Đặc biệt trong mối quan hệ về tài sản giữa các thành viên trong gia đình lại không được quy định cụ thể và riêng biệt trong Luật HN&GĐ năm 2000, nhiều quy định về tài sản chung của gia đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo Khoa Sau đại học – Trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành khoá học cao học tại nhà trường
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Luật Dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những tri thức luật học quý báu cho các học viên
Em trân trọng gửi lời cảm ơn và biết ơn sâu sắc tới giảng viên, Tiến sĩ Nguyễn Văn Cừ - người thầy giáo đã tậm tâm chỉ bảo, truyền đạt kinh nghiệm
và kiến thức luật học giúp đỡ em hoàn thành tốt Luận văn này
Lương Danh Tùng
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lương Danh Tùng
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS năm 1995 Bộ Luật Dân sự năm 1995
BLDS năm 2005 Bộ Luật Dân sự năm 2005
HĐTP Hội đồng Thẩm phán
HN&GĐ Hôn nhân và gia đình
Luật HN&GĐ năm 1959 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
Luật HN&GĐ năm 1986 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
Luật HN&GĐ năm 2000 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Nghị quyết số 35/2000/QH10 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội Khoá 10
TANDTC Toà án nhân dân tối cao
TAND Toà án nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN CHUNG CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH 5
1.1 KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH 5
1.2 XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH 8
1.2.1 Theo quan hệ hôn nhân: Vợ - chồng 8
1.2.2 Theo quan hệ huyết thống: Cha mẹ - con, ông bà – cháu, anh chị em ruột với nhau 11
1.2.3 Theo quan hệ nuôi dưỡng: Cha mẹ nuôi – con nuôi, bố dượng và mẹ kế - con riêng của một bên 13
1.2.4 Các quan hệ khác tồn tại trong thực tế : Con đỡ đầu; người hưởng thừa tự; người sống nương nhờ; tự nhận là anh - em nuôi; tự nhận là cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau 16
1.3 CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG 18
1.3.1 Tài sản của vợ chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân 18
1.3.2 Tài sản chung hình thành từ sự đóng góp của các thành viên trong gia đình 19
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHUNG 21
2.1 QUYỀN CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHUNG 21
2.1.1 Quyền sở hữu 21
2.1.1.1 Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt 21
2.1.1.2 Quyền bảo vệ quyền sở hữu 30
2.1.1.3 Quyền đứng tên chủ sở hữu đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu 32
2.1.2 Quyền sử dụng 38
Trang 62.1.3 Quyền quản lý tài sản cho nhau 42
2.1.4 Quyền đại diện cho nhau khi xác lập giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung 45
2.1.5 Quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 47
2.1.6 Quyền thừa kế liên quan đến tài sản chung 49
2.2 NGHĨA VỤ CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHUNG 51
2.2.1 Nghĩa vụ theo quy định từ Điều 263 đến Điều 270 Bộ Luật Dân sự năm 2005 51
2.2.2 Nghĩa vụ duy trì và phát triển khối tài sản chung 55
2.2.3 Nghĩa vụ liên đới giữa các thành viên trong gia đình 57
2.2.4 Nghĩa vụ thông báo cho những đồng sở hữu khi một thành viên trong gia đình định đoạt phần tài sản của mình trong khối tài sản chung 59
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHUNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 61
3.1 THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHUNG 61
3.1.1 Một số vướng mắc còn tồn tại 61
3.1.2 Nguyên nhân 66
3.1.2.1 Nguyên nhân khách quan 66
3.1.2.2 Nguyên nhân chủ quan 68
3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 69
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 71
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các văn bản pháp luật nước ta về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) được ban hành kể từ năm 1945 đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ 2000) đã có nhiều lần thay đổi và có đóng góp lớn vào sự duy trì và ổn định đời sống gia đình – một xã hội thu nhỏ trong đời sống xã hội nước ta
Tuy nhiên, do sự phát triển của văn hoá - kinh tế và chính trị nước ta đã có những bước tiến bộ vượt bậc trong hơn một thập niên gần đây đã làm cho không ít các quy định pháp luật HN&GĐ không còn phù hợp hoặc không dự trù, bao quát được hết các tranh chấp phát sinh có khả năng xảy ra trong đời sống gia đình ở nước ta Đặc biệt trong mối quan hệ về tài sản giữa các thành viên trong gia đình lại không được quy định cụ thể và riêng biệt trong Luật HN&GĐ năm 2000, nhiều quy định về tài sản chung của gia đình được quy định ở các luật khác như Bộ Luật Dân
sự năm 2005, Luật Đất đai năm 2003, Luật Nhà ở năm 2005… Mặt khác, việc tuyên truyền và phổ biến pháp luật HN&GĐ còn có nhiều hạn chế trong khi nền văn hoá nước ta vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo “trọng nam khinh nữ”, nên sự hiểu biết của nhân dân về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung còn có nhiều hạn chế Đây là một trong những nguyên nhân chính phát sinh tranh chấp tài sản giữa các thành viên trong gia đình dẫn tới mâu thuẫn trong gia đình, gây mất ổn định xã hội, gây nên tình trạng khiếu kiện kéo dài
Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung tại các văn bản quy phạm pháp luật cũng chưa có sự thống nhất dẫn đến việc nhận thức trong việc giải quyết tranh chấp tài sản của các cơ quan Nhà nước, Toà án nhân dân có thẩm quyền cũng chưa có sự thống nhất về phương hướng giải quyết
Vì những lý do trên, tác giả mạnh dạn chọn đề tài Quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung để làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 82
Quan hệ về tài sản của các thành viên trong gia đình đã được nhiều tác giả nghiên cứu, dưới nhiều góc độ khác nhau Có tác giả nghiên cứu riêng về chế độ tài sản của vợ chồng, có tác giả nghiên cứu về chế định cấp dưỡng, có tác giả nghiên cứu về vấn đề chia tài sản khi vợ chồng ly hôn …
Một số giáo trình, công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo điển hình như:
“Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000” do TS.Đinh Thị Mai Phương chủ biên; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000” của Ths.Nguyễn Văn Cừ và Ths.Ngô Thị Hường biên soạn;
“Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” của TS.Nguyễn Văn Cừ, “Chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình vấn đề
lý luận và thực tiễn” của Ts Ngô Thị Hường …
Vấn đề quyền tài sản của hộ gia đình, cá nhân cũng đã được nhiều tác giả
nghiên cứu, có thể kể đến một số luận án, luận văn như: “Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000” của Lê Thị Thu Hà, “Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong chế định tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” của Đặng Thị Hồng Hoa, “Vấn đề hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” của Đỗ Thị Thu Hương, “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” của Hoàng Ngọc Huyên, “Một số vấn đề cần sửa đổi,
bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000” của Nguyễn Quỳnh Anh, “Thành viên gia đình: một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Lê Văn Trung …
Một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật như: bài “Tặng cho quyền
sử dụng đất thực tiễn và tồn tại” đăng trên Tạp chí TAND số 3 năm 2008; bài
“Xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung hay tài sản riêng” đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1 năm 2010; bài “Xác định tư cách chủ thể thành viên hộ gia đình trong định đoạt quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ” đăng trên Tạp chí Luật học số 2 năm 2012, bài “Về việc nuôi con nuôi giữa bố dượng hoặc mẹ kế
và con riêng của của vợ hoặc chồng theo Luật nuôi con nuôi” đăng trên Tạp chí Luật học số 8 năm 2011, bài “Bình đẳng giới trong gia đình” đăng trên Tạp chí
Luật học số 5 năm 2012 …
Tuy nhiên các tác giả chỉ tập chung vào vấn đề tổng thể chung nhất là quyền
và nghĩa vụ của hộ gia đình hoặc xác định tài sản là của chung hay riêng của vợ,
Trang 93
chồng mà chưa đi sâu làm rõ các quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung của gia đình
Việc xác định các thành viên trong gia đình để từ đó xác định quyền và nghĩa
vụ của họ cũng chưa thật sự được nghiên cứu một cách cụ thể do đó chưa làm rõ được các căn cứ để giải quyết các tranh chấp về tài sản chung nếu có phát sinh
3 Mục đích nghiên cứu
Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu của tác giả nhằm các mục đích sau:
- Xác định rõ các đối tượng là thành viên trong gia đình từ đó xác định các quyền và nghĩa vụ của họ trong mối quan hệ về tài sản giữa họ với nhau
- Chỉ ra được những sự bất cập thiếu thống nhất giữa các quy định pháp luật
có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật
- Tập trung nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung để đưa ra phương hướng nhận thức chung trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh về quyền và nghĩa vụ của các thành viên đối với tài sản chung của gia đình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn triển khai nghiên cứu các vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về gia đình và các thành viên trong gia đình, vấn đề xác định tài sản chung của gia đình
- Nghiên cứu các quyền và nghĩa vụ nói chung của các thành viên trong gia đình trong việc sử dụng, quản lý và định đoạt đối với tài sản chung của gia đình
- Nghiên cứu và đánh giá tình hình thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật
về quyền và nghĩa vụ thành viên trong gia đình về việc sử dụng, quản lý và định
đoạt tài sản chung là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở (bởi đây là những đối tượng tài sản thường xuyên có tranh chấp trong nhân dân)
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận được tác giả sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp luận triết học Mác-Lênin, sử dụng phép biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp, hệ thống hoá… để xác định rõ tập hợp thành viên trong gia đình, tài sản chung của gia đình, các quyền và nghĩa vụ của họ trong việc
sử dụng, quản lý và định đoạt tài sản chung của gia đình
Trang 104
Trên cơ sở xác định các quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình, tác giả tiến hành đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành để chỉ ra những bất cập của quy định pháp luật trong việc tạo cơ sở pháp lý để các thành viên trong gia đình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
6 Những đóng góp của luận văn
Nội dung luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về gia đình và các thành viên trong gia đình, tài sản chung của gia đình, các quyền và nghĩa vụ của họ đối với tài sản chung của gia đình theo quy định pháp luật Luận văn có các đóng góp sau:
- Nêu ra được các căn cứ để xác định một cá nhân được coi là thành viên trong gia đình
- Nêu ra được các căn cứ để xác định tài sản chung của gia đình
- Tổng hợp được các quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với việc sử dụng, quản lý và định đoạt tài sản chung của gia đình được quy định rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau
- Phân tích một số nội dung của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung để chỉ ra những điểm bất cập, chưa phù hợp thực tiễn và chưa đảm bảo sự thống nhất giữa các quy định pháp luật
- Trên cơ sở phân tích một số bản án của Toà án nhân dân trong việc xét xử các tranh chấp có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung để đưa ra hướng giải quyết phù hợp hơn Nêu một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung
7 Nội dung, kết cấu của luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về tài sản chung của các thành viên trong gia đình Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung và một số kiến nghị
Trang 115
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN CHUNG CỦA CÁC THÀNH VIÊN
TRONG GIA ĐÌNH
1.1 KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH
Khái niệm gia đình đã được nhiều ngành khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc
độ, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau: Triết học, Xã hội học, Tâm lý học, Văn hoá … Theo quan điểm Triết học Mác – Lê Nin thì hôn nhân và gia đình không ngừng vận động và phát triển Gia đình là một phạm trù lịch sử, trong quá trình phát triển lịch sử đã tồn tại bốn hình thái gia đình: gia đình huyết tộc, gia đình Pu-na-lu-
an, gia đình cặp đôi, gia đình một vợ một chồng
Theo quan điểm Xã hội học, khái niệm gia đình trong Giáo trình Xã hội học
trường Đại học Luật Hà Nội như sau: “Gia đình là một thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ ruột thịt (hoặc đặc biệt) cùng chung sống Gia đình là một phạm trù biến đổi mang tính lịch sử và phản ánh văn hoá của dân tộc và thời đại
…”
Dưới góc độ pháp lý có một số các khái niệm cơ bản sau:
+ Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000:
Khái niệm gia đình trong Luật HN&GĐ năm 2000 được giải thích tại khoản
10 Điều 8: “ Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan
hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.”[46] Khái niệm gia đình được các
nhà làm luật xác định dựa trên ba tiêu chí chính, đó là: quan hệ về hôn nhân, quan
hệ về huyết thống, quan hệ về nuôi dưỡng Quan hệ hôn nhân là quan hệ giữa người
vợ và người chồng sau khi hai người đã kết hôn (hợp pháp theo quy định pháp luật)
và đang còn trong thời kỳ hôn nhân (một bên chưa chết hoặc giữa họ tuy có yêu cầu
ly hôn nhưng chưa có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân (TAND) có thẩm quyền quyết định việc cho ly hôn) Quan hệ huyết thống là
quan hệ giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ là cha mẹ đối với con, ông
Trang 126
bà đối với cháu nội và cháu ngoại Tuy các nhà làm luật chỉ liệt kê những người có
họ trong phạm vi ba đời tại khoản 12 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000 nhưng tại
khoản 2 Điều 4 Luật HN&GĐ năm 2000 đã có dự liệu “ cấm ngược đãi hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em và các thành viên khác trong gia đình” Các thành viên khác trong gia đình nếu mở rộng về quan hệ có thể còn
có quan hệ giữa cụ - chắt (đời thứ 4), kỵ - chít (đời thứ 5), các trường hợp quan hệ
như trên rất ít trong thực tế đời sống xã hội nên các nhà làm luật không liệt kê tại khoản 12 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000 Quan hệ huyết thống không chỉ được xác định là quan hệ giữa những người cùng dòng máu về trực hệ mà còn là quan hệ giữa những người có cùng một gốc sinh ra được xác định là có họ trong phạm vi ba đời
Quan hệ nuôi dưỡng được xác định là quan hệ giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi Quan hệ nuôi dưỡng phát sinh khi có sự kiện nhận nuôi con nuôi và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận Quy định về nuôi con nuôi được Luật
HN&GĐ năm 2000 (chưa sửa đổi) quy định tại Điều 67, theo đó: “Giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của Luật này.” Hiện nay chế định về nuôi con nuôi đã
được luật hoá thành luật riêng, quan hệ giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi được quy
định cụ thể tại khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 : “Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con, giữa con nuôi với các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền và nghĩa vụ đối với con nuôi theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình và pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”.[48]
+ Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của trường Đại học Luật Hà Nội đưa
ra khái niệm gia đình như sau: “Gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
là sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất
và tinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước
và xã hội”.[21] Như vậy, cũng tương tự như quy định tại Luật HN&GĐ năm 2000,
giáo trình này cũng lấy ba tiêu chí chính để làm căn cứ xác định một gia đình: quan
hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng
Trang 137
+ Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của Khoa Luật Đại học Cần Thơ nhìn
nhận gia đình dưới góc độ tổ chức con người: “Gia đình là một tổ chức con người vận hành theo quy định của pháp luật Những mối quan hệ gia đình được chi phối không chỉ bởi Luật Hôn nhân và gia đình mà cả bởi Luật Dân sự, Hành chính, Hình
sự …”[25] Cho rằng gia đình là một tổ chức con người không phải là không có yếu
tố hợp lý, tuy nhiên nếu chỉ đơn thuần là tổ chức con người thì sẽ rất dễ nhầm lẫn với những tổ chức con người khác có liên quan đến yếu tố gia đình như hộ kinh doanh, tổ hợp tác…
- Các hình mẫu gia đình tồn tại trong xã hội Việt Nam hiện nay:
Gia đình hiện đại trong xã hội nước ta hiện nay thông thường bao gồm hai thế hệ: cha mẹ và con Tuy nhiên, do ảnh hưởng của đạo đức, phong tục, truyền thống văn hoá – xã hội nên trong xã hội nước ta vẫn tồn tại một số mô hình gia đình đặc biệt
+ Gia đình “tam đại đồng đường”, “tứ đại đồng đường”: là mô hình một gia đình có ba hoặc bốn thế hệ liên tiếp nhau cùng chung sống, cư trú tại một địa điểm
Sự tồn tại của mô hình gia đình nhiều thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà có nhiều nguyên nhân khác nhau như: có thể do nhu cầu nhân lực về sản xuất nông - lâm nghiệp, hoặc do điều kiện khó khăn về kinh tế nên các cặp vợ chồng mới không
có khả năng tách hộ xây dựng nơi ở mới … Hiện nay mô hình gia đình nhiều thế hệ đang được khôi phục trên cơ sở phong tục, truyền thống, đạo đức của dân tộc Việt Nam: ông bà là tấm gương cho con cháu noi theo, phụng dưỡng cha mẹ thể hiện sự biết ơn của con cháu, nhiều thế hệ cùng chung sống cũng thuận lợi cho việc thờ cúng tổ tiên
+ Gia đình – Hộ: Mô hình gia đình – hộ được các nhà làm luật lựa chọn khi xây dựng Luật HN&GĐ năm 1959, năm 1986 và năm 2000 Mô hình gia đình – hộ
là một tổ chức gồm cha, mẹ và con, là đối tượng cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình
Các khái niệm đã nêu trên tuy đã khái quát chung được các yếu tố cơ bản của gia đình nhưng chưa bao quát được những yếu tố vốn đã tồn tại khách quan liên
quan trực tiếp đến quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Ví dụ: vợ, chồng ly
hôn nhưng không phân chia tài sản chung và vẫn ở chung với con cái hoặc quan hệ giữa người lập tự và người hưởng thừa tự; hoặc quan hệ giữa người mà cha mẹ có
Trang 148
nghĩa vụ cấp dưỡng cùng sống chung với cha mẹ, các con … Vì vậy cần bổ sung khái niệm gia đình để có thể bao quát rộng hơn các quan hệ hôn nhân và gia đình tồn tại khách quan ở xã hội nước ta hiện nay:
“ Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc do quan hệ khác được pháp luật thừa nhận, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật.”
