Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở một số lý thuyết về nghiên cứu ngôn ngữ học, cũng như tham khảo một số tài liệu, mục đích nghiên cứu là mô tả các đặc điểm môi trường sống, đặc điểm cộng đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
LỚP: NGÔN NGỮ K12 MSSV: 1256010093
TP.HCM, ngày tháng năm 2015
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
A MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 3
1.1 Lý do chọn đề tài 3
1.2 Mục đích nghiên cứu 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 7
6 Kết cấu niên luận 7
B NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
1.1 Đặc điểm tộc người và ngôn ngữ Mạ 9
1.1.1 Về tên gọi tộc người 9
1.1.2 Về ngôn ngữ 9
1.1.3 Về dân số và địa bàn cư trú 11
1.1.4 Về văn hóa - xã hội 12
1.2 Về loại từ và loại từ trong tiếng Việt 13
1.2.1 Định nghĩa loại từ 13
1.2.2 Phân loại loại từ 14
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG CÁC NHÓM LOẠI TỪ TRONG TIẾNG MẠ (CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT ) 16
2.1 Nhóm loại từ chỉ động vật 16
Trang 32.2 Nhóm loại từ chỉ người 17
2.3 Nhóm loại từ chỉ thực vật 18
2.4 Nhóm loại từ chỉ đồ vật 19
CHƯƠNG 3: KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA LOẠI TỪ TIẾNG MẠ TRONG DANH NGỮ 23
3.1 TRƯỜNG HỢP CÓ THỂ KẾT HỢP 23
3.1.1 Loại đi + danh từ 23
3.1.2 Loại từ + số từ ( một, hai, ba, bốn v.v ) + danh từ 24
3.2 TRƯỜNG HỢP KHÔNG THỂ KẾT HỢP 25
3.2.1 Những, các + loại từ + danh từ 25
C KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỤC 30
Trang 4A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Lý do chọn đề tài
Loại từ là thuật ngữ ngôn ngữ học tiếng Việt thường vẫn được sử dụng trong lời
ăn tiếng nói hàng ngày Loại từ có một số lượng tương đối trong vốn từ vựng và bản chất ngữ pháp cũng như ranh giới của chúng được giới Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu Việc đề cập đến loại từ tức là đề cấp đến mối quan hệ giữ sự hiện diện của lớp từ này với đối lập cá thể/phi cá thể, biệt loại/không biệt loại, đếm được trực tiếp và
không trực tiếp…Ngoài ra, việc miêu tả loại từ trong một ngôn ngữ cụ thể còn phần nào giúp ta hình dung được sự nhận thức hiện thực khách quan của người bản ngữ, thể hiện ở sự đánh giá bản chất và quy luật của đối tượng ở những khía cạnh nhất định, theo những cách thức khác nhau, đồng thời tìm ra những chất liệu ngôn ngữ phù hợp
để biểu thị bản chất, quy luật ấy
Mạ là một dân tộc thiểu số bản địa phần đông sống ở tỉnh Lâm Đồng như huyện Bảo Lộc, Bảo Lâm, Đạ Teh… Tỉnh Đăk Nông, dân tộc Mạ chủ yếu sinh sống ở huyện Đăk Glong, Đăk Nia, gồm các xã: Đăk Plao, Đăk Som, Quảng Khê, một số người sống ở xã Đăk Ha, Đăk Rơ Măng
Tiếng nói của khoảng 20 nghìn người Mạ ở Bảo Lộc, Đạ Hoai, Đức Trọng và bắc
Di Linh, thuộc phía tây tỉnh Lâm Đồng, một phần ở Đắc Lắc, Đăk Nông và Đồng Nai
có thể là một phương ngữ của tiếng Cơ Ho, thuộc tiểu nhóm Ba Na Nam, nhóm ngôn ngữ Ba Na, họ ngôn ngữ Nam Á Chữ viết dựa theo hệ chữ cái Latinh
Ngôn ngữ là một đặc trưng của dân tộc: “Trong một chừng mực khá quan trọng chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” (F de Saussure)
Với đề tài “loại từ trong tiếng Mạ (có so sánh với tiếng Việt)” chúng tôi sẽtìm
hiểu về loại từ và loại từ trong tiếng Việt, xác định các nhóm loại từ trong tiếng Mạ,bước đầu xây dựng các khả năng kết hợp có thể và không thể của tiếng Mạ Bên cạnh đó, nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu, điều tra ngôn ngữ dân tộc thiểu số về mặt hệ thống cấu trúc cũng như về mặt chức năng xã hội, góp phần soạn những bộ sách công cụ, phục vụ cho sự nghiệp giáo dục, bảo tồn và phát triển ngôn ngữ văn hóa của dân tộc Mạ
Trang 51.2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở một số lý thuyết về nghiên cứu ngôn ngữ học, cũng như tham khảo một số tài liệu, mục đích nghiên cứu là mô tả các đặc điểm môi trường sống, đặc điểm cộng đồng, đặc điểm ngôn ngữ học, qua đó mở ra cái nhìn tổng quát về việc sử dụng loại từ trong ngôn ngữ giao tiếp nói chung cũng như khái quát được loại từ trong tiếng Mạ có so sánh với tiếng Việt, chỉ ra những đặc điểm cũng như phân loại chúng trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Từ đó cung cấp những luận cứ khoa học, ngữ liệu cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ dân tộc sau này, cũng như hoạch định các chính sách bảo tồn, chính sách giáo dục ngôn ngữ cho cộng đồng Mạ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã được quan tâm từ rất
sớm Trong cuốn Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam từ những năm
90 của Viện Thông tin Khoa học Xã hội, đã liệt kê thư mục nghiên cứu về ngôn ngữ
dân tộc từ những năm 1990 đến 2002, trong đó có 58 công trình về vấn đề chung và
235 công trình về các ngôn ngữ dân tộc khác nhau
Cho đến nay, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam như: Đinh Lư Giang (song ngữ Khmer – Việt), Lê Khắc Cường (tiếng Stiêng), Trần Trí Dõi (về tộc Chứt), Tạ Văn Thông (về tộc Kơ ho), Đoàn Văn Phúc (về tộc Êđê), Phú Văn Hẳn, Brunelle M (tiếng Chăm), Nguyễn Văn Huệ (tiếng Raglai)…
Đối với vấn đề loại từ trong tiếng Việt, trong Ngôn ngữ học đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề này như:
- M.B Emeneau (1953) trong cuốn Studies in Vietnamese grammar, University
of Californha, là người đầu tiên đề xuất ý kiến chia danh từ làm hai loại lớn là : danh
từ biệt loại ( Classified nouns ) và danh từ không biệt loại (Nonclassified nouns) trên
cơ sở khả năng kết hợp của chúng với loại từ đi trước; so sánh: (hai con) gà với (hai) tỉnh Ông cũng đưa ra một sơ đồ về cấu trúc của cái mà ông gọi là “phức cấu thực thể từ” trong đó ông chỉ ra sự phân bố của hai loại danh từ
Trang 6- Nguyễn Tài Cẩn nêu trong cuốn hiện Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
và Ngữ pháp tiếng Việt - Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữđi theo con đường riêng có phần
khác với mọi người, có một số điểm lưu ý như sau:
Ông chia ra một loại lớn danh từ gọi chung là “từ chỉ đơn vị”, bao gồm hai nhóm nhỏ là “từ chỉ đơn vị tự nhiên” ( tức là “loại từ” hiểu hẹp) và “từ chỉ đơn vị qui ước” ( như cân, đoàn, miếng,…)
Từ chỉ đợn vị được xếp vào danh từ “không biệt loại”
Từ chỉ đơn vị cũng được xếp vào loại “danh từ đếm được” (đối lập với các
“danh từ không đếm được”)
Loại từ chỉ là những từ chỉ đơn vị tự nhiên như: con, cái, cuốn, bức; mà theo
ông trong tiếng Việt có khoảng 40 từ thường dùng như thế ( không tính những loại từ chỉ người)
Loại từ không kếp hợp với những danh từ chỉ chất; những danh từ này chỉ kết hợp với từ chỉ đơn vị quy ước: (hai cân) thịt, (ba miếng) đất…
- Cao Xuân Hạo (1992) trong cuốn Về cấu trúc danh ngữ trong tiếng Việtcho
rằng: “Khái niệm và thuật ngữ loại từ sinh ra từ một sự ngộ nhận rất tiêu biểu cho người nói tiếng Âu Châu hoặc đã quen với ngữ pháp Âu Châu khi phân tích các cấu
