1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa đối với các hoạt động y tế ở nước ta hiện nay

83 177 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 895,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Đại hội X đã chỉ rõ một cách toàn diện nội hàm của xã hội hóa hoạt động y tế là: Tăng đầu tư của Nhà nước và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cấp mạng lưới y tế cơ s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ TRANG

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA

ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Chuyên ngành: LUẬT HÀNH CHÍNH

Mã số: 60.38.20

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI THỊ ĐÀO

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu,

số liệu được sử dụng trong luận văn này là trung thực và có nguồn gốc, xuất

xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 3

Chương 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI

HÓA ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 11 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 11

1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÃ HỘI HÓA CÁC HỌAT ĐỘNG Y TẾ 18

1.2.2 Nền kinh tế thị trường tạo cơ sở phát triển các hoạt động y tế 19

1.2.3 Nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế đa dạng của người dân 20

1.2.4 Nguồn lực có hạn của Nhà nước ảnh hưởng đến khả năng đầu tư

1.2.7 Xu hướng phát huy dân chủ, công bằng xã hội và cải cách hành chính

1.3 PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ 23

1.3.1 Các nguyên tắc xây dựng pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế 23

1.3.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế 25

Trang 4

1.3.3 Đặc điểm của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế 26

1.3.4 Vai trò của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế 29

Chương 2 - THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC

32

2.1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ

XÃ HỘI HÓA CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ Ở NƯỚC TA 32

2.1.1 Quá trình phát triển của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế 32

2.1.2 Nội dung pháp luật hiện hành về xã hội hóa các hoạt động y tế 38

2.2 ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ XÃ HỘI HÓA CÁC

2.2.1 Ưu điểm của pháp luật hiện hành về xã hội hóa các hoạt động y tế 45

2.2.2 Hạn chế của pháp luật hiện hành về xã hội hóa các hoạt động y tế 47

2.3 PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM Ở VIỆT NAM 50

2.3.1 Pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế của một số nước 50

2.3.2 Kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế

Chương 3 - YÊU CẦU, QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

55

3.1 YÊU CẦU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ 55

Trang 5

3.1.1 Xu hướng phát triển của y tế 55

3.1.2 Yêu cầu tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật 56

3.2 QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA CÁC

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế phải dựa trên các quan điểm của Đảng về công tác y tế, phù hợp với tính chất, đặc điểm của hoạt động y tế

58

3.2.2 Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế phải bảo

3.2.3 Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế phải bảo đảm tất cả các hoạt động y tế xã hội hóa đều được điều chỉnh bằng pháp luật 60

3.2.4 Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế phải bảo đảm quyền, lợi ích của người dân và chất lượng dịch vụ y tế 61 3.2.5 Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế phải bảo

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ 64

3.3.1 Ban hành Nghị quyết riêng của Bộ Chính trị về xã hội hóa các hoạt động y tế làm cơ sở để hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này 64

3.3.2 Thống nhất và thể chế hóa các khái niệm và nội hàm của khái

3.3.3 Hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực, tiêu chí, quy mô, loại hình cơ sở

3.3.4 Hoàn thiện pháp luật về thành lập và hoạt động của các cơ sở y tế

Trang 6

3.3.5 Hoàn thiện pháp luật về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các

3.3.6 Hoàn thiện pháp luật về huy động các tổ chức xã hội, cộng đồng

3.3.7 Hoàn thiện pháp luật về đổi mới cơ chế chi trả dịch vụ y tế và bảo

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:

Trong nhiều năm qua, công tác y tế đã được Đảng và Nhà nước quan tâm Chủ trương xã hội hóa để huy động mọi nguồn lực tham gia công tác chăm sóc sức khỏe (CSSK) nhân dân đã được thể hiện xuyên suốt trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX, X và XI Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới cũng đã nêu rõ quan điểm thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế Trên cơ sở đó, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế và đã tổ chức thực hiện mang lại những kết quả nhất định

Việc triển khai chính sách, pháp luật về xã hội hóa đã huy động được nhiều nguồn lực xã hội đáp ứng nhu cầu CSSK ngày càng tăng của các tầng lớp nhân dân Người dân biết cách giữ gìn và nâng cao sức khỏe, có cơ hội tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), dễ dàng tiếp cận và hưởng thụ kỹ thuật y tế hiện đại; thầy thuốc được cập nhật, làm chủ kỹ thuật y tế tiên tiến và đời sống được cải thiện một bước Thực hiện xã hội hóa qua liên doanh, liên kết đã góp phần cải thiện đáng kể trang thiết bị (TTB) y tế của bệnh viện công ở nhiều vùng trong thời gian ngắn, góp phần đưa kỹ thuật y tế Việt Nam dần theo kịp với các nước trong khu vực Đông Nam Á, hạn chế việc người Việt Nam phải ra nước ngoài khám, chữa bệnh (KCB) Gần 70.000 cơ sở KCB tư nhân, gần 143 bệnh viện tư nhân, trong đó có những bệnh viện tư nhân với TTB y tế hiện đại đã đóng góp đáng kể cho sự nghiệp CSSK nhân dân Người nghèo, người cận nghèo, người tàn tật, người cao tuổi, trẻ em, người dân ở vùng miền núi, các dân tộc thiểu số

ở vùng sâu, vùng xa ngày càng được CSSK tốt hơn nhờ sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và sự hỗ trợ qua hoạt động từ thiện nhân đạo.[24], [8]

Trang 9

Tuy nhiên, việc thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế vẫn còn nhiều hạn chế, vướng mắc Bên cạnh hạn chế về nhận thức của các cấp, các ngành cũng như của xã hội, một trong những nguyên nhân quan trọng là sự hạn chế của các quy định pháp luật trong lĩnh vực này

Trong thời gian tới, do sự phát triển của các hoạt động y tế và nhu cầu CSSK nhân dân, pháp luật về xã hội hóa đối với các hoạt động y tế cần tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện nhằm bảo đảm huy động hiệu quả các nguồn lực tham gia công tác CSSK nhân dân

Dưới góc độ khoa học pháp lý, những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế hiện nay vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều

Từ các lý do trên, việc nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế ở nước ta hiện nay là rất cần thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

Về mặt lý luận, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế là vấn đề mới

ở Việt Nam đã được một số nhà khoa học và hoạt động thực tiễn quan tâm

nghiên cứu Trong đó, nổi bật là các công trình: Nghiên cứu thực trạng và xây

dựng mô hình huy động xã hội thực hiện xã hội hóa y tế đảm bảo công bằng và hiệu quả trong CSSK nhân dân, Đề tài khoa học cấp Bộ, Viện Chiến lược và

Chính sách y tế, 2000; TS Lê Chi Mai, Chuyển giao dịch vụ công các cơ sở

ngoài nhà nước - Vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội 2002;

GS.TSKH Phạm Mạnh Hùng, xã hội hóa công tác y tế: Những vấn đề đặt ra, Tạp chí Khoa giáo, số 10-2005; TS Chu Văn Thành, Dịch vụ công - Đổi mới

quản lý và tổ chức cung ứng ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc

gia 2007; ThS Nguyễn Huy Quang, Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà

nước về xã hội hóa công tác y tế, Tạp chí Lập pháp, số 7-2008; Hoàn thiện khung pháp luật về xã hội hóa cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, Trường Đại

Trang 10

học Luật Hà Nội, 2010 Các tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đã hỗ trợ triển khai một số nghiên cứu

về xã hội hóa y tế Các công trình này đã phân tích khá chi tiết những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xã hội hóa cung ứng dịch vụ công hiện nay ở nước ta, trong đó có xã hội hóa dịch vụ y tế

Tuy nhiên, các công trình nêu trên chủ yếu tập trung nghiên cứu đối với quản lý nhà nước (QLNN) về xã hội hóa y tế, tiếp cận dưới góc độ của khoa học quản lý hành chính công hoặc pháp luật về xã hội hóa dịch vụ công nói chung Việc nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa đối với các hoạt động y tế, tuy đã được đặt ra ở một số đề tài khoa học nhưng còn mang tính khái quát hoặc nặng về nội dung QLNN về y tế hoặc về cung ứng dịch vụ công nói chung Chưa có công trình nào chuyên sâu nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về xã hội hóa đối với các hoạt động y

tế, tìm ra những những ưu, nhược điểm và đề xuất phương hướng hoàn thiện

3 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu đối với pháp luật về xã hội hóa các hoạt động

y tế bao gồm toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của Nhà nước liên quan đến xã hội hóa các hoạt động y tế, lấy mốc thời gian từ năm 1989 là năm ban hành Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân đến nay

4 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:

4.1 Về mục đích, đề tài tập trung nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa đối với các hoạt động y tế ở nước ta hiện nay

4.2 Về nhiệm vụ, đề tài đã đưa ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận của pháp luật về xã hội hóa đối với các hoạt động y tế dưới góc độ của khoa học pháp lý

- Đánh giá thực trạng và rút ra những ưu, nhược điểm cơ bản của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế ở nước ta hiện nay