1.2 XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH
Gia đình là một tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, có quan hệ huyết thống, có quan hệ nuôi dưỡng được pháp luật thừa nhận Như vậy, các thành viên trong gia đình là một tập hợp những người có quan hệ về hôn nhân, quan hệ về huyết thống, quan hệ về nuôi dưỡng hoặc do quan hệ khác mà giữa những người này có quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản với nhau theo quy định pháp luật nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc và bền vững
1.2.1 Theo quan hệ hôn nhân: Vợ - chồng
Quan hệ hôn nhân là quan hệ cơ bản đầu tiên làm tiền đề cho việc hình thành
và duy trì một gia đình Khi một người nam và một người nữ (đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật) đăng ký kết hôn và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
công nhận việc kết hôn thì quan hệ hôn nhân giữa vợ - chồng được xác lập Trong thực tế, có những trường hợp người nam và người nữ có tổ chức đám cưới nhưng họ không đi đăng ký kết hôn hoặc có đăng ký kết hôn trong khi họ chưa đủ điều kiện kết hôn hoặc nam nữ chung sống như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn trước ngày 03/01/1987 thì tuỳ từng trường hợp mà có sự điều chỉnh của pháp luật khác nhau
- Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi hai người kết hôn theo quy định pháp luật Việc pháp luật công nhận quan hệ vợ chồng giữa một người nam với
một người nữ làm phát sinh quan hệ hôn nhân (hợp pháp) Sau khi được pháp luật
công nhận việc kết hôn thì về mặt pháp lý họ chính thức được xác định là thành viên của một gia đình
- Đối với các cặp đôi nam nữ có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán và sống chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn, mặc dù xã hội coi họ là vợ
Trang 159
chồng nhưng về mặt pháp lý thì họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng Việc nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng và có con với nhau thì quan hệ gia đình giữa hai người đó chỉ có sự ràng buộc chủ yếu về mặt đạo đức, khi cần giải quyết những vấn đề pháp lý phát sinh trong gia đình thì giữa người nam và người
nữ không thể có những quyền, nghĩa vụ của một thành viên trong gia đình một cách đầy đủ
Ví dụ: Năm 2005, anh A và chị B được bố mẹ hai bên tổ chức đám cưới và về
cùng chung sống với nhau Anh A và chị B tuy đủ điều kiện kết hôn nhưng không
đi đăng ký kết hôn Trong quá trình chung sống, anh A đã mua được 1 ngôi nhà, nay thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản thì anh A và chị B không thể đứng tên sở hữu chung với tư cách là vợ chồng được bởi trước pháp luật họ vẫn chưa được công nhận là vợ chồng
Trường hợp ngoại lệ được pháp luật thừa nhận là vợ chồng mặc dù nam nữ sống chung như vợ chồng và không có đăng ký kết hôn Đó là trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 Việc nam nữ chung
sống với nhau như vợ chồng trước thời điểm ngày 03/01/1987 (trước khi Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực) có hai dạng cụ thể sau là được pháp luật công nhận
mặc dù giữa người nam và người nữ không có đăng ký kết hôn:
+ Do nguyên nhân lịch sử và do nhận thức của nhân dân trong thời kỳ trước còn hạn chế, mặt khác do điều kiện của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đăng
ký kết hôn cũng chưa hoàn thiện nên pháp luật vẫn thừa nhận một số quan hệ vợ
chồng Ví dụ: trường hợp cán bộ miền Nam tập kết ra miền Bắc mà họ đã có vợ,
chồng trong miền Nam nay lấy vợ, chồng khác ở miền Bắc Hoặc có thể những người do điều kiện chiến tranh, nhiều người phải nhập ngũ nên không kịp đăng ký kết hôn…
+ Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 chưa đăng ký kết hôn thì Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện để họ đi đăng ký kết hôn, thời gian đi đăng ký không bị hạn chế Nếu họ có nhu cầu xin ly hôn thì theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội khoá 10 về thi hành Luật HN&GĐ năm 2000; Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày
Trang 1610
03/01/2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì Toà án sẽ giải quyết theo thủ tục ly hôn Như vậy trong trường hợp này thì quan hệ hôn nhân giữa người nam và người nữ dù chưa có đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật thừa nhận là vợ chồng
Ngoài hai dạng ngoại lệ cụ thể trên thì các trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng sau ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà không có đăng
ký kết hôn thì pháp luật quy định họ phải đi đăng ký kết hôn trong khoảng thời gian
02 năm Nếu sau khoảng thời gian 02 năm (đến ngày 01/01/2003) mà họ không đi
đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng
Tuy nhiên, theo quy định tại Chỉ thị số 02/2003/CT-BTP ngày 14/7/2003 của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc tiếp tục đăng ký kết hôn cho các trường hợp nam và
nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 thì nếu họ đăng ký kết hôn đúng thời hạn quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 nhưng chưa được cấp giấy đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được công nhận kể từ thời điểm chung sống với nhau trên thực tế; còn nếu họ đăng ký sau thời hạn quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 thì quan hệ vợ chồng chỉ được pháp luật công nhận kể từ thời điểm đăng ký kết hôn
- Trường hợp có đăng ký kết hôn nhưng không được coi là vợ chồng là trường hợp một trong hai người nam nữ hoặc cả hai người nam nữ đều chưa có đủ các điều kiện theo quy định pháp luật để kết hôn, nhưng vì lý do nào đó họ đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn Đây là trường hợp kết hôn trái pháp luật nên vê nguyên tắc sẽ bị huỷ kết hôn trái pháp luật Vì vậy người nam
và người nữ dù vẫn chung sống với nhau nhưng hai người không có tư cách thành viên gia đình một cách đầy đủ Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP khi giải quyết các trường hợp huỷ việc kết hôn trái pháp luật thì:
- Trường hợp do hai bên nam nữ vi phạm quy định về tuổi kết hôn theo quy định pháp luật: Nếu đến thời điểm yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên đã đến tuổi kết hôn, giữa hai người chung sống hạnh phúc, đã có con chung và tài sản chung thì không quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật
- Trường hợp người nam hoặc nữ đang có vợ hoặc đang có chồng nhưng kết hôn với người khác thì tuỳ trường hợp giải quyết:
Trang 171.2.2 Theo quan hệ huyết thống: Cha mẹ - con, ông bà – cháu, anh chị em
ruột với nhau
Sự kiện người mẹ sinh ra người con trong thời kỳ hôn nhân làm phát sinh quan
hệ pháp luật giữa cha mẹ và con Pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam xác định con trong giá thú là con của những cặp vợ chồng hợp pháp Luật HN&GĐ năm
2000 quy định tại khoản 1 Điều 63: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng” Như vậy Luật
HN&GĐ dựa trên nguyên tắc suy đoán pháp lý để xác định cha, mẹ, con trong thời
kỳ hôn nhân Việc xác định quan hệ cha, mẹ và con trong giá thú đơn giản và mang tính ổn định Luật HN&GĐ cũng quy định người con được sinh ra trước khi cha mẹ đăng ký kết hôn nhưng được cha mẹ thừa nhận thì cũng là con chung của vợ chồng Mối quan hệ cha mẹ và con trong trường hợp này do pháp luật quy định như vậy là tôn trọng sự tự nguyện nhận con của vợ, chồng
Theo nguyên tắc suy đoán pháp lý thì người con được pháp luật thừa nhận là con của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì sau khi quan hệ cha mẹ và con được thiết lập thì cũng đương nhiên thiết lập quan hệ ông, bà và cháu, quan hệ anh, chị,
em ruột với nhau Như vậy, khi người nam và người nữ kết hôn với nhau để thiết lập một gia đình thì người con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân đương nhiên có
tư cách thành viên gia đình
Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hiện nay trẻ em được sinh ra qua con đường thụ tinh nhân tạo khá phổ biến Nhiều trường hợp người chồng bị vô sinh hoàn toàn nên không có khả năng lấy tinh trùng để thụ tinh nhân tạo mà là do lấy của người đàn ông khác; hoặc trường hợp người vợ bị vô sinh không có khả năng lấy noãn để thụ tinh nên noãn được lấy từ người phụ nữ khác… Hoặc trường hợp
Trang 18vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân được xác định là cha, mẹ đối với đứa trẻ được sinh ra do thực hiện biện pháp hỗ trợ sinh sản Pháp luật thừa nhận trẻ sinh ra là con của vợ chồng do đó người con đương nhiên là thành viên của gia đình
Việc mang thai hộ và sinh sản vô tính bị nghiêm cấm tại Điều 6 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP Thực tế việc sinh sản vô tính con người hiện nay trên thế giới đều chưa được pháp luật quốc gia nào cho phép, tuy nhiên vấn đề mang thai hộ là vấn
đề cũng khá phổ biến hiện nay ở nước ta Hiện tượng phụ nữ Việt Nam ra nước ngoài mang thai hộ nhưng vì lý do nào đó mà đứa trẻ không được người thuê mang thai nhận vì thế người đã mang thai phải nuôi mặc dù đứa trẻ đó không có một chút quan hệ huyết thống với người mẹ đẻ ra trẻ Hiện nay việc xác định cha, mẹ và con
ở một số nước thừa nhận việc mang thai hộ có xu hướng thừa nhận rằng đứa trẻ là kết quả của việc kết hợp các yếu tố của hai vợ chồng thì người mang thai hộ chỉ đóng vai trò là người hỗ trợ cần thiết cho sự ra đời của đứa trẻ Một số ý kiến hiện nay cũng cho rằng pháp luật HN&GĐ cần bổ sung các quy định về vấn đề mang thai hộ; bởi đây là nhu cầu rất thực tế khi tình trạng các cặp vợ chồng vô sinh ngày càng có xu hướng tăng Trong khi chờ đợi có sự thay đổi, bổ sung của pháp luật thì việc xác định tư cách thành viên trong gia đình theo ý kiến tác giả không phải là không thể xác định được bởi quan hệ cha, mẹ và con còn được xác định dựa trên yếu tố nuôi dưỡng Vì vậy khi cha, mẹ công nhận đứa trẻ là con của vợ chồng thì pháp luật cần tôn trọng sự tự nguyện của họ
* Quan hệ giữa anh, chị, em ruột (cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha)
Nếu việc xác định cha, mẹ và con trong giá thú đơn giản và ổn định thì việc xác định con ngoài giá thú khó khăn và phức tạp hơn nhiều Hiện nay do tiến bộ của khoa học kỹ thuật, việc giám định gien đã cho kết quả chính xác về quan hệ huyết thống giữa cha, mẹ và con Khi đã có căn cứ xác định người con được người vợ
sinh ra trong thời kỳ hôn nhân không phải là là con của người chồng (con riêng của vợ) thì quan hệ giữa người con này với những người con khác của vợ chồng là quan
hệ anh, chị, em cùng một gốc sinh ra Nếu người chồng vẫn thừa nhận là con mình thì trước pháp luật người con đó vẫn là con chung của vợ chồng và do đó vẫn có tư cách thành viên trong gia đình một cách đầy đủ Nếu người chồng chứng minh được
Trang 1913
rằng đứa trẻ sinh ra không có huyết thống với mình và không thừa nhận trẻ là con mình thì tư cách thành viên trong gia đình của đứa trẻ không đầy đủ như những đứa trẻ là con đẻ của người chồng Cũng tương tự như vậy, những người con sinh ra có cùng một cha nhưng khác mẹ hoặc cùng mẹ nhưng khác cha cũng đương nhiên được xác định là có cùng một gốc sinh ra
Tuy nhiên việc xác định thành viên trong gia đình của những người con có thể khác nhau, về nguyên tắc, cha mẹ của người con ngoài giá thú không phải là vợ chồng trước pháp luật Nếu người cha có những người con với người phụ nữ khác không phải là người vợ hoặc người vợ có con với người đàn ông khác không phải là
chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chỉ có thể là con ngoài giá thú (con riêng của người chồng, người vợ) Ví dụ: anh A chị B kết hôn hợp pháp, họ có hai người con
chung là C và D Trong thời kỳ hôn nhân, chị B đã có con là E với một người đàn ông khác E được xác định là con ngoài giá thú của chị B Quan hệ giữa C, D và E
là quan hệ huyết thống họ hàng có chung một gốc sinh
Trên thực tế có những trường hợp có con ngoài giá thú sau:
+ Người con ngoài giá thú vẫn cùng chung sống với cha mẹ đẻ: Trường hợp này giữa người nam và người nữ cùng chung sống với nhau, tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng họ không đăng ký kết hôn, vì vậy trước pháp luật họ không phải là vợ chồng Người con tuy có đầu đủ cha mẹ đẻ nhưng do cha mẹ chưa được pháp luật công nhận là vợ chồng nên bị coi là con ngoài giá thú
+ Người con ngoài giá thú cùng sống chung với mẹ đẻ
+ Người con ngoài giá thú cùng sống chung với cha đẻ
Người con ngoài giá thú sống chung với cha, mẹ đẻ thì dù cha, mẹ đẻ có sống cùng nhau hay không sống cùng nhau thì người con vẫn là thành viên trong gia đình của người cha, mẹ đẻ
Cần có sự phân biệt giữa con sinh ngoài giá thú là con riêng của người vợ, người chồng được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân với con riêng của vợ, chồng có trước khi hai người kết hôn Tính chất của hai mối quan hệ cha, mẹ và con trong hai trường hợp này là khác nhau Nếu người con riêng của vợ, chồng có trước khi kết hôn thì quan hệ cha, mẹ và con trong trường hợp này là quan hệ giữa cha dượng, mẹ
kế với con riêng
1.2.3 Theo quan hệ nuôi dưỡng: Cha mẹ nuôi – con nuôi, bố dượng và mẹ
kế - con riêng của một bên
- Quan hệ cha, mẹ và con có thể được thiết lập qua việc nhận con nuôi Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và
Trang 2014
người được nhận nuôi Sau khi được pháp luật công nhận thì giữa những người nhận nuôi con nuôi và người được nhận nuôi hình thành quan hệ cha mẹ và con Người được nhận nuôi hoàn toàn có đầy đủ tư cách thành viên trong gia đình Việc nhận con nuôi là một yếu tố cơ bản để hình thành một gia đình Khoản 1 Điều 24
Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha
mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự
và các quy định khác của pháp luật có liên quan”[48].Như vậy pháp luật đã quy
định rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi và giữa người con nuôi với những thành viên khác của gia đình Theo tinh thần quy định tại Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì cha mẹ nuôi có nghĩa vụ yêu thương trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và đại diện cho con nuôi trước pháp luật, quản lý tài sản của con nuôi và có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại do con nuôi chưa thành niên gây ra Ngược lại, con nuôi cũng có trách nhiệm yêu quý kính trọng cha mẹ nuôi, hiếu thảo với cha mẹ nuôi, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình, có trách nhiệm nuôi dưỡng và chăm sóc cha mẹ nuôi khi họ đau ốm, già cả
Người con nuôi không chỉ có đầy đủ quyền và nghĩa vụ với cha mẹ nuôi mà còn đối với các thành viên khác trong gia đình như ông bà nội, ngoại, anh, chị, em trong gia đình cha mẹ nuôi Khi người con nuôi có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với các thành viên gia đình, có các quyền và nghĩa vụ đối với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi như con đẻ thì mới có sự hoà nhập thực sự, tránh được sự phân
biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi
Khoản 4 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “ Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thoả thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi” Như vậy, nếu không có thoả thuận riêng giữa cha mẹ đẻ với cha
mẹ nuôi thì kể từ thời điểm giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa
vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại
… cho người con đã cho làm con nuôi Quy định này phù hợp với thực tế bởi khi đã
Trang 2115
cho người con làm con nuôi thì cha mẹ đẻ thường khó có điều kiện thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng con đẻ vì trẻ đã sống cùng với cha mẹ nuôi Tuy nhiên nếu giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thoả thuận riêng thì cha mẹ đẻ vẫn có một số quyền và nghĩa vụ cơ bản đối với con đẻ theo sự thoả thuận giữa hai bên Người con nuôi còn có thể được hưởng các quyền lợi khác từ cha mẹ đẻ trong một số trường hợp đặc biệt, trước đây đã được quy định tại Điều 74 Luật HN&GĐ năm 2000:
“… Con liệt sỹ, con thương binh, con của người có công với cách mạng được người khác nhận làm con nuôi vẫn được tiếp tục hưởng mọi quyền lợi của con liệt
sỹ, con thương binh, con của người có công với cách mạng”(nay theo quy định Luật Nuôi con nuôi) Người con nuôi được hưởng các quyền lợi này từ cha mẹ đẻ thực
hiện theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng
- Quyền và nghĩa vụ giữa bố dượng, mẹ kế với con riêng của một bên chỉ phát sinh khi giữa họ có quan hệ nuôi dưỡng Con riêng có thể là con do người vợ hoặc người chồng có trong các trường hợp sau:
+ Con riêng được sinh ra trong cuộc hôn nhân trước của mỗi người mà không phải là cuộc hôn nhân đang tồn tại
+ Người vợ và người chồng có con riêng với người khác trước cuộc hôn nhân hiện tại
+ Con riêng của người chồng hoặc người vợ với người khác mà không phải là
vợ chồng trong khi cuộc hôn nhân vẫn đang tồn tại
Như vậy con riêng có thể là con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc có trước thời kỳ hôn nhân
Về nguyên tắc, giữa bố dượng mẹ kế với con riêng của một bên không có quyền và nghĩa vụ như giữa cha mẹ với con nhưng nếu giữa họ có sự tự nguyện thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha mẹ và con thì cũng phát sinh quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ bố dượng, mẹ kế với con riêng theo quy định tại Điều 38 Luật HN&GĐ năm 2000 Bố dượng, mẹ kế và con riêng có thể được hưởng thừa kế của nhau khi một trong hai bên chết trước Con riêng đang sống chung cùng với bố dượng, mẹ kế cũng có thể trở thành người giám hộ cho bố
dượng, mẹ kế theo quy định tại Điều 82 Luật HN&GĐ năm 2000: “Trong trường hợp bố dượng, mẹ kế không có người giám hộ theo quy định tại Điều 72 của Bộ
Trang 2216
Luật Dân sự thì con riêng đang sống chung với bố dượng, mẹ kế là người giám hộ, nếu có đủ điều kiện làm người giám hộ”
1.2.4 Các quan hệ khác tồn tại trong thực tế : Con đỡ đầu; người hưởng
thừa tự; người sống nương nhờ; tự nhận là anh - em nuôi; tự nhận là cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau
Trong thực tế đời sống xã hội nước ta còn tồn tại một số mối quan hệ có tính chất gia đình nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh mà chủ yếu do các bên duy trì mối quan hệ dựa trên các quy phạm đạo đức, theo phong tục, tập quán truyền thống Các quan hệ có tính chất gia đình đó thường có các dạng cơ bản sau:
