1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU LỚP TỪ HƯ TRONG GIA ĐỊNH BÁO (1884 – 1885)

96 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Niên luận: TÌM HIỂU LỚP TỪ HƯ TRONG GIA ĐỊNH BÁO (1884 – 1885) 2.1.1. Các hư từ làm thành tố phụ cho đoản ngữ 2.1.2. Các hư từ không làm thành tố phụ cho đoản ngữ 2.1.3. Các hư từ nằm ngoài đoản ngữ 3.2. Tác dụng của hư từ trong mục Công vụ: 49 3.3. Tác dụng của hư từ trong mục Ngoài Công vụ 50 3.4. Tác dụng của hư từ trong mục Thứ Vụ 51 3.5. Tác dụng của hư từ trong mục Lời rao 52

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

NIÊN LUẬN CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MSSV: 1256020027

TP.HCM, ngày 22 tháng 06 năm 2015

Trang 2

1

MỤC LỤC

PHẦN 1: DẪN NHẬP 3

I Lý do chọn đề tài : 3

II Lịch sử nghiên cứu 4

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 8

IV Phương pháp nghiên cứu: 9

V Mục đích nghiên cứu: 9

VI Nhiệm vụ nghiên cứu: 9

VII Ý nghĩa đề tài: 10

VIII Bố cục của đề tài 10

PHẦN 2: NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG QUAN 12

I Tổng quan về Gia Định Báo 12

1 Xuất xứ 12

2 Giám đốc và chủ bút của tờ Gia Định Báo 13

2.1 Trương Vĩnh Ký 13

2.2 Chủ bút Huỳnh Tịnh Của 14

3 Nội dung của Gia Định Báo 15

4 Hình thức trình bày Gia Định Báo 16

5 Đặc điểm ngôn ngữ Gia Định Báo 17

5.1 Về từ vựng 17

5.2 Về ngữ pháp 18

II Tổng quan về hư từ 18

1 Lý thuyết về lớp từ hư 18

Trang 3

2

1.1 Vấn đề phân định từ loại tiếng Việt 18

1.2 Tóm tắt lý thuyết từ hư 24

CHƯƠNG 2: CÁC LỚP TỪ HƯ TRONG GIA ĐỊNH BÁO 29

2.1 Về mặt ngữ pháp 29

2.1.1 Các hư từ làm thành tố phụ cho đoản ngữ: 29

2.1.2 Các hư từ không làm thành tố phụ cho đoản ngữ 35

2.1.3 Các hư từ nằm ngoài đoản ngữ: 42

CHƯƠNG 3: TỔNG KẾT SỐ LIỆU VÀ TÁC DỤNG CỦA HƯ TỪ TRONG GIA ĐỊNH BÁO 43

3.1 Tổng kết số liệu: 43

3.2 Tác dụng của hư từ trong mục Công vụ: 49

3.3 Tác dụng của hư từ trong mục Ngoài Công vụ 50

3.4 Tác dụng của hư từ trong mục Thứ Vụ 51

3.5 Tác dụng của hư từ trong mục Lời rao 52

PHẦN 3: KẾT LUẬN 54

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

PHỤ LỤC 58

Trang 4

Năm 2015, ngành báo chí Việt Nam cũng như bộ Văn hóa kỉ niệm 150 năm ra đời Gia Định Báo – tờ báo Việt ngữ đầu tiên của nước ta, một điểm mốc khởi thủy của nền báo chí Việt Nam Vì là tờ báo giữ vai trò quảng bá chữ Quốc ngữ trong giai đoạn đầu của đất nước nên ngôn ngữ trong Gia Định Báo được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu

Bên cạnh đó, việc phân định vốn từ của một ngôn ngữ ra hai mảng lớn: