16 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA LỚP TỪ VỀ HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN TRONG TIẾNG M’NÔNG TẠI BON BU PRĂNG 2A, XÃ QUẢNG TRỰC, HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐĂK NÔNG .... Xét về phương diện này, chúng t
Trang 2Mục lục
DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 2
2.2 Phạm vi nghiên cứu: 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3.1 Mục đích nghiên cứu 2
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
4.1 Ý nghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Tổng quan đề tài nghiên cứu 5
7 Bố cục 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1 Sơ lược về dân tộc M’Nông và tiếng M’Nông 8
Trang 31.1.1 Sơ lược về dân tộc M’Nông 8
1.1.2 Sơ lược về tiếng M’Nông 10
1.2 Sơ lược về phạm vi nghiên cứu: 13
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ TRONG LỚP TỪ VỀ HIỆN TƯỢNG THIÊN NHÊN TRONG TIẾNG M’NÔNG TẠI BON BU PRĂNG 2A, XÃ QUẢNG TRỰC, HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐĂK NÔNG 16
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA LỚP TỪ VỀ HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN TRONG TIẾNG M’NÔNG TẠI BON BU PRĂNG 2A, XÃ QUẢNG TRỰC, HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐĂK NÔNG 20
3.1 Là một lớp từ “thuần” 20
3.2 Có xuất hiện từ ghép 21
3.3 Từ vựng kém phong phú 24
KẾT LUẬN 26
PHỤ LỤC 28
Tài liệu tham khảo 33
Trang 4M’Nông là một dân tộc đã sống gắn bó lâu dài với vùng Tây Nguyên Việt Nam Cùng với sự lớn lên từng ngày của đất nước, dân tộc M’Nông cũng lớn mạnh dần, họ sinh sống khắp các tỉnh đi dọc dãy Trường Sơn Đặc biệt họ tập trung sinh sống khá đông tại tỉnh Đăk Nông
Đồng bào M’Nông sở hữu ngôn ngữ M’Nông rất đặc sắc và khác biệt
so với các dân tộc khác Vấn đề nghiên cứu tiếng M’Nông ngày càng đươc sự quan tâm nhiều hơn từ chính phủ và các cấp ban ngành
Xét về phương diện này, chúng tôi nhận thấy vấn đề từ vựng trong tiếng của đồng bào M’Nông là một mảng rất quan trọng và mới mẻ để tập trung nghiên cứu, nhất là lớp từ về các hiện tượng thiên nhiên bởi
lẽ đây là một trong những lớp từ cơ bản nhất và xuất hiện sớm nhất trong bất kỳ ngôn ngữ nào, cũng có thể xem lớp từ này như một lớp từ làm “nền móng” cho một ngôn ngữ
Trang 52
Chính vì những lý do trên nhóm chúng tôi quyết định thực hiện đề tài
“Sơ lược về lớp từ hiện tượng thiên nhiên trong tiếng M’Nông tại Bon
Bu Prăng 2A, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông” nhằm khái quát hóa về một trong những lớp từ căn bản trong tiếng M’Nông, góp phần vào việc bảo vệ và giữ gìn ngôn ngữ của đồng bào dân tộc M’Nông nói riêng cũng như văn hóa truyền thống M’Nông nói chung
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Lớp từ về hiện tượng thiên nhiên trong tiếng M’Nông
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Bon Bu Prăng 2A, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1975 đến nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện nhằm mục đích:
- Đem lại những hiểu biết về ngôn ngữ M’Nông nói chung và lớp từ về các hiện tượng thiên nhiên trong tiếng M’Nông nói riêng cho người M’Nông tại nơi đây cũng như đồng bào các dân tộc khác