- Quan hệ giữa cha, mẹ đỡ đầu với con đỡ đầu: đây là mối quan hệ giữa một bên nhận làm cha, mẹ đỡ đầu với một bên là trẻ được nhận đỡ đầu Việc nhận đỡ đầu xuất phát tự phong tục cha mẹ đẻ do khó khăn trong việc sinh con, nuôi con nên tìm người có nhân cách, đạo đức, có sức khoẻ để nhờ nhận làm cha, mẹ đỡ đầu cho con đẻ của mình với mục đích mong con được hưởng phúc đức của cha, mẹ đỡ đầu
mà dễ nuôi, khoẻ mạnh, thông minh Như vậy giữa cha, mẹ đỡ đầu và con đỡ đầu không có quan hệ huyết thống và có thể có hoặc không có quan hệ nuôi dưỡng nhưng giữa họ vẫn duy trì mối quan hệ cha mẹ và con trên danh nghĩa
Quan hệ HN&GĐ giữa người đỡ đầu và người được nhận đỡ đầu trước đây
được Luật HN & GĐ năm 1986 quy định tại Điều 46: “Việc đỡ đầu được thực hiện trong trường hợp cần bảo đảm việc chăm nom, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên mà cha mẹ đã chết hoặc tuy cha mẹ còn sống nhưng không
có đủ điều kiện làm việc đó.”[45] Việc cử người đỡ đầu phải được sự công nhận
của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường Qua nội dung quy định trên có thể nhận thấy
có sự giống nhau giữa chế định người đỡ đầu trước đây với chế định người giám hộ trong pháp luật dân sự hiện hành
- Quan hệ giữa người có tài sản nhưng không có người nối dõi với người sẽ được hưởng tài sản của người có tài sản và có nghĩa vụ lo hậu sự và thờ cúng người
có tài sản sau khi người này chết được gọi là người hưởng thừa tự Quan hệ này phát sinh từ phong tục, tập quán thờ cúng người đã chết Thông thường thì giữa người có tài sản và người sẽ được hưởng tài sản có quan hệ họ hàng và có tình cảm
Trang 23gồm “người được nhận làm người thừa tự thì coi như con nuôi của người lập tự và được thừa kế di sản của người đó.”[63] Đây là văn bản pháp luật duy nhất điều
chỉnh vấn đề quan hệ giữa người lập tự với người hưởng thừa tự, BLDS năm 1995
và BLDS năm 2005 đều không đề cập đến mối quan hệ này
- Quan hệ giữa người sống nương nhờ với các thành viên trong gia đình: Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế Theo hướng dẫn tại Phần A Mục III quy định
về diện và hàng thừa kế có hướng dẫn nếu người sống nương nhờ sống cùng với người cấp dưỡng thì sẽ được hưởng một phần di sản của người cấp dưỡng BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005; Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm
2000 không đề cập đến đối tượng này Trong thực tế thì người sống nương nhờ có
thể hoặc không có quan hệ họ hàng với các thành viên gia đình Ví dụ: ông A bà B
là vợ chồng, hai người có con trai chung là C Ông A chết sớm để lại người mẹ đẻ của mình cho bà B nuôi Bà B tái giá với ông D và sinh được con gái E Bà B và ông D vẫn tiếp tục nuôi mẹ đẻ của ông A Xét về quan hệ huyết thống thì E và mẹ
đẻ ông A không có quan hệ họ hàng nhưng anh cùng mẹ khác cha với E là C lại là cháu ruột bà này Mẹ đẻ ông A cũng không có quan hệ họ hàng hoặc bà là người nuôi dưỡng ông D Nhưng những người này vẫn sống chung với nhau, vẫn có quyền
và nghĩa vụ đối với nhau
- Những người không có quan hệ huyết thống với nhau nhưng do quý mến nhau thì họ có thể kết thân với nhau bằng nhiều cách thức để tăng cường tình cảm hai bên với nhau như nhận nhau là anh em nuôi, anh em kết nghĩa hoặc nhận nhau
là cha mẹ nuôi và con nuôi Những người này thường tự nguyện gánh vác các công việc gia đình của người mà mình nhận là anh em nuôi, cha mẹ nuôi nhưng giữa họ không tồn tại một thoả thuận có tính pháp lý nào nên các quan hệ này chỉ có tính chất kết thân chứ không hoàn toàn mang tính chất gia đình
Trang 2418
1.3 CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG
1.3.1 Tài sản của vợ chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân
- Tài sản do vợ chồng tự tạo lập, do được tặng cho chung, được thừa kế chung
Khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung…”[46] Quy
định trên đã cụ thể hóa Điều 58 Hiến pháp năm 1992 về quyền sở hữu của công
dân: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” [30]
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng cùng nhau lao động để tạo ra thu nhập nhằm nuôi sống và phát triển gia đình Việc tạo ra tài sản là việc vợ, chồng dựa theo năng lực, chuyên môn và những điều kiện khác trực tiếp tạo ra tài sản bằng chính sức lao động của mình Tài sản cũng được gián tiếp tạo ra thông qua việc thiết lập các giao dịch dân sự để thu lợi nhuận hoặc là những hoa lợi, lợi tức mà vợ chồng thu được khi khai thác các giá trị của tài sản mà họ đã có Việc tạo ra tài sản không nhất thiết phải do cả hai người cùng lao động để tạo ra Tài sản chung của vợ chồng
có thể chỉ do một người vợ hoặc người chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân Thông thường trong cuộc sống gia đình Việt Nam thì người phụ nữ thường mất nhiều thời gian, công sức cho việc sinh đẻ, nuôi dạy con cái và làm các công việc nội trợ; vì vậy cần phải coi làm các công việc nhà cũng là tham gia vào việc duy trì và phát triển cuộc sống của gia đình Điểm a khoản 2 Điều 95 Luật HN&GĐ 2000 quy
định: “lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”
Khi một người thực hiện các công việc trong gia đình thì lao động của người tạo ra thu nhập đã bao hàm cả lao động của người thực hiện các công việc trong gia đình Tài sản chung của vợ chồng không chỉ do lao động mà còn bao gồm cả các thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP quy định những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 có thể là tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền hưu trí, tiền trúng xổ số mà vợ chồng có được Cũng có thể là những loại tài sản mà
vợ chồng có được thông qua việc xác lập quyền sở hữu theo quy định của BLDS
Trang 2519
2005 như: xác lập quyền sở hữu trong điều kiện pháp luật quy định đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy; vật bị đánh rơi, bị bỏ quên; gia súc gia cầm
bị thất lạc; vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên
Tài sản chung của vợ chồng có thể được hình thành qua con đường nhận thừa
kế, nhận tặng cho chung Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể được người thân, bạn bè để thừa kế, tặng cho tài sản cho chung cả hai người Những tài sản này là một phần trong khối tài sản chung của vợ chồng
- Tài sản riêng của vợ, chồng nhưng được thoả thuận là tài sản chung hoặc
được xác định là tài sản chung Những loại tài sản mà do thỏa thuận là tài sản chung thông thường là tài sản riêng của người vợ hoặc người chồng và về nguyên tắc thì đây là tài sản riêng nhưng vì lý do nào đó trong thời kỳ hôn nhân vợ, chồng thỏa thuận với nhau sáp nhập tài sản riêng này vào tài sản chung của vợ chồng Pháp luật quy định như trên là phù hợp thực tế bởi khi gia đình được thiết lập thì việc một người đưa tài sản riêng của mình để sử dụng chung, phục vụ chung cho các nhu cầu sinh hoạt của các thành viên gia đình cũng là nhằm để duy trì và phát triển gia đình Pháp luật tôn trọng sự định đoạt của chủ sở hữu (trong trường hợp này là người vợ, người chồng) trong việc định đoạt số phận pháp lý đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của riêng họ
- Khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Quyền sử dụng đất mà
vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất
mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận” Quyền sử dụng đất là một loại tài sản đặc biệt
có giá trị rất lớn Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng là nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giữa người vợ và người chồng trong quan hệ tài sản Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ, chồng chỉ được coi là tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng đồng ý sáp nhập vào tài sản chung của vợ chồng
1.3.2 Tài sản chung hình thành từ sự đóng góp của các thành viên trong gia đình
- Các thành viên trong gia đình đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình tùy theo điều kiện kinh tế, khả năng lao động của mỗi người Việc mỗi thành viên trong gia đình đóng góp tài sản riêng của mình hoặc thỏa thuận với các thành viên
Trang 2620
khác của gia đình để tài sản riêng sáp nhập vào tài sản chung của gia đình cũng tương tự như vợ, chồng góp tài sản riêng vào khối tài sản chung Tuy nhiên, tài sản được hình thành khi vợ, chồng đóng góp là tài sản chung hợp nhất, còn tài sản riêng
do các thành viên trong gia đình đóng góp sẽ có thể là tài sản chung hợp nhất hoặc
là tài sản chung theo phần
- Tài sản chung của gia đình cũng có thể được hình thành qua con đường được thừa kế, nhận tặng cho chung Cũng có thể được hình thành qua con đường các thành viên trong gia đình xác lập quyền sở hữu theo quy định pháp luật dân sự
- Quyền sử dụng đất mà các thành viên trong gia đình được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất hoặc có thu tiền sử dụng đất là tài sản chung của các thành viên gia đình Các thành viên trong gia đình đăng ký quyền sử dụng đất qua người đại diện là chủ hộ hoặc ủy quyền cho một thành viên trong gia đình đứng tên chủ quyền sử dụng đất
