 = I1) và chi tiêu của Nhà nước từ nguồn thu thuế (T)
GDPthu nhập = Cp + Ip + T
GDP theo cách xác định trên đã thể hiện là một thước đo sự tăng trưởngkinh tế do các hoạt động sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia tạo ra, khôngphân biệt sở hữu trong hay ngoài nước đối với kết quả đó Do vậy, GDP phảnánh chủ yếu khả năng sản xuất của nền kinh tế một nước
2.1.2 Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
Tổng sản phẩm quốc dân là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối cùng màtất cả công dân một nước tạo ra và có thể thu nhập trong năm, không phân biệtsản xuất được thực hiện ở trong nước hay ngoài nước
Như vậy, GNP là thước đo sản lượng gia tăng mà nhân dân của một nướcthực sự thu nhập được So với GDP thì GNP chênh lệch một khoản thu nhập tàisản với nước ngoài
GNP = GDP + Thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài
Với ý nghĩa là thước đo thu nhập của nền kinh tế với sự tăng thêm GNPthực tế đó chính là sự gia tăng tăng trưởng kinh tế, nó nói lên hiệu quả của cáchành động kinh tế đem lại
GNP thực tế là GNP được tính theo giá cố định nhằm phản ánh đúng sảnlượng gia tăng hàng năm, loại trừ những sai lệch do biến động giá cả tạo ra KhiGNP tính theo giá thị trường thì đó là GNP danh nghĩa
2.1.3 Thu nhập bình quân đầu người
Khả năng nâng cao phúc lợi vật chất cho nhân dân một số nước, khôngchỉ là tăng sản lượng của nền kinh tế, mà còn liên quan đến vấn đề dân số- conngười Nó tỷ lệ thuận với qui mô sản lượng và tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ nghịchvới dân số và tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên hằng năm Do vậy chỉ số thu
Trang 6nhập bình quân đầu người là một chỉ số thích hợp hơn để phản ánh sự tăngtrưởng và phát triển kinh tế Mặc dù vậy, nó vẫn chưa nói lên mặt chất mà sựtăng trưởng đưa lại Cho nên để nói lên sự phát triển người ta dùng hệ thống cácchỉ số.
2.2 Một số chỉ số về cơ cấu kinh tế
2.2.1 Chỉ số cơ cấu ngành trong tổng sản phẩm quốc nội
Chỉ số này phản ánh tỷ lệ của các ngành công nghiệp, nông nghiệp vàdịch vụ trong GDP Nền kinh tế càng phát triển thì tỷ lệ sản lượng của côngnghiệp và dịch vụ ngày càng cao trong GDP, còn tỷ lệ của nông nghiệp thi giảm
đi tương đối
2.2.2 Chỉ số về cơ cấu hoạt động ngoại thương (X-M)
Tỷ lệ của giá trị sản lượng xuất khẩu và nhập khẩu thể hiện sự mở cửa củanền kinh tế với thế giới Một nền kinh tế phát triển thường có mức xuất khẩuròng trong GDP tăng lên
2.2.3 Chỉ số về mức tiết kiệm – đầu tư (I)
Tỷ lệ tiết kiệm - đầu tư trong tổng sản phẩm quốc dân (GNP) thể hiện rõhơn vể khả năng tăng trưởng kinh tế trong tương lai Đây là một nhân tố cơ bảncủa sự tăng trưởng Những nước có tỷ lệ đầu tư cao (từ 20 – 30% GDP) thường
là các nước có mức tăng trưởng cao Tuy nhiên tỷ lệ này còn phụ thuộc vào qui
mô của GNP và tỷ lệ giành cho tiêu dùng (C) theo cơ cấu:
I = GNP – C + X - M
3 Các quan điểm về tăng trưởng và phát triển kinh tế
3.1 Quan điểm nhấn mạnh vào tăng trưởng
Những người theo quan điểm này cho rằng tăng thu nhập là quan trongnhất Thực tế cho thấy những nước theo quan điểm này đã đạt được tốc độ tăng
Trang 7trưởng cao, không ngừng tăng thu nhập cho nền kinh tế Song cũng cho thấynhững hạn chế cơ bản của việc lựa chọn này:
+ Sự tăng trưởng quá mức nhanh chóng vì những động cơ có lợi ích cục
bộ trước mắt đã đưa đến sự khai thác bừa bãi không chỉ ở phạm vi quốc gia màcòn trên phạm vi quốc tế Điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển củacác nước chậm tiến và các thế hệ sau này
+ Cùng với sự tăng trưởng là những bất bình đẳng về kinh tế và chính trịxuất hiện, tạo ra những mâu thuẫn và xảy ra xung đột gay gắt:
- Xung đột giữa khu vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Nôngnghiệp không những chỉ giảm tỷ lệ tương đối mà còn bị thu hẹp cả không giansản xuất Đất đai bị mất, bị thoái hoá, môi trờng bị huỷ hoại
- Xung đột giữa các giai cấp chủ và thợ, gắn với nạn thất nghiệp tràn lan
- Xung đột các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo: xảy ra mâu thuẫn về lợi ích kinhtế- xã hội, do quá trình tăng trưởng không đều tạo nên
+ Phát triển đưa lại những giá trị mới song nó cũng phá huỷ và hạ thấpmột số giá trị truyền thống tốt đẹp: nền giáo dục gia đình, thuần phong mỹ tục,đạo đức… Đồng thời với việc làm giầu băng bất cứ giá nào thì các tội ác cũngphát triển
+ Sự tăng trưởng và phát triển nhanh chóng còn đưa đến những diễn biếnkhó lường trước, cả mặt tốt và không tốt Do vậy đời sống kinh tế – xã hộithường bị đảo lộn, mất ổn định, khó có thể lường trước được hậu quả
3.2 Quan điểm nhấn mạnh vào công bằng và bình đẳng trong xã hội
Theo quan điểm này, sự phát triển sản xuất được đầu tư dàn đều cho cácngành, các vùng và sự phân phối được tiến hành theo nguyên tắc bình quân.Những người lựa chọn quan điểm này đã hạn chế được sự bất bình đẳng trong
xã hội Đại bộ phận dân cư đều được chăm sóc về văn hoá, giáo dục, y tế củaNhà nước Những hạn chế cơ bản của việc lựa chọn này là nguồn lực hạn chế lại
bị phân phối dàn trải nên không thể tạo ra được tốc độ tăng trưởng cao và việcphân phối đồng đều cũng không tạo được động lực thúc đẩy người lao động
Trang 83.3 Quan điểm phát triển toàn diện
Đây là sự lựa chọn trung gian giữa hai quan điểm trên Vừa nhấn mạnh về
số lượng, vừa chú ý về chất lượng của sự phát triển Theo quan điểm này tuy tốc
đọ tăng trưởng có hạn chế nhưng các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết
II XEM XÉT MÔ HÌNH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU
TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ THEO QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ.