Trang 11

- Phân tích một số kinh nghiệm pháp luật quốc tế về xã hội hóa các hoạt động y tế để rút ra những kinh nghiệm có giá trị lập pháp, lập quy và vận dụng

có chọn lọc vào thực tiễn Việt Nam

- Đề xuất quan điểm, một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế ở nước ta hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng các phương pháp trong nghiên cứu luật học bao gồm: mô

tả, phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, thống kê, lịch sử, biện chứng và dự báo để chọn lọc tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn Trong đó, phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

Đây là công trình chuyên khảo bước đầu nghiên cứu tương đối toàn diện một số vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về xã hội hóa đối với các hoạt động y tế ở nước ta hiện nay Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bước đầu góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế; có thể được sử dụng để tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế Về mặt thực tiễn, kết quả của đề tài có thể áp dụng vào công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế ở nước ta hiện nay

7 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận của pháp luật về xã hội hóa đối với các hoạt động y tế ở nước ta hiện nay

Chương 2: Thực trạng pháp luật về xã hội hóa đối với các hoạt động y tế

ở nước ta hiện nay và kinh nghiệm của một số nước

Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa đối với các hoạt động y tế ở nước ta hiện nay

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA ĐỐI

VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN:

1.1.1 Hoạt động y tế:

Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa “Sức khỏe là trạng thái thoải mái cả về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật” Điều này cho thấy, có rất nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe con người bao gồm môi trường sống; nhận thức, hành vi, lối sống của con người và các hoạt động y tế Tuy nhiên, các hoạt động y tế là yếu tố cuối cùng tác động đến sức khoẻ con người

Để có cơ sở xã hội hóa các hoạt động y tế, cần xác định phạm vi các hoạt động y tế mà Nhà nước tập trung quản lý Bởi vì, chỉ có những hoạt động y tế nào Nhà nước có trách nhiệm tổ chức, quản lý để cung cấp cho đông đảo người dân thì Nhà nước mới xem xét để xã hội hóa Hiện nay, các hoạt động y tế thuộc phạm vi quản lý của Nhà nước bao gồm:

Thứ nhất, về y tế dự phòng và môi trường: phòng, chống dịch bệnh,

kiểm dịch y tế, HIV/AIDS; tai nạn thương tích, sức khỏe trường học, sức khỏe lao động và bệnh nghề nghiệp; dinh dưỡng cộng đồng; vệ sinh an toàn nước uống, nước sinh hoạt; CSSK ban đầu; truyền thông giáo dục sức khỏe; hóa chất, chế phẩm diệt khuẩn, diệt côn trùng dùng trong gia dụng và y tế

Thứ hai, về an toàn thực phẩm: xây dựng tiêu chuẩn, quy trình, quy

chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật bảo đảm an toàn thực phẩm; kiểm nghiệm, kiểm tra, công bố, công nhận chất lượng về an toàn thực phẩm

Thứ ba, về KCB: các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, điều dưỡng, phục

hồi chức năng, chỉnh hình, thẩm mỹ, giám định (y khoa, pháp y, pháp y tâm thần), sức khỏe sinh sản và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình

Trang 13

Thứ tư, về y, dược học cổ truyền: khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, kiểm

nghiệm thuốc đông y, điều kiện hành nghề y, dược cổ truyền

Thứ năm, về thuốc và mỹ phẩm: sản xuất, lưu thông và nhập khẩu thuốc,

nguyên liệu làm thuốc; chế độ sử dụng thuốc, xây dựng dược điển, dược thư quốc gia; điều kiện hành nghề dược; kiểm nghiệm, nghiên cứu, đăng ký thuốc,

Thứ sáu, về TTB y tế: sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm định về TTB y

tế [13]

Đối với các hoạt động về đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, quản lý, quản lý các tổ chức sự nghiệp trực thuộc Bộ ít có tính đặc thù riêng nên không đề cập sâu trong Luận văn này nhưng có thể phân tích mở rộng thêm

Trong phạm vi Luận văn này, có thể thống nhất cách hiểu về hoạt động y

tế làm cơ sở cho việc phân tích các nội dung tiếp theo như sau:

- Hoạt động y tế là hoạt động cụ thể của lĩnh vực y tế để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe con người

- Hoạt động y tế có sản phẩm là các hàng hóa, dịch vụ y tế có đặc thù so với các hàng hoá, dịch vụ thông thường khác

- Hoạt động y tế là một loại hoạt động dịch vụ công, do Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và được quản lý bởi Nhà nước

1.1.2 Xã hội hóa:

Trong bối cảnh thực hiện xã hội hóa hoạt động dịch vụ công nói chung

và xã hội hóa hoạt động y tế nói riêng ở nước ta hiện nay, cụm từ xã hội hóa có nhiều cách hiểu khác nhau

Trong xã hội học, xã hội hóa (socialization) dùng để chỉ một quá trình xã hội mà theo đó con người học cách thích ứng với xã hội, hội nhập các chuẩn mực, quy tắc xã hội, là quá trình tạo dựng những thuộc tính xã hội cho một cá thể để giúp cá thể đó trở thành một thành viên hoàn chỉnh đảm đương được vai trò như mong muốn của xã hội Quá trình này diễn ra từ khi con người được sinh ra đến khi chết đi Nhờ có quá trình xã hội hóa mà xã hội luôn tồn tại bền

Trang 14

vững, bởi lẽ thông qua quá trình này nền văn hóa của các xã hội được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác

Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên, 1980) giải thích: xã hội hóa là làm cho trở thành của chung của xã hội, ví dụ xã hội hóa tư liệu sản xuất, tức là quốc hữu hóa tư liệu sản xuất Nghĩa của cụm từ này trong các tiếng nước ngoài cũng tương tự Theo nguyên nghĩa tiếng Anh, “socialization” thường được dùng theo nghĩa “tập thể hóa”, “đặt dưới chế độ cộng đồng”, “quản lý hay điều khiển (của Nhà nước) nhân danh xã hội” tức là những gì được xã hội hóa thì phải được Chính phủ cung cấp miễn phí Chẳng hạn, “socialized medicine” là “y tế (được) xã hội hóa ” tức là sự chăm sóc y tế được Chính phủ cung cấp miễn phí cho người dân[3]

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, xã hội hóa nói lên sự chuyển hóa từ tính chất cá nhân thành tính chất xã hội Ta dùng chữ "hóa" là nói đến sự chuyển hóa từ cái này sang cái kia Ví dụ: "Công nghiệp hóa" là nói sự chuyển hóa từ một nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp "Hợp tác hóa" trong nông nghiệp nghĩa là chuyển từ sản xuất cá thể sang sản xuất tập thể.[15]

So với nghĩa thông dụng nêu trên thì khái niệm xã hội hóa được dùng hiện tại ở Việt Nam có một số khác biệt Tuy nhiên, việc dùng một khái niệm theo nghĩa khác với nghĩa thông thường là một hiện tượng không xa lạ Đấy có thể là sự phát triển tự nhiên của ngôn ngữ, cũng có thể vì những lý do khác Trong trường hợp này, cần phải đặt vào bối cảnh của Việt Nam để hiểu được bản chất của xã hội hóa mà chúng ta đang thực hiện

Một số người cho rằng, xã hội hóa là quá trình chuyển giao để khu vực ngoài nhà nước thực hiện những công việc trước đây do Nhà nước làm hoặc quan niệm rằng đúng ra Nhà nước phải làm hoặc chỉ là biện pháp huy động nguồn lực tài chính của khu vực ngoài nhà nước Theo đó thì xã hội hóa là sự chuyển giao đơn thuần về chủ thể thực hiện hoặc chỉ là một biện pháp huy động tài chính ngoài ngân sách để tăng cường đầu tư cho một số lĩnh vực cụ thể Người ta dẫn

Trang 15

chứng việc thực hiện chủ trương đó như là “khuyến khích thành lập bệnh viện tư,

cơ sở giáo dục tư, tổ chức nghiên cứu khoa học tư” Cách hiểu này đã khiến cho không ít người nghĩ rằng xã hội hóa là tư nhân hóa hoặc chỉ đơn thuần là huy động tiền của dân, giảm gánh nặng cho ngân sách, chuyển cho cộng đồng tự lo liệu, dẫn đến buông lỏng quản lý, cắt giảm đầu tư của Nhà nước

Khi đề cập đến mối quan hệ giữa xã hội hóa và vai trò của Nhà nước, có

ý kiến cho rằng: Nhà nước nhân danh xã hội để quản lý xã hội Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) là Nhà nước "của dân, do dân và vì dân", thực sự đại diện cho toàn xã hội, chứ không phải chỉ là một bộ phận của xã hội Do đó, Nhà nước và xã hội là một, xã hội không thể “to” hơn Nhà nước nên không thể có xã hội hóa được Trước đây, Nhà nước đã xã hội hóa tràn lan bằng cách “ôm” hết mọi việc và đến nay Nhà nước phải tự thu hẹp lại, để cho tư nhân phát triển.[10] Cách hiểu này có những điểm chưa phù hợp Bởi vì, bên cạnh tính xã hội thì Nhà nước nào cũng mang tính giai cấp Nhà nước chỉ đại diện cho xã hội, thực hiện các chức năng xã hội chứ không thể đồng nhất Nhà nước là xã hội Đồng thời, nếu cho rằng trước đây Nhà nước đã xã hội hóa rồi và bây giờ Nhà nước thu hẹp lại để cho tư nhân phát triển thì đã nhầm lẫn xã hội hóa là tư nhân hóa