trúc danh ngữ tiếng Việt”, ông còn căn cứ vào cả những thuộc tính ngữ nghĩa và cú pháp của danh từ như:
Khả năng tham gia vào một cấu trúc tham tố của động từ,
Khả năng tham gia thế đối lập “đơn vị”/ khối”,
Có thể kết hợp với giới từ làm thành giới ngữ,
Có thể kết hợp với lượng từ
- Trong Văn phạm Việt Nam của Trần Trọng Kim ( và các đồng tác giả của ông)
đã nhận ra được một đặc điểm từ loại hết sức quan trọng của loại từ tiếng Việt: đó là ý
nghĩa khái quát chỉ loại của chúng
- Bên cạnh đó còn một số quyển nói về loại từ nhưNgữ pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học xã hội, Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại ( bao gồm quyển I và II ) của Nguyễn Kim Thản, Ngữ pháp tiếng Việt của Diệp Quang Ban, Cơ sở ngôn ngữ học tiếng Việt của Vũ Đức Hiệu – Mai Ngọc Chừ - Hoàng Trọng Phiến Bên cạnh đó, về vấn đề này cũng được đề cập khá nhiều trong Tạp chí ngôn ngữ Nổi bật là Danh từ và
Trang 7loại từ (đăng ở tạp chí khoa học tại Liên Xô ) của Nguyễn Tài Cẩn, Nghĩa của loại từ của Cao Xuân Hạo đăng ở Tạp chí ngôn ngữ số 2 và 3 năm 1999, Một số vấn đề về loại từ trong tiếng Việt của Lưu Văn Lâng trong Tạp chí ngôn ngữ số 2 năm 1997, Một cách xác định loại từ trong tiếng Việt của Trần Đại Nghĩa trong Tạp chí ngôn ngữ
số 4 1998
- Như vậy, đãcó nhiều công trình nghiên cứu vềloại từ trong tiếng Việt mặc dù
có rất nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề này Nhưng thật sự chưa có một đề tài nào
mô tả cấu trúc và đặc điểm loại từ trong tiếng Mạ một cách đầy đủ và chi tiết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là tiếng Việt và tiếng Mạ
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu giới hạn trong việc nghiên cứu về khả năng sử dụng loại từ của người Mạ tại địa bàn đi thực tế xã Đăk Som, huyện Đăk Glong, tỉnh Đắk Nông
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Mặc dù là một đề tài phải dựa trên những thu thập dữ liệu thực tế thông qua chuyến điền dã tại địa phương nhưng chúng tôi đã
có những bước tiếp cận với đề tài thông qua việc tìm hiểu các sách, báo, tạp chí, luận văn,…về các vấn đề liên quan đến người Mạ cũng như ngôn ngữ của họ
Phương pháp điền dã:Tận dụng chuyến đi thực tế vừa rồi, sau khi đã làm bài nhóm lớn xong, chúng tôi đã dành một khoảng thời gian nhất định để tìm hiểu thêm
về đề tài niên luận, nhất là việc đưa ra một bảng từ riêng về vấn đề loại từ để tiến hành điều tra, phỏng vấn
Phương pháp mô tả:Mô tả loại từ việc làm đầu tiên để có thể nắm bắt và hệ thống hóa loại từ Muốn so sánh đối chiếu loại từ tiếng Việt với loại từ tiếng Mạ nhiệm vụ trước tiên đó là phải miêu tả chúng Để từ đó dưa ra cơ sở, nguyên tắc để so sánh
Phương pháp so sánh:Dùng biện pháp so sánh đối chiếu để từ đó có thể tìm
ra những điểm khác nhau trong loại từ tiếng Mạ và tiếng Việt
Trang 85 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Niên luận sẽ đưa ra những quan điểm có tính chất lý luận của các nhà khoa học đi trước nghiên cứu về loại từ như: M.B Emeneau Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Hồ Lê, Diệp Quang Ban, Lưu Vân Lăng… Sau đó đi phân tích,
mô tả, so sánh các vấn đề có liên quan về loại từ Bên cạnh đó, việc nghiên cứu này giúp ích cho xác định bản chất ngữ pháp cũng như ranh giới của chúng từ đó nhận thức được hiện thực khách quan của người bản ngữ về ngôn ngữ mà mình đang sử
dụng
Ý nghĩa thực tiễn: Việc nghiên cứu so sánh tìm hiểu về loại từ tiếng Mạ (có so sánh với tiếng Việt) sẽ giúp ích cho công việc biên soạn sách công cụ, sách giáo khoa học tiếng Mạ, phục vụ cho người Mạ học tiếng Mạ và những người của dân tộc khác công tác ở đây Điều này chứng tỏ rằng sản phẩm của công việc biên soạn và nghiên cứu không chỉ nhằm cho công tác giảng dạy chương trình song ngữ mà còn phục vụ cho việc phổ biến song ngữ trong đời sống xã hội, giáo dục năng lực ngôn ngữ trong
xã hội
6 Kết cấu niên luận
Ngoài phần Dẫn nhập và Kết Luận, nội dung của niên luận tập trung vào ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Ở chương này, niên luận trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản, có thể kể đến như: đặc điểm tộc người và ngôn ngữ, về loại từ và loại từ trong tiếng Mạ, phân loại tiếng Mạ, v.v Đây là những tiền đề giúp cho việc tìm hiểu và nghiên cứu đề tài
- Chương 2: Các nhóm loại từ trong tiếng Mạ ( có so sánh với tiếng Việt)
Chương 2 tập trung chỉ ra các nhóm loại từ trong tiếng Mạ, có sự biểu hiện như thế nào và có điểm gì giống và khác với tiếng Việt
- Chương 3: Khả năng kết hợp của loại từ
Trang 9Ở chương 3 chúng tôi trình bày khả năng kết hợp của loại từ tiếng Mạ, trường hợp nào có thể kết hợp được, trường hợp nào không được trong danh ngữ
Cuối niên luận còn có Bảng khảo sát, Tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 10B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1.1 Về tên gọi tộc người
Dân tộc Mạ là một dân tộc đang phát triển về dân số Số liệu của chính quyền Ngụy Sài Gòn trước l975, cho thấy người Mạ có 15.000 người (Nguyễn Trắc Dĩ,
Đồng bào sắc tộc thiểu số Việt Nam, Bộ phát triển sắc tộc ấn hành, 1972, trang 53 )
Đến nay, dân số người Mạ trên 25.059 người
Người Mạ thuộc loại hình nhân chủng Anhđônêdiên Chiều cao trung bình khoảng 1,57m đến 1,6m đối với nam giới và 1,5m đến 1,56m đối với nữ giới Tuy nhiên, cũng có những người Mạ cao tới 1.7m hoặc hơn Thân hình vạm vỡ, phát triển cân đối Màu da ngăm đen, mặt tương đối rộng, gò má hơi dô, mũi bè, môi dày, mặt đen hoặc nâu sẫm Tóc cứng và phần nhiều là tóc thẳng
Tộc danh “Mạ” thực sự có ý nghĩa gì là điều còn cần được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn nữa Nhưng theo đa số người Mạ và phần lớn dân cư các dân tộc láng giềng cùng nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ me thì tộc danh “Mạ” đồng nhất với tên gọi phương thức sinh hoạt kinh tế của những người làm rẫy, “mir” (nghĩa là rẫy ) phân biệt với “xrê” (nghĩa là ruộng nước ) của người Kơ Ho Ngườ i Mạ có nghĩa là những người làm rẫy
và trở thành tên gọi của dân tộc
Dân tộc Mạ là một cộng đồng người thống nhất, có một tên gọi chung, một ngôn ngữ chung và ý mức chung về tộc người Mạ, tự phân biệt mình với các dân tộc láng giềng Nhưng trong quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng dân tộc Mạ đã chia các nhóm địa phương như: Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung
1.1.2 Về ngôn ngữ
Tiếng nói của người Mạ thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme miền núi phía Nam, rất gần gũi với tiếng nói của người M'nông, Chu ru, Xtiêng, đặc biê ̣t là Kơ Ho , là những dân tộc láng giềng gần gũi với họ Mặc dù ngôn ngữ là một chỉ báo rất quan trọng trong sự phân biệt thành phần dân tộc, không phải lúc nào nó cũng là một chỉ báo tộc người Có nhiều trường hợp các bộ phận dân cư khác nhau nói cùng một ngôn ngữ nhưng không thuộc về cùng một dân tộc Tại tỉnh Lâm Đồng,
