Như vậy, kế toán quản trị chi phí mang nặng tính bản chất của kế toán quảntrị nhiều hơn là kế toán chi phí thuần túy, có thể rút ra bản chất của kế toán quản trịchi phí như sau: - Kế toá
Trang 1MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phát triển nền kinh tế thị trường, chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế là
xu thế tất yếu của nền kinh tế Việt Nam Việc gia nhập WTO của Việt Nam tạo ranhiều cơ hội và thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, các nhà quản trịdoanh nghiệp Việt Nam cần phải biết phối hợp, tổ chức các hoạt động sản xuất kinhdoanh, kiểm soát mọi hoạt động trong doanh nghiệp, phân tích, đánh giá và ra quyếtđịnh nhằm chỉ đạo và hướng dẫn doanh nghiệp hoạt động đạt hiệu quả cao nhất Tất
cả các doanh nghiệp phải tận dụng mọi cơ hội, huy động và sử dụng tối ưu cácnguồn lực bên trong và bên ngoài để đứng vững Xuất phát từ những yêu cầu củathực tế, đòi hỏi bộ phận kế toán không chỉ cung cấp thông tin về tình hình sản xuấtkinh doanh trong doanh nghiệp mà còn phải cung cấp thông tin cụ thể về tình hìnhchi phí, giá thành, doanh thu và kết quả của doanh nghiệp để nhà quản trị doanhnghiệp đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời Đây là yêu cầu hết sức cần thiết và
vô cùng quan trọng để kế toán trở thành công cụ hữu hiệu trong quản lý tài chínhcủa doanh nghiệp, cũng chính vì lẽ đó mà kế toán quản trị ở mỗi doanh nghiệp phảiluôn được tồn tại và ngày càng phải hoàn thiện hơn là điều tất yếu
Công ty CP nhựa Đà Nẵng là doanh nghiệp sản xuất hoạt động trong ngànhnhựa Hiện nay, tại Việt Nam có hơn 1.000 doanh nghiệp lớn nhỏ đang hoạt độngtrong ngành nhựa tạo nên một môi trường cạnh tranh khá gây gắt, Công ty CP nhựa
Đà Nẵng là một trong số những doanh nghiệp đang phải đối mặt với những tháchthức đó Ban Giám đốc Công ty luôn đặt ra những yêu cầu đòi hỏi thông tin kế toánquản trị, đặc biệt là những thông tin về chi phí do kế toán quản trị cung cấp là hữudụng, giúp các nhà quản trị có thể phân tích, kiểm soát tốt chi phí từ đó có nhữngbiện pháp tiết kiệm, chống lãng phí nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm theotiêu chuẩn thị trường
Hệ thống kế toán quản trị tại công ty đã được áp dụng qua một số năm gần đâynội dung còn khá đơn giản, chưa phát huy hết vai trò của mình, đặc biệt thông tinchi phí do kế toán quản trị cung cấp chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà quản trị
Trang 2Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Nhựa Đà Nẵng”
2 MỤC NGHIÊN CỨU
Về lý luận: tìm hiểu bản chất, nội dung và phương pháp kế toán quản trị chiphí tại các doanh nghiệp sản xuất
Về thực tiễn: tìm hiểu và đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công
ty CP Nhựa Đà Nẵng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toánquản trị chi phí tại Công ty
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về tổ chức kế toánquản trị chi phí, thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tạiCông ty CP Nhựa Đà Nẵng
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở tổ chức kế toán quản trị chi phíđối với nhóm mặt hàng có quy mô sản xuất lớn tại Công ty CP Nhựa Đà Nẵng
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp luận: chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp với chủ nghĩa duyvật lịch sử
Phương pháp cụ thể: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phânloại, hệ thống hoá để khái quát những vấn đề lý luận về kế toán quản trị, phươngpháp phỏng vấn chuyên gia (đối tượng được phỏng vấn: giám đốc, kế toán trưởng,trưởng phòng kỹ thuật các nhân viên kế toán)
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Về mặt lý luận: luận văn hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản của kếtoán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất
Trang 36 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sảnxuất
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty CP Nhựa Đà NẵngChương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại Công
ty Cổ phần Nhựa Đà Nẵng
Trang 4Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị: thể hiện ở việctập hợp chi phí, tiến hành phân loại chi phí, phân bổ chi phí, tính giá thành
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị chuyên thực hiệnviệc xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năngquản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch,kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý Kế toán quản trị chi phínhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin và trách nhiệm của các nhà quản trị từ cấp
cơ sở đến cấp cao Chi phí bao nhiêu, thay đổi như thế nào khi các nhân tố nội tạithay đổi, kế toán quản trị chi phí phải nắm bắt những thông tin đó kịp thời để nhàquản trị đưa ra các giải pháp điều chỉnh hợp lý tại các thời điểm khác nhau
Như vậy, kế toán quản trị chi phí mang nặng tính bản chất của kế toán quảntrị nhiều hơn là kế toán chi phí thuần túy, có thể rút ra bản chất của kế toán quản trịchi phí như sau:
- Kế toán quản trị chi phí không chỉ thu thập và cung cấp thông tin quá khứ
mà còn thu thập, xử lý và cung cấp thông tin hiện tại, hướng về tương lai phục vụcho việc lập dự toán, làm căn cứ trong việc lựa chọn các quyết định về giá bán sảnphẩm, bán sản phẩm tại điểm phân chia hay tiếp tục chế biến bán thành phẩm thànhsản phẩm hoàn thành rồi mới bán, nên sản xuất hay mua ngoài các chi tiết,…raquyết định lựa chọn các phương án kinh doanh hợp lý
- Kế toán quản trị chi phí cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế trongdoanh nghiệp và ngoài doanh nghiệp có liên quan Những thông tin có ý nghĩa với
bộ phận, điều hành, quản lý doanh nghiệp
- Kế toán quản trị chi phí quan tâm đến các chi phí thực tế phát sinh theo loại
Trang 5chi phí, tổng mức chi phí và chi tiết theo từng mặt hàng.
