1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP

175 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 3,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo kết quả điều tra thực tế cho thấy, trước đây dong riềng được trồng chủ yếu trên đất cằn cỗi, đất tận dụng, nhưng ngày nay ở một số địa phương tại Hưng Yên, Hà Nội dong riềng đã được

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

TRỊNH VĂN MỴ

ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP

PHÒNG CHỐNG BỌ NẸT Thosea obliquistriga Hering (Lepidoptera:

Eucleidae) HẠI DONG RIỀNG Ở HƯNG YÊN VÀ HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật

Mã số : 62.62.10.01

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Văn Đĩnh

HÀ NỘI, 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các tài liệu trích dẫn được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đã được cám ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Tác giả luận án

Trịnh Văn Mỵ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận án này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Đĩnh đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thày, cô giáo Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học và Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho tôi thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn GS.TS Hà Quang Hùng, TS Nguyễn Như Cường, TS Stephen A.Marshal đã giúp đỡ tôi trong việc định tên các loài côn trùng mới của luận án

Tôi xin trân trọng cám ơn Lãnh đạo Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm và CBCC Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Cây có củ (Viện CLT&CTP) đã tận tình và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo và bà con nông dân vùng sản xuất dong riềng thuộc tỉnh Hưng Yên và Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và triển khai thí nghiệm tại địa phương

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các bạn bè, đồng nghiệp người thân trong gia đình đã tận tình động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện luận án

Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2012

Tác giả luận án

Trịnh Văn Mỵ

Trang 4

MỤC LỤC

Nội dung Trang

1.2 Khái quát tình hình sản xuất dong riềng và phòng chống bọ nẹt

1.2.1 Tình hình sản xuất dong riềng tại Hưng Yên 7 1.2.2 Tình hình sản xuất dong riềng tại Hà Nội 8 1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sâu, nhện hại và

Trang 5

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 30 2.2 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 30

2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu, nhện hại và thiên địch

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học của

2.4.3 Nghiên cứu sinh thái học cơ bản của bọ nẹt T obliquistriga 39 2.4.4 Phương pháp xác định thiên địch trên dong riềng tại Hưng Yên,

2.4.5 Phương pháp xác định sự ký sinh của loài ruồi giả ong

S macer (RGO) trên các pha phát dục của bọ nẹt T obliquistriga 42 2.4.6 Phương pháp đánh giá năng suất củ của dong riềng ở các mức

hại tại các giai đoạn sinh trưởng của dong riềng 43 2.4.7 Phương pháp điều tra tỷ lệ nhộng trên tàn dư dong riềng 44

2.4.8 Đánh giá tính nhiễm bọ nẹt T obliquistriga của một số giống

2.4.9 Phương pháp thử hiệu lực một số loại thuốc hóa học trừ bọ nẹt 45

2.4.10 Mô hình quản lý tổng hợp bọ nẹt T obliquistriga hại dong riềng 47

3.1 Thành phần sâu, nhện hại trên dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội 50

Trang 6

3.1.1 Thành phần sâu, nhện hại trên dong riềng tại Hưng Yên và

3.1.2 Mức độ phổ biến sâu và nhện hại dong riềng tại Hưng Yên,

3.1.3 Đặc điểm gây hại và tác hại của sâu, nhện hại trên dong riềng

3.2 Đặc điểm hình thái và sinh học cơ bản của bọ nẹt

3.2.1 Đặc điểm hình thái các pha của loài bọ nẹt T obliquistriga 63

3.2.2 Đặc điểm sinh học loài bọ nẹt T obliquistriga 73 3.3 Đặc điểm sinh thái cơ bản của bọ nẹt T obliquistriga 82

3.3.1 Thời gian qua đông của nhộng bọ nẹt T obliquistriga 82

3.3.2 Đặc điểm phân bố của sâu non bọ nẹt T obliquistriga trên các

3.3.3 Diễn biến mật độ và chỉ số hại của bọ nẹt T obliquistriga trên

giống dong riềng đỏ tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2008 85

3.3.4 Diễn biến mật độ và chỉ số hại của Bọ nẹt T obliquistriga

trên dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2009 86

3.3.5 Diễn biến mật độ bọ nẹt T obliquistriga và chỉ số hại trên

dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2010 88 3.3.6 Thiên địch sâu hại dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội 93 3.4 Biện pháp phòng chống bọ nẹt T obliquistriga trên dong riềng 101 3.4.1 Biện pháp kỹ thuật canh tác phòng trừ bọ nẹt 102 3.4.2 Biện pháp vệ sinh đồng ruộng phòng trừ bọ nẹt 113 3.4.3 Tính nhiễm bọ nẹt của một số giống dong riềng 125 3.4.4 Biện pháp hóa học phòng trừ bọ nẹt trên dong riềng 126

Trang 7

3.4.5 Xây dựng mô hình quản lý tổng hợp bọ nẹt T obliquistriga

3.5 Đề xuất quy trình quản lý tổng hợp bọ nẹt trên dong riềng 136

Các công trình công bố liên quan đến luận án 142

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu, chữ viết tắt Diễn giải

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng Trang

1.1 Phân bố của họ Limacodidae ở một số vùng tại châu Á 22

3.1 Thành phần sâu, nhện hại dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội

3.5b Mức độ ăn lá của bọ nẹt T obliquistriga trên một số cây trồng

trong vùng sản xuất và trồng xen với dong riềng 75 3.6 Sức ăn lá dong riềng của sâu non bọ nẹt T obliquistriga ở nhiệt

độ 25o

3.7 Thời gian phát dục các pha của bọ nẹt T obliquistriga qua 2 đợt

3.8 Thời gian phát dục (ngày) các pha của bọ nẹt T obliquistriga ở

Trang 10

3.11 Đặc điểm phân bố sâu non bọ nẹt T obliquistriga trên các lá của

3.12 Diễn biến mật độ bọ nẹt T obliquistriga và chỉ số hại trên dong

3.13 Diễn biến mật độ bọ nẹt T obliquistriga trên Dong riềng tại các

3.14 Mật độ bọ nẹt T.obliquistriga trên Dong riềng tại các địa điểm

3.15 Thành phần thiên địch sâu hại trên đồng ruộng dong riềng 93 3.16 Tỷ lệ nhộng bọ nẹt T obliquistriga bị ruồi giả ong S macer ký

3.17 Tỷ lệ nhộng bọ nẹt T obliquistriga bị ruồi giả ong S macer ký

3.18 Tỷ lệ sâu non bọ nẹt T obliquistriga bị ruồi giả ong S macer ký

3.19 Năng suất dong riềng ở một số mức hại của bọ nẹt

T.obliquistriga, tại Thanh Trì, Hà Nội năm 2009 103 3.20 Năng suất dong riềng trong sản xuất ở một số mức hại của bọ nẹt

T.obliquistriga tại Hưng Yên và Hà Nội năm 2009 - 2010 104 3.21 Diễn biến mật độ bọ nẹt T obliquistriga trên dong riềng trồng xen

với một số cây ngắn ngày tại Khoái Châu- Hưng Yên, năm 2009 107 3.22 Diễn biến mật độ bọ nẹt T obliquistriga trên dong riềng trồng

xen với một số cây ngắn ngày tại Quốc Oai-Hà Nội, năm 2009 108 3.23 Diễn biến mật độ bọ nẹt T obliquistriga trên dong riềng trồng

xen với một số cây màu ngắn ngày tại Khoái Châu- Hưng Yên,

Trang 11

3.24 Diễn biến mật độ bọ nẹt T obliquistriga trên dong riềng trồng

xen với một số cây ngắn ngày tại Hà Nội, năm 2010 111 3.25 Mật độ nhộng bọ nẹt T obliquistriga qua đông tồn tại trên thân lá và

gốc dong riềng sau thu hoạch tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2009 114 3.26 Mật độ bọ nẹt T obliquistriga trên ruộng dong riềng được phủ

bằng tàn dư DR, tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2009 116 3.27 Mật độ bọ nẹt T obliquistriga trên ruộng dong riềng được phủ bằng

tàn dư từ vụ trồng trước, tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2010 118 3.28 Mật độ bọ nẹt T obliquistriga trên dong riềng được vệ sinh đồng

3.29 Mật độ bọ nẹt T obliquistriga trên dong riềng được vệ sinh đồng

3.30 Mức độ nhiễm bọ nẹt T obliquistriga trên một số giống dong riềng

3.31 Hiệu lực một số thuốc trừ sâu với bọ nẹt T obliquistriga trong

nhà lưới tại Thanh Trì - Hà Nội năm 2009 127 3.32 Hiệu lực trừ bọ nẹt của một số thuốc trừ sâu ngoài đồng ruộng 127 3.33 Diễn biến mật độ bọ nẹt T obliquistriga của 4 mô hình tại Khoái

3.34 Năng suất dong riềng & ngô tại 4 mô hình thử nghiệm quản lý

3.35 Hiệu quả kinh tế sản xuất Dong riềng tại các mô hình phòng trừ

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình Trang

1.1 Mạch cánh loài bọ nẹt Setora cupreiplaga (1) và loài Setothosea

1.2 Bộ phận sinh dục trưởng thành cái bọ nẹt loài Cheromettia

sumatrensis (1) và loài Thosea borneensis (2) 16 1.3 Sơ đồ hình thành các quần thể bọ nẹt theo vùng địa lý 23