Trang 11người Kơho và người Mạ nói cùng một ngôn ngữ nhưng thuộc hai dân tộc khác nhau
Dù trong thực tế có những dị biệt giữa tiếng nói của người Mạ và tiếng nói của người
Kơ Ho, sự tương đồng giữa hai ngôn ngữ, theo Tạ Văn Thông, "Lớn đến mức phải coi người Mạ và Kơ ho đang nói cùng một ngôn ngữ …" (2002:219)
Trong từ vựng của ngôn ngữ Mạ, yếu tố Môn - Khơme trội hơn hẳn so với các dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ này cư trú ở Bắc Tây nguyên như Ba Na, Xơ đăng Trước đây, do ít có điều kiện tiếp xúc với người Kinh, lại cư trú ở một khu vực đóng kín, nên người Mạ ít biết tiếng phổ thông, nhất là nữ giới và lứa tuổi 60 trở lên Nhưng trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, quê hương của người Mạ phần lớn là vùng căn cứ địa cách mạng, một số nơi khác là vùng tạm bị chiếm nên việc tiếp xúc với người Kinh được thường xuyên hơn, ngày càng mở rộng và trở thành một nhu cầu trong cuộc sống Cho đến nay, đa số người Mạ đã biết tiếng phổ thông và chữ quốc ngữ Qua hơn 20 năm sau ngày giải phóng, nhiều người Mạ đã sử dụng tiếng phổ thông và chữ quốc ngữ một cách thuần thục hơn trước, nhất là giới trẻ
Trang 12- Dấu phụ (') : ngăn cách đối với một số tổ hợp phụ âm
- Dấu phụ (˜) : đặc trưng ngắn của nguyên âm
1.1.3 Về dân số và địa bàn cư trú
Hiện nay, người Mạ sinh sống chủ yếu và chiếm số lượng đông đảo tại tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đồng Nai Theo báo cáo chính thức tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 (tóm tắt) của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương, dân số
Mạ ở Việt Nam hiện nay là có 41.405 người trong đó, nữ là 21.316 người, nam là 20.087 người Cư trú tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Mạ cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng (31.869 người, chiếm 77,0% tổng số người Mạ tại Việt Nam), Đắk Nông (6.456 người), Đồng Nai (2.436 người), Bình Phước (432 người), thành phố Hồ Chí Minh (72 người)
Về các nhóm địa phương phân bố như sau:
- Mạ Ngăn, được quan niệm là người Mạ chính tông Trung tâm cư trú của họ là lưu vực sông Đạ Đơng, ở về phía Bắc và phía Tây thị trấn Blao, chỉ yếu tại các xã: Lộc Bắc, Lộc Trung và Lộc Lâm thuộc huyện Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng
- Mạ Tô phân bố ở thượng lưu sông La Ngà (Đạ Rnga), nằm trên cao nguyên Bảo Lộc, gần gũi với người Cơ Ho hơn cả
- Mạ Krung, là nhóm người Mạ ở vùng bình sơn nguyên Họ có địa bàn cư trú từ Tây - Nam Bảo Lộc đến huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
- Mạ Xốp, là nhóm người Mạ sống ở vùng đất phiến (xốp có nghĩa là đất phiến) thuộc địa phận các xã Lộc Bắc, một phần của xã Lộc Trung huyện Bảo Lộc
Trang 131.1.4 Về văn hóa - xã hội
Đơn vị tổ chức xã hội cao nhất của người Mạ là bon, mỗi bon có các thôn Đứng đầu bon là già làng Già làng là hiện thân của truyền thống và là yếu tố tinh thần đem lại sự thống nhất trong bon
Nhà cửa: nhà sàn là kiến trúc chính, tuy nhiên qua quá trình giao thoa văn hóa xã hội giữa các dân tộc nên nhà sàn còn rất ít và được thay thế bằng nhà trệt
Chế độ hôn nhân của người Mạ là một vợ, một chồng, theo chế độ phụ hệ Khi con trai đến tuổi trưởng thành (khoảng 15- 17 tuổi), cảm mến cô gái nào thì báo cáo cha mẹ để tìm người mai mối Người Mạ quan niệm, khi người con gái đi lấy chồng, nhà gái mất đi một lao động, nên sính lễ được đòi hỏi khá nhiều để đền bù sự mất mát