Trái ngược với quan điểm trên là quan điểm Nhà nước chỉ là một bộ phận của xã hội Các loại tổ chức của xã hội có thể phân thành ba loại khác nhau là: khu vực công (public sector), khu vực tư nhân (pivate sector) và khu vực xã hội (social sector) (còn gọi là khu vực phi lợi nhuận, xã hội dân sự, phi chính phủ).[1] Theo cách nhìn này, Nhà nước chỉ là một phần của xã hội Nhà nước chỉ nên làm công việc của chính mình và tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để cho khu vực tư nhân và khu vực xã hội hoạt động hiệu quả Do đó, xã hội hóa có thể được hiểu như quá trình khu vực công chuyển trả lại các chức năng của khu vực

xã hội mà nó đã lấn chiếm cho bản thân khu vực xã hội, tạo điều kiện cho các khu vực đó phát triển một cách cân đối cùng khu vực công Nhưng quan điểm này dễ dẫn đến cách hiểu việc gì đã xã hội hóa thì Nhà nước không phải lo nữa

Trang 16

Ngoài ra, không ít người có ý kiến, khái niệm xã hội hóa hiện được dùng

ở Việt Nam có vẻ gần với khái niệm quan hệ hợp tác công tư (public-private partnership - PPP) Đó là việc Nhà nước cùng với một hoặc nhiều đối tác thuộc khu vực tư nhân hay xã hội dân sự cùng phối hợp và chia sẻ rủi ro để thực hiện

dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung ứng dịch vụ công cộng trên cơ sở hợp đồng quan hệ đối tác Tuy nhiên, cần phải khẳng định hợp tác công - tư chỉ có thể được coi là một nội dung của xã hội hóa

Trong các văn bản của Đảng cũng như pháp luật của Nhà nước ta, khái niệm xã hội hóa không được định nghĩa thống nhất Xã hội hóa được sử dụng trong nhiều bối cảnh và điều kiện khác nhau tùy theo văn bản đó đề cập đến nội dung cụ thể nào Theo các văn bản này, xã hội hóa được hiểu như sau:

“Xã hội hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó.”; “Xã hội hóa là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa.”; “Xã hội hóa là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, ".[14]

Theo đó, nội hàm của xã hội hóa bao gồm sự tham gia của cả Nhà nước

và người dân, bao gồm cả nhân lực, vật lực, tài chính, phương thức hợp tác và

cơ chế thực hiện Tuy nhiên, do được nêu ở các văn bản khác nhau, trong phạm

vi khác nhau nên khái niệm về xã hội hóa vẫn chưa mang tính toàn diện, chưa giúp người dân tiếp cận và hình dung một cách cụ thể nhất, đầy đủ nhất

Từ những phân tích trên đây, một cách chung nhất có thể hiểu“Xã hội

hóa là việc huy động, tạo điều kiện và tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân, của toàn xã hội cùng với Nhà nước chia sẻ trách nhiệm, đầu tư, phát triển các hoạt động trong một số lĩnh vực cụ thể.” Theo cách hiểu này, có

một số điểm cần chú ý về xã hội hóa như sau:

Trang 17

Một là, xã hội hóa bao hàm việc cho phép tư nhân tham gia nhưng sự

tham gia này luôn được đặt trong việc tăng cường trách nhiệm của Nhà nước để bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng nên không phải là tư nhân hóa

Hai là, xã hội hóa là sự huy động toàn diện về nhân lực, vật lực, tài chính,

trí tuệ, sự phối hợp và chia sẻ chứ không đơn thuần chỉ là huy động tài chính

Ba là, xã hội hóa không làm mất đi vai trò của Nhà nước Nhà nước

không chuyển giao hoàn toàn cho xã hội và buông lỏng quản lý các hoạt động

đã được xã hội hóa mà vẫn tiếp tục quan tâm đầu tư, phát triển một cách hiệu quả hơn và duy trì quản lý bằng các công cụ pháp luật, chính sách vĩ mô

1.1.3 Xã hội hóa các hoạt động y tế:

Từ cách hiểu về khái niệm hoạt động y tế và khái niệm xã hội hóa đã nêu

ở trên cho thấy “Xã hội hóa các hoạt động y tế là việc huy động, tạo điều kiện

và tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân, của toàn xã hội cùng với Nhà nước chia sẻ trách nhiệm, đầu tư, phát triển các hoạt động cụ thể của lĩnh vực y tế để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe con người.”

Nội dung về xã hội hóa các hoạt động y tế đã được nhiều nhà quản lý, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

Theo một nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế, nội dung của xã hội hóa y tế bao gồm: Sự phối hợp liên ngành trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt; sự tham gia của nhiều lực lượng xã hội, đặc biệt là sự tham gia chủ động, tích cực của cộng đồng và mỗi người dân trong các hoạt động y tế; huy động được nhiều nguồn lực khác nhau trong xã hội của trung ương, địa phương, tổ chức xã hội, cá nhân và tài trợ nước ngoài cho hoạt động y tế.[26] Tuy nhiên, việc coi phối hợp liên ngành và tài trợ nước ngoài cũng là nội dung của xã hội hóa y tế có vẻ chưa phù hợp vì phối hợp liên ngành vốn là một nội dung của QLNN và tài trợ nước ngoài nên được hiểu là huy động nguồn lực quốc tế

Trang 18

Theo GS.TSKH Phạm Mạnh Hùng [21], năm khía cạnh nội hàm của chủ trương xã hội hóa y tế bao gồm: Cộng đồng phát động phong trào và vận động chăm sóc sức khoẻ; Phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị và tổ chức xã hội

- nghề nghiệp trong hoạt động CSSK; Kêu gọi và tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần y tế ngoài công lập xuất hiện và trở thành một bộ phận của ngành y tế; Vai trò đề xuất chủ trương và chính sách CSSK của cơ quan QLNN về y tế; Xác định đúng mục tiêu ưu tiên của việc xã hội hóa y tế trong giai đoạn hiện nay Cách tiếp cận này khá phù hợp với khái niệm đã nêu ở trên cũng như quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xã hội hóa các hoạt động y tế

Bên cạnh đó, nhiều văn bản của Đảng đã đề cập đến nội dung này Nghị quyết Đại hội X đã chỉ rõ một cách toàn diện nội hàm của xã hội hóa hoạt động

y tế là: Tăng đầu tư của Nhà nước và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở và hệ thống y tế, có chính sách trợ giúp các đối tượng chính sách, người nghèo, người có thu nhập thấp được tiếp cận dịch vụ y tế; phát triển hệ thống y tế dự phòng, trang bị kiến thức và kỹ năng để mỗi người dân có khả năng chủ động phòng bệnh và rèn luyện sức khoẻ; khuyến khích phát triển các cơ sở y tế thuộc nhiều hình thức sở hữu; sửa đổi chính sách viện phí theo nguyên tắc xác định đầy đủ chi phí KCB và chia sẻ hợp lý trách nhiệm chi trả giữa nhà nước, xã hội và người bệnh; phát triển và nâng cao chất lượng BHYT, xây dựng và thực hiện tốt lộ trình tiến tới BHYT toàn dân, đổi mới phương thức thanh toán viện phí qua quỹ BHYT.[10]

Như vậy, xã hội hóa hoạt động y tế ở Việt Nam có thể khái quát ở những nội dung cơ bản sau đây:

- Cộng đồng phát động phong trào chăm sóc, nâng cao sức khỏe để người dân tích cực hưởng ứng các chủ trương, chính sách y tế của Nhà nước, trang bị kiến thức và kỹ năng để mỗi người dân có khả năng chủ động phòng bệnh và nâng cao sức khoẻ

Trang 19

- Chuyển đổi các cơ sở y tế công lập đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ trong cung ứng dịch vụ y tế không bao cấp tràn lan và không nhằm lợi nhuận

- Huy động mọi nguồn lực sẵn có trong xã hội để tổ chức cung ứng dịch

vụ y tế đáp ứng nhu cầu của các thành viên trong xã hội; khuyến khích phát triển các cơ sở y tế ngoài nhà nước với các loại hình dân lập, tư nhân và doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận hoặc có lợi nhuận

- Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tiếp tục tăng đầu tư từ ngân sách đi đôi với hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế quản lý, tạo điều kiện và có chính sách khuyến khích để phát huy khả năng đầu tư, đóng góp kinh phí trong xã hội; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra

- Phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức quần chúng, các hội nghề nghiệp trong việc giám sát hoạt động của các cơ sở y tế được xã hội hóa

- Đổi mới cơ chế tài chính y tế, thực hiện BHYT toàn dân, đồng thời Nhà

nước có chính sách trợ giúp các đối tượng chính sách, người nghèo, người có thu nhập thấp được tiếp cận dịch vụ y tế

Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của hoạt động y tế, có hai nội dung không thuộc phạm vi xã hội hóa là chưa cổ phần hóa các cơ sở y tế công lập và không được chuyển các cơ sở y tế công lập sang hình thức ngoài công lập vì không thực hiện tư nhân hóa hoạt động y tế