2.2 Nuôi sâu non bọ nẹt ở điều kiện phòng bán tự nhiên 32

3.12 Sâu non tuổi 6 chuẩn bị hóa nhộng (1) và nhộng T obliquistriga (2) 68

3.14 Cơ quan sinh dục cái bọ nẹt T.obliquistriga 71 3.15 Cơ quan sinh dục đực bọ nẹt T obliquistriga 72 3.16 Trưởng thành đực (1) và trưởng thành cái (2) bọ nẹt T obliquistriga 72

Trang 13

3.17 Râu đầu trưởng thành đực (1), trưởng thành cái (2) bọ nẹt

3.18 Kiểu đậu trưởng thành bọ nẹt bọ nẹt T obliquistriga 73 3.19 Tư thế giao phối của bọ nẹt T obliquistriga 73 3.20 Kiểm tra nuôi BN trong phòng tại nhiệt độ 25o

C & 30oC 80 3.21 Diễn biến mật độ bọ nẹt T obliquistriga hại dong riềng tại Hưng

3.25 Diễn biến mật độ bọ nẹt T obliquistriga trên dong riềng trồng

xen với một số cây màu ngắn ngày tại Khoái Châu- Hưng Yên năm

3.26 Diễn biến mật độ bọ nẹt T obliquistriga trên dong riềng trồng xen

với một số cây ngắn ngày tại Quốc Oai-Hà Nội, năm 2009 - 2010 112 3.27 Ảnh hưởng của phủ thân lá dong riềng đến mật độ bọ nẹt

T obliquistriga trên dong riềng tại Hưng Yên, năm 2009 - 2010 117 3.28 Ảnh hưởng của phủ thân lá dong riềng đến mật độ bọ nẹt

T obliquistriga trên dong riềng tại Hà Nội năm 2009 - 2010 120 3.29 Ảnh hưởng của việc vệ sinh đồng ruộng đến mật độ bọ nẹt

T obliquistriga dong riềng tại Hưng Yên, năm 2009 - 2010 123 3.30 Ảnh hưởng của việc vệ sinh đồng ruộng đến mật độ bọ nẹt

T obliquistriga dong riềng tại Hà Nội, năm 2009 - 2010 123 3.31 Mật độ bọ nẹt T obliquistriga trên dong riềng tại các mô hình

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dong riềng (Canna edulis Ker) cây thân thảo, họ dong riềng

(Cannaceae) có nguồn gốc từ Nam Mỹ (Trương Văn Hộ và cs 1993) [8]

Trên thế giới dong riềng có khá nhiều giá trị sử dụng như tinh bột cung cấp dinh dưỡng cho con người, thân lá làm thức ăn gia súc, phần non có thể làm rau ăn, hạt non được dùng làm nhân bánh, hạt già có thể làm đồ trang sức, (Pulmass, 1985) [57]

Ở nước ta, sản xuất dong riềng chủ yếu để chế biến tinh bột làm nguyên liệu sản xuất miến dong (Trương Văn Hộ, 1993b) [7]

Theo kết quả điều tra thực tế cho thấy, trước đây dong riềng được trồng chủ yếu trên đất cằn cỗi, đất tận dụng, nhưng ngày nay ở một số địa phương tại Hưng Yên, Hà Nội dong riềng đã được trồng thành vùng sản xuất dong riềng trên diện tích lớn tập trung (150 - 300 ha/địa điểm) như Khoái Châu, Văn Giang (Hưng Yên), Quốc Oai, Hoài Đức, Thanh Trì, Thường Tín, Ba Vì (Hà Nội) hình thành vùng cung cấp nguyên liệu chế biến tinh bột, thay vì trồng lúa hoặc các cây trồng khác hiệu quả thấp

Trên thực tế dong riềng phát triển mạnh trong sản xuất, dong riềng được trồng phổ biến và ở hầu hết các tỉnh từ phía bắc vào phía nam, nhưng kinh phí đầu tư nghiên cứu và phát triển dong riềng rất ít, đến nay mới chỉ có duy nhất một giống dong riềng DR1 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận và chuyển giao vào sản xuất (theo Quyết định số 608/QĐ-TT-CLT ngày 14/12/2010) Vì vậy việc nghiên cứu chọn tạo giống, biện pháp kỹ thuật canh tác và phòng trừ sâu bệnh hại trên dong riềng ở nước

ta còn rất nhiều hạn chế

Trang 15

Dong riềng trở thành cây trồng độc canh, phát triển nhanh trên diện tích lớn Sự mất cân đối trong quá trình tổ chức sản xuất dong riềng trên, điều đó

đã dẫn đến sự bùng phát số lượng cao của loài bọ nẹt Thosea obliquistriga

Hering thành loài dịch hại nguy hiểm trên dong riềng và đồng thời xuất hiện một số sâu và nhện hại mới tấn công gây hại dong riềng Sự gây hại của bọ nẹt đã làm giảm năng suất, giảm hiệu quả đầu tư sản xuất dong riềng và bọ nẹt không những gây hại làm giảm năng suất của dong riềng, mà đối với người sản xuất bọ nẹt gây khó khăn trong quá trình chăm sóc, thu hoạch và gây hại đến sức khỏe người sản xuất bởi lông độc của chúng làm cho người bị ngứa ngáy rất khó chịu

Hiện tại việc phòng trừ bọ nẹt tại các vùng sản xuất dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội, khi bọ nẹt xuất hiện và gây hại với mật độ cao được phát hiện, người nông dân sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ là chủ yếu mà chưa có sự phối hợp với các biện pháp khác (biện pháp canh tác, giống chống chịu, vệ sinh đồng ruộng…), nên bọ nẹt ngày càng trở thành loài sâu hại khó kiểm soát

Thực tế cho đến nay ở Việt Nam chưa có tài liệu nào công bố về thành phần sâu, nhện hại và thiên địch trên dong riềng Chính vì vậy việc xác định thành phần sâu hại và nghiên cứu về các đặc điểm sinh học, sinh thái và quản

lý tổng hợp bọ nẹt Thosea obliquistriga Hering sâu hại chính trên dong riềng

là yêu cầu cấp thiết của sản xuất hiện nay

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, quy luật phát sinh phát triển bọ nẹt T obliquistriga hại dong riềng làm cơ sở khoa học xác định các giải pháp hữu

hiệu hạn chế tác hại của bọ nẹt, hạn chế thấp nhất việc sử dụng thuốc hóa học, đảm bảo an toàn thực phẩm, giảm độc hại cho người sản xuất và thuận lợi cho quá trình canh tác, đảm bảo năng suất, chất lượng cao, an toàn cho môi sinh là đòi hỏi cấp thiết, đặc biệt với vùng Đồng bằng Sông hồng nơi tập trung dân

Trang 16

cư có mật độ cao, rất dễ gây nên những tổn thất cho cộng đồng khi lạm dụng thuốc hóa học, làm mất cân bằng sinh thái Với định hướng trên, chúng tôi đã

thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện

pháp phòng chống bọ nẹt Thosea obliquistriga Hering (Lepidoptera: Eucleidae) hại dong riềng ở Hưng Yên và Hà Nội”

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa về khoa học: Kết quả điều tra thành phần sâu, nhện hại và thiên địch trên dong riềng đã xác định được 12 loài sâu, nhện hại, 5 loài thiên địch của sâu hại và trong đó 1 loài ký sinh trên bọ nẹt Kết quả nghiên cứu của đề tài đã bổ sung những dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học, sinh thái

học của bọ nẹt Thosea obliquistriga Hering và loài ruồi giả ong Systropus macer Loew ký sinh giai đoạn sâu non - nhộng bọ nẹt Thosea obliquistriga Hering Loài S macer lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học,

sinh thái học và các biện pháp phòng chống bọ nẹt T.obliquistriga hại dong

riềng đã xây dựng được quy trình quản lý tổng hợp bọ nẹt, áp dụng tại vùng nghiên cứu đạt hiệu quả cao

3 Mục đích và yêu cầu đề tài

3.1 Mục đích

Điều tra xác định được thành phần sâu, nhện hại và thiên địch có trên

dong riềng (Canna edulis Ker) Xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái học

cơ bản của loài bọ nẹt T obliquistriga để trên cơ sở đó xây dựng được quy trình quản lý tổng hợp bọ nẹt T obliquistriga trên dong riềng tại Hưng Yên và

Hà Nội

3.2 Yêu cầu của đề tài

- Xác định thành phần, mức độ phổ biến của sâu và nhện hại trên dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội

Trang 17

- Xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái học cơ bản của bọ nẹt T obliquistriga hại dong riềng

- Xác định được diễn biến mật độ của bọ nẹt T obliquistriga trên dong

riềng qua các năm và mối quan hệ của chúng tại Hưng Yên và Hà Nội

- Thử nghiệm các biện pháp phòng chống loài bọ nẹt T obliquistriga

hại dong riềng để xây dựng quy trình quản lý tổng hợp chúng tại Hưng Yên

và Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Loài bọ nẹt Thosea obliquistriga (Lepidoptera: Limacodidae) trên dong

riềng tại vùng nghiên cứu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Xác định thành phần sâu, nhện hại và thiên địch của sâu hại trên dong riềng

+ Đặc điểm sinh học, sinh thái học cơ bản của bọ nẹt T obliquistriga

+ Các yếu tố chính để xây dựng biện pháp quản lý tổng hợp bọ nẹt hại dong riềng ở vùng nghiên cứu

4.3 Đóng góp mới của đề tài

- Luận án là công trình đầu tiên ghi nhận về loài bọ nẹt T obliquistriga hại trên cây dong riềng và ruồi giả dạng ong Systropus macer Loew ký sinh sâu non nhộng bọ nẹt

- Cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm hình thái, sinh học

của bọ nẹt T obliquistriga

- Đã xác định được một số yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát sinh,

phát triển của bọ nẹt T obliquistriga hại dong riềng ở Hưng Yên và Hà Nội

- Đã xây dựng biện pháp quản lý tổng hợp có hiệu quả loài bọ nẹt

T obliquistriga gây hại trên cây dong riềng, bước đầu thử nghiệm có hiệu quả

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu

Phạm Văn Lầm (2010) [13] đã chỉ ra bất kỳ một biện pháp tác động nào lên hệ sinh thái nông nghiệp cũng đều có thể hoặc là ức chế được dịch hại (có hiệu quả trừ dịch hại) hoặc là làm tăng thêm tính trầm trọng của dịch hại Ngay cả khi sử dụng một biện pháp khôn khéo cũng đều có thể gây tác động đến dịch hại Sự thay đổi giống mới, luân canh, xen canh các cây trồng, thay đổi chế độ phân bón, mật độ gieo trồng, cơ chế tưới tiêu….tất cả đều gây ra những biến đổi lớn về tình hình dịch hại trong hệ sinh thái nông nghiệp Nếu các biện pháp tác động lên hệ sinh thái nông nghiệp không được nghiên cứu cẩn thận mà đưa vào áp dụng trên diện rộng có thể dẫn tới bùng phát số lượng dịch hại một cách khốc liệt và dẫn đến các dịch hại thứ yếu xuất hiện triền miên và có tính chất hủy diệt

Hà Quang Hùng (1998) [12] đã chỉ ra rằng trong mối quan hệ giữa dịch hại cây trồng và hoạt động mất cân đối trong sản xuất nông nghiệp của con người, đó là sự mất cân đối khi sử dụng giống cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, sự mất cân đối khi áp dụng các biện pháp canh tác kỹ thuật và sự mất cân đối trong quá trình tổ chức sản xuất sẽ tạo điều kiện cho dịch hại phát triển

Trong những năm gần đây, tinh bột dong riềng trở thành hàng hóa quan trọng cho thị trường sản xuất miến dong, việc đầu tư sản xuất dong riềng đạt hiệu quả cao, dong riềng trở thành cây xóa đói giảm nghèo và cây làm giàu ở nhiều địa phương (Trương Văn Hộ và cs, 1996) [10] Nguyên nhân trên đã dẫn đến việc mở rộng diện tích và dong riềng được trồng thành vùng nguyên liệu cung cấp cho các cơ sở chế biến tinh bột Diện tích dong riềng ngày càng phát triển, diện tích trên 30.000 ha/năm, các tỉnh trồng nhiều như Hưng Yên, Hà

Trang 19

Nội, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đồng Nai (Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Đinh Thế Lộc, 2005) [11]

Tại Hà Nội (huyện Quốc Oai, Hoài Đức) và Hưng Yên (huyện Khoái Châu), từ những năm 2000 trở lại đây, dong riềng là cây trồng độc canh, sản xuất tập trung thành những vùng có diện tích lớn đến hàng chục ha trên một địa điểm, sự mất cân đối trong quá trình trong quá trình tổ chức sản xuất trên

chính nguyên nhân đã tạo điều kiện cho loài bọ nẹt T obliquistriga bùng phát

thành dịch hại nguy hiểm trên dong riềng Kết quả điều tra thực tế cho thấy tại

Hà Nội và Hưng Yên vùng trồng dong riềng chuyên canh hàng năm bị bọ nẹt gây hại và nhiều năm bị chúng gây hại nặng đến rất nặng, như trên cánh đồng dong riềng tại Quốc Oai-Hà Nội năm 2005, toàn bộ phiến lá dong riềng bị bọ nẹt hại chỉ còn lại cuống lá, (Ảnh dịch hại bọ nẹt trên dong riềng tại Quốc Oai, Hà Nội, Nguồn Trịnh Văn Mỵ, 2005: phụ lục của luận án, tr 142) Mặc

dù dong riềng trở thành cây trồng hàng hóa, sản xuất tập trung thành vùng nguyên liệu cho chế biến tinh bột và bọ nẹt là sâu hại nguy hiểm trên dong dong riềng, nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu trong nước công bố về sự gây hại của bọ nẹt hại dong riềng Một số công trình nghiên cứu công bố liên quan đến bọ nẹt tại Việt Nam, mới chỉ dừng lại về điều tra thành phần và phân loại bọ nẹt ở một số vùng sinh thái trung du, miền núi phía bắc và miền trung nước ta (Viện BVTV, 1976) [17], (Hollyway, 1987) [40], (Viện BVTV, 1999) [18], (Solovyev và cs, 2009) [59], [61] và (Solovyev và cs, 2011) [16]

Để góp phần hạn chế thiệt hại do loài bọ nẹt T obliquistriga gây hại

trên dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội, sự cần thiết phải nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái học, quy luật phát sinh phát triển và đặc điểm gây hại của chúng trên dong riềng, làm cơ sở khoa học xây dựng quy trình quản lý tổng hợp (IPM) bọ nẹt trên dong riềng

Trang 20

1.2 Khái quát tình hình sản xuất dong riềng và phòng chống bọ nẹt tại

Hưng Yên và Hà Nội

1.2.1 Tình hình sản xuất dong riềng tại Hưng Yên

Hưng Yên nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, phía đông giáp Hà Nội, phía tây nam và phía đông giáp tỉnh Hải dương, phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, 4 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (lượng mưa trung bình hàng năm 1.450 - 1.650 mm), nhiệt độ trung bình 23,2oC, số giờ nắng 1.519 giờ, độ ẩm tương đối trung bình: 85 - 87%

Diện tích trồng dong riềng tại Hưng Yên trên 1.000 ha được tập trung tại huyện Khoái Châu, Kim Động, các bãi nổi trên sông Hồng, dong riềng được trồng thành vùng sản xuất tập trung, giống dong riềng được sản xuất gồm 2 giống là dong riềng thân đỏ lá bầu (gọi tắt là dong riềng đỏ) và dong riềng xanh (thân và lá màu xanh), diện tích giống dong riềng đỏ chiếm trên 95%, số thân/khóm từ 6 - 7 thân, mỗi thân trung bình có 11-13 lá/thân, năng suất củ trung bình đạt từ 45 - 55 tấn/ha, tỷ lệ tinh bột 20%, tổng giá trị thu được 120,0 triệu đồng/ha (trong đó giá trị đầu tư sản xuất, chỉ tính giá trị giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật là 37,0 triệu đồng/ha), tổng giá trị thu được từ sản xuất lúa (2 vụ) là 80,0 triệu đồng/ha (trong đó chi phí sản xuất là 35,0 - 40,0 triệu đồng/ha) Như vậy, hiệu quả kinh tế sản xuất dong riềng tăng trên 50% so với sản xuất lúa

Dong riềng sau thu hoạch chủ yếu được chế biến tinh bột tại Hưng Yên, sản phẩm tinh bột là tinh bột ẩm, khoảng 10% lượng tinh bột được sản xuất làm miến, lượng còn lại 90% được bán cho thị trường bên ngoài (Hà Nội, thị trường phía nam)

Về biện pháp kỹ thuật canh tác dong riềng tại Hưng Yên:

+ Đất trồng dong riềng chủ yếu là đất bồi phù sa sông Hồng + Thời gian trồng và thu hoạch: thời vụ trồng cuối tháng 1 đến cuối

Trang 21

tháng 2 hàng năm, thời gian thu hoạch vào tháng 11 tháng 12

+ Mật độ 35 - 40 nghìn khóm/ha

+ Mức phân bón: Phân chuồng 10 - 15 tấn/ha; Phân hóa học (quy nguyên chất) 40kg N + 50 kg P2 O5 + 150 kg K2O (có thể bón tro rơm rạ thay thế Kaly mức 300 - 400 kg)/ha

Cách bón: bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân Bón thúc 2 lần: lần 1 sau khi cây mọc một tháng, lượng bón 1/2 lượng đạm, lần 2 sau trồng 4 tháng bón 1/2 lượng đạm và 100% lượng kaly, mỗi lần bón kết hợp vun cao luống

Phun thuốc trừ sâu trên diện tích trồng xen thường 3 - 4 lần (trong đó 2 lần trừ sâu trên cây trồng xen và 2 lần trên dong riềng)

Khó khăn trong sản xuất dong riềng: giống dong riềng đỏ tỷ lệ tinh bột thấp (khoảng 20%), tỷ lệ củ giống sau bảo quản 3 - 4 tháng hao hụt nhiều (30

- 35%), chi phí thuốc bảo thực vật chủ yếu cho phòng trừ bọ nẹt, ngoài ra trên dong riềng bị bệnh khô lá giai đoạn sau trồng 7 - 8 tháng (tỷ lệ cao 50 - 60%) (Trương Văn Hộ, 1993 a) [6]