Trang 2721
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN VÀ
NGHĨA VỤ CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TÀI
SẢN CHUNG
2.1 QUYỀN CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHUNG
2.1.1 Quyền sở hữu
2.1.1.1 Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt
Chế định quyền sở hữu được quy định tại Điều 164 BLDS năm 2005, theo quy
định tại điều này thì: “ … Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.” [3]
Về nguyên tắc, các thành viên trong gia đình là đồng chủ sở hữu đối với tài sản chung đều có quyền của chủ sở hữu trong việc thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung Quyền sở hữu của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung bao gồm các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Pháp luật công nhận quyền sở hữu của các chủ sở hữu tài sản hợp pháp Các thành viên trong gia đình thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung qua các quyền như: quyền chiếm hữu tài sản, quyền sử dụng tài sản, quyền hưởng thụ những lợi ích do tài sản mang lại, quyền chuyển nhượng tài sản cho người khác, quyền cho thuê tài sản để khai thác lợi ích tài sản, quyền thế chấp, quyền tặng cho, quyền để thừa kế tài sản… Các thành viên trong gia đình có quyền quyết định việc phân chia hoa lợi, hoặc lợi nhuận phát sinh từ tài sản, có thể định đoạt tài sản qua các con đường tích cực hoặc
có thể cả tiêu cực như: phá huỷ, vứt bỏ, thủ tiêu đối tượng sở hữu… Các thành viên trong gia đình cũng có thể đồng uỷ quyền để chủ thể khác thay mặt mình thực hiện các quyền sở hữu Tài sản chung của các thành viên trong gia đình có thể là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng hoặc tài sản sở hữu chung theo phần Đối với tài sản chung theo phần thì phần quyền sở hữu của từng thành viên trong gia đình được xác định, trên cơ sở đó từng thành viên thực hiện quyền của mình tương ứng với phần tài sản của mình trong khối tài sản chung Tỷ lệ phần quyền sở hữu của từng thành viên chỉ mang tính tương đối vì có thể có những tài sản chung là
Trang 28có thể là kiểm soát về mặt pháp lý đối với tài sản hoặc là đồng thời vừa quản lý thực
tế vừa kiểm soát về mặt pháp lý Chủ sở hữu tài sản có quyền thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý tài sản của mình phù hợp các quy định pháp luật
Việc chiếm hữu tài sản chung được các thành viên trong gia đình với tư cách
là đồng sở hữu chủ cùng quản lý tài sản trên nguyên tắc thoả thuận, thống nhất ý chí Các thành viên gia đình thực hiện quyền kiểm soát vật chất đối với tài sản
chung qua các hành vi như cất giữ tài sản, nắm giữ tài sản… Ví dụ: Nhà ở là tài sản
chung của gia đình, các thành viên trong gia đình thực hiện việc chiếm hữu qua hành vi ở trong ngôi nhà đó, bảo quản, sửa chữa những hư hỏng của ngôi nhà… Các đồng sở hữu cũng có thể giao cho một người khác quản lý tài sản chung của họ Trong trường hợp này, các thành viên trong gia đình tuy không trực tiếp nắm giữ tài sản nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát đối với tài sản, vẫn giữ quyền chiếm hữu pháp
lý đối với tài sản
Quyền sử dụng được quy định tại Điều 192 BLDS năm 2005: “Quyền sử dụng
là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”[3] Chủ sở hữu tuỳ
vào loại tài sản mà quyết định các biện pháp, cách thức khai thác các giá trị sử dụng của tài sản để phục vụ cho các nhu cầu của mình Những hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác các giá trị sử dụng của tài sản thuộc về chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp
Khi sử dụng tài sản chung, mỗi thành viên trong gia đình có quyền khai thác công dụng và được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản đem lại tương đương với phần
quyền sở hữu của mình Ví dụ: các thành viên trong gia đình có thể quyết định cho
thuê chiếc xe ô tô là tài sản chung của gia đình để hưởng khoản tiền cho thuê xe Trong khi thực hiện quyền năng của chủ sở hữu, các thành viên trong gia đình được toàn quyền quyết định cách thức sử dụng và khai thác tài sản chung của mình để
Trang 2923
vừa đáp ứng được nhu cầu của các thành viên gia đình, vừa khai thác giá trị sử dụng của tài sản đem lại nhiều lợi nhuận nhất Các thành viên trong gia đình có thể tự mình khai thác các công dụng của tài sản hoặc có thể giao quyền sử dụng tài sản của mình cho người khác thông qua hợp đồng dân sự Trong trường hợp này, tuy các thành viên trong gia đình không tự mình sử dụng tài sản nhưng vẫn được hưởng lợi tức do tài sản đem lại
Quyền định đoạt tài sản được quy định tại Điều 195 BLDS năm 2005: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó.” Điều 197 BLDS năm 2005 quy định: “Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi , tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.”[3] Quyền định đoạt là quyền
của chủ sở hữu quyết định số phận pháp lý của tài sản Chủ sở hữu có thể định đoạt
số phận thực tế của tài sản thông qua các hành vi như huỷ bỏ tài sản hoặc từ bỏ tài sản Chủ sở hữu cũng có thể định đoạt số phận pháp lý của tài sản thông qua việc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản cho người khác Các hình thức định đoạt rất đa dạng: bán, tặng cho, cho vay, để thừa kế … Khi thực hiện quyền định đoạt, chủ sở hữu tài sản có thể tự mình định đoạt hoặc uỷ quyền cho người khác định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình Việc định đoạt tài sản của chủ sở hữu không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác
Thành viên trong gia đình có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định pháp luật Thành viên trong gia đình thực hiện quyền định đoạt phần tài sản của mình thông qua các hình thức định đoạt phù hợp
với quy định pháp luật Ví dụ: Khi một thành viên trong gia đình có khả năng về
kinh tế mua được một căn hộ cho riêng mình thì người này có quyền tặng cho phần
sở hữu của mình trong tài sản chung là quyền sử dụng đất của gia đình cho một thành viên hoặc tất cả các thành viên còn lại của gia đình mặc dù chưa chuyển đến ở căn hộ mới mua được Khi thành viên trong gia đình thực hiện việc định đoạt phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, pháp luật cũng buộc họ phải tuân thủ những trình tự, thủ tục nhất định để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các thành viên trong gia đình còn lại
Đối với tài sản chung của vợ chồng, với tư cách là đồng sở hữu chung thì cả người vợ và người chồng đều có quyền ngang nhau trong việc thực hiện các quyền
Trang 30chung của vợ chồng được sử dụng nhằm duy trì và bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của gia đình, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của đời sống chung của các thành viên trong gia đình Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:
“1 Trong trường hợp việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân
sự liên quan đến tài sản có giá trị lớn của vợ chồng hoặc tài sản chung là nguồn sống duy nhất của gia đình… mà pháp luật quy định giao dịch đó phải tuân theo hình thức nhất định, thì sự thoả thuận của vợ chồng phải tuân theo hình thức đó (lập thành văn bản có chữ ký của vợ, chồng hoặc phải có công chứng, chứng thực…)
2 Đối với các giao dịch dân sự mà pháp luật không có quy định phải tuân theo hình thức nhất định, nhưng giao dịch đó có liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình… thì việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch đó cũng phải có sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng”[8] Quyền của vợ, chồng đối với tài sản chung là ngang nhau trừ tài sản
chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng Điều 18 Luật Bình đẳng giới năm
2006 cũng quy định: “1 Vợ chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình… 2 Vợ, chồng có quyền, nghĩa
vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung…”[41] Như vậy quyền sở hữu tài sản
chung của vợ chồng được pháp luật quy định thống nhất, rõ ràng
Quyền của vợ, chồng đối với tài sản chung có điểm khác biệt với quyền của các thành viên trong gia đình đối với tài sản chung vì tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất, người vợ hoặc người chồng không có quyền chuyển nhượng phần quyền của mình cho người thứ ba Còn các thành viên trong gia đình là đồng
sở hữu chung có thể chuyển nhượng phần quyền sở hữu của mình cho người thứ ba
Trang 31- Các cá nhân thành viên trong gia đình phải có năng lực pháp luật, trong một
số trường hợp nhất định thì thành viên trong gia đình khi thực hiện quyền của mình phải có năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật
Ví dụ 1: Đứa trẻ 8 tuổi bán cho người khác chiếc xe đạp mà trẻ đang sử dụng
mà tài sản này là tài sản chung của gia đình thì theo quy định tại Điều 130 BLDS
2005 thì “ Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện cho người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu…”, như vậy chưa cần tính đến việc bán xe đạp cần có sự đồng ý của các đồng