- Hiểu rõ về lớp từ về các hiện tượng thiên nhiên trong tiếng M’Nông trong những năm gần đây
Trang 63
- Đề xuất các phương thức bảo vệ và giữ gìn tiếng M’Nông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài cần thực hiện được những nhiệm vụ:
- Nghiên cứu một số tài liệu về ngôn ngữ M’Nông nói chung và lớp từ
về các hiện tượng thiên nhiên trong tiếng M’Nông nói riêng
- Tiến hành khảo quan và phỏng vấn một vài cá nhân liên quan và cư dân trong khu vực phạm vi nghiên cứu nói trên
- Nghiên cứu qua các tài liệu về chính sách của chính quyền địa phương Tiếp xúc với một vài cơ quan có thẩm quyền
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
4.1 Ý nghĩa khoa học
Chúng tôi thực hiện đề tài “Sơ lược về lớp từ hiện tượng thiên nhiên trong tiếng M’Nông tại Bon Bu Prăng 2A, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông” nhằm tìm hiểu rõ hơn về ngôn ngữ M’Nông cũng như lớp từ về hiện tượng thiên nhiên - một trong những lớp từ căn bản trong tiếng M’Nông trong bối cảnh hiện tượng giao thoa ngôn ngữ đang diễn ra ngày càng phức tạp do quan hệ cộng cư, hợp hôn giữa dân tộc M’Nông với các dân tộc khác Với những nét mới, đề tài sẽ đóng góp thêm vào kho tư liệu khoa học những kiến thức tổng quan và chi tiết về một vấn đề mang tính khoa học xã hội, tạo tiền đề cho các công trình nghiên cứu khoa học về sau có cơ sở vững chắc hơn để tiếp tục mở rộng, phát triển đề tài
Trang 74
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài “Sơ lược về lớp từ hiện tượng thiên nhiên trong tiếng M’Nông tại Bon Bu Prăng 2A, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông” sẽ giúp làm rõ nhận thức và đưa ra những góc nhìn mới hơn về tiếng M’Nông tại Bon Bu Prăng 2A, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông Từ nhận thức đó, giúp Nhà nước
và chính quyền địa phương có những chính sách đúng đắn và phù hợp trong việc bảo tồn ngôn ngữ của dân tộc M’Nông, có thể đưa
ra các phương pháp để giáo dục thế hệ trẻ của người M’Nông hiện nay có thể học tập, kế thừa và tự nhận thức ngôn ngữ truyền thống của tổ tiên Qua đề tài nghiên cứu, người ta còn có thể nhận ra được đâu là những khó khăn và thuận lợi trong công tác dạy và học tiếng M’Nông, từ đó có biện pháp hợp lý phát triển những mặt thuận lợi và khắc phục hạn chế những mặt khó khăn Từ việc nâng cao hiểu biết của mọi người về tiếng M’Nông, đưa ra hướng giáo dục trẻ em nơi đây ngôn ngữ của dân tộc mình nhóm chúng tôi hi vọng có thể góp một phần nhỏ trong công cuộc bảo vệ và giữ gìn ngôn ngữ M’Nông
Trang 85
5 Phương pháp nghiên cứu
- Đầu tiên nhóm chúng tôi áp dụng phương pháp phân tích để nghiên
cứu các vấn đề thuộc về kiến thức nền, cơ sở lý luận làm tiền đề cho đề
tài
- Áp dụng phương pháp điều tra bằng khảo sát khách quan, hỏi và ghi
âm từng từ, tiến hành khảch quan với nhiều người ở nhiều nơi để có cái nhìn chính xác và khách quan nhất trên từng mặt cụ thể của đề tài
- Áp dụng phương pháp tổng hợp và logic để từ những gì nghiên cứu trong đề tài suy ra hướng ứng dụng trong dạy và học tiếng M’Nông, cũng như phát triển và mở rộng cái nhìn về tiếng M’Nông đối với mọi người
6 Tổng quan đề tài nghiên cứu