1.2.2 Tình hình sản xuất dong riềng tại Hà Nội

Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc Bộ, phía bắc giáp Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, phía nam giáp Hà Nam, Hòa Bình, phía đông giáp Bắc Giang, Bắc Ninh

và Hưng Yên, phía tây giáp Hòa Bình và Phú Thọ

Hà Nội nằm ở hữu ngạn sông Đà và hai bên bờ sông Hồng, trên địa phận Hà Nội còn các sông: Đuống, Cầu, Đáy, Nhuệ

Hà Nội có khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt, lượng mưa trung bình 1.800 mm/năm (tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9), nhiệt độ không khí trung bình 23,6oC, ẩm độ trung bình 79%

Hà Nội có diện tích dong riềng gần 1.000 ha được trồng tại 5 vùng có diện tích dong riềng lớn là huyện Quốc Oai (dong riềng được trồng dọc theo đất bãi sông Đáy) diện tích 210 ha, huyện Thanh Trì diện tích dong riềng 70 ha

Trang 22

và huyện Thường Tín (dong riềng được trồng dọc theo đất bãi sông Hồng) diện tích dong riềng 230 ha (vùng giáp với Khoái Châu, Hưng Yên), huyện Ba

Vì diện tích dong riềng 300 ha, Huyện Hoài Đức 120 ha và dong riềng được trồng thành vùng sản xuất tập trung, thời vụ trồng và thu hoạch cũng khá tập trung trong thời gian ngắn Giống dong riềng chủ yếu là giống dong riềng thân

đỏ lá bầu (gọi tắt là dong riềng đỏ), năng suất trung bình đạt 45 - 50 tấn/ha, tỷ

lệ tinh bột 20%, cây trồng xen với dong riềng là ngô, đậu tương, đậu xanh, lạc

Về kỹ thuật canh tác, thời vụ trồng, thu hoạch dong riềng tại Hà Nội tương tự tại Hưng Yên

Về bảo vệ thực vật trên dong riềng: Đối tượng phòng trừ chính là bọ nẹt và bệnh khô lá dong riềng nông dân sử dụng thuốc trừ sâu các loại rất khác nhau, giai đoạn phun thuốc trên dong riềng tập trung tại giai đoạn dong riềng 7 - 8 lá và 9 - 10 lá khi phát hiện thấy nhiều bọ nẹt trên đồng ruộng, có địa điểm phun thuốc trừ bọ nẹt kép nếu trên đồng ruộng mật độ bọ nẹt cao xuất hiện trở lại

Chế biến tinh bột và sản xuất miến dong riềng tại Hà Nội tập trung chủ yếu tại Dương Liễu, Cát Quế, Minh Khai huyện Hoài Đức, nơi cung cấp nhiều sản phẩm miến, bún, phở khô dong riềng trong toàn quốc và xuất khẩu (Nga, Trung Quốc, Lào)

Những khó khăn trong sản xuất dong riềng ở Hà Nội và Hưng Yên như hao hụt nhiều trong bảo quản giống, năng suất dong riềng thấp (tiềm năng năng suất dong riềng có thể đạt 60 - 100 tấn củ/ha), đối tượng sâu bệnh hại trên dong riềng là bọ nẹt và bệnh khô lá giai đoạn dong riềng 8 - 9 tháng sau trồng

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sâu, nhện hại và thiên

địch của chúng trên dong riềng

1.3.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Theo Quaitance (1989) [58], Klein (1998) [48], Cooke (2001) [26],

Trang 23

Marsall (2006) [50] đã ghi nhận ở Florida, Mississipi và Wagner (2005) [63] ghi nhận ở Carolin thuộc vùng khí hậu nhiệt đới của Mỹ có 6 loài sâu và nhện hại trên dong riềng: Sâu cuốn lá., bọ cánh cứng châu Á (Asiatic garden beetle),

Bọ cánh cứng Nhật bản (Japanese beetle), Rệp muội (Aphididae), Nhện đỏ 2

chấm (Tetranychus urticae) và bọ nẹt

1.3.1.1 Sâu cuốn lá

Theo Cooke (2001) [26], sâu cuốn lá dong riềng gồm hai loài Calpodes ethlius (sâu cuốn lá lớn) và Geshna cannalis (sâu non cuốn lá nhỏ), sâu non

sử dụng lá cuốn lại làm tổ và ăn luôn lá bên trong tổ, chúng rất phàm ăn

Sâu cuốn lá nhỏ Geshna cannalis là sâu hại nguy hiểm trên dong riềng

ở Đông nam nước Mỹ như Florida (Kimball, 1965) [47] và được Baker (2000) [21] nghiên cứu gây hại trên dong riềng ở Mississippi và bắc Carolin,

là loài sâu hại ở vùng có khí hậu nhiệt đới

Đặc điểm sâu cuốn lá nhỏ hại dong riềng Geshna cannalis được mô tả

như sau: Ngài đực có hình dạng hình chóp, màu nâu sáng, mình nhỏ, có thể tìm thấy ở mặt lá dưới của dong riềng vào ban ngày, trưởng thành có sải cánh dài trung bình 25 mm, cánh trước và sau có 2 đường màu đen nâu giao nhau

và tạo thành góc nhỏ Trưởng thành cái đẻ trứng thành ổ từ 6 - 15 quả, trứng

ở mặt trên lá dong riềng, hình dạng trứng dẹt, màu vàng xám, kích thước trứng 0,9mm (Quitance, 1989) [58]

Sâu non cuốn lá nhỏ khi mới nở ăn biểu bì, đục thành đường giữa 2 lớp biểu mô của lá và thải phân theo vết đường đục, kích thước sâu non 1,4 mm dài, màu vàng nhạt, thân có phần trong, đầu màu vàng, sâu non tuổi lớn có tập tính ăn tập thể ở mặt trên của lá dong riềng, khi sâu non 1 tuần tuổi chúng bắt đầu cuộn lá và có thể tìm thấy 5 - 6 con /tổ, nhưng chỉ thấy 1 - 2 con chung sống, sâu non đẫy sức đạt 23 mm dài và có màu trắng vàng, mình trong và có màu xanh lá cây, đầu màu vàng, mảnh đầu giữa màu nâu vàng và đầu hàm

Trang 24

dưới màu nâu đen, khi ấu trùng kéo kén, kén màu óng ánh và hóa nhộng ngay trong tổ và ở đó trong suốt thời gian nhộng, nhộng có kích thước dài 11,5

mm, màu vàng sậm như Chocolate và phía đuôi nhộng có 8 sợi lông có tác dụng giúp nhộng bám vào lá cây Thế hệ cuối cùng của sâu cuốn lá nhỏ qua đông trong năm ở bên trong lá dong riềng đã chết Ngài trưởng thành thường bắt gặp vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 ở Florida Thế hệ đầu tiên của sâu cuốn

lá nhỏ khoảng 35 ngày, trong thời gian mùa hè các thế hệ kế tiếp nhau phát triển trên dong riềng (Baker, 2000) [21]

Sâu cuốn lá nhỏ và cuốn lá lớn gây hại trên tất cả các loại dong riềng sản xuất và dong riềng cảnh Phòng trừ bằng cách cắt tất cả các lá dong riềng đã chết vùi xuống đất vào mùa Đông trong năm đó là cách tốt nhất để giảm quần thể của sâu cuốn lá nhỏ, cắt lá chết của dong riềng vào mùa đông sẽ làm giảm mật độ sâu hại vào mùa xuân (chính là diệt nhộng qua đông), vào mùa hè với

sự phát triển của sâu non thì kiểm soát bằng thuốc hóa học bằng cách phun thuốc trên bề mặt lá, tuy nhiên cần thêm vào thuốc chất bám dính, vì mặt lá

dong riềng có chất sáp không thấm nước, có thể dùng thuốc sinh học Bacillus thuringiensis (Bt), ít độc để phòng trừ đối tượng này (Khoshoo, 2005) [46] 1.3.1.2 Bọ cánh cứng châu Á (Asiatic garden beetle)

Bọ cánh cứng châu Á (Maladera castanea) là loài sâu hại khá quan

trọng, sâu non gây hại làm tổn hại ở bộ phận rễ, trưởng thành có tập tính bay nhiều và hấp dẫn bởi ánh sáng đèn và trưởng thành có đặc tính ăn đêm Bọ cánh cứng châu Á là loài đa thực, ăn trên nhiều loại cây như dong riềng, Đào, Đậu đỗ, Cúc tây, Dâu tây Ban ngày bọ cánh cứng thường ẩn mình trong đất xung quanh gốc cây và rất hiếm khi nhìn thấy chúng, trưởng thành dài 3/4 inch và có lớp lông mịn màu nâu vàng óng ánh

Phòng trừ loài này bằng thuốc hóa học, chú trọng phòng trừ loài này ở những đám cỏ có tác dụng lớn vì chúng thích nghi cư trú ở dưới lớp cỏ (Nguồn Wikipedia, the free encyclopedia 7/2008) [56]

Trang 25

1.3.1.3 Bọ cánh cứng Nhật bản (Japanese beetle)

Bọ cánh cứng Nhật Bản (Popillia japonica), Theo Klein (1998) [48]

trưởng thành có kích thước chiều dài 1,5 cm, rộng 1,0 cm, đôi cánh màu đồng sáng chói, đầu, ngực có màu xanh sáng chói, chính loài này không gây hại ở Nhật Bản nơi chúng có nhiều kẻ thù tự nhiên Nhưng bọ cánh cứng Nhật Bản lại gây hại nặng ở Mỹ trên búp non cây hoa hồng, nho, dong riềng và nhiều cây trồng khác Trưởng thành khi bay rất hay bị va đập vào tường, lợi dụng đặc điểm này người ta đã làm bẫy chắn như bức tường và dưới chân tường là túi hứng bọ cánh cứng có chứa thuốc độc gây chết bọ cánh cứng khi va đập và rơi xuống Tại trường Đại học Kentucky đã nghiên cứu về Bọ cánh cứng Nhật Bản bị hấp dẫn bởi mùi thơm Florant, chất dẫn dụ Pheromone ((Nguồn Wikipedia, the free encyclopedia 7/2008) [55]

