CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 50 1.1.. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI
Trang 1THỪA THIÊN HUẾ, năm 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Luật, Đại học Huế
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 47
1 Lý do nghiên cứu 47
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 47
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 48
4 Đối tượng nghiên cứu 48
5 Phạm vi nghiên cứu 48
6 Câu hỏi nghiên cứu 48
7 Giả thuyết nghiên cứu 48
8 Phương pháp nghiên cứu 49
9 Kết cấu của Luận văn 49
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 50
1.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý và bảo hộ chỉ dẫn địa lý 50
1.1.1 Khái niệm chung về chỉ dẫn địa lý 50
1.1.2 Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo pháp luật quốc tế 50
1.1.3 Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo quy định của Liên minh châu Âu 50 1.1.4 Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật Việt Nam 51 1.1.5 Khái niệm bảo hộ chỉ dẫn địa lý 51
1.2 Hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý trên thế giới 51
1.2.1 Bảo hộ chỉ dẫn địa lý không qua hệ thống đăng ký 51
1.2.2 Bảo hộ chỉ dẫn địa lý qua hệ thống đăng ký 51
1.3 Khái niệm khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý 51 1.3.1 Hình thức khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý 52 1.3.2 Nội dung khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý 52 1.4 Các chủ thể bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý 52
1.4.1 Chủ thể bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý 52
Trang 41.4.2 Chủ thể khai thác quyền sở hữu công nghiêp đối với chỉ dẫn địa lý 53 Tiểu kết Chương 1 53
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 54
2.1 Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam 54
2.1.1 Hiệu quả bảo hộ chỉ dẫn địa lý do cơ quan nhà nước là chủ thể 54 2.1.2 Hiệu quả bảo hộ chỉ dẫn địa lý do cơ quan nhà nước và Hiệp hội cùng
2.2.2 Bất cập trong thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 55
2.3 Thực trạng bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý tại tỉnh Nghệ An 55
2.3.1 Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý tại tỉnh Nghệ An 55
2.3.2 Thực trạng bảo hộ sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ chỉ dẫn địa
lý nói riêng tại tỉnh Nghệ An 56
Tiểu kết Chương 2 56
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 57
3.1 Giải pháp xây dựng mô hình hiệp hội tham gia bảo hộ và khai thác quyền
sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý 57
3.1.1 Kinh nghiệm quốc tế về bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn địa
lý 57
3.1.2 Xây dựng mô hình tổng quát bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn địa lý có sự tham gia của hiệp hội 58
Trang 53.2 Giải pháp hiệp hội tham gia bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý cam Vinh 58
3.2.1 Khái quát về mô hình bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn địa lý cam Vinh 58
3.2.2 Xây dựng mô hình bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn địa lý cam Vinh 58
3.2.3 Xây dựng mô hình bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn địa lý cam Vinh có sự tham gia của hiệp hội 59
3.2.4 Giải pháp đảm bảo cho việc hoạt động của mô hình bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn địa lý cam Vinh có sự tham gia của hiệp hội 60
3.3 Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn địa lý có sự tham gia của hiệp hội 61
3.3.1 Giải pháp pháp lý nhằm nâng cao vai trò của hiệp hội 61
3.3.2 Giải pháp củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của hiệp hội 62 3.3.3 Giải pháp hỗ trợ hoạt động của hiệp hội 62
Tiểu kết chương 3 63
KẾT LUẬN 64
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Bảo hộ CDĐL giúp truy xuất nguồn gốc sản phẩm, ngăn cản các bên thứ ba
