Chủ thể nhận thức trong Triết học I. Cantơ
Trang 1Mục lục
* Mở đầu 02
* Nội dung 08
Chơng 1: Những tiền đề cơ bản cho quan niệm của I Cantơ về chủ thể nhận thức 08
1.1 Bối cảnh ra đời của nhận thức luận Cantơ 08
1.2 Một số tiền đề t tởng 10
1.2.1 Chủ nghĩa duy cảm nh là cơ sở cho nhận thức luận của I Cantơ 10
1.2.2 Quan niệm duy lý về chủ thể nhận thức trong triết học Phục hng-Cận đại 20
Chơng 2: Chủ thể nhận thức trong triết học I Cantơ 35
2.1 Sơ lợc về thân thế và sự nghiệp của I Cantơ 35
2.2 Quan niệm của Cantơ về cấu trúc và những năng lực của chủ thể nhận thức 36
2.2.1 Cảm tính 38
2.2.2 Giác tính 45
2.2.3 Thông giác 52
2.2.4 Lý tính 57
2.3 Đóng góp và hạn chế của quan niệm Cantơ về chủ thể nhận thức 67
*Kết luận 73
*Danh mục tài liệu tham khảo 76
Trang 2mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Với t cách là ngời sáng ra triết học cổ điển Đức, Imanue Cantơ có những
đóng góp không nhỏ cho nền triết học thế giới Đánh giá về học thuyết triết họccủa Cantơ, Các Mác đã từng viết rằng: “Triết học Cantơ là học thuyết Đức củacuộc cách mạng Pháp” [8, 131] Nhân danh cá nhân và những ngời đồng quan
điểm với mình, F.ăngghen đã từng công khai tuyên bố: “Nếu các thầy giáo củagiai cấp t sản dìm cái ký ức về các triết gia Đức vĩ đại và về phép biện chứng do họsáng tạo ra vào vũng lầy của một chủ nghĩa chiết trung buồn thảm,- đến mức màchúng tôi phải kêu gọi khoa học tự nhiên hiện đại làm chứng cho rằng, phép biệnchứng tồn tại trong thực tế,-thì chúng tôi, những ngời xã hội chủ nghĩa Đức, lấylàm tự hào rằng chúng tôi xuất thân không những từ Xanh Ximông, Phuriê, Ôoen,
mà cả từ Cantơ, Phíchtơ và Hêghen” [10, 461]
Thật khó mờng tợng diện mạo triết học Đức thế kỷ XIX sẽ ra sao nếu không
có triết học Cantơ Chính Cantơ, đáp ứng nhu cầu của thời đại mình, đã đặt ra vàgiải quyết theo cách riêng hàng loạt vấn đề quan trọng mà nhiều năm sau còn ảnhhởng đến sự phát triển của t tởng triết học Châu Âu
Ngay từ trong các tác phẩm thời kỳ “trớc phê phán” khi Cantơ chuyên chú
về các vấn đề khoa học tự nhiên và triết học tự nhiên, chúng ta thấy rất rõ quanniệm của ông về sự phát triển trong tự nhiên Trong cuốn “lịch sử tự nhiên đại c-
ơng và học thuyết về bầu trời” xuất bản năm 1755, đợc F ăngghen đánh giá là tácphẩm thiên tài vì “vấn đề cái hích đầu tiên đã bị loại bỏ;trái đất và tất cả hệ thốngmặt trời hiện ra nh là một cái gì đã hình thành trong thời gian” [11, 466], Cantơkhông chỉ giải thích cấu tạo hiện thời của hệ mặt trời mà còn giải thích cả sự xuấthiện và phát triển của nó nữa Có thể khẳng định rằng, học thuyết của Cantơ vềmâu thuẫn đã đặt ra cơ sở cho các hệ thống biện chứng của Phíchtơ, Sêlinh vàHêghen Do vậy, có thể nói, Cantơ là ngời sáng lập ra biện chứng cổ điển Đức
Cantơ là ngời đầu tiên đột phá vào và làm phá vỡ quan niệm siêu hình và
ph-ơng pháp t duy siêu hình khi đề cập đến thế giới vật chất cả vô cơ lẫn hữu cơ và
“ông đã phá vỡ một cách hết sức khoa học đến mức là hiện nay phần lớn những lý
lẽ của ông dùng để chứng minh vẫn còn giá trị” [11, 86] Từ quan niệm ấy,Cantơ đã khẳng định sự ngự trị của các quy luật nhân quả phổ biến trong giới tựnhiên, cũng nh vạch rõ ranh giới giữa ý chí tự do của con ngời và những quy luật
Trang 3của tự nhiên Đây là một trong những vấn đề chủ yếu trong triết học Cantơ thu hút
sự chú ý mạnh mẽ của những nhà triết học sau ông
Các t tởng biện chứng đã đợc Cantơ phát triển đặc biệt là trong lôgíc học vàcủa lý luận nhận thức Cantơ đã đặt ra những nề tảng cho t tởng về lôgíc biệnchứng, về vai trò của các phạm trù, đặc biệt về vai trò của chủ thể nhận thức…
Cantơ đã làm cuộc cách mạng triết học Điều đã khơi dậy cuộc cách mạngnày trong đầu óc Cantơ chính là sự quan tâm sâu sắc tới một vấn đề mà triết họcthời ông không thể giải quyết thành công hay thỏa đáng Các yếu tố trong vấn đềcủa ông đợc gợi ý từ nhận định mà ông đa ra : “hai điều làm cho đầu óc cảm thấymột sự cảm phục và kinh ngạc luôn luôn mới mẻ…bầu trời đầy sao trên đầu vàluật đạo đức bên trong” Tức là, ông muốn bắt đầu quan tâm tới vũ trụ, triết học tựnhiên và đặc biệt là một số cấu trúc và năng lực trong nhận thức của con ng ời-với
t cách là chủ thể nhận thức Đồng thời, ông cũng đa ra những định hớng và cáchluận chứng mới cho những vấn đề trên mà các nhà triết học trớc ông cha giải quyết
đợc Với tính chất và nhiệm vụ nh vậy cuộc cách mạng trong triết học của Cantơ
mà ông gọi là cuộc cách mạng Côpécnich đã để lại nhiều dấu ấn về vai trò và nănglực của t duy con ngời đối với các nhà triết học sau Cantơ, đặc biệt là những nhàsáng lập ra chủ nghĩa Mác
Có thể nói, với hệ thống triết học khá đồ sộ mà tập trung chủ yếu trong batác phẩm: “Phê phán lý tính thuần tuý” (1781); “Phê phán lý tính thực tiễn”(1788); “Phê phán năng lực phán đoán” (1790) Cantơ đã có những đóng góp quantrọng cho triết học cổ điển Đức nói riêng và lịch sử triết học thế giới nói chung.Quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức có thể coi là xuất phát điểm cho việcxây dựng lý luận nhận thức của triết học Mác sau này Bởi lẽ, khi đánh giá chủ thểnhận thức ở mặt này, Cantơ đã đánh dấu bớc ngoặt trong nhận thức về con ngời
Vấn đề chủ thể nhận thức trong triết học Cantơ, hiện nay, cha đợc nghiêncứu một cách đầy đủ và hệ thống, không những vậy, còn có những đánh giá tráingợc nhau Do đó, nó đã gây ra khó khăn cho các nhà nghiên cứu trong việc đánhgiá bớc tiến của quan niệm chủ thể nhận thức trong triết học Mác Vì t tởng này đ-
ợc các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác tiếp thu và phát triển trực tiếp từ chính quanniệm của Cantơ
Hơn nữa, trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta, vấn đề con
ng-ời với t cách là chủ thể nhận thức và vai trò của t duy con ngng-ời luôn đợc Đảng taquan tâm và đặt lên hàng đầu Với chiến lợc nâng cao tri thức, trí tuệ và phát huy
Trang 4nhân tố con ngời, cho nên, vấn đề chủ thể nhận thức và vai trò của chủ thể nhậnthức cần đợc đi sâu nghiên cứu.
Thêm vào đó, trong quá trình học tập và nghiên cứu lịch sử triết học, tôi thực
sự quan tâm rất nhiều đến triết học Cantơ đặc biệt là vấn đề chủ thể nhận thứctrong triết học của ông Bởi lẽ, đó là vấn đề còn cha đợc các nhà nghiên cứu khaithác triệt để và là cốt lõi trong nhận thức luận Cantơ Do đó, vấn đề này cần phải đ-
ợc nghiên cứu thêm thì mới đánh giá đầy đủ đong góp của Cantơ đối với lịch sửtriết học
Vì vậy, để hiểu rõ hơn quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức, tôi mạnhdạn lựa chọn đề tài này hy vọng sẽ có thể đóng góp phần nào vào việc tìm hiểu sâuhơn về giá trị của triết học Cantơ đối với lịch sử triết học thế giới
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
ở Việt nam, việc giảng dạy triết học của Cantơ đã đợc đa vào chơng trình từbậc đại học và sau đại học, do đó có khá nhiều nhà nghiên cứu viết về triết học của
ông Tuy nhiên, cho đến nay, quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức còn ít đợc
đề cập đến và cha đợc xem xét đầy đủ Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này làdo: Nghiên cứu di sản triết học đồ sộ mà ông để lại cho chúng ta, đòi hỏi một sựkiên nhẫn và thời gian dài lâu Vì triết học của Cantơ đợc trình bày và diễn đạtbằng một ngôn ngữ “rất Cantơ”, nghĩa là rất khó hiểu-ngay cả với những ngờichuyên sâu vào nghiên cứu triết học của ông
Thêm một khó khăn nữa cho công việc nghiên cứu lý luận nhận thức nóiriêng và triết học Cantơ nói chung là ở Việt nam có rất ít các tác phẩm triết họccủa ông đợc dịch ra tiếng việt và công trình lớn về Cantơ không nhiều
Mặt khác, khi nghiên cứu về lý luận nhận thức nói chung và quan niệm chủthể nhận thức của Cantơ nói riêng, chúng ta bắt buộc phải đọc tác phẩm có thể nói
là hạt nhân của lý luận Cantơ: “Phê phán lý tính thuần tuý”-một tác phẩm cơ bản
đánh dấu cuộc cách mạng Côpécních của Cantơ không chỉ trong lý luận nhận thức,
mà còn trong quan niệm về con ngời Tuy nhiên, tác phẩm này mới đợc Bùi VănNam Sơn biên dịch và chú giải năm 2004
Do vậy, liên quan đến vấn đề chủ thể nhận thức trong triết học Cantơ, cho
đến nay mới chỉ có một số công trình nghiên cứu nh: “Tính tích cực của chủ thểnhận thức trong triết học I Cantơ” của giáo s tiến sĩ Nguyễn Trọng Chuẩn trongtác phẩm “I.Cantơ- Ngời sáng lập nền triết học cổ điển Đức” ; đặc biệt là cuốn
“Triết học Imanuin Cantơ ” của giáo s, tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên; các bài viết về
Trang 5các năng lực của chủ thể nhận thức nh: “Học thuyết về atinomia và lôgíc tiênnghiệm của Cantơ”; “Về học thuyết phạm trù trong triết học Cantơ”…của các tácgiả viện triết học; “Kỷ yếu hội thảo triết học cổ điển Đức: Nhận thức luận và Đạo
đức học” và một số nhà nghiên cứu khác…Mà khi đánh giá về vấn đề này, Cantơ
đã đánh dấu bớc ngoặt lớn so với các trờng phái triết học trớc ông Vì vậy, cần phải
đi sâu nghiên cứu hơn nữa nhằm làm rõ đóng góp này của Cantơ đối với triết học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận
Mục đích của khoá luận: là ở chỗ phân tích quan niệm của Cantơ về chủ thể
nhận thức, từ đó đánh giá ảnh hởng của quan niệm này đối với lịch sử triết học nóichung và với việc xây dựng lý luận nhận thức của triết học Mác sau này
Nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận: Để đạt đợc mục đích nghiên cứu, khoá
luận thực hiện những nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích những tiền đề cơ bản cho sự hình thành quan niệm Cantơ
về chủ thể nhận thức, chủ yếu đi sâu vào hai trào lu triết học Phục hng-Cận đại:chủ nghĩa duy cảm kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý cực đoan;
Hai là, phân tích và trình bày một cách có hệ thống quan niệm của Cantơ về
chủ thể nhận thức mà cụ thể là các năng lực cơ bản của chủ thể nhận thức: cảmtính, giác tính, thông giác và lý tính;
Ba là, nhận xét và đánh giá những đóng góp và hạn chế của quan niệm
