1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các quy định pháp luật về đầu tư nước ngoài ở việt nam và lào nhìn từ góc độ so sánh

78 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 658,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, Chính phủ Lào chú trọng phát triển và giữ vững mối quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt là Việt Nam - quốc gia có mối quan hệ lịch sử gắn bó l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

SYVANH LEEMAITENG

CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Ở VIỆT NAM VÀ LÀO – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ SO SÁNH

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Võ Đình Toàn

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, với sự hướng dẫn của Tiến sỹ Võ Đình Toàn - Phó Viện trưởng Viện khoa học pháp lý - Bộ

Tư pháp Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài là nghiêm túc và trung thực, chưa từng được công bố trước đây Các thông tin về số liệu, dẫn chứng phân tích và một số ý kiến đánh giá đều được trích dẫn từ những nguồn

tư liệu đáng tin cậy thể hiện trong phần tài liệu tham khảo

Nếu có bất kỳ sự gian lận, thiếu trung thực nào trong quá trình nghiên cứu, tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như chịu trách nhiệm về kết quả luận văn của mình

Hà nội, ngày 20 tháng 5 năm 2013 Tác giả

Syvanh Leemaiteeng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo – Tiến

sĩ VÕ ĐÌNH TOÀN, Phó Viện trưởng Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư

pháp đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tác giả có thể hoàn thành luận văn nàỵ

Tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình giảng dạy trong thời gian tác giả học trong trường, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả

hoàn thành khóa học và hoàn thành luận văn

Tác giả cũng xin cảm ơn sự đóng góp ý kiến, sự giúp đỡ tận tình của các bạn học viên lớp Cao học khóa 19, Trường đại học Luật Hà Nội, các bạn

sinh viên Lào tại Việt Nam

Tác giả

Syvanh Leemaiteeng

Trang 4

ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á

AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

CHDCND: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân

CHXHCN: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa

IMF: Quỹ tiền tệ thế giới

Lào: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

NDCM: Nhân dân cách mạng

GDP: Sản phẩm quốc nội

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Việt Nam: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG CĂN CỨ LÝ LUẬN ĐỂ SO SÁNH CÁC QUI ĐỊNH VỀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM VÀ LÀO 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật đầu tư nước ngoài 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật đầu tư nước ngoài 6

1.1.2 Vai trò của pháp luật đầu tư nước ngoài 11

1.2 Căn cứ để so sánh pháp luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam và Lào 15

1.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Việt Nam và của Lào 15

1.2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Việt Nam 15

1.2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Lào 15

1.2.2 Sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của Nhà nước 16

1.2.2.1 Sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của Nhà nước tại Việt Nam 16

1.2.2.2 Sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của Nhà nước tại Lào 17

1.2.3 Hội nhập kinh tế quốc tế 18

1.2.3.1 Hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam 18

1.2.3.2 Hội nhập kinh tế quốc tế tại Lào 18

1.2.4 Mục tiêu điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài 19

1.2.4.1 Mục tiêu điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 19

1.2.4.2 Mục tiêu điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Lào 20

1.2.5 Những điểm tương đồng và khác biệt là cơ sở để hoàn thiện pháp luật phù hợp với điều kiện của Việt Nam và Lào 20

1.2.5.1 Nhưng điểm tương đồng là cơ sở để hoàn thiện pháp luật phù hợp với điều kiện của Việt Nam và Lào 20

Một là tương đồng về điều kiện kinh tế - xã hội: 20

1.2.5.2 Những điểm khác biệt là cơ sở để xác định giải pháp hoàn thiện pháp luật phù hợp với điều kiện của Việt Nam và Lào 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25

Trang 6

NGOÀI Ở VIỆT NAM VÀ LÀO 26

2.1.1 Nguồn quy phạm điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam……… 26

2.1.2 Nguồn quy phạm điều chỉnh Pháp luật về đầu tư nước ngoài ở Lào 28 2.2 Những so sánh chủ yếu nội dung các qui định của pháp luật về đầu tư nước ngoài 30

2.2.1 Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 30

2.2.1.1 Quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng theo pháp luật Việt Nam 30

2.2.1.2 Quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng theo pháp luật Lào 30

2.2.2 Chính sách đầu tư 31

2.2.2.1 Quy định về chính sách đầu tư theo pháp luật Việt Nam 31

2.2.2.2 Quy định về chính sách đầu tư theo pháp luật Lào 32

2.2.3 Bảo đảm đầu tư 33

2.2.3.1 Quy định về bảo đảm đầu tư theo pháp luật Việt Nam 33

2.2.3.2 Quy định về bảo đảm đầu tư theo pháp luật Lào 35

2.2.4 Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư 36

2.2.4.1 Qui định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư theo pháp luật Việt Nam 36

2.2.4.2 Qui định về quyền và nghĩa của nhà đầu tư theo pháp luật Lào 37

2.2.5 Hình thức đầu tư 39

2.2.5.1 Qui định về hình thức đầu tư theo pháp luật Việt Nam 39

2.2.5.2 Qui định về hình thức đầu tư theo pháp luật Lào 40

2.2.6 Lĩnh vực, địa bàn đầu tư, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư 41

2.2.6.1 Qui định về lĩnh vực, địa bàn đầu tư, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo pháp luật Việt Nam 41

2.2.6.2 Qui định về lĩnh vực, địa bàn đầu tư, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo pháp luật Lào 45

2.2.7 Hoạt động đầu tư trực tiếp 48

2.2.7.1 Qui định về hoạt động đầu tư trực tiếp theo pháp luật Việt Nam 48

Trang 7

2.2.8 Quản lý nhà nước về đầu tư 51

2.2.8.1 Quy định về quản lý nhà nước về đầu tư theo pháp luật Việt Nam 51 2.2.8.2 Qui định về quản lý về đầu tư theo pháp luật Lào 52

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI LÀO HIỆN NAY 54

3.1 Những tư tưởng cơ bản rút ra từ so sánh pháp luật về đầu tư nước ngoài của Việt Nam và của Lào 54

3.2 Những kiến nghị để hoàn thiện Pháp luật Đầu tư nước ngoài của Lào từ việc so sánh với Pháp luật Đầu tư của Việt Nam 56

3.2.1 Một số kiến nghị chung 56

3.2.1.1 Xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài 56

3.2.1.2 Hoàn thiện Luật khuyến khích đầu tư và các văn bản hướng dẫn 59

3.2.2 Một số giải pháp cụ thể 62

3.2.2.1 Đa dạng hóa nguồn chứa đựng quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài 62

3.2.2.2 Điều chỉnh, mở rộng các hình thức đầu tư 63

3.2.2.3.Hoàn thiện các qui định về đảm bảo đầu tư 64

3.2.2.4 Hoàn thiện các qui định về ưu đãi đầu tư, khuyến khích đầu tư 64

3.2.2.5 Bổ sung, hoàn thiện một số các qui định khác 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67

KẾT LUẬN CHUNG 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hiện nay với xu thế toàn cầu hoá, việc hình thành các liên minh kinh tế, đầu tư nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình hội nhập của các nước Đầu tư nước ngoài diễn ra với quy mô ngày càng lớn, đa dạng và trong nhiều lĩnh vực vì nó mang lại nguồn lợi rất lớn cho cả nước đầu tư và nước nhận đầu tư Do đó, các nước đầu tư tích cực tìm kiếm thị trường mới, hấp dẫn để đầu tư thu lợi nhuận, còn nước nhận đầu tư cũng tạo mọi điều kiện để thu hút, khuyến khích đầu tư nước ngoài