1 Các mô hình dựa vào sự phân tích quá trình đầu tư tác động đến tổng cung của nền kinh tế.
1.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái cổ điển.
- Các yếu tố cấu thành tổng cung của nền kinh tế: Theo Ricardo 1823) nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, từ đó ông cho rằng các yếu
(1772-tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn Trong từng ngành
và phù hợp với một trình độ kỹ thuật nhất định các yếu tố này kết hợp với nhautheo một tỷ lệ nhất định, không thay đổi Trong ba yếu tố này đất đai là yếu tốquan trọng nhất
- Sự giới hạn tăng tổng cung của nền kinh tế: Do đất đai là yếu tố quantrọng nhất nhưng chính đất đai là giới hạn của tăng trưởng Khi sản xuất nôngnghiệp gia tăng trên những đất đai mầu mỡ hơn thì giá lương thực, thực phẩm sẽtăng lên Do đó tiền lương danh nghĩa của công nhân cũng phải tăng lên tươngứng, lợi nhuận của nhà tư bản có xu hướng giảm Nếu cứ tiếp tục như vậy chođến khi lợi nhuận hạ thấp, không thể bù dắp đựoc rủi ro trong kinh doanh làmcho nền kinh tế trở nên bế tắc
- Đầu tư làm giảm sự giới hạn đó: Ricardo cho rằng muốn hạn chế sự giớihạn đó thì chỉ có cách xuất khẩu hàng công nghiệp để mua lương thực rẻ hơn từnước ngoài, hoặc phát triển công nghiệp để rồi tác động vào nông nghiệp Muốn
Trang 9trưởng ngành công nghiệp Điều này thể hiện vai trò của đầu tư trong việc tăngtrưởng ngành nông nghiệp dẫn đến làm giảm sự giới hạn tăng trưởng chung.
- Hạn chế của lý thuyết: Các nhà kinh tế cổ điển cho rằng thị trường tự dođược một bàn tay vô hình dẫn dắt để gắn lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội Thịtrường với sự linh hoạt của giá cả và tiền công có khả năng tự điều chỉnh nhữngmất cân đối của nền kinh tế để xác lập những cân đối mới Như vậy, Ricardochưa thấy vai trò của chính phủ cũng như chính sách đầu tư phát triển của Nhànước Theo ông, chính phủ không có vai trò gì trong tăng trưởng kinh tế thậmchí hạn chế sự tăng trưởng
1.2 Quan điểm tăng trưởng kinh tế của Marx (1818-1883)
- Các yếu tố của quá trình tái sản xuất: Theo ông có bốn yếu tố tác độngđến quá trình tái sản xuất là: đất đai, lao động, vốn và tiến bộ khoa học kỹ thuật.Ông đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị thặng dư
- Sự cần thiết phải tích luỹ tư liệu sản xuất cho tái sản xuất: Theo Mark,giữa cung và cầu của thị trường luôn có một khoảng cách Để giải quyết khoảngcách này cần thiết phải có tích luỹ sản xuất, tích luỹ hàng hoá Đây cũng là hoạtđộng đầu tư hàng tồn trữ Cũng theo ông, sau khi trải qua giai đoạn khủng hoảng
có chu kỳ, để tiếp tục phát triển, các nhà tư bản phải tiến hành đổi mới tư bản cốđịnh với quy mô lớn làm cho nền kinh tế tiến đến phục hồi, hưng thịnh Để đổimới được tư bản cố định, các nhà tư bản cũng nhất thiết cần có hoạt động đầu tưđổi mới công nghệ Đây cũng chính là vai trò của đầu tư trong tăng trưởng kinhtế
1.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái tân cổ điển
- Các yếu tố cấu thành tổng cung của nền kinh tế: Các nhà kinh tế tân cổđiển đã giải thích nguồn gốc sự tăng trưởng thông qua hàm sản xuất:
Y = f(K, L, R, T)Trong đó: Y- Đầu ra; K- Vốn sản xuất; L- Lao động; R-Tài nguyên; T-Khoa học công nghệ
- Vai trò của vốn qua hàm sản xuất Cobb – Douglas:
Trang 10g = t +aK + bL + cRTrong đó g: tốc độ tăng trưởng; a: tốc độ tăng trưởng của yếu tố vốn
Qua đó ta thấy rằng sự tăng trưổng của yếu tố vốn cũng như yếu tố đầu tưcũng góp phần vào tăng trưởng kinh tế nói chung
- Hạn chế của lý thuyết: Trường phái này cũng không thấy được vai tròcủa chính phủ trong tăng trưởng kinh tế Vai trò của chính phủ là mờ nhạt trongphát triển kinh tế
1.4 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái Keynes
Keynes đã rất coi trọng vai trò của đầu tư trong tăng trưởng kinh tế Dựavào tư tưởng này của Keynes, vào những năm 40, hai nhà kinh tế học Harrod ởAnh và Domar ở Mỹ đã đưa ra mô hình về mối quan hệ giữa vốn và tăng trưởng
Mô hình này coi đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là một công
ty, một ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng số vốnđầu tư cho nó Mô hình này cũng chỉ ra nguồn gốc của vốn đầu tư và mối quan
hệ giữa vốn đầu tư và vốn sản xuất Theo hai ông thì tiết kiệm là nguồn gốc củađầu tư nên về lý thuyết đầu tư luôn bằng tiết kiệm Đồng thời, đầu tư chính là cơ
sở để tạo ra vốn sản xuất Các ông đã thiết lập các mối quan hệ như sau:
Đầu tư = Tiết kiệm => s = Đầu tư / Sản lượng Với s: tỷ lệ tiết kiệm trongGDP
Đầu tư = Vốn sản xuất => k = Đầu tư / Mức tăng trưởng với k là tỷ số giatăng giữa vốn và đầu ra
- Vai trò của vốn sản xuất với năng lực sản xuất và tăng trưởng kinh tếqua mô hình Harrod-Domar: Từ các mối liên hệ trên chúng ta có mô hìnhHarrod-Domar như sau:
g = s/k với g là tốc độ tăng trưởng kinh tế
Ở đây, k là hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn đầu ra) Hệ số này chỉ ra rằngvốn được tạo ra bằng đầu tư là yếu tố cơ bản của tăng trưởng; tiết kiệm của nhândân và các công ty là nguồn gốc của đầu tư Hệ số cũng phản ánh trình độ kỹ
Trang 11Như vậy, mô hình Harrod – Domar chỉ ra sự tăng trưởng là do kết quảtương tác giữa tiết kiệm với đầu tư và đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triểnkinh tế Theo hai ông chính đàu tư phát sinh ra lợi nhuận và gia tăng khả năngsản xuất của nền kinh tế.
