1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh nghiệm xử lý nợ xấu ngân hàng của một số nước đông á và bài học cho việt nam

189 347 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài “Kinh nghiệm xử lý nợ xấu ngân hàng của một số nước Đông Á và bài học cho Việt Nam”, tôi đã nhận được rất nhiều sự gi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THANH HUYỀN

KINH NGHIỆM XỬ LÝ NỢ XẤU NGÂN HÀNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 9.31.01.06

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Hoàng Nga

TS Tô Thị Ánh Dương

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Tất cả số liệu và những trích dẫn trong luận án đều có nguồn gốc chính xác và rõ ràng Những phân tích của luận án chưa từng được công bố ở một công trình nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận án

Lê Thanh Huyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài “Kinh nghiệm xử lý

nợ xấu ngân hàng của một số nước Đông Á và bài học cho Việt Nam”, tôi đã nhận

được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo, các nhà khoa học, cán

bộ, chuyên viên Học viện Khoa học Xã hội, Khoa Quốc tế học.Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.Lê Hoàng Nga và TS.Tô Thị Ánh Dương, những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tâm huyết

và rất trách nhiệm trong suốt quá trình tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè đồng nghiệp ở những nơi tôi công tác đã quan tâm, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận án tiến sĩ

Cuối cùng tôi cũng xin cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn cổ vũ và động viên tôi những lúc khó khăn để có thể vượt qua và hoàn thành tốt luận án này

Trân trọng cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 9

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 9

1.1.1 Nghiên cứu về nợ xấu và xử lý nợ xấu ngân hàng 9

1.1.2 Nghiên cứu về kinh nghiệm xử lý nợ xấu ngân hàng ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước Đông Á 11

1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 16

1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu trong nước về nợ xấu và xử lý nợ xấu ngân hàng ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước Đông Á 16

1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về nợ xấu và xử lý nợ xấu ngân hàng ở Việt Nam 18

1.3 Những điểm đã thống nhất, khoảng trống và hướng nghiên cứu của luận án 22 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 23

2.1 Nợ xấu ngân hàng thương mại 23

2.1.1 Khái niệm, phân loại 23

2.1.2 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu 29

2.2 Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 33

2.2.1 Sự cần thiết phải xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 33

2.2.2 Nguyên tắc và biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 35

Chương 3: KINH NGHIỆM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á 38

3.1 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Nhật Bản 38

3.1.1 Khái quát về hệ thống ngân hàng Nhật Bản 38

3.1.2 Thực trạng và nguyên nhân nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2005 41

3.1.3 Các biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Nhật Bản giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2005 50

3.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Hàn Quốc 60

Trang 5

3.2.1 Khái quát về hệ thống ngân hàng Hàn Quốc 60 3.2.2 Thực trạng và nguyên nhân nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Hàn Quốc 62 3.2.3 Các biện pháp và kết quả xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Hàn Quốc 65

3.3 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Trung Quốc 71

3.3.1 Khái quát về hệ thống ngân hàng Trung Quốc 71 3.3.2 Thực trạng và nguyên nhân nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Trung Quốc 75 3.3.3 Các biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Trung Quốc 80

3.4 So sánh kinh nghiệm xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại của ba nước Đông Á 87 Chương 4: BÀI HỌC VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CHO VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP VẬN DỤNG 96 4.1 Thực trạng xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam thời gian qua 96

4.1.1 Khái quát chung về tình hình nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 96 4.1.2 Các phương thức xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam 102 4.1.3 Kết quả xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại và những vấn đề đặt ra 109 4.1.4 Nguyên nhân nợ xấu trong các ngân hàng thương mại Việt Nam 114

4.2 Những bài học rút ra cho Việt Nam trong xử lý nợ xấu của ngân hàng

thương mại 121 4.3 Quan điểm, định hướng và giải pháp trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam thời gian tới 131

4.3.1 Quan điểm, định hướng 131 4.3.2 Đề xuất giải pháp xử lý nợ xấu dựa trên bài học kinh nghiệm của các nước Đông Á 133

KẾT LUẬN 147 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA NGHIÊN CỨU SINH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 148 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 149 PHỤ LỤC 164

Trang 6

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Chữ

viết tắt

AMC Công ty quản lý tài sản của ngân hàng

thương mại

Asset Management Company

BASEL Bộ quy định ngân hàng (Basel I,II,II) do Ủy

ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS)

ban hành (gọi tắt là chuẩn mực Basel)

The Basel Accords

BĐS Bất động sản

BOJ Ngân hàng Trung ương Nhật Bản Central Bank of Japan

CBRC Ủy ban Giám sát ngân hàng Trung Quốc China Banking Regulatory

Commission CCB Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc ChinaConstruction Bank

CIC Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt

Nam

Credit Information Center CRC Công ty tái cơ cấu doanh nghiệp Hàn Quốc Corporate restructuring company DATC Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam Vietnam Debt and Asset Trading

Corporation

DIC Công ty bảo hiểm tiền gửi của Nhật Bản Deposit Insurance Corporation DNNN Doanh nghiệp nhà nước

DPRR Dự phòng rủi ro

EAD Dư nợ tại thời điểm không trả được nợ Exposure At Default

EDF Xác suất vỡ nợ kỳ vọng của khoản

vay/khách hàng

Expected Default Frequency

FIRB Phương pháp tiếp cận nội bộ cơ bản theo

HTNH Hệ thống ngân hàng

HTTC Hệ thống tài chính

ICBC Ngân hàng Công thương Trung Quốc Industrial and Commercial Bank

of China

KAMCO Công ty Quản lý tài sản Hàn Quốc Korea Asset Management

Trang 7

Company KDIC Công ty bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc Korea Deposit Insurance

Corporation LGD Tổn thất của ngân hàng khi người vay

không trả được nợ

Loss Given Default LTCB Ngân hàng Tín dụng dài hạn của Nhật Bản Japan Long Term Credit Bank

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước

NHTW Ngân hàng Trung ương

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Organization for Economic

Co-operation and Development PBC

(PBOC)

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc People's Bank of China

RTC Công ty quản lý tài sản của Hoa Kỳ The Resolution Trust Company in

the United States

SA Phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn theo Basel II Standardized Approach

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 So sánh định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và thế giới 27

Bảng 3.2 Tỷ lệ tổn thất trên vốn của các ngân hàng phá sản của Nhật 44

Bảng 3.3 Tỷ lệ NPLs trong các NHTM Nhật Bản (FY1995-FY2003) 53

Bảng 3.7 So sánh các biện pháp xử lý nợ xấu ngân hàng tại một số quốc gia ĐA 92

Bảng 4.2 Kết quả kinh doanh của DATC giai đoạn 2011 – 2015 120

Bảng 4.3 Kết quả mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt của VAMC 121

Bảng 4.4 Kết quả nợ xấu đã được mua trên tài sản đảm bảo 122

Bảng 4.5 Kết quả phân loại nợ đã mua theo các biện pháp xử lý nợ 123

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Lãi và lỗ của các NHTM Nhật Bản giai đoạn 1992-1999 45 Hình 3.2 Thị phần sở hữu tài sản của các ngân hàng Trung Quốc 72

Hình 3.3 Tình hình tăng trưởng tín dụng nóng tại Trung Quốc, giai đoạn

1998-2010

74

Hình 4.1 Tổng nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ)

và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) của 10 ngân hàng tính

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu khởi sắc trong những năm trở lại đây, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng vẫn dưới mức kỳ vọng của các nhà đầu tư, các nhà kinh tế và mục tiêu phát triển của chính Phủ, một trong những tác nhân chính là vấn

đề nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM).Nợ xấu ngân hàng đang được coi là “nút thắt cổ chai”, kìm hãm tăng trưởng và phục hồi kinh tế tại không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia đang trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh

tế chưa bền vững

Việt Nam đang trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nói chung và đang tiến hành tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nói riêng trong điều kiện hệ thống ngân hàng yếu kém và gặp nhiều khó khăn về ngân sách; trong khi đang hội nhập, tự do hóa tài chính ngày càng sâu rộng.Những khó khăn trong tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và

xử lý nợ xấu thiếu bền vững đòi hỏi Việt Nam phải tham khảo kinh nghiệm các nước đi trước trong xử lý nợ xấu để điều chỉnh các cơ chế, chính sách xử lý nợ xấu của mình Trong các nước trên thế giới, một số nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc có những thành công và thất bại trong xử lý nợ xấu mà Việt Nam có thể tham khảo do các nước này có nhiều điểm tương đồng về cấu trúc hệ thống tài chính và các nguyên nhân gây nợ Nhật Bản với các đặc điểm nổi bật của

hệ thống ngân hàng như: Ngân hàng là cơ sở của toàn bộ hệ thống tài chính, các ngân hàng hay thị trường vốn gián tiếp là nguồn cung cấp vốn chủ yếu cho các công

ty và cho sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản; hệ thống ngân hàng mang tính khép kín và hướng nội; sự can thiệp mang tính bảo hộ của chính phủ đối với hệ thống ngân hàngcộng với việc coi trọng những ràng buộc nhóm và các quan hệ giữa doanh nghiệp với ngân hàng, quan hệ gia đình, quan hệ “cánh hẩu”… trong nền kinh tế Nhật Bản đã khiến cho các quyết định cho vay của các ngân hàng không phải lúc nào cũng được dựa trên cơ sở đánh giá rủi ro một cách cẩn trọng Đối với Hàn Quốc, hệ lụy nhất định từ các chaebol, cụ thể là sự tài trợ quá mức của ngân hàng dành cho các tập đoàn khổng lồ; đồng thời với tình trạng lấy ngắn hạn cho vay dài hạn… đã đẩy hệ thống ngân hàng Hàn Quốc phải đối đầu với khó khăn về nợ

Trang 11

xấu Đối với Trung Quốc, tín dụng ngân hàng cũng là kênh cấp vốn chính cho nền kinh tế; tốc độ tăng trưởng tín dụng “nóng”, cùng với việc các NHTM Trung Quốc sẵn sàng cấp vốn cho “cuộc chạy đua phát triển cơ sở hạ tầng” của chính quyền các địa phương Và đặc biệt là những ảnh hưởng từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, theo đó, hoạt động của các NHTM nhà nước lớn chỉ như những cơ quan hành chính nhà nước, có nhiệm vụ cho vay theo chỉ định cho các công ty và dự án nhà nước vốn làm ăn kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ… đã gây ra tình trạng khủng hoảng

nợ xấu ở Trung Quốc Những đặc điểm trong hệ thống ngân hàngở các quốc gia Đông Á nêu trên có những nét tương đồng với Việt Nam, do đó nghiên cứu kinh nghiệm xử lý nợ xấu ở các nước này để rút ra bài học có tính khả thi khi áp dụng đối với Việt Nam