1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÃ HỘI HÓA CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ:

Chủ trương xã hội hóa hoạt động y tế ở nước ta hiện nay không chỉ ra đời trên cơ sở khoa học vững chắc mà còn xuất phát từ cơ sở thực tiễn, cụ thể là:

1.2.1 Sự phát sinh, phát triển của các hoạt động y tế:

Là quốc gia đang phát triển và tham gia sâu rộng vào xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đang đứng trước những thay đổi cơ bản về cơ cấu bệnh, về dịch tễ học Một số dịch bệnh truyền nhiễm như cúm A H5N1, H1N1, chân tay miệng

Trang 20

đều đặn xuất hiện và gia tăng Tuổi thọ trung bình của người dân tăng, số người già tăng và kèm theo là các bệnh của người già như tim mạch, huyết áp, hô hấp, suy thận…cũng tăng Hành vi, thói quen ăn uống chưa khoa học, ít rèn luyện thân thể, sử dụng rượu bia, thuốc lá, thực phẩm kém chất lượng làm gia tăng các bệnh không lây nhiễm như ung thư, tim mạch, tiểu đường,… Nhu cầu phòng bệnh và chữa bệnh của người dân theo đó cũng tăng lên

Về khoa học và công nghệ, những phát minh quan trọng về sinh hóa, di truyền, mô phôi, miễn dịch học, tế bào gốc… đã giúp nền y học hiện đại dần thay thế các phương pháp y học truyền thống Cuộc cách mạng trong chẩn đoán (CT-scanner, MRI, PET-CT, xét nghiệm gen…), trong điều trị (can thiệp mạch máu, cấy ghép mô tạng, thụ tinh nhân tạo, nuôi cấy tế bào gốc…), trong sản xuất vắc-xin, dược phẩm đã tạo ra những thành tựu to lớn của y, dược học thế giới cũng như Việt Nam Từ đó, các dịch vụ y tế ngày càng phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng Người dân có được cơ hội gia tăng tiếp cận và lựa chọn dịch vụ y tế phù hợp với nhu cầu sức khỏe và khả năng chi trả của họ

1.2.2 Nền kinh tế thị trường tạo cơ sở phát triển các hoạt động y tế:

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường khiến cho vai trò của Nhà nước dần thay đổi Công tác y tế từ chỗ được coi là nhiệm vụ của Nhà nước nay phải chuyển thành nhiệm vụ chung của xã hội, từ chỗ là một nền y tế bảo trợ, cào bằng sang nền y tế phục vụ, công bằng Nhờ đó, Nhà nước tạo điều kiện cho nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia cung cấp dịch vụ y tế

Các quy luật của nền kinh tế thị trường có tác động nhất định đến cách thức cung cấp dịch vụ y tế Giá cả dịch vụ phải được tính đúng, tính đủ các chi phí không phụ thuộc vào việc ai là người cung cấp dịch vụ và ai là người hưởng thụ Nhà nước có thể trợ cấp trực tiếp cho người thu nhập thấp theo cơ chế riêng Người có thu nhập cao phải tự chi trả dịch vụ theo khả năng vì Nhà nước không thể trợ cấp cào bằng thông qua giá dịch vụ y tế thấp cho cả các đối tượng này

Trang 21

1.2.3 Nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế đa dạng của người dân:

Nếu trước đây, chỉ đến khi có bệnh người dân mới đến cơ sở y tế để điều

trị thì ngày nay người dân đã biết chủ động sử dụng dịch vụ y tế Bên cạnh đó,

sự phân nhóm thu nhập đã khiến một bộ phận người có thu nhập khá và cao có

nhu cầu hưởng thụ các dịch vụ y tế đắt tiền như: phẫu thuật thẩm mỹ, bệnh viện

khách sạn, bác sỹ gia đình

Cùng với sự nâng cao trình độ dân trí thì hiểu biết của người dân về

CSSK cũng tăng lên đáng kể Đã qua thời kỳ có bác nông dân mang rổ chanh ra

chợ bán rồi mua mấy ống Vitamin C nhờ cô y tá tiêm "cho nó bổ và cho nó

đau" Ngày nay, đa số người dân đã được tiếp cận kiến thức phổ thông về

phòng bệnh, biết tự chọn thầy, chọn thuốc, chọn phương pháp điều trị theo tư

vấn của thầy thuốc, chọn cơ sở y tế có uy tín, chất lượng để KCB Những thay

đổi cơ bản này đã tác động đến phương thức cung cấp dịch vụ y tế

1.2.4 Nguồn lực có hạn của Nhà nước ảnh hưởng đến khả năng đầu

tư cho các hoạt động y tế:

Trong ba nguồn tài chính của y tế là ngân sách, viện phí và BHYT thì

ngân sách vẫn là nguồn chủ yếu Trong điều kiện ngân sách hạn hẹp lại phải

dành cho các mục tiêu ưu tiên như phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng thì

ngân sách dành cho y tế chưa đáp ứng được các yêu cầu chi tiêu cơ bản

Bên cạnh đó, y tế là lĩnh vực đầu tư tốn kém Vốn đầu tư xây dựng một

bệnh viện quy mô trung bình khoảng 20-25 triệu USD, trong đó TTB y tế chiếm

khoảng 50% tổng vốn đầu tư [23] Cho nên, Nhà nước cần có cơ chế phù hợp

để huy động xã hội đầu tư cho y tế, góp phần giải quyết những khó khăn bức

xúc trước mắt đang đặt ra do sự bất cân đối giữa mức tăng trưởng chậm của nền

kinh tế với nhu cầu bức thiết về phát triển xã hội ở nước ta

Trang 22

1.2.5 Sự quá tải, bất cập của hệ thống y tế công:

Công tác y tế trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng vẫn còn không ít yếu kém "Hệ thống y tế chậm đổi mới, chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân; điều kiện chăm sóc y tế cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế”.[10] Mặc dù đã được Nhà nước tăng cường đầu tư bằng nhiều nguồn nhưng hệ thống y tế vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của người dân Các cơ sở KCB tuyến trung ương thường xuyên quá tải trong khi nhiều trạm y tế xã, bệnh viện huyện hoạt động không hết công suất do người dân ít lựa chọn KCB tại tuyến dưới KCB bằng BHYT chủ yếu triển khai tại cơ sở y tế công, tổ chức chưa hợp lý gây ra tình trạng phân biệt đối xử với người bệnh Chính sách viện phí còn chậm đổi mới, chưa thực hiện tính đúng, tính đủ chi phí nên không bảo đảm cân đối thu, chi của đơn vị, làm hạn chế quyền tự chủ của cơ sở y tế, chất lượng dịch

vụ y tế chưa cao Y tế được bao cấp tràn lan, người nghèo được bao cấp ít, người giàu lại được bao cấp nhiều hơn do sử dụng nhiều dịch vụ hơn Những bất cập này đòi hỏi phải được giải quyết bằng cách huy động sự tham gia của xã hội, xây dựng một hệ thống y tế phục vụ được cung cấp bởi nhiều chủ thể khác nhau

1.2.6 Sự phát triển của khu vực ngoài nhà nước:

Nếu trước đây, kinh tế nhà nước là chủ đạo, kinh tế cá thể, hộ gia đình,

tư thục hoạt động nhỏ lẻ, không có khả năng về vốn, phạm vi đầu tư hẹp thì đến nay, khu vực ngoài nhà nước đã phát triển mạnh Từ chỗ chỉ có Nhà nước mới

đủ vốn đầu tư xây dựng bệnh viện thì hiện nay, nhiều doanh nghiệp, thậm chí

cá nhân người dân đã có thể đầu tư xây dựng bệnh viện hiện đại với TTB tiên tiến, đắt tiền mà nhiều cơ sở y tế nhà nước phải “mơ ước”

Cơ chế hoạt động của khu vực ngoài nhà nước cũng trở nên năng động, linh hoạt hơn Nếu Nhà nước duy trì hệ thống y tế 4 cấp theo địa giới hành chính thì khu vực ngoài nhà nước có hình thức tổ chức đa dạng hơn như bệnh viện, phòng khám, bác sỹ gia đình đáp ứng tiêu chí của người dân về mức độ

Trang 23

thuận tiện, dễ tiếp cận Cơ chế quản lý của khu vực ngoài nhà nước cũng thông thoáng hơn Theo các chuyên gia, cùng quy mô, cùng TTB, nếu tư nhân đầu tư bệnh viện thì chỉ bằng 50%-60% vốn so với Nhà nước đầu tư

Bên cạnh đó, khu vực xã hội dân sự cũng ngày càng tích cực tham gia các hoạt động y tế Các hoạt động từ thiện xã hội trong CSSK nhân dân ngày càng phong phú, đa dạng Nhiều tổ chức xã hội, tôn giáo và cá nhân còn có nguyện vọng thành lập cơ sở y tế nhân đạo để CSSK miễn phí cho người dân

Thực tiễn trên cho thấy, khu vực ngoài nhà nước đã đủ khả năng tham gia cung cấp các dịch vụ y tế đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân

1.2.7 Xu hướng phát huy dân chủ, công bằng xã hội và cải cách hành chính tạo điều kiện thuận lợi để xã hội hóa dịch vụ y tế:

Trong lĩnh vực y tế, phát huy dân chủ và công bằng xã hội giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cả người dân và thầy thuốc Người dân có quyền được chăm sóc y tế, được chọn thầy, chọn thuốc, được đối xử công bằng khi KCB Đồng thời, thầy thuốc được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình hành nghề Nhờ đó, môi trường KCB trở nên thân thiện hơn, người dân có tâm lý thoải mái hơn và có xu hướng tăng cường sử dụng dịch vụ y tế

Việc bảo đảm công bằng xã hội đặt ra yêu cầu cả cơ sở y tế công lập và ngoài công lập đều phải được hoạt động trên một mặt bằng pháp luật, không bị phân biệt đối xử Các cơ sở y tế ngoài nhà nước cũng phải được hưởng chính sách về vốn, thuế, thủ tục đầu tư, tuân thủ các điều kiện chuyên môn, điều kiện

cơ sở vật chất y tế như các cơ sở y tế của Nhà nước Nhờ đó, môi trường đầu tư cho y tế trở nên thông thoáng, có sức hút đối với khu vực ngoài nhà nước hơn

Thực hiện cải cách thủ tục hành chính, các dịch vụ y tế đã được công khai đến người dân Chính sách, pháp luật về y tế đã được các cơ quan QLNN chủ động tổ chức tuyên truyền đến người dân Các tổ chức xã hội dân sự đã tham gia vào nhiều hoạt động như: xây dựng chính sách, pháp luật về y tế; thẩm

Trang 24

định cấp chứng chỉ hành nghề KCB; bồi dưỡng chuyên môn; giám sát quá trình hành nghề, quy tắc đạo đức, ứng xử của cán bộ y tế

Nhờ sự đổi mới cương quyết của Chính phủ, nhiều tiêu cực trong xã hội hóa y tế đã được hạn chế Tình trạng cơ sở y tế ngoài nhà nước chưa được tham gia KCB bằng BHYT; tình trạng có bệnh viện tư nhân phải chờ đợi đến 05 tháng để xin thẩm định hệ thống nước thải của bệnh viện; việc tham gia xét thi đua khen thưởng; tham gia hội nghị tổng kết ngành, gửi cán bộ đi đào tạo còn khó khăn đến nay đã được cải thiện [25]

Tóm lại, trong bối cảnh thực hiện một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với quan điểm bảo đảm phúc lợi xã hội bên cạnh tăng trưởng kinh tế thì

xã hội hóa các động y tế là yêu cầu cần thiết Điều này sẽ giúp huy động nguồn lực đầu tư hiệu quả cho y tế mà vẫn tiết kiệm được ngân sách, tạo điều kiện và nâng cao năng lực của khu vực ngoài nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của

bộ máy nhà nước và góp phần ổn định an sinh xã hội

1.3 PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ: 1.3.1 Các nguyên tắc xây dựng pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế:

Pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế là tổng thể các QPPL do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động QLNN về xã hội hóa các hoạt động y tế

Để thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động QLNN về xã hội hóa các hoạt động y tế một cách hiệu quả, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế phải được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản, bao gồm:

Thứ nhất, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào việc cung ứng các dịch

vụ y tế đã được xã hội hóa Theo đó, sự quản lý của Nhà nước đối với việc cung ứng dịch vụ y tế được thể hiện thông qua công cụ quản lý là các quy định của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế Từ chỗ trực tiếp can thiệp, điều hành

Trang 25

việc cung ứng dịch vụ y tế thông qua các biện pháp, mệnh lệnh hành chính, chỉ tiêu, kế hoạch, đến nay Nhà nước ban hành các quy định pháp luật để điều chỉnh, định hướng cách thức xử sự chung của mọi tổ chức, cá nhân tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ y tế theo yêu cầu của Nhà nước Trên cơ sở các quy định của pháp luật, mọi cá nhân, tổ chức tham gia cung ứng dịch vụ y tế được làm tất cả những gì pháp luật cho phép hoặc không cấm Như vậy, Nhà nước từ chỗ trực tiếp can thiệp vào cung ứng dịch vụ y tế chuyển sang phương thức quản lý mới thông qua công cụ pháp luật

Thứ hai, pháp luật phải bảo đảm sự bình đẳng của mọi cá nhân, tổ chức

trong tham gia vào xã hội hóa các hoạt động y tế, bao gồm bình đẳng giữa các

cá nhân, tổ chức đầu tư thực hiện các dịch vụ y tế với nhau và bình đẳng giữa các cá nhân, tổ chức cung cấp và hưởng thụ các dịch vụ y tế Phương thức cung cấp, chất lượng và giá cả các dịch vụ y tế cơ bản phải bảo đảm phù hợp với đa

số người dân và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đất nước Mọi cơ sở y tế đều có quyền và phải có trách nhiệm tiếp nhận yêu cầu về sử dụng dịch vụ y tế của người dân phù hợp với các quy định của pháp luật Bên cạnh đó, pháp luật còn phải tạo cơ chế thuận lợi để đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế phù hợp với điều kiện và nhu cầu chính đáng của từng bộ phận dân cư bằng cách có chính sách hỗ trợ cho các đối tượng mà điều kiện khách quan hoặc chủ quan có thể bị hạn chế trong việc yêu cầu và hưởng thụ dịch vụ y tế hoặc tạo điều kiện

để cung ứng các dịch vụ y tế tiện nghi phù hợp với những đối tượng có điều kiện kinh tế

Thứ ba, pháp luật phải bảo đảm huy động được nhiều nhất nguồn lực

tham gia vào các hoạt động y tế Để phát triển xã hội hóa hoạt động y tế, pháp luật cần cho phép thành lập các cơ sở cung ứng dịch vụ theo các hình thức tổ chức đa dạng, linh hoạt, vừa sức với khu vực y tế ngoài công lập; có chính sách thu hút và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư vào hoạt động y tế; tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức đầu tư, thực hiện các hoạt động y tế; bảo đảm

Trang 26

trách nhiệm của nhà đầu tư với xã hội, với Nhà nước… Ngoài ra, xã hội hóa không chỉ nhằm thu hút đầu tư tài chính của khu vực ngoài công lập để thành lập các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế mà còn huy động sự tham gia các hoạt động

y tế của mọi người dân bằng nhiều hình thức khác nhau như bảo đảm điều kiện

để người dân tự nguyện tham gia các hoạt động CSSK, phòng bệnh; tạo cơ chế

để người dân đóng góp kinh phí cho y tế thông qua chế độ BHYT, viện phí; tạo hành lang pháp lý để tổ chức các hoạt động quyên góp, từ thiện cho người bệnh nghèo, thành lập các cơ sở KCB nhân đạo…

1.3.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế:

Để bảo đảm hiệu quả xã hội hóa các hoạt động y tế, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế phải bao quát được những nội dung cơ bản sau:

- Trách nhiệm đầu tư của Nhà nước đối với các hoạt động y tế: Pháp luật cần quy định cụ thể về trách nhiệm và mức độ đầu tư của Nhà nước; quyền hạn, trách nhiệm của hệ thống cơ quan QLNN về xã hội hóa các hoạt động y tế; các chính sách bảo đảm cho các đối tượng chịu sự tác động của xã hội hóa các hoạt động y tế

- Các hoạt động y tế được xã hội hóa; các tiêu chí, tiêu chuẩn, quy mô, loại hình cơ sở y tế xã hội hóa: Các nội dung này phải được quy định cụ thể, minh bạch, bảo đảm thu hút một cách hiệu quả các hoạt động xã hội hóa

- Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập cần được quy định cụ thể các nội dung như: tiêu chí, mức độ tự chủ của các cơ sở y tế; nội dung tự chủ về nhiệm vụ, biên chế, tài chính; việc quản lý hoạt động tự chủ và phân chia kết quả từ hoạt động tự chủ của cơ sở; cơ chế pháp lý, phương thức pháp lý, các điều kiện để cơ sở y tế nhà nước tham gia liên doanh, liên kết với các cá nhân, tổ chức thành lập các cơ sở y tế xã hội hóa hạch toán độc lập

- Nội dung quản lý và hoạt động của cơ sở y tế xã hội hóa cần quy định

cụ thể về phạm vi, loại hình hoạt động; cơ cấu tổ chức, quy chế hoạt động, cơ chế quản lý, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ sở y tế; nội dung, cơ chế, thẩm quyền

Trang 27

và phương thức pháp lý về thành lập các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế xã hội hóa; việc tổ chức cung ứng các dịch vụ y tế xã hội hóa

- Các chính sách huy động cộng đồng, tổ chức xã hội và cá nhân tham gia vào các hoạt động y tế phải bao gồm cả chính sách về đầu tư, ưu đãi tài chính, khuyến khích các khoản đóng góp của cộng đồng; cơ chế, thủ tục thuận lợi để triển khai các hoạt động y tế tại cộng đồng và vai trò, trách nhiệm tham gia giám sát các hoạt động y tế của các tổ chức xã hội, đoàn thể