1.5 Căn cứ vào các lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái kinh tế hiện đại:
Trường phái kinh tế học hiện đại đã xây dựng một lý thuyết kinh tế hỗnhợp trong đó thị trường trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của tổ chức kinh
tế và Nhà nước tham gia điều tiết có mức độ nhằm hạn chế những mặt tiêu cựccủa thị trường Thực chất nền kinh tế hỗn hợp là sự gần nhau của học thuyếtkinh tế Tân cổ điển và học thuyết của trường phái Keynes
- Lý thuyết hiện đại cũng thống nhất với mô hình kinh tế Tân cổ điển vềxác đinh các yếu tố tác động tổng cung nền kinh tế: lao động, vốn, đất đai, tàinguyên, khoa học Y = f( K, L, R, T) Tuy nhiên, Samuelson cho tầm quan trọngcủa các yếu tố là như nhau Như vậy, trường phái hiện đại cũng cho rằng vốnđóng góp một phần cho sự tăng trưởng
- Vai trò của đầu tư với năng lực sản xuất và tăng trưởng kinh tế
+ Dựa vào mô hình Cobb-Douglas:
G = t + ak + bL +cR với g là tốc độ tăng trưởng; a là tốc độ tăng trưởngcủa vốn còn K là vốn
Như vậy, sự tăng thêm của vốn và quy mô vốn là một phần của tăngtrưởng kinh tế
+ Dựa vào mô hình Harros Domar: g= s/ k; với k là hệ số ICOR chỉ rađược vai trò cua vốn đầu tư đối với vốn sản xuất và tăng trưởng kinh tế
2 Đầu tư là nhân tố kích thích tổng cầu nền kinh tế
2.1 Vai trò của kích cầu trong tăng trưởng kinh tế
Các học thuyêý kinh tế trước trường phái Keynes thường chủ yếu quantâm đến yếu tố cung và đồng nhất sự tăng cung với tăng trưởng kinh tế Tuynhiên vào những năm 30 của thế kỷ 20, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp diễn
Trang 12ra thường xuyên và lý thuyết của trường phái Keynes đã ra đời đánh dấu sựphát triển mới về kinh tế Lý thuyết này nhấn mạnh đến yếu tố cầu và coi tổngcầu là nguyên nhân của sự tăng trưởng cũng như suy thoái kinh tế.
Cầu tiêu dùng giảm dẫn đến hàng hoá ế thừa, kinh tế trì trệ: Theo ông, khimức thu nhập tăng lên thì xu hướng tiêu dùng giảm đi còn xu hường tiết kiệmtrung bình tăng lên, do đó xu hướng tiết kiệm cận biên sẽ tăng lên Việc giảm xuhướng tiêu dùng sẽ dẫn đến cầu tiêu dùng giảm xuống Cầu giảm dẫn đến hànghoá ế thừa, không bán được Các nhà sản xuất bi quan về nền kinh tế sẽ thu hẹpqui mô sản xuất hoặc nếu không sẽ bị phá sản Chính những điều này dẫn đếnhiện tượng thất nghiệp xảy ra, tệ nạn xã hội sẽ bùng phát Theo Keynes, sự sụtgiảm cầu chính là nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế xã hội ở các nước Tưbản vào những năm 30
Cũng theo Keynes tổng cầu tăng sẽ kích thích tổng cung tăng và tạo ranền kinh tế đạt tới một sự cân bằng mới ở mức sản lượng cao hơn mức sảnlượng cũ.Từ đó, kinh tế sẽ tăng trưởng
2.2 Quan điểm của Keynes về vai trò của đầu tư với tổng cầu
- Vai trò của đầu tư thông qua mô hình số nhân:
Theo ông việc tăng đầu tư sẽ bù đắp những thiếu hụt về cầu tiêu dùng Đểđảm bảo đầu tư gia tăng liên tục ông đưa ra nguyên lý số nhân Số nhân là tỷ sốgiữa tốc độ tăng thu nhập và tăng đầu tư Nếu ký hiệu dR là tăng thu nhập, dS làtăng tiết kiệm, dC là tăng tiêu dùng, k là số nhân thì:
Mô hình số nhân phản ánh mối quan hệ giữa tăng thu nhập với tăng đầu
tư Theo ông, mỗi sự gia tăng về đầu tư đều kéo theo sự gia tăng về nhu cầu bổsung công nhân, nâng cao về tư liệu sản xuất Do vậy làm tăng cầu tiêu dùng,tăng giá bán hàng, làm tăng việc làm cho công nhân và tất cả điều đó làm tăngthu nhập
Trang 13Tóm lại, đầu tư làm tăng tổng cầu kéo theo sự tăng lên của thu nhập vàtăng trưởng kinh tế nói chung.