Trong bối cảnh đó, giống như Việt nam, Lào cũng đang tích cực tham gia vào nền kinh tế thế giới với những nỗ lực trong tất cả các mặt Trong đó thu hút, khuyến khích đầu tư nước ngoài là giải pháp quan trọng giúp Lào có những bước “chuyển mình” nhanh hơn vào nền kinh tế toàn cầu Tình hình thực tiễn tại Lào cho thấy, Lào rất cần công nghệ tiên tiến và nguồn vốn đầu tư

từ các nước công nghiệp phát triển để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội, hoàn thành thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Thu hút đầu tư nước ngoài sẽ giúp Lào giải quyết các khó khăn về vốn, tạo việc làm cho người lao động, chuyển giao công nghệ và cải tiến cơ cấu kinh

tế, đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ

Trong quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, Chính phủ Lào chú trọng phát triển và giữ vững mối quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt là Việt Nam - quốc gia có mối quan hệ lịch sử gắn bó lâu đời, nước láng giềng có sự tương đồng về nhiều mặt như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá Hoàn thiện pháp luật nói chung và hoàn thiện các qui định Pháp luật về Đầu tư tại Lào phải đặt trong sự so sánh và kinh nghiệm thực tiễn từ Việt Nam Vì vậy tôi quyết định

chọn đề tài “Các qui định pháp luật về Đầu tư nước ngoài của Việt Nam và

Lào: Nhìn từ góc độ so sánh” làm đề tài luận văn Thạc sỹ luật học

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tại Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu, luận văn tốt nghiệp, sách và tạp chí…đề cập về pháp luật đầu tư nói chung và luật đầu tư nước ngoài nói riêng như :

“Thực trạng và giải pháp thúc đẩu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Khóa luận tốt nghiệp, Nguyễn Đình Cẩn, năm 2003,

Đại học Ngoại thương;

“ Phương hướng hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tiến tới mặt bằng pháp lý chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, Luận văn tốt nghiệp, Vũ Huyền Bảo, năm 2003

“ Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật Việt Nam ”, Luận văn tốt nghiệp, Hồng Minh Phương (Kinh tế

25 D) Trương Đại học Luật Hà Nội 2004

“ Pháp luật về bảo đảm đầu tư Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Phạm Nhật Tân, Đại học Luật Hà Nội 2006…

Tại Lào,đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các luận văn tốt nghiệp, cách sách và tạp chí… đề cập liên quan đến vấn đề đầu tư nói chung

và đầu tư nước ngoài nói riêng đến như:

Một số công trình nghiên cứu về đầu tư đăng trên tạp chí TARGET (viết về hoạt động đầu tư của Lào)

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế CHDCND Lào”, Luận án Tiến sỹ của Bua phăm Thíp Pha Vông, năm 2001

“Các biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Công Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào”; Luận văn thạc sỹ luật học của

Souliya Pouangpadith

Tìm hiểu Luật đầu tư Việt Nam và Lào, Luận văn tốt nghiệp của Poumy

Sinlatanathamatheva

Trang 10

“Pháp luật về bảo đảm đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào - thực

trạng và phương hướng hoàn thiện”, Luận văn Cao học của NorKeo

Kommadam

Mỗi tác phẩm đề cập đến vấn đề đầu tư ở một góc độ khác nhau Nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp và cụ thể về vấn đề so sánh các qui định về pháp luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam và Lào, từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện các qui định về pháp luật đầu tư của Lào

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài tập trung vào phân tích quá trình ra đời, nội dung chủ yếu của

các qui định của pháp luật về đầu tư nước ngoài trong các văn bản pháp luật

của Việt Nam và Lào được ban hành trong thời gần đây.Chủ yếu tập trung

nghiên cứu và so sánh các qui định của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Lào (

Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài năm 2004 và các văn bản hướng dẫn )

và Việt Nam( Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn năm 2005)

Mới đây nhất, Lào đã ban hành Luật Khuyến khích đầu tư năm 2010 (có hiệu lực thi hành từ năm 2011) điều chỉnh cả hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài Tuy nhiên, Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài năm

2004 của Lào vẫn có giá trị thực hiện, nhà nước chỉ khuyến khích các áp dụng Luật khuyến khích đầu tư 2010 đối với hoạt động đầu tư nước ngoài từ năm 2011 đến nay và văn bản hướng dẫn thực hiện vì Luật Khuyến khích đầu tư chung hiện nay vẫn chưa đầy đủ.Vậy nên, trong khuôn khổ Luận văn này chỉ đề cập, so sánh các qui định pháp luật đầu tư nước ngoài của Lào theo Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài năm 2004

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy phạm pháp luật của Việt Nam và Lào điều chỉnh các quan hệ đầu tư mà nhà đầu tư là bên nước

Trang 11

ngoài; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, Lào về đầu tư nước ngoài vào mỗi nước; các quan điểm, tư liệu về thực tế đầu tư vào Việt nam và Lào

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được thực hiện theo phép duy vật biện chứng Chủ nghĩa Mác

- Lênin về Nhà nước và Pháp luật; những tư tưởng cơ bản thể hiện trong đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội

Đồng thời, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, đánh giá, tổng hợp, so sánh, logic…và nhiều phương pháp khoa học khác nhằm làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của đề tài trên phương diện lý luận và thực tiễn trong đó phương pháp chủ yếu là so sánh, phân tích, tổng hợp

6 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu quá trình phát triển các qui định của pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Lào trong sự so sánh với Việt nam Đặc biệt luận văn chú trọng tìm ra phương hướng và bài học kinh nghiệm và giải pháp để hoàn thiện và hệ thống hoá các qui định về pháp luật đầu tư nước ngoài ở Lào, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi thu hút các dự án đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

7 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

- Nghiên cứu làm rõ căn cứ lý luận để so sánh pháp luật đầu tư nước

ngoài của Việt Nam và Lào

- Phân tích, đánh giá các qui định pháp luật về đầu tư nói chung và

đầu tư nước ngoài nói riêng ở Lào và Việt nam từ góc độ so sánh

- Đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp

luật về đầu tư nước ngoài tại Lào dựa trên cơ sở kết quả so sánh và kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam

Trang 12

8 Cơ cấu của luận văn

Ngoài lời cảm ơn, phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu bởi 3 chương:

Chương 1: Những căn cứ lý luận để so sánh các qui định về pháp luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam và Lào

Chương 2: So sánh các qui định pháp luật về đầu tư nước ngoài của Việt Nam và Lào

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư nước ngoài ở Lào hiện nay

Trang 13

Chương 1

NHỮNG CĂN CỨ LÝ LUẬN ĐỂ SO SÁNH CÁC QUI ĐỊNH VỀ PHÁP

LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM VÀ LÀO

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật đầu tư nước ngoài

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật đầu tư nước ngoài

Ngày nay, thuật ngữ “đầu tư” được sử dụng rộng rãi và có nhiều cách

đó nhằm mục đích thu lợi nhuận.Vốn đầu tư bao gồm tiền và các tải sản có giá trị khác.[27.Trang 9]

Dưới góc độ kinh tế, đầu tư được hiểu là khâu đầu tiên trong quá trình sản xuất kinh doanh của chủ thể đầu tư Đầu tư cũng được hiểu là toàn bộ các

chi phí được bỏ ra trước khi thu lợi nhuận Đầu tư có thể được coi là quá trình lâu dài bao gồm nhiều khâu nhiều, bước