Bọ cánh cứng Nhật Bản có thể nhận biết và gặp kẻ thù, khi đó chúng nâng hai chân sau trong không trung, tiếp cận kẻ thù với hai chân đầy gai và tấn công kẻ thù

Bọ cánh cứng Nhật Bản (Popillia japonica) nguồn gốc từ Nhật Bản và

lần đầu tiên tìm thấy ở nước Mỹ vào năm 1916 ở vườn ươm gần Riverton, Newjersey, loài này xuất hiện ở Mỹ do nhập khẩu hàng hóa từ Nhật Bản 1912 (Mass, 1988) [51]

Phòng trừ bọ cánh cứng Nhật Bản (Popillia japonica): Giai đoạn ấu

trùng sống ở dưới lớp cỏ và ăn rễ cỏ, ấu trùng dễ bị một loài vi khuẩn

Paenibacillus popilliae ký sinh Cơ quan phát triển Mỹ (USDA) đã phát hiện

và phát triển phòng trừ sinh học loài sâu hại này bằng loài vi khuẩn nói trên, có hiệu quả rất cao từ 1 - 5 năm (hiệu lực này phụ thuộc vào thời tiết) và nếu sử dụng đúng cách hiệu lực kéo dài 15 - 20 năm, ngoài ra dùng thuốc bảo vệ thực vật KAOLIN dùng để phun phòng trừ hoặc dùng bẫy Pheromone để hấp dẫn trưởng thành sau đó bắt chúng, một số cây mang tính chất xua đuổi bọ cánh cánh cứng Nhật bản như bạc hà, hành, tỏi và cây họ cúc (Klein, 1998) [48]

Trang 26

1.3.1.4 Rệp muội (họ Aphididae)

Rệp muội là loại gây hại quan trọng khi trồng dong riềng trong nhà kính, trồng bằng củ hay hạt dong riềng, chúng gây hại khi dong riềng bắt đầu xuất hiện chồi non (chồi non rất hấp dẫn với rệp), điều này rất quan trọng phòng trừ rệp để bảo vệ mắt chồi của dong riềng, cũng trong giai đoạn này nếu không chú ý phòng trừ rệp sẽ dẫn đến sự bùng nổ về số lượng chỉ trong vài ngày, chồi non ngừng sinh trưởng và chết

Phòng trừ rệp bằng cách phun thuốc trừ sâu, nhưng điều quan trọng thường xuyên kiểm tra Rệp trên dong riềng, nếu ít có thể dùng chổi lông chải Rệp hoặc dùng bọ rùa ăn thịt để trừ rệp để tránh bùng nổ về số lượng lớn (nguồn internet: Cooltropical plant.com, 2007-2008) [32]

1.3.1.5 Nhện đỏ 2 chấm

Nhện đỏ 2 chấm (Tetranychus urticae) là loài gây hại quan trọng trong

nhà kính hoặc chủ yếu thấy trong thời gian nhiệt rất nóng, khô Cơ thể nhện rất nhỏ, rất khó phát hiện bằng mắt thường giống như những chấm đỏ hoặc xanh trên lá và trên thân dong riềng, trưởng thành có kích thước khoảng 0,5mm Nhện đỏ có thể thấy ở trong nhà kính ở vùng nhiệt đới và ôn đới, đặc điểm sống ở dưới mặt lá (Mens, 2006) [52]

Nhện đỏ là loài ăn tạp có thể ăn trên hàng trăm loại cây chủ yếu trên các loài rau và cây lương thực như ớt, cà chua, khoai tây, đậu đỗ, ngô, dâu tây và trên hoa hồng

Nhện đỏ đẻ trứng trên lá và kiểu gây hại là chích hút, làm cho lá nhỏ lại, để lại trên lá các vết chấm đen gây nên vết thương làm chết biểu bì, có thể nhìn thấy rất rõ vết thương rất nhỏ tương ứng với kích thước của nhện đỏ, với mật độ cao gây hại làm ảnh hưởng đến quang hợp của dong riềng, có thể dẫn đến làm chết cây, nhện đỏ còn là môi giới truyền virus thứ cấp

Trang 27

Mùa hè Nhện đỏ (T urticae) có màu nâu hơi xanh với 2 chấm đen rõ,

nhưng vào mùa đông cơ thể có màu đỏ trở lại

Kẻ thù tự nhiên của nhện đỏ là Phytoseiulus persimilis được sử dụng

như một biện phòng trừ sinh học

1.3.1.6 Những nghiên cứu về họ bọ nẹt (Eucleidae)

Bọ nẹt thuộc Họ ngài gai Eucleidae, tổng họ Cossoidea (Brock, 1971) [22], bộ cánh vảy: Lepidoptera, là sâu hại chủ yếu ở vùng có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới Inoue (1986) [41] đã ghi nhận có 95 loài ở vùng Boneo (vùng đông nam Á), 26 loài được phát hiện ở Nhật Bản và chỉ có 3 loài được phát hiện ở Châu Âu Lill (2006) [49] cho biết sau này đã phát hiện và mô tả được trên 1.000 loài trên thế giới và thực tế số lượng loài bọ nẹt còn có thể lớn hơn rất nhiều so với những loài đã phát hiện

Những đặc điểm phân loại của họ bọ nẹt Eucleidae

Họ Bọ nẹt (Eucleidae) được được xếp tổng họ Cossoidea, dựa trên cấu tạo của bộ phận ngực của bọ nẹt (Brock, 1971) [22] Common (1970) [24], Common (1975) [25] lại dựa vào những đặc tính sinh trưởng giai đoạn đầu của bọ nẹt, xếp họ bọ nẹt (Eucleidae) vào tổng họ Zygaenoidea Fletcher & Nye (1982) [29] đã xếp họ bọ nẹt thuộc tổng họ Cossoidea Heppner (1998) [34] đã xếp họ bọ nẹt Eucleidae thuộc tổng họ Cossoidea Tuy nhiên, sự phân loại của nhiều tác giả cho đến nay vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau, chưa có

sự thống nhất cao

Gần đây nhất về phân loại bọ nẹt, theo Soble (1992), Epstein và cs (1999) và Stekolnikov (2001) bọ nẹt được xếp vào tổng họ Zygaenoidea (dẫn theo Solovyev & Witt, 2009a) [60]

Trong Bộ cánh vảy Lepidoptera họ Megalopygidae phân bố vùng Trung và Nam Mỹ, trưởng thành tương đối giống họ Eucleidae về bề ngoài

Trang 28

nhưng khác nhau về mạch cánh, sâu non nhiều lông Cơ quan sinh dục thiếu phần lồi và đặc biệt có cụm lông cứng phần bên ngoài, con cái có có phần phụ sinh dục nhỏ và dẹt, các thùy của buồng trứng đối nhau, đốt 7 và đốt 8 bụng gần bộ phận sinh dục có lớp lông mịn và rất dày Theo Fracker (1915) [30] và Mosher (1916) [53] sâu non và nhộng của họ Megalopygidae có những điểm tương đồng với sâu non và nhộng của họ Eucleidae

Hering (1931) [35] đã nhóm gộp một số loài bọ nẹt vào họ phụ trong họ Eucleidae dựa vào các đặc điểm của cơ quan sinh dục và mạch cánh của trưởng thành đực và trưởng thành cái

Epstein (1996) [28] đã mô tả các gân của mạch cánh đã phân chia cánh trước và cánh sau của trưởng thành họ bọ nẹt Eucleidae giống như những tam giác sắp xếp có quy tắc, với thân gân cánh M chia cánh thành hai phần (hình 1.1)

Hình 1.1 Mạch cánh loài bọ nẹt Setora cupreiplaga (1)

và loài Setothosea asigna (2) (Nguồn: Epstein M.E , 1996)

Bộ phận sinh dục của con đực có cấu tạo như một cái van thon dài, dương cụ hình ống, uốn cong ở 1/3 đoạn cuối Đoạn ống dẫn tinh từ bộ phận phóng tinh dịch được gắn dưới ổ bụng Mấu sau của bộ phận sinh dục đực hình góc nhọn hướng về phía trên Mấu trước của bộ phận sinh dục có đỉnh hình thon nhọn như búp măng hoặc nhọn như cựa gà, có vỏ cứng sẫm màu Những mấu sinh dục này có đặc điểm rõ nét đại diện cho họ bọ nẹt

Trang 29

Bộ phận sinh dục của trưởng thành cái họ bọ nẹt khá đa dạng, phần vỏ thô ráp, bộ phận đẻ trứng có hình thùy đôi, bộ phận sinh dục hình đĩa Chính hình dạng của bộ phận sinh dục như vậy làm cho trứng của các loài thuộc họ

bọ nẹt có hình đĩa dẹt Đây là đặc điểm khá đồng nhất của họ bọ nẹt Ở xoang bụng thứ 8 có 2 bướu lồi cụt ở hai bên (hình 1.2) Đầu phần tuyến phụ tiết dịch sinh dục khá ngắn, đoạn gần cuối thuôn dài hơn