- Vai trò của đầu tư thông qua các chính sách đầu tư của Nhà nước:
Keynes đã chỉ ra vai trò của Chính phủ và đầu tư trong việc kích thíchtổng cầu: AD = C + G + I
Trong đó AD là tổng cầu, C: tiêu dùng, G: chi tiêu chính phủ, I: đầu tư.Như vậy trong đẳng thức trên đầu tư và chính phủ đều có vai trò hết sứcquan trọng đối với tổng cầu Đầu tư tăng sẽ làm cho tổng cầu tăng và ngược lại.Chi tiêu của Chính phủ cũng góp phần tăng tổng cầu Nhà nước sử dụng ngânsách của Nhà nước để kích thích đầu tư của khu vực tư nhân và Nhà nước Nhưvậy, đầu tư thông qua các chính sách của Chính phủ để kích cầu, kích thích sảnxuất phát triển
Tuy nhiên Keynes đã quá chú trọng vai trò của Nhà nước trong việc pháttriển kinh tế song ông lại bỏ qua vai trò của thị trường tự do, của bàn tay vôhình, của cân bằng tổng quát
3 Mô hình đầu tư tạo điều kiện cho việc phát triển ngành kinh tế mũi nhọn, từ đó tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3.1 Mô hình các giai đoạn phát triển kinh tế của W.Rostow
Theo ông, quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia phải trải qua nămgiai đoạn: xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, cất cánh, trưởng thành và mứctiêu dùng cao
Giai đoạn xã hội truyền thống: sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ yếutrong hoạt động kinh tế, năng suất lao động thấp, nhìn chung nền kinh tế không
Trang 145% đến 10% và cao hơn trong thu nhập quốc dân thuần tuý (NNP), ngoài vốnđầu tư huy động trong nước vốn đầu tư huy động nước ngoàI có ý nghĩa quantrọng Đầu tư tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng vaitrò chủ đạo trong việc lôi kéo các ngành khác phát triển.
Giai đoạn trưởng thành: tỷ lệ đầu tư đã tăng từ 10% đến 20% thu nhậpquốc dân thuần tuý Đồng thời ở giai đoạn này đã xuất hiện nhiều ngành côngnghiệp mới
Giai đoạn tiêu dùng cao: thu nhập bình quân đầu người tăng cao…
Tóm lại, đầu tư sẽ thúc đẩy tăng trưởng các ngành cụ thể trong tong giaiđoạn Điều đó tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng cao hơn
3.2 Mô hình nhị nguyên của Lewis và Oshima
- Theo mô hình của Lewis:
Do ảnh hưởng của Ricardo, Lewis cũng cho rằng đất đai là giới hạn củatăng trưởng Do vậy nông nghiệp sẽ luôn bị giảm sút và lợi nhuận giảm dần.Theo ông, để tránh tạo ra sự dư thừa vô ích lao động trong nông nghiệp thì cầnphải phát triển công nghiệp Do đó ông đã khẳng định tăng trưởng kinh tế cầnphát triển ngành công nghiệp sau đó thúc đẩy ngành nông nghiệp
Vai trò của đầu tư ở đây là tạo điều kiện ngành công nghiệp phát triển.Khi đã có đầu tư cho ngành công nghiệp, qui mô các xí nghiệp công nghiệp tăngnhanh và đường cầu lao động dịch chuyển sang phải Lao động sẽ dịch chuyểndần từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp Như vậy đầu tư mở rộng sản xuất
và tạo điều kiện cho ngành công nghiệp phát triển
Khi công nghiệp phát triển đến một giai đoạn cần tiếp tục đầu tư cho nôngnghiệp Từ đó, tạo ra sự tác động qua lại giữa công nghiệp và nông nghiệp trongquá trình phát triển
- Theo mô hình của Oshima:
Theo ông tăng trưởng kinh tế có thể phát triển cả ở hai ngành côngnghiệp và nông nghiệp Nông nghiệp có thể phát triển bằng sự tự nỗ lực củanông dân cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước Quá trình công nghiệp hoá diễn ra
Trang 15liên tục, kéo dài nhiều năm và cùng song hành với sự phát triển của nôngnghiệp.
Vai trò của đầu tư chính là tạo ra sự hài hoà giữa phát triển nông nghiệp
và phát triển công nghiệp Nhờ sự đầu tư của Nhà nước vào nông nghiệp nhưxây dựng hệ thống kênh, đập tưới tiêu nước…Quá trình phát triển công nghiệpcũng diễn ra dần với sự đầu tư vào các ngành công nghiệp ít vốn sau đó chuyểnsang các ngành công nghiệp có lợi thế xuất khẩu
Qua hai mô hình trên, ta thấy rằng đầu tư tạo điều kiện thuận lợi để pháttriển các ngành kinh tế mũi nhọn, từ đó đã tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
4 Đầu tư được coi là cú huých từ bên ngoài giúp các nước đang phát triển thoát khoủi vòng luẩn quẩn của đói nghèo
4.1 Mô hình vòng luẩn quẩn của Samuelson
Theo ông, các nước có nền kinh tế tăng trưởng thấp thường rơi vào vòngluẩn quẩn
Tiết kiệm và đầu tư thấp
Thu nhập bình quân thấp Tốc độ tích luỹ vốn thấp
Năng suất thấp
Đầu tư nước ngoài là cú huých bên ngoài giúp kinh tế thoát khỏi vòngluẩn quẩn và tiếp tục tăng trưởng Như vậy, để phát triển phải “có cú huých từbên ngoài” Điều này có nghĩa là phải có đầu tư của nước ngoài vào các nướcđang phát triển Muốn vậy phải tạo ra các điều kiện thuận lợi nhằm kích thíchtích cực đầu tư của tư bản nước ngoài Đây chính là vai trò của đầu tư nướcngoài đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước đang phát triển
4.2 Lý thuyết đầu tư nước ngoài của Vernon về chu kỳ sống sản phẩm và mô hình của Akamateu
Trang 16Đầu tư nước ngoài giúp chuyển giao công nghệ từ nước phát triển sangnước đang phát triển cần khoa học công nghệ.