Ở Việt Nam trong thời gian qua, nợ xấu ngân hàng luôn là vấn đề được Đảng, Chính phủ và cả hệ thống tài chính (HTTC) quan tâm với mục tiêu “phá tan cục máu đông” đang đe dọa gây “tắc nghẽn”, dẫn đến những bất ổn trong HTTC ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung Tuy nhiên, việc xử lý nợ xấu ngân hàng và ngăn ngừa nợ xấu tiếp tục tăng cao ở nước ta thời gian qua còn chưa hiệu quả, còn rất nhiều vấn đề đặt ra như: Khung pháp lý cho xử lý nợ xấu; phát triển thị trường mua bán nợ; vai trò, hiệu quả của các công ty xử lý nợ xấu, nguồn

lực xử lý nợ xấu… Đó chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “Kinh nghiệm xử lý

nợ xấu ngân hàng ở một số nước Đông Á và bài học cho Việt Nam” Đây sẽ là

một nghiên cứu toàn diện về kinh nghiệm xử lý nợ xấu ngân hàng tại một số quốc gia điển hình trong khu vực, từ đó đưa ra định hướng giải pháp cho Việt Nam trong thời gian tới

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về xử lý

nợ xấu ngân hàng, luận án nghiên cứu một cách có hệ thống thực trạng, nguyên nhân nợ xấu và biện pháp, kết quả xử lý nợ xấu ngân hàng của một số nước Đông

Á, và rút ra một số bài học kinh nghiệm xử lý nợ xấu ngân hàng của các nước Đông

Á cho Việt Nam Đồng thời, trên cơ sở phân tích thực trạng vấn đề nợ xấu và xử lý

Trang 12

nợ xấu ngân hàng của Việt Nam, luận án sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm vận dụng các bài học đó vào việc xử lý nợ xấu ngân hàng Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án tập trung vào thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Hệ thống hóa và xây dựng khung lý thuyết cơ bản về nợ xấu và xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại; nghiên cứu hai mô hình xử lý nợ xấu ngân hàng cơ bản với điển hình một số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm

- Nghiên cứu thực trạng, cách thức xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại cùng những kết quả đạt được trong việc xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại ở 3 nước Đông Á: Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc; từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm xử lý

nợ xấu ngân hàng thương mại tại Việt Nam

- Phân tích thực trạng xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại ở Việt Nam thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất các giải pháp xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới trên cơ sở học tập, vận dụng các bài học kinh nghiệm xử lý nợ

xấu của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án

Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở ba nước Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và thực tiễn xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại ở Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án

3.2.1 Về nội dung: Luận án nghiên kinh nghiệm xử lý nợ xấu của ngân hàng

thương mại ở ba nước Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) dựa trên việc làm rõ thực trạng, nguyên nhân, biện pháp xử lýnợ xấu ngân hàng thương mại của các quốc gia này; so sánh rút ra bài học kinh nghiệm; đồng thời luận án nghiên cứu thực trạng, những biện pháp xử lý nợ xấu NHTM mà Việt Nam đã áp dụng, nguyên nhân nợ xấu và những hạn chế trong xử lý nợ xấu ở Việt Nam; trên cơ sở đó, đề

Trang 13

xuất những giải pháp cho Việt Nam trong quá trình xử lý nợ xấu NHTM, góp phần vào sự phát triển ổn định và bền vững của hệ thống ngân hàng ở nước ta

Luận án nghiên cứu phạm vi nội dung trên dưới giác độ vĩ mô

3.2.2 Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng xử lý nợ xấu ngân

hàng tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam

3.2.3 Về thời gian: Luận án nghiên cứu tình hình nợ xấu và xử lý nợ xấu, kinh

nghiệm xử lý nợ xấu NHTM tại Hàn Quốc giai đoạn từ sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998 đến năm 2005; Trung Quốc từ 1990 đến 2015; Nhật Bản trong những năm đầu thập niên 1990 và Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 trở lại đây

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin trong nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội, lấy định hướng phát triển hệ thống tài chính, ngân hàng nói riêng để làm cơ sở và định hướng nghiên cứu

4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Pháp pháp thu thập thông tin dữ liệu

Luận án nghiên cứu,hệ thống hóa và vận dụng cơ sở lý thuyết và thực tiễn từ sách giáo trình, sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu các cấp, bài báo khoa học Nguồn dữ liệu trên được khai thác từ: Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, website của NHNN, Cục Thống kê, trang Thông tin tín dụng của Cục Công nghệ Thông tin, Bộ ngành liên quan…; Số liệu sơ cấp, thứ cấp từ NHNN, các ngân hàng thương mại Việt Nam; Tài liệu dịch, tài liệu hội thảo khoa học về xử

lý nợ xấu ngân hàng ở một số nước Đông Á; Một số cơ sở dữ liệu khoa học: Ebscohosts; lhtv.vista,vn; Portal.igpublish.com; ProQuest; Science Direct; Bankscope

Nghiên cứu công tác xử lý nợ xấu ngân hàng của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) với bộ dữ liệu thứ cấp trên Báo cáo thường niên, dữ liệu từ Bankscope Ngoài ra, nghiên cứu sinh thu thập số liệu từ Ủy ban

Trang 14

Giám sát tài chính quốc gia, báo cáo tài chính, báo cáo quản trị của một số ngân hàng thương mại Việt Nam để đánh giá thực trạng và công tác xử lý nợ xấu ngân hàng của Việt Nam

- Phương pháp xử lý thông tin dữ liệu

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp trừu tượng khoa học, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh; kết hợp với việc minh họa bằng bảng, hình cho vấn đề nghiên cứu trở nên trực quan hơn

- Phương pháp phân tích thông qua các chỉ tiêu tài chính

Luận án sử dụng phương pháp phân tích các chỉ tiêu tài chính để đánh giá qui mô thực trạng nợ xấu ngân hàng của từng quốc gia nghiên cứu trong các giai đoạn cụ thể; đồng thời so sánh kết quả xử lý nợ xấu của các quốc gia sau khi áp dụng các phương pháp xử lý nợ xấu; từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam

- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia

Nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính - phỏng vấn sâu chuyên gia để kiểm tra và sàng lọc, đưa ra những nhận định, đánh giá có giá trị cao hơn về các nội dung trình bày trong luận án Đánh giá thực trạng và công tác xử lý

nợ xấu ngân hàng ở Việt Nam; bổ sung cho đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu ngân hàng

Đối tượng phỏng vấn: Đối tượng tham gia phỏng vấn là những chuyên gia

kinh tế, những người có kinh nghiệm trong ngành tài chính ngân hàng, bao gồm: Lãnh đạo Viện Kinh tế Việt Nam; giảng viên đang giảng dạy chuyên ngành tài

chính ngân hàng ở Học viện Tài chính Việt Nam (Phụ lục 02)

Phương thức ghi nhận thông tin: Người phỏng vấn chuyển Thư phỏng vấn cho Người được phỏng vấn và tiến hành phỏng vấn (Phụ lục 01) Nội dung cuộc

phỏng vấn ghi âm dưới sự đồng ý của Người được phỏng vấn, đồng thời được ghi chép đầy đủ làm căn cứ để phân tích, đánh giá, phục vụ cho mục đích nghiên cứu

Khai thác và sử dụng thông tin: Dữ liệu thông tin từ cuộc phỏng vấn được

chuyển thể về dạng file word Việc gỡ băng ghi âm được thực hiện hai lần với mỗi băng ghi âm để đảm bảo “sao chép” đầy đủ thông tin từ băng ghi âm sang dữ liệu

Trang 15

chữ Các dữ liệu này được tập hợp thành file trong folder dữ liệu định tính Tiếp theo, dữ liệu được sàng lọc, phân tích, tổng hợp sử dụng trong một số nội dung của luận án

Thời gian phỏng vấn: Từ 60 phút đến 90 phút

Các câu hỏi dạng mở được thực hiện theo chủ đề, tập trung trả lời câu hỏi

“như thế nào?”, “tại sao?” và bám sát những nội dung sau: (Phụ lục 03)

1 Nguyên nhân nào là chủ yếu dẫn đến hiệu quả xử lý nợ xấu ngân hàng ở Việt Nam thời gian qua không cao?

2 Quan điểm về việc không sử dụng ngân sách nhà nước trong xử lý nợ xấu ngân hàng? Nguồn tiền để sử dụng cho xử lý nợ xấu ngân hàng trong thời gian tới như thế nào?

3 Để phát triển thị trường mua bán nợ xấu ở Việt Nam thời gian tới cần những giải pháp gì? Quan điểm về việc bán nợ xấu ngân hàng cho nhà đầu tư nước ngoài như thế nào?

4 Cần phải làm gì để VAMC hoạt động hiệu quả hơn trong thời gian tới?

5 Việc xử lý nợ xấu và tái cơ cấu ngân hàng ở Việt Nam có mối quan hệ với nhau như thế nào? Giải pháp tiếp theo cho vấn đề tái cơ cấu hệ thống ngân hàng là gì?