sử dụng mà không được phép của chủ sở hữu, đồng thời bảo vệ danh tiếng sản phẩm trên thị trường Khái niệm CDĐL lần đầu tiên được đề cập đến tại Hiệp định TRIPS năm 1994 Cùng với quá trình gia nhập WTO và tham gia ký kết Hiệp định TRIPS, Việt Nam đã ban hành một hệ thống pháp luật theo tiêu chuẩn quốc tế về
sở hữu trí tuệ trong đó có các quy định cụ thể về CDĐL
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Lê Thị Thu Hà (2001) Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ
thương mại đối với chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Thông tin và truyền thông Đây là tác phẩm đã hệ thống hóa, phân
tích hoàn thiện cơ sở lý luận về bảo hộ quyền đối với chỉ dẫn địa lý dưới góc độ thương mại Tác phẩm cũng đề xuất bốn nhóm giải pháp để thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý đó là: hoàn thiện môi trường pháp lý, giải pháp đối với các cơ quan quản lý, giải pháp đối với tổ chức tập thể và giải pháp đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh
- Đỗ Lê Văn (2013), Nâng cao vai trò của Hiệp hội để quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ chuyên
ngành quản lý khoa học và công nghệ;
- Luận án Tiến sĩ của Vũ Hải Yến (2008) “Bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án này nghiên cứu, phân tích vấn đề bảo hộ
chỉ dẫn địa lý dưới góc độ pháp luật, xác lập và bảo hộ quyền SHCN đối với chỉ dẫn địa lý
Trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ trước tới nay chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu đến vấn đề Bảo hộ quyền SHCN đối với chỉ dẫn địa lý mà chỉ
có một số Đề án về bảo hộ quyền SHCN như “Đẩy mạnh xác lập và thực thi quyền
sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2010” do Sở Khoa
học và Công nghệ chủ trì, được UBND tỉnh phê duyệt theo Quyết định số
104/2005/QĐ-UBND ngày 08 tháng 12 năm 2005 Đề án “Xây dựng và phát sóng chương trình sở hữu trí tuệ và cuộc sống trên đài phát thanh truyền hình Nghệ An”
do Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Đài phát thanh và truyền hình
Nghệ An thực hiện Dự án “Ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để quản lý và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm cam quả mang chỉ dẫn địa lý Vinh” do
Viện Thổ nhưỡng Nông hóa thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam thực hiện
Do vậy việc nghiên cứu đề tài: “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý qua thực tiễn thi hành tại tỉnh Nghệ An” không bị trùng lắp với các
công trình đã công bố Tuy nhiên, tác giả luôn có ý thức kế thừa, học hỏi những kết
Trang 7quả mà các công trình khoa học, đề án, dự án, luận án, luận văn, các bài viết đã đạt đƣợc cũng nhƣ các kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục tiêu nghiên cứu là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý trên địa bàn tỉnh Nghệ An
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu chung đã nêu, Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích cơ sở pháp luật về bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
- Khảo sát thực trạng bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý qua thực tiễn thi hành tại tỉnh Nghệ An;
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ và khai thác quyền
sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của Luận văn là hoạt động bảo hộ và khai thác quyền
sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
- Phạm vi về không gian: địa bàn tỉnh Nghệ An
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý đang diễn ra nhƣ thế nào?
- Cần có những giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 8- Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý trên địa bàn tỉnh Nghệ An, hiện chưa xây dựng được hệ thống quản lý nội bộ để kiểm soát chất lượng sản phẩm, hệ thống thực thi hoạt động chưa có hiệu quả, không thể kiểm soát hàng giả đối với sản phẩm được bảo hộ;
- Để nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa
lý trên địa bàn tỉnh Nghệ An, cần có những giải pháp chủ yếu sau đây:
+ Trao quyền quản lý chất lượng sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý có sự tham gia của hiệp hội trong việc tự quản, quản lý nội bộ;
+ Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thực thi quyền SHCN bằng hình thức quản lý ngoại vi
8 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Luận văn bao gồm:
- Phương pháp phân tích tài liệu: tác giả sử dụng tài liệu, bao gồm bài báo khoa học, sách chuyên khảo… đã được công bố, có liên quan đến đề tài Luận văn;
- Phương pháp phân tích, đánh giá được sử dụng trong chương 1 giới thiệu tổng quan về những khía cạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến đối tượng là chỉ dẫn địa lý;
- Phương pháp phân tích so sánh, phương pháp phân tích thông tin, phương pháp tổng hợp để hoàn thành chương 2 nhằm phân tích những tực trạng thi hành quyền bảo hộ công nghiệp về chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật thi hành tại địa bàn Nghệ An;
- Phương pháp phân tích so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp mô hình giả định để hoàn thành chương 3 nhằm đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý qua thực tiễn thi hành tại tỉnh Nghệ An
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở pháp luật về bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
- Chương 2 Thực trạng bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
- Chương 3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ và khai thác quyền
sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
1.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý và bảo hộ chỉ dẫn địa lý
1.1.1 Khái niệm chung về chỉ dẫn địa lý
Khoản 1 Điều 22 Hiệp định TRIPS: “Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ lãnh thổ của một thành viên hoặc từ khu vực hay địa
phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu
do xuất xứ địa lý quyết định”
Khoản 22 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”
1.1.2 Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo pháp luật quốc tế
Khái niệm CDĐL lần đầu tiên được đề cập đến tại Hiệp định TRIPS năm
1994, tuy nhiên, trước đó, các khái niệm liên quan đến CDĐL như chỉ dẫn nguồn gốc, tên gọi xuất xứ đã được đề cập đến tại các điều ước quốc tế khác như Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883, Thỏa ước Lisbon về Bảo hộ tên
gọi xuất xứ và Đăng ký quốc tế… Cùng với quá trình hội nhập, khái niệm CDĐL
đã được pháp điển hóa thông qua các vòng đàm phán đa phương và được ghi nhận
trong Hiệp định TRIPs
Hiệp định TRIPS định nghĩa CDĐL “là những chỉ dẫn xác định một sản phẩm
có nguồn gốc từ một khu vực địa lý xác định, mà tại đó chất lượng, danh tiếng hoặc các
đặc tính khác của sản phẩm chủ yếu gắn với nguồn gốc địa lý của sản phẩm” So với các điều ước quốc tế có trước, Hiệp định TRIPS đã xác định phạm vi bảo hộ khá chặt chẽ đối với CDĐL
1.1.3 Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo quy định của Liên minh châu Âu
Tiêu biểu nhất của hệ thống bảo hộ CDĐL đó là các quy định của Liên minh châu Âu Quy chế của Ủy ban châu Âu số 510/2006 ban hành ngày
20/3/2006 đưa ra hai định nghĩa tương đương với hai hình thức bảo hộ là tên gọi xuất xứ và CDĐL Theo đó, tên gọi xuất xứ là tên một khu vực, địa điểm, một quốc gia để mô tả nông sản hoặc thực phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa điểm cụ thể hoặc quốc gia đó, có chất lượng hoặc đặc tính phụ thuộc cơ bản vào môi trường địa lý cụ thể với các yếu tố tự nhiên, con người và việc sản xuất, chế biến, chuẩn bị được thực hiện tại khu vực đó
Trong khi đó, khái niệm CDĐL có nội hàm tương tự với khái niệm tên gọi
Trang 10xuất xứ nói trên nhưng yêu cầu về sự liên kết giữa sản phẩm và khu vực địa lý yếu hơn Cụ thể là CDĐL chỉ yêu cầu một trong những khâu sản xuất/chế biến/chuẩn
bị được diễn ra tại khu vực địa lý trong khi đối với tên gọi xuất xứ, các khâu nói trên đều phải diễn ra tại khu vực địa lý
1.1.4 Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trước khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được ban hành thì các quy định pháp luật của Việt Nam chỉ tồn tại thuật ngữ “Tên gọi xuất xứ hàng hóa” Khái niệm này được đề cập đến tại Bộ Luật Dân sự năm 1995, Nghị định 63/CP của Chính phủ
Khi Luật SHTT năm 2005 được ban hành thì khái niệm TGXXHH đã được
mở rộng thành khái niệm CDĐL CDĐL được Luật SHTT năm 2005 định nghĩa là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể
1.1.5 Khái niệm bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Theo Khoản 22 Điều 4 Luật SHTT: Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể
Như vậy, chỉ dẫn địa lý là một trong các đối tượng của quyền SHTT và được pháp luật bảo hộ
1.2 Hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý trên thế giới
1.2.1 Bảo hộ chỉ dẫn địa lý không qua hệ thống đăng ký
Một số nước trên thế giới không quy định việc phải đăng ký bảo hộ CDĐL Luật CDĐL năm 1998 của Singapore bảo hộ một cách tự động quyền của chủ sở hữu đối với CDĐL;
Luật CDĐL của Ấn Độ năm 1999 có hiệu lực vào tháng 9 năm 2003 cũng quy định việc đăng ký CDĐL là không bắt buộc, tuy nhiên Luật này cũng khuyến khích việc đăng ký CDĐL nhằm chống lại các hành vi giả mạo
1.2.2 Bảo hộ chỉ dẫn địa lý qua hệ thống đăng ký
Tiêu biểu cho hệ thống các nước bảo hộ CDĐL thông qua quy định về đăng
ký nhãn hiệu là các nước Hoa Kỳ, Anh, Canada, Australia, Trung Quốc; Việt Nam thuộc nhóm các nước lựa chọn hình thức bảo hộ riêng
1.3 Khái niệm khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
Để có thể phát huy hết những lợi thế mà chỉ dẫn địa lý mang lại, việc sử dụng chỉ dẫn địa lý trên thực tế không chỉ đơn thuần là sử dụng, gắn các chỉ dẫn trong kinh doanh mà việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó còn nhằm phát triển hơn nữa danh tiếng, chất lượng sản phẩm thông qua hoạt động của các chủ thể liên quan Việc khai thác và phát triển chỉ dẫn địa lý không chỉ là việc xây dựng và phát triển
Trang 11thương hiệu của một doanh nghiệp hay một tổ chức mà đó là sự phát triển ngành hàng, phát triển thương hiệu cho cả một địa phương và cả quốc gia
Chính vì vậy, khai thác và phát triển chỉ dẫn địa lý mang tính chất của một hoạt động tập thể Hơn nữa, sự lựa chọn chiến lược phát triển thương hiệu trên cơ
sở chỉ dẫn địa lý là một hình thức kế thừa và phát triển thương hiệu hiệu quả, tạo ra
sự độc quyền trên thị trường với các sản phẩm gắn liền với tên của địa phương, quốc gia đó
1.3.1 Hình thức khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
Chiến lược khai thác và phát triển chỉ dẫn địa lý phải dựa trên sự phối hợp của bốn chiến lược marketing cơ bản là chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối và chiến lược quảng bá chỉ dẫn địa lý
- Chiến lược sản phẩm
- Chiến lược giá
- Chiến lược phân phối
1.3.2 Nội dung khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý Chiến lược quảng bá chỉ dẫn địa lý là tập hợp các hoạt động liên tục và gắn bó với nhau nhằm nuôi dưỡng và củng cố hình ảnh trong tâm trí khách hàng, tạo cơ hội để ngày càng nhiều khách hàng biết đến, chấp nhận và gắn bó với sản phẩm
Về bản chất, quảng bá chỉ dẫn địa lý là quá trình nuôi dưỡng và củng cố hình ảnh chỉ dẫn địa lý trong tâm trí khách hàng
1.4 Các chủ thể bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
1.4.1 Chủ thể bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
UBND cấp tỉnh được trao quyền bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở địa phương mình,
được quy định tại Điều 19 Nghị định 103/2006/ND-CP, như sau “UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa
lý trong trường hợp chỉ dẫn địa lý thuộc một địa phương” Đối với trường hợp một
chỉ dẫn địa lý thuộc hai hoặc nhiều tỉnh thì các tỉnh phải cử ra một tỉnh làm đại diện để bảo hộ chỉ dẫn địa lý Thực tế ở Việt Nam điều này thực hiện rất khó khăn Xin lấy một ví dụ, đó là trường hợp của sâm Ngọc Linh, chỉ dẫn địa lý này nằm giữa hai tỉnh Kontum và Quảng Nam Đã qua nhiều năm, nhiều cuộc họp được tổ chức, nhưng hai tỉnh này vẫn không thống nhất được cơ quan bảo hộ chỉ dẫn địa
lý, tức là không tỉnh nào chịu ủy quyền cho tỉnh kia theo quy định của pháp luật