Cantơ về chủ thể nhận thức từ quan niệm của triết học Mácxít
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của khoá luận: khoá luận tập trung trớc hết vào việc
phân tích và đánh giá quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức, đặc biệt là cácnăng lực của chủ thể nhận thức nh: cảm tính, giác tính, thông giác và lý tính
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận: do điều kiện hạn chế về thời gian và t
liệu, khoá luận giới hạn chủ yếu ở việc nghiên cứu vấn đề chủ thể nhận thức trongtác phẩm “Phê phán lý tính thuần tuý” của Cantơ
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Ngoài tác phẩm “Phê phán lý tính thuần tuý”, khoá luận có xem xét, kế thừacác kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề chủ thể nhận thứctrong triết học Cantơ ở các học giả đi trớc Khoá luận dựa trên nền tảng lý luận củachủ nghĩa Mác-Lênin về lịch sử triết học
Trang 6Phơng pháp nghiên cứu đợc sử dụng ở đây là phơng pháp Mácxít trongnghiên cứu lịch sử triết học, phơng pháp biện chứng chẳng hạn nh phơng pháplôgíc kết hợp với phơng pháp lịch sử, phơng pháp phân tích và tổng hợp, phơngpháp so sánh…
6 Đóng góp của khoá luận
Đóng góp chủ yếu của khoá luận là ở chỗ trình bày một cách có hệ thốngquan niệm về chủ thể nhận thức trong triết học Cantơ, và làm sáng tỏ những t tởngcủa Cantơ về cấu trúc và năng lực của chủ thể nhận thức, từ đó đa ra những đánhgiá về những đóng góp và hạn chế của quan niệm trên
7 Kết cấu của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khoáluận gồm 2 chơng 5 tiết
Trang 7nội dungChơng1 Những tiền đề cơ bản cho sự hình thành quan niệm của
I.Cantơ về chủ thể nhận thức
Vấn đề nhận thức luận đợc đặt ra từ rất sớm trong lịch sử triết học Con ngời
có khả năng nhận thức đợc thế giới hay không?: đó là câu hỏi đợc đặt ra trong suốtquá trình phát triển của lịch sử nhân loại Để lý giải câu hỏi đó, các nhà triết học,
từ thời Cổ đại đến ngày nay, đang đi tìm câu trả lời, song, đều do những điều kiện
và tiền đề khác nhau, nên mỗi thời kỳ lịch sử cách luận chứng khác nhau
Đối với I.Cantơ, lý luận nhận thức có thể coi là đóng vai trò chủ đạo trong
hệ thống triết học của ông ở đó, ông đa ra nhiều câu hỏi nhằm hớng đến giảiquyết một câu hỏi lớn nhất: Con ngời là gì? Cantơ nhấn mạnh đến vị trí của conngời với t cách là chủ thể nhận thức, là trung tâm của mọi hoạt động Chính vì vậy,
ông phê phán triết học trớc mình là cha hớng về giới tự nhiên, coi giới tự nhiên chứkhông phải con ngời là đối tợng của triết học Vậy, bối cảnh nào đã dẫn đến nhữngnhận định đó của I.Cantơ, cung nh những t tởng nào ảnh hởng trực tiếp đến sựluận giải đó của ông?
1.1 Bối cảnh ra đời nhận thức luận I.Cantơ
Đến cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa t bản đã đợc thiết lập ởmột số nớc Tây Âu nh Italia, Anh, Pháp… đem lại một nền sản xuất phát triển chatừng có trong lịch sử tỏ ra u việt hơn hẳn so với tất cả các chế độ xã hội trớc đó.Những thành tựu kinh tế và văn hoá thời nay mà đỉnh cao là cách mạng côngnghiệp ở Anh càng khẳng định sức mạnh của con ngời trong nhận thức và cải tạothế giới Cùng với cách mạng t sản Pháp làm rung chuyển cả Châu Âu, chúng đánhdấu sự mở đầu của nền văn minh công nghiệp trong lịch sử nhân loại Trong khi
đó, ở nớc Đức vẫn còn trong tình trạng lạc hậu Cả đất nớc bao trùm bầu không khíbất bình của đông đảo quần chúng nh Ph.Ăngghen nhận xét, có thể coi đây là mộttrong những thời kỳ yếu hèn nhất trong lịch sử nớc Đức
Thêm vào đó, những tiến bộ đáng kể cuả khoa học, nhất là các ngành khoahọc tự nhiên ngày càng chứng tỏ sự hạn chế của phơng pháp t duy siêu hình thốngtrị trong t tởng Tây Âu suốt thế kỷ XVII, XVIII Việc phát minh ra điện và sửdụng điện năng góp phần tạo ra bớc nhảy vọt trong sự phát triển của sản xuất từcông trờng thủ công tới công nghiệp cơ khí, đồng thời chứng thực những phát triển
Trang 8đầu tiên của khoa học về sự bảo toàn và biến hoá năng lợng và vật chất của vũ trụ.Phát minh của Lavoarê ra ôxi và bản chất của sự cháy đã đánh đổ thuyết nhiên tố,
mở ra giai đoạn phát triển mới của hoá học Những công trình nghiên cứu củaLamác, Linnơ, việc phát hiện ra tế bào của Lơvenhúc… đòi hỏi phải có cách lýgiải mới về bản chất của sự sống
Bối cảnh lịch sử đó ở Tây Âu và nớc Đức đặt trớc các nhà triết học nhiềuvấn đề: siêu hình học thế kỷ XVII (với các đại biểu chính nh Đềcáctơ, Lépnít,Xpinôza…) từng đóng vai trò to lớn trong việc phát triển t suy lý luận và hệ thốnghoá tri thức con ngời đã không còn đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của thực tiễn và
t tởng Tây Âu thế kỷ XVIII, khi mà hàng loạt các khoa học đã đủ sức phát triểntách ra khỏi cái nôi triết học của mình, trở thành những lĩnh vực nghiên cứu độclập Ngay từ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, xuất hiện nhiều xu hớng xét lạisiêu hình học và các giá trị t tởng truyền thống Tuy nhiên, Triết học Tây Âu phụchng và cận đại (ngay cả triết học khai sáng Pháp thế kỷ XVIII) từng là ngọn cờ lýluận của giai cấp t sản trong thời kỳ bình minh đầy tính cách mạng của nó, về cơbản, vẫn cha thoát khỏi quan niệm cơ học về thế giới, đồng thời bất lực trong việc
lý giải bản chất của thực tiễn xã hội đang diễn ra cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷXIX Trong tình hình đó, Cantơ đã nhìn thấy rõ những điểm hợp lý trong các triếthọc trớc ông, song ông còn thấy rõ hơn tính chất giáo điều của triết học duy lý vàtính chất hoài nghi thiếu cơ sở trong triết học theo kinh nghiệm luận Những hạnchế này, theo Cantơ, đã trở thành “căn bệnh trầm kha” trong lĩnh vực t tởng ở thời
đại ông Điều này, khiến Cantơ tự đặt ra cho mình nhiệm vụ phân tích có phê pháncác trào lu Triết học trớc đó, nhằm xem xét và đánh giá lại khả năng nhận thức củacon ngời, giải phóng khỏi nhận thức luận cách tiếp cận đang thống trị lúc đó, màtheo Cantơ là cách tiếp cận giáo điều
Do đó, bằng cách đặt vấn đề hết sức độc đáo của mình, Cantơ đã hình thànhTriết học phê phán và quan niệm về chủ thể nhận thức và khả năng của nó trongnhận thức luận trên cơ sở dung hoà hai trờng phái triết học duy lý cực đoan và duynghiệm hoài nghi
1.2 Một số tiền đề t tởng
1.2.1 Chủ nghĩa duy cảm nh là cơ sở lý luận cho nhận thức luận của Cantơ
Bớc sang thời kỳ cận đại, bắt đầu từ thế kỷ thứ XVII, các nớc Tây Âu đã đạt
đợc sự phát triển khá thịnh vợng về kinh tế - xã hội Giai cấp t sản ngày càngkhẳng định đợc vai trò và vị thế của mình trong đời sống xã hội Họ đã tập hợp lý
Trang 9lực lợng chống lại chế độ phong kiến đã lỗi thời, và điều này đã có những ảnh ởng không nhỏ tới tất cả các lĩnh vực văn hoá - xã hội trong đó có triết học, đặcbiệt phải kể đến triết học ở Anh Lúc này Anh đã trở thành một cờng quốc t bảnlớn và các nhà triết học Anh cũng trở thành ngọn cờ lý luận của giai cấp t sảntrong cuộc cách mạng t sản (1642-1648) Không những thế, sự phát triển mạnh mẽcủa sản xuất và khoa học thực nghiệm đã có những tác động không nhỏ đến lập tr-ờng t tởng của các nhà triết học Anh Họ là những nhà t tởng đầu tiên đa ra các ph-
h-ơng pháp khoa học cho việc phát triển tri thức và cố gắng sử dụng các phh-ơng phápnày cho hoạt động triết học Do vậy, trong số họ, nhiều nhà triết học thời kỳ này đã
đề cao vai trò của thực nghiệm của cảm tính trong nhận thức và đặc biệt vai trò củachủ thể nhận thức Quan niệm này là sự đúc rút những giá trị hợp lý nhận thức luậncủa các nhà triết học cổ đại nh Arixtốt, Đêmôcrit,…và phơng pháp t duy khoa họcmới của các ông trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ Để hiểu thấu đáo hơn về chủnghĩa duy cảm với t cách là một trong những tiền đề lý luận cho sự hình thànhquan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức, cần xem xét cụ thể sự phát triển t tởngcủa một số nhà duy cảm thời kỳ cận đại
* Xu hớng duy cảm trong nhận thức luận của Ph.Bêcơn
Phranxis Bêcơn(FrancisBacon) (1561-1626) đợc CácMác đánh giá là “ông
tổ của chủ nghĩa duy vật Anh và khoa học thực nghiệm” [26, 264] Phranxis Bêcơn
tự nhận nhiệm vụ cải cách triết học và khoa học thời kỳ ông Khởi điểm của lýluận nhận thức của Bêcơn là sự phê phán của ông đối với lối học truyền thốngtrong đó theo ông là học thức đã bị ngng trệ Khoa học bị đồng nghĩa với học thức,
và học thức chỉ có nghĩa là đọc các tác phẩm cổ: “Việc học y khoa chẳng hạn, chủyếu là lối từ văn chơng và đợc thực hành bởi các nhà tu từ, nhà thơ và các giáo sĩ
mà trình độ thực hành của họ đợc đánh giá bằng khả năng trích dẫn Hiporates vàGalen Triết học vẫn còn bị thống trị bởi Platôn và Aristotle và những lời giảng dạycủa họ chỉ là những bóng ma” [ 26, 112]
Khi Bêcơn nhấn mạnh lợi ích của học thức coi “Tri thức là sức mạnh”, ông
đặc biệt bị kích động bởi tính “vô bổ của lối học truyền thống” Cái làm cho lốihọc này vô bổ đó là khoa học bị pha trộn với mê tín Theo ông, trong đờng lối khoahọc này thiếu phơng pháp thích hợp để khám phá xem thiên nhiên là gì và nó hoạt
động ra sao Nhiệt thành ủng hộ sự phát triển của khoa học với hoài bão xây dựngmột cách nhìn mới về thế giới thực sự khách quan, ông cũng chỉ ra những hạn chếtrong khả năng nhận thức của con ngời Những hạn chế không phải chỉ dẫn đến
Trang 10những sai lầm vụ vặt và nhất thời, mà là những sai lầm nghiêm trọng không thểtránh khỏi của con ngời trong nhận thức Ông gọi chúng là những ảo tởng( idola-theo tiếng Hy Lạp cổ nó có nghĩa là hình ảnh bị xuyên tạc) từ đó ông đa ra cáchthức để nhận thức chân lý và khắc phục đợc các ảo tởng bằng việc vạch ra cơ chế
và bản chất của chúng Trên thực tế, Bêcơn đã nhận thấy đợc khả năng nhận thứccủa con ngời và đã tìm cách khai thác khía cạnh đó, bắt đầu từ việc chỉ ra nguồngốc và các loại ảo tởng