sở hữu khác mà chỉ cần người bán chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì việc giao dịch mua bán đó đã có thể bị coi là vô hiệu
Ví dụ 2: Tài sản chung của gia đình có 01 chiếc xe môtô 100 cm3, tuy đây là tài sản chung của các thành viên trong gia đình nhưng không phải cá nhân thành viên nào cũng có thể sử dụng, cá nhân nào sử dụng phải đáp ứng các điều kiện theo quy định như sức khoẻ, độ tuổi và phải có giấy phép lái xe Theo quy định tại khoản
1 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định về điều kiện người lái xe
tham gia giao thông thì : “Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức
khoẻ quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe
được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp…”[49] Người lái xe
môtô theo quy định trong luật này phải đủ 18 tuổi trở lên, có giấy phép được lái xe
mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên
- Các thành viên trong gia đình được tự mình thực hiện những hành vi theo ý chí của mình nhưng không hoàn toàn tự do, pháp luật đưa ra những quy định hạn chế quyền sở hữu của các chủ sở hữu nhằm ổn định xã hội và phục vụ các lợi ích công cộng Các hạn chế quyền sở hữu được quy định tại Điều 165 BLDS 2005 bao gồm:
Thứ nhất: Các thành viên trong gia đình thực hiện các quyền sở hữu của mình
nhưng không được gây thiệt hại hoặc gây ảnh hưởng đến các lợi ích của Nhà nước,
Trang 3226
lợi ích công cộng Mỗi thành viên trong gia đình cũng đồng thời là một thành viên của xã hội vì vậy khi thực hiện các quyền sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình không thể độc lập mà luôn có sự tác động đến các thành viên khác của xã hội Nhà nước cần có sự đảm bảo cho lợi ích của tất cả các công dân của mình, do
đó việc pháp luật có các quy định hạn chế quyền sở hữu là nhằm bảo đảm cho các
quyền và lợi ích chính đáng của các thành viên xã hội khác Ví dụ: khi các thành
viên trong gia đình quyết định việc tiêu huỷ một chiếc tủ cũ nát của mình bằng cách đốt nó thì cần phải tuân thủ các quy định về phòng cháy, cháy nổ, các quy tắc về vệ sinh môi trường …
Thứ hai: Các thành viên trong gia đình khi thực hiện quyền sở hữu của mình
không được gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác Sự tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của bất kỳ chủ thể nào khi các thành viên trong gia đình thực hiện quyền sở hữu là nhằm ổn định xã hội và cũng đồng thời là cách để các thành viên trong gia đình tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Khi pháp luật có các quy định nhằm hạn chế quyền sở hữu của các chủ thể sở hữu nhằm ổn định xã hội và lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng thì việc vi phạm các quy định này có thể bị cưỡng chế buộc các chủ sở hữu thực hiện đúng các quy định pháp luật
Ví dụ: Tài sản chung của các thành viên trong gia đình có 01 chiếc xe môtô
100 cm3, khi thành viên nào đó chưa đủ điều kiện điều khiển xe môtô theo quy định pháp luật về giao thông đường bộ thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính Điều 24 Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02/4/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đã quy định: “Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới
1 Phạt cảnh cáo người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy…
2 Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
A, Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ
50 cm 3 trở lên…”
* Quyền sở hữu với tài sản chung là Quyền sử dụng đất: Điều 200 BLDS
năm 2005 quy định về tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước đã quy định: “Tài
Trang 3327
sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên…” Quy định
tại Điều 200 BLDS năm 2005 là cụ thể hoá quy định tại Điều 17 Hiến pháp năm
1992: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên trong lòng đất… cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân…”, đất
đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt Do vậy đất đai không thể là sở hữu của riêng ai Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, vì vậy đối với tài sản là đất đai người sử dụng không có đầy đủ các quyền của chủ sở hữu
Thông thường quyền sử dụng đất là tài sản chung của các thành viên trong gia đình là quyền sử dụng đất được Nhà nước cấp cho hộ gia đình, các thành viên trong gia đình thực hiện quyền sử dụng đất của mình theo quy định tại Điều 105, Điều
106 Luật Đất đai năm 2003: quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, quyền cho thuê, quyền để thừa kế, quyền thế chấp, quyền hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất…
Khoản 2 Điều 111 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 quy định
về quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất mà quyền sử dụng đất là tài sản chung:
“a, Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm mà phân chia được theo phần thì từng thành viên của nhóm được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng
b, Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm mà không chia được theo phần thì
do người đại diện của nhóm thực hiện quyền và nghĩa vụ
Từng thành viên uỷ nhiệm cho người đại diện của nhóm để thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại điểm a khoản này theo quy định của pháp luật dân sự…”[6]
Các thành viên trong gia đình thuộc đối tượng trong quy định trên, khi thực hiện các quyền năng đối với quyền sử dụng đất của mình thông qua người đại diện thì phải lập thành văn bản theo quy định pháp luật dân sự kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Nhà nước cấp cho các thành viên
Quy định của pháp luật HN&GĐ về quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ
chồng có điểm riêng biệt, theo Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000: “Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng…” Tài sản
Trang 3428
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hợp nhất Quyền sử dụng đất là tài sản đặc biệt và có giá trị lớn, vì vậy việc quy định tài sản là quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn (trừ trường hợp được thừa kế riêng) là tài sản chung của vợ chồng là nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa người vợ và người chồng trong quan hệ về tài sản Người vợ và người chồng có quyền ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng và thực hiện các quyền khác của người sử dụng đất theo quy định pháp luật Việc định đoạt tài sản chung có giá trị lớn là quyền sử dụng đất phải có
sự đồng ý của cả hai vợ chồng Các giao dịch dân sự do một bên vợ, chồng thực hiện vi phạm quy định này có thể bị vô hiệu
Ví dụ: chị Phạm Thị Mỹ H và anh Vũ Văn X trước đây là vợ chồng, anh chị có
tài sản chung là quyền sử dụng đất nông nghiệp có diện tích 9.632m2
thuộc thửa số 22+31 tại ấp Hoàng Giao huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trong thời gian
chị H không có mặt ở nhà, ngày 30/7/2001 anh X đã viết “Giấy sang nhượng đất vườn” ghi nhận việc bán 9.632m2
đất nông nghiệp thuộc thửa 22+31 nói trên cho
vợ chồng người em ruột Vũ Thị Tuyết N với giá 10 cây vàng Khi vợ chồng xin ly hôn, chị H có quan điểm diện tích 9.632m2 đất nông nghiệp được hình thành từ nguồn vốn riêng của chị nên đó là tài sản riêng của chị Còn anh X thì cho rằng đây
là tài sản chung của vợ chồng, anh X bán không có sự đồng ý của chị H nhưng lý do bán để anh chữa bệnh là hoàn toàn chính đáng nên yêu cầu Toà án công nhận việc mua bán 9.632m2 đất nông nghiệp TAND huyện Châu Đức đã giải quyết sơ thẩm 2 lần (Bản án sơ thẩm số 20/HNGĐ-ST ngày 21/4/2004 và số 16/2006/HNGĐ-ST ngày 16/01/2006) nhưng đều bị 2 bản án phúc thẩm số 11/HNGĐ-PT ngày 21/6/2004 và số 51/DSPT ngày 06/4/2006 của TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử huỷ về phần chia tài sản để giải quyết lại sơ thẩm
Bản án sơ thẩm số 03/2007/HNST ngày 20/11/2007 của TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quyết định: xác định 9.632m2 đất thuộc thửa đất số 22+31 tại ấp Hoàng Giao là tài sản chung của anh Vũ Văn X và chị Nguyễn Thị Mỹ H Công nhận cho chị N được quyền sử dụng 9.632m2 đất thuộc thửa số 22+31 tại ấp Hoàng Giao Chị Phạm Thị Mỹ H kháng cáo yêu cầu xét xử lại Bản án phúc thẩm số 57/2008/HNGĐPT ngày 29/02/2008 của TANDTC tại TP HCM tuyên y án sơ thẩm Chị Phạm Thị Mỹ H có đơn yêu cầu được kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Trang 3529
Quyết định số 13/2010/DS-GĐT ngày 02/4/2010 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã quyết định huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 57/2008/HNGĐ-PT ngày 29/02/2008 và Bản án sơ thẩm số 03/2007/HNST ngày 20/11/2007 nói trên với
nhận định: “Trong thời kỳ hôn nhân đang tồn tại, anh X làm giấy viết tay bán cho chị N (em gái) diện tích đất 9.632m 2 … mà không có sự đồng ý của chị H, không được chính quyền xã xác nhận và đã được giải thích là giao dịch trái pháp luật… Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm công nhận giao dịch mua bán đất giữa anh X với chị N trong khi hợp đồng mua bán này đã vi phạm pháp luật cả
về nội dung và hình thức, là công nhận một giao dịch trái pháp luật.”