Do tiếng M’Nông là một ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Việt Nam, số lượng người nói ít, địa bàn bản ngữ tương đối khó tiếp cận và điều kiện sống còn khá khó khăn nên tại Việt Nam có khá ít học giả nghiên cứu về vấn đề này Sau đây chúng tôi xin phép được sơ lược qua một vài nghiên cứu tiêu biểu về người M’Nông nói chung và tiếng M’Nông nói riêng
Đầu tiên đó là quyển sách ảnh song ngữ Anh – Việt “Người M’Nông
ở Việt Nam” do NXB Thông Tấn ấn hành Quyển sách lần lượt giới
thiệu các vấn đề xoay quanh nguồn gốc và phân bố dân cư, voi M’Nông, làng bản nhà ở, nguồn sống, y phục trang sức và phong tục lễ hội của đồng bào dân tộc M’Nông kèm theo hình ảnh minh họa sinh
Trang 9Còn quyển “Từ điển Việt Mnông Lâm” do Đinh Lê Thư và Y Tông
Drang đồng chủ biên thực sự là một tư liệu quý cho ngành ngôn ngữ học Quyển sách tập trung vào kho từ vựng của phương ngữ M’Nông Lâm – một nhánh phương ngữ của tiếng M’Nông được sử dụng tại Đăk Lăk Với vốn từ vựng khá đầy đủ và chính xác “Từ điển Việt Mnông Lâm” đã xây dựng được một kho ngữ liệu tiếng Mnông vô cùng phong phú Tuy nhiên “Từ điển Việt Mnông Lâm” chỉ khái quát được kho từ vựng của phương ngữ M’Nông Lâm còn các phương ngữ khác như M’Nông Preh thì vẫn chưa đề cập được
Và mới đây nhất chính là quyển “Từ điển Việt – M’Nông” của
TS.Nguyễn Kiên Trường – ThS Trương Anh Đây là từ điển đối chiếu song ngữ có quy mô lớn nhất trong số các từ điển tiếng dân tộc ở nước
ta hiện nay, nằm trong hệ thống đề tài nghiên cứu khoa học mang tên
“Hoàn thiện chữ viết M’Nông và Biên soạn Từ điển M’Nông – Việt,
Từ điển Việt – M’Nông” do Sở Giáo dục – Đào tạo Đăk Nông chủ trì thực hiện trong giai đoạn 2005 – 2007 Các tác giả đi sâu vào kho từ vựng của phương ngữ M’Nông Preh – một phương ngữ được dùng chủ
Trang 107
yếu tại Đăk Nông Quyển từ điển này đem lại nguồn ngữ liệu vô cùng phong phú và dồi dào cho đề tài “Sơ lược về lớp từ hiện tượng thiên nhiên trong tiếng M’Nông tại Bon Bu Prăng 2A, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông” của chúng tôi vì cùng nghiên cứu về phương ngữ M’Nông Preh Tuy nhiên nếu “Từ điển Việt – M’Nông” khái quát tất cả từ vựng thì đề tài của chúng tôi chỉ sẽ tập trung xoay quanh lớp từ chỉ các hiện tượng thiên nhiên và đi sâu hơn vào việc phân tích đặc điểm chung của lớp từ này mà chúng tôi đúc kết được từ việc phân tích lớp từ trên
7 Bố cục
Dẫn nhập
Nội dung
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2 Một số từ nằm trong lớp từ về hiện tượng thiên nhiên trong tiếng M’Nông tại Bon Bu Prăng 2A, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông
Chương 3 Một số đặc điểm của lớp từ về hiện tượng thiên nhiên trong tiếng M’Nông tại Bon Bu Prăng 2A, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông
Kết luận
Trang 118
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Sơ lược về dân tộc M’Nông và tiếng M’Nông
1.1.1 Sơ lược về dân tộc M’Nông
M’Nông là một dân tộc đã sinh sống lâu đời tại Tây Nguyên, là một trong số 54 dân tộc được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính thức công nhận
Người M’Nông còn được gọi là người Bu-dâng, Preh, Ger, Nong, Prâng, Rlăm, Kuyênh, Chil Bu Nor, nhóm M’Nông-Bu dâng, là sắc tộc
sử dụng ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer
Địa bàn cư trú của người M’Nông bao gồm những phần đất thuộc các huyện miền núi tây-nam tỉnh Đắk Lắk, Đắc Nông, Quảng Nam, Lâm Đồng và Bình Phước (chiếm trên 99,3%) của Việt Nam, nhưng tập trung đông nhất là tại các huyện của tỉnh Đắk Lắk Ngoài ra người M’Nông còn phân bố sinh sống khá đông tại lãnh thổ Campuchia Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người M’Nông ở Việt Nam có dân số 102.741 người, cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người M’Nông cư trú tập trung tại các tỉnh: Đắk Lắk (40.344 người, chiếm 39,3% tổng số người M’Nông tại Việt Nam), Đăk Nông (39.964 người, chiếm 38,9% tổng số người M’Nông tại Việt Nam), Lâm Đồng (9.099 người), Bình Phước (8.599 người), Quảng Nam (13.685 người)
Trang 129
Dân tộc M’Nông thuộc chủng Indonesian Có tầm vóc thấp, nước da ngăm đen, môi hơi dày, râu thưa, mắt nâu đen, tóc đen, thẳng Nhiều người có tóc xoăn
Trong quá trình lịch sử phát triển tộc người của mình, do địa bàn cư trú phân tán trên một vùng rừng núi hiểm trở, việc giao lưu giữa các vùng M’Nông rất khó khăn, hạn chế, đã phân chia cư dân M’Nông ra rất nhiều nhóm địa phương Nhưng các nhóm này vẫn tự nhận một tên gọi chung là M’Nông
Những nhóm địa phương của người M’Nông có thể kể đến như:
- M’Nông Gar, ở Tây Bắc Lâm Đồng và vùng hồ Lăk thuộc tỉnh Đăk Lăk
- M’Nông Chil, cư trú trên địa bàn huyện Lạc Dương, Đức Trọng, Lâm Hà và huyện Lắk thuộc tỉnh Đăk Lăk
- M’Nông Nông, ở Đăk Nông, Đăk Min tỉnh Đăk Lăk
- M’Nông Préh, ở Đăk Nông, Đăk Min, Krông Nô, Lắk, tỉnh ĐăkLăk
- M’Nông Kuênh, ở huyện Krông Pách, tỉnh Đăk Lăk
- M’Nông Prâng, ở Đăk Nông, dăk Min, Lắk và EA Súp, tỉnh ĐăkLăk
- M’Nông R'Lâm, ở huyện Lắk, tỉnh Đăk Lăk
Trang 1310
- M’Nông Bu đâng, ở Bản Đôn, Đăk Lăk
- M’Nông Bu Nor, ở các huyện Đăk Nông, Đăk Min, tỉnh Đăk Lăk
- M’Nông Din Bri, ở vùng tả ngạn sông EA Krông, tỉnh Đăk Lăk
- M’Nông Đíp, ở tỉnh Bình Phước và Đăk Lăk
- M’Nông Bíat, ở tỉnh Bình Phước và bên kia biên giới Campuchia-Việt Nam
- M’Nông Bu Dêh, ở vùng giáp ranh giữa tỉnh Bình Phước và tỉnh Dăk Lăk
- M’Nông Si Tô, ở Đăk Song, tỉnh Đăk Nông
- M’Nông káh, ở các huyện Lắk, Đăk Nông, M'Drăk, tỉnh Đăk Lăk
- M’Nông Phê Dâm, ở vùng Quảng Tín, huyện Đăk Nông, tỉnh Đăk Lăk
- Ngoài ra, còn có một số nhóm địa phương khác của người M’Nông như: M’Nông Rơ Đe, M’Nông R'ông, M’Nông K'Ziêng cư trú ở Campuchia
1.1.2 Sơ lược về tiếng M’Nông
Tiếng M’Nông thuộc tiểu chi Bahnar của ngành Mon-Khmer, ngữ hệ Nam Á
Trang 1411
Do cư trú phân tán và sự giao lưu giữa các vùng rất hạn chế nên tiếng nói của các nhóm địa phương M’Nông có nhiều điểm khác biệt, đặc biệt về ngữ âm và từ vựng Và đặc biệt tiếng M’Nông còn có sự tiếp xúc và pha trộn với ngôn ngữ của các dân tộc khác như: Ê Đê ở phía bắc, Kơ ho, Mạ, Stiêng ở phía nam
Cộng đồng dân tộc M’Nông có nhiều phương ngữ, nhưng chủ yếu là phương ngữ M’Nông Đông và phương ngữ M’Nông Tây Ta có thể phân phương ngữ tiếng M’Nông thành sơ đồ sau:
Trang 1512
Tiếng M’Nông
M’Nông Đông (phân bố chủ
yếu ở Đăk Lăk)
M’Nông Tây (phân bố chủ yếu ở Đăk Nông)
Lâm và Gar Kuênh và
Chil
Preh và Bunơr
Nông và Prâng
Bảng 1 Hệ thống phương ngữ tiếng M’Nông