6 Giải pháp cơ bản nào có thể giúp giải quyết triệt để nợ xấu ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới?

Kết quả nghiên cứu rút ra không chỉ dựa vào việc tổng hợp các ý kiến của người được phỏng vấn theo từng nội dung cụ thể mà còn được tập hợp thành quan điểm chung, sau đó được tổng hợp so sánh với kết quả phân tích định tính qua các

chỉ tiêu tài chính và kết quả xử lý thông tin dữ liệu (Phụ lục 04)

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án có những đóng góp mới về khoa học chủ yếu sau:

Một là: Luận án đã hệ thống các cơ sở lý luận và thực tiễn xử lý nợ xấu

NHTM theo đồng thời các lát cắt về: (1) Tổ chức xử lý nợ; (2) cơ chế, cách thức xử

lý nợ và ngăn ngừa nợ xấu phát sinh; và (3) biện pháp khác trên cơ sở phân tích/soi chiếu các nguyên nhân phát sinh nợ xấu

Trang 16

Hai là: Luận án đã phân tích, đánh giá và so sánh nguyên nhân, thực trạng,

cách thức và kết quả xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc Làm rõ sự khác nhau từ trong nguyên nhân phát sinh nợ xấu giữa các nước; đặc biệt là sự khác nhau trong cấu trúc nền kinh tế, trong đặc điểm hệ thống chính trị, văn hóa, sự tác động của khủng hoảng, bối cảnh quốc tế trong đó có các yếu tố vừa là nguyên nhân đồng thời là điều kiện trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở ba nước Đông Á Dựa trên các tài liệu, số liệu thu thập được và bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học, luận án làm rõ việc các nước Đông Á tác động như thế nào (cách thức, mức độ tác động) đến các yếu tố nguyên nhân, điều kiện đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả xử lý nợ xấu ngân hàng của họ; trên cơ

sở đó rút ra bài học cho Việt Nam

Ba là: Luận án đã phân tích, đánh giá thực tiễn việc xử lý nợ xấu ngân hàng

ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 trở lại đây theo các lát cắt nhất quán đã hệ thống và phân tích về lý luận và thực tiễn xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại Theo đó, luận án chỉ rõ thực trạng nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam; những biện pháp xử lý nợ xấu mà chúng ta đã áp dụng, kết quả của những biện pháp đó; nguyên nhân làm phát sinh nợ xấu và nguyên nhân khiến cho các biện pháp xử

lý nợ xấu đã áp dụng chưa đem đến hiệu quả Trong đó luận án tập trung vào các yếu tố cấu trúc nền kinh tế, đặc điểm chính trị, sự độc lập cần thiết của ngân hàng nhà nước, vừa là nguyên nhân đồng thời là điều kiện trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam Trên cơ sở đó, cùng với việc vận dụng các bài học kinh nghiệm xử lý nợ xấu ngân hàng của các nước Đông Á, đồng thời kết hợp với

sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia, luận án đề xuất những giải pháp xử lý

nợ xấu của ngân hàng thương mại cho Việt Nam trong thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống và làm rõ những cách tiếp cận khác

nhau về nợ xấu ngân hàng thương mại; làm rõ mối quan hệ giữa những nguyên tắc, biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại với các nguyên nhân làm phát sinh nợ xấu Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có giá trị tham khảo về cơ sở lý luận

Trang 17

cho những nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề xử lý nợ xấu NHTM của các nước Đông Á và Việt Nam

- Về mặt thực tiễn, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ

thống tài chính, ngân hàng nói riêng đang phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ do nợ xấu của ngân hàng thương mại ngày càng trầm trọng gây ra; trong khi đó, rất nhiều các biện pháp xử lý nợ xấu đã được áp dụng nhưng hiệu quả không cao Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong việc nhìn nhận về thực trạng nợ xấu của NHTM, xác định nguyên nhân làm phát sinh nợ xấu trong thực tế

và những điều kiện cần thiết để những biện pháp xử lý nợ xấu có thể đem lại hiệu quả ở nước ta Luận án có thể được tham khảo làm cơ sở ứng dụng để các cơ quan chức năng liên quan, các nhà hoạch định chính sách trong quá trình nghiên cứu đề

ra các chính sách hỗ trợ và thúc đẩy quá trình xử lý nợ xấu NHTM ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, lời cam đoan, trang bìa, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng, tài liệu tham khảo, phụ lục và các công trình nghiên cứu đã công bố của tác giả, luận án được kết cấu như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề của luận án Chương 2: Cơ sở lý luận về nợ xấu và xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại Chương 3: Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở một số

nước Đông Á

Chương 4: Bài học về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại cho Việt Nam

và những giải pháp vận dụng

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ

CỦA LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1 Nghiên cứu về nợ xấu và xử lý nợ xấu ngân hàng

Vấn đề nợ xấu và xử lý nợ xấu ngân hàng thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là khi các cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế tác động nghiêm trọng làm tỉ lệ nợ xấu tăng cao, đe dọa đến hệ thống ngân hàng (HTNH) của các quốc gia Những nghiên cứu về nợ xấu và xử lý nợ xấu nói chung chủ yếu tập trung vào phân tích nguyên nhân, những tác động của nợ xấu đến nền kinh tế của các quốc gia và những giải pháp cơ bản cho vấn đề này, như: Tái cơ cấu HTNH; phát triển thị trường mua bán nợ xấu; quản lý nợ xấu ngân hàng…

- Nghiên cứu của Daniela Klingebiel (2000)về việc sử dụng các công ti quản

lý tài sản trong giải quyết các cuộc khủng hoảng nợ xấu ngân hàng – Kinh nghiệm xuyên quốc gia Nghiên cứu đã phân tích những lợi thế và bất lợi của các AMC trong việc quản lý và xử lý tài sản nợ xấu ngân hàng; đồng thời đánh giá hiệu quả của các tổ chức này, thông qua việc phân tích kinh nghiệm sử dụng các công ty quản lý tài sản để xử lý nợ xấu ngân hàng của nhiều quốc gia trên thế giới Nghiên cứu tập trung vào 7 trường hợp: Phần Lan, Ghana, Thụy Điển, Mexico, Philippines, Tây Ban Nha và Mỹ Nghiên cứu cũng phân biệt 2 loại AMC chính: Các AMC được thành lập để giúp đỡ và xúc tiến tái cấu trúc doanh nghiệp và các AMC được thành lập để xử lý tài sản được mua/được chuyển giao cho chính phủ trong cuộc khủng hoảng Nghiên cứu đã chỉ ra, các AMC có thể được sử dụng hiệu quả, nhưng chỉ với mục đích giải quyết các thể chế tài chính vỡ nợ không thể kiểm soát được Còn đối với các khoản cho vay có động cơ chính trị hoặc tài sản gian lận thì các AMC khó có thể giải quyết được Trong phần II của nghiên cứu đã xem xét việc xử

lý tài sản có vấn đề trong các cuộc khủng hoảng ngân hàng bằng các giải pháp chứng khoán hóa và so sánh hiệu quả của việc sử lý nợ xấu ngân hàng bằng các

AMC và bằng biện pháp chứng khoán hóa nợ xấu

Trang 19

- Các nghiên cứu về hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng: Nghiên cứu của World Bank (2006); Glen Bullivant (2010), và rất nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng nguyên nhân phá sản của ngân hàng bắt đầu từ nợ xấu tăng cao, chất lượng tài sản kém Các nghiên cứu khai thác nhiều khía cạnh về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM trên thế giới trước và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, tổng kết nhiều vấn đề mang tính thực tiễn cao Tuy nhiên, các tài liệu nói trên là các nghiên cứu xuất phát từ các nước phát triển (Mỹ, Anh, Úc và Đức) nên ít gắn với thực tiễn Việt Nam

- Công trình nghiên cứu của Borish, Michael S., Millard F Long, and Michel Noel (2012) về mối quan hệ giữa doanh nghiệp và vấn đề tái cơ cấu ngân hàng trong trường hợp của các nền kinh tế chuyển đổi, đã cho thấy, sự sụp đổ của mô hình quản lý theo phương thức kế hoạch hóa tập trung và việc mở cửa của các nền kinh tế XHCN trước đây ở Trung và Đông Âu và Liên Xô cũ có hai ảnh hưởng chính đối với việc tái cấu trúc ngân hàng và doanh nghiệp Trước tiên, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và các doanh nghiệp xã hội phải đối mặt với rất nhiều thử thách: Mất sự bảo hộ, các DNNN đã bị cắt giảm đáng kể sản lượng sau khi tự do hóa kinh tế Thứ hai, nhiều người quay sang các ngân hàng để có được các khoản tín dụng cho phép họ tạm thời thoát khỏi những khó khăn về ngân sách và trì hoãn

cơ cấu lại hoặc thanh lý Điều này dẫn đến tình trạng xấu đi nhanh chóng của danh mục cho vay của các NHTM quốc doanh vốn đã bị gánh nặng bởi danh mục đầu tư rủi ro thừa kế từ các đơn vị tiền tệ cũ Và chính phủ các nước này đang phải áp dụng nhiều biện pháp để đối phó, nhằm đạt mục tiêu vừa tái cơ cấu lại HTNH, giải quyết những khoản nợ xấu khổng lồ, vừa bảo vệ các doanh nghiệp

- Các nghiên cứu của Keeton, William và Morris (1987); Sinkey, Joseph F

và Greenwalt (1991); Aqsa Javed và Muhammad Kashif Khurshid (2016);…đã luận bàn về các nguyên nhân gây ra nợ xấu ngân hàng Các tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên các NHTM bị thua lỗ tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1979 – 1985, đồng thời

sử dụng tỉ lệ nợ xấu làm thước do chính cho việc đo lường RRTD tại các ngân hàng này Các công trình nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, những điều kiện kinh tế riêng biệt địa phương cùng với sự yếu kém trong hoạt động quản lý ngân hàng là nguyên

Trang 20

nhân chính dẫn đến RRTD Nghiên cứu này còn cho thấy, các NHTM sẵn sàng cung cấp những khoản cho vay mạo hiểm thường có rủi ro vỡ nợ cao hơn so với các ngân hàng khác; tính các chỉ số về tự chủ của ngân hàng trung ương (CBA) cho 163 CBA vào cuối năm 2003 và các chỉ số so sánh cho một nhóm 68 CBA vào cuối những năm 1980 Các kết quả khẳng định sự cải thiện mạnh mẽ trong cả CBA kinh

tế và chính trị trong vài thập kỷ qua, mặc dù cần nhiều tiến bộ hơn để tăng cường sự

tự chủ, độc lập về chính trị của các CBA ở các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển Phân tích cũng xác nhận rằng CBA lớn hơn trung bình đã giúp duy trì

luận rằng cả hai yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng đều là tác nhân gây ra sự

đổ vỡ tín dụng Các tác giả tìm thấy một mối quan hệ thuận chiều giữa tỉ lệ nợ xấu với các yếu tố chủ quan của ngân hàng như cho vay với lãi suất cao, hay cho vay nhiều quá mức Hay các điều kiện kinh tế vĩ mô trong khu vực cũng giải thích cho

sự phát sinh các khoản nợ xấu ngân hàng, các nhân tố vĩ mô này bao gồm: Tốc độ

và Greenwalt (1991) sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đơn giản dựa trên dữ liệu của các NHTM lớn tại Hoa Kỳ giai đoạn 1984 - 1987 Keeton (1999) tiếp tục phát triển nghiên cứu trước đó của mình, sử dụng dữ liệu các năm 1982 - 1996 để phân tích tác động của tốc độ tăng trưởng tín dụng, quy trình tín dụng,… với tình trạng quỵt nợ của khách hàng ở Mỹ Nghiên cứu cho thấy có bằng chứng về mối quan hệ chặt chẽ thuận chiều giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng với khả năng suy yếu của các tài sản cho vay Cụ thể, Keeton cho thấy, tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh chóng kết hợp với các tiêu chuẩn tín dụng được hạ thấp đã gây ra thiệt hại nặng nề khi cho vay ở một số bang trên nước Mỹ Trong nghiên cứu này, nợ xấu được định nghĩa là các khoản cho vay quá hạn quá 90 ngày, hoặc các khoản vay không trả lãi