- Các chính sách khuyến khích xã hội hóa hoạt động y tế phải bao gồm

cả các chính sách ưu đãi về tài chính, thuế, đất đai, huy động vốn và quy trình thủ tục để hưởng ưu đãi, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Việc huy động nguồn tài chính xã hội hóa cho hoạt động y tế là nội dung rất quan trọng Do đó, pháp luật cần quy định cụ thể về đổi mới cơ chế chi trả dịch vụ y tế và hướng tới BHYT toàn dân với các nội dung: đổi mới cơ chế, phương thức tính giá và chi trả giá dịch vụ y tế; quy định chính sách trợ giúp các đối tượng cần ưu đãi, các biện pháp để tổ chức thực hiện BHYT toàn dân…

- Trong xã hội hóa các hoạt động y tế, nội dung về quyền, nghĩa vụ của các

cá nhân, tổ chức tham gia xã hội hóa hoạt động y tế cũng cần được quy định cụ thể

để bảo đảm tính minh bạch; để các tổ chức, cá nhân hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào lĩnh vực này, đồng thời còn là cơ sở để Nhà nước quản

lý, kiểm tra, giám sát và xác định trách nhiệm của các chủ thể có liên quan

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về y tế nói chung và các quy định pháp luật liên quan cũng là cơ sở pháp lý cho xã hội hóa các hoạt động y tế

1.3.3 Đặc điểm của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế:

Việc xác định được những đặc điểm của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế góp phần xây dựng, hoàn thiện và áp dụng pháp luật vào hoạt động QLNN về y tế một cách hiệu quả

Lý luận khoa học về pháp luật đã khẳng định một cách thống nhất, bất kỳ kiểu pháp luật nào cũng luôn mang hai thuộc tính là tính giai cấp và tính xã hội

Trang 28

Hai thuộc tính này quyết định những đặc điểm của pháp luật Trong điều kiện Việt Nam, cả hai thuộc tính này đều tác động tích cực đến đặc điểm của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế Bởi vì, y tế là một lĩnh vực an sinh xã hội,

có tính xã hội, nhân đạo, nhân văn sâu sắc

Xét trên những khía cạnh cụ thể, bên cạnh những đặc điểm của pháp luật nói chung, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế có tính xã hội rộng

lớn

Pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế bảo vệ và dung hoà quyền, lợi ích về y tế của mọi người dân trong xã hội nên có tính xã hội rộng lớn Quyền được chăm sóc sức khoẻ và tiếp cận các dịch vụ y tế là một trong các quyền cơ bản của con người Mọi người dân, bất kể giàu, nghèo đều phải được hưởng một mức chăm sóc y tế tối thiểu như nhau Dân cư mạnh khoẻ sẽ tạo ra năng xuất lao động cao hơn cho xã hội Do vậy, các quyền liên quan đến sức khoẻ của mọi người dân phải được bảo đảm thể chế hoá trong các quy định của pháp luật Nhờ thế, các quy định pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế thực sự mang tính xã hội sâu sắc, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân

Thứ hai, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế có mối quan hệ chặt

chẽ với đường lối, chủ trương của Đảng về công tác y tế

Pháp luật luôn phản ánh đường lối, chính sách của Đảng, là sự thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng về công tác y tế thành các QPPL có giá trị bắt buộc thực hiện chung Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng luôn giữ vai trò chủ đạo trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật về

y tế Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động - lực lượng chiếm đại đa số trong xã hội, bởi vậy, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng chính là ý chí nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân Trong suốt quá trình phát triển của mình, Đảng ta luôn coi trọng việc chăm sóc và nâng cao nguồn lực con người, coi đó là động lực để phát triển đất nước

Trang 29

Do đó, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế thường gắn liền với chủ trương, định hướng của Đảng về xã hội hóa y tế Có thể nhận thấy rõ đặc điểm này qua quá trình phát triển song hành giữa các văn bản của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước về xã hội hóa y tế Chẳng hạn, năm 1996, Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá.” Đây là cơ sở để Nhà nước ban hành Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa

Thứ ba, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế phản ánh điều kiện

đặc thù của Việt Nam

Trước khi thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động y tế, đất nước

ta đang bắt đầu bước vào những năm đầu tiên của thời kỳ đổi mới Đảng ta xác định việc duy trì một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong bối cảnh đó, bên cạnh sự đổi mới của khu vực nhà nước là sự phát triển mạnh của khu vực ngoài nhà nước Cùng với sự lớn mạnh đó là khả năng và nhu cầu của khu vực ngoài nhà nước trong việc tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có dịch vụ y tế Trong điều kiện nguồn lực của một đất nước có nền kinh tế đang phát triển và ngân sách hạn hẹp thì việc huy động các nguồn lực từ khu vực ngoài nhà nước để cùng Nhà nước tăng cường đầu tư cho CSSK là cần thiết, bằng việc nâng cao tính tự chủ của hệ thống y tế công (tự chủ về tài chính, nhân lực, tổ chức) huy động nguồn lực từ người dân (BHYT toàn dân, cộng đồng phát động phòng trào CSSK, tài trợ nhân đạo cho y tế…), khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia cung cấp dịch vụ y tế (thành lập cơ sở y tế, đóng góp tài chính cho y tế…) Những nhu cầu khách quan đó đã đặt ra yêu cầu phải ban hành các quy định pháp luật tạo hành lang pháp lý cho xã hội hóa các hoạt động y tế, bảo đảm mọi hoạt động thực tiễn phát sinh đều phải được quản lý bằng pháp luật

Trang 30

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin thì pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng và nó luôn phải phù hợp với cơ sở hạ tầng tương ứng

Do vậy, các điều kiện về chính trị, kinh tế - xã hội đặc thù của Việt Nam đã đặt

ra yêu cầu khách quan phải hình thành hệ thống quy định pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế để thực hiện hiệu quả chức năng bảo đảm an sinh xã hội của Nhà nước và nhu cầu chăm sóc y tế của người dân

Thứ tư, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế là một bộ phận không

tách rời và có mối quan hệ đan xen với pháp luật về y tế nói riêng và pháp luật của Việt Nam nói chung

Do tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật nên pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế là một bộ phận không tách rời của hệ thống pháp luật

về y tế Pháp luật có những quy định đặc thù để điều chỉnh việc thực hiện các hoạt động y tế được xã hội hóa cũng như hoạt động QLNN về lĩnh vực này Tuy nhiên, tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ, quy chuẩn, quy trình chuyên môn kỹ thuật, điều kiện hoạt động chuyên môn của cơ sở y tế xã hội hóa … vẫn phải tuân theo các quy định chung của pháp luật y tế Các quy định về chính sách ưu đãi, về thủ tục hành chính, về quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động y

tế được xã hội hóa vẫn phải thực hiện theo quy định của pháp luật nói chung

1.3.4 Vai trò của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế:

Thứ nhất, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế là phương tiện thể

chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về xã hội hóa các hoạt động y tế

Thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng bằng pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của Nhà nước ta Pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế cũng cần phải cụ thể hóa tất cả các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về y tế, về xã hội hóa các hoạt động y tế để tránh khuynh hướng lấy đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về y tế và xã hội hóa các hoạt động y tế thay cho pháp luật Trong lĩnh vực y tế, tùy theo từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta đều có các đường lối thích hợp để chỉ

Trang 31

đạo, định hướng cho việc phát triển y tế và xã hội hóa các hoạt động y tế Ví dụ, Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo

vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã đề ra quan điểm từng bước tiến tới BHYT toàn dân, một nội dung quan trọng của xã hội hóa các hoạt động y tế nhằm bảo đảm công bằng trong CSSK Để thực hiện quan điểm này, Nhà nước đã và đang từng bước hoàn thiện các quy định pháp luật về BHYT, đặc biệt là ban hành Luật BHYT làm cơ sở pháp lý để tổ chức thực hiện trong thực tiễn Như vậy, trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước

đã thể chế hóa bằng pháp luật để điều chỉnh các hoạt động y tế xã hội hóa, bảo đảm trật tự, kỷ cương, quyền và lợi ích hợp pháp của người bệnh, của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động này

Thứ hai, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế tạo cơ sở pháp lý và

bảo đảm cho các hoạt động y tế xã hội hóa luôn được điều chỉnh trong một trật

tự nhất định

Các quan hệ xã hội nảy sinh liên quan đến xã hội hóa các hoạt động y tế đều phải được pháp luật quy định, nếu quan hệ xã hội nào chưa được quy định thì không có cơ sở pháp lý để Nhà nước quản lý và bảo vệ vì "pháp luật là một trong những nhân tố bảo đảm và bảo vệ sự ổn định của xã hội" [11] Như vậy, các hoạt động y tế được xã hội hóa đều gắn liền với sự điều chỉnh của pháp luật Thực tiễn đã chỉ ra rằng, sự lạc hậu hay sự vượt trước của pháp luật so với nhu cầu phát triển của các hoạt động y tế đều là những trở ngại cho sự phát triển ổn định trong lĩnh vực này Như vậy, giữa xã hội hóa các hoạt động y tế và pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu xã hội hóa các hoạt động y tế là nội dung thì pháp luật là hình thức Pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế phải phản ánh đầy đủ, phù hợp với tất cả các hoạt động y tế được xã hội hóa