Theo ông, các ảo tởng có nguồn gốc hoàn toàn khách quan vì chúng cótrong bản chất của trí tuệ con ngời, một phần xuất hiện trong quá trình lịch sử nhậnthức của nhân loại, một phần nảy sinh trong tố chất sinh lý và nhân cách của mỗingời.đó là những sai lầm trong nhận thức Để khắc phục nhng sai lầm đó,Ph.Bêcơn đa ra vấn đề phơng pháp
Các phơng pháp nhận thức mà Bêcơn đa ra thực ra là những phơng pháp gắnliền với chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa duy cảm duy vật, nhằm hớng t duy vàtrí tuệ của con ngời vào việc khái quát và diễn giải những t liệu do cảm tính đemlại
Với việc đa ra những phơng pháp nhận thức khoa học có xu hớng duy cảmkinh nghiệm âý, Bêcơn đã tháo cởi xiềng xích của t duy kinh viện và tạo đà chocác nhà triết học sau ông xem xét khả năng nhận thức của con ngời một cách khoahọc hơn trong đó có ngời đồng hơng và ngời bạn của ông nhà triết học TômátHốpxơ
* Cảm giác với t cách là khả năng nhận thức trong quan niệm của Hốpxơ
Cũng nh Ph Bêcơn, Hốpxơ (1588-1679) cho rằng “tri thức là sức mạnh” dovậy phải tăng cờng phát triển các khoa học, nhất là triết học Lý luận triết học phảiphục vụ thực tiễn của con ngời vì nó giúp cho con ngời hiểu biết về các sự vật.Hốpxơ là ngời cụ thể hoá và phát triển các quan niệm duy vật của Bêcơn Vấn đềcon ngời và khả năng nhận thức của con ngời đợc coi là tâm điểm trong triết họccủa ông
Xuất phát từ quan niệm duy vật thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới
có trớc con ngời và không phải do chúa trời tạo ra, Hốpxơ đã bênh vực chủ nghĩaduy cảm cho rằng chỉ có các vật thể đơn lẻ tồn tại Mọi khái niệm nh: “thực thể”,
“vật chất”… đều chỉ là những tên gọi Ông nói: “Trong thế giới chẳng có gì chungcả, ngoài cái tên gọi” [26, 282], nên điều không tránh khỏi ông phải giải thích mọithực tại và mọi quá trình theo kiểu các vật thể chuyển động ở đây, sự chuyển
Trang 11động theo ông không chỉ là sự di dời chỗ mà còn là quá trình biến đổi Các sự vật
đơn lẻ trở lên khác, vì bên trong chúng đã có sự biến đổi ít nhiều Và sự thay đổinày không chỉ áp dụng trong trạng thái tự nhiên của con ngời, mà còn cả trong khảnăng t duy của con ngời nữa
Trí tuệ con ngời hoạt động bằng nhiều cách, từ tri giác, tởng tợng ghi nhớ
đến suy nghĩ Tất cả những cách hoạt động này của trí khôn cơ bản đều giống nhauvì tất cả đều là những chuyển động trong cơ thể chúng ta Hốpxơ đặc biệt thấy rõ
điều này Hốpxơ viết: “Tri giác là khả năng chúng ta cảm giác sự vật, nó là hành vitinh thần cơ bản và các hành vi khác đều phát xuất từ hành vi gốc này” [19, 185].Toàn thể cấu trúc và quá trình của t duy con ngời đợc giải thích nh là những vật thểchuyển động và những biến thiên trong hoạt động tinh thần đợc giải thích bằngcách gán chỗ cho mỗi loại hành vi này dọc theo một chuỗi nguyên nhân có thể môtả đợc Nh thế, quá trình t duy bắt đầu khi một vật thể ở ngoài chúng ta chuyển
động và tạo ra một chuyển động trong chúng ta nh khi chúng ta thấy một cái cây
và việc thấy cái cây đợc gọi là tri giác hay cảm giác
Khi chúng ta nhìn thấy cái cây, chúng ta thấy cái mà Hốpxơ gọi là một
“huyễn tợng” (phantasm) Một huyễn tợng (phantasm) là hình ảnh tạo ra trong đầu
óc chúng ta bởi một vật thể bên ngoài Và hình ảnh này vẫn đợc thấy khi đối tợngkhông còn, khi ta nhắm mắt tuy rằng chúng ta có thể sẽ mờ nhạt hơn lúc đầu.Hốpxơ gọi sự giữ lại hình ảnh này là trí tởng tợng Nh vậy, tởng tợng chỉ là một sựphân rã của cảm giác mà Hốpxơ gọi là cảm giác đang phân rẽ Và sau này, khichúng ta muốn diễn tả sự phân rã này và nói rằng cảm giác đang phai tàn, chúng tagọi nó là trí nhớ: “ Vì vậy tởng tợng và trí nhớ chỉ là một điều duy nhất, đợc gọibằng các tên khác nhau để xét về khía cạnh khác nhau” [19, 186]
Hốpxơ đã dùng một mẫu máy móc để giải thích về t duy nh việc ông giảithích về cảm giác, cho nên theo ông t duy chỉ là một dạng khác của cảm giác màthôi Các t tởng nối tiếp nhau trong t duy của con ngời vì trớc hết chúng ta đã nốitiếp trong cảm giác, vì “ Những chuyển động đã nối tiếp nhau trong cảm giác,cũng sẽ tiếp tục nối tiếp nhau sau cảm giác: [19, 186] Tóm lại, Hốpxơ quan niệmrằng không gì xảy ra trong t duy mà không thể giải thích nh là cảm giác và trí nhớ
Hơn nữa, Hốpxơ còn cho rằng khoa học và triết học có thể có đợc là vì conngời có khả năng tạo ra các từ và câu Cho nên nhận thức có hai dạng, một là nhậnthức về sự kiện, và hai là nhận thức về hậu quả Nhận thức sự kiện chỉ là nhớ lạicác sự kiện đã qua Nhận thức hậu quả có tính chất giả thuyết hay điều kiện, nhng
Trang 12vẫn dựa trên kinh nghiệm, vì nó khẳng định rằng nếu A đúng thì B cũng đúng, haytheo ví dụ của Hốpxơ: “Nếu cái hình xem thấy là một hình tròn, thì mọi đờngthẳng đi qua tâm nó sẽ chia nó thành hai phần bằng nhau” [19, 129].
Bên cạnh đó, Hốpxơ còn khẳng định tri thức khoa học hay triết học chỉ cóthể có đợc khi con ngời có khả năng sử dụng các từ và lời nói Các từ và câu chỉ làcách thức hoạt động hiện thực của con ngời và sự vật Quan hệ giữa các từ vớinhau thì dựa trên quan hệ giữa các sự kiện mà các từ đó biểu thị Và ngay cả khi từ
“ngời” không chỉ về một thực tại chung hay phổ quát mà chỉ về những con ngời cụthể, thì Hốpxơ vẫn cho rằng chúng ta có tri thức chắc chắn, rằng mặc dù: “kinhnghiệm không kết luận điều gì một cách phổ quát” nhng khoa học dựa trên kinhnghiệm thì “kết luận một cách phổ quát”, đây là thuyết duy danh của Hốpxơ, dẫntới ông nói rằng các từ phổ quát nh “ngời” chỉ là các từ đơn thuần chứ không chỉ
về thực tại phổ quát nào
Nh vậy, Hốpxơ đã thừa nhận khả năng nhận thức thông qua cảm giác củacon ngời Học thuyết duy danh có xu hớng duy cảm của Hốpxơ sau này có những
ảnh hởng nhất định đến quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức
* Lốccơ về những năng lực của chủ thể nhận thức
Với t cách là đại biểu duy cảm điển hình của chủ nghĩa duy vật Anh, GiônLốccơ (1632-1704) đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của triết học cận đạivới phơng pháp mới đợc theo Hêghen đánh giá cao: “Khoa học nói chung và nhất
là các khoa học kinh nghiệm, bỏi nguồn gốc của mình phải mang ơn phơng phápcủa Lốccơ” [26, 285 ] Do vậy, chúng ta không thể bỏ qua những quan niệm củaLốccơ về khả năng nhận thức của con ngời trong hệ thống triết học của ông
Về vấn đề này, ông viết “Đối với mục đích thật sự của tôi-chỉ cần nghiêncứu các khả năng nhận thức của con ngời, việc chúng đợc vận dụng trong nhậnthức khách thể mà sự vật có liên quan là đủ” [26, 286]
Lốccơ mở đầu nhận thức luận của mình bằng việc phê phán học thuyết vềcác t tởng bẩm sinh của Đềcáctơ theo đó: trong con ngời có sẵn các t tởng bẩmsinh mà chân lý của chúng rất xác thực và do vậy, dễ dàng đợc mọi ngời thừanhận Phê phán học thuyết duy tâm trên đây, Lốccơ tìm cách luận chứng sự vô lýcủa nó Ông viết: “Để thuyết phục các độc giả không có thành kiến gì về sự giả dốicủa quan niệm trên, chỉ cần vạch ra tại sao mà mọi ngời chỉ đơn thuần dựa vàonhững khả năng tự nhiên của mình, không cần đến những ý niệm bẩm sinh, mà vẫn
có thể có đợc toàn bộ tri thức của mình và đi đến chân lý” [14, 145 ]
Trang 13ở đây, thừa nhận t tởng bẩm sinh tức là thừa nhận rằng con ngời ngay khisinh ra đã có chúng rồi Nhng trong thực tế có rất nhiều trẻ em và thậm trí cả ngờilớn tuổi nhng vô học, đều không biết cả những điều sơ đẳng Hơn nữa, thừa nhận ttởng bẩm sinh, tức là phủ nhận toàn bộ quá trình nhận thức, hoạt động nhận thứccủa con ngời trở lên thừa, bởi vì điều đó “Chẳng khác gì khẳng định rằng suy lý
đã khám phá cho con ngời những điều mà anh ta đã biết từ trớc rồi” [4, 188] Chonên, Lốccơ đã khẳng định rằng, toàn bộ các tri thức, chân lý đều là kết quả nhậnthức của con ngời chứ không phải là bẩm sinh Và ông đi đến kết luận rằng: các ýniệm bẩm sinh ít có cơ sở có đợc khi mới sinh mà chúng dần có đợc ở trong linhhồn con ngời nhờ kinh nghiệm, cũng nh sự quan sát của con ngời đối với các sự vậtxung quanh
Để đối vật với học thuyết duy tâm trên, Lốccơ đa ra nguyên lý Tabula rasa(tấm bảng sạch) trên cơ sở phát triển nguyên lý của Arixtốt nguyên lý này khẳng
định: thứ nhất, mọi tri thức của con ngời không phải là bẩm sinh, mà là kết quả củanhận thức con ngời, thứ hai, mọi quá trình nhận thức đều phải xuất phát từ các cơquan cảm tính, thứ ba, linh hồn con ngời không phải đơn thuần là “tấm bảng sạch”hoàn toàn thụ động đối với mọi hoàn cảnh xung quanh, mà có vai trò tích cực nhất
định Lốccơ nhận xét: “Trong số những ngời đợc giáo dục nh nhau, tồn tại một sựbất bình đẳng rất lớn về khả năng trí tuệ của họ” [26, 288 ]
Nh vậy, trong việc phê phán học thuyết về các t tởng bẩm sinh, cũng nhtrong sự khẳng định nguyên lý Tabula rasa, Lốccơ đứng trên lập trờng duy vật Vớitinh thần duy vật này, Lốccơ đã khẳng định nguồn gốc duy nhất của mọi sự tri thức
là kinh nghiệm Tuy nhiên, ông hiểu kinh nghiệm không chỉ là khả năng nhận thứccảm tính (tức kinh nghiệm bên ngoài) mà cả bản thân lý tính (đợc ông gọi là kinhnghiệm bên trong) Điều này càng thể hiện rõ sự nổi bật về lập trờng duy cảm của
ông với luận điểm nổi tiếng: “Không có cái gì trong lý tính mà trớc đó lại không
có trong cảm tính”
Cũng xuất phát từ lập trờng duy vật, duy cảm, Lốccơ còn đa ra quan niệm về
“ý niệm” và miêu tả cụ thể quá trình nhận thức Theo ông, ý niệm chính là toàn bộnhững tri thức mà con ngời có đợc trong quá trình nhận thức Các tri thức này đợc
ông gọi là : “ý niệm đơn giản” khi nó đợc con ngời lĩnh hội trong giai đoạn thứnhất của quá trình nhận thức, tức là giai đoạn mà các sự vật tác động vào các giácquan của chúng ta (tức kinh nghiệm bên ngoài) và cho ta những dữ kiện cá biệt vềnhững đặc tính bên ngoài của các vật dới dạng đơn nhất Còn ngợc lại, chúng đợc
Trang 14Lốccơ gọi là: “ý niệm phức tạp” khi chúng đợc con ngời lĩnh hội trong giai đoạnthứ hai của quá trình nhận thức ở giai đoạn này lý tính bắt đầu quá trình so sánh,phân tích…các t liệu mà cảm tính đem lại, từ đó tạo ra các phạm trù, khái niệmchung thể hiện sự giống nhau của một nhóm các sự vật nhất định.