1.1.2 Nghiên cứu về kinh nghiệm xử lý nợ xấu ngân hàng ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước Đông Á

- Công trình nghiên cứu của Matoušek, R and Sergi, Bruno S (2005) hướng

đến hai mục tiêu: Thứ nhất, bài báo nhằm mục đích cung cấp một phân tích quan

trọng về các phương pháp khác nhau được sử dụng trong việc giải quyết các cuộc

Trang 21

khủng hoảng ngân hàng tại các quốc gia Trung và Đông Âu (CEEs) Thứ hai,

nghiên cứu đưa ra ước tính về cách giải quyết khủng hoảng tối ưu trong các NHTM quốc doanh (SOB) và các NHTM nhỏ (SMBs) ở Cộng hòa Séc, Hungary và Ba Lan Phân tích cho thấy việc xử lý các khoản nợ xấu một cách lúng túng; sự chậm trễ trong việc cơ cấu lại HTNH đã làm cho chi phí ngày càng tăng lên và đòi hỏi phải có phản ứng mạnh mẽ hơn Trên cơ sở xem xét kinh nghiệm của ba nước này, các tác giả đã đưa ra kết luận về giải pháp tối ưu giải quyết khủng hoảng trong lĩnh vực ngân hàng trong quá trình chuyển đổi

- Nghiên cứu của các tác giả: Ben Fung, Jason George, Stefan Hohl and Guonan Ma (2004) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình để nghiên cứu về các công ty quản lý tài sản ở khu vực Đông Á Nghiên cứu đã tập trung phân tích bối cảnh, cách thức các công ty quản lý tài sản ở các quốc gia Đông

Á tiến hành xử lý tài sản nợ xấu sau khủng hoảng kinh tế Cụ thể như, trường hợp Công ty QLTS Trung Quốc: Nghiên cứu đã phân tích bối cảnh, tình hình nợ xấu Trung Quốc giai đoạn 1995 - 2005; phân tích, đánh giá tiến độ giải quyết nợ và hiệu quả phục hồi kinh tế, trên cơ sở phân tích 4 AMC của 4 NHTMNN lớn nhất của Trung Quốc (Công ty Quản lý tài sản Phương Đông của Ngân hàng Trung Quốc; Công ty Quản lý tài sản Great Wall của Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc; Công

ty Quản lý Tài sản Cinda của Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc; và Công ty Quản

lý Tài sản Huarong (Huarong Asset Management) của Ngân hàng Công thươngTrung Quốc) Trong trường hợp Cơ quan Tái cơ cấu Ngân hàng Inđônêxia (IBRA), nghiên cứu phân tích bối cảnh, các tính năng chính của IBRA, cấu trúc quản trị của IBRA; những thành công và thất bại của IBRA Trường hợp RCC của Nhật Bản; trường hợp Tổng công ty Quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO); trường hợp Công ty Cổ phần Quản lý tài sản Malaysia (DANAHARTA); trường hợp Công

ty Quản lý tài sản Thái Lan (TAMC); trường hợp Đài Loan; hệ thống ngân hàng ở Philippines Đây là công trình nghiên cứu khá đầy đủ về một giải pháp quan trọng nhất trong xử lý nợ xấu, đó là sử dụng các AMC do chính phủ quản lý Giải pháp này đã được thực hiện ở hầu hết các nước Đông Á để giải quyết vấn đề nợ xấu sau

Trang 22

khủng hoảng kinh tế Các tác giả cũng đã chỉ ra được những thành công và hạn chế trong quá trình giải quyết nợ xấu của các AMC ở các nước.

- Nghiên cứu của Hall, Maximilian J B (2000) đã giải thích sự thay đổi trong việc tiết lộ những thông tin, con số về nợ xấu của ngành ngân hàng Nhật Bản và đánh giá tầm quan trọng của những con số mới nhất Bài viết cho biết, vào tháng 1 năm

1998, Bộ Tài chính Nhật Bản (MOF, 1998) đưa ra các số liệu cho thấy nợ xấu của ngành ngân hàng Nhật có thể lên đến 77 nghìn tỷ yên và sau đó con số này được sửa đổi lên đến 87,5 nghìn tỷ yên vào tháng 4 năm 1998 sau khi Cơ quan Giám sát Tài chính (FSA) yêu cầucác ngân hàng phải đưa ra các báo cáo "minh bạch" Bài viết phân tích sự nguy hiểm của việc che đậy những con số về nợ xấu ngân hàng; đề xuất một kế hoạch "hành động khắc phục kịp thời" nhằm công khai, minh bạch về những con số nợ xấu, nhằm xây dựng được một thị trường mua bán nợ xấu tại Nhật Bản

- Bài viết của Kimura Takeshi (2001) đã đặt ra vấn đề: “Ai có lỗi trong vấn

đề nợ xấu của Nhật Bản?” Takeshi cho rằng Cơ quan dịch vụ tài chính đã trì hoãn việc giải quyết nguyên nhân gốc rễ của vấn đề nợ xấu NH của Nhật Bản, đó là núi các khoản cho vay tinh ranh đối với các công ty lớn trong lĩnh vực bất động sản, xây dựng và phân phối Và các NH ở Nhật vẫn không thể thực hiện vai trò tài chính gián tiếp của họ vì họ không có dự phòng đầy đủ để xoá nợ xấu

- Bài viết của Myung-bak, Lee (2009) nói về những kinh nghiệm quý giá đã giúp Hàn Quốc vượt qua khủng hoảng tài chính vào cuối những năm 1990 Trước hết là bài học trong việc Hàn Quốc đã tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong việc xử

lý nợ xấu ngân hàng: Thứ nhất, phải là các biện pháp táo bạo và quyết đoán, chứ

không phải là các biện pháp tăng cường để lấy lại niềm tin của thị trường Cụ thể, chính phủ Hàn Quốc đã sử dụng nhiều nguồn tài chính khác nhau để huy động nguồn ngân sách công cộng 127,6 tỷ USD (159 nghìn tỷ Won) từ năm 1997 đến năm 2002 - tương đương với 32,4% GDP của Hàn Quốc năm 1997 - để giải quyết

nợ xấu và tái cơ cấu các TCTC Thứ hai, việc tái cơ cấu ngân hàng và tạo ra một

"ngân hàng nợ xấu" không phải là những lựa chọn tách biệt nhau; việc áp dụng đồng thời cả hai có thể có tác động tích cực Hàn Quốc thành lập một cơ quan độc lập chuyên biệt, Tập đoàn Quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO) làm một ngân hàng

Trang 23

nợ xấu; trong khi đó Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc lại tham gia vào

việc tái cơ cấu các TCTC Thứ ba, cần phải có một cơ chế đặc biệt cho cổ đông, nhà

quản lý, người lao động và chủ sở hữu tài sản để chịu gánh nặng công bằng Trong trường hợp của Hàn Quốc, việc bơm vốn chỉ được thực hiện hạn chế đối với các TCTC có ý nghĩa quan trọng về mặt hệ thống và được coi là khả thi sau khi tái cấp

vốn Thứ tư, việc quốc hữu hoá các ngân hàng không phải là mục tiêu, mà chỉ được xác định là một biện pháp tạm thời Thứ năm, mặc dù chính phủ sẽ đi đầu trong các

kế hoạch xử lý nợ xấu và tái cơ cấu ngân hàng, nhưng tư nhân cũng được khuyến

khích bỏ vốn để tham gia đầy đủ vào tiến trình này Thứ sáu, cần loại bỏ tất cả các

hình thức bảo hộ tài chính trong quá trình này Bằng việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trên, Hàn Quốc đã vượt qua được khủng hoảng nợ xấu, và đó có thể là những kinh nghiệm để các quốc gia khác học hỏi

- Bài viết của He, Dong (2004) đã đưa ra một đánh giá cân bằng về vai trò của KAMCO trong việc giải quyết các khoản cho vay không hiệu quả sau cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ châu Á 1997-1998 Tác giả cho rằng cách thức chính phủ Hàn Quốc sử dụng KAMCO để xử lý các khoản nợ xấu có thể là do xã hội rất muốn phục hồi sớm nền tài chính, tiền tệ quốc gia,chính vì thế mà các quỹ công đã được sử dụng

để bơm tiền cho tái cơ cấu khu vực tài chính Tác giả cũng đi sâu phân tích vai trò của KAMCO trong việc giải quyết các khoản cho vay không hiệu quả tại Hàn Quốc; cách thức KAMCO sử dụng nhằm giải quyết vấn đề nợ xấu, đặc biệt là vai trò của KAMCO trong việc tạo ra một thị trường mua bán nợ xấu sôi động

- Alicia García và Herrero Daniel Santabárbara (2004) trong nghiên cứu của mình đã tìm cách trả lời câu hỏi: "Hệ thống ngân hàng Trung Quốc ở đâu với các cải cách đang diễn ra?” Các tác giả đã làm rõ, HTNH Trung Quốc, với tỷ lệ sở hữu nhà nước cao đã bắt đầu quá trình cải cách dựa trên ba trụ cột chính: (i) Tái cấu trúc ngân hàng,với việc “dọn dẹp” các khoản vay xấu và các khoản bơm vốn công cộng, đặc biệt là trong 4 ngân hàng quốc doanh lớn nhất; (ii) Tự do hóa tài chính, với sự nới lỏng dần dần việc kiểm soát giá cả, số lượng và mở cửa cho cạnh tranh nước ngoài; và (iii) tăng cường quy định, giám sát tài chính, cũng như quản lý rủi ro tốt hơn;và áp dụng việc quản trị minh bạch, theo các tiêu chuẩn quốc tế Nghiên cứu

Trang 24

cũng chỉ ra, mặc dù chưa thể khẳng định sự thành công của công cuộc cải cách ở Trung Quốc do khả năng thanh toán của các ngân hàng nước này vẫn còn rất yếu, với một mức nợ xấu cao, và khả năng sinh lợi thấp Tuy nhiên, với cam kết của Trung Quốc để mở hoàn toàn HTNH của mình để cạnh tranh nước ngoài vào năm

2006 là một bước đi rất quan trọng của công cuộc cải cách tài chính, động thái này

sẽ giúp HTNH Trung Quốc có thể nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế

- Nghiên cứu của Huang, Y, Bonin, J (2001) cho thấy, Trung Quốc không chỉ ngăn chặn được một cuộc khủng hoảng tiền tệ mà còn duy trì đượctốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối mạnh Điều này chủ yếu là do thế mạnh kinh tế vĩ mô khi cuộc khủng hoảng bắt đầu Tuy nhiên, thực tế cho thấy lĩnh vực ngân hàng của Trung Quốc khá mong manh Với HTNH không bền vững như vậy sẽ dẫn đến nhiều nguy cơ, ngay cả đối với một nền kinh tế tự chủ Do đó, Trung Quốc cần phải xây dựng một HTNHvững chắc, và để làm được điều đó thì trước tiên cần phải đối phó với vấn đề nợ xấu Theo đó, trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đặt ra và giải quyết các vấn đề: Tại sao sự bất ổn về tài chính lại gia tăng? Vấn đề nợ xấu ngân hàng đang tồi tệ như thế nào? Có thể giải quyết được nợ xấu hay không? Và vai trò của các AMC của Trung Quốc đối với vấn đề này như thế nào? Những vấn đề được đặt ra và giải quyết trong nghiên cứu đều có giá trị tham khảo đối với việc tìm hiểu kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Trung Quốc

- Nghiên cứu của Richard; Wang, Bing (2002) cho thấy, Trung Quốc cũng giống như các nước châu Á khác, đang theo sát cách tiếp cận của Hoa Kỳ thông qua việc thành lập Tổ chức giải quyết tín thác (RTC) để giải quyết vấn đề cho vay không hiệu quả Mục đích của bài viết này là nhằm xem xét tiến bộ của Trung Quốc trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài mua các khoản nợ xấu Các tác giả đã đưa ra một danh sách dài các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của nhà đầu tư về sự không chắc chắn khi đầu tư vào thị trường mua bán nợ xấu của Trung Quốc; đồng thời, đề xuất các yếu tố này cần phải được giải quyết trước khi các nhà đầu

tư có thể tham gia vào thị trường Trung Quốc

- Nghiên cứu của Min Xu (2005) đã so sánh nợ xấu Trung Quốc với các nền kinh tế Đông Á khác; từ kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, tác giả đã

Trang 25

chỉ ra những thách thức đối với nợ xấu của Trung Quốc: Chất lượng tài sản đảm bảo thấp, khung pháp lý yếu kém, giá trị sổ sách NPL khi chuyển sang AMCs không hợp lý, quản trị doanh nghiệp kém và tính minh bạch tại các AMCcó nhiều vấn đề

Từ đó đề xuất các biện pháp thu hẹp khoảng cách: Cải cách luật pháp, giá trị hợp lý NPL chuyển đến AMCs, sửa đổi cách thức hoạt động, quản lý của AMC Đồng thời đưa ra các giải pháp cho vấn đề nợ xấu ngân hàng của Trung Quốc bao gồm: Hoán đổi nợ; các phương pháp tái cơ cấu/thanh lý; bán hàng trực tiếp cho nhà đầu tư; chứng khoán hóa;…

Tóm lại, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nợ xấu và xử lý nợ

xấu trên thế giới Các công trình này phong phú dưới dạng bài viết nghiên cứu trên các tạp chí, sách chuyên khảo, luận án khoa học,… Nội dung tập trung chủ yếu vào việc chỉ rõ nguyên nhân gây ra nợ xấu ngân hàng, các tác động, ảnh hưởng tiêu cực của nợ xấu đối với HTNH nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung Nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào phân tích cách thức xử lý nợ xấu ở từng quốc gia Một số nghiên cứu so sánh biện pháp và hiệu quả của các mô hình xử lý nợ xấu,…Những công trình nghiên cứu đã nêu là căn cứ, cơ sở khoa học để tác giả tham khảo, kế thừa, vận dụng trong quá trình nghiên cứu chủ đề của luận án

1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, do tính nghiêm trọng của nợ xấu ngân hàng, đặc biệt trong những năm gần đây, nên vấn đề này cũng được nhiều chuyên gia, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau Cụ thể:

1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu trong nước về nợ xấu và xử lý nợ xấu ngân hàng ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước Đông Á

Nhằm mục đích so sánh thực trạng nợ xấu và học hỏi kinh nghiệm xử lý nợ xấu NHTM của các nước trên thế giới; rút ra những bài học cho vấn đề này ở Việt Nam, đã có các công trình nghiên cứu như:

- Phạm Hữu Hồng Thái (2012) trong các bài viết về “Kinh nghiệm xử lý nợ xấu ở một số nước và hàm ý cho Việt Nam” [76] và“Xử lý nợ xấu thông qua AMC

và kinh nghiệm cho Việt Nam” [77] đã nêu vấn đề: Liệu các công ty quản lý tài sản

hoạt động có hiệu quả không? Sự có mặt của các AMCs có cải thiện được hành vi

Trang 26

và hiệu quả hoạt động của HTNH không? Tác giả đã trình bày các mô hình AMC và phân tích các đặc điểm của AMC ở châu Á như: IBRA (Indonesia), DANAHARTA (Malaysia), KAMCO (Hàn Quốc) và TAMC của Thái Lan Từ việc tổng kết kinh nghiệm xử lý nợ xấu trong tiến trình tái cấu trúc HTNH của các nước trên thế giới, tác giả cho thấy các nước thường triển khai hoạt động này theo những hướng cơ bản như sau: (i) Hỗ trợ trực tiếp từ chính phủ thông qua việc bơm vốn - Phương pháp hỗ trợ trực tiếp từ chính phủ cho các ngân hàng và định chế tài chính khác nhằm đối phó với khủng hoảng.(ii) Thành lập công ty quản lý tài sản (AMC)/công ty mua bán

nợ để thu mua nợ xấu: Cơ quan này sẽ đứng ra mua lại các khoản nợ xấu ngân hàng, sau đó xử lý để bán lại các khoản nợ đã mua (iii) Tạo cơ chế thỏa thuận xử lý

nợ xấu giữa các TCTD và bên đi vay: Làm trung gian cho các chủ nợ (ở đây là các TCTD) và các doanh nghiệp đi vay thương lượng phương án xử lý nợ dưới nhiều hình thức như thanh lý tài sản, gia hạn hợp đồng, điều chỉnh một số điều khoản của hợp đồng Đồng thời, tác giả cho rằng, ở Việt Nam, việc thành lập một công ty quản

lý tài sản quốc gia để xử lý nợ xấu của hệ thống NHTM là hết sức cần thiết

- Trong nghiên cứu về “Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số nước và bài

học cho Việt Nam”, Nguyễn Tiến Đông (2015) đã đề cập đến hai mô hình cơ bản

xử lý nợ xấu là tập trung và phi tập trung Dựa trên các mô hình này, tác giả phân tích và đánh giá kinh nghiệm xử lý nợ xấu tại một số nước trên thế giới, cụ thể như kinh nghiệm của Mỹ là một trong những điển hình thành công trong việc

xử lý nợ xấu theo mô hình tập trung; Trong khi một số nước Đông Âu như Ba Lan, Bulgaria, Séc, lại áp dụng mô hình xử lý nợ xấu vừa tập trung vừa phân cấp và hậu quả là, việc xử lý nợ xấu ở các nước này được đánh giá là mang lại kết quả thấp Trên cơ sở phân tích và đánh giá thành công của Hàn Quốc trong việc xử lý nợ xấu, tác giả cũng rút ra các bài học cho Việt Nam trong việc phát huy vai trò của nhà nước trong xử lý nợ xấu; vai trò của VAMC trong xử lý nợ xấu; tăng cường hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát ngân hàng; tranh thủ sự ủng hộ của các định chế tài chính và tạo điều kiện cho các nhà đầu

tư nước ngoài tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu

Trang 27

- Nghiên cứu của Đinh Thị Thanh Vân (2015) đã so sánh kinh nghiệm xử lý

nợ xấu tại một số quốc gia châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc

và rút ra một số kết luận: (1) Dù sử dụng nhiều phương án để khoanh vùng và xử lý

nợ xấu, nhưng cuối cùng các quốc gia này đều lựa chọn sử dụng mô hình công ty quản lý tài sản (AMC) (2) Song song với việc xử lý nợ xấu, Nhật Bản và Hàn Quốc rất quan tâm tới việc tái cơ cấu khu vực tư nhân, bài học từ các nước này cho thấy tầm quan trọng của khu vực tư nhân nước ngoài trong việc xử lý nợ xấu (3) Kinh nghiệm từ các quốc gia châu Á còn cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng khung pháp lý vững chắc và minh bạch Từ các kết luận trên, tác giả đã bước đầu

nêu ra một số bài học cho Việt Nam: Thứ nhất, vai trò của chính phủ là vô cùng quan trọng trong việc xử lý nợ xấu ở NHTM các nước châu Á Thứ hai, việc xử lý

nợ tồn đọng thường gắn liền và phục vụ một chính sách kinh tế cụ thể tùy theo bối cảnh riêng từng quốc gia chứ không đơn thuần chỉ nhằm xử lý nợ tồn đọng của các

doanh nghiệp trong nền kinh tế Thứ ba, để gia tăng tốc độ xử lý nợ xấu, VAMC -

tổ chức chịu trách nhiệm xử lý nợ xấu chính của Việt Nam - nên áp dụng các hình thức, biện pháp đa dạng hơn, hình thành nên một thị trường mua bán nợ xấu năng

động thay vì chỉ xử lý bằng bán TSĐB hay đấu thầu như hiện nay Thứ tư, song

song với việc tìm cách bán và thu hồi nợ xấu, cần có các biện pháp tái cơ cấu doanh nghiệp, công ty là nguồn gốc các khoản nợ xấu

1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về nợ xấu và xử lý nợ xấu ngân hàng

ở Việt Nam

Bàn về nợ xấu và xử lý nợ xấu NHTM ở Việt Nam có thể kể tới các công

trình nghiên cứu như sau:

- Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Huyền Diệu (2010) với chủ đề là “Luận

cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống NHTM Việt Nam” Luận án đã đúc kết lại lý thuyết cơ bản về các mô hình QLRRTD Tác giả đã

luận giải một cách có hệ thống các vấn đề cơ bản về QLRRTD và xây dựng mô hình QLRRTD, từ đó phân tích các điều kiện thực tiễn để áp dụng tại các NHTM Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả vẫn chưa đi sâuvà tập trung vào các vấn đề về nợ xấu và xử lý nợ xấu, vốn là biểu hiện của rủi ro tín dụng