- Khi có sự biến động chi phí, trách nhiệm giải thích về những thay đổi bất lợithuộc bộ phận nào kế toán quản trị chi phí phải theo dõi và báo cáo rõ ràng phục vụcho quá trình kiểm soát, điều chỉnh của nhà quản lý
1.1.2 Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí
- Phân tích cách ứng xử của chi phí theo mức độ hoạt động, theo mục đích sửdụng đặt trong mối quan hệ với khối lượng và lợi nhuận mong muốn của doanhnghiệp
- Thu thập các thông tin cần thiết để lập dự toán: thông tin về tổ chức địnhmức về chi phí tiêu chuẩn, các thông tin về kế toán tài chính, thống kê cũng như kỹthuật tính toán, ước tính phục vụ cho việc lập dự toán
- Kiểm tra, kiểm soát kết quả thực hiện với dự toán đã được lập nhằm điềuchỉnh dự toán và đánh giá việc thực hiện
- Tổ chức cung cấp thông tin cụ thể hỗ trợ nhà quản trị ra quyết định
1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong quản trị doanh nghiệp
Kế toán quản trị chi phí là nguồn chủ yếu để cung cấp thông tin cho các nhàquản lý trong việc ra quyết định ở các khâu: lập kế hoạch, dự toán, tổ chức thựchiện, kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Kế toán quản trị chi phí tiến hành cụ thể hoá các kế hoạch hoạt động củadoanh nghiệp thành các dự toán sản xuất kinh doanh Chức năng lập kế hoạch và dựtoán của quản lý được thực hiện tốt, có tính hiệu lực, hiệu quả và khả thi cao nếu nóđược xây dựng trên cơ sở các thông tin phù hợp Kế toán quản trị tổ chức thu thập,phân tích, đánh giá, cung cấp thông tin để nhà quản trị có thể lựa chọn được phương
án tối ưu cho việc lập kế hoạch ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp
Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin về chi phí ước tính cho các sảnphẩm, dịch vụ hoặc các đối tượng khác theo yêu cầu của nhà quản lý nhằm giúp họ
ra các quyết định quan trọng về đặc điểm của sản phẩm, cơ cấu sản phẩm sản xuất
và phân bổ hợp lý các nguồn lực có hạn cho các hoạt động của doanh nghiệp
Trang 6Bên cạnh cung cấp thông tin về dự toán chi phí cho việc lập kế hoạch và raquyết định của các nhà quản lý, kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp các thông tin
để quản lý kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch thông qua các báo cáo đánh giá,đặc biệt là giúp ích cho các nhà quản lý trong việc kiểm soát chi phí và nâng caohiệu quả của quá trình hoạt động Phương pháp thực hiện là phân tích các sai biệttrên cơ sở so sánh giữa kết quả thực hiện với số liệu dự toán, chỉ ra những vấn đềcòn tồn tại cần giải quyết hoặc các cơ hội cần khai thác
Kế toán quản trị chi phí còn cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà quản
lý nhằm xây dựng các chiến lược cạnh tranh bằng cách thiết lập các báo cáo định kỳ
và báo cáo đặc biệt Việc nhận diện thông tin thích hợp sẽ tập trung sự chú ý củanhà quản trị vào vấn đề chính cần giải quyết, giảm thời gian ra quyết định, đáp ứngđược yêu cầu của nhà quản trị trong tình hình cạnh tranh của cơ chế thị trường.Vậy, theo từng chức năng cơ bản của nhà quản lý, kế toán quản trị chi phícung cấp thông tin hữu ích cụ thể phù hợp với từng chức năng:
+ Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch và dự toán
+ Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện
+ Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra
+ Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định
Tổ chức kế toán quản trị chi phí hợp lý sẽ giúp cho đơn vị có được hệ thống kếtoán hoạt động hiệu quả, bảo đảm cung cấp thông tin chi phí hữu ích và đầy đủnhất Với những thông tin đó, các nhà quản trị có thể nhìn nhận được vấn đề đangxảy ra, những khả năng tiềm tàng, những cơ hội sẵn có để có kế hoạch và ra quyếtđịnh kinh doanh đúng đắn
1.2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Chi phí được sử dụng được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau phù hợpvới từng mục đích sử dụng thông tin Sau đây là các cách phân loại chi phí thườngdùng trong quá trình ra quyết định:
1.2.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động [5, tr.27]
Theo cách phân loại này chi phí được chia thành hai loại: chi phí sản xuất và
Trang 7chi phí ngoài sản xuất Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theocông dụng của chúng, hay nói một cách khác, xét theo từng hoạt động có chức năngkhác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia thànhhai loại lớn: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
* Chi phí sản xuất
Giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩmbằng sức lao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết bị Chiphí sản xuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm các
loại nguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm Trong
đó, nguyên vật liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm và cácloại vật liệu phụ khác có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn chỉnhsản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng
Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương phải
trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm và những khoản trích theolương của họ được tính vào chi phí Cần phải chú ý rằng, chi phí tiền lương và cáckhoản trích theo lương của bộ phận công nhân phục vụ hoạt động chung của bộphận sản xuất hoặc nhân viên quản lý các bộ phận sản xuất thì không bao gồm trongkhoản mục chi phí này mà được tính là một phần của khoản mục chi phí SXC
Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là các chi phí phát sinh trong
phạm vi các phân xưởng để phục vụ hoặc quản lý quá trình sản xuất sản phẩm.Khoản mục chi phí này bao gồm: chi phí vật liệu phục vụ quá trình sản xuất hoặcquản lý sản xuất, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lýphân xưởng, chi phí khấu hao, sửa chữa và bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng, chiphí dịch vụ mua ngoài phục vụ sản xuất và quản lý ở phân xưởng, v.v
* Chi phí ngoài sản xuất
Đây là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm liên quan đếnquá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh
Trang 8nghiệp Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: chi phí bán hàng vàchi phí quản lý doanh nghiệp.
Chi phí bán hàng: Khoản mục chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh phục
vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm Có thể kể đến các chi phí như chi phí vận chuyển,bốc dỡ thành phẩm giao cho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiệnvận chuyển, tiền lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thịquảng cáo, v.v
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm tất cả
các chi phí phục vụ cho công tác tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanhnói chung trên giác độ toàn doanh nghiệp Khoản mục này bao gồm các chi phí như:chi phí văn phòng, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lýdoanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp, các chi phí dịch vụ muangoài khác, v.v
1.2.2 Phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí [7, tr.26]
Theo cách phân loại này chia chi phí thành ba loại: chi phí bất biến, chi phíkhả biến và chi phí hỗn hợp
* Chi phí khả biến (biến phí)
Chi phí khả biến là các chi phí xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỉ lệ với cácmức độ hoạt động Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra Tổng
số chi phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với sự tăng (hoặc giảm) của mức
độ hoạt động, nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thìkhông thay đổi
* Chi phí bất biến (định phí)
Chi phí bất biến là những chi phí xét về lý thuyết, không có sự thay đổi theocác mức độ hoạt động đạt được Vì tổng số chi phí bất biến là không thay đổi chonên khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo đơn vị các mức độ hoạtđộng sẽ giảm và ngược lại
*Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố chi
Trang 9phí khả biến và chi phí bất biến Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗnhợp mang đặc điểm của chi phí bất biến và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phíhỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến Hiểu theo một cách khác,phần bất biến trong chi phí hỗn hợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì cáchoạt động ở mức độ tối thiểu, còn phần khả biến là bộ phận chi phí sẽ phát sinh tỉ lệvới mức độ hoạt động tăng thêm Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí hỗn hợpcũng chiếm một tỉ lệ khá cao trong các loại chi phí, chẳng hạn như chi phí điệnthoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị,
1.2.3 Phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết định [1, tr 16]
* Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
Chi phí kiểm soát được là khoản chi phí gắn liền với cấp quản trị có quyền raquyết định chi phối nó Chi phí không kiểm soát được là khoản chi phí mà ở cấpquản trị đó không có quyền ra quyết định chi phối Chi phí không kiểm soát được cóthể là các khoản chi nằm ngoài bộ phận quản trị hoặc nằm trong bộ phận quản trịnhưng bộ phận đó không có quyền chi phối (do hạn chế về quyền lực hoặc do địnhmức)
Xem xét chi phí ở khía cạnh kiểm soát có ý nghĩa lớn trong phân tích chi phí
và ra quyết định xử lý, góp phần thực hiện tốt kế toán trách nhiệm trong doanhnghiệp
* Chi phí chìm
Chi phí chìm là chi phí đã phát sinh trong quá khứ, do đó nó có mặt ở tất cảcác phương án hoặc hành động cần lựa chọn Nó không thích hợp cho quá trình lựachọn phương án, hành động tối ưu nên cần được loại bỏ trong quá trình ra quyếtđịnh Ví dụ: chi phí khấu hao tài sản cố định
* Chi phí chênh lệch
Chi phí chênh lệch còn gọi là chi phí khác biệt xuất hiện khi so sánh nhiềuphương án để lựa chọn Đó là phần chi phí có ở phương án này mà không có ởphương án khác hoặc là phần chênh lệch giá trị giữa các phương án Chi phí chênh
Trang 10lệch là một trong các căn cứ quan trọng (dạng thông tin thích hợp) để lựa chọnphương án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh.
* Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là khoản lợi ích tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn phương án(hoặc hành động) này thay cho phương án (hoặc hành động) khác Chi phí cơ hộicần được tính đến khi quyết định chọn phương án Trong trường hợp có nhiềuphương án thì chi phí cơ hội được tính ở phương án tốt nhất sau phương án đã chọn
1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.3.1 Xây dựng định mức chi phí sản xuất [2, tr.98]
Khi xây dựng định mức tiêu chuẩn, trước hết phải xem xét một cách nghiêmtúc toàn bộ kết quả đạt được, trên cơ sở đó, kết hợp với những thay đổi về điều kiệnkinh tế, về đặc điểm và mối quan hệ giữa cung và cầu, về kỹ thuật,… để điều chỉnh
và bổ sung cho phù hợp
Về phương pháp xác định chi phí định mức, có thể sử dụng một trong cácphương pháp: phương pháp phân tích dữ liệu lịch sử, phương pháp kỹ thuật,phương pháp kết hợp
Để xây dựng định mức chi phí, kế toán quản trị thường xây dựng riêng địnhmức về lượng và định mức về giá
* Xây dựng định mức chi phí nguyên vật liệu
- Định mức về lượng vật liệu: bao gồm lượng vật liệu trực tiếp để sản xuất mộtsản phẩm trong điều kiện lý tưởng cộng với lượng vật liệu tính cho sản phẩm hỏng
- Định mức về giá vât liệu bao gồm giá mua vật liệu cộng chi phí mua
Định mức chi phí nguyên vật liệu được tính bằng định mức về lượng nhânđịnh mức về giá
* Xây dựng định mức chi phí nhân công trực tiếp
- Định mức về lượng: bao gồm lượng thời gian cần thiết để sản xuất một SP
- Định mức về giá: bao gồm tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản tríchtheo lương của người lao động
Trang 11Định mức chi phí nhân công trực tiếp được tính bằng định mức về lượng nhân định mức về giá.