Mô hình của Vernon: Đầu tư đổi mới công nghệ -> Sản phẩm mới ->Tănglợi nhuận ->Sản xuất hàng loạt ->Thương mại hoá -> Đầu tư sang nước khác ->Chuyển giao công nghệ
Như vậy, nhờ có đầu tư nước ngoài mà các nước đang phát triển hay cácnước tiếp nhận đầu tư sẽ được chuyển giao công nghệ mới so với công nghệtrong nước Rõ ràng, khoa học công nghệ có vai trò to lớn trong việc tạo ra sựtăng trưởng kinh tế Và nhờ có đầu tư, khoa học công nghệ được phát triển mạnhđặc biệt là ở các nước đang phát triển Đây là một vai trò lớn của đầu tư trong sựphát triển kinh tế
PHẦN II THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
I TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
Đầu tư toàn xã hội năm 2004 tiếp tục xu thế tăng nhanh
1 Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Đầu tư của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăngtrưởng trở lại sau nhiều năm tăng chậm Năm 2004 được xem là năm khởi sắccủa thu hút vốn đầu tư nước ngoài Những kết quả đạt được rất đáng khích lệ vàtạo ra những kỷ lục mà Việt Nam chưa từng đạt được trong vòng 7 năm qua
Trang 17Tính chung cả năm đã thu hút hơn 4,1 tỷ USD, trong đó: 2,3 tỷ USD vốnđăng ký mới và 1,8 tỷ USD vốn đăng ký bổ sung, đạt mức cao nhất trong 7 nămtrở lại đây So với năm 2003, mức tăng trưởng về vốn mơi năm nay đạt 35%.Các dự án tập trung vào ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 60,5% số vốnđăng ký; các tỉnh, thành phố phía Nam chiếm 64,6%; các tỉnh, thành phố phíaBắc chiếm 35,4% số vốn đăng ký Đáng chú ý là bên cạnh nguồn vốn đầu tư củacác dự án mới, năm 2004 còn thu hút thêm vốn đầu tư bổ sung của các dự án cũ,đạt mức cao nhất trong những năm qua Đó là dấu hiệu tốt lành chứng minh môitrường đầu tư ở Việt Nam đã được cải thiện đáng kể và hiệu quả của các dự ánđầu tư đang được nâng lên Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt kỷlục mới 2,9 triệu lượt người Lượng kiều hối tăng nhanh đạt hơn 3 tỷ USD, tăng
200 triệu USD, số tiền này chủ yếu được gửi về nước đầu tư Nguồn vốn hỗ trợphát triển chính thức (ODA) cũng đạt kỷ lục 3,44 tỷ USD Tổng số ngoại tệ trịgiá hơn 36 tỷ USD này là nỗ lực của Việt Nam trong điều hành sản xuất, minhbạch hoá chính sách, cải thiện môi trường đầu tư, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo
an ninh xã hội, đồng thời thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ của thế giới
Sau hơn 10 năm thực hiện chính sách mở cửa, nguồn vốn FDI đã gópphần bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, tăng cường tiềm lực để khaithác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước như dầu khí, điện Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ trong 10 tháng đầu năm 2004 cả nước đã có
579 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp phép, với số vốn đăng ký
là trên 1,7 tỷ USD Cùng với 388 dự án bổ sung vốn gần 1,5 tỷ USD, FDI vàoViệt Nam đã đạt 3,2 tỷ USD, bằng 95% kế hoạch năm Cho đến nay, Việt Nam
đã thu hút được hơn 65 quốc gia và vùng lãnh thổ đưa vốn vào đầu tư Trong đóSingapore đứng đầu, chiếm trên 6,6% về số dự án và 19% tổng vốn đầu tưđăng ký Tiếp theo là Đài Loan, Nhật bản, Hàn quốc và Hồng Kông
Hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài(không kể ngành dầu khí) trong năm 2004 tiếp tục phát triển khá So với năm
2003, doanh thu của các doanh nghiệp thuộc khu vực này tăng 20%; kim ngạchxuất khẩu tăng 35,6%; nộp ngân sách đạt khoảng 800 triệu USD, tăng 27,4%
Trang 18Đến cuối năm 2004, khu vực này đang tạo ra việc làm cho khoảng 739 nghìn laođộng, tăng 7,7% so với cuối năm 2003.
Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn tập trung vào các ngành côngnghiệp, dịch vụ và xây dựng Các dự án FDI chủ yếu đổ vào các tỉnh thành phíaNam như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai Ở các tỉnh thànhphía Bắc, phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài chỉ đầu tư vào các trung tâm côngnghiệp và các tỉnh lân cận Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh
2 Đầu tư trong nước
Cùng với sự phát triển kinh tế ổn định qua các năm, tỷ lệ tăng trưởngGDP liên tục thì nhu cầu về vốn đầu tư phát triển cũng tăng theo
Tốc độ gia tăng quy mô vốn đầu tư phát triển là đáng kể: giai đoạn
1991-1995 đạt 29,1%/năm, từ 1996-2003 trung bình đạt trên 22%/năm Năm 2000quy mô vốn đầu tư là 92 nghìn tỷ VNĐ, năm 2003 là 217 nghìn tỷ VNĐ và đếnnăm 2004 tổng vốn ước đạt 258,7 nghìn tỷ đồng, bằng 104% kế hoạch năm vàtăng gần 19% so với thực hiện năm 2003 Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển so vớiGDP cũng có xu hướng gia tăng mạnh mẽ: năm 1991 là 17,6%, 1997: 30,9%,2002: 34,6%, 2003: 35% và đến năm 2004 đạt 36,3%GDP Đây là tỷ lệ đầu tưcao nhất từ trước tới nay
Năm 2004, nguồn vốn đầu tư ngoài quốc doanh tăng cao nhất, lên đến19,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Nhu cầu đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhànước rất lớn khoảng 100 nghìn tỷ đồng, trong khi đó nguồn vốn đầu tư phát triểnthuộc ngân sách Nhà nước năm 2004 khoảng 53,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 21,4%tổng nguồn vốn đầu tư xã hội và tăng 13,2% so với ước thực hiện năm 2003
Nguồn vốn tín dụng đạt trên 30 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,2% tổng nguồnvốn, tăng khoảng 5,3% so với ước thực hiện năm 2003 Trong đó vốn tín dụng nhànước khoảng 25 nghìn tỷ đồng
Nguồn vốn từ khu vực doanh nghiệp nhà nước (không bao gồm vốn vaytín dụng nhà nước) ước thực hiện trên 47 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,5% tổngnguồn vốn bằng 103% kế hoạch năm và tăng trên 22% so với thực hiện năm