Trang 28

- Tác giả Quách Mạnh Hào (2012) trong bài viết “Thực trạng bài toán nợ xấu” đã khẳng định thị trường mua bán nợ xấu hiện nay rất thiếu người mua nợ xấu

chuyên nghiệp Nếu như phạm vi hoạt động của Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) trực thuộc Bộ Tài chính chủ yếu là mua bán nợ tại các DNNN và hầu hết theo sự chỉ định của chính phủ để xử lý thì các AMC trực thuộc các TCTD cũng giới hạn tiếp nhận và xử lý nợ xấu cho các ngân hàng mẹ Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp này hầu như không tham gia mua bán nợ trên thị trường và do đó các khoản nợ xấu về bản chất chỉ chạy lòng vòng trong các TCTD hoặc các DNNN chứ không thực sự được đưa ra thị trường Nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện thị trường mua bán nợ tại các NHTM, tuy nhiên các giải pháp mới chỉ tập trung giải quyết ở lĩnh vực vi mô đối với NHTM

- Luận án tiến sỹ với chủ đề “Quản lý nợ xấu tại NHTM Việt Nam” của

Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) đã hệ thống những luận cứ khoa học về nợ xấu và quản lý nợ xấu NHTM; khái quát kinh nghiệm quản lý nợ xấu NHTM của một số nước trên thế giới trong và sau khủng hoảng kinh tế 1997 - 1998 Trên cơ sở đi sâu vào phân tích kinh nghiệm QLNX NHTM tại Hàn Quốc, Trung Quốc và Mỹ, tác giả đưa ra 9 định hướng cho việc áp dụng kinh nghiệm của thế giới vào hoạt động QLNX ở Việt Nam Luận án phân tích và đánh giá thực trạng QLNX tại các NHTM

và đưa ra các giải pháp tăng cường QLNX tại các NHTM Việt Nam như: Hoàn thiện chiến lược và mô hình quản lý RRTD; nâng cao sức mạnh tài chính; phát triển công nghệ ngân hàng; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ của NHTM; hoàn thiện mô hình chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ Nội dung QLNX được nghiên cứu theo trình tự bao gồm: Nhận biết và phân loại, đo lường, ngăn ngừa và xử lý nợ xấu Như vậy, ở đây, vấn đề xử lý nợ xấu được đề cập đến như một khâu cuối cùng trong trình tự QLNX của NHTM Tuy nhiên, các nghiên cứu và đánh giá của tác giả về thực trạng, các giải pháp được đưa

ra mang tính vi mô đối với các NHTM nhiều hơn

- Công trình nghiên cứu “Hiện trạng thị trường mua bán nợ ở Việt Nam và giải pháp phát triển” của tác giả Đào Duy Huân (2013) cho thấy thị trường mua bán

nợ của Việt Nam, bên cạnh sự tương đồng, thì cũng có những nét khác biệt so với

Trang 29

thị trường mua bán nợ ở các nước khác trên thế giới Bởi vì hàng hóa của thị trường này đang hầu hết là của khu vực DNNN, chưa có sự tham gia của các thành phần kinh tế khác Vì vậy, các chính sách để phát triển thị trường mua bán nợ cũng có nét riêng biệt ở Việt Nam Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường này ở Việt Nam

- Nghiên cứu của Hoàng Trần Hậu (2014) về “Phát triển thị trường mua bán nợ

ở Việt Nam phục vụ tái cơ cấu doanh nghiệp” đã tập trung vào việc hệ thống hóa, làm

rõ những vấn đề lý luận về thị trường mua bán nợ Trên cơ sở phân tích thực trạng về thị trường mua bán nợ ở Việt Nam hiện nay, đề tài đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách cho phát triển thị trường mua bán nợ như: Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; hoàn thiện các chuẩn mực kế toán theo thông lệ quốc tế, tạo hành lang cho thị trường mua bán nợ xấu; tăng cường hợp tác quốc tế,… Tuy nhiên, các giải pháp này mới chỉ dừng lại và tập trung vào mục đích phục vụ tái cấu trúc doanh nghiệp

- Nghiên cứu của Trần Thị Hồng Hạnh và Dương Hồng Phương (2015) “Xử

lý nợ xấu từ góc độ tranh tụng pháp lý” đã chỉ ra một số vướng mắc về xử lý nợ xấu

từ góc độ tranh tụng pháp lý như: (1) Quy định pháp luật còn bất cập, chưa theo kịp thực tiễn và thông lệ quốc tế Trong đó, cụ thể như những quy định liên quan đến tài sản đảm bảo, đến thân nhân khách hàng đi vay (2) Những bất cập về kỹ thuật tính toán và các thủ tục thực hiện quá trình tranh tụng tại tòa Trong đó phân tích rõ về

sự chưa phù hợp trong cách tính lãi suất trong bản án; sự bất hợp lý trong thu thuế giá trị gia tăng khi bán TSĐB;… Từ đó, các tác giả đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm đẩy nhanh tiến độ và từng bước nâng cao chất lượng xử lý nợ xấu của các TCTD bằng cách nghiên cứu, rà soát tổng thể để bổ sung, chỉnh sửa các quy định pháp luật có liên quan đến giao dịch đảm bảo, hoạt động tín dụng, xử lý nợ của TCTD Nghiên cứu mặc dù chỉ giới hạn ở góc độ tranh tụng pháp lý liên quan đến

xử lý nợ xấu, nhưng đã làm rõ được một nguyên nhân rất quan trọng dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong xử lý nợ xấu ngân hàng ở Việt Nam thời gian qua

- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Vân Anh (2016) với chủ đề “Nâng cao năng lực quản trị RRTD theo thông lệ quốc tế tại NHTM Việt Nam” đã hệ thống hóa

cơ sở lý luận và các thông lệ quốc tế về quản trị RRTD và năng lực quản trị RRTD

Trang 30

tại NHTM Trong đó phân tích khung năng lực quản trị RRTD theo thông lệ quốc tế

và chuẩn mực Basel II, đồng thời nêu ra những kinh nghiệm quốc tế về cách tiếp cận và ứng dụng chuẩn mực Basel II nhằm nâng cao năng lực quản trị RRTD Luận

án đã phân tích thực trạngnăng lực quản trị RRTD theo thông lệ quốc tế tại các NHTM ở Việt Nam; đánh giá kết quả và chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân hạn chế của vấn đề này ở Việt Nam Đặc biệt, tác giả đã phân tích trường hợp ngân hàng VP Bank để minh họa, làm rõ quy trình phân tích, đánh giá chênh lệch về năng lực quản trị RRTD so với thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II Từ đó luận án đưa ra các nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị RRTD theo thông lệ quốc tế tại các NHTM Việt Nam, trong đó giải pháp nâng cao năng lực xây dựng và vận hành các công cụ đo lường RRTD được cho là quan trọng nhất

- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thu Hương (2016) về Phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam đã khái quát cơ sở lý luận về thị trường mua bán nợ

xấu; thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam trong giai đoạn

2011 – 2015, trong đó tác giả đã phân tích, đánh giá được thực trạng hoạt động của các công ty mua bán nợ tại Việt Nam trong giai đoạn này Trên cơ sở đó đưa ra định hướng cho thị trường mua bán nợ xấu Việt Nam đến năm 2025 cần phát triển ổn định, vững chắc, cấu trúc hoàn chỉnh với nhiều cấp độ, đồng bộ về các yếu tố cung – cầu, tăng quy mô và chất lượng hoạt động, đa dạng hóa các sản phẩm, bảo đảm công khai, minh bạch, chủ động hội nhập quốc tế, Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất các nhóm giải pháp chung như: Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; tiếp tục đẩy mạnh TTCK; tăng cường thông tin về hàng hóa trên thị trường nợ xấu; phát triển các tổ chức trung gian cho hoạt động mua bán nợ xấu; và nhóm các giải pháp cụ thể

từ phía “cung” và “cầu” của thị trường mua bán nợ xấu Việt Nam

Ngoài ra, còn nhiều các công trình khác nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau về nợ xấu và xử lý nợ xấu NHTM ở Việt Nam dưới dạng các luận văn, luận

án, bài viết trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo, các công trình nghiên cứu nêu trên đã góp phần tạo ra một khung cơ sở lý luận và thực tiễn mang tính định hướng cho nghiên cứu của tác giả

Trang 31

1.3 Những điểm đã thống nhất, khoảng trống và hướng nghiên cứu của luận án

Từ việc tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên, cho thấy: Các nghiên cứu đều chỉ ra những tác động tiêu cực của nợ xấu đối với HTTC ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế của các quốc gia; xử lý nợ xấu ngân hàng là yêu cầu cấp bách của tất cả các HTTC của các nước; nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng

nợ xấu ở các nước đều có những yếu tố riêng biệt, song cũng có những điểm chung nhất định; và tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước, các biện pháp được sử dụng để xử lý và ngăn chặn nợ xấu cũng rất phong phú, đa dạng

Có nhiều công trình nghiên cứu về nợ xấu và xử lý nợ xấu NHTM Tuy nhiên, những công trình ngoài nước chủ yếu tập trung vào nghiên cứu thực trạng vấn đề nợ xấu và XLNX của một quốc gia nhất định, hoặc tập trung vào phân tích

mô hình xử lý nợ xấu NHTMcủa một nhóm nước Trong khi đó, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam thì chủ yếu tập trung vào một góc độ nhất định của vấn đề XLNX ngân hàng, như: Góc độ pháp lý; thị trường mua bán nợ xấu; vấn đề tái cơ cấu HTNH; hay vấn đề quản lý RRTD, Một số công trình nghiên cứu trong nước tập trung phân tích thực trạng, giải pháp cho vấn đề XLNX ở một số NHTM cụ thể

Đề tài của luận án nghiên cứu về Kinh nghiệm xử lý nợ xấu ngân hàng ở một

số nước Đông Á và bài học cho Việt Nam sẽ hệ thống hóa những vấn đề lý luận và

thực tiễn về xử lý nợ xấu ngân hàng; tập trung phân tích, đánh giá và so sánh thực trạng, cách thức và kết quả xử lý nợ xấu ngân hàng ở 3 nước Đông Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc để từ đó rút ra bài học cho Việt Nam; trên cơ sở phân tích, đánh giá thực tiễn việc xử lý nợ xấu ngân hàng ở Việt Nam trong những năm gần đây, đồng thời vận dụng các bài học kinh nghiệm xử lý nợ xấu ngân hàng của các nước Đông Á, luận án đề xuất những giải pháp xử lý nợ xấu ngân hàng ở Việt Nam trong thời gian tới.Vì vậy, có thể khẳng định rằngluận ánkhông có sự trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào đã xuất hiện tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại

Trang 32

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

2.1 Nợ xấu ngân hàng thương mại

Trong hoạt động cho vay có rất nhiều rủi ro gây tổn thất cho NHTM khi các con nợ không thể thực hiện nghĩa vụ đúng cam kết của mình, như: Thanh toán chậm, chỉ thanh toán được một phần, hoặc mất khả năng thanh toán hoàn toàn do các nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan dẫn đến phá sản

Theo thông lệ quốc tế, khi các khoản rủi ro tín dụng không được xử lý ngay lập tức thì chúng sẽ trở thành các khoản mục tài sản "xấu" trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng và được coi là "nợ xấu" hay "nợ tồn đọng", “nợ khó đòi”

Trong tiếng Anh, nợ xấu thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”, “non-performing loan” (NPL), “doubtful debt” Thuật ngữ “bad debt” được dùng khá phổ biến trên báo chí; còn trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các chuyên gia thường sử dụng thuật ngữ “non-performing loan” (NPL); trong khi kế toán quốc

tế lại hay dùng “non-accrual loans” (theo Hệ thống chuẩn mực kế toán của Mỹ - US GAAP) hay “impaired loans” (theo Chuẩn mực kế toán quốc tế- IAS 39) [61] Hiện nay đang tồn tại khá nhiều khái niệm về nợ xấu khác nhau

2.1.1 Khái niệm, phân loại

- Khái niệm

+ Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng Thế giới (WB): Theo WB, nợ xấu là

khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản.Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc thường quá 3 tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các

khoản vay vào các nhóm thích hợp [176]

+ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): Trong bản Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia, IMF đưa ra khái niệm về nợ xấu ngân hàng như

sau: “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90

Trang 33

ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản) Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của

khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế” [140]

+ Theo quan điểm của Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) [128] thì nợ xấu được định nghĩa qua hai yếu tố: (i) Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như: Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không

có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ; những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ; những khoản nợ mà khách hàng chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ

để trả nợ Và (ii) nợ xấu là những khoản cho vay có thể không được thu hồi đầy đủ cho ngân hàng: Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa

ra để thế chấp không đủ để trả nợ Điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ món nợ vì người mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh hoặc người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để thanh toán,

hoặc hoàn cảnh chỉ rõ rằng phần lớn tiền nợ sẽ không thể thu hồi được

+ Nhóm chuyên gia tư vấn (Advisory Expert Group -AEG) của Liên Hợp Quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu ngân hàng không nên mang tính chất mô tả mà

chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho các ngân hàng AEG thống nhất định

nghĩa như sau: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ” [Peter Rose (2009); Mishkin (2010)] Nói cách khác, nợ

xấu ngân hàng được xác định dựa trên 2 yếu tố: Quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ bị nghi ngờ

Trang 34

+ Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) dù không đưa ra định nghĩa

cụ thể về nợ xấu ngân hàng, nhưng trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là

không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i)

Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa có bất cứ hành động gì để cố gắng thu hồi, ví dụ như giải chấp chứng khoán (nếu đang

nắm giữ); (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày Như vậy, theo hướng dẫn

này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ [113]

Từ những khái niệm trên, có thể thấy được sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới Theo đó, một khoản nợ

được coi là nợ xấu khi xuất hiện 1 hoặc cả 2 dấu hiệu sau: (i) Quá hạn trả nợ gốc và lãi; (ii) Khi khách hàng vay vốn bị TCTD hoặc ngân hàng coi là không có khả năng

trả nợ Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ

- Phân loại nợ xấu

Phân loại nợ xấu được hiểu là quá trình các ngân hàng xem xét các danh mục cho vay và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm tương đồng của khoản vay Thông thường, các ngân hàng sử dụng hệ thống phân loại nội

bộ, hệ thống phân loại quy định bởi các nhà giám sát yêu cầu được sử dụng chủ yếu phục vụ mục tiêu báo cáo, so sánh và giám sát

- Khái niệm và phân loại nợ xấu của Ngân hàng nhà nước Việt Nam (SBV):

Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của các TCTD [67] và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 493/2005/QĐ-

NHNN thì nợ xấu được định nghĩa như sau: Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Nợ xấu theo định nghĩa của Việt Nam cũng được xác định dựa theo

2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại

Trang 35

Ngày 21/1/2013, NHNN ban hành Thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Thông tư này thay thế Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của NHNN ban hành ngày 22/4/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD và Quyết định 18/2007/QĐ -NHNN ban hành ngày 25/4/2007 về sửa đổi, bổ sung Quyết định 493/2005/QĐ - NHNN Theo đó, việc phân loại nợ để trích lập dự phòng cụ thể được quy định lại theo hướng siết chặt hơn so với Quyết định 493 và Quyết định 18 và có hiệu lực từ ngày 01/06/2013.Theo Thông tư 02/2013/TT-

NHNN thì nợ xấu được định nghĩa như sau: (i) Nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5; (ii) Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5; (iii)

Tỷ lệ cấp tín dụng xấu là tỷ lệ giữa tổng nợ vàcam kết ngoại bảng từ nhóm 3 đến

nhóm 5 so với tổng nợ và các cam kết ngoại bảng từ nhóm 1 đến nhóm 5

Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNNcủa Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập DPRR và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh NHNNg: Nợ nhóm 1

và nợ nhóm 2 hầu như vẫn giữ như các quy định trước đây Tuy nhiên, với các khoản nợ xấu (nợ nhóm 3, 4 và 5) đã được NHNN bổ sung thêm nhiều đối tượng

Tỷ lệ nợ xấu sẽ được tính bằng tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5, trước đó, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN không quy định cụ thể cách tính này Cụ thể:

Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn, cộng với các khoản

nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn cùng với nợ gốc và lãi còn lại đúng hạn

Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày, các khoản

nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu

Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, nợ gia hạn lần đầu và nợ được miễn giảm lãi do khách hàng không đủ khả

năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng Đặc biệt, nợ nhóm 3 được bổ sung thêm

Trang 36

các trường hợp: (i) Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc

đối tượng mà TCTD, chi nhánh NHNNg không được cấp tín dụng theo quy định;

(ii) Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính TCTD hoặc công ty con của

TCTDhoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một TCTD khác trên cơ sở TCTDcho vay nhận tài sản đảm bảo bằng cổ phiếu của chính TCTDnhận vốn góp;

(iii) Nợ không có bảo đảm được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5%

vốn tự có của TCTD, chi nhánh NHNNg khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị

hạn chế cấp tín dụng theo quy định; (iv) Nợ cấp cho công ty con, công ty liên kết

của TCTD hoặc doanh nghiệp mà TCTDnắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ

lệ giới hạn theo quy định; (v) Nợ có giá trị vượt quá giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật; (vi) Nợ vi phạm

các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ đảm bảo

an toàn với TCTD, chi nhánh NHNNg; (vii) Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp

tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của các TCTD, chi nhánh

NHNNg; (viii) Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra

Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) sẽ bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến

360 ngày; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2; nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được

Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ

cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn

Đặc biệt, bổ sung thêm nợ của TCTD được NHNN công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh NHNNg bị phong tỏa vốn và tài sản

Ngoài ra, Thông tư 02/2013/TT-NHNN cũng ban hành thêm khái niệm "Tỷ

lệ cấp tín dụng xấu" là tỷ lệ giữa tổng nợ và cam kết ngoại bảng từ nhóm 3 đến nhóm 5 so với các cam kết ngoại bảng từ nhóm 1 đến nhóm 5

Trang 37

Khi xem xét định nghĩa nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam và thông lệ quốc tế có thể thấy: Mặt định lượng thời gian trả nợ quá hạn từ 91 ngày trong định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và thông lệ quốc tế là khá tương đồng Dù phân loại theo phương pháp định tính hay định lượng các khoản nợ từ nhóm 3 tới nhóm 5 được xếp vào danh mục nợ xấu của ngân hàng Việc cách xếp loại các nhóm nợ cho thấy, Việt Nam có sự thống nhất với nhiều quốc gia trên thế giới

Bảng 2.1: So sánh định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và thế giới

trong các giai đoạn

báo cáo tài chính,

chú ý tới kết quả

hoạt động

Giám sát và ổn định hoạt động của HTNH các quốc gia, QLRR, chú ý tới an toàn vốn

Tính toán chi tiêu lành mạnh tài chính của các quốc gia

Báo cáo hoạt động trong các kỳ hoạt động với NHNN, chú ý tới lợi nhuận

và thuế dự phòng phải nộp

trích lập

dự phòng

Thời gian quá hạn

của khoản vay

hoặc dấu hiệu

Thời gian quá hạn hoặc dấu hiệu không thu hồi được, kể cả việc thay thế bằng khoản vay mới

Thời gian quá hạn khoản vay là yếu tố chủ yếu, nhiều NHTM chưa có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ

toán theo kỳ báo

cáo bằng lãi suất

chiết khấu

Tính tổng số tiền theo công thức chung, chú ý đến

cả vòng đời của tài sản

Không đề cập Tính chung theo

công thức theo kỳ báo cáo của NHNN; không tính dự phòng cho các khoản nợ khoanh, các khoản

nợ vay theo KH chỉ định của chính phủ

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp tài liệu

Trang 38

Như vậy, có thể thấy, bản chất nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, trước hết vì nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn, sau nữa nó vi phạm đến đặc trưng là tính hoàn trả đầy đủ, gây nên sự đổ vỡ

lòng tin của người cung cấp tín dụng đối với khách hàng nhận tín dụng

Để có thể đánh giá tình trạng nợ xấu của các NHTM, người ta căn cứ vào các tiêu chí sau:

- Tổng số nợ quá hạn:Phản ánh giá trị tuyệt đối của toàn bộ các khoản nợ quá hạn của NH Tuy vậy, tiêu chí này chưa cho biết nguy cơ rủi ro của ngân hàng

- Tỷ lệ giữa giá trị các khoản nợ quá hạn/tổng dư nợ cho vay và cho thuê hoặc tỷ lệ giữa các khoản nợ xấu/tổng dư nợ cho vay và cho thuê Tiêu chí này phản ánh mức độ RRTD của ngân hàng, nhưng chưa phản ánh hoàn toàn chính xác chất lượng tín dụng của ngân hàng

- Tỷ lệ nợ khó đòi/tổng dư nợ và nợ khó đòi/nợ xấu Những tiêu chí này phản ánh khá trung thực về thực tế nợ xấu của ngân hàng

- Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/nợ xấu

- Tỷ lệ dự trữ tổn thất cho vay/tổng dư nợ cho vay và cho thuê

Tỷ lệ nợ xấu =

Tỷ lệ nợ xấu cho biết, trong 100 đồng tổng dư nợ thì có bao nhiêu đồng là

nợ xấu Chính vì vậy, tỷ lệ nợ xấu là một tiêu chí cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng của NH Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà đã rơi vào tình trạng có nguy cơ mất vốn Hiện nay, theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ an toàn cho phép

là dưới 5%

2.1.2 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu

Xác định được nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh nợ xấu là điều kiện để đưa

ra các biện pháp xử lý nợ xấu thích hợp Có rất nhiều nguyên nhân phát sinh nợ xấu trong nền kinh tế, tuy nhiên từ thực tiễn quốc tế, các nguyên nhân phổ biến dẫn tới tình trạng nợ xấu cao có thể chia thành 3 nhóm nguyên nhân chính:

Trang 39

2.1.2.1 Nhóm nguyên nhân từ môi trường kinh tế, chính trị, xã hội:

Hoạt động ngân hàng là hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian, do đó

nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan như: Môi trường kinh tế - chính trị, môi trường pháp lý, thậm chí cả các yếu tố về tự nhiên

(i) Môi trường và diễn biến kinh tế xã hội: Nếu môi trường kinh tế chưa thực

sự phát triển, cạnh tranh trên thị trường không bình đẳng, tốc độ cũng như trình độ phát triển chưa cao; mặt khác, với sự thay đổi liên tục trong chính sách kinh tế vĩ

mô như sự thay đổi về cơ chế lãi suất, tỷ giá, chính sách xuất nhập khẩu,… hay những thay đổi trong quy hoạch xây dựng hạ tầng, thay đổi cơ chế tài chính, cơ chế

sử dụng đất đai,… cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, khiến các đối tượng này rơi vào thế bị động, và do đó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nợ của các đối tượng này tại các NHTM Các yếu tố vĩ

mô như: Tốc độ tăng trưởng GDP, sự mở rộng tín dụng, lãi suất thực, lạm phát, cung tiền (M2), tỉ lệ thất nghiệp, đặc biệt là những “cú sốc” bên ngoài về kinh tế như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính, nợ công hay các yếu tố chính trị -

xã hội như nạn tham nhũng, bất ổn định chính trị cũng là những nhân tố có thể gây nên tình trạng nợ xấu của các ngân hàng hay của các doanh nghiệp

(ii) Môi trường pháp lý: Đây là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới khả

năng phát sinh nợ quá hạn Hệ thống pháp luật quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật mà chưa được đầy đủ đồng bộ, không đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các tổ chức kinh doanh, sẽ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, gây nên các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng Sự bất cập, chồng chéo của các luật sẽ khiến cơ quan hữu quan lúng túng trong việc xử lý tranh chấp về TSĐB; các quy định về kế toán, kiểm toán chưa đảm bảo sẽ khiến số liệu không đủ cơ sở vững chắc để thẩm định cho vay

(iii) Tín dụng chỉ định của chính phủ: Theo lý thuyết và kinh nghiệm của các

nước có nền kinh tế kế hoạch hóa hoặc chuyển đổi, nợ xấu thường là do vấn đề các NHTM quốc doanh bị ràng buộc tài chính “mềm”, dẫn đến việc các ngân hàng không quan tâm đánh giá sát sao năng lực tài chính của người vay Ngoài ra, tại các nước này, chính quyền trung ương có xu hướng gây áp lực hay khuyến khích các

Trang 40

ngân hàng cấp tín dụng vượt quá mức an toàn cho phép để đạt được những mục tiêu

kế hoạch nhất định đã đề ra Đến tận những năm gần đây, tại một số nền kinh tế, các ngân hàng quốc doanh vẫn có nghĩa vụ thực hiện các khoản cho vay chính sách theo các chương trình phát triển của chính phủ hoặc vì lý do chính trị

(iv) Bản chất của HTTC, ngân hàng: Quan hệ giữa ngân hàng và doanh

nghiệp; chủ nghĩa tư bản thân quen/“cánh hẩu”, giá trị Đông Á cho vay không dựa trên quan hệ kinh tế, tài chính mà dựa trên quan hệ bạn bè, gia đình,… cũng là

nguyên nhân gây ra nợ xấu ngân hàng

(v) Nguyên nhân khác: Những thiệt hại đôi khi sinh ra từ nguyên nhân thiên

tai như bão lụt, hỏa hoạn, động đất Những thay đổi về nhu cầu của người tiêu dùng hoặc về kỹ thuật một ngành công nghiệp có thể làm sụp đổ cả cơ đồ của một hãng kinh doanh và đặt người kinh doanh từng làm ăn có lãi vào thế thua lỗ, không còn khả năng thanh toán nợ Do ảnh hưởng của chiến tranh, đình công, việc giảm giá liên tục với lượng lớn (bán phá giá) để cạnh tranh của đối thủ cũng làm thiệt hại nghiêm trọng đến khả năng chi trả tiền vay của người đi vay

2.1.2.2 Nhóm nguyên nhân từ phía ngân hàng thương mại

Đây được coi là nhóm nguyên nhân chủ quan, xuất phát từ chính bản thân các NHTM Đó có thể là do chính sách tín dụng kém hiệu quả, sự lỏng lẻo trong công tác kiểm tra, giám sát hay các vấn đề liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng và một số nguyên nhân khác

(i) Chính sách tín dụng: Một chính sách tín dụng không đầy đủ, không đồng

bộ, thiếu nhất quánvà thống nhất sẽ dẫn tới việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cho ngân hàng Để thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị phần, nhiều NHTM đã bỏ qua một số bước trong quy trình tín dụng, cơ chế cho vay được đơn giản hóa, tự ý hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng Ví dụ bài học từ Hoa Kỳ, khủng hoảng tài chínhvà suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 xuất phát từ thị trường tài chính Hoa Kỳ có nguồn gốc sâu xa chính là những khoản cho vay dưới chuẩn, chất lượng thấp với mức rủi ro cao Các khoản cho vay này không được xem xét kỹ lưỡng về khả năng thanh toán của khách hàng như: Thu nhập hàng năm, tiểu sử nghề nghiệp, tài sản,… và thường được đảm bảo bởi rất ít hoặc không có

Ngày đăng: 31/03/2018, 00:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Thị Thúy Anh (2013), “Nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam”, Tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, số 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam”, "Tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng
Tác giả: Võ Thị Thúy Anh
Năm: 2013
2. Nguyễn Thị Vân Anh (2016) , “Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại NHTM Việt Nam”, Luận án tiến sỹ, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại NHTM Việt Nam”, "Luận án tiến sỹ
3. Lê Thị Vân Anh (2008), “Khủng hoảng tài chính - Các mô hình lí thuyết và các rủi ro đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”, Tạp chí Khoa học đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tài chính - Các mô hình lí thuyết và các rủi ro đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”, "Tạp chí Khoa học đại học Quốc gia
Tác giả: Lê Thị Vân Anh
Năm: 2008
4. Trịnh Quang Anh (2013), Vấn đề nợ xấu ở các NHTM Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 9, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế và Dự báo
Tác giả: Trịnh Quang Anh
Năm: 2013
5. Báo cáo tổng quan của nhóm Ngân hàng Thế giới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư về “Việt Nam 2035 - Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Việt Nam 2035 - Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ
7. Lê Hà Diễm Chi (2011), “Cần tạo điều kiện để thị trường mua bán nợ phát triển”, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần tạo điều kiện để thị trường mua bán nợ phát triển”, "Tạp chí Tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Lê Hà Diễm Chi
Năm: 2011
9. Đào Ngọc Chuyền, Phạm Thị Ngát (2010), “Một số khó khăn trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại”, Tạp chí Ngân hàng, số 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khó khăn trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại”, "Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Đào Ngọc Chuyền, Phạm Thị Ngát
Năm: 2010
10. Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC), Báo cáo tổng kết hoạt động - nhiều năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động
13. Hồ An Cương (2003), “Trung Quốc những chiến lược lớn”, Nxb. Thông tấn, sách dịch, Hà Nội, 201 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trung Quốc những chiến lược lớn”
Tác giả: Hồ An Cương
Nhà XB: Nxb. Thông tấn
Năm: 2003
14. Nguyễn Đức Cường (2006), Những nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng. Số 54, trang 99 - 100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Đức Cường
Năm: 2006
15. Lê Thị Huyền Diệu (2010), Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án Tiến sĩ
Tác giả: Lê Thị Huyền Diệu
Năm: 2010
16. Huỳnh Thế Du, (2004), Thành công và thất bại trong các mô hình xử lý nợ xấu, Nghiên cứu của giảng viên trong Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành công và thất bại trong các mô hình xử lý nợ xấu
Tác giả: Huỳnh Thế Du
Năm: 2004
17. Huỳnh Thế Du (2004),Tại sao tài sản đảm bảo là yếu tố quan trọng trong quyết định cấp tín dụng lại các tổ chức tín dụng Việt Nam, Nghiên cứu của giảng viên trong Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao tài sản đảm bảo là yếu tố quan trọng trong quyết định cấp tín dụng lại các tổ chức tín dụng Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Thế Du
Năm: 2004
18. Trần Thọ Đạt (2014), “Khuôn khổ pháp lý cho tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế”, Đề tài nghiên cứu, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuôn khổ pháp lý cho tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế”, "Đề tài nghiên cứu
Tác giả: Trần Thọ Đạt
Năm: 2014
20. Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015” của Chính phủ. Đề án này đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 254/QĐ- TTg ngày 01/3/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015
21. Nguyễn Tiến Đông (2015), “Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số nước và bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng, số chuyên đề, trang 129-133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số nước và bài học cho Việt Nam”, "Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Tiến Đông
Năm: 2015
22. Minh Đức (2012), “Xử lý nợ xấu: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Thuế Nhà nước, số 35-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý nợ xấu: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, "Tạp chí Thuế Nhà nước
Tác giả: Minh Đức
Năm: 2012
23. Nguyễn Bình Giang (1999), Bất ổn định tài chính ở Nhật Bản: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp. Viện Kinh tế Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất ổn định tài chính ở Nhật Bản: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Bình Giang
Năm: 1999
24. Quách Mạnh Hào (2012), “Thực trạng bài toán nợ xấu”, Tạp chí Ngân hàng, số 6, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bài toán nợ xấu”, "Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Quách Mạnh Hào
Năm: 2012
25. Trần Thị Hồng Hạnh và Dương Hồng Phương (2015), Xử lý nợ xấu từ góc độ tranh tụng pháp lý, Tạp chí Ngân hàng, số chuyên đề, trang 46-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Trần Thị Hồng Hạnh và Dương Hồng Phương
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w