* Xây dựng định mức biến phí sản xuất chung
- Định mức về lượng: tùy thuộc vào việc lựa chọn tiêu thức phân bổ biến phísản xuất chung
- Định mức về giá: phản ánh biến phí của đơn giá của chi phí sản xuất chungphân bổ
Định mức biến phí sản xuất chung được tính bằng định mức về lượng nhânđịnh mức về giá
1.3.2 Lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất
1.3.2.1 Khái quát về dự toán chi phí trong doanh nghiệp sản xuất [6, tr.24]
Dự toán sản xuất là một bản kế hoạch thu-chi dưới dạng tiền tệ trong một nămtài chính Mục đích của việc lập dự toán sản xuất là hoạch định và kiểm soát hoạtđộng sản xuất kinh doanh
Dự toán chi phí là phương tiện cung cấp thông tin cho các chức năng hoạchđịnh và kiểm soát chi phí Dự toán chi phí được lập chính xác và đầy đủ sẽ đảm bảocho hoạt động kinh doanh được hiệu quả Thông qua dự toán chi phí các nhà quảntrị sẽ có kế hoạch về nguồn lực để đảm bảo thực hiện các hoạt động, đồng thờilường trước những khó khăn có thể xảy ra và có biện pháp phòng ngừa rủi ro trongkinh doanh nhằm đảm bảo hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp
Dự toán chi phí được lập căn cứ vào dự toán doanh thu và định mức chi phí
Do đó để lập được dự toán chi phí chính xác thì doanh nghiệp phải xây dựng được
hệ thống định mức chi phí thật chi tiết và chính xác, chi tiết cho từng trung tâmtrách nhiệm và theo từng nội dung chi phí cụ thể
1.3.2.2 Trình tự lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp sản xuất [7,tr.38]
Dự toán chi phí có thể được xây dựng cho toàn doanh nghiệp và cho từng bộphận Có thể tiến hành lập dự toán chi phí ở các doanh nghiệp như sau:
- Dự toán chi phí NVLTT: là việc dự kiến số lượng và giá trị nguyên liệu , vật
liệu sử dụng trong kỳ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 12Căn cứ để dự toán chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp trong kỳ là: dự kiếnsản lượng sản phẩm sản xuất, định mức nguyên vật liệu tiêu hao cho một đơn vị sảnphẩm, đơn giá nguyên vật liệu, lượng nguyên vật liệu mua vào trong kỳ, lượngnguyên vật liệu tồn kho đầu kỳ và tồn kho cuối kỳ
Bên cạnh dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần phải lập dự toán tiềnmặt chi ra cho việc mua nguyên vật liệu để làm cơ sở để lập dự toán tiền mặt
- Dự toán chi phí NCTT: được xây dựng từ dự toán sản xuất, là việc dự kiến tổng
số lượng thời gian cần thiết để hoàn thành khối lượng sản phẩm sản xuất và đơn giá thờigian lao động trực tiếp
Dự kiến chi phí
NCTT trong kỳ =
KL SP sảnxuất dự kiếntrong kỳ
Định mứcthời gian SX
1 đơn vị SP
Đơn giá giờcông lao độngtrực tiếp
- Dự toán chi phí sản xuất chung: là dự kiến các chi phí quản lý và phục vụ
sản xuất phát sinh trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp
+ Đối với phần biến phí: có thể căn cứ vào tổng thời gian lao động trực tiếp hoặc số giờ máy chạy hoặc số lượng sản phẩm sản xuất dự kiến và đơn giá chi phí sản xuất chung để xác định, cụ thể:
Tổng biến phí SXC
Tổng thời gian Lao động trực tiếp
Đơn giá biến phísản xuất chung
+ Đối với phần định phí sản xuất chung: thường ít thay đổi so với thực tế, nên khi lập dự toán, căn cứ vào số thực tế kỳ trước và những thay đổi định phí
dự kiến trong kỳ tới (nếu có) để dự toán cho kỳ này
Tổng định phí
SXC dự kiến =
Định phí SXCthực tế kỳ trước
Tỷ lệ tăng (giảm) định phíSXC theo dự kiến
1.3.3 Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm [3, tr.30]
1.3.3.1 Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành theo phương pháp toàn bộ
Phương pháp tính giá toàn bộ là phương pháp mà tất cả các chi phí tham giavào quá trình sản xuất sản phẩm (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp và chi phí sản xuất chung) đều được tính vào giá thành sản phẩm sảnxuất hoàn thành Cơ sở tính các chi phí này vào giá thành được chuẩn mực kế toán
Trang 13quốc tế về hàng tồn kho và cả chuẩn mực kế toán Việt Nam chấp nhận như là mộtnguyên tắc khi xác định giá gốc của thành phẩm ở doanh nghiệp sản xuất.
Phương pháp tính giá thành toàn bộ gồm hai hệ thống tính giá thành sản phẩm
là hệ thống tính giá thành theo công việc (áp dụng phổ biến ở các doanh nghiệp sảnxuất theo đơn đặt hàng) và hệ thống tính giá thành theo quá trình sản xuất (áp dụng
ở những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành sản xuất hàng loạt, các sảnphẩm giống nhau cả về đặc tính, quá trình sản xuất và chi phí sản xuất)
Tính giá thành sản xuất theo phương pháp toàn bộ được thể hiện ở sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Hệ thống tính giá thành theo phương pháp toàn bộ
1.3.3.2 Tính giá thành sản phẩm sản xuất theo phương pháp trực tiếp
Theo phương pháp chi phí trực tiếp, giá thành sản phẩm sản xuất chỉ bao gồmcác chi phí sản xuất biến đổi, còn các chi phí sản xuất cố định không được tính vàogiá thành sản phẩm hoàn thành
Như vậy, khác với phương pháp trên, theo phương pháp tính giá trực tiếp thì
Biến phí gián tiếp trong giá thành
Biến phí sản xuất
Định phí sản xuất
Biến phí trực tiếp trong giá thành
Định phí trực tiếp trong giá thành
Định phí gián tiếp trong giá thành
Tổng giá thành sản xuất toàn bộ
Sản phẩm tồn kho
Giá vốn hàng bán
Trang 14chỉ có những chi phí của quá trình sản xuất mà trực tiếp biến động theo hoạt động
sản xuất mới được xem là chi phí sản xuất, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung khả biến Chi phí sản
xuất chung bất biến được coi là chi phí thời kỳ và được tính vào chi phí kinh doanh
ngay khi phát sinh
Phương pháp chi phí trực tiếp sẽ có ích hơn trong việc đánh giá hoạt động củanhà quản lý vì lợi nhuận báo cáo theo phương pháp này phản ánh đúng đắn hơnthực chất kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Phương pháp này được sử dụngnhiều trong kế toán quản trị như: định giá bán sản phẩm, lập dự toán linh hoạt, lậpbáo cáo thu nhập theo số dư đảm phí, ứng dụng trong phân tích mối quan hệ C-P-V
Sơ đồ 1.2: Hệ thống tính giá thành theo phương pháp trực tiếp
1.3.4 Kiểm soát CP sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất
Các nhà quản lý không có nhiều thời gian để kiểm tra và xác định nguyênnhân của tất cả các biến động Phương pháp quản lý theo ngoại lệ sẽ giúp nhà quản
lý tập trung thời gian và nỗ lực vào việc kiểm soát các biến động có ý nghĩa Khinào một biến động cần được kiểm soát, khi nào thì bỏ qua Lúc này, nhà quản lý sẽxem xét:
Sản phẩm tồn khoBiến phí trực tiếp
Biến phí gián tiếp
Giá thành sản phẩm sản xuất
Định phí trực tiếp
Định phí gián tiếp
Định phí
Biến phí của hàng bán
Lãi trên biến phíLợi nhuận thuần
Trang 15- Độ lớn của biến động: nhà quản lý thường quan tâm đến những biến động cógiá trị lớn về cả số tuyệt đối lẫn số tương đối Số tương đối của biến động cung cấpthông tin tốt hơn cho nhà quản lý trong việc kiểm soát
- Tần suất xuất hiện biến động: những biến động lặp đi lặp lại liên tục cầnđược kiểm soát chặt chẽ hơn những biến động thỉnh thoảng mới phát sinh
- Xu hướng của biến động: những biến động có xu hướng tăng dần theo thờigian là những biến động cần xác định nguyên nhân và kiểm soát
- Khả năng kiểm soát được biến động: những biến động mà những người bêntrong tổ chức có khả năng kiểm soát được thì cần tiến hành kiểm soát hơn nhữngbiến động mà tổ chức không có khả năng kiểm soát
- Các biến động thuận lợi: những biến động thuận lợi cũng cần được xem xét
để phát huy và cải tiến
- Lợi ích và chi phí của việc kiểm soát: quyết định nên kiểm soát một biếnđộng hay không cần phải xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí để thực hiệnviệc kiểm soát
Các nhà quản lý xác định mức ý nghĩa của các biến động dựa vào kinh nghiệm
và sự phán đoán chủ quan Biến động có giá trị lớn (về cả số tương đối và tuyệtđối), biến động lặp lại thường xuyên, biến động có xu hướng tăng dần, và biến động
mà tổ chức có khả năng kiểm soát là những biến động cần phân tích xác địnhnguyên nhân để kiểm soát
Kiểm soát biến động chi phí sản xuất thực hiện thông qua việc phân tích biếnđộng của các nhân tố chi phí: biến động về chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung Phân tích biến động chi phí được sửdụng như một công cụ hỗ trợ và giúp đỡ nhà quản trị kiểm soát chi phí chặt chẽ.Biến động về chi phí sản xuất phân thành 2 yếu tố: biến động về lượng và biếnđộng về giá