Dù cách diễn đạt các khái niệm như đã nêu trên có khác nhau song không có sự khác biệt lớn, theo đó, để xác định một hoạt động được coi là đầu

tư căn cứ vào mấy đặc điểm sau:

- Đầu tư là một hoạt động tài chính (bỏ vốn thu lợi nhuận) vốn đầu tư

có thể là tiền hoặc các loại tài sản có giá trị có thể tính thành tiền, đất đai hoặc các tài nguyên khác

- Đầu tư là hoạt động diễn ra trong một thời gian tương đối dài

Trang 14

- Hoạt động đầu tư có tính sinh lời nhưng cũng có tính rủi ro và độ rủi

ro càng cao khi nhà đầu tư đưa vốn ra nước ngoài để hoạt động đầu tư ở nước ngoài

Như vậy, chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về đầu tư là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền hoặc các tài sản có giá trị khác để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận

Xét trên góc độ quốc gia, hoạt động đầu tư cũng được phân chia thành hai hình thức cơ bản là : Đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài

Về khái niệm đầu tư nước ngoài hiện nay có rất nhiều quan điểm như:

Theo Hội đồng tương trợ kinh tế đã đưa ra khái niệm: “ đầu tư nước ngoài được hiểu là tất cả những loại giá trị vật chất mà nhà đầu tư đưa từ nước ký kết này sang nước ký kết hữu quan theo pháp luật của nước sử dụng đầu tư”.[27.Trang 6]

Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” thì “Đầu tư nước ngoài là việc xuất khẩu tư bản của nước mình đem đầu tư ở nước ngoài để thu lợi bằng cách xây dựng xí nghiệp mới, mở rộng xí nghiệp cũ ở nước ngoài hay mua bán chứng khoán của các công ty ở nước ngoài.”[27.Trang 8]

Trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, khái niệm đầu tư

nước ngoài được hiểu là “ mọi hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một bên do các công dân hoặc công ty của bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp, bao gồm các hình thức : một công ty hoặc một doanh nghiệp; cổ phần, cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác, trái phiếu, giấy ghi nợ và các quyền lợi đối với các khoản nợ dưới các hình thức khác trong công ty; các quyền theo hợp đồng như hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồng xây dựng hoặc hợp đồng quản lý, các hợp đồng sản xuất hoặc hợp đồng phân chia doanh thu, tô nhượng hoặc các hợp đồng tương tự khác ”[27.trang 10]

Trang 15

Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987,

khái niệm đầu tư nước ngoài được hiểu như sau: “ Đầu tư nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100 % vốn nước ngoài theo qui định của luật này.” (Khoản 3,

điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987)

Theo khoản 12, điều 3 Luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam giải thích

như sau: “ Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư.”

Tại Lào, thuật ngữ “ đầu tư nước ngoài” được hiểu là các nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn, bao gồm các tài sản, công nghệ và sự lành nghề vào nước Lào để thực hiện hoạt động kinh doanh.(Điều 2 Luật khuyến khích đầu

tư nước ngoài năm 2004)

Từ những khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm đầu tư nước ngoài

chung nhất như sau: đầu tư nước ngoài là việc nhà đâu tư của nước này đưa vốn bằng tiền hoặc tài sản khác vào nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lại lợi nhuận và những mục tiêu kinh

tế - xã hội nhất định.Về bản chất đây là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình

thức phát triển cao của các quan hệ kinh tế quốc tế Nếu xét ở góc độ nước nhận đầu tư thì đầu tư của nhà đầu tư nước khác (Kể cả vùng lãnh thổ) vào nước đó thì gọi là đầu tư nước ngoài

Như vậy, đầu tư nước ngoài là một tất yếu khách quan đối với cả phía đầu

tư và phía tiếp nhận đầu tư.Phía đầu tư chủ yếu là các công ty đa quốc gia thuộc các nước phát triển hoặc các nền kinh tế mới nổi.Do yêu cầu mở rộng kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh, do sự chi phối của qui luật lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận giảm dần, nhằm tận dụng lợi thế vốn có của mình

Trang 16

các công ty đa quốc gia phải vươn tầm hoạt động ra khắp thế giới chủ yếu đầu

tư vào các nước đang phát triển.Về phía các nước đang phát triển, kinh tế đang trên đà phát triển nên thu nhập bình quân trên đầu người thấp, khả năng tiêu dùng cũng như mức tích lũy còn ở mức thấp, phần lớn thu nhập được dùng để đảm bảo cho tiêu dùng ở mức tối thiểu cần thiết, do đó phần tiết kiệm vốn là rất nhỏ

Nói cách khác, các nước phát triển cần một số vốn tương đối lớn để phát triển kinh tế.Mặt khác, ở các nước đang phát triển do ngành công nghiệp chưa phát triển nên hàng hóa xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô, nguyên liệu sơ chế hoặc những mặt hàng có giá trị gia tăng thấp, trong khi đó hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị có giá trị gia tăng cao.Vì vậy cán cân thương mại mất cân bằng, tình trạng nhập siêu vẫn còn lớn đồng thời ngoại tế cũng bị thiếu hụt trầm trọng.Chính vì vậy việc thu hút đầu tư từ nước ngoài là điều cần thiết

Pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước.Nhà nước quản lý mọi hoạt động của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội, trong đó có hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng các qui định pháp luật về đầu tư nước ngoài

Pháp luật về đầu tư nước ngoài được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả

ba bộ phận là luật Đầu tư nước ngoài và các văn bản hưởng dẫn trực tiếp thi hành; các chế định liên quan đến đầu tư nước ngoài được qui định trong các văn bản pháp luật khác; các qui phạm pháp luật có liên quan đến đầu tư nước ngoài được qui định trong các điều ước quốc tế mà nước đó ký kết hoặc tham gia

Pháp luật về đầu tư nước ngoài hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm các luật Đầu tư nước ngoài và các văn bản hướng dẫn trực tiếp thi hành

Trang 17

Như vậy, chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về pháp luật về đầu tư nước ngoài là hệ thống những qui phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chính các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại nước đó

Pháp luật về đầu tư nước ngoài có những đặc điểm sau:

Một là các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài phải mang yếu tố nước ngoài

Dấu hiệu đặc trưng có tính chất bắt buộc của các quan hệ xă hội thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài là yếu tố nước ngoài Các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của các bộ pháp luật khác như pháp luật Dân sự, pháp luật Kinh tế -Thương mại, áp dụng chung cho mọi chủ thể kinh doanh không được xem là pháp luật về đầu tư nước ngoài

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài như:

- Quan hệ giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước nhận đầu tư mà đại diện là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Quan hệ giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Quan hệ hợp tác kinh doanh, liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước

- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế

- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các tổ chức,

cá nhân nước ngoài trong góp vốn đầu tư khi đã hình thành doanh nghiệp

Hai là pháp luật về đầu tư nước ngoài có phương pháp điều chỉnh đặc thù

Pháp luật về đầu tư nước ngoài có ba phương pháp điều chỉnh: phương pháp thỏa thuận (hay còn gọi là phương pháp tự nguyện), phương pháp mệnh