Thứ ba, pháp luật xã hội hóa các hoạt động y tế là công cụ bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động y tế, đồng thời cũng là công cụ xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này

Trang 32

Pháp luật, bên cạnh ý nghĩa là công cụ chủ yếu để QLNN còn là hành lang, cơ sở pháp lý để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào xã hội hóa các hoạt động y tế thực hiện theo đúng trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Pháp luật cũng đồng thời là hành lang, cơ sở pháp lý để các

cơ quan QLNN dựa vào đó xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế, hay nói cách khác, pháp luật như là một công cụ cưỡng chế nhà nước để bảo vệ cho pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế khỏi bị vi phạm trong thực tiễn Như vậy, pháp luật vừa đóng vai trò định hướng, dẫn dắt các hoạt động y tế xã hội hóa, lại vừa đóng vai trò bảo vệ cho các hoạt động y tế

xã hội hóa theo đúng với quy định của pháp luật

Thứ tư, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế tạo lập môi trường

pháp lý đầy đủ, rõ ràng, minh bạch; bảo đảm việc bình đẳng trước pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động y tế xã hội hóa

Các hoạt động y tế, như đã phân tích trên đây, hết sức đa dạng, phong phú, phức tạp và nhạy cảm nên đòi hỏi hệ thống pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế phải được từng bước hoàn thiện và đáp ứng được các đặc tính trên Tức là hệ thống pháp luật về y tế cũng như xã hội hóa các hoạt động y tế phải đầy đủ, toàn diện, rõ ràng, minh bạch và phải được thực hiện nghiêm minh trên thực tế Chính vì vậy, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia xã hội hóa các hoạt động y tế mới có điều kiện thực hiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật trên cơ sở quy định rõ về quyền và nghĩa vụ, không phân biệt khu vực

y tế nhà nước với khu vực y tế tư nhân, giữa bác sỹ với điều dưỡng viên, giữa người giàu với người nghèo Các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động y tế xã hội hóa được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm nhằm ngăn chặn các hành vi lạm quyền của các cơ quan nhà nước ảnh hưởng đến tự

do, bình đẳng, đến lợi ích của họ và của xã hội, đồng thời, các đối tượng này cũng phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC

2.1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT

VỀ XÃ HỘI HÓA CÁC HOẠT ĐỘNG Y TẾ Ở NƯỚC TA:

2.1.1 Quá trình phát triển của pháp luật về xã hội hóa các hoạt động

y tế:

2.1.1.1 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1996:

Ngay từ năm 1989, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân trong đó có những quy định về việc huy động nguồn lực xã hội trong CSSK như “Bảo vệ sức khoẻ là sự nghiệp của toàn dân” (Điều 1), “kết hợp phát triển

hệ thống y tế Nhà nước với y tế tập thể và y tế tư nhân” (Điều 2) Đây có thể coi là văn bản đầu tiên đặt nền móng cho xã hội hóa các hoạt động y tế

Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1992 mới là văn bản có hiệu lực pháp luật cao nhất thể hiện quan điểm về xã hội hóa đối với các hoạt động y tế Điều 39 Hiến pháp quy định: "Nhà nước đầu tư, phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, huy động và tổ chức mọi lực lượng xã hội xây dựng và phát triển nền y học Việt Nam theo hướng dự phòng; kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh; phát triển và kết hợp y dược học cổ truyền với y dược học hiện đại; kết hợp phát triển y tế Nhà nước với y tế nhân dân; thực hiện BHYT, tạo điều kiện để mọi người dân được CSSK" Mặc dù không đề cập trực tiếp đến thuật ngữ xã hội hóa nhưng Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận vai trò quan trọng của việc huy động nguồn lực xã hội trong CSSK nhân dân Đây là quan điểm có tính nền tảng để thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế

Trên cơ sở đó, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã thông qua Nghị định số 299/HĐBT ban hành Điều lệ BHYT Đây là hình thức huy động

Trang 34

nguồn lực xã hội cho KCB rất hiệu quả và nhân văn, theo nguyên tắc lấy số đông để đầu tư cho số ít, nhiều người cùng đóng phí để chăm sóc cho một số người không may bị mắc bệnh Bên cạnh đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân ngày 13/10/1993; Chính phủ ban hành Nghị định số 06/CP ngày 29/01/1994 về cụ thể hoá một số điều của Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân thuộc lĩnh vực hành nghề dược tư nhân Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ y tế, góp phần cùng Nhà nước thực hiện tốt công tác CSSK nhân dân và tạo tiền đề cho xã hội hóa hoạt động y tế trong giai đoạn tiếp theo

2.1.1.2 Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2004:

Trong giai đoạn này, Chính phủ đã ban hành khá nhiều văn bản QPPL quy định trực tiếp về xã hội hóa trong đó có các hoạt động y tế Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa đã được Chính phủ thông qua tại phiên họp thường kỳ tháng

3 năm 1997 Đây cũng là thời điểm đánh dấu, lần đầu tiên, thuật ngữ xã hội hóa được chính thức xuất hiện trong văn bản QPPL của Việt Nam Đối với lĩnh vực

y tế, Nghị quyết nhấn mạnh “Việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ là nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân và của cả cộng đồng Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành y tế, mà còn là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng và chính quyền, của các đoàn thể quần chúng và tổ chức xã hội Vì vậy, thực hiện xã hội hoá công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là cần thiết và phù hợp với xu thế của thời đại.” và “Khi nhân dân ta có mức thu nhập cao, ngân sách nhà nước dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hóa, bởi vì giáo dục, y tế, văn hoá là sự nghiệp lâu dài của nhân dân, sẽ phát triển không ngừng với nguồn lực to lớn của toàn dân.” Như vậy, Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP đã khẳng định chính sách xã hội hóa của Nhà nước ta không chỉ thực hiện trong giai đoạn nền kinh

tế và ngân sách nhà nước còn hạn chế mà vẫn tiếp tục ngay cả khi đất nước phát

Trang 35

triển, thu nhập của người dân tăng cao Tức là, xã hội hóa là một chính sách cần thiết và lâu dài

Để cụ thể hóa Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP và tạo những điều kiện thuận lợi về thể chế, thúc đẩy các hoạt động xã hội hóa phát triển, ngày 19/8/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao Nghị định đã quy định cụ thể về nội dung xã hội hóa, các chính sách khuyến khích về đất đai, cơ sở vật chất, thuế, phí, lệ phí, bảo hiểm,

cơ chế quản lý đối với các cơ sở xã hội hóa ngoài công lập Cùng với Nghị định

số 73/1999/NĐ-CP, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 06/2000/NĐ-CP ngày 06/3/2000 về việc hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực KCB, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học và Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu

Trong thực hiện xã hội hóa, việc tăng quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập là một nội dung quan trọng Nghị định số 10/2002/NĐ-CP được ban hành nhằm đổi mới cơ chế tài chính, tăng quyền tự chủ trong thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập, từ đó giúp quản lý thống nhất nguồn thu, chi; tạo điều kiện cho các đơn vị tăng thu, bảo đảm từng bước tự trang trải kinh phí hoạt động Việc tăng quyền tự chủ cũng góp phần giảm bớt bao cấp về ngân sách chi thường xuyên của Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập

Tiếp tục đổi mới chính sách BHYT, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/CP ngày 13/08/1998 về Điều lệ BHYT thay thế cho Điều lệ cũ ban hành từ năm 1992

Để cụ thể hóa chính sách xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 18/2000/TT-BTC ngày 01/3/2000, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 08/2000/TT-BYT ngày 20/04/2000 hướng dẫn thực hiện Nghị định

số 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ

Trang 36

Đối với các hoạt động y tế được xã hội hóa, Ủy ban Thường vụ Quốc hội

đã ban hành Pháp lệnh Hành nghề y dược tư nhân ngày 25/02/2003 thay thế Pháp lệnh cũ năm 1993; Bộ Y tế ban hành các Thông tư số 01/2004/TT-BYT ngày 06/01/2004, Thông tư số 09/2004/TT-BYT ngày 14/9/2004, Thông tư số 07/2005/TT-BYT ngày 09/3/2005 hướng dẫn cụ thể về hành nghề y, dược tư nhân; Thông tư số 01/TT-BYT ngày 06/02/2002 hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của các cơ sở KCB nhân đạo Bộ Y tế và Bộ Tài chính đã ban hành các Thông tư liên tịch số 31/2000/TTLT-BTC-BYT ngày 25/4/2000 hướng dẫn việc thành lập và cơ chế quản lý tài chính đối với cơ sở KCB bán công; Thông tư số 16/2000/TT-BYT ngày 18/09/2000 hướng dẫn tiêu chuẩn, điều kiện, phạm vi hoạt động chuyên môn, hồ sơ, thủ tục, thẩm quyền thành lập cơ sở KCB bán công Hoạt động đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực y tế tại Việt Nam cũng được quy định cụ thể trong các Thông tư số 10/TT-BYT ngày 22/05/2001 hướng dẫn việc đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực KCB tại Việt Nam; Thông

tư số 17/TT-BYT ngày 01/08/2001 hướng dẫn doanh nghiệp nước ngoài đăng

ký hoạt động về thuốc và nguyên liệu làm thuốc tại Việt Nam và Thông tư số 08/TT-BYT ngày 20/06/2002 hướng dẫn việc hợp tác, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực KCB bằng y học cổ truyền tại Việt Nam