đó Người con trai muốn đính hôn với một người con gái thì phải biếu bố mẹ vợ tương lai nhiều món quà quí, thường là một ché rượu, một con gà, một số tặng phẩm như chuỗi hạt đeo cổ, lục lạc, lược sừng và một số đồ trang sức nhỏ khác theo ý thích của người vợ tương lai
Tục ma chay: Ở đồng bào Mạ, khi nhà có người chết, cả buôn đều bị ảnh hưởng Đồng bào đến nhà có người chết, thăm viếng và giúp đỡ công việc Sau khi chôn cất thì bảy ngày kế tiếp là những ngày kiêng cữ không đi làm rẫy Hết bảy ngày đồng bào lại giết một con gà, nấu nước sôi, lấy lá Suarning, làm lễ rửa một lần nữa Không có
sự phân biệt trong đám tang giữa chủ làng với người thường, ai chết, dân làng đều lo như nhau
Kho tàng văn học dân gian Mạ gồm nhiều truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại độc đáo Nhạc cụ có bộ chiêng, đồng, trống, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ gắn vào trái bầu khô
Trang phục: Tóc dài búi sau gáy, nam ở trần đống khố, nữ mặc váy Nam nữ thường thích mang vòng đồng hồ ở cổ tay có những ngấn khắc chìm - ký hiệu các lễ hiến sinh tế thần cầu mát cho chủ nhân nó Nam nữ đều đeo hoa tai cỡ lớn bằng đồng,
gà voi, gỗ; cổ đeo hạt cườm Phụ nữ còn mang vòng chân đồng nhiều vòng xoắn Vấn đề tôn giáo - tín ngưỡng: chủ yếu là Đạo Tin lành, ngoài ra còn có Đạo Thiên Chúa
Lễ hội chính và quan trọng tại địa phương: có các lễ hội chính như:
- Lễ hội đâm trâu vào tháng 8 và 10 hàng năm
Trang 14- Lễ hội thu mùa vào tháng 11 và 12 hàng năm
1.2 Về loại từ và loại từ trong tiếng Việt
1.2.1 Định nghĩa loại từ
Có không ít cách định nghĩa khái niệm về“loại từ”, vì bản chất phức tạp của loại
từ và vì mỗi ngôn ngữ có những cách thức biểu hiện khác nhau Cho đến nay vẫn chưa
có được một định nghĩa loại từ có khả năng dung nạp đầy đủ mọi đặc điểm của loại từ Cùng điểm qua một số khái niệm của các nhà ngôn ngữ học để biết rõ thêm tình hình định nghĩa này
Đứng trên phương diện ý nghĩa, đặc điểm, khả năng xuất hiện trong hệ thống từ
loại tiếng Việt thì :Theo Nguyễn Tài Cẩn loại từ:“đây là một nhóm không có ý nghĩa
từ vựng rõ ràng và chuyên dùng để phục vụ việc đếm từng cá thể, thành từng đơn vị tự nhiên của sự vật cũng như phục vụ việc phân chia sự vật vào các loại”.Về đặc điểm ngữ pháp thì theo ông “loại từ là một từ có đủ tư cách để làm công cụ dạng thức hóa danh từ, giúp danh từ diễn đạt một phạm trù ngữ pháp nào đấy”
Tương tự Nguyễn Kim Thản cũng khái quát“phó danh từ là những từ chỉ đơn vị
tự nhiên của sự vật, phục vụ cho danh từ để cá thể hóa sự vật và có khả năng kết hợp như danh từ’’
Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung đưa ra khái niệm: danh từ chỉ loại là
“những danh từ nào mang ý nghĩa chỉ loại đồng thời gợi lên hình dạng rời của sự vật”
Còn Lưu Vân Lăng thì nhận định “loại từ là từ xác định rõ chủng loại và đợn vị cho danh từ đặt ngay sau nó”
Trần Trọng Kim và các tác giả khác trong Việt Nam Văn Phạm cho rằng “loại tự
là là tiếng đứng trước danh tự để chỉ định tiếng danh tự ấy thuộc về loại nào”
Hiện nay, có hai hướng quan niệm khác nhau về loại từ : Một, xem nó là một từ tồn tại độc lập bên cạnh những từ loại khác; về bản chất, loại từ là hư tư chuyên đảm đương chức năng phụ trợ cho danh từ Hai, không coi đây là một từ độc lập, loại từ,
mà là một tiểu loại của danh từ, loại từ thực chất chỉ là sự thể hiện một chức năng ngữ nghĩa học Quả là trong danh ngữ có loại từ, qua loại từ ta có thể nhận biết được phần nào danh từ đi sau nó thuộc loại nào (động vật hay bất động vật)