Trang 18

lệnh (hay còn gọi là phương pháp bắt buộc), và phương pháp khuyến khích.Ba phương pháp này có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau

và được sử dụng trong sự kết hợp với nhau.Tuy ở mỗi quốc gia trên thế giới cách thức kết hợp ba phương pháp này là khác nhau những hầu hết đều sử dụng ba phương pháp điều chỉnh này

Ba là pháp luật về đầu tư nước ngoài có bộ phận cấu thành là một số lượng lớn các điều ước quốc tế có liên quan trực tiếp đến đầu tư nước ngoài

mà quốc gia đó ký kết hoặc gia nhập

Các ngành luật khác cũng có thể là bộ phận cấu thành các điều ước quốc tế nhưng không nhiều hoặc phong phú như pháp luật về đầu tư nước ngoài.Bởi trong pháp luật đầu tư nước ngoài, các quy phạm trong các điều ước quốc tế tham gia điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của chủ thể các quan hệ pháp luật đầu tư nước ngoài tại quốc gia đó.Các nhà đầu tư nước ngoài coi các điều ước quốc tế là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo thực hiện quyền

và nghĩa vụ của họ.Ví dụ như Việt nam pháp luật về đầu tư nước ngoài có bộ phận cấu thành là một số lượng lớn các điều ước quốc tế như Hiệp định khung

về khu vực đầu tư ASEAN, 41 Hiệp định song phương và khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 34 Hiệp định tránh đánh thuế lần 2, Hiệp định thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ.Việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế hai bên hay nhiều bên được tiến hành theo các qui định của pháp luật Việt Nam về ký kết

và thực hiện các điều ước quốc tế

1.1.2 Vai trò của pháp luật đầu tư nước ngoài

Pháp luật về đầu tư nước ngoài là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài nói chung cũng như tới tất cả các yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc nói riêng.Do đó, pháp luật về đầu tư nước ngoài

có một số vai trò chủ yếu sau đây:

Trang 19

Thứ nhất, pháp luật về đầu tư nước ngoài thể hiện quan điểm,đường lối chính sách của Đảng cầm quyền và Nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài

Đối với mỗi quốc gia, pháp luật là phương tiện thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền được thực hiện có hiệu quả.Pháp luật còn là phương tiện để Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội cũng như thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Bản thân hoạt động đầu tư ngoài với những lợi ích to lớn mang lại cho nền kinh tế, nó còn mang nhiều nguy cơ đối với nước tiếp nhận đầu tư như là kéo dài xu hướng thay thế nhập khẩu và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, dễ làm tăng nguy cơ thâm hụt cán cân thanh toán thậm chí do sự độc quyền của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, làm lệch sự phân bổ các nguồn lực tài chính, tăng nguy cơ phá sản của các cơ sở kinh tế và ngành nghề truyền thông và một số tác động phi kinh tế Bởi vậy đòi hỏi Nhà nước và Đảng cầm quyền phải có những chính sách, hoạch định cũng như định hướng phát triển lâu dài đối với hoạt động đầu tư nước ngoài thông qua các qui định của pháp luật về đầu tư nước ngoài

Thứ hai, pháp luật đầu tư về nước ngoài là cơ sở pháp lý để bảo vệ lợi ích, khuyến khích,ưu đãi và đảm bảo đối với các nhà đầu tư nước ngoài

Với các qui định pháp luật về đầu tư nước ngoài hoàn thiện sẽ khẳng định quyền được tôn trọng, bảo vệ, khuyến khích, ưu đãi và đảm các nhà đâu

tư nước ngoài ,cho phép nhà nhà đầu tư khai thác được những lợi thế của nước tiếp nhận đầu tư để tối đa hóa lợi nhuận trong sản xuất, kinh doanh, tối thiểu hóa chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian thu hồi vốn đầu tư và thu lại lợi nhuận cao nhất nhờ các ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài Đồng thời, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia điều hành quá trình sản xuất

Trang 20

kinh doanh ở đơn vị mà họ bỏ vốn đầu tư.Nhờ vậy, các nhà đầu tư có thể đưa

ra những quyết định kịp thời, nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn bỏ ra

Tạo ra một hành lang pháp lý an toàn để các nhà đầu tư nước ngoài dễ chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như khai thác nguyên liệu chủ yếu ở nước tiếp nhận đầu tư.Đó cũng là cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài

mở rộng thị trường, tăng cường sức mạnh kinh tế và thiết lập mang lưới trên toàn thế giới đặc biệt là đối với các công ty đa quốc gia

Thứ ba, pháp luật về đầu tư nước ngoài là cơ sở pháp lý để xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư

Nhà nước không thể tham gia vào hoạt động đầu tư cụ thể mà chỉ thực hiện chức năng quản lý đầu tư thông qua bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư.Tuy nhiên,hoạt động quản lý của Nhà nước không thể thực hiện được nếu không dựa vào cơ sở vững chắc của những nguyên tắc và quy định cụ thể của pháp về đầu tư nước ngoài Bởi vì để bộ máy quản lý hoạt động có hiệu quả, phải xác định đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cơ quan và xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan nhằm thiết lập ra một cơ chế đồng bộ

Bản thân chức năng tổ chức và quản lý đầu tư nước ngoài có phạm vi rộng và phức tạp bao gồm nhiều mối quan hệ, nhiều vấn đề mà nhà nước cần xác lập, điều tiết và giải quyết như: hoạch định chính sách đầu tư, quy định về chế độ tài chính, tiền tệ Tất cả những điều đó đều đòi hỏi sự điều chỉnh phù hợp với nhà nước để hoàn thiện bộ máy quản lý phù hợp theo xu thế chung, phù hợp với những đặc thù của nền kinh tế thị trường

Thứ tư, pháp luật về đầu tư nước ngoài góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư,phát triển kinh tế - xã hội

Pháp luật về đầu tư nước ngoài ra đời để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực đầu tư nước ngoài.Pháp luật về đầu tư nước ngoài cũng tác động trở lại làm cho các quan hệ đầu tư phát triển nhằm thu hút vốn đầu tư

Trang 21

Bởi nguồn vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nguồn quan trọng

để bù đắp sự thiếu hụt về vốn và ngoại tệ, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế

về vốn đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư.Đầu tư nước ngoài thường mang tính khả thi cao, tạo điều kiện cho nước tiếp nhận đầu tư tiếp nhận vốn, công nghệ, kỹ thuật hiện đại mà không để lại gánh nặng

nợ nần cho nền kinh tế, tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuất khẩu

Tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài còn giúp nền kinh tế trở nên năng động , có hiệu quả, tạo đà cần thiết để giải quyết một phần nạn thất nghiệp, kiềm chế lạm phát, tăng thu ngân sách, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo môi trường cạnh tranh thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển Đối với các nước đang phát triển tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài sẽ tạo đà cần thiết để vượt qua đói nghèo vì vốn là cơ sở để tạo ra công

ăn việc làm trong nước, tiếp nhận những tiến bộ của công nghệ, trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại, học hỏi những kinh nghiệm chuyên môn, kiến thức kinh doanh và kỹ năng quản lý từ các nước tiên tiến

Thứ năm, pháp luật về đầu tư nước ngoài thúc đẩy và phát triển quan hệ hợp tác kinh tế - chính trị giữa các quốc gia

Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa như ngày nay, phạm vi các mối quan hệ về kinh tế - chính trị giữa các quốc gia ngày càng mở rộng và tính chất ngày càng đa dạng.Pháp luật về đầu tư nước ngoài tạo ra hành lang pháp

lý an toàn cho các tổ chức, cá nhân ðầu tý vào nýớc tiếp nhận ðầu tý ðồng thời tạo ðiều kiện cho các doanh nghiệp trong nýớc tiếp nhận ðầu tý tham gia vào thị trýờng quốc tế.Ðồng thời, còn là điều kiện quan trọng để tạo ra niềm tin, là cơ sở để phát triển mối quan hệ hữu nghị đối với các quốc gia.Nói cách khác, sự phát triển của pháp luật về đầu tư nước ngoài còn gắn liền với sự phát triển về chính sách đối ngoại, thu hút đầu tư của các quốc gia

Trang 22

1.2 Căn cứ để so sánh pháp luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam và Lào

1.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Việt Nam và của Lào

1.2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Việt Nam

Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 6 ở Đông Nam Á và lớn thứ 57 trên thế giới xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2011và đứng thứ 128 xét theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người Tổng Thu nhập nội địa GDP năm 2011 là 124 tỷ USD Đây là nền kinh tế hỗn hợp, phụ thuộc cao vào xuất khẩu thô và đầu tư trực tiếp nước ngoài

Việt Nam là quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Nhóm Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, ASEAN Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do đa phương với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc Việt

Nam cũng đã ký với Nhật Bản một hiệp định đối tác kinh tế song phương

Cũng giống như Lào, Việt Nam là nước đa dạng về văn hóa và dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả nước Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổ và đồng bằng ven biển Những dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chăm và người Khmer phần lớn đều tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên Việt Nam là một nước đông dân, tuy diện tích đứng hạng 65 nhưng lại xếp thứ 13 trên thế giới về dân số Việt Nam phát triển từ nền kinh tế nông nghiệp với 29,6% sống ở khu vực thành thị và khoảng 60,4 triệu người cư trú ở khu vực nông thôn

1.2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Lào

Lào là một nước vào loại kém phát triển ở Đông Nam Á.Tuy có nguồn

tài nguyên phong phú về lâm nghiệp, nông nghiệp, khoáng sản và thuỷ điện Nhìn chung kinh tế Lào tuy phát triển song chưa có cơ sở bảo đảm ổn

Trang 23

định.Theo bảng xếp hạng của Liên hiệp quốc về trình độ phát triển, Lào đứng hàng thứ 138 trong tổng số 187 quốc gia Sản phẩm nông nghiệp chiếm khoảng một nửa tổng sản phẩm quốc nội và sử dụng 80% lực lượng lao động Nền kinh tế vẫn tiếp tục nhận được sự trợ giúp của IMF và các nguồn quốc tế khác cũng như từ đầu tư nước ngoài trong chế biến sản phẩm nông nghiệp

những tiền đề cho một thời kỳ tăng tốc

Lào là một nước đa dạng về dân tộc, có 68 dân tộc có tiếng nói và phong tục tập quán khác nhau; trong đó có 3 dân tộc lớn như: Lào Lùm (vùng thấp) chiếm khoảng 50% dân số cả nước (chiếm đa số lớn nhất ), Lào Thông (vùng trung du) với khoảng 30% dân số, Lào Xủng (vùng cao) chiếm 15% dân

số Nông dân chiếm hơn 90% dân số và sản phẩm nông nghiệp chiếm 60% GDP, về mặt trình độ văn hóa kỹ thuật, tay nghề còn rất hạn chế Tất cả những điều đó là một trong những nguyên nhân chính cản trở việc thu hút đầu

tư nước ngoài để mở rộng và nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại

1.2.2 Sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của Nhà nước

1.2.2.1 Sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của Nhà nước tại Việt Nam

Việt Nam hiện nay là một trong số ít các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa Mặc dù trước những biến động và tổn thất của cách mạng thế giới, tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII tháng 6 năm 1991 vẫn khẳng định kiên trì lãnh đạo đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa và tiến hành công cuộc đổi mới xây dựng đất

Trang 24

Hệ thống chính trị được thực hiện theo cơ chế chỉ có duy nhất một đảng chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, với tôn chỉ là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực

là Quốc hội Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam theo quy định trong điều 4 của Hiến pháp 1992

Do chỉ một đảng lãnh đạo đất nước, sự thăng trầm của nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào vai trò lãnh đạo và các chính sách của Đảng Cộng sản và Nhà nước đưa ra

1.2.2.2 Sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của Nhà nước tại Lào

Cũng giống như Việt Nam, Lào là một trong số ít các nước cộng

sản còn lại sau sự sụp đổ của Liên xô và các nước XHCN Đông Âu.Với thể chế Cộng hòa Nhân dân, một viện (từ năm 1975) Hiến pháp được thông qua ngày 14 tháng 8 năm 1991, có 16 tỉnh và duy nhất một thành phố.Dân chủ nhân dân Lào theo định hướng xã hội chủ nghĩa do một chính đảng duy nhất

là Đảng NDCM Lào lãnh đạo, được thành lập ngày 22/3/1955.Tại Lào không

có đảng đối lập

Tại Đại hội đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ VIII tháng 3 năm

2006 đề ra mục tiêu đến năm 2020: xây dựng vững chắc hệ thống chính trị dân chủ nhân dân, trong đó Đảng là hạt nhân lãnh đạo, giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự an toàn xã hội; đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển; kinh tế phát triển dựa trên sự phát triển nông nghiệp vững chắc và lấy phát triển công nghiệp làm cơ sở, tạo tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo chuyển biến cơ bản về chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; phát triển nhịp nhàng các thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được củng cố và phát triển vững mạnh

Trang 25

1.2.3 Hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.3.1 Hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam

Đối với Việt Nam, từ khi thực hiện sự nghiệp đổi mới, sự ổn định chính trị luôn được đảm bảo, cùng với sự ổn định chính trị là chính sách ngoại giao mềm dẻo, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ với khẩu hiệu "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới vì hòa bình, hợp tác và phát triển"

Sự ổn định chính trị - xã hội gắn với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, kiên trì con đường đổi mới có nguyên tắc là nguyên nhân của mọi thành công, trong đó có việc thu hút đầu tư nước ngoài

Hiện nay, Việt Nam đang là thành viên quan trọng trong khối ASEAN, tích cực thực hiện các cam kết khu vực mậu dịch tự do ASEAN Đồng thời,

là thành viên tích cực của APEC, ASEM và nhiều tổ chức kinh tế quốc tế khác, tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) với các đối tác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản Việt Nam cũng đã ký kết Hiệp định đối tác kinh tế với Nhật Bản, đang đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương và chuẩn bị khởi động vòng đàm phán FTA với EU Năm

2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, có quan hệ thương mại với trên

150 quốc gia và vùng lãnh thổ, đánh dấu sự hội nhập toàn diện và đầy đủ của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu.