Trang 16Sơ đồ 1.3: Sơ đồ phân tích biến động chi phí
1.3.4.1 Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp [5, tr.74]
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm các chi phí nguyên liệu, vật liệuchính, vật liệu phụ hao phí cho từng quá trình sản xuất Biến động của chi phínguyên vật liệu trực tiếp có thể được kiểm soát gắn liền với các nhân tố giá
và lượng có liên quan
- Biến động giá: là chênh lệch giữa giá nguyên vật liệu trực tiếp kỳ thực tế với
giá nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định.Nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì nó phản ánh giá cả của một đơn vị nguyênvật liệu để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đã thay đổi như thế nào so với dự toán.Ảnh hưởng về
- Biến động lượng: là chênh lệch giữa lượng nguyên vật liệu trực tiếp ở kỳ
thực tế với lượng nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để sản xuất ra lượng sảnphẩm nhất định Biến động về lượng phản ánh tiêu hao vật chất thay đổi như thế
Lượng đ/mức x giá đ/mức Lượng thực tế x giá đ/mức Lượng thực tế x giá thực tế
Biến động về giáTổng biến động
Biến động về lượng
Trang 17nào và ảnh hưởng đến tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ra sao Biến động vềlượng được xác định:
sử dụng
-Nguyên vật liệutrực tiếp dự toán
tế nhiều hơn so với dự toán; còn nếu là kết quả âm thể hiện lượng vật liệu sử dụngtiết kiệm so với dự toán Nhân tố lượng sử dụng thường do nhiều nguyên nhân, gắnliền với trách nhiệm của bộ phận sử dụng vật liệu (phân xưởng, tổ, đội…) Đó cóthể là do khâu tổ chức sản xuất, mức độ hiện đại của công nghệ, trình độ công nhântrong sản xuất Ngay cả chất lượng nguyên vật liệu mua vào không tốt dẫn đến phếliệu hoặc sản phẩm hỏng nhiều làm cho lượng tiêu hao nhiều Khi tìm hiểu nguyênnhân của biến động về lượng cũng cần xem đến các nguyên nhân khách quan, như:thiên tai, hỏa hoạn, mất điện…
1.3.4.2 Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp [7,tr 80]
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí tiền và các khoản trích theo lươngtính vào chi phí của công nhân trực tiếp vận hành quá trình sản xuất Biến động củachi phí nhân công trực tiếp gắn liền với các nhân tố giá và lượng liên quan
- Nhân tố giá: là chênh lệch giữa giá giờ công lao động trực tiếp thực tế với dự
toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi vềgiá của giờ công lao động để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân côngtrực tiếp
Ảnh hưởng của giá
bộ phận chịu trách nhiêm, làm ảnh hưởng đến công tác quản lý chi phí và giá thành
Trang 18Nhân tố giá tăng hay giảm được đánh giá là tốt hay không tốt phải căn cứ vào chấtlượng công nhân tức trình độ và năng lực làm việc của công nhân Nếu giá giảm sovới dự toán nhưng chất lượng vẫn đảm bảo thì sự biến động đó là tốt và ngược lại.
- Nhân tố lượng: là chênh lệch giữa số giờ lao động trực tiếp thực tế với dự
toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về
số giờ công để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp haygọi là nhân tố năng suất Ảnh hưởng của nhân tố lượng thể hiện như sau:
x
Đơn giá nhâncông trực tiếp
dự toánNhân tố năng suất lao động do nhiều nguyên nhân: có thể là trình độ và nănglực của người lao động thay đổi, do điều kiện trang bị máy móc thiết bị, chính sáchlượng của doanh nghiệp Biến động do nhiều nguyên nhân khác nhau tác động đếnchi phí sản xuất có thể do chính quá trình sản xuất của doanh nghiệp hoặc vì biếnđộng của các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Việc phân tích biến động chi phí sảnxuất theo các khoản mục và theo nhân tố giá, nhân tố lượng giúp người quản lý pháthiện, xem xét các yếu tố đã gây ra biến động nhằm đưa ra biện pháp đúng đắn vàkịp thời để chấn chỉnh hoặc phát huy các nhân tố đó theo hướng có lợi nhất chodoanh nghiệp
1.3.4.3 Kiểm soát chi phí sản xuất chung [7,tr 89]
Chi phí sản xuất chung biến động là do sự biến động biến phí sản xuất chung
và biến động của định phí sản xuất chung:
- Biến động biến phí sản xuất chung:
Biến phí sản xuất chung gồm những chi phí gián tiếp liên quan đến phục vụ vàquản lý hoạt động sản xuất Chi phí này thường thay đổi theo sự biến thiên của mức
độ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, như: chi phí vật tư gián tiếp, tiền lương bộphận quản lý trả theo sản phẩm gián tiếp, chi phí năng lượng thay đổi theo số lượngsản phẩm sản xuất
Trang 19Biến động của biến phí sản xuất chung do nhiều nguyên nhân, nhưng vềphương pháp phân tích trong kiểm tra, nó cũng được phân tích thành ảnh hưởng củanhân tố giá và nhân tố lượng như đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phínhân công trực tiếp
Ảnh hưởng của nhân tố giá đến biến phí sản xuất chung thường do sự thay đổicủa các mức chi phí được xem là biến phí sản xuất chung Các mức này thay đổithường do nhiều nguyên nhân như: đơn giá mua vật tư gián tiếp cũng như các chiphí thu mua thay đổi, sự biến động giá cả chung của thị trường, nhà nước thay đổimức lương,…Nếu biến phí sản xuất chung được xây dựng chung cho nhiều yếu tốchi phí theo mức hoạt động thì ảnh hưởng của nhân tố giá được xác định:
Ảnh hưởng của giá
đến biến phí SXC =
Đơn giá biếnphí sản xuấtchung thực tế
bộ phận thu mua, cung ứng, bộ phận quản lý, v.v
Ảnh hưởng của lượng (mức độ hoạt động) đến biến động của biến phí sản xuấtchung được xác định:
Ảnh hưởng của
lượng đến biến phí
SXC
Mức độhoạt độngthực tế
Mức độhoạt động
dự toán
Đơn giá biếnphí SXC dựtoán
Ảnh hưởng của nhân tố lượng có thể do các nguyên nhân, như tình hình thayđổi sản xuất theo nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, điều kiện trang thiết bịkhông phù hợp phải giảm sản lượng sản xuất hoặc dẫn đến năng suất máy móc thiết
bị giảm v.v
- Biến động định phí sản xuất chung:
Định phí sản xuất chung là các khoản chi phí phục vụ và quản lý sản xuất,thường không thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trong phạm vi phùhợp Chẳng hạn: tiền lương bộ phận quản lý phân xưởng trả theo thời gian, chi phí
Trang 20bảo hiểm, tiền thuê mặt bằng, khấu hao tài sản cố định vv là những chi phí khôngthay đổi theo qui mô sản xuất trong phạm vi hoạt động Biến động định phí sản xuấtchung thường liên quan đến việc thay đổi cấu trúc sản xuất của doanh nghiệp hoặc
do hiệu quả sử dụng năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Kiểm soát định phí sản xuất chung nhằm đánh giá việc sử dụng năng lực tàisản cố định
Biến động định phí
sản xuất chung =
Định phí sản xuấtchung thực tế -
Định phí sản xuấtchung theo dự toánKhi phân tích định phí sản xuất chung, người ta cần xem xét định phí tùy ý,định phí bắt buộc cũng như định phí kiểm soát được với định phí không kiểm soátđược để xác định nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể các bộ phận
1.3.5 Xây dựng trung tâm trách nhiệm chi phí [4, tr.35]
Trung tâm chi phí có thể là một bộ phận sản xuất, một phòng ban chức năng
mà trong đó người quản lý ở các bộ phận này có trách nhiệm kiểm soát chi phí phátsinh ở bộ phận mình Trách nhiệm của nó là kiểm soát và báo cáo chi phí, đánh giáhiệu quả hoạt động của trung tâm chi phí bằng mức chi phí tiêu hao Quá trình phântích chi phí theo các trung tâm chi phí dựa trên báo cáo thành quả Báo cáo thànhquả là báo cáo phản ánh kết quả về các chỉ tiêu tài chính chủ yếu đạt được ở từngtrung tâm trách nhiệm trong một khoảng thời gian nhất định
Nội dung phân tích qua các báo cáo của trung tâm chi phí bao gồm:
+ Phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí của đơn vị: trên cơ sở số liệubáo cáo tiến hành lập bảng so sánh chi phí thực tế với chi phí dự toán sau khi đãđiều chỉnh theo cùng sản lượng thực tế Số chênh lệch qua so sánh sẽ chỉ ra tìnhhình thực hiện dự toán chi phí theo từng khoản mục cũng như toàn bộ chi phí
+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của từng khoản mục chiphí Các khoản mục chi phí bao gồm yếu tố lượng và yếu tố giá Bằng phương phápphân tích phù hợp sẽ xác định được ảnh hưởng của từng nhân tố Ảnh hưởng củatừng nhân tố sẽ chỉ ra trách nhiệm quản lý của các bộ phận có liên quan
Trang 21Như vậy, đánh giá trách nhiệm của trung tâm chi phí, điều mà người quản lýcần quan tâm là giải thích những nguyên nhân nhằm tìm ra những khó khăn khihoàn thành trách nhiệm và mục tiêu chung của đơn vị.
1.3.6 Phân tích thông tin chi phí để quyết định về giá bán sản phẩm
Ra quyết định là một chức năng cơ bản của người quản lý, đồng thời cũng lànhiệm vụ phức tạp và khó khăn nhất của họ Để phục vụ cho việc ra quyết định,người quản lý cần thiết phải tập hợp và phân tích nhiều dạng thông tin khác nhau,trong đó có những thông tin giống nhau và những thông tin khác nhau giữa cácphương án Các thông tin này chia thành hai nhóm: một nhóm thích hợp cho quátrình phân tích, đánh giá để lựa chọn phương án, gọi là thông tin thích hợp; nhómcòn lại không được sử dụng để phân tích, đánh giá gọi là thông tin không thích hợp.Thông tin thích hợp cho việc ra quyết định phải đạt hai yêu cầu sau:
- Thông tin đó phải liên quan đến tương lai
- Thông tin đó phải có sự khác biệt giữa các phương án đang xem xét và lựa chọn.Những thông tin không đạt một trong hai yêu cầu trên hoặc không đạt cả haiyêu cầu trên được gọi là những thông tin không thích hợp cho quá trình ra quyết định
Để có ý kiến tư vấn cho các nhà quản trị, kế toán quản trị chi phí phải phântích thông tin chi phí thích hợp qua các bước sau:
- Bước 1: Thu thập thông tin chi phí liên quan đến từng phương án kinh doanh.
- Bước 2: Loại trừ chi phí lặn, là một dạng chi phí thông thể tránh được ở các
phương án đầu tư
- Bước 3: Loại bỏ phần giống nhau của các chi phí ở các phương án kinh
doanh
- Bước 4: Những thông tin còn lại sau khi loại bỏ bước 2, bước 3 là những
thông tin thích hợp cho việc ra các quyết định
Ứng dụng các thông tin thích hợp nhà quản trị lựa chọn các quyết định kinhdoanh ngắn hạn: [6,tr.29]
- Định giá các sản phẩm sản xuất hàng loạt:
Trang 22Trong trường hợp doanh nghiệp tiến hành sản xuất nhiều loại sản phẩm khácnhau, đơn vị sẽ tính giá bán sản phẩm dựa trên cơ sở chi phí nền và chi phí tăngthêm.
Giá bán = Chi phí nền + chi phí tăng thêm
Phương pháp được sử dụng để định giá bán sản phẩm: phương pháp tính giátoàn bộ, phương pháp tính trực tiếp
- Định giá trong trường hơp đặc biệt:
Định giá bán sản phẩm trong tình huống đặc biệt như định giá cho các sảnphẩm theo các đơn đặt hàng làm thêm khi doanh nghiệp còn năng lực sản xuất nhànrỗi, trong điều kiện khó khăn của thị trường Doanh nghiệp sẽ sử dụng phương pháptrực tiếp để định giá bán
1.3.7 Tổ chức mô hình kế toán quản trị phục vụ cho kế toán toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp [4,tr 43]
Để phục vụ tốt hơn chức năng cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanhnghiệp cần phải tổ chức mô hình kế toán quản trị Có ba kiểu tổ chức mô hình kếtoán quản trị: mô hình kết hợp, mô hình tách biệt, mô hình hỗn hợp
Mô hình kết hợp: là mô hình gắn kết hệ thống kế toán quản trị với hệ thống kếtoán theo từng phần hành kế toán: kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành, kế toánbán hàng…Kế toán viên theo phần hành kế toán nào sẽ thực hiện cả kế toán tàichính và kế toán quản trị Mô hình này sẽ tiết kiệm chi phí tổ chức vận hành bộ máy
kế toán nhưng hiệu quả không cao vì kế toán quản trị và kế toán tài chính tuân thủnhững nguyên tắc khác nhau
Mô hình tách biệt: là mô hình tổ chức hệ thống kế toán quản trị riêng biệt với
hệ thống kế toán tài chính cả về bộ máy kế toán và công tác kế toán Với mô hìnhnày, Kế toán quản trị sẽ phát huy được tối đa vai trò chức năng của mình, tuy nhiêndoanh nghiệp sẽ phải trả rất nhiều chi phí để vận hành mô hình này
Mô hình hỗn hợp: Là mô hình kết hợp giữa hai mô hình nêu trên, trong đó tổchức bộ phận Kế toán quản trị chi phí giá thành riêng, còn các nội dung khác thìtheo mô hình kết hợp
Trang 23Đối với mô hình hỗn hợp có tính linh hoạt và khả năng cung cấp thông tin cao,nhưng doanh nghiệp cũng phải đầu tư tương đối lớn để tổ chức vận hành bộ máy và
tổ chức thực hiện công tác kế toán
Việc lựa chọn mô hình nào cần xuất phát từ điều kiện thực tiễn cũng như đặcđiểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trang 24Trong chương 1, luận văn khái quát bản chất của kế toán quản trị chi phí, vaitrò của kế toán quản trị chi phí, cách phân loại chi phí trong doanh nghiệp sản xuất.Nội dung kế toán quản trị trình bày rõ các phương pháp lập dự toán trong doanhnghiệp sản xuất, cách xác định giá phí sản phẩm sản xuất, phân tích thông tin chiphí phục vụ ra quyết định Đồng thời luận văn cũng trình bày các mô hình tổ chức
kế toán quản trị phục vụ cho kế toán quản trị chi phí
Từ cơ sở lý luận đó cho thấy tầm quan trọng của công tác kế toán quản trị chiphí trong doanh nghiệp sản xuất Kế toán quản trị chi phí là công cụ đắc lực cungcấp thông tin chi phí cho các nhà quản trị trong quá trình thực hiện chức năng quản
lý một cách có hiệu quả
Dựa vào cơ sở lý luận này tác giả trình bày thực trạng công tác kế toán quảntrị chi phí tại Công ty CP Nhựa Đà Nẵng ở chương 2, từ đó tìm ra các giải pháphoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty CP Nhựa Đà Nẵng
Trang 25Chương 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty CP Nhựa Đà Nẵng
2.1.1.1 Giới thiệu về Công ty CP Nhựa Đà Nẵng
Công ty CP Nhựa Đà Nẵng (DANAPLAST CO.) tiền thân là một doanhnghiệp Nhà nước trực thuộc UBND TP Đà Nẵng được thành lập từ 22/1/1976 vàđược cổ phần hóa vào ngày 4/8/2000 theo Quyết định 90/2000/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ
Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
Tên quốc tế : DA NANG PLASTIC JOINT STOCK COMPANY
Giám đốc : Ông Trần Quang Dũng
Sản phẩm chính : Ống nước HDPE và PVC Compound, bao bì các loại, dép, ủng, két bia, can, chai nhựa
Lĩnh vực sản xuất/ kinh doanh :
- Sản xuất sản phẩm tiêu dùng từ chất dẻo, bao bì các loại, ống nước PVCCompound và HDPE
- Bán buôn, bán lẻ các sản phẩm, vật tư, nguyên liệu và các chất phụ gia nhựa
Trang 26- Xuất nhập khẩu trực tiếp, kinh doanh các ngành nghề khác phù hợp với phápluật quy định.
Sản phẩm nhập khẩu: Hạt nhựa HDPE, PP, PVC, LDPE, LLDPE và thiết bịmáy móc
Thị trường nhập khẩu: Châu Âu, Châu Á
Sản phẩm xuất khẩu: Bao bì PP, túi nhựa
Thị trường xuất khẩu: Nhật Bản, Châu Âu
Vốn điều lệ hiện nay: 22.372.800.000 đồng
2.1.1.2 Quá trình phát triển
Công ty CP Nhựa Đà Nẵng trước đây là Nhà Máy Nhựa Đà Nẵng trực thuộc
ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được thành lập ngày 22/01/1976 Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh các mặt hàng thuộc ngành kinh tế côngnghiệp gia công sản phẩm từ chất dẻo, các sản phẩm chủ yếu là bao bì xi măng, ốngnước các loại phục vụ công, nông, ngư nghiệp, xây dựng và các sản phẩm gia dụng.Ngày 04/08/2000, theo quyết định số 20/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng ChínhPhủ về việc chuyển Công ty Nhựa Đà Nẵng thành Công ty CP Nhựa Đà Nẵng Ngày 23/11/2001, Công ty CP Nhựa Đà Nẵng chính thức niêm yết tại trungtâm giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh với mã chứng khoán là DPC, vốn điều
lệ khi thành lập 15.965.200.000 đồng Tổ chức tư vấn niêm yết: Công ty Cổ phầnchứng khoán Bảo Việt Kiểm toán độc lập: Công ty Kiểm toán và Kế toán - AAC-
Bộ Tài Chính
Qua hơn 30 năm hoạt động và không ngừng phát triển, Công ty CP Nhựa ĐàNẵng đã khắc phục được khó khăn và từng bước đi lên mở rộng quy mô Trong quátrình hoạt động, vừa sản xuất vừa tích lũy cho tái đầu tư, đến nay Công ty đã hoànthiện toàn bộ cơ sở hạ tầng nhà xưởng, đường nội bộ trong diện tích 1.64 ha Hiệnnay Công ty đã sản xuất được nhiều loại sản phẩm khác nhau để đáp ứng nhu cầungày càng cao của thị trường như: nhóm sản phẩm ống nước HDPE, PVC, nhómsản phẩm túi xốp, nhóm sản phẩm bao dệt pp, nhóm sản phẩm ép phục vụ côngnghiệp như két bia, chi tiết xe máy, nhóm hàng tiêu dùng: mũ bảo hiểm, dép ủng…,
Trang 27sản phẩm nhựa của Công ty dần thay thế hàng ngoại nhập và mở rộng xuất khẩu rathị trường quốc tế.
Trong những năm gần đây, Công ty được đánh giá là một trong những đơn vịhoạt động có hiệu quả tại Đà Nẵng với những thành tích đạt được: Huân chương laođộng hạng I,II,III do Nhà nước trao tặng, Hàng Việt Nam chất lượng cao trong 03năm liền,…
2.1.2 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất tại Công ty CP Nhựa Đà Nẵng
Quá trình sản xuất sản phẩm của Công ty được tiến hành trên dây chuyền côngnghệ tự động theo kiểu chế biến liên tục
Hiện hoạt động sản xuất tại Công ty áp dụng 3 quy trình công nghệ chủ yếu:
Sơ đồ 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất màng mỏng
Sơ đồ 2.2: Quy trình sản xuất ống nước
Máy thu Chỉ
Máy dệt Màng PP
Gấp
miệng
bao
Máy cán tráng
Máy
ép In
Đục dệt ống
Dán ống
Cố định hình
Đóng gói
Đóng gói
Phế phẩm
Cắt dánMáy xay
Nguyên
liệu
Máy trộn
Máy đùn Thổi
m ng àng
Máy định hình
Thiết bị Làm nguội
Máy lược
Phế phẩm
hình làm nguộiThiết bị
In Thiết
bị kéo ống
Máy cắt ốngThành phẩm
Phế phẩm
Trang 28Sơ đồ 2.3: Quy trình sản xuất bao bì xi măng
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý và bộ máy kế toán tại Công ty
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty bao gồm: Đại hội đồng cổ đông,Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban Giám đốc
Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty Đại hội
đồng cổ đông có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị,Ban Giám đốc và Ban giám soát
Hội đồng quản trị: được Đại hội đồng cổ đông bầu ra gồm 6 thành viên với
nhiệm kỳ là 5 năm (từ năm 2007 đến năm 2012) Hội đồng quản trị bầu ra 1 Chủtịch và 1 Phó chủ tịch, Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm xây dựng các kế hoạchsản xuất kinh doanh mang tính chiến lược tổng quát và đảm bảo các kế hoạch đượcthực hiện thông qua Ban Giám đốc Bên cạnh đó, Ban kiểm soát cũng cũng là một
cơ quan quản trị với nhiệm vụ thay mặt Đại hội đồng cổ đông kiểm tra, giám sát,theo dõi mọi hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban điều hành cũng như báo cáo
và chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông và pháp luật
Ban Giám đốc : Ban Giám đốc gồm 3 thành viên: 1 Giám đốc, 2 Phó giám đốc
do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, là cơ quan tổ chức, điều hành, quản lý mọi hoạtđộng kinh doanh hằng ngày của Công ty
Trang 29Dựa trên quy mô ngành nghề, cơ cấu tổ chức của Công ty hiện nay được phânchia theo chức năng, bao gồm: Ban giám đốc, Phòng Kế toán – Tài chính, PhòngKinh doanh, Phòng Tổ chức – Hành chính, Phòng Kỹ thuật.
Đứng đầu các bộ phận này là các trưởng phòng chịu sự chỉ đạo trực tiếp củaBan giám đốc Ngoài ra trong Công ty còn có các tổ chức đoàn thể chính trị là Chi
bộ, Công đoàn, Đoàn thanh niên
Có thể khái quát bộ máy quản lý của Công ty qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.4:Sơ đồ bộ máy quản lý Công ty CP Nhựa Đà Nẵng
(Nguồn: Báo cáo thường niên 2011 Công ty CP Nhựa Đà Nẵng)
2.1.3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của công ty
Tổ chức công tác kế toán, bộ máy kế toán theo kiểu tập trung: toàn bộ công tác
kế toán trong Công ty được tiến hành tập trung tại phòng kế toán
Cơ cấu bộ mày kế toán gồm:
Kế toán trưởng: là người đứng đầu bộ máy kế toán có trách nhiệm kiểm tra,
kiểm soát toàn bộ tình hình tài chính của Công ty, chiụ sự giám sát của Giám đốc,
có trách nhiệm tham mưu cho lãnh đạo Công ty trong các hoạt động liên quan đếntài chính Công ty
Ghi chú:
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Trang 30Phó phòng kế toán (Kế toán tổng hợp): là người có trách nhiệm kiểm tra đôn
đốc nhân viên kế toán hằng ngày, thay mặt cho kế toán trưởng thực hiện các côngviệc liên quan đến công tác kế toán tài chính trong phạm vi ủy quyền khi kế toántrưởng không có mặt tại văn phòng
Ngoài ra còn có các kế toán viên thuộc các phần hành kế toán: kế toán tiềnmặt, kế toán tiền lương - BHXH, kế toán nguyên vật liệu - công cụ dụng cụ, nợ phảitrả, kế toán thuế, thủ quỹ…
Khái quát bộ máy kế toán của Công ty qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.5: Sơ đồ bộ máy kế toán Công ty CP Nhựa Đà Nẵng
(Nguồn: Báo cáo thường niên 2011 Công ty CP Nhựa Đà Nẵng)
Hình thức kế toán Công ty áp dụng: Hình thức chứng từ ghi sổ, được thực hiệntrên máy vi tính
2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
2.2.1 Phân loại chi phí ở Công ty
2.2.1.1 Đặc điểm chi phí phát sinh tại Công ty
Công ty CP Nhựa Đà Nẵng là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sảnxuất kinh doanh Chi phí phát sinh tại công ty gắn liền với quá trình sản xuất và tiêuthụ Chi phí sản xuất phát sinh chủ yếu của Công ty là: chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, chi phí nhân công trực tiếp
Kế toán trưởng
Phó phòng kế toán(Kế toán tổng hợp)
BHXH TSCĐ
Kế Toán Vật tư
Kế Toán Tiêu Thụ
Kế toán Thanh toán ngoại tệ, TSCĐ &
Thống kê
Thủ quỹ
Ghi chú:
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Trang 312.2.1.2 Phân loại chi phí tại Công ty
Hiện tại Công ty đang sử dụng cách phân loại chi phí theo nội dung kinh tế.Theo cách phân loại này chi phí tại Công ty được phân thành hai loại: chi phí sảnxuất và chi phí ngoài sản xuất
a Chi phí sản xuất
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Để sản xuất Công ty sử dụng một lượng lớn nguyên vật liệu bao gồm nhiềuloại, mỗi loại có tác dụng khác nhau trong quá trình sản xuất Căn cứ vào tính chấtcủa nguyên vật liệu tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất, kế toánphân thành chi phí nguyên vật liệu chính và chi phí nguyên vật liệu phụ:
+ Chi phi nguyên vật liệu chính: bao gồm chi phí nhựa nguyên chất dùng trựctiếp cho sản xuất: gồm bột ổn định, bột đá, tracal, giấy Kraft, nhựa HDPE, nhựa PP,hạt nhựa PP…và phế liệu: phế liệu nhựa PA vàng, phế PP xay bẩn…
+ Chi phí nguyên vật liệu phụ: là những vật liệu được dùng để kết hợp với vậtliệu chính để gia tăng chất lượng của sản phẩm, như: dung môi, bột màu, mực in,các chất phụ gia…
- Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất
+ Các khoản trích theo lương tính cho công nhân trực tiếp sản xuất
- Chi phí sản xuất chung
+ Chi phí vận chuyển bốc vác nhựa
+ Chi phí điện nước phải trả
+ Chi phí nhiên liệu: nhiên liệu tại Công ty phục vụ cho máy móc thiết bị đượchoạt động liên tục, phục vụ sửa chữa bảo dưỡng máy móc thiết bị, như: dầu nhớt,luynh, mỡ, dầu sheller…
+ Chi phí phục tùng thay thế xuất phục vụ cho phân xưởng: bi, bolon, curoa + Chi phí công cụ dụng cụ: khoan, taro, giấy photo, bút mỡ lớn
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định
+ Tiền lương của nhân viên quản lý phân xưởng
Trang 32+ Các khoản trích theo lương tính cho nhân viên quản lý phân xưởng.
+ Chi phí sản xuất chung khác
b Chi phí ngoài sản xuất
- Chi phí bán hàng: bao gồm chi phí gắn liền với quá trình tiêu thụ sản phẩm:
chi phí mua xăng chở hàng đi bán, chi phí điện nước cho các cửa hàng, hoa hồngbán hàng, chi phí quảng cáo, các khoản chi phí nhân viên bán hàng: tiền lương, cáckhoản trích theo lương…
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm chi phí quản lý kinh doanh, chi phí
quản lý hành chính và các chi phí khác liên quan: chi phí lương và các khoản tríchtheo lương nhân viên văn phòng, chi phí khấu hao máy tính, thiết bị văn phòng, chiphí điện nước, điện thoại…
Nhìn chung, công tác phân loại chi phí tại Công ty chủ yếu phục vụ cho côngtác lập báo cáo tài chính, chưa quan tâm đến phân loại chi phí phục vụ cho công tácquản trị doanh nghiệp Vì vậy, để kiểm soát chi phí, phát huy vai trò thông tin kếtoán phục vụ cho nhu cầu của nhà quản trị, Công ty cần tiến hành phân loại chi phí
theo cách ứng xử của chi phí.
2.2.2 Công tác lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh tại Công ty CP Nhựa
Đà Nẵng
Trong kế toán quản trị chi phí tại đơn vị, lập dự toán là khâu quan trọng nhất
Nó thể hiện mục tiêu, nhiệm vụ của toàn doanh nghiệp đồng thời dự toán cũng là cơ
sở để kiểm tra, kiểm soát cũng như ra các quyết định tại Công ty
2.2.2.1 Trình tự lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh tại Công ty
Ban Giám đốcPhòng Kế toán
Phân xưởngPhân
xưởng xưởngPhân
Trang 33Ghi chú: Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Sơ đồ 2.6: Sơ đồ trình tự lập dự toán CPSX tại Công ty CP Nhựa Đà NẵngViệc lập dự toán chi phí của Công ty CP Nhựa Đà Nẵng được tiến hành bắtđầu từ việc xây dựng các định mức tiêu chuẩn Số liệu lập định mức tiêu chuẩn docác phân xưởng sản xuất lập được gửi lên cho các phòng ban xem xét nhằm tránhnguy cơ định mức lập ra không chính xác Các phòng ban sau khi xem xét, nhậnthấy các dữ liệu hợp lý sẽ kết hợp nghiên cứu tình hình sản xuất, nhu cầu thị trườngsau đó tiến hành lập dự toán về các chi phí tương ứng với bộ phận của mình Phòng
Kế toán của Công ty có trách nhiệm tổng hợp dự toán của các bộ phận thành dựtoán chung của Công ty, đồng thời chịu trách nhiệm tổ chức các cuộc họp cùng vớicác bộ phận có liên quan để chỉnh sửa, bổ sung để hoàn thành dự toán Sau khithống nhất nội dung phòng Kế toán sẽ trình lên Ban Giám đốc xem xét và duyệt.Sản phẩm sản xuất của Công ty Cổ phần nhựa Đà Nẵng bao gồm nhiều chủngloại, để tìm hiểu cụ thể hơn về công tác lập dự toán ở Công ty luận văn trình bàycách lập dự toán cho nhóm mặt hàng ống HDPE trong quý 4 năm 2011, mặt hàngnày chiếm tỷ trọng số lượng sản phẩm sản xuất hằng năm tương đối cao hơn so vớicác mặt hàng khác và đang được Công ty chú trọng mở rộng quy mô sản xuất
2.2.2.2 Dự toán sản lượng sản xuất
Phòng Kinh doanh căn cứ vào kế hoạch sản xuất của năm và kết quả thực hiệncác chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh năm trước Bằng phương pháp phân tíchthống kê và phương pháp kinh nghiệm, Phòng Kinh doanh tiến hành phân tích cácyếu tố về môi trường kinh doanh để lập kế hoạch sản lượng tiêu thụ của năm
K ho ch s n l ế hoạch sản lượng tiêu thụ thể hiện ở bảng 2.1: ạch sản lượng tiêu thụ thể hiện ở bảng 2.1: ản lượng tiêu thụ thể hiện ở bảng 2.1: ượng tiêu thụ thể hiện ở bảng 2.1: ng tiêu th th hi n b ng 2.1: ụ thể hiện ở bảng 2.1: ể hiện ở bảng 2.1: ện ở bảng 2.1: ở bảng 2.1: ản lượng tiêu thụ thể hiện ở bảng 2.1:
Bảng 2.1: Kế hoạch tiêu thụ năm 2011
Trang 34Quý 1 Quý 2 Quý 3 Quý 4 Năm 2011
1
NHÓM SP ỐNG
HDPE (kg)
Tỉnh Quảng Bình 8.976 8.672 9.641 10.752 38.041Tỉnh Thừa Thiên Huế 15.620 14.892 13.982 14.768 59.262
Tỉnh Quảng Nam 14.872 15.872 17.980 12.539 61.263Tỉnh Quảng Ngãi 18.082 13.652 16.752 15.627 64.113
(Nguồn: Dự toán chi phí năm 2011, Công ty CP Nhựa Đà Nẵng)
Căn cứ vào Kế hoạch tiêu thụ, tình hình tồn kho thành phẩm của năm trước vànhu cầu cần dự trữ thành phẩm của năm đến, phòng Kinh doanh lập dự toán sản lượng sản xuất các loại sản phẩm cho năm đến
Kế hoạch sản xuất các loại sản phẩm thể hiện ở bảng 2.2
Bảng 2.2: Dự toán sản xuất các loại ống
Năm 2011Nhóm SP: ống HDPE
1
Ống HDPE gân xoắn 1
vách DN-100 52.860 54.780 58.923 56.490 223.0532
Ống HDPE gân xoắn 1
vách DN-200 45.890 47.934 45.620 54.923 194.367
3 Ống HDPE gân xoắn 2 vách DNB-500 67.345 62.362 54.980 57.409 242.096
4 Ống HDPE PN 6-125 14.500 18.312 15.789 16.456 65.057
Trang 355 Ống HDPE PN 6-140 19.983 18.670 17.890 17.845 74.388
(Nguồn: Dự toán chi phí năm 2011, Công ty CP Nhựa Đà Nẵng)
2.2.2.3 Lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Sau khi phòng Kinh doanh lập dự toán sản lượng sản xuất, dự toán chi phínguyên vật liệu nguyên vật liệu sẽ được lập ra dựa vào định mức lượng vật liệu sửdụng để sản xuất và định mức đơn giá nguyên vật liệu
Như vậy phòng Kỹ thuật phải xác định định mức tiêu hao nguyên vật liệu vàphòng Kinh doanh xác định định mức đơn giá xuất nguyên vật liệu
* Định mức tiêu hao nguyên vật liệu
Là lượng nguyên vật liệu tiêu hao để sản xuất 1.000 kg thành phẩm, định mứcnày phòng Kỹ thuật đưa ra dựa trên việc chế thử sản phẩm, tính được lượng vật việu
sử dụng để sản xuất 1000 kg thành phẩm, thể hiện ở bảng 2.3 như sau:
Bảng 2.3 Định mức cấp nguyên vật liệu cho 1.000kg ốngHDPE
Dự toán chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp = Định mức lượng nguyên vật liệu sử dụng x Định mức đơn giá nguyên vật liệu
Trang 363 Acid stearic Lit 5,8
(Nguồn: Định mức sản xuất năm 2011, Công ty CP Nhựa Đà Nẵng)
* Dự toán lượng nguyên vật liệu sử dụng
Căn cứ vào Dự toán sản xuất sản phẩm năm 2011 của nhóm ống HDPE ở bảng2.2 và định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất 1000 kg thành phẩm ở bảng2.3, lập được dự toán lượng nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất
Bảng 2.4: Bảng dự toán lượng nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất
Quý 4/2011
Nhóm Sp: ng HDPE Ống HDPE
STT Tên NVL ĐVT
Lượng NVL sử dụng Ống
HDPE gân xoắn
1 vách DN-100
Ống HDPE gân xoắn
1 vách DN-200
Ống HDPE gân xoắn
2 vách DNB-500
Ống HDPE
PN 6-125
Ống HDPE
3 Acid stearic lit 327,64 318,55 332,97 95,44 103,50 1.178,11
(Nguồn: Dự toán chi phí năm 2011, Công ty CP Nhựa Đà Nẵng)
* Định mức đơn giá nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu sản xuất chiếm tỷ trọng nhiều nhất là HDPE đen và HDPEfilm, chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài nên thường xuyên chịu sự thay đổi giá cảcủa thị trường, sự biến động tỷ giá ngoại tệ Căn cứ để xác định định mức đơn giánguyên vật liệu là giá mua của vật liệu theo giá chào hàng của nhà cung cấp, chi phívận chuyển và sự thay đổi tỷ giá ngoại tệ
Định mức đơn giá nguyên vật liệu được thể hiện ở bảng 2.5:
Bảng 2.5: Bảng định mức đơn giá nguyên vật liệu
Quý 4/2011
Nhóm SP: ng HDPE ống HDPE
Trang 37(Nguồn: Định mức sản xuất năm 2011, Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng)
Từ Bảng dự toán lượng vật liệu sử dụng và Bảng định mức giá nguyên vật liệuđược tổng hợp thành dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, thể hiện ở bảng 2.6:
Trang 38Bảng 2.6: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sản xuất
Quý 4/2011Nhóm SP: Ống HDPE
100
Ống HDPE gân xoắn 1 vách DN- 200
Ống HDPE gân xoắn 2 vách DNB-
Số lượng
Thành tiền
Số lượng
Thành tiền
Số lượng Thành tiền
Trang 392.2.2.3 Lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp sản xuất
Tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất được Công ty chi trả theo sảnlượng sản xuất
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp tại Công ty được lập dựa vào số lượng sảnphẩm sản xuất và định mức đơn giá lương sản phẩm
Bảng định mức đơn giá tiền lương được phòng Tổ chức lập dựa vào đặc điểmsản xuất từng loại sản phẩm, thời gian hoàn thành sản phẩm, mức lương tối thiểu ởthời điểm hiện tại
Bảng định mức đơn giá tiền lương thể hiện ở bảng 2.7:
Bảng 2.7 : Định mức chi phí nhân công trực tiếp sản xuất
Quý 4/2011Nhóm SP: Ống HDPE
(Nguồn: Định mức sản xuất năm 2011, Công ty CP Nhựa Đà Nẵng)
Căn cứ vào Dự toán sản xuất sản phẩm quý 4/2011 và định mức đơn giálương, tiến hành lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp thể hiện ở bảng 2.8
Bảng 2.8: Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Quý 4/2011Nhóm SP: Ống HDPE
Đơn giá (đồng/
kg)
Số lượng (kg)
Thành Tiền (đồng)
1 Ống HDPE gân xoắn 1 vách DN-100 3.200 56.490 180.768.000
2 Ống HDPE gân xoắn 1 vách DN-200 3.600 54.923 197.722.800
3 Ống HDPE gân xoắn 2 vách DNB-500 4.300 57.409 246.858.700
Trang 40(Nguồn: Dự toán chi phí năm 2011, Công ty CP Nhựa Đà Nẵng)
2.2.2.4 Lập dự toán chi phí sản xuất chung
Dự toán chi phí sản xuất chung bao gồm: dự toán chi phí nhân viên phânxưởng, chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phíbốc vác, vận chuyển nhựa từ kho vào phân xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài
Chi phí sản xuất chung tại Công ty được dự toán cho toàn phân xưởng sảnxuất, sau đó phân bổ lại cho từng nhóm sản phẩm theo các tiêu thức khác nhau
* Dự toán chi phí nhân viên phân xưởng
Chi phí nhân viên phân xưởng gồm chi phí tiền lương của nhân viên quản lýphân xưởng, nhân viên phục vụ sản xuất như: nhân viên kỹ thuật sửa chữa dướitừng phân xưởng, nhân viên bảo vệ phân xưởng, nhân viên tổ cơ điện, tổ KCS
Lương nhân viên quản lý phân xưởng và các nhân viên làm công việc phục
vụ sản xuất vừa được tính lương theo thời gian vừa được tính lương theo sản phẩm
Công thức tính như sau:
Lương thời gian = Hệ số lương x Mức lương thối thiểu
Tổng quỹ Lương theo sản phẩm = Lương theo SP của công nhân trực tiếpsản xuất x 10%
Sau khi tính tổng quỹ lương theo sản phẩm, kế toán tiến hành phân bổ chotừng nhân viên theo hệ số lương của mỗi nhân viên
* Dự toán chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
Công cụ dụng cụ bao gồm chi phí vật liệu dùng sửa chữa, bảo dưỡng tài sản
cố định, công cụ dụng cụ thuộc tổ quản lý và sử dụng như: các loại quả cân đolường (Ampe kế…) , phụ tùng thay thế: bi, bolon, curoa
Nhiên liệu phục vụ cho vận hành máy móc: dầu nhớt Catral, dầu nhớtSheller, mỡ, luynh, Energol HDL 1524
Dự toán chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ chủ yếu dựa vào kinhnghiệm của người quản lý và số liệu thống kê của năm trước
* Dự toán chi phí vận chuyển bốc vác nhựa từ kho vào phân xưởng
Chi phí bốc vác = khối lượng nhựa được bốc vác x đơn giá bốc vác nhựa