Hình 1.2 Bộ phận sinh dục trưởng thành cái bọ nẹt

loài Cheromettia sumatrensis (1) và loài Thosea borneensis (2)

(Nguồn: HeringE.M, 1931)

Tuyến phụ sinh dục cái hình xoắn ốc là đại diện cho tất cả những nhóm

họ bọ nẹt đã được công nhận, ở một số họ phụ khác tuyến phụ sinh dục cũng

có hình xoắn ốc tương tự Hình xoắn ốc của tuyến phụ tiết dịch khá dài, đặc

biệt rất dài ở giống Phocoderma Kollar, dài gấp xấp xỉ 3 lần độ dài của phần

bụng khi kéo dãn ra Hình xoắn ốc do lớp vỏ cứng tạo thành, tuyến phụ tiết dịch hình chữ S, đặc biệt ở loài có ống hoạt dịch hình xoắn ốc chữ S sẽ được

sử dụng để xác định nhiều giống ghép có cùng những đặc điểm chung

Hering (1931) [35] đã mô tả hình dáng bộ phân sinh dục trưởng thành đực và trưởng thành cái để xác lập sự đồng nhất của các loài thuộc họ Eucleidae và đã sắp xếp phân loại lại họ bọ nẹt trong tổng họ bọ nẹt Châu Á,

Trang 30

nhưng tất nhiên có một số loài như Panasa chloris Herrich-Schaffer và Miresa clariss Stoll thuộc châu phi cùng giống loài Châu Á và được xếp vào

phân nhóm cùng phân họ Eucleidae

Hering (1955) [36] và Janse (1964) [42] đã dựa vào mạch cánh và các đặc điểm chân và khảo cứu bộ phận sinh dục để tìm ra những đặc điểm chủ yếu cùng loài bọ nẹt thuộc họ Euleidae Tuyến phụ sinh dục cái của họ bọ nẹt Eucleidae có đặc điểm hình xoắn ốc là đặc điểm khác biệt so với các loài thuộc họ khác Ví dụ các loài thuộc châu Phi không có tuyến phụ sinh dục Dựa vào đặc điểm hình dạng của tuyến phụ sinh dục, có thể chia họ bọ nẹt Eucleidae thành những họ phụ nhỏ hơn Nhóm có tuyến phụ sinh dục có hình hơi bầu dục chứa ống ngoằn ngoèo chữ S nhỏ, tròn và có sống hình sao, điển

hình là giống Narosa Walker, Belippa Walker và Austrapoda Inoue (thuộc

vùng ôn đới châu Á) Một số giống khác tuyến phụ sinh dục hình chữ S mở

rộng như giống Demonarosa Masumura Một số giống khác tuyến phụ sinh dục không ngoằn ngoèo như giống Cania Walker và Altha Walker Nhưng hai giống Cania Walker và Altha Walker lại có mối liên hệ với giống Narosa

Walker về đặc điểm mạng gân cánh và những đặc trưng cơ bản khác

Một số đặc điểm về hình thái cơ bản của bọ nẹt

Fracker (1915) [30] trưởng thành bọ nẹt đực và cái toàn thân phủ một một

lớp lông mềm mại và dày đặc, đôi cánh trước có phủ lớp lông thô hơn và các lớp lông đó được xếp thành nhiều hàng lộn xộn, không theo hàng lối nhất định

Râu đầu trưởng thành đực bọ nẹt hình lược, trừ các giống Narosa Walker và Trichogyia Hampson Hai dạng râu đầu hình lược và không hình

lược được xếp vào hai họ phụ Đặc điểm râu đầu là cơ sở để phân chia họ bọ nẹt thành những họ phụ nhỏ hơn Ở một số giống hình lược của râu đầu chiếm

một nửa đến 2/3 kể từ gốc chân râu Đặc biệt giống Darna Walker râu đầu

Trang 31

toàn bộ là hình lược

Trứng hình tròn, hơi dẹt và xếp giống hình vảy cá thành chuỗi, trứng được đẻ thành từng ổ hình dạng không giống nhau, có ổ trứng tập trung, có ổ trải thành vệt dài trên bề mặt giá thể

Sâu non bọ nẹt có đặc điểm khuyết thiếu hai hàng chân dài và có vùng

bụng dính giống như giác bám, khi di chuyển sâu non thỉnh thoảng tiết ra ra dịch nhầy như vết bò của ốc sên để lại trên lá cây chủ Sâu non vận động dựa vào sự chuyển động của cơ bụng Có thể quan sát thấy sự vận động của cơ bụng khi sâu non di chuyển trên thủy tinh

Fracker (1915) [30] cũng đã mô tả chân ngực sâu non bọ nẹt nhỏ, đầu

bé thụt vào trong xoang ngực, khi ăn đầu sâu non mới vươn dài ra Trong nhiều trường hợp, hình thù sâu non bọ nẹt giống như ốc sên Một số giống bọ nẹt tuyến phụ sinh dục hình lưỡi liềm kép thì ấu trùng có hình thon dài Bề mặt sống lưng sâu non họ bọ nẹt có dãy chấm ngắt khoảng

Sâu non bọ nẹt có hai hàng lỗ thở dọc theo hai bên sườn và mép ngoài của lưng sâu non có bốn hàng chùm lông nhọn, hai dãy dọc theo mép ngoài của mặt lưng, hai dãy dọc theo bên sườn bên dưới lỗ thở

Mép ngoài bên sườn có gờ gồm một chùm lông gai hoàn chỉnh ở đốt bụng thứ nhất, lỗ thở ở đốt này nằm cách xa dãy lỗ thở còn lại, chùm lông gai này đôi khi thấy như một mẩu ngắn, nằm giữa lỗ thở và chùm lông thứ 3, những biến đổi bao gồm sự tăng hoặc giảm những chùm lông gai giảm đi ít nhiều, đặc biệt đối với dãy chùm lông lông thuộc phần lưng, hoặc biến mất hoàn toàn như thấy ở một số loài họ phụ khác Sâu non bọ nẹt có đặc điểm giống loài sên khi di chuyển thường tiết ra chất dịch nhày, nhưng khác loài sên trên mình sâu non có lông gai sắc nhọn nối với tuyến độc gây ngứa, nhức khi tiếp xúc với chúng

Trang 32

Nhộng Được hình thành trong một kén hình cầu có vỏ cứng, thường

được móc vào vào chất nền bằng những sợi tơ sắp xếp không đều, trưởng thành chui ra bằng cách cắn một nắp nhỏ tròn đều ở phía đầu nhộng

Baker (2000) [21] sâu non bọ nẹt là loài ăn tạp, thức ăn của chúng có phổ rất rộng, ăn trên nhiều loại cây và chưa xác định được tính đặc thù của

từng loài, đối tượng gây hại trên cây dầu cọ dừa (Elaeis, cốc), chuối (Musa, Musaceae), Cà phê (Coffea, họ hiến thảo), chè (Camellia, Theaceae), Cacao (Theobroma, Sterculiaceae), các loài Cam khác nhau (Rutaceae), Xoài (Mangifera, Anacardiaceae) và Chôm chôm (Nephelium, họ bồ hòn) và Mass

(1988) [51] và Tanaka (2011) [62] cho biết sâu non bọ nẹt ăn lá dong riềng cảnh trong vườn nhà

Mối quan hệ của họ bọ nẹt Limacodidae với họ phụ khác có quan hệ gần nhau

Một số giống trong họ Megalopygidae như giống Aidos Hubner có

mạng gân cánh trước và râu đầu giống họ Limacodidae Cơ quan sinh dục trưởng thành đực và các thùy bộ phận đẻ trứng trưởng thành cái của giống

Aidos có nhiều điểm chung với họ Limacodidae

Sâu non họ Megalopygidae tương đối giống sâu non của họ bọ nẹt Eucleidae Sâu non họ Megalopygidae và Limacodidae đều có 6 đôi chân bụng, nhưng các đôi chân của sâu non đốt bụng 3 và 6 của họ Megalopygidae

có móc chân hình kim, trong khi đó sâu non họ Eucleidae không có Sâu non

họ Megalopygidae có một dãy hạch lồi nằm dưới lỗ thở và các hạch này cũng

có tuyến độc và gây ngứa, trong khi đó sâu non họ Limacodidae có 4 hàng chùm lông độc Sâu non họ phụ Megalopygidae có rất nhiều lông, những lông này dài và dựng ngược lên kéo dài về phía sau tạo thành bờm, nhưng sâu non

Trang 33

họ Limacodidae có các chùm lông cứng không tạo thành bờm (Fracker, 1915) [30] Mosher (1916) [53] đã phát hiện nhiều điểm giống nhau giữa nhộng của

họ Limacodidae với nhộng họ Megalopygidae, đó là nhộng chắc mập, quan sát thấy nhộng có có cử động giống nhau của khoang bụng, giống nhau ở đường ráp nối ở đầu nhộng, ở những thị kính đặc trưng trong đó thị kính như một gờ nổi điêu khắc mà chỉ thấy duy nhất ở họ Limacodidae

Brock (1971) [22] cho rằng mạng hình gân cách trước trong tổng họ Cossoidae đã tiến hóa thông qua việc tách đôi lưng, các gân cánh nhánh 5 (R5) chuyển thành mạch M và các gân xuất phát từ tâm mà không xảy ra như