Trang 15Như vậy, nhìn chung có nhiều hướng định nghĩa và có nhiều cách trình bày khác nhau, nhưng nhìn chung thì tư cách danh từ của loại từ ngày càng được nhiều người thừa nhận Trong niên luận này, chúng tôi đứng ở cách nhìn số đông trên là xếp loại từ vào nhóm tiểu loại nhỏ của danh từ để từ đó tiến hành phân tích và so sánh
1.2.2 Phân loại loại từ
Về việc phân loại loại từ có nhiều cách phân loại khác nhau giữa các nhà ngôn ngữ học:
- Theo Nguyễn Tài Cẩn việc phân loại loại từ:
Dựa vào tần số xuất hiện của mỗi từ
Dựa vào tính chất chuyên dùng hay lâm thời của chúng
Dựa vào khả năng kết hợp trước các nhóm danh từ chính
1 Trước nhóm danh từ chỉ động vật, thực vật: con;…
2 Trước nhóm danh từ chỉ người: đứa, tên, vị, …
3 Trước nhóm danh từ chỉ đồ đạc và khái niệm trừu tượng: chiếc, cái, bức, hòn…
- Kiểu xác định của các nhà ngôn ngữ học Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung thì:
Dựa vào đặc điểm, tính chất của loại từ tương ứng với những danh từ đi sau chúng:
1 Loại đi với danh từ chỉ vật thể
2 Loại từ đi với danh từ chỉ chất thể
3 Loại từ đi với danh từ chỉ hiện tượng thời tiết
4 Loại từ là những từ dùng theo phép chuyển nghĩa
5 Từ vốn có ý nghĩa chỉ loại chung
- Bên cạnh đó Hồ Lê, ông bổ sung vào cách xác định loại từ như sau:
1 Chỉ cá thể tự nhiên của động vật
2 Chỉ cá thể tự nhiên của thực vật
3 Chỉ cá thể tự nhiên của đồ dùng, bộ phận cơ thể và phương tiện
4 Chỉ cá thể tự nhiên của thực thể, chất liệu trong thiên nhiên
Trang 165 Chỉ cách xưng gọi trong xã hội
6 Chỉ đơn vị đo lường ( chính xác, ước lượng)
7 Chỉ loại
- Còn Trần Trọng Kim các loại từ được phân ra thành:
1 Loại từ chỉ loài chung: con, cái;
2 Loại từ chỉ loài riêng: bức, quyển, thằng, đứa, vị, đức,…
Song ý kiến của chúng tôi, việc phân loại loại từ trong tiếng Việt phải còn căn cứ vào đặc điểm, tính chất của cùng một nhóm danh từ đứng sau kết hợp trực tiếp với loại từ, có thể chia chúng thành ba nhóm sau:
Trang 17CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG CÁC NHÓM LOẠI TỪ TRONG TIẾNG MẠ
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT )
Trong tiếng Mạ có một lớp từ đặc biệt được gọi là loại từ, dùng để biểu thị cá thể
sự vật (đơn vị tự nhiên) và có tác dụng phân loại sự vật Loại từ tiếng Mạ có thể được phân thành các nhóm: chỉ người, chỉ động vật, chỉ thực vật và chỉ đồ vật Các đặc trưng vừa nêu cũng thường được sử dụng làm tiêu chí để phân loại nội bộ các sự vật,
đồ vật Và trong niên luận này, chúng tôi chỉ trình bày một số trường hợp xuất hiện loại từ trong tiếng Mạ Do diện hoạt động hẹp nên có khá nhiều loại từ trong tiếng Việt mà trong tiếng Mạ không thấy xuất hiện
2.1 Nhóm loại từ chỉ động vật
- Danh từ chỉ động vật:
Trong tiếng Mạ, loại từcon có nghĩa làkon
Ví dụ:
- Một số trường hợp con xuất hiện trong con thuyền, con sông, con đường… thì
như thế nào? Qua sự quan sát của chúng tôi thì thấy các loại từ này lúc này mất đi
Ví dụ:
Trong tiếng Việt, loại từ con có tần số xuất hiện rất cao Nó mang ý nghĩa
chỉ chủng loại động vật và kết hợp với bất kỳ danh từ chỉ động vật nào đứng sau nó
như: con gà, con chó, con vịt, con heo… Bên cạnh đó, con không mang ý nghĩa rõ
ràng, cụ thể như những danh từ chỉ động vật nhưng nó chứa đựng khái niệm có tính
khái quát về một chủng loại động vật Nhắc đến từ con người ta có thể liên tưởng