Tuy nhiên, hai giai đoạn trong quá trình nhận thức của con ngời đợc Lốccơtách rời nhau, chứ ông không thừa nhận tri thức của con ngời chỉ có đợc nhờ đồngthời cả hai nguồn này này Với lập trờng duy danh, ông chỉ thừa nhận mọi sự vậttrong giới tự nhiên tồn tại dới dạng đơn nhất, tức là đề cao vai trò của cảm giáctrong quá trình nhận thức Tuy nhiên, đối với những “ý niệm” phức tạp ông chỉ coi
là kết quả hoạt động riêng của lý tính hoàn toàn chủ quan của con ngời, chứ khôngphản ánh đặc tính nào của sự vật cả
Ngoài ra, Lốccơ còn có sự phân chia các tính chất của sự vật thành các “chất
có trớc” và các “chất có sau” trên cơ sở sự phân chia cấu trúc kinh nghiệm và việcthừa nhận một số t tởng có nguồn gốc hoàn toàn chủ quan trong lý tính của conngời Điều này thể hiện lập trờng duy vật không triệt để của ông Mặc dù vậy, vớitất cả những quan niệm duy cảm về khả năng và hoạt động nhận thức của con ng-
ời, Lốccơ có sự tích cực trong việc phê phán quan niệm duy tâm, duy lý và phầnnào giúp chúng ta nhận thấy vai trò của hoạt động con ngời trong việc nhận thức
và cải tạo thế giới Chính những đóng góp này của Lốccơ đã góp phần tạo nên mộttrong những nguồn gốc lý luận cơ bản cho triết học khai sáng Pháp thể kỷXVIII,cũng nh cho sự hình thành triết học của Cantơ
* Béccơli (1685- 1753)
Gioóc Béccơli là nhà triết học nổi tiếng ngời Anh, một đại biểu điển hìnhcủa chủ nghĩa duy tâm chủ quan Ông chịu nhiều ảnh hởng của các xu hớng phêphán các quan niệm triết học cũ, Béccơli sử dụng hai lập trờng duy cảm của cácnhà duy vật Anh để chống lại họ và các hệ thống siêu hình của họ Lợi dụng sựgiao động của Lốccơ trong việc phân chia đặc tính của sự vật thành chất có trớc vàchất có sau ông chứng minh khả năng nhận thức của con ngời có đợc là do chínhcon ngời
Quá đề cao cảm giác, Béccơli đã đồng nhất toàn bộ các ý niệm của con ngờivới các cảm giác ở ông hai khái niệm cảm giác và ý niệm đồng nhất với nhau Bảnthân các cảm giác cấu thành các khái niệm trừu tợng và thực chất đây cũng chỉ làkết so sánh và quả phân tích các cảm giác Theo Béccơly, để nhận thức một nhómcác sự vật cùng chung một đặc tính giống nhau nhất thiết phải dùng phơng pháp
Trang 15trừu tợng điển hình, tức là chúng ta cần nhận thức một vài sự vật tiêu biểu trong số
đó Từ đó, ông nhận định chân lý chính là sự phù hợp giữa sự suy diễn của chúng
Nh vậy, Béccơli tin tởng rằng các luận cứ của mình và các hiện hữu thiêngliêng cũng nh việc đề cao vai trò của cảm giác có thể phá đổ đợc lập trờng của chủnghĩa duy vật triết học và chủ nghĩa hoài nghi tôn giáo Đồng thời, những quanniệm này của ông cũng đóng vai trò tiền đề lý luận cho việc xây dựng quan niệm
về chủ thể nhận thức trong triết học Cantơ đặc biệt học thuyết về các phạm trù
* Hium (1711-1776)
Hium là nhà triết học nổi tiếng ngời Anh, là bậc tiền bối của triết học Cantơsau này Có thể nói rằng, Cantơ chịu ảnh hởng rất nhiều từ các quan niệm trongnhận thức luận của Hium Đặc biệt, là thuyết duy nghiệm của Hium đợc đánh giá
là bớc ngoặt trong sự phát triển tri thức của Cantơ
Trong nhận thức luận của mình, luận cứ ấn tợng nhất của Hium (Hume) là:vì mọi nhận thức của chúng ta đến từ kinh nghiệm, chúng ta không có nhận thứcnào về “nhân quả” hay các quan hệ tất yếu vì chúng ta không có đợc kinh nghiệm
về tính nhân quả, và vì vậy, chúng ta không thể suy ra hay dự đoán bất cứ sự kiệntơng lai nào từ kinh nghiệm hiện tại của chúng ta Hium nói: cái mà chúng ta gọi
là nhân quả chỉ đơn giản là thói quen chúng ta liên kết hai sự kiện vì chúng ta thấychúng đi cùng với nhau, nhng điều này không chứng minh cho kết luận rằng, các
sự kiện này có quan hệ tất yếu nào với nhau Vì vậy, Hium bác bỏ suy luận quynạp Thế nhng, chính khoa học lại đợc xây dựng dựa trên khái niệm nhân quả vàsuy luận quy nạp, vì nó giả định rằng, nhận thức của chúng ta về các sự kiện riêngbiệt trong hiện tại cung cấp cho chúng ta nhận thức chắc chắn về một số vô hạncác sự kiện trong tơng lai Hệ quả lôgíc của thuyết duy nghiệm của Hium là khôngthể có tri thức khoa học, và điều này dẫn tới chủ nghĩa hoài nghi triết học
Cũng nh Béccơli, Hium tuyệt đối hoá vai trò của cảm giác, ông coi đó làxuất phát điểm và dạng cơ bản của nhận thức Tuy nhiên, nếu Béccơli không dừng
Trang 16lại việc xem xét cảm giác trong khuôn khổ, thì Hium lại tách biệt cảm giác củacon ngời với thế giới bên ngoài, coi bản thân các cảm giác mới là nguồn gốc củanhận thức chứ không cần đến tác động của thế giới bên ngoài Ông cho rằng “Giới
tự nhiên, đã đặt chúng ta ở một khoảng cách khá xa với các điều bí ẩn của nó, và
nó chỉ thể hiện cho chúng ta những tri thức về một số các đặc tính, vẻ bề ngoài”[26, 346]
Ông cũng đa ra nguyên lý kết hợp với ba dạng liên tởng của ý niệm Đó là:1) Dạng liên tởng theo sự giống nhau; 2) Dạng liên tởng kế cận nhau trong khônggian và thời gian; 3) Dạng liên tởng nhân qủa
Có thể nói, dới hình thức duy tâm duy thần bí, các quan niệm của Hium đặcbiệt đề cao vai trò của cá nhân con ngời, coi con ngời là vấn đề trung tâm của mọivấn đề triết học và khoa học Tức là , ông đề cao vai trò và khả năng nhận thức củacon ngời với t cách là chủ thể nhận thức Cantơ hết sức ngỡng mộ những quan
điểm này của Hium Ông nói “Tôi công khai thú nhận, gợi ý của Đavít Hium chính
là điều lần đầu tiên đã đánh thức tôi ra khỏi giấc ngủ giáo điều nhiều năm về trớc,
và đã vạch ra một hớng đi mới cho các tra cứu của tôi trong lĩnh vực t duy triếthọc.” [19, 244]
Tóm lại, thông qua quan niệm của các đại diện tiêu biểu trên của trờng pháitriết học duy cảm trên chúng ta có thể thấy rằng nhà triết học này đề cao vai tròcủa cảm giác trực quan Các ông cũng coi tính tích cực của t duy con ngời là sựcản trở đối với trực quan cần thiết và đúng đắn về chân lý Vai trò của t duy trongnhận thức đợc họ quy về sự kết hợp, sự trừu tợng hóa và phân biệt các đối tợng, dovậy mà tri thức thu nhận đợc nhờ các cơ quan cảm giác đợc họ coi là phong phúhơn và cụ thể hơn Các nhà triết học duy cảm tuy không phủ nhận vai trò của lýtính cá nhân của những sự trừu tợng nhng lại không đánh giá hết vai trò của cáchình thức lôgic phổ biến Có thể nói rằng, các ông chỉ nhìn thấy sự phản ánh trongnhận thức, quy bản thân nhận thức về sự tiếp nhận thụ động các tác động từ bênngoài chứ không nhận thấy vai trò của chủ thể nhận thức trong quá trình con ng ờinhận thức và hoạt động thực tiễn Quan niệm của các nhà duy cảm cận đại đã trởthành tiền đề lý luận quan trọng cho sự hình thành quan niệm của Cantơ về nhữngnăng lực nhận thức của chủ thể, đặc biệt là năng lực cảm tính
1.2.1 Quan niệm duy lý về chủ thể nhận thức trong triết học Phục hng-
cận đại
Trang 17Mặc dù triết học ít khi đổi hớng đi và thái độ một cách đột ngột triệt để, nhngcũng có những thời kỳ, trong đó thông qua quan tâm triết học đó có phân cách rõrệt với quá khứ trực tiếp của nó Đây là điều đã xảy ra ở Châu Âu vào thế kỷ XVIIvới chủ nghĩa duy lý mà ngời khai sinh ra nó là Rêne Đềcáctơ và chơng trình mớicủa nó là khởi đầu của triết học cận đại Nói đúng ra, nhiều điểm mà các nhà triếthọc duy lý châu Âu muốn làm đều đã manh nha trong các cố gắng của các nhàtriết học Trung cổ cũng nh của Bêcơn và Hốpxơ Nhng Đềcáctơ, Xpinôza nàLépnít đã đa đến một lý tởng mới cho triết học Chịu ảnh hởng và những tiến bộthành công của khoa học và toán học, chơng trình mới của họ là một cố gắng nhằmcung cấp cho triết học sự chính xác của toán học Họ cố gắng triển khai nhữngnguyên tắc thuần tuý rõ ràng và tổ chức chúng thành một hệ thống các chân lý, từ
đó có thể rút ra những thông tin chính xác về thế giới Họ nhấn mạnh vào khả năng
lý tính của trí tuệ con ngời mà bây giờ họ coi là cội nguồn của chân lý liên quan
đến cả con ngời lẫn thế giới Tuy không chối bỏ những chân lý của tôn giáo, nhng
họ coi suy luận triết học là một lĩnh vực độc lập với “mặc khải” siêu nhiên
Tuy đánh giá thấp cảm tính chủ quan và sự nhiệt tình nh phơng tiện khám pháchân lý nhng họ vẫn tin rằng sự cấu tạo của trí tuệ khiến nó chỉ cần hoạt động theophơng pháp thích hợp, từ đó nó có thể khám phá bản chất vũ trụ Đây là một quanniệm lạc quan về lý trí con ngời, xóa đi những cố gắng thời trớc của Môngtéc vàChêrôm khi họ muốn phục hng chủ nghĩa hoài nghi thời cổ Các nhà duy lý nghĩrằng, điều gì họ có thể suy nghĩ một cách rõ ràng trong trí tuệ thì tồn tại hiện thựctrong thế giới bên ngoài trí tuệ Đềcáctơ và Lépnít thậm trí còn cho rằng một số ýniệm là bẩm sinh trong trí tuệ con ngời, và khi có cơ hội thích hợp, kinh nghiệm sẽlàm cho những chân lý bẩm sinh này trở thành hiển nhiên
Sở dĩ chơng trình quá lạc quan của chủ nghĩa duy lý không hoàn toàn thànhcông, đó là vì những khác biệt trong ba hệ thống mà chủ nghĩa duy lý phát sinh.Các nhà duy lý đều giải thích thế giới tự nhiên theo mẫu máy móc của vật lý học
và coi mọi sự kiện vật lý đều có tính tất định Nhng Đềcáctơ mô tả thực tại nh mộtthể nhị nguyên bao gồm hai thực thể cơ bản là t duy và quảng tính Xpinôza chủ tr-
ơng thuyết nhất nguyên, cho rằng chỉ có một thực thể duy nhất là tự nhiên, vớinhững thuộc tính và trạng thái khác nhau; Lépnít chủ trơng thuyết đa nguyên, chorằng mặc dù có một loại thực thể là đơn tử (monad) nhng có nhiều loại đơn tử tạonên các yếu tố khác nhau trong tự nhiên Các nhà duy nghiệm Anh: Lốccơ,Béccơly, và Hium đợc coi là một nhóm triết gia cận đại thứ hai ngay sau các nhà
Trang 18duy lý, đã nêu lên những câu hỏi tìm tòi sâu sắc về các tiền đề của những nhà duy
lý, nhằm tìm cách giải đáp những vấn đề đó
Có thể nói rằng, dù có sự hạn chế ở việc không đánh giá đúng mức vai trò củanhận thức cảm tính và quá đề cao vai trò của lý tính và logic khoa học, nhng nhữngquan niệm của Đềcáctơ, Xpinôza, Lépnít đặc biệt là những t tởng về khả năng tduy và vai trò của con ngời trong nhận thức đã đóng vai trò to lớn đối với việc xâydựng hệ thống lý luận triết học, cũng nh trong việc phát triển t duy lý luận củanhân loại nói chung
* Rêne Đềcáctơ và quan niệm về chủ thể nhận thức.