ở họ Megalopygidae, họ Eucleidae có quan hệ với họ Megalopygidae qua

những đặc điểm của giống Aidos thuộc họ Megalopygidae với sự giống nhau

của bộ phận sinh dục trưởng thành đực và cái như đã nêu ở phần trên

Fracker (1915) [30] đã giải thích quá trình tiến hóa của sâu non họ Eucleidae liên quan tới sự thoái hóa và mất đi của các U dưới lỗ thở và dãy chân hình kim có móc ở các đốt 3 và 6 của chân Các gờ dưới lỗ thở được hình thành, đầu thụt lại trong khoang ngực và hình thành vùng kết dính vùng tiếp giáp của chân với bề mặt lá ký chủ

Trong số 95 loài được phát hiện ở Borneo, nhưng chỉ biết được 35 loài (chiếm 37%) là xuất xứ từ Borneo, 5 loài chung với đảo Sumatra, 10 loài được phát hiện ở bán đảo Malaysia Nhóm thuộc đảo Sumatra chưa được nghiên cứu mô tả sâu 28 loài được phát hiện thuộc vùng Sundaland (Gồm bán đảo Malaysia, Sumatra, Java, Boneo), một loài chung giữa Boneo và

Đông bắc Himalaya (Flavinarosa holoxamthia Hampson), một loài giữa Borneo và Palawan (Thosea borneensis Hering), một loài giữa Philipine và Borneo (Pseudonirmides sola Swinhore) và một loài giữa Sundaland và

Trang 34

Sulawesi (Thosea vetusta Walker) Có hai loài phổ biến tìm thấy Sundaland

và kéo dài về phía đông của vùng Sundaland gồm các loài Manbarona Congrua Walker và Chalcocelis albigutta Snellen) và 23 loài còn lại được

phân bố giữa Sundaland với đại lục địa Châu Á, như các loài được phát hiện

thấy ở Trung Quốc, dãy Himalaya, Đài loan gồm các loài: Dara pallivitta Moore, Cania bandura Moore, Chalcoscelides castaneipars Moore, Praesetora albitermina Hering, Idonauton apicalis Walker, Trichogyia semifascia Hampson, riêng đối với loài thuộc giống Nagodopsis chỉ thấy ở Đài loan Với vùng phụ cận Ấn độ phổ biến các loài (Phocoderma velutina Kollar, Birthamoides junctura Walker) và vùng phía đông Châu Á là các loài (Miresa bracteata Butler, Hyphorma minax Walker), được tóm tắt qua bảng

1.1 (Holloway, 1982) [37]

Trong số 35 loài thuộc vùng Boneo cho thấy 3 loài mang tính đặc trưng

của vùng Boneo (Bonethosea, Marsuplectra, Saccurosa) và có 7 loài trong số

95 loài rất hiếm xuất hiện ở Sundaland (Birthosea, Heringarosa, Hyphormides, Limacosilla, Nirmides, Setothosea, Striogyia), Tại Sundaland

và Philippine khá phổ biến nhóm Lawaii thuộc giống Narosa và nhóm này có

quan hệ khá xa với các loài tại lục địa Châu Á (Kalsoven, 1950) [43] Giữa vùng Sundaland và lục địa Châu Á có 4 giống khá phổ biến cùng xuất hiện

(Atosia, Arbelarosa, Birthamula và Cania bandura) (Kalsoven, 1981a) [44] Tại Himalaya, Đài loan, Sundaland cho thấy giống Mahanta như cặp đôi chị

em với giống Chacoscelides và phân bố khá rộng rãi ở các vị trí địa lí trên

Những loài không hoặc chưa tìm thấy ở Boneo và Sundaland mà chỉ thấy phổ

biến ở đại lục Châu Á gồm các loài thuộc Cheromettia, Miresa và Cania billinea Walker (Kalsoven, 1981b) [45]

Trang 35

Sự phân bố của nhóm họ Limacodidae tại châu Á

Bảng 1.1 Phân bố của họ Limacodidae ở một số vùng tại châu Á

TT Vùng địa lý lượng Số

loài

Ghi chú Vùng thuộc châu Á

02 loài phổ biến: Manbarona Congrua Walker

và Chalcocelis albigutta Snellen

5 Borneo- Đông bắc Himalaya 01 Loài: Flavinarosaholoxamthia Hampson

6 Borneo- Palawwan 01 Loài: thosea borneensis Hering

7 Philippine - Boneo 01 Loài:Pseudonirmidessola Swinhore

8 Sudaland và Sulawwesi 01 Thosea vetusta Walker

9

Sundaland và Lục địa châu á (Trung quốc: Himalaya;

Đài loan)

23

Các loài phổ biến: Dara pallivitta Moore, Cania

bandura Moore, Chalcoscelides castaneipars

Moore, Praesetora albitermina Hering,

Idonauton apicalis Walker, Trichogyia semifascia Hampson

Loài: Nagodopsis: chỉ có ở Đài loan

10 Phụ cận Ấn Độ 02 Các loài: Phocoderma velutina Kollar và

Birthamoides junctura Walker

11 Đông châu Á 02 Các loài: Miresa bracteata Butler và Hyphorma

minax Walker (Nguồn: Hollowway, 1982)

Một số loài không những phổ biến ở đại lục Châu Á mà còn phát hiện ở

Châu Úc như các loài thuộc giống Scopelodes, Narosa, Chalcocelis và Thosea, một số loài thuộc nhóm Birthamoides phân bố rộng rãi từ Ấn Độ đến

quần đảo Solomons Quan hệ họ hàng của các nhóm trên theo sự phân bố vị trí địa lí đã phản ánh mối quan hệ tổng thể trong nhóm họ bọ nẹt Eucleidae, trong tổng họ Cossoidae thuộc bộ Lepidoptera (Holloway, 1984a) [38] và các

Trang 36

nhóm quan hệ với nhau thuộc hai vùng địa lí Ấn - Úc (Hollaway, 1982) [37]

Sự quan hệ trong họ Eucleidae ở các vị trí địa lí được biểu thị bằng sơ

1.3.2 Những nghiên cứu trong nước

Những nghiên cứu về sâu hại trên dong riềng ở trong nước còn rất hạn chế, mặc dù từ những năm 60 của thế kỷ trước, dong riềng đã được đề cập đến như một cây trồng quan trọng trong đời sống, chúng được sử dụng cho vùng khó khăn, chống đói lúc giáp hạt (Trương Văn Hộ, 1993a) [6] Lý Ban (1963) [1] đã cho thấy dong riềng là cây có giá trị kinh tế, so sánh giá trị hơn cả trồng lúa, xét

về khối lượng tinh bột tính trên đơn vị ha sản xuất, tinh bột dong riềng (8,1 tấn/ha) cao hơn tinh bột của lúa (2,1 tấn/ha), ngô (1,8 tấn/ha), khoai lang (1,2 tấn/ha), sắn 2,0 tấn/ha), dong riềng có tỷ lệ tinh bột khá cao (18%) và năng suất

củ cao (45 - 65 tấn/ha) gấp 4,5 - 11,0 lần so với trong số các cây trồng trên.

Dong riềng được giới thiệu vào nước ta vào khoảng thời gian 1898, dong riềng thích nghi với nhiều vùng sinh thái ở Việt Nam, dong riềng là cây

Trang 37

dễ trồng và cho năng suất cao (Trương Văn Hộ và cs 1995) [9] Trương Văn

Hộ (1993a) [6] và Trương Văn Hộ (1993b) [7] trong quá trình nghiên cứu và phát triển dong riềng sản xuất đã ghi nhận có 7 loài sâu hại trên dong riềng bao gồm: bọ nẹt, sâu xám, sâu khoang, bọ cánh cứng, sùng đất, sâu róm và châu chấu, trong đó tác giả đã nhấn mạnh bọ nẹt là sâu hại nguy hiểm có tuyến độc rất mạnh gây đau nhức và khó chịu khi bị tiếp xúc với chúng

Như vậy cho đến nay chưa có đề tài khoa học công nghệ nào thực hiện điều tra, nghiên cứu về thành phần sâu và nhện hại nói chung và bọ nẹt hại dong riềng nói riêng ở Việt Nam Mới chỉ có ghi nhận của Trương Văn Hộ (1993a) [6] về 7 loài sâu hại trên dong riềng được trình bày tại bảng 1.2

Bảng 1.2 Thành phần sâu hại dong riềng, năm 1993

1 Sâu khoang Spodoptera litura Fabricius Thân, Lá

Những nghiên cứu về bọ nẹt: họ Limacodidae, bộ cánh vảy Lepidoptera

* Một số đặc điểm về hình thái và sinh học cơ bản của bọ nẹt Hình thái

của trưởng thành bọ nẹt được mô tả có kích thước thân mình ngắn, thô có màu vàng, nâu, có pha trộn những đốm vân màu đen xám, vòi đã thoái hóa, cánh rộng

và ngắn, phủ đầy lông vảy dày xốp, các mạch R1, R4, R5 của cánh trước cùng chung một đoạn mạch mới tách ra, các mạch Sc + R1 và Rs của cánh sau gập lại một đoạn ngắn khoảng giữa đường cánh (Nguyễn Viết Tùng, 2006a) [17]