1.2.3.2 Hội nhập kinh tế quốc tế tại Lào

Đường lối, chính sách đổi mới được Đại hội IV khởi xướng và các nghị quyết của Trung ương Đảng sau đó cụ thể hóa và phát triển cùng với thực tiễn hoạt động ngoại giao thời kỳ 1986-1991 đã thể hiện rõ nét đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng NDCM Lào Nó mở ra một trang mới cho nền ngoại giao Lào hiện đại và đặt cơ sở vững chắc cho bước đột phá trong đường lối đối ngoại

Trang 26

độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước Lào từ Đại hội V đến nay

Với tư cách là thành viên của cộng đồng quốc tế, nhiều năm qua, Lào thực hiện chính sách hội nhập quốc tế sâu rộng trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đôi bên cùng có lợi, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho việc phát triển của mỗi nước Thực tế cho thấy,Lào đã triển khai chính sách đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế linh hoạt và có hiệu quả vì sự tiến bộ và phồn vinh của đất nước.Sự kiện Lào chính thức gia nhập WTO cũng là bước ngoặt lịch sử của đất nước Triệu Voi trên đường hội nhập và phát triển

Đến năm 2007, Lào có quan hệ thương mại với 60 nước, ký Hiệp định thương mại với 19 nước, 39 nước cho Lào hưởng quy chế GSP

1.2.4 Mục tiêu điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài

1.2.4.1 Mục tiêu điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt

Nam

Việt Nam đã ký kết và triển khai nhiều hiệp định song phương và đa phương liên quan đến hoạt động đầu tư, trong đó đòi hỏi Việt Nam phải từng bước mở cửa thị trường, xoá bỏ các rào cản thuế quan, phi thuế quan hoặc các trợ cấp không phù hợp với các cam kết quốc tế

Do đó, mục tiêu điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài phải đảm bảo chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp với nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng đơn giản, minh bạch, nhất quán, xoá

bỏ sự phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; xây dựng trình tự, thủ tục đơn giản thuận lợi không chỉ cho các nhà đầu tư mà cho cả cơ quan Nhà nước nhằm bảo đảm chính sách đến được các nhà đầu tư, tạo lòng tin cho nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế hăng hái, tự tin sử dụng mọi nguồn lực cho đầu tư, kinh doanh

Trang 27

1.2.4.2 Mục tiêu điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Lào

Mục tiêu điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Lào nhằm

mở rộng các ngành kinh doanh thu hút vốn và ngoại tệ vào lưu thông trong nước, khuyến khích xuất khẩu và tìm kiếm thị trường nước ngoài để từ đó tiếp thu và học hỏi trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, phát triển và nâng cao trình độ cho người lao động trong nước, tạo ra nhiều công

ăn việc làm cho người dân lao động, từ đó góp phần cải thiện và nâng cao đời sống xã hội

Vì mục tiêu nêu trên mà nội dung cơ bản pháp luật về đầu tư nước ngoài của Lào quy định những nguyên tắc trong hoạt động đầu tư, các loại hình và ngành nghề đầu tư, các biện pháp khuyến khích, bảo hộ và quản lý việc đầu tư trong nước và nước ngoài Và quan trọng nhất đó là việc quy

định quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài

1.2.5 Những điểm tương đồng và khác biệt là cơ sở để hoàn thiện pháp

luật phù hợp với điều kiện của Việt Nam và Lào

1.2.5.1 Nhưng điểm tương đồng là cơ sở để hoàn thiện pháp luật phù hợp

với điều kiện của Việt Nam và Lào

Một là tương đồng về điều kiện kinh tế - xã hội:

Việt Nam và Lào là hai quốc gia láng giềng gần gũi, cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, có chung 2000km đường biên giới Hai dân tộc đã có hàng ngàn năm lịch sử giúp đỡ lẫn nhau Do vậy, giữa Việt Nam và Lào có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội

Việt Nam và Lào nằm ở trung tâm bán đảo Ấn-Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa Trong phạm vi của bán đảo Đông Dương, Việt Nam nằm ở phía đông dãy Trường Sơn, như một bao lơn nhìn ra biển; Lào nằm ở sườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào vùng đất liền của bán đảo Việt Nam và Lào là quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, đa dạng, điều kiện tự nhiên thuận lợi Do vậy khi các nước phát triển đầu tư vào Lào và Việt

Trang 28

Nam thì lĩnh vực đầu tư chủ yếu nông nghiệp, chế biến, khai thác khoáng sản.Bởi có thể tìm thấy rất nhiều cơ hội dầu tư phát triển và khai thác các vùng nguyên liệu khá rẻ tại dây

Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia của hai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người ở khu vực Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng

Việt Nam và Lào là hai quốc gia có nền kinh tế kém phát triển Việt Nam phấn đấu đến năm 2020 phải trở thành nước công nghiệp hoá, trong khi đó Lào cũng phải thoát khỏi tình trạng kém phát triển và có nhân tố cơ bản để tiến vào công nghiệp hoá hiện đại hoá Như vậy, cả hai nước đều là những nền kinh tế đang chuyển đổi, từng bước xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần Cuộc khủng hoảng tài chính – tài tệ (1997 – 1998) là bài học về sức ép của toàn cầu hoá đối với các nền kinh tế mở ở Đông Nam Á Việt Nam và Lào mới gia nhập nền kinh tế thị trường nên phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình tự co hoá đầu tư và thương mại cũng như sự cạnh tranh khốc liệt từ các nước phát triển

Hiện nay, cả Lào và Việt Nam đều đã xây dựng qui hoạch phát triển tổng thể về kinh tế - xã hội đến năm 2020, là cơ sở để hai nước có thể thu hút, khuyến khích đầu tư nước ngoài

Hai là tương đồng về chính trị:

Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII tháng 6 năm 1991 và Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào lần thứ 7 (khóa IV) tháng 12 năm 1989 vẫn khẳng định kiên trì lãnh đạo đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới xây dựng đất nước

Hiện nay, cả hai nước đều duy trì chế độ xã hội chủ nghĩa với một Đảng cầm quyền và lãnh đạo Do vậy, nhiều quan điểm trong xây dựng và

Trang 29

phát triển kinh tế, các mối quan hệ trong xã hội chứa nhiều điểm giống nhau cùng với tình hình chính trị của hai nước đều khá ổn định

Ba là tương đồng về hệ thống pháp luật:

Việt Nam và Lào có hệ thống pháp luật đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường là một quá trình phức tạp lâu dài mà trong đó pháp luật

và các luật gia đóng vai trò quan trọng Pháp luật sẽ là công cụ đắc lực tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Vì hệ thống pháp luật của hai nước đều thuộc hệ thống pháp luật XNCH nên hệ thống pháp luật còn tồn tại nhiều hạn chế thể hiện ở chỗ, các hệ thống pháp luật trước đây hoàn toàn thiếu các quy định điều chỉnh các lĩnh vực của nền kinh tế thị trường như luật công ty, luật cạnh tranh, luật phá sản, luật về thị trường tài chính…Một mặt cần ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh các lĩnh vực này, mặt khác phải loại bỏ các quy định pháp luật tạo thành rào cản trực tiếp đối với nền kinh tế thị trường Bên cạnh đó, phải củng

cố một số lĩnh vực pháp luật đã tồn tại nhưng còn yếu kém chẳng hạn như luật

về sở hữu trí tuệ, đầu tư…

Ngoài ra, hệ thống thuế, các thủ tục hành chính còn nhiều phiền hà nhất

là về đất đai, xây dựng, xuất nhập khẩu

Mặt khác,chỉ số tham nhũng cũng như tình trạng quan liêu, tiêu cực trong quá trình thực thi pháp luật của Việt Nam và Lào luôn ở mức cao so với thế giới

1.2.5.2 Những điểm khác biệt là cơ sở để xác định giải pháp hoàn thiện

pháp luật phù hợp với điều kiện của Việt Nam và Lào

Một là Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn Lào

Việt Nam và Lào cùng là nước đang phát triển nhưng về mặt bằng chung Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội hơn Lào.Bản thân nền