Rêne Đềcáctơ (1596-1650); (ReneDescartes) thờng đợc coi là : “Cha đẻ củachủ nghĩa duy lý cận đại” [19, 192] Cùng với Phranxis Bêcơn, ông cũng đợc coi làngời đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử t tởng triết học Tây Âu cận đại.Với lập trờng duy lý đặc biệt đề cao vai trò của trí tuệ, của t duy lôgic và các trithức lý luận khoa học, Đềcáctơ đã xây dựng cho mình một hệ thống triết học mangtính chất của con ngời, do con ngời và vì con ngời Do đó, vấn đề khả năng nhậnthức của con ngời cũng là một mảng quan trọng trong hệ thống triết học đó
Xuất phát từ quan niệm về bản chất và vai trò của triết học, Đềcáctơ đặtnhiệm vụ phải xây dựng một hệ thống triết học mới khác hoàn toàn so với triết họctrớc đó Ông bắt đầu từ việc phê phán mạnh mẽ các t tởng của giáo hội và kinhviện, đặt tất cả mọi tri thức mà con ngời đã đạt đợc từ trớc tới giờ dới sự phê pháncủa lý tính “Đềcáctơ cho rằng phải coi lý tính, trí tuệ con ngời là tòa án thẩm định
và đánh giá mọi tri thức, quan niệm mà nhân loại đã đạt đợc, nghi ngờ mọi cái màthờng ngày ta vẫn cho là đúng Nhng nghi ngờ đó là để tìm ra chân lý, đó chỉ làtiền đề chứ không phải là kết luận” [26, 296 ]
Bên cạnh đó, Đềcáctơ còn nhấn mạnh rằng nhng có một điều mà tôi khôngthể nghi ngờ đợc là chính bản thân chủ thể đang nghi ngờ, đó là chính tôi Tôi
đang hoài nghi sự tồn tại của tất cả , nhng tôi không thể hoài nghi sự tồn tại củachính mình vì tôi đang nghi ngờ Nếu tôi không tồn tại thì sao tôi lại có thể đangnghi ngờ đợc Nhng mặt khác chính vì tôi đang nghi ngờ thì tôi mới biết rằng mìnhtồn tại là nhờ việc tôi nghi ngờ Mà nghi ngờ thì cũng là suy nghĩ, là t duy Do đó,
“Có tôi đây, vậy tôi tồn tại” (Cogito, ergo sum) [3, 66]
ở đây, mệnh đề: “Tôi t duy, vậy tôi tồn tại” thể hiện sự đề cao vai trò đặcbiệt của lý tính, của trí tuệ con ngời, coi đó là chuẩn mực đánh giá mọi suy nghĩ vàhoạt động của con ngời Đồng thời với mệnh đề trên còn thể hiện mối quan hệ hữu
Trang 19cơ giữa con ngời với quá trình t duy của họ Con ngời vừa là chủ thể, vừa là kết quảcủa quá trình t duy của mình chứ không phải là Thợng đế hày là một lực lợng siêunhiên nào có vai trò thúc đẩy quá trình t duy của con ngời Nhìn chung tinh thầncủa “ Cogito, ergosum” là đề cao vai trò tích cực của con ngời đối với thế giới, coicon ngời là trung tâm của triết học và xã hội.
Không những vậy, Đềcáctơ còn cho rằng: “Tri thức chân thật hơn cả khôngphải là tri thức cảm tính mà là tri thức lý tính, không phải là tri thức thu nhận đợcnhờ diễn dịch mà là tri thức trực giác, trực tiếp Và thuộc tính cơ bản của tri thức
đúng đắn là rõ ràng và rành mạch [2, 43] Ông coi các khái niệm rõ ràng, rànhmạch, trực giác trí tuệ là bẩm sinh là do Thợng đế đặt vào đầu óc chúng ta Cáckhái niệm này không phụ thuộc vào cảm giác và kinh nghiệm, mặc dầu nếu không
có kinh nghiệm thì các khái niệm ấy cũng không có nguyên cớ để khám phá vàgiải thích các hiện tợng và chân lý
Học thuyết coi trí tuệ là nguồn gốc của mọi tri thức đúng đắn và không côngnhận cảm giác là nguồn gốc nhận thức ấy gọi là chủ nghĩa duy lý Học thuyết nàykhông những buộc cảm giác phụ thuộc vào trí tuệ mà còn buộc lòng tin phục tùngvào lý trí nữa
Với lập trờng duy lý cực đoan kết hợp với tính chất nhị nguyên, Đềcáctơ vícon ngời nh sự liên kết nhờ Thợng đế, linh hồn và thể xác nh hai mảnh hoàn toàntách rời nhau, thậm trí ngay trong mệnh đề: “coigito, ergosum” đã có cơ sở của lậptrờng và mối liên hệ này Bản thân Đềcáctơ khi đa ra mệnh đề: “tôi t duy, vậy tôitồn tại” không chỉ ra mối quan hệ gì giữa con ngời với thế giới hiện thực mà ôngcòn tách rời giữa t duy (tức linh hồn con ngời) với cơ thể con ngời Cho nên, khinói đến cái “tôi”, Đềcáctơ ám chỉ mỗi t duy và ý thức con ngời mà không đề cập
đến con ngời cả về trí lực lẫn thể lực nh một chỉnh thể mà ông chỉ coi mệnh đề này
nh là một phơng pháp hữu hiệu để nhận thức linh hồn và phân biệt nó với thể xác.Tuy nhiên, theo Đềcáctơ, nếu chỉ có lý tính tốt thì cha đủ mà chủ yếu là phải ápdụng nó tốt Chính vì vậy, Đềcáctơ đã đặt ra ý niệm là đạt đến một hệ thống t duy
mà mọi nguyên lý của nó đều đúng và liên quan với nhau một cách thật sáng sủasao cho trí tuệ có thể dễ dàng đi từ một nguyên lý đúng sang một nguyên lý khác.Nhng để đạt tới một hệ thống chân lý liên quan chặt chẽ với nhau nh thế, Đềcáctơcảm thấy rằng ông phải làm cho những chân lý này “phù hợp với lợc đồ lý tính”.Với một lợc đồ nh thế không những ông có thể tổ chức học thức hiện có mà còn cóthể “hớng dẫn lý tính của chúng ta để khám phá những chân lý mà chúng ta không
Trang 20biết” [26, 263] Do đó, ông đã xây dựng nên hệ thống các phơng pháp mà ngời tagọi là những phơng pháp của Đềcáctơ.