Trang 19hao cơ bản khoảng 13 nghìn tỷ đồng, nguồn vay thương mại trong nước khoảng
19 nghìn tỷ đồng, nguồn từ lợi nhuận sau thuế khoảng 4 nghìn tỷ đồng và cácnguồn khác 10 nghìn tỷ đồng
Nguồn đầu tư của khu vực dân cư khoảng 69,5 nghìn tỷ đồng, vượt kếhoạch năm, chiếm khoảng 26,9% tổng nguồn vốn, tăng 21%, trong đó vaythương mại dài hạn khoảng 25,5 nghìn tỷ đồng Ngoài ra, trong năm 2004 đãthực hiện khoảng 7,8 nghìn tỷ đồng từ các nguồn vốn khác như công trái giáodục, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công trình và các hình thức trái phiếu khác,bằng 64% kế hoạch năm
Nguồn vốn ngân sách nhà nước và tín dụng nhà nước được tập trung đầu
tư cho các dự án, công trình trọng điểm, các chương trình mục tiêu quốc gia đểbảo đảm tiến độ thi công và đã đưa vào sử dụng, phát huy tác dụng ngay trongnăm Ngoài ra, vốn ngân sách nhà nước cũng đã được tập trung vào hỗ trợ cáctỉnh có khó khăn, nhất là các tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao Nguồn vốn ngân sách
đã có tác động tới nền kinh tế, cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội,tiếp tục thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy tác dụng lôi cuốn cácthành phần kinh tế khác tăng nhanh đầu tư Khả năng tiếp cận các dịch vụ cơbản như điện, nước sạch, y tế và giáo dục đã được cải thiện rõ rệt, nhất là ở nôngthôn, vùng sâu, vùng xa
II TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Sau gần 18 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thànhtựu rất quan trọng Trong giai đoạn 1989-2003, GDP của Việt Nam tăng gần2,67 lần, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm là 7,28% Năm
2004, tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 361,4 tỷ đồng (giá 1994), tốc độtăng trưởng đạt gần 7,7%, cao hơn năm 2003 và cao hơn số báo cáo trước Quốchội Nước ta vẫn đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao trongkhu vực và trên thế giới Tuy chưa bằng năm 1997, nhưng nếu năm 1997 tốc độ
Trang 20tăng đang trên đà sút giảm, thì nay đang trên đà cao lên, đặc biệt quý IV tăng8,5%, là tín hiệu đạt mục tiêu đề ra cho năm 2005.
Giá trị gia tăng của khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,3% Côngnghiệp- xây dựng vẫn luôn là khu vực có đóng góp lớn nhất vào nhịp độ tăngtrưởng chung, chiếm tới 53,3% nhịp độ tăng trưởng GDP Khu vực dịch vụ tăng7,3%, đây là khu vực có mức đóng góp cao thứ hai vào nhịp độ tăng trưởngGDP Trái ngược với hai khu vực công nghiệp- xây dựng và dịch vụ, tốc độ tăngtrưởng của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng thấp nhất, chỉ đạt 3,3%
Xu hướng tăng trưởng khá ổn định: quý sau cao hơn quý trước; quý I tăng 7%;sáu tháng tăng 7%; chín tháng tăng 7,4% và cả năm tăng gần 7,7% Đó là tốc độtăng trưởng cao nhất trong vòng bẩy năm qua (năm 1998 tăng 5,76%; năm 1999tăng 4,77%; năm 2000 tăng 6,79%; năm 2001 tăng 6,89%; năm 2002 tăng7,08% và năm 2003 tăng 7,26%)
Bối cảnh thế giới thời gian qua có nhiều điểm đặc biệt Kinh tế thế giớisau một thời gian suy thoái đã tăng trưởng trở lại, khiến nhu cầu tăng, chi phíđầu tư lẫn tiêu dùng tăng, trong khi đó nguồn cung tăng không kịp nên giá đầuvào của hầu hết các mặt hàng cũng tăng theo Năm 2004 thời tiết toàn cầu cũng
có những diễn biến bất thường, các loại dịch bệnh phát sinh, đặc biệt là dịchcúm gà xảy ra đầu năm, thảm hoạ sóng thần Tình hình chính trị an ninh ởnhiều khu vực và quốc gia không ổn định, giá năng lượng biến động mạnh, giádầu lửa dao động ở mức cao Hơn nữa sự lan rộng của chủ nghĩa khủng bố, xungđột vũ trang Những yếu tố này đã ảnh hưởng trực tiếp tới kinh tế, giá cả diễnbiến phức tạp Trong điều kiện đó, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng ở mứctương đối cao là thành tựu đáng ghi nhận
Do nền kinh tế tăng trưởng khá, cho nên thu ngân sách cả năm đạt 166,9nghìn tỷ đồng, vượt dự toán 11,8%, bằng 23,5% GDP và tăng 17% so với năm
2003 Có 33 trong 64 địa phương đạt số thu thuế hơn 500 tỷ đồng Chi ngânsách Nhà nước cả năm 2004 ước đạt 206,05 nghìn tỷ đồng, vượt dự toán 9,8%
và tăng 16,7% so với năm 2003 Bội chi ngân sách bằng 4,9% GDP, thấp hơn
Trang 21mức Quốc hội cho phép Vốn đầu tư toàn xã hội đạt 35,4% GDP Giá hàng tiêudùng tăng khoảng 9,5%
Vượt qua khó khăn về thiên tai và bệnh cúm gia cầm, nông nghiệp vẫnđược mùa, thuỷ sản tăng trưởng khá Sản lượng lương thực có hạt đạt 39,1 triệutấn, mức cao nhất từ trước đến nay tăng 4,2% so với năm 2003 Sản xuất lúachuyển mạnh theo hướng: giảm dần diện tích, tăng năng suất và chất lượng lúagạo để phù hợp yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu gạo
Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 đạt 354 nghìn tỷ đồng (giá1994), tăng 16% so với năm 2003, trong đó khu vực Nhà nước tăng 11,4%; khuvực ngoài quốc doanh tăng 22,8% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) tăng 15,7% Điểm nổi bật là chất lượng nhiều sản phẩm công nghiệp đãdần được nâng cao và hiệu quả hơn theo hướng có lợi cho tiến trình phát triển.Nguyên nhân chính là do nhu cầu sản phẩm công nghiệp của thị trường trongnước và xuất khẩu tăng; sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm công nghiệp nhưthuỷ sản chế biến, sản phẩm gỗ chế biến, dệt may, giày dép, có nhiều tiến bộ