Có thể nói, các văn bản QPPL ban hành trong giai đoạn này đã tạo hành lang pháp lý để tổ chức có hiệu quả hơn xã hội hóa các hoạt động dịch vụ công trong đó có lĩnh vực y tế Kể từ đây, chế định pháp luật về xã hội hóa chính thức được hình thành, được quy định một cách cụ thể, rõ ràng và bắt đầu cho một thời kỳ nở rộ các hoạt động xã hội hóa, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế

2.1.1.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay:

Có thể nhận thấy, Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP đã đạt được những thành tựu nhất định, mở ra một bước phát triển mới để huy động nguồn lực xã hội tham gia vào các hoạt động y tế Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế, chính trị xã hội của đất nước có một số thay đổi, Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP và các văn bản liên

Trang 37

quan đã bắt đầu bộc lộ những điểm hạn chế, cần phải được sửa đổi, bổ sung Do vậy, ngày 18/4/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về xã hội hóa qua

07 năm triển khai Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP và 05 năm thực hiện Nghị định

số 73/1999/NĐ-CP, Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP đã đề ra các quan điểm, định hướng phát triển xã hội hóa trong từng lĩnh vực cụ thể

Cùng với Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 về chế độ tự chủ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu thay thế Nghị định số 10/2002/NĐ-CP và ban hành Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 về chính sách phát triển các cơ

sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập thay thế Nghị định số 73/1999/NĐ-CP; Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập Tiếp đó, ngày 30/5/2008, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường

Trên cơ sở văn bản của Chính phủ, các Bộ cũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết về hoạt động xã hội hóa Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 91/2006/TT-BTC ngày 02/10/2006 hướng dẫn Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006, Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Thông tư số 135/2008/TT-BTC ngày 31/12/2008 hướng dẫn Nghị định số 69/2008/NĐ-CP

Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 05/2007/TT-BTNMT ngày 30/5/2007 hướng dẫn các trường hợp được ưu đãi về sử dụng đất đai đối với cơ

sở xã hội hóa Bộ Y tế ban hành Thông tư số 15/2007/TT-BYT ngày 12/12/2007 hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn liên doanh để mua sắm TTB

Trang 38

phục vụ hoạt động dịch vụ của các cơ sở y tế công lập và phối hợp với Bộ Nội

vụ ban hành Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 24/01/2008 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 43/2006/NĐ-CP

Thực tế những năm qua cho thấy các văn bản nêu trên đã tạo ra diện mạo mới cho các cơ sở y tế, đáp ứng nhu cầu CSSK của các tầng lớp dân cư Những kết quả đó đã thể hiện sự năng động, kịp thời của Chính phủ và các bộ ngành trong việc hoàn thiện cơ chế pháp luật đáp ứng yêu cầu của hoạt động xã hội hóa

Tuy vậy, các quy định pháp luật về xã hội hóa mới chỉ dừng lại ở cấp độ văn bản của Chính phủ Trong khi, nhiều vấn đề liên quan đến xã hội hóa đòi hỏi phải được giải quyết trong các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn Đặc biệt, y tế

là một lĩnh vực an sinh xã hội, gắn với lợi ích thiết thân của mỗi người dân, có độ nhạy cảm cao, nhất là với các đối tượng người nghèo, người thu nhập thấp Nhu cầu đầu tư cho CSSK của người dân ngày càng tăng mà khả năng đáp ứng của Nhà nước còn hạn chế, dẫn đến nhu cầu bức xúc phải tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách, pháp luật để đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động y tế

Đáp ứng yêu cầu trên, tại kỳ họp thứ III của Quốc hội khóa XII, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 18/2008/NQ-QH12 ngày 03/6/2008 về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hóa để nâng cao sức khỏe nhân dân Đến nay, đây là văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định riêng về chính sách xã hội hóa các hoạt động y tế Đồng thời, Quốc hội cũng đã ban hành một số luật về y tế như Luật Dược năm 2005, Luật Phòng, chống HIV/AIDS năm 2006, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Luật BHYT năm 2008, Luật Hoạt động chữ thập đỏ năm 2008, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2008 và Luật An toàn thực phẩm năm 2010 Đặc biệt, việc ban hành Luật Dược và Luật Khám bệnh, chữa bệnh đã nhất thể hóa các quy định pháp luật về hành nghề y, dược cả trong và ngoài công lập, bảo đảm các hoạt động này không có sự phân biệt đối xử và đều hoạt động trên một mặt bằng pháp luật như nhau

Trang 39

Tóm lại, nếu tính mốc từ năm 1992 đến nay, chính sách xã hội hóa đối với hoạt động y tế đã được thể chế hóa vào văn bản pháp luật của Nhà nước gần

20 năm Quá trình phát triển của pháp luật về xã hội hóa cho thấy sự quan tâm của Nhà nước trong hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để quản lý xã hội hóa các hoạt động y tế Trong bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay,

xã hội hóa các hoạt động y tế là nội dung vẫn còn mới đối với Việt Nam, vừa triển khai vừa đúc rút kinh nghiệm Do vậy, sự điều chỉnh của pháp luật đối với lĩnh vực này cần phải thường xuyên, liên tục để hình thành nên được một chế định pháp luật hoàn chỉnh, tiến bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước

2.1.2 Nội dung pháp luật hiện hành về xã hội hóa các hoạt động y tế:

Qua công tác hệ thống hóa cho thấy, đến nay, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành khoảng 45 văn bản có nội dung liên quan đến xã hội hóa các hoạt động y tế [7] Theo đó, pháp luật về xã hội hóa các hoạt động y tế

có những nội dung cơ bản sau:

Một là, trách nhiệm đầu tư của Nhà nước đối với các hoạt động y tế:

Trách nhiệm đầu tư của Nhà nước đối với các hoạt động y tế là một nội dung quan trọng Do đó, các văn bản pháp luật, đặc biệt là Nghị quyết số 18/2008/NQ-QH của Quốc hội; Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP, Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của Chính phủ đều quy định cụ thể về nội dung này

Về nguyên tắc, nền y tế phải hướng đến CSSK toàn dân, toàn diện, kết hợp y tế công và y tế tư, trong đó y tế công giữ vai trò chủ đạo; tăng cường sự phối hợp liên ngành và củng cố vai trò nòng cốt của ngành y tế

Đối với đầu tư ngân sách cho y tế, pháp luật quy định tăng tỷ lệ chi ngân sách hằng năm cho sự nghiệp y tế, bảo đảm cao hơn tốc độ tăng chi bình quân chung của ngân sách nhà nước; ưu tiên cho y tế dự phòng theo hướng dành ít nhất 30% ngân sách y tế cho y tế dự phòng; ưu tiên đầu tư cho y tế cơ sở, đặc biệt là các chuyên khoa hoặc khu vực địa lý ít có khả năng thu hút đầu tư; quy

Trang 40

định chính sách bảo đảm CSSK cơ bản cho các đối tượng đặc biệt như người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, người có công, nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số

Hai là, xác định lĩnh vực, tiêu chí, quy mô, loại hình hoạt động y tế được

xã hội hóa:

Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP và Nghị định số 69/2008/NĐ-CP đều quy định về các lĩnh vực y tế được xã hội hóa bao gồm: KCB, y tế dự phòng, kiểm nghiệm thực phẩm, dược phẩm…, trong đó lĩnh vực KCB được khuyến khích nhất

Về tiêu chí, quy mô, loại hình hoạt động y tế được xã hội hóa thì pháp luật mới chỉ có các quy định mang tính nguyên tắc

Ba là, thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự

nghiệp y tế công lập:

Các đơn vị y tế công lập là xương sống của hệ thống y tế, cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản nhất cho người dân Do đó, quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập nhằm đổi mới cơ bản

hệ thống y tế công lập, thu hút đầu tư ngoài nguồn ngân sách nhà nước cho công tác y tế được quy định trong nhiều văn bản QPPL, trong đó có Nghị định

số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 115/2005/NĐ-CP

Về cơ chế tự chủ, pháp luật quy định chuyển các cơ sở công lập đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công không bao cấp tràn lan và không nhằm lợi nhuận; bảo đảm quyền tự chủ về tổ chức và quản lý; thực hiện đúng mục tiêu và nhiệm vụ; hạch toán đầy đủ chi phí, cân đối thu chi ; thường xuyên nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ, sản phẩm; bảo đảm quyền lợi và cơ hội tiếp cận bình đẳng của người hưởng thụ

Về mức độ, nội dung tự chủ, pháp luật phân loại cơ sở y tế công lập gồm

ba loại: tự chủ hoàn toàn, tự chủ một phần và không tự chủ (Nhà nước cấp 100% kinh phí chi thường xuyên) Tương ứng với từng loại cơ sở y tế là các quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, quản lý sử dụng

Ngày đăng: 30/03/2018, 21:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w