Trang 30

kinh tế Lào vẫn trong tình trạng kém phát triển, sản xuất nhỏ vẫn là đặc trưng phổ biến và mang nặng tính chất tự cung, tự cấp toàn bộ nền kinh tế vẫn trong quá quỹ đạo tái sản xuất chưa được mở rộng.Trình độ và quy mô trang thiết bị

kỹ thuận trong kết cấu sản xuất, cũng như trong cơ cấu hạ tầng kinh tế bộc lộ

rõ rệt tính chất lạc hậu, năng suất lạo động xã hội rất thấp.Cơ cấu nền kinh tế mang đặc trưng của một nước nông nghiệp kém phát triển, mất cân đối nghiêm trọng trên nhiều mặt, chưa tạo được nguồn tích lũy cao trong nước và còn phụ thuộc nặng nề vào vốn, kỹ thuật, nguyên liệu bên ngoài.Tình trạng chia cắt và khép kín theo từng đơn vị, từng ngành…còn phổ biến, cơ cấu quản

lý theo kiểu tập trung, bao cấp vẫn còn để lại hậu quả, các yếu tố nội sinh tạo khả năng tăng trưởng cho nền kinh tế quốc dân còn chưa ổn định và chưa vững chắc.Sự trì trệ kéo dài của nền kinh tế, ngoài hậu quả chiến tranh lâu dài, duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, một nguyên nhân quan trọng là vấn đề tạo dựng vốn trong quá trình sử dụng vốn cho nền kinh tế quốc dân còn hạn hẹp và hạn chế của tình trạng “đói vốn, thiếu công nghệ” đè nặng lên toàn bộ nền kinh tế, cũng như yêu cầu đổi mới cấu tạo kỹ thuật đã và vẫn là nhiệm vụ nặng nề cho tiến trình phát triển

Do có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn Lào nên Việt Nam đã

có những chính sách hộ trợ Lào phát triển kinh tế.Hai nước không ngừng củng cố và tăng cường mối quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện.Việt Nam thực hiện Viện trợ không hoàn lại sang Lào, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội của Lào phát triển

Hai là hệ thống pháp luật Việt Nam khá hoàn thiện, đầy đủ là bài học kinh nghiệm cho Lào hoàn thiện pháp luật

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam đang được hiện thực hóa trong thực tiễn hoạt động của bộ máy nhà nước và các thiết chế xã hội.Điều quan trọng cần được nhấn mạnh khi nói về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Trang 31

là chủ trương xây dựng, đó là sự vận dụng về cơ bản toàn bộ các tiêu chí của nhà nước pháp quyền nói chung và những giá trị riêng của một nhà nước pháp quyền XHCN.Hoàn thiện pháp luật luôn là tiêu chí hàng đầu trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.Bởi vì trong nhà nước pháp quyền luôn phải đảm bảo tính tối thượng của pháp luật

Có thể nói, sau 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam đã có bước đổi mới và chuyển biến đáng kể cả về số lượng và chất lượng.Đặc biệt sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 48/NQ – TW của Bộ chính trị (ban hành năm 2005) về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.Công tác thi hành phát luật được quan tâm

và chú trọng hơn; công tác phổ biến giáo dụng pháp luật, trợ giúp pháp lý được triển khai khá đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm với nhiều hình thức phong phú, thiết thực.Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật được tiến hành thường xuyên, tập trung vào những lĩnh vực bức xúc của cuộc sống, qua đó đã khắc phục được nhiều sơ hở, khiếm khuyết của các văn bản pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Trong tiến trình thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Lào nhận được rất nhiều sự trợ giúp từ Việt Nam.Đồng thời, Lào có thể thực hiện việc hoàn thiện pháp luật dựa trên những bảo học kinh nghiệm, thực tiễn từ Việt Nam

Trang 32

2 Việc nghiên cứu pháp luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam, của Lào dưới góc độ luật học so sánh trên cơ sở làm rõ căn cứ để so sánh là cơ sở để đánh giá sự tương đồng, sự khác biệt của pháp luật về đầu tư nước ngoài của hai nước và xác định những kinh nghiệm cần nghiên cứu, tham khảo

từ thực tiễn xây dựng pháp luật của mỗi nước

Trang 33

Chương 2

SO SÁNH CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ

NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM VÀ LÀO

2.1 Nguồn quy phạm điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài

2.1.1 Nguồn quy phạm điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước

ngoài ở Việt Nam

Cùng với chủ trương huy động tối đa nguồn lực trong nước, Đảng và Nhà nước Việt nam đồng thời thực hiện chính sách tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế.Trong việc tăng cường các quan hệ kinh tế đối ngoại, việc mở rộng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài một hướng ưu tiên quan trọng.Điều lệ ban hành đầu tư ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 là văn bản pháp lý riêng biệt đầu tiên được ban hành nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Do chưa tạo được cơ sở pháp lý đầy đủ, môi trường pháp lý đồng bộ,

có hiệu quả cao và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài cũng như cho hoạt động đầu tư nói chung.Ngày 29/12/1987 tại kỳ họp thứ 2 khóa VII, Quốc hội

đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 của Việt Nam được soạn thảo dựa trên nguyên tắc rút kinh nghiệm Điều lệ đầu tư năm 1977 xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam, có tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới

Ngày 30/6/1990 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo hướng “ khuyến khích và tạo thêm điều kiện thuận lợi” cho các dự án đầu tư nước ngoài

Đến năm 1992, sau hai năm triển khai thực hiện Luật, nhiều vấn đề pháp lý đã phát sinh, phần nào làm cản trở hoạt động đầu tư nước ngoài.Vì vậy, để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra Việt Nam cần phải tiếp tục

Trang 34

sửa đổi và hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài.Thực hiện chủ trương nêu trên, ngày 23/12/1992 Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm mở rộng cho mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư

Năm 1996, khi Việt Nam bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài đã bộ lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục.Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 12/11/1996 thể hiện chủ trương của Nhà nước đối với việc cải cách các thủ tục hành chính.Luật lần này được sử đổi theo hướng giảm bớt một số ưu đãi.Những sửa đổi này, cùng với những quy định chặt chẽ hơn của một số văn bản pháp luật kinh tế khác

đã góp vần làm giảm sút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Nhằm tạo điều kiện để Việt nam tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài

và hội nhập kinh tế quốc tế ngày 09/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Qua gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật đầu

tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đã được hoàn thiện từng bước Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần

Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn xã hội, Việt Nam đã ban hành Luật đầu tư năm 2004 điều chỉnh chung cả hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài.Đồng thời, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện như Nghị định

số 101/2006/NĐ-CP ngày21/9/2006 quy định việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư; Nghị định

số 108/2006/ NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư; Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Trang 35

Ngoài ra, điều chỉnh về lĩnh vực đầu tư nước ngoài còn qui định trong các Đạo luật và các văn bản pháp luật liên quan như Luật Doanh nghiệp năm 2005, việc đó tạo bước đột phá về cải cách kinh tế xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy tối

đa nội lực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tôn trọng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh

Như vậy, ở mức độ khái quát có thể thấy so với pháp luật nhiều nước khác trong khu vực, đặc biệt là với Lào, pháp luật hiện hành về đầu tư nước ngoài của Việt Nam được coi là khá đầy đủ, toàn diện và phát triển,thông thoáng, cởi mở và có tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài

2.1.2 Nguồn quy phạm điều chỉnh Pháp luật về đầu tư nước ngoài

ở Lào

Thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng nhân dân cách mạng Lào, Chính phủ đã ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư, trong đó quy định các cá nhân, tổ chức không chỉ là nhà đầu tư trong nước mà còn là các nhà đầu tư nước ngoài có quyền đầu tư tại Lào trên nguyên tắc các bên cùng

có lợi, hoạt động trên cơ sở của pháp luật Lào, nhà đầu tư nước ngoài sẽ được bảo vệ bởi pháp luật về đầu tư nước ngoài

Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên của Lào được ban hành ngày 19/4/1988,

đã được thay thế bằng Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài được Quốc hội thông qua ngày 14/3/1994, có hiệu lực tháng 6/1994 và cùng các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định của Thủ tướng Chính phủ về quản

lý đầu tư của nhà nước ngày 22/5/2002; Quyết định về tổ chức thực hiện Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Lào ngày 22/3/2001

Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài 1994 được thay thế, sửa đổi bổ sung bằng Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài năm 2004 được ban hành cùng các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định 301/TTG ngày

Trang 36

12/10/2005 tổ chức thi hành luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Lào; Bản hướng dẫn 331/CTUKĐ Ngày 29/03/2008 (Chủ tịch uỷ ban kế hoạch và đầu tư) về một số biện pháp khuyến khích và bảo hộ hoạt động FDI tại Lào.Sắc lệnh số 06 của Chủ tịch nước qui định về việc ban hành chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước

Mới đây nhất, Lào đã ban hành Luật khuyến khích đầu tư năm 2010 (có hiệu lực thi hành năm 2011) điều chỉnh chung các hoạt động đầu tư trong nước và ngoài nước.Tuy nhiên, do mới ban hành và chưa có đầy đủ các văn bản hướng dẫn nên Nhà nước chỉ khuyến khích các nhà đầu tư áp dụng Luật khuyến khích đầu tư chung mà chưa bắt buộc.Chủ yếu hoạt động đầu tư nước ngoài ở Lào hiện nay vẫn áp dụng theo Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài năm 2005

Ngoài ra, còn có rất nhiều các văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực như: Luật Đất đai, Luật Thuế, Luật Quản lý đầu tư Nhà nước, Quản lý kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Luật Giải quyết vẫn đề về kinh tế, Luật Quản lý ngoại tệ, Luật Xuất nhập cảnh, Luật Môi trường…

Mặc dù đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh đầu

tư nước ngoài nhưng so với Việt nam thì nguồn quy phạm điều chỉnh pháp luật về nước ngoài của Lào còn chưa hoàn thiện, chưa đầy đủ và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn

Tóm lại, qua khảo sát thực tiễn lập pháp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài có thể kết luận: Pháp luật về đầu tư nước ngoài của Lào đi theo xu hướng của Việt Nam là từ việc tách biệt luật đầu tư trong nước với luật đầu tư nước ngoài tiến tới nhất thể hóa (hợp nhất) hai bộ phận pháp luật này.Đây là

xu hướng tích cực, phù hợp với xu hướng chung của các nước trên thế giới

Trang 37

2.2 Những so sánh chủ yếu nội dung các qui định của pháp luật về đầu

tư nước ngoài

2.2.1 Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

2.2.1.1 Quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng theo pháp

luật Việt Nam

Kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, Luật Đầu tư chung (2005) mở rộng phạm vi điều chỉnh, bao gồm tất cả các hoạt động đầu tư tại Việt Nam và từ Việt Nam đầu

tư ra nước ngoài, trong đó điều chỉnh hoạt động cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp; đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước và của tư nhân; đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Cụ thể: Luật Đầu tư quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lý Nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài ( Điều 1)

Đối tượng áp dụng của Luật là nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài; tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư (Điều 2)

2.2.1.2 Quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng theo pháp luật

Lào

Nếu như Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam mở rộng phạm vi điều chỉnh bao gồm tất cả các hoạt động đầu tư tại Việt Nam và từ Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, trong đó điều chỉnh hoạt động cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp thì Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài của Lào năm 2004 có phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng hẹp hơn Việt Nam: Phạm vi áp dụng là các

Trang 38

nguyên tắc, quy định và biện pháp khuyến khích, bảo hộ và quản lý đầu tư nước ngoài tại Lào (theo điều 1).Đối tượng áp dụng là hoạt động đầu tư mang yếu tố nước ngoài tại Lào trong mọi lĩnh vực kinh tế, ngoại trừ các các hoạt động kinh doanh phương hại đến an ninh quốc gia hoặc tác động tiêu cực đến môi trường hiện tại hoặc lâu dài, hoặc gây tổn hại đối với sức khoẻ hay truyền thống dân tộc

Nếu như Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam có điều luật qui định cụ thể

về phạm vi áp dụng (Điều 1), đối tượng áp dụng (điều 2) thì Luật Khuyến khích đầu tư của Lào năm 2004 không có điều luật qui định cụ thể mà phạm

vi áp dụng được thể hiện tại điều 1 qui định về mục đích và đối tượng áp dụng được qui định tại điều 3 Khuyến khích đầu tư

2.2.2 Chính sách đầu tư

2.2.2.1 Quy định về chính sách đầu tư theo pháp luật Việt Nam

Theo qui định của Luật Đầu tư năm 2005 thì nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách đầu tư như sau:

- Nhà đầu tư được đầu tư trong các lĩnh vực và ngành, nghề mà pháp luật không cấm; được tự chủ và quyết định hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam

- Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư

- Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư; thừa nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của các hoạt động đầu tư

- Nhà nước cam kết thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu

tư mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Trang 39

- Nhà nước khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư

Như vậy, chính sách đầu tư theo pháp luật Việt Nam được qui định rõ ràng, cụ thể tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi cho các nhà đầu tư nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng

2.2.2.2 Quy định về chính sách đầu tư theo pháp luật Lào

Nhận thấy được vai trò to lớn của chính sách đầu tư, Trung ương Đảng NDCM Lào đã đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của Lào năm 2006-

2010 là thúc đẩy việc phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó quan tâm đến việc phát triển doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư kinh doanh có sự hài hòa thông thoáng, đảm bảo

sự an toàn, lành mạnh và có tính cạnh tranh cao so với khu vực Phát triển kinh doanh có quy mô trung bình và nhỏ, làm cho tài chính kinh doanh có sự

ổn định vững chắc, từng bước giải quyết và tiến tới việc giải quyết các khoản

nợ nước ngoài Tăng vốn cho việc đầu tư phát triển kinh tế, xã hội, lập dự án đầu tư phù hợp, tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng của quan hệ kinh tế với nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu, thu hút vốn, khoa học kỹ thuật nước ngoài và thực hiện ký kết các hiệp định song phương và đa phương ở phạm vi cấp Nhà nước, cấp địa phương và trong phạm vi các doanh nghiệp với nhau

Tuy nhiên, Luật Khuyến khích đầu tư của Lào không có điều luật qui định về chính sách đầu tư mà qui định đó được thể hiện tại điều 3 là Khuyến khích đầu tư

Các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào mọi lĩnh vực kinh tế tại Lào, ngoại trừ các các hoạt động kinh doanh phương hại đến an ninh quốc gia hoặc tác động tiêu cực đến môi trường hiện tại hoặc lâu dài, hoặc gây tổn hại đối với sức khoẻ hay truyền thống dân tộc

Ngày đăng: 30/03/2018, 21:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w