Hoạt động xuất nhập khẩu có nhiều tiếm bộ, từng bước thích nghi với quátrình hội nhập Năm 2004, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt về thị trường vàgiá cả nhưng hoạt động xuất khẩu tiếp tục được duy trì tốc độ tăng trưởng cao.Kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 26 tỷ USD, tăng 30% so với năm 2003,vượt mức kế hoạch đề ra và là năm đầu tiên kim ngạch xuất khẩu đạt được bìnhquân 2,16 tỷ USD/tháng, có tháng đạt trên 2,3% tỷ USD bằng kim ngạch xuấtkhẩu của cả năm 1991 Nguyên nhân xuất khẩu tăng khá là: Về khách quan: giácác mặt hàng dầu thô, gạo, cao su, hạt điều tăng cao Về chủ quan: sản xuấttrong nước tăng trưởng khá, chất lượng sản phẩm xuất khẩu có tiến bộ, chínhsách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước phát huy tác dụng
Kim ngạch nhập khẩu năm 2004 ước đạt 30 tỷ USD, tăng 23,2% so vớinăm 2003 Nhập siêu ước đạt 4,7 tỷ USD, bằng 18,8% kim ngạch xuất khẩu
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế (cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần, cơ cấuvùng) đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, từng bước gắn với thị trườngtrong nước và quốc tế Tỷ trọng ngành nông, lâm, ngư nghiệp đã giảm từ 21,8%
Trang 22năm 2003 xuống còn 20,4% năm 2004, trong nội bộ ngành cơ cấu kinh tế đã có
sự chuyển dịch đáng kể theo hướng tích cực: tỷ trọng của ngành nông nghiệpgiảm từ 76,6% năm 2003 xuống còn 75,5% năm 2004; tỷ trọng của ngành thuỷsản tăng lên từ 16,4% năm 2003 lên 19,5% năm 2004 Trong khi đó, tỷ trọngngành công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng, dự kiến đạt 41,1%, tăng1,1% so với năm 2003 Đặc biệt tỷ trọng ngành dịch vụ sau 3 năm liên tục giảmthì năm 2004 đã có xu hướng phục hồi, đạt trên 38,5% (năm 2003 là 38,2%) Cơcấu các ngành dịch vụ bắt đầu có sự thay đổi theo hướng gia tăng tỷ trọng cácngành dịch vụ có chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
Trong qua trình hội nhập và phát triển hiện nay, các thành phần kinh tếtích cực đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế, đặc biệt là khu vực tưnhân đã có mức tăng trưởng rất cao Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vàotăng trưởng GDP tăng từ 36,6% năm 2000 lên khoảng 42% năm 2004 Theođánh giá của tờ "Tiếng Vang" của Pháp thì lĩnh vực kinh tế tư nhân của ViệtNam đang có bước phát triển ngoạn mục thể hiện qua nhịp sống sôi động củacác thành phố lớn Theo tờ báo, hiện nay Việt Nam có khoảng hơn 120.000doanh nghiệp tư nhân, trong đó có 2.500 doanh nghiệp nước ngoài, chủ yếu pháttriển trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ đã giúp tạo việc làm, phân phối thunhập và khuyến khích tiêu thụ
III NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI TRONG ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1 Hạn chế của đầu tư
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, trong hoạt động đầu tư tạiViệt Nam trong những năm qua vẫn còn những mặt hạn chế cần khắc phục
- Tuy gia tăng về số lượng, nhưng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn thấp.Hiệu quả đầu tư (được tính bằng cách lấy tỷ lệ vốn đầu tư phát triển so với GDPchia cho tốc độ tăng trưởng GDP) giảm, khi hệ số ICOR tăng, năm 1995 mới có3,3; năm 2000 lên 4,0; năm 2003 đã là 5 (tức là để tăng 1% GDP thì năm 2003
Trang 23do đầu tư vào các dự án cần nhiều vốn nhưng sử dụng ít lao động, đầu tư vào
"vỏ" nhiều hơn vào "ruột", đầu tư phân tán, dàn trải do bị co kéo, điều chỉnhnhiều (đây thực chất là hậu quả của tệ nạn "xin- cho") Ngoài ra, việc giải phóngmặt bằng thường bị kéo dài, tốn kém, nay lại do giá đất tăng làm cho lượng vốnđầu tư tăng lên, tiến độ thi công chậm, công trình dở dang nhiều Vốn đã ít lại bị
"chôn chân", trong khi lãi suất tiếp tục chồng lên vốn vay Thêm nữa là tìnhtrạng lãng phí, thất thoát vốn trong đầu tư khá lớn nhất là nguồn ngân sách nhànước và ngay cả nguồn vốn ODA dù được ưu đãi cũng phải trả cả vốn và lãi.Không phải chờ đến đời con cháu, mà từ năm 2003, đã phải trả những món nợhết thời kỳ ân hạn, một phần vay mới phải dành để trả nợ cũ Riêng năm nay,lượng vốn phải dùng để trả nợ khối lượng thi công từ các năm trước là 11 nghìn
tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương phải chi 6 nghìn tỷ đồng, còn lại ngânsách nhà nước cũng phải trả Thêm vào đó là giá vật liệu xây dựng cao, trongkhi khối lượng thi công không tăng tương ứng
Bên cạnh đó, tình trạng nợ đọng vốn đầu tư lớn và kéo dài nhiều năm,triển khai kế hoạch vốn đầu tư của các Bộ, ngành, địa phương thường chậm,cùng với xu hướng ngày càng tăng các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư vẫn được bốtrí kế hoạch cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả đât tư
- Về huy động nguồn vốn trong nước, theo tính toán sơ bộ, mặc dù nguồnvốn tích luỹ trong dân hàng năm lên đến 70- 80 nghìn tỷ đồng, nhưng mới chỉhuy động được 36% đầu tư phát triển kinh tế, chủ yều là đầu tư gián tiếp (quagửi tiết kiêm), khoản đầu tư trực tiếp rất nhỏ, chủ yếu là các dự án ngắn hạn
- Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài còn có một số bất hợp lý Trong lĩnh vựcnông, lâm, ngư nghiệp mặc dù đã có những chính sách ưu đãi nhất định, nhưngĐTNN còn quá thấp và tỷ trọng vốn ĐTNN đăng ký liên tục giảm ĐTNN tậptrung chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi, trong khi đó có tácđộng rất hạn chế đến khu vực miền núi phía Bắc, một số tỉnh miền Trung, TâyNguyên và đồng bằng sông Cửu Long
- Ngoài ra, cơ chế chính sách trong quản lý đầu tư chưa đồng bộ, năng lựccủa các cá nhân tham gia các khâu trong quá trình đầu tư chưa thực sự đáp ứng
Trang 24yêu cầu đặt ra- trong đó có một số bộ phận cán bộ cố ý làm trái gây thất thoát,tiêu cực- việc thực hiện giám sát, quản lý chất lượng công trình cũng như xử lýcác sai phạm còn hạn chế, nương nhẹ cũng làm "đậm" thêm sự lãng phí, thấtthoát, tiêu cực trong lĩnh vực đầu tư.
- Tỷ lệ dự án đổ bể, phải giải thể trước thời hạn khá cao, một số dự án quy
mô lớn thì chậm triển khai Nhiều công trình muốn khấu hao nhanh để thu hồivốn và trả lãi, nhưng lại phải đứng trước áp lực lớn của cạnh tranh nên phảigiảm khấu hao để khỏi đội giá thành, giá bán Nguồn trái phiếu chính phủ cũngphải trả lãi tính từ ngày vay nhưng giải ngân chậm
2 Hạn chế trong tăng trưởng phát triển kinh tế
Bên cạnh những thành tựu to lớn và cơ bản đã đạt được, tình hình tăngtrưởng và phát triển kinh tế xã hội nước ta năm 2004 vẫn còn tồn tại nhiều bấtcập đòi hỏi phải có những giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ, tích cực hơn
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung còn ở mức thấp so với kế hoạch Chấtlượng tăng trưởng, tính bền vững và độ đồng đều chưa cao Điều này được thểhiện trong các ngành sản xuất và dịch vụ Trong công nghiệp, giá trị sản xuấttăng 16% nhưng giá trị tăng thêm chỉ tăng 0,7% Tốc độ tăng trưởng của một sốsản phẩm công nghiệp khai thác còn phụ thuộc vào thị trường thế giới Giá hànghoá, dịch vụ trong nước tăng cao Mục tiêu giảm tỷ lệ sinh 0,04% không đạt kếhoạch đề ra Tỷ lệ sinh con thứ ba tăng so với các năm trước đang tiềm ẩn khảnăng bùng nổ dân số
- Tăng trưởng kinh tế hiện nay do yếu tố vốn đầu tư đóng góp chiếm57,5%; do yếu tố lao động đóng góp chiếm 20%; do yếu tố năng suất các nhân
tố tổng hợp chiếm 22,5% Điều đó chứng tỏ tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu về
số lượng, phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển biến về chất lượng và pháttriển theo chiều sâu Nếu những năm trước 1993, để GDP tăng 1 đồng chỉ cầnđầu tư dưới 3,3 đồng, thì đến nay đã phải đầu tư trên dưới 5 đồng- có nghĩa làhiệu quả đầu tư giảm tới 34% Ngay cả việc phát triển theo chiều rộng thì cũngnghiêng về yếu tố vốn đầu tư, là yếu tố mà nước ta còn thiếu, phải đi vay, vừa
Trang 25lực nội sinh, hiện đang có nhiều lợi thế so sánh, như giá rẻ,dồi dào thì lại chỉđóng vai trò rất nhỏ Đây là một vấn đề rất đáng quan tâm để tận dụng lợi thế sosánh động trong phát triển kinh tế và chủ động hội nhập.
- Cơ cấu kinh tế hiện nay chẵng những dẫn đến nhập siêu gia tăng và kinh
tế tăng trưởng chậm như đã nói trên, mà còn là một nguyên nhân hết sức quantrọng dẫn đến tình trạng "giậm chân tại chỗ" của thị trường trong nước
- Mặt khác, với xu thế phát triển công nghiệp, cũng như dịch vụ ngàycàng tập trung nhanh hơn vào một số trung tâm như hiện nay, dân cư khu vựcnông thôn hầu như vẫn phải "đứng ngoài rìa làn sóng công nghiệp hoá" Cónghĩa là, sự phát triển của hai khu vực xương sống của nền kinh tế là côngnghiệp và dịch vụ đang ngày cang mang lại lợi ích cho dân cư khu vực đô thị,còn thu nhập chủ yếu của dân cư khu vực nông thôn chiếm xấp xỉ 3/4 dân sốcủa cả nước vẫn là từ khu vực nông nghiệp Thực tế này chẳng những dẫn đếnkhoảng cách giàu nghèo giữa hai khu vực đô thị và nông thôn ngày càng tăngnhang, mà hệ quả tất yếu trước mắt là sức mua của thị trường trong nước khôngthể tăng nhanh như mong muốn
- Tốc độ tăng trưởng khá của nhiều loại sản phẩm, nhiều ngành kinh tếtrong cả nước thời gian qua có một phần quan trọng là do đang được bảo hộ Từnay, hàng sản xuất trong nước đang đứng trước sự cạnh tranh ngày một gay gắthơn với hàng ngoại nhập
- Chất lượng tăng trưởng còn thấp thể hiện cả trong bản thân quá trìnhtăng trưởng Tốc độ tăng trưởng của giá trị tăng thêm thấp hơn tốc độ tăngtrưởng của giá trị sản xuất do tốc độ tăng chi phí trung gian cao, làm tỷ lệ củachi phí trung gian tăng lên Điều này diễn ra trong một thời gian khá dài ở cả bakhu vực
- Cơ cấu lao động chậm chuyển dịch theo hướng tiến bộ Tỷ trọng laođộng trong khu vực nông- lâm- ngư nghiệp vẫn là lớn nhất trên 64%, trong đókhu vực công nghiệp- xây dựng mới chiếm 12,9% Tuy nhiên, năng suất laođộng (tính bằng giá trị tăng thêm chia cho số lao động đang làm việc) ở khu vựcnông- lâm- ngư nghiệp chưa được 4,5 triệu đồng/năm, trong khi đó của hai khu