Sâu non bọ nẹt có mặt bụng dẹt và bằng, mặt lưng hơi vồng, đầu bé rụt

Trang 38

vào phía trong ngực trước, cơ thể chia đốt không rõ, chân bụng thoái hóa Phía lưng có mọc nhiều gai lông chia nhánh nối liền tuyến độc một số ít mình trơn hoặc có nhiều đốm vân xanh, đỏ rõ rệt Sâu non phá hoại lá cây ăn quả, cây rừng và cây công nghiệp lâu năm Một số loài thường gặp là bọ nẹt chuối

(Panasa sp.), bọ nẹt hai vạch (Cania sp.) Hình thái loài bọ nẹt (Panasa sp.) hại

trên chuối, trưởng thành dài 23 - 25 mm, sải cánh rộng50 - 52 mm, phần lưng các đốt bụng có 5 khoang đen, chân phủ nhiều lông màu xám tro, khi đậu 2 chân trước quắp lại, 4 chân giữa và sau bám vào lá Râu đầu sợi chỉ, mắt kép hình cầu, màu đen xám, vòi được bảo vệ bằng 2 chùm lông Cánh trước màu vàng lóng lánh bởi lớp vảy bên ngoài, cánh sau màu vàng có lớp phấn phủ trên

Trứng bọ nẹt đẻ thành ổ mặt dưới lá, mỗi ổ có từ 15 - 30 quả, trứng dẹt mỏng có dạng vảy ốc xếp lên nhau hình mái ngói, dài 2,1 mm, rộng 2 mm, phía trên ổ trứng có phủ một lớp keo mỏng như parafin

Sâu non màu xanh lá chuối, sâu non đẫy sức dài 35 - 36 mm, rộng 15 -

16 mm, mồn thụt vào chỉ thò ra khi ăn Hai bên sườn kể từ đốt bụng cuối, ứng với mỗi đốt có 1 chấm màu xanh (6 chấm tương ứng) trên lưng cũng có 9 vệt xanh như vậy, cơ thể chia thành 11 đốt rất rõ, các đốt cuối bụng nhỏ và ngắn dần Trên lưng, ứng với mỗi đốt có 2 chùm lông, cơ thể có 4 hàng lông bảo vệ chạy dọc theo chiều dài của thân, riêng hàng thứ 1 và thứ 4 có 10 chùm lông Chùm thứ 9 kể từ trên xuống có 2 chấm đen hình tam giác bao lấy phần trên của chùm lông, chùm lông này rất ngắn, các lông của bọ nẹt nhỏ như kim, có tác dụng tiết chất độc để bảo vệ bọ nẹt khi gặp kẻ thù, sâu non di chuyển hết sức chậm, sâu non có chân nhưng không phát triển, phần bụng bọ nẹt mềm, luôn tiết ra chất dính, giúp nó bám vững trên cây

Nhộng được bao bọc trong một kén tròn trông giống như hạt cau khô, đường kính 10 - 11 mm, kén mới màu trắng đục rất mềm, sau chuyển màu đen sẫm và vỏ kén khô cứng lại bảo vệ nhộng qua Đông

Về tập quán sinh sống và quy luật gây hại: Bọ nẹt qua đông ở giai đoạn nhộng Nhộng ở dưới đất, xunh quanh gốc chuối, trên các tàn dư, sang xuân

Trang 39

(cuối tháng 3) bọ nẹt hóa trưởng thành, sau khi nở sâu non hoạt động mạnh và lớn rất nhanh, sức ăn mạnh dần theo tuổi, sâu non có 4 lần lột xác, mỗi lần lột xác sâu ngừng ăn để bò ra ngoài lá tiến hành lột xác, mỗi lần lột xác sâu non biến từ màu xanh sẫm trở thành xanh nhạt, sau khi lột xác xong, sâu non nằm yên 3 - 4 giờ mới tiến hành ăn bình thường và cơ thể lớn lên rõ rệt, càng tuổi lớn thời gian lột xác của sâu non càng ngắn lại; Thời gian từ khi trứng nở đến khi lột xác lần thứ nhất là 11 ngày, lần 2 là 9 ngày, lần thứ 3 là 8 ngày, lần thứ

4 là 7 ngày, sau lột xác lần thứ 4 sâu phân tán, sâu non ăn suốt ngày đêm nhưng trong phạm vi hẹp khoảng 2 tháng/năm; Khi sâu non đẫy sức, sâu non ngừng ăn, một phần cặn bã trong cơ thể được tiết ra làm kén Khi làm kén, bọ nẹt có những chuyển động tròn nhả tơ nhả sáp tạo ra một cái kén dày, đầu tiên

vỏ kén mềm trắng đục, sau chuyển thành màu nâu đen rồi cứng lại thành một cái vỏ vững chắc để bảo vệ nhộng qua đông, khi vũ hóa vỏ kén nứt ra như một cái nắp, trưởng thành chui ra ngoài (Nguyễn Viết Tùng, 2006b) [18]

* Kết quả về điều tra bọ nẹt trên cây trồng từ năm 1967 đến nay

Từ năm 1967 đến 1968, Viện bảo vệ thực vật đã thực hiện điều tra côn trùng và bệnh cây ở các tỉnh phía bắc, kết quả điều tra đã phát hiện có 11 loài

bọ nẹt gây hại trên cây trồng như cam, chè, phi lao, mít, chuối, khoai lang và

chúng có mặt ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, cụ thể các loài sau đây: Cania

sp (tại Đay Cách, Hải Hưng), Indonauton apicate Walker gây hại trên mít tại tỉnh Bắc Thái, Macroplectra sp gây hại trên lúa tại tỉnh Nghệ An, Narosa sp gây hại trên chè tại tỉnh Bắc Thái, Lạng Sơn, Nghĩa Lộ, Parasa bicolor Walker gây hại trên dâu, chè, phi lao tại các tỉnh Hà Tây (cũ) và Nam Hà, Parsa pseudorapanda Hering Gây hại trên chè, cam tại các tỉnh Hà Bắc, Hà Tây và Lao Cai, Scopelodes anthela Swinhoe gây hại trên chuối tại Hà Nội, Scopelodes testacea Butber và Scopelodes sp gây hại trên chuối tại tỉnh Hà Tây, Susia sp gây hại được ghi nhận trên khoai lang, cây dại tại tỉnh Hà Giang

và loài Thosea sinensis Walker hại trên chè (Viện bảo vệ thực vật, 1976) [19]

Kết quả điều tra côn trùng và bệnh cây ở các tỉnh phía nam 1977 - 1978

Trang 40

của Viện bảo vệ thực vật đã phát hiện được 8 loài bọ nẹt gây hại trên cây

trồng đó là Altha adala Moore gây hại trên cà phê; Cania bilinea Walker gây hại trên chè; Chalcocelis albigutta Snellen gây hại trên chè, cà phê và dừa; Orthocraspeda trima Moore gây hại trên chè, cà phê; Parasa Pseudorapanda Hering gây hại trên xoài, mận; Setora (Miresa) nitens Walker gây hại trên chè, cà phê, dưa; Thosea chinensis Walker gây hại trên chè, cà phê, chuối

(Viện bảo vệ thực vật, 1999) [20]

Kết quả điều tra về thành phần bọ nẹt ở Việt Nam của (Solovyev & Witt, 2009b) [61] cho thấy bọ nẹt được phân bố ở nhiều vùng sinh thái ở Việt Nam như Bắc Cạn, Hòa Bình, Lao Cai, Nghệ An, Ninh Bình, Tuyên Quang, Yên Bái, Lâm Đồng, Kon tum, đặc biệt thu thập được nhiều loài bọ nẹt tại các vườn Quốc Gia: Cát Tiên, Tam Đảo, Pù Mát, Hoàng Liên Sơn, Cúc Phương, kết quả điều tra thu thập được 153 loài thuộc 74 giống bọ nẹt và 54 loài mới đã được

mô tả, số lượng loài thuộc các giống của bọ nẹt như sau Những giống có số

lượng 01 loài được phát hiện là 42 giống bao gồm: Cheromettia, Calauta, Pseudaltha, Althonarosa, Caelestomorpha, Vipaka, Demonarosa, Ceratonema, Euphlytinides, Nagodopsis, Atosia, Limacocera, Pseudocaissa, Hampsonella, Arabessa, Triplophleps, Spatulifimbria, Narosoideus, Morema, Parata, Barisania, Tanvia, Mahanta, Pretas, Birthamoides, Birthamula, Matsumurides, Birthama, Marambarona, Phlossa, Pseudonirmides, Mummu, Limacolasia, Squamosa, Iraga, Phixolepia, Trchogyia, Darna, Devaz, Fignya, Caniatta, Euphlyctina Những giống có 02 loài được phát hiện là 13 giống bao gồm: Belppia, Altha, Quasinarosa, Rhamnosa, Sansarea, Phocoderma, Susia, Avatara, Pseudidonauta, Vanlangia, Orthcraspeda, Oxyplax và riêng giống Narosa dược xác định gồm 2 loài dạng hình màu xám và loại kia có dạng màu vàng (Solovyev và Trần Thiếu Dư, 2011) [16] Những giống có số lượng 03 loài được phát hiện là 09 giống bao gồm: Tennya, Flavinarosa, Barabashka, Caissa, Chalcoscelides, Hyphorma, Setora, Iragoides, Nirmides Những giống

có số lượng 04 loài được phát hiện là 01 giống Praesetora Những giống có số

Ngày đăng: 30/03/2018, 19:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w