Nếu nh Ph Bêcơn thiên về đề cao các phơng pháp kinh nghiệm, thì trái lại
Đềcáctơ lại đặc biệt đề cao vai trò của lý tính, đòi hỏi con ngời phải đi xa hơn nhậnthức cảm tính Phơng pháp luận của Đềcáctơ gồm việc trang bị tập hợp các quy tắc
đặc biệt để khai thác các khả năng của trí khôn (tức lý tính con ngời Theo ông tríkhôn của chúng ta một cách tự nhiên có hai khả năng trực giác và diễn dịch đó “lànhững năng lực của trí khôn nhờ đó chúng ta có thể đạt đến các tri thức về các sựvật mà hoàn toàn không sợ bị ảo tởng
Đềcáctơ xây dựng toàn thể toà nhà tri thức của ông trên nền tảng trực giác
và diễn dịch bằng cách nói rằng: “hai phơng pháp này là những con đờng chắcchắn nhất dẫn tới tri thức” và bất cứ phơng pháp nào khác đều bị: “loại trừ nh là
đáng nghi ngờ có sai lầm và nguy hiểm” Trực giác theo Đềcáctơ hiểu là một hoạt
động hay cái nhìn hoàn toàn sáng sủa khiến cho không còn một sự hoài nghi nàotrong trí tuệ Trực giác không những cho ta những khái niệm rõ ràng mà còn chochúng ta một số chân lý về thực tại Những chân lý cơ bản không thể giảm lợc đợc
Diễn dịch theo Đềcáctơ hiểu nh là một cái tơng tự nh trực giác Ông mô tả
nó nh là: “mọi sự suy luận cần thiết từ những sự kiện đã đợc biết chắc chắn” Sựgiống nhau giữa trực giác và diễn dịch là ở chỗ cả hai đều có chân lý: Nhờ trựcgiác chúng ta nắm đợc một chân lý một cách hoàn toàn và trực tiếp, trong khi nhờdiễn dịch chúng ta đạt đến chân lý qua một tiến trình, một “hoạt động liên tục vàkhông gián đoạn của trí khôn” Đềcáctơ muốn đặt nền cho tri thức trên một khởi
điểm có sự chắc chắn tuyệt đối trong trí khôn của chính cá nhân Tri thức đòi hỏi
sử dụng trực giác và diễn dịch, trong đó “chúng ta có các nguyên lý đầu tiên chỉnhờ trực giác mà thôi, trong khi các kết luận xa hơn…chỉ có đợc nhờ diễn dịch[19, 195]
Ngoài ra, phơng pháp luận của Đềcáctơ không chỉ gồm trực giác và diễndịch, mà còn nằm ở các quy tắc đặt ra để hớng dẫn chúng Điểm chủ yếu của cácquy tắc của Đềcáctơ là cung cấp một đờng lối rõ ràng và có trật tự cho hoạt độngcủa lý tính Ông tin chắc là phơng pháp hoàn toàn là ở trật tự và sự sắp đặt các đốitợng mà lý tính của chúng ta hớng về nếu chúng ta muốn tìm ra một chân lý nào.Trong số hai mơi mốt quy tắc , Đềcáctơ đa ra một số quy tắc cơ bản sau:
a).Quy tắc thứ nhất: “chỉ coi chân lý đúng đắn những gì đợc cảm nhận rất rõ ràng
và rành mạch, không gợi lên một chút nghi ngờ gì cả” [26, 303 ]
Trang 21b).Quy tắc hai: “chia mối sự vật phức tạp trong chừng mực có thể làm đợc, thành
các bộ phận cấu thành nó để tiện lợi nhất trong việc nghiên cứu chúng” [26, 305]
c).Quy tắc thứ ba: quy định rằng, trong quá trình nhận thức, chúng ta cần phải xuất
phát từ những điều đơn giản và sơ đẳng nhất, dần dần đi đến những điều phức tạphơn [26, 305 ]
d).Quy tắc thứ t: yêu cầu chúng ta phải xem xét đầy đủ mọi dữ kiện, không đợc bỏ
sót một t liệu nào trong quá trình nhận thức sự vật
Nh vậy, xét về mặt phơng pháp luận, t tởng của Đềcáctơ có những điểm kháhợp lý Xuất phát từ lập trờng duy lý, ông đặc biệt đề cao vai trò của phơng phápdiễn dịch mặc dù không hoàn toàn phủ nhận vị trí của phơng pháp quy nạp cũng
nh nhận thức cảm tính Theo cách hiểu của ông, diễn dịch là một quá trình suydiễn logic có sự tham gia trực giác dựa trên các t liệu về sự vật mà chúng ta lu lại
đợc nhờ trí nhớ Nhìn chung, Đềcáctơ đã hiểu đợc vai trò đặc biệt của trí tuệ conngời, của t duy lý luận trong việc giải quyết mọi vấn đề Thậm chí ông còn tìmcách đa ngôn ngữ toán học trở thành công cụ vạn năng cho các khoa học trong đó
có nhận thức luận Điều này đợc các nhà triết học sau ông nh Xpinôza, Lépnít ủng
hộ và phát triển Đồng thời, đây cũng chính là nền tảng cho sự phát triển quanniệm của Cantơ về năng lực của chủ thể nhận thức đặc biệt là năng lực lý tính
* Xpinôza và quan niệm về khả năng hoạt động của chủ thể nhận thức.
Xpinôza(1632-1677) là nhà triết học lỗi lạc ngời Hà Lan Trong triết họccủa mình, Xpinôza chịu ảnh hởng lớn của triết học Đềcáctơ về chủ nghĩa duy lý,
về phơng pháp và sự lựa chọn các vấn đề triết học lớn Ông tự coi mình là sự kế tục
và phát triển những khuynh hớng duy vật của nhà triết học ngời Pháp này Tuynhiên, những mối quan tâm và thậm chí những cách dùng thuật ngữ giống nhaugiữa hai ông không có nghĩa là Xpinôza hoàn toàn theo quan điểm của Đềcáctơ ở
nhiều điểm Xpinôza đã mang đến một số yếu tố mới cho triết học duy lý Châu Âu
Trang 22Theo ông, con ngời không là cái gì khác mà chính là dạng thức của thực thể,trong con ngời đợc thể hiện dới dạng linh hồn và thể xác Và mối quan hệ giữa linhhồn và thể xác là mối quan hệ hu cơ giữa khả năng và cấu trúc Vì vậy chúngkhông thể tách rời nhau và không một thế lực siêu nhiên nào mà chính là con ngờilàm chủ quá trình t duy của mình Xpinôza quả quyết: “cơ thể không thể bắt linhhồn phải suy nghĩ, cũng giống nh t duy không thể buộc thể xác vận động hay đứngyên, hoặc làm một việc gì khác” [21, 135], vì chúng là một thể thống nhất trongcon ngời.
Phát triển những quan niệm trên về con ngời, Xpinôza cho rằng, bản tính củacon ngời là nhận thức Nhu cầu nhận thức của con ngời chính là khát vọng lớn nhấtcủa họ muốn “thể hiện tình yêu trí tuệ của mình tới Thợng đế” Chỉ nhờ có quátrình nhận thức thì con ngời mới khám phá ra đợc những quy luật tự nhiên và tuântheo chúng Cờng điệu tinh thần phát triển nh vũ bão của khoa học thời đó,Xpinôza coi quá trình nhận thức là chiếc chìa khóa giúp cho con ngời giải quyết đ-
ợc mọi tệ nạn xã hội, giải phóng họ khỏi bất công và áp bức: “ mọi tệ nạn xã hội
đều sinh ra từ sự dốt nát của con ngời Con ngời có khả năng tự giải thoát mìnhnhờ quá trình nhận thức thế giới” [26, 322 ]
Đề cao vai trò của kinh nghiệm trong nhận thức ông nói: “ kinh nghiệm dạychúng ta rất xác thực ” Theo ông, nhận thức cảm tính cho phép chúng ta cảm thụ
đợc tính sinh động và đa dạng của sự vật Tuy nhiên, nó chỉ cho phép ta hiểu biết
về các sự vật đơn nhất Cũng nh Đềcáctơ, Xpinôza đặc biệt đánh giá cao vị trí củatrực giác lý tính giúp chúng ta nhận thức đợc bản chất đích thực của thực thể Làmột ngời duy lý coi trọng vai trò của trí tuệ con ngời, nhng nhà triết học Hà Lannày lại không thừa nhận tồn tại các t tởng bẩm sinh Ông coi trực giác lý tính (khảnăng trí tuệ cao nhất của con ngời) là khả năng vừa khám phá ra chân lý lại đồngthời là tiêu chuẩn của chân lý
Trên cơ sở những luận điểm về phơng pháp của Đềcáctơ, Xpinôza đã xâydựng nên phơng pháp nhận thức của mình Ông nghĩ chúng ta có thể đạt tri thứcchính xác về thực tại bằng cách theo phơng pháp của hình học Ông coi mình là
ơcơlít trong triết học Đềcáctơ đã triển khai phơng pháp này trong triết học, bắt
đầu bằng những nguyên lý đầu tiên rõ ràng và phân biệt, và cố gắng diễn dịch từnhững nguyên lý này toàn thể nội dung của trí tuệ Cái mà Xpinôza thêm vào chophơng pháp của Đềcáctơ là một sự sắp xếp có hệ thống cao các nguyên lý và tiên
đề Và Xpinôza “không chấp nhận rằng các định nghĩa của ông là tùy tiện, vì ông
Trang 23tin rằng các khả năng lý trí của con ngời có thể hình thành các ý niệm phản ánhbản chất thực của sự vật” Đây chính là công cụ mà theo ông là hiệu quả nhất đểcon ngời nhận thức đợc thế giới cùng với khả năng trực giác của lý tính.
Với ý định tìm cách khẳng định chúng ta biết đợc bản chất nền tảng của thựctại, ông phân biệt ba mức độ nhận thức và mô tả cách chúng ta có thể đi từ mức độthấp nhất đến mức độ cao nhất Ông cho rằng “ chúng ta có thể nhận thức bắt đầuvới các sự vật quen thuộc nhất và càng hiểu biết về các sự vật cụ thể, chúng ta cànghiểu biết về Thợng đế” Bằng cách tinh luyện nhận thức về sự vật, “chúng ta có thể
đi dần từ trí tởng tợng tới lý trí và cuối cùng là tới trực giác” [19, 205 ]
ở mức độ trí tởng tợng, các ý niệm của chúng ta xuất phát từ cảm giác, nhkhi chúng ta trông thấy một ngời khác ở đây các ý niệm của chúng ta rất đặc thù
và cụ thể, và trí không thụ động Mặc dù các ý niệm ở bình diện này là chuyênbiệt, chúng mơ hồ và không đầy đủ, vì chúng ta chỉ biết sự vật qua tác động củachúng lên giác quan của chúng ta “Tôi biết, tôi trông thấy một ngời nhng tôi vẫncha biết bản chất của ngời ấy là gì Tôi có thể có một ý niệm tổng quát, nh là “ng-ời” , nhờ việc trông thấy nhiều ngời và các ý niệm do kinh nghiệm này thì hữu íchcho đời sống hàng ngày, nhng chúng không cho tôi tri thức đích thực” [19, 293 ]
Mức độ thứ hai của nhận thức vợt lên trí tởng tợng để đến lý trí Đây là trithức khoa học Theo Xpinôza, mọi ngời có thể chia sẻ loại tri thức này vì mọi ngời
đợc chia sẻ các thuộc tính của thực thể, chia sẻ t duy và quảng tính của Thợng đế.Trong con ngời có yếu tố chung với mọi sự vật và vì một trong những tính chấtchung này là tinh thần, nên tinh thần con ngời chia sẻ tinh thần điều hành mọi sự
ở mức độ này tinh thần con ngời có thể vợt ra khỏi phạm vi các sự vật cụ thể trớcmắt để đến với các ý niệm trừu tợng, nh trong toán học và vật lý học ở mức độnày, tri thức đầy đủ và đúng Vì Xpinôza cho rằng: “các ý niệm của lý trí là đúngvì chân lý tự chứng minh cho chính mình Và ngời có một ý niệm đúng thì đồngthời biết rằng mình có một ý niệm đúng và không thể sẽ nghi ngờ chân lý của sựvật” [19, 298]
Mức thứ ba và cao nhất của nhận thức là trực giác Nhờ trực giác chúng ta cóthể thấu hiểu toàn bộ hệ thống của thiên nhiên ở mức độ này chúng ta có thể hiểubiết các sự vật cụ thể mà chúng ta đã gặp ở mức độ thứ nhất nhng với một cáchthức mới, vì ở mức độ thứ nhất chúng ta thấy các vật thể một cách rời rạc, và bâygiờ chúng ta thấy chúng nh là thành phần của một toàn thể Loại nhận thức này “
Trang 24đi từ một ý niệm đầy đủ về bản chất hình thức của một số thuộc tính của Th ợng đế
để đi đến nhận thức đầy đủ về bản chất hình thức ” Khi đạt đến mức độ này,chúng ta ngày càng biết Thợng đế hơn và trở lên “ hoàn thiện và hạnh phúc hơn ”
Nh vậy, với việc coi nhận thức là con đờng giúp con ngời ngày càng khámphá và tuân theo các quy luật của tự nhiên, đồng thời đi đến tự do, Xpinôza khôngthừa nhận tự do ý chí của con ngời Ông cho rằng, những sai lầm của con ngời đềunảy sinh không phải từ tự do ý chí mà từ xúc cảm của con ngời Mọi quá trìnhnhận thức đều diễn ra trong một thể trạng cụ thể của con ngời Những xúc cảm tíchcực nh: vui sớng, tình yêu…thì thúc đẩy hoạt động của con ngời, còn những xúccảm: buồn chán, căm thù thì ngợc lại kìm hãm cản trở con ngời nhận thức thế giới
Với những t tởng sâu sắc về nhận thức luận của mình, đặc biệt là t tởng vềcác mức độ nhận thức, có thể nói, Lépnít đã tạo đợc cơ sở tiền đề cho việc hìnhthành, phát triển cấu trúc và năng lực của chủ thể nhận thức trong triết học Cantơsau này
* Chủ thể nhận thức trong triết học của Lépnít(1646-1716).
Gophrít Vinhem Lépnít (Gofrit Wilhem Leibniz) là nhà triết học, nhà toánhọc, vật lý học lỗi lạc ngời Đức, ngời có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự pháttriển triết học và khoa học phơng Tây cận đại nh học thuyết về đơn tử, các nguyên
lý của phơng pháp luận và đặc biệt là lý luận nhận thức
Trong học thuyết về nhận thức, Lépnít là ngời duy lý, đối thủ của chủ nghĩaduy cảm và là ngời kế tục Đềcáctơ Lépnít muốn khắc phục những thiếu sót củachủ nghĩa kinh nghiệm và ngay cả hình thức duy lý kiểu Đềcáctơ Ông cho rằng, lýtrí là đơn tử, nó chứa trong bản thân mình xu hớng và khả năng của tất cả các t t-ởng tuyệt đối của các khoa học chính xác-triết học và toán học Với việc đ a ra ph-
ơng pháp luận nhằm khắc phục lập trờng nhị nguyên của Đềcáctơ khi nhà triết họcPháp này tách rời vật chất và tinh thần Đồng thời, ông cũng hiểu đợc hạn chế củaXpinôza do cha hiểu thực thể nh một cơ thể sống đầy sinh lực, cũng nh không
đánh giá đúng mức vai trò của sự vật đơn nhất Tuy vậy, Lépnít cũng hoàn toànnhất trí với Đềcáctơ và Xpinôza trong việc nhấn mạnh vai trò của t duy duy lýnhằm giải quyết mọi vấn đề
Luận điểm quan trọng của Lépnít là ở chỗ “Coi chủ thể phong phú hơnkhách thể, lấy trí tuệ con ngời làm thớc đo để phán xét mọi cái” [26, 325] Phơngpháp luận của ông bao gồm 11 nguyên lý, cụ thể đó là:
“1Nguyên lý khác nhau phổ biến
Trang 252Nguyên lý đồng nhất của các sự vật không khác nhau:
3 Nguyên lý liên tục:
4 Nguyên lý gián đoạn:
5 Nguyên lý đầy đủ
6 Nguyên lý hoàn thiện
7 Nguyên lý chỉ mối liên hệ giữa thế giới của các khả năng (xét về phơng diệnlôgíc học)
8 Nguyên lý đề cập đến quan niệm của Lépnít đối với lôgíc hình thức trớc đó
9 Nguyên lý đề cập đến quy luật cơ sở đầy đủ( hay còn gọi là quy luật lý do đầy
đủ)
10 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, ý tởng và ý niệm
11 Nguyên lý cực đại và cực tiểu”.[26, 327-333]
Với 11 nguyên lý trên, ta nhận thấy tinh thần của phơng pháp luận Lépnít là
đặc biệt đề cao trí tuệ con ngời Tuy nhiên, khác với Đềcáctơ và Xpinôza, Lépnít ít
đề cập đến trực giác mà nhấn mạnh vai trò của t duy lôgíc Đây là một trong những
đóng góp của ông đối với sự phát triển của triết học trong đó có lý luận nhận thức
Trên cơ sở các nguyên lý phơng pháp luận, Lépnít đã đa ra nhng t tởng củamình về quá trình nhận thức và khả năng của con ngời trong nhận thức Trong đó,Lépnít công nhận tiền đề của chủ nghĩa kinh nghiệm cho rằng: “cảm giác” là cầnthiết đối với nhận thức Đồng thời, ông cũng công nhận rằng trí tuệ của chúng takhông có một cái gì tồn tại mà không thông qua cảm giác Song ông lại khẳng
định thêm, kinh nghiệm và do đó, cả cảm giác không thể giải thích đợc một điềucơ bản trong nhận thức là tính tất yếu và tính phổ biến của một số chân lý
Theo ông, nhận thức tự nhiên đóng vai trò tác động cho các hoạt động củacác t tởng đợc sản sinh ra nhng không phải là loại chân lý của nhận thức Tính tấtyếu và tính phổ biến là do trí tuệ đạt đợc chứ không phải do cảm giác Vì vậy, khicông nhận tiền đề nổi tiếng của chủ nghĩa kinh nghiệm (của Giôn Lốccơ ): “trongtrí tuệ không có cái gì mà trớc đó lại không có cảm giác”, Lépnít thêm vào “trừbản thân lý tính” Điều đó có nghĩa là những gì sau này có trong tri thức đều đã cótrong cảm giác, thông qua cảm giác
Bên cạnh đó, Lépnít còn thấy cần phải đính chính lại quan niệm của
Đềcáctơ coi trực giác là tiêu chuẩn của chân lý, bởi vì, một mặt, theo ông, các trithức của chúng ta ít nhiều cũng phụ thuộc vào các kinh nghiệm và các tri thức củathời đại trớc, mặt khác, quá trình nhận thức của chúng ta là đi từ tri thức mơ hồ đến
Trang 26tri thức rõ ràng Cho nên, Lépnít coi các t tởng bẩm sinh là điều hiển nhiên đúng.Chính vì vậy, Lépnít công nhận có một số t tởng bẩm sinh, nhng ông cũng khẳng
định “không phải mọi t tởng đều là bẩm sinh Và t tởng bẩm sinh mà ông côngnhận ấy cũng không phải là những khái niệm đã đúc sẵn; chúng chỉ là những mầmmống mà sau này trí tuệ biến chúng thành hiện thực Trí tuệ của con ngời khôngphải là “tấm gỗ mộc” nh G Lốccơ hiểu mà nó là những đờng vân của tấm đá cẩmthạch, các đờng vân ấy là những đờng nét của một bức tợng tơng lai.” [1, 23-24]
Xuất phát từ lý luận của mình về nguồn gốc của nhận thức, Lépnít chia chân
lý ra hai loại, đó là: Chân lý của sự vật và chân lý của lý trí Chân lý của sự thật thi
do nhận thức cảm tính đem lại, còn chân lý của lý trí thì do nhận thức lý tính đemlại Chân lý của sự thật là ngẫu nhiên, đó là những chân lý của khoa học tự nhiên.Chúng ta có thể đạt đợc những chân lý này nhờ kinh nghiệm, mặc dù vai trò của lýtrí cũng rất lớn Tiêu chuẩn của chân lý là luật cấm mâu thuẫn, trong lôgic họchình thức, tức là không thể đợc
Có thể nói rằng, việc Lépnít đa ra 11 nguyên tắc và nhấn mạnh đến vai tròcủa lý tính cũng nh cảm giác trong nhận thức luận đã có những ảnh hởng khôngnhỏ đối với việc xây dựng nhận thức luận nói chung và quan niệm về năng lực củachủ thể nhận thức mà Cantơ đã đa ra
Nh vậy, lý luận nhận thức của Lépnít cũng nh các đại biểu của chủ nghĩaduy cảm nh Xpinôza, Đềcáctơ quan tâm đến hoạt động của chủ thể và coi tri thức
là sự hoạt động của chủ thể Song, trong quan niệm của họ, khách thể và hiện thựcchỉ là một Đối với họ thì những ý tởng bẩm sinh, những t tởng trực giác chỉ có ýnghĩa khi mà mối liên hệ của những t tởng ấy phù hợp với mối liên hệ của sự vật.Nhìn chung, các ông cũng đa ra đợc nhiều điểm hợp lý trong cách nhìn nhận vàgiải quyết vấn đề khả năng nhận thức của con ngời Tuy nhiên, quan điểm của các
ông còn thiên về lập trờng và nhận thức của thời đại mà cha nhìn thấy hết đợc nhậnthức của con ngời, quan điểm của các ông còn mang tính cứng đờ và t duy phiếndiện Những điều này sẽ đợc khắc phục trong triết học của I Cantơ
Nh vậy, sau Ph Bêcơn, Lốccơ là ngời đầu tiên đề ra một nhận thức luận toàn
diện, quy mọi ý niệm của ta (kể cả những ý niệm về toán học và luận lý) vào trigiác cảm tính, mang lại một bớc ngoặt nhân loại học và tâm lý học còn ảnh hởngmạnh mẽ đến ngày nay của triết học Anh Béccơli và Hium tiếp tục phát triển luận
điểm của Lốccơ theo hớng “duy hiện tợng” và “thực chứng”,về thực chất là theo
Trang 27h-ớng của chủ nghĩa duy cảm duy tâm Một mặt, họ nhấn mạnh đến tính không thểchứng minh đợc về mặt lý thuyết đối với mối quan hệ giữa những biểu tợng của tavới thực tại khách quan Mặt khác, các nhà triết học duy tâm chủ quan này khẳng
định tính tất yếu thực tế phải giả định sự tồn tại của thực thể hiện thực Trong khinhận thức lý luận duy cảm của Anh ngay từ rất sớm đã mang tính hoài nghi thìsiêu hình học duy lý (có sử dụng những định đề toán học) thống trị ở châu Âu lục
địa vẫn hoàn toàn vững tin vào những nhận thức “hiển nhiên” mang đậm tính giáo
điều Rêne Đềcáctơ tin rằng có thể xây dựng triết học thành một môn khoa họcnền tảng, phổ quát, tức là một hệ thống gồm những nguyên tắc hiển nhiên đợc rút
ra từ lý tính thuần tuý Do đó, Đềcáctơ còn đợc gọi là cha đẻ của siêu hình học cận
đại trong hình thức của triết học về chủ thể hay triết học về ý thức Nhng tronghàng ngũ của siêu hình học duy lý cũng có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các môhình khác nhau Khác với cái “tôi” của Đềcáctơ, Xpinôza xem Thợng đế hay tựnhiên là bản thể duy nhất và tuyệt đối, còn mọi thực tại khác đều là những thuộctính và hình thái khác của bản thể này Lépnít lại giả định một số lợng vô tận củanhững bản thể đơn giản, “những đơn tử” chứa đựng toàn bộ thế giới nh là hiện t-ợng trong những “tri giác” của chúng, Đềcáctơ, Xpinôza và cả Lépnít đều cho rằnggiả định của mình là hiển nhiên và siêu hình học do mình lập ra mới là khoa họcnền tảng đích thực Nói khái quát, vào giữa thế kỷ VIII, triết học Tây Âu cận đạichứng kiến đối lập giữa hai “lề lối suy t”: nhận thức luận duy nghiệm, hoài nghikiểu Anh và siêu hình học duy lý, giáo điều kiểu châu Âu lục địa Trong tình hình
đó, Imanuen Cantơ thấy bức thiết phải đặt lại câu hỏi về khả năng của siêu hìnhhọc nh là khoa học Phê phán cả chủ nghĩa duy cảm lẫn chủ nghĩa duy lý cực đoanthời kỳ Phục hng khai sáng, ông xem triết học của mình nh là con đờng thứ ba giữathuyết giáo điều và thuyết hoài nghi, giữa thuyết duy lý cực đoan và thuyết duynghiệm duy cảm Chính sự ra đời của tác phẩm “Phê phán lý tính thuần tuý”(1781) với những nội dung về năng lực cơ bản của chủ thể nhận thức nh: cảm tính,giác tính, thông giác (cái tôi tiên nghiệm và cái tôi kinh nghiệm), lý tính…đã giúp
ông lý giải và khẳng định khả năng của khoa học thờng nghiệm, đồng thời bác bỏkhả năng trở thành khoa học của siêu hình học duy lý, nh nhận định của Bùi VănNam Sơn khi đánh giá về tác phẩm: “ Chỉ trong kinh nghiệm của cái “phải làm”,tức trong lĩnh vực đạo đức và nhân sinh của lý tính thực hành, ta mới có đợc sự tiếpcận nào đó với cái tuyệt đối, qua đó cái tuyệt đối (Thợng đế, tự do, linh hồn bất
tử…) của tôn giáo cũng đợc quy về đạo đức học Mặt khác, với Cantơ, dù lý tởng
Trang 28của triết học vẫn là tri thức có tính nguyên tắc và tính hệ thống, thậm trí là tri thứctổng hợp-tiên nghiệm nhng về cơ bản, triết học đã trở thành sự phê phán và tự phêphán toàn diện.