Trang 161.2 Sơ lược về phạm vi nghiên cứu: xã Quảng Trực, huyện Tuy
Đức, tỉnh Đăk Nông
Đăk Nông nằm ở cửa ngõ phía tây nam của Tây Nguyên Phía bắc
và đông bắc của Đăk Nông giáp với địa phận tỉnh Đắk Lắk, phía đông và đông nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía nam giáp tỉnh Bình Phước, đồng thời phía tây tỉnh Đăk Nông giáp với Vương Quốc Campuchia với đường biên giới dài khoảng 120 km, qua hai cửa khẩu là cửa khẩu Đắk Per thuộc huyện Đắk Mil và Bup'rang thuộc địa phận Tuy Đức Đây là một tỉnh có vị trí địa lý khá nhạy cảm do nằm ở khu vực biên giới Campuchia Do miền núi tách biệt nên đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại nơi này khá đông và hầu hết đều giữ được truyền thống và bản sắc văn hóa của dân tộc họ
Đặc biệt tại Đăk Nông, đồng bào dân tộc M’Nông sinh sống với mật độ cao và đa số vẫn giữ được các phương ngữ M’Nông nhất là tại các huyện giáp biên giới như Tuy Đức, Đắk Mil
Trang 1714
Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là tại xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, nơi nằm khá gần cửa khẩu Campuchia và hội tụ đầy đủ những yếu tố để giữ gìn một cách trọn vẹn nhất ngôn ngữ M’Nông
Có thể khái quát vị trí địa lí xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông qua bản đồ sau:
Trang 1815
Hình 1 Bản đồ hành chính tỉnh Đăk Nông
Trang 1916
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ TRONG LỚP TỪ VỀ HIỆN
TƯỢNG THIÊN NHÊN TRONG TIẾNG M’NÔNG TẠI BON BU PRĂNG 2A, XÃ QUẢNG TRỰC, HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐĂK NÔNG
Do hiện tượng thiên nhiên rất phong phú và đa dạng nên chúng tôi xin mạn phép chỉ liệt kê một số từ phổ biến thông dụng, gần gũi với đồng bào M’Nông và đặc biệt là phần lớn các từ này đều nằm trong bảng từ Swadesh (là bảng từ cơ bản trong mọi ngôn ngữ, dùng để nghiên cứu và giúp xác định nguồn gốc, đặc điểm của ngôn ngữ)
nhiên
Từ trong tiếng M’Nông
Phiên âm quốc
tế
Trang 2017
Trang 2118
Trang 2320
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA LỚP TỪ VỀ
HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN TRONG TIẾNG M’NÔNG TẠI BON BU PRĂNG 2A, XÃ QUẢNG TRỰC, HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐĂK NÔNG
3.1 Là một lớp từ “thuần”
Hiện nay một số từ của tiếng M’Nông đã có hiện tượng vay mượn từ tiếng Việt toàn dân, nhất là một số từ không phổ biến với đồng bào dân tộc M’Nông và một số từ mới xuất hiện trong thời gian gần đây như cà phê, cao su, ti vi…
Tuy nhiên lớp từ chỉ các hiện tượng thiên nhiên là một trong những lớp từ phổ quát nhất, xuất hiện trước nhất vì nhu cầu vào buổi sơ khai của con người luôn là khám phá tự nhiên và đôi khi còn thần thánh hóa
tự nhiên để giải thích cho những hiện tượng mà theo họ là không thể lý giải
Vì thế lớp từ chỉ các hiện tượng thiên nhiên luôn tồn tại từ rất sớm và chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong mỗi ngôn ngữ
Chính vì vị thế quan trọng đó và thời gian xuất hiện sớm trong lịch sử phát triển của việc hình thành và cấu tạo từ trong mỗi ngôn ngữ mà lớp
từ chỉ các hiện tượng thiên nhiên luôn mang những đặc trưng đậm nét của ngôn ngữ bản địa sơ khai nhất của mỗi dân tộc hay nói cách khác
đó là một lớp từ “thuần”