Theo nội dung bản án trên có thể nhận thấy lý do anh X bán đất cho chị N để lấy tiền chữa bệnh cho con là hoàn toàn chính đáng vì thời gian này chị H không có mặt ở nhà để chăm sóc con và vì chị H không có mặt ở nhà nên anh X không thể hỏi
ý kiến chị H được Tuy nhiên, quyết định của HĐTP TANDTC là hoàn toàn chính xác, bởi lẽ Toà án không thể công nhận một giao dịch vi phạm pháp luật cả về nội dung và hình thức Vấn đề giải quyết hậu quả giao dịch vô hiệu không được quyết định trên đề cập đến
* Quyền sở hữu đối với tài sản chung là nhà ở: Nhà ở là công trình xây
dựng với mục đích là để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của gia đình và các thành viên trong gia đình, quyền sở hữu nhà ở của các thành viên trong gia đình
được pháp luật bảo hộ Khoản 1 Điều 5 Luật Nhà ở năm 2005 quy định: “1 Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu nhà ở của chủ sở hữu”[47] Thông qua
việc tạo lập nhà ở hợp pháp hoặc thông qua các hình thức khác phù hợp quy định pháp luật, người tạo lập nhà ở hợp pháp có quyền sở hữu đối với nhà ở của mình Các thành viên trong gia đình là đồng chủ sở hữu nhà ở có các quyền của chủ sở hữu tài sản theo quy định tại Điều 21 Luật Nhà ở năm 2005, cụ thể như sau:
- Quyền chiếm hữu đối với nhà ở
Trang 36- Thực hiện các quyền khác theo quy định pháp luật
2.1.1.2 Quyền bảo vệ quyền sở hữu
Chủ sở hữu tài sản là các thành viên trong gia đình có quyền bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản của mình Quyền bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản của chủ sở hữu được pháp luật công nhận Theo quy định tại Điều 12 Hiến pháp năm 1992:
“Mọi hành động xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể
và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật.”[30]
Cụ thể hoá quy định tại Điều 12 Hiến pháp năm 1992, BLDS năm 2005 đã có nhiều điều quy định về việc bảo vệ quyền sở hữu Điều 169 BLDS năm 2005 quy
định: “Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ.”[3] Theo quy định pháp luật thì các thành viên trong gia đình
là đồng sở hữu chung đối với tài sản chung có quyền tự mình bảo vệ quyền sở hữu của mình hoặc yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu của mình Các thành viên trong gia đình tự bảo vệ quyền tài sản của mình bằng nhiều cách thức khác nhau như: bảo quản và giữ gìn tài sản, yêu cầu người có hành
vi xâm phạm tài sản của mình chấm dứt ngay hành vi xâm phạm … Trong khi thực hiện việc tự bảo vệ quyền sở hữu của mình đối với tài sản, các thành viên trong gia đình phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, không vi
phạm các quy định pháp luật Ví dụ: Để bảo vệ nhà và các tài sản khác trong nhà
của mình, chủ sở hữu tài sản có thể làm hàng rào sắt để bảo vệ nhưng không được
sử dụng điện nối với hàng rào thép để chống trộm vì người sơ ý bị điện giật có thể gây chết người
- Việc đòi lại tài sản:
Khi tài sản của mình bị người khác chiếm hữu trái pháp luật, các thành viên trong gia đình có quyền tự mình yêu cầu người đang chiếm hữu trả lại tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, nếu họ không tự nguyện trả lại thì các thành viên trong gia đình có quyền yêu cầu Toà án, Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thông qua các bản
Trang 3731
án, quyết định có hiệu lực pháp luật buộc người chiếm hữu bất hợp pháp trả lại tài sản cho mình Quyền đòi lại tài sản được quy định tại Điều 256 BLDS năm 2005:
“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người
sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó…” Pháp luật đã có quy định cụ thể về quyền đòi lại tài sản, tuy nhiên cũng cần
lưu ý đối với trường hợp các thành viên trong gia đình khởi kiện để đòi lại tài sản là người đang chiếm hữu, sử dụng và được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật phải ngoài ý muốn của các thành viên gia đình Khi nhận lại tài sản, các thành viên trong gia đình không phải bồi thường một khoản tiền nào, trừ những chi phí hợp lý
để duy trì, bảo quản tài sản Nếu người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì lợi ích của họ được pháp luật bảo vệ
- Yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp:
Các thành viên trong gia đình có thể tự mình yêu cầu người có hành vi cản trở mình thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản phải dừng ngay hành
vi cản trở Người có hành vi cản trở nếu không tự nguyện dừng việc thực hiện các hành vi đó thì các thành viên trong gia đình có quyền yêu cầu Toà án, Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thông qua bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật buộc người
có hành vi cản trở phải chấm dứt hành vi vi phạm Điều 259 BLDS năm 2005 quy định quyền yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp Pháp luật quy định chủ sở hữu có quyền yêu cầu này là nhằm tạo điều kiện để chủ sở hữu thực hiện các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của mình
- Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại:
Khi tài sản chung của gia đình bị chủ thể khác xâm phạm làm giảm giá trị hoặc làm cho mất hoàn toàn giá trị sử dụng thì các đồng chủ sở hữu có quyền yêu cầu chủ thể
có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại tương đương với phần giá trị sử dụng của tài sản đã bị mất Các đồng chủ sở hữu cũng có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở mình thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản của mình mà hành vi cản trở đó gây thiệt hại cho chủ sở hữu Nếu chủ thể có hành vi xâm phạm không tự nguyện bồi thường thiệt hại thì các chủ sở hữu có thể yêu cầu
Trang 3832
Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết Việc đòi bồi thường thiệt hại
có thể chỉ là đòi bồi thường giá trị tài sản bị mất hoặc có thể đòi cả giá trị tài sản bị mất và những thiệt hại thực tế nếu có
Ví dụ: Xe ô tô tải là tài sản chung của các thành viên trong gia đình A, hiện đang
được gia đình dùng làm phương tiện chở vật liệu xây dựng cho một công trình xây dựng theo hợp đồng Anh B có hành vi cố ý phá hỏng một số bộ phận của xe ô tô của gia đình A với mục đích làm cho A không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng A có quyền yêu cầu B bồi thường khoản chi phí để sửa chữa xe và khoản thu nhập bị mất trong khoản thời gian A do xe hỏng nên không thực hiện được hợp đồng đã ký kết
2.1.1.3 Quyền đứng tên chủ sở hữu đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu
Đăng ký quyền sở hữu tài sản là việc chủ sở hữu tài sản đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền các thông tin cơ bản, cần thiết liên quan trực tiếp đến tài sản thuộc quyền sở hữu của mình Sau khi chủ sở hữu tài sản đã hoàn thành thủ tục đăng ký theo luật định, chủ sở hữu tài sản sẽ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp văn bản chứng nhận việc đã đăng ký Đăng ký quyền sở hữu tài sản là cơ sở phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật của chủ sở hữu tài sản đối với một tài sản nhất định Việc đăng ký quyền sở hữu tài sản vừa thể hiện quyền làm chủ của người có tài sản vừa phục vụ yêu cầu quản lý của cơ quan Nhà nước có chức
năng quản lý Điều 167 BLDS năm 2005 quy định: “Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký bất động sản Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.”[3] Quy định tại Điều 167 BLDS năm 2005 cho thấy việc đăng
ký quyền sở hữu được dựa trên sự phân biệt hai nhóm tài sản là bất động sản và động sản, như vậy tương ứng với từng nhóm tài sản sẽ có các quy định pháp luật tương ứng về trình tự, thủ tục đăng ký quyền sở hữu
a, Đối với bất động sản: Điều 174 BLDS năm 2005 liệt kê các loại tài sản là
bất động sản bao gồm: đất đai, nhà, các công trình xây dựng gắn liền với đất đai (kể
cả các tài sản gắn liền với các công trình xây dựng đó), các tài sản gắn liền với đất đai và các tài sản khác do pháp luật quy định Hiện nay pháp luật Việt Nam mới ban hành quy định đăng ký quyền sở hữu bất động sản đối với các loại tài sản sau: đăng
Trang 3933
ký quyền sử dụng đất, đăng ký quyền sở hữu nhà, đăng ký quyền sở hữu công trình xây dựng gắn liền với đất đai
+ Việc đăng ký quyền sử dụng đất:
Đất đai là tài sản đặc biệt được Hiến pháp năm 1992 quy định thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu giao quyền sử dụng đất cho các chủ thể
có nhu cầu sử dụng đất Vì vậy Luật Đất đai năm 2003 quy định việc đăng ký quyền tài sản là quyền sử dụng đất vừa nhằm phục vụ yêu cầu về quản lý đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, vừa đảm bảo quyền và lợi ích của người sử dụng đất Người sử dụng đất hợp pháp khi đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Đăng ký quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 46 Luật Đất đai năm 2003, (sửa đổi , bổ sung năm 2009) Theo quy định này thì những trường hợp sau phải đăng ký quyền sử dụng đất:
- Người đang sử dụng đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyến sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, để thừa
kế, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất
- Người nhận chuyển quyền sử dụng đất
- Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật
Theo quy định tại khoản 20 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 (sửa đổi, bổ sung
năm 2009) giải thích: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”.[43]
Các thành viên trong gia đình thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng với Nhà nước thông qua Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ở địa phương Luật Đất đai năm
2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành
Trang 4034
Luật Đất đai quy định việc đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiện trong các trường hợp sau: đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu; đăng ký những biến động về quyền sử dụng đất Các thành viên trong gia đình đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu trong trường hợp họ được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng hoặc họ đang là người sử dụng đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Khi đã được cấp giấy chứng nhận quyến sử dụng đất, các thành viên trong gia đình thực hiện đăng ký những biến động về đất đai trong những trường hợp cụ thể sau:
- Thực hiện các quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, để thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, bảo lãnh, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng đất
- Có sự thay đổi về diện tích, hình dạng thửa đất
- Những thay đổi, biến động khác theo quy định pháp luật đất đai
Điều 2 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 quy định về người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất:
“5 Chủ hộ gia đình là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dung đất của hộ gia đình
…
7 Người đại diện cho những người sử dụng đất mà có quyền sử dụng chung thửa đất là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất đó.”
Điều 39 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 quy định về người
chịu trách nhiệm đăng ký quyền sử dụng đất: “1 Người chịu trách nhiệm đăng ký quyền sử dụng đất là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất quy định tại Điều 2 Nghị định này…”[6]
Đối với tài sản thuộc sở hữu chung của các thành viên trong gia đình, nếu có
từ ba thành viên trở lên, thông thường người đứng tên đăng ký là người đại diện cho quyền và lợi ích của tất cả các thành viên trong gia đình Việc các thành viên thống