Trang 29Chơng 2:
chủ thể nhận thức trong triết học i.cantơ
2.1 Sơ lợc về thân thế và sự nghiệp của I.Cantơ
Imanuen Cantơ (Immanuel Kant) sinh ngày 22-04-1724 ở Koênícxơbéc; mất ngày12-02-1804 tại Koênícxơbéc
Cantơ chính là nhà triết học sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức Ông cócông rất lớn đối với sự phát triển phép biện chứng Triết học của Cantơ nói riêng vàtriết học cổ điển Đức nói chung là một trong những nguồn gốc lý luận của triết họcMác-Lênin Chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm do ông sáng lập đã có một ảnh hởngrất mạnh mẽ và dài lâu đối với Phích-tơ, Hê ghen và cả nền triết học t sản kế tiếpsau này
Cantơ sinh tại nớc Phổ, ở Koênícxơbéc trong một gia đình thợ thủ công.Năm 1745, ông tốt nghiệp khoa Thần học tại trờng đại học tổng hợp Ko-ê-níc-xơ-béc Sau khi học tập, nghiên cứu triết học, toán học và Thần học, Cantơ có một thờigian làm nghề gia s Năm 1755, ông đợc nhận danh hiệu phó giáo s và từ năm
1770 đợc phong hàm giáo s giảng dạy môn lôgíc học và siêu hình học tại trờng đạihọc tổng hợp Koênícxơbéc
Ông sống độc thân suốt cuộc đời và cha bao giờ đi ra khỏi thành phốKoênícxơbéc Đặc biệt là có rất nhiều giai thoại về sự chính xác nh một chiếc đồng
hồ sống trong sinh hoạt hàng ngày của Cantơ “Toàn bộ cuộc sống của ông luônnhịp nhàng, đợc tính toán và giống nh một chiếc đồng hồ chính xác nhất Vào
đúng 10 giờ tối ông đi ngủ và dậy đúng 5 giờ sáng Trong suốt 30 năm ông khôngmột lần dậy không đúng giờ Ông đi dạo vào đúng 19 giờ Ngời dân Koênícxơbécchỉnh đồng hồ của mình theo Cantơ” [15,758-759]
Immanuel Kant (April 22, 1724 – February 12,
1804) was a German philosopher from Prussia, generally regarded as one of Europe's most influential thinkers and the last major philosopher
of the Enlightenment He had a major impact on the Romantic and Idealist philosophies of the 19thcentury, and his work was the starting point for
Hegel
Trang 30Năm 1781 khi đã 57 tuổi và sau 10 năm suy nghĩ, chỉnh lý, Cantơ đã công
bố tác phẩm lớn nhất trong sự nghiệp triết học của ông: “Phê phán lý tính thuầntuý” Tiếp sau đó là hai tác phẩm chính: “Phê phán lý tính thực tiễn” (1788) và
2.2 Quan niệm của Cantơ về cấu trúc và năng lực của chủ thể nhận thức
Lý luận nhận thức chiếm một vai trò quan trọng trong hệ thống triết học củaCantơ, chính ở đó ông đã có nhiều cống hiến, đẵ đặt ra nhiều vấn đề mà cho đếntận ngày nay chúng ta vẫn cần phải nghiên cứu Một trong những cống hiến cốtyếu của Cantơ đó là việc ông chỉ ra đợc cấu trúc và năng lực cơ bản của chủ thểnhận thức
Khác với tất cả các nhà triết học trớc mình, Cantơ xuất phát từ t tởng chorằng trớc khi bắt đầu nhận thức cái gì thì phải nghiên cứu chính ngay công cụ củanhận thức và những khả năng của nhận thức, của chủ thể Cantơ nuôi tham vọngkhắc phục tính chất một chiều, sự phiến diện của cả chủ nghĩa duy cảm lẫn chủnghĩa duy lý cực đoan Ông coi nhiệm vụ trực tiếp của lý thuyết triết học là phảinghiên cứu khả năng nhận thức của con ngời, những giai đoạn chủ yếu của quátrình nhận thức, quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Khi thừanhận sự tồn tại của hai nguồn gốc của nhận thức thực tế là Cantơ muốn gắn chúnglại với nhau Ông cho rằng, có hai thân cây nhận thức của nhân loại đều bắt nguồn
từ cùng một rễ chung nhng con ngời không biết cái rễ ấy Cái rễ ấy, theo ông đó làcảm giác và năng lực hiểu biết Qua năng lực cảm giác, các đối tợng đợc cung cấpcho chúng ta; qua năng lực hiểu biết, các đối tợng đợc t duy Do đó, nhận thức làmột công việc hợp tác giữa chủ thể nhận thức (chủ thể t duy) và sự vật đợc nhậnthức [5, 78]
Cantơ chia năng lực của chủ thể nhận thức ra làm các loại nh sau Đó là:tình cảm, trí tuệ và lý tính Phù hợp với ba năng lực nhận thức này là ba bộ phậntrong lý luận nhận thức của ông Thứ nhất là mỹ học tiên nghiệm; thứ hai là phântích tiên nghiệm và thứ ba là biện chứng tiên nghiệm Mỹ học tiên nghiệm xem xét
Trang 31những vấn đề liên quan đến năng lực tình cảm Phân tích tiên nghiệm tập trung vàogiải quyết vấn đề về nguồn gốc của những tri thức về tự nhiên thuần tuý và phântích tiên nghiệm nó còn là học thuyết về trí tuệ Biện chứng tiên nghiệm trả lời chocâu hỏi liệu triết học (meta phisica ) có thể là một khoa học? Phân tích tiênnghiệm và biện chứng tiên nghiệm cùng nhau tạo nên lôgíc tiên nghiệm.
ứng với các loại năng lực của chủ thể nhận thức trên, theo Cantơ, quá trìnhnhận thức của con ngời có cấu trúc gồm các giai đoạn nh sau: giai đoạn trực quancảm tính, giai đoạn giác tính, giai đoạn thông giác và cuối cùng là giai đoạn lýtính Các giai đoạn nhận thức này biểu thị cho các cấp độ nhận thức từ thấp đếncao, trong đó, giai đoạn nhận thức trực quan cảm tính là giai đoạn mà Cantơ gọi làcảm năng học siêu nghiệm , giai đoạn giác tính chính là quá trình phân tích phápsiêu nghiệm, giai đoạn thông giác chính là nguyên tắc tối cao của mọi sự sử dụnggiác tính Nói cách khác, đây chính là sự phân biệt, sự thống nhất tổng hợp nguyênthủy của thông giác (quan tâm chủ yếu đến vấn đề cái tôi tiên nghiệm và cái tôisiêu nghiệm ) Còn lý tính là cấp độ cao nhất của t duy thuần tuý biện chứng tiênnghiệm
2.2.1 Cảm tính
Khác với các nhà triết học của trờng phái duy cảm, khi đề cập đến năng lựccảm tính của chủ thể nhận thức, Cantơ đã khẳng định: để nhận thức một cái gì đótrớc hết ta cần 5 giác quan Ông gọi chung cho năng lực cảm giác này là “cảmnăng” (sinnlichkeit) “Dù bằng cách nào và với phơng tiện gì để một nhận thức cóthể quan hệ đợc với các đối tợng, thì quan hệ trực tiếp (unmitelbar) bao giờ cũngbằng trực quan (Anschauung) Mọi t duy đều nhắm vào trực quan nh là phơng tiện.Trực quan chỉ có thể xảy ra trong chừng mực đối tợng đợc mang lại cho ta ; nhng
điều này lại chỉ có thể có đợc ít nhất là đối với con ngời chúng ta bằng cách đối ợng kích động (affizieren) lên tâm trí ta một cách nào đó Năng lực tiếp thu cácbiểu tợng (tính thu nhận-Rezeptivitọt-) do phơng cách làm thế nào để chúng ta đợccác đối tợng kích động gọi là cảm năng Vì thế, nhờ cảm năng, những đối tợng đợcmang lại cho ta, và chỉ có cảm năng mới cung cấp cho ta những trực quan “ [7,135]
Trang 32t-Theo Cantơ, cảm năng là khả năng có thể đợc các đối tợng “kích động” ônggọi là “tính thụ nhận” và các tác động ấy của đối tợng sở dĩ mà ta có đợc là nhờcác trực quan Cantơ gọi kết quả của sự tác động ấy chính là cảm giác Và loại trựcquan này là trực quan thờng nghiệm (tức là loại trực quan nào mà quan hệ với các
đối tợng thông qua cảm giác)
Ông gọi những gì bên trong hiện tợng tơng ứng với cảm giác là “chất liệu”của hiện tợng và cái gì làm cho nội dung của hiện tợng có thể sắp xếp theo cácquan hệ nào đó là mô thức của hiện tợng Chính từ những quan niệm này, Cantơ đã
đa ra hai mô thức1 thuần tuý của trực quan cảm tính nh là những nguyên tắc củanhận thức tiên nghiệm: đó là không gian và thời gian
Nếu ở kỳ tiền phê phán, Cantơ (chịu ảnh hởng của Hium) coi không gian vàthời gian là thuộc lĩnh vực vật tự nó, thì giờ đây ông coi không gian và thời gianthuộc lĩnh vực hiện tợng luận, nghĩa là lĩnh vực của kinh nghiệm cảm tính chủquan tiên nghiệm của con ngời Cantơ lập luận rằng “Chúng ta đều thấy mọi đối t-ợng của tri giác cảm tính đều nằm trong không gian - thời gian Nhng cái gì đãcho ta căn cứ để xác định mọi đối tợng của tri giác cảm tính đều nằm trong khônggian-thời gian ” [5, 73]
ở đây, Cantơ nhận thấy ngời ta tri giác đợc các hiện tợng này bên cạnh cáchiện tợng kia, cái này vuông, cái kia tròn, việc này diễn ra trớc, việc kia diễn rasau…là nhờ ở chỗ trong ý thức con ngời đã có sẵn năng lực (tiên nghiệm) để cóthể sắp xếp, hệ thống hóa, khái quát hóa những cái lĩnh hội đợc vào trong nhữnghình thức chủ quan
Theo Cantơ, nhờ giác quan bên ngoài, ta hình dung những đối tợng nh là ở
ngoài ta và đều ở trong không gian Chỉ ở trong không gian, hình thể, độ lớn và
quan hệ giữa những đối tợng mới đợc xác định hoặc có thể đợc xác định Còn giác
quan bên trong nhờ đó tâm thức trực quan chính mình hay trực quan trạng thái nội
tâm-tuy không mang lại trực quan nào về bản thân linh hồn nh một đối tợng, nhngcũng là một mô thức nhất định, chỉ nhờ đó trực quan về trạng thái nội tâm (bêntrong) mới có thể đợc thực hiện ; vì thế, tất cả những gì thuộc về những quy địnhbên trong đều đợc hình dung trong các quan hệ về thời gian Ông nói: “Thời giankhông thể đợc trực quan từ bên ngoài cũng nh không gian không thể đợc trực quan
nh cái gì ở bên trong ta” [10, 143] Từ những lập luận trên Cantơ đi đến sự khảo sát
1 Mô thức(Form) tức là hình thức Nhng ở đây tôi sử dụng theo ngôn từ của dịch giả Bùi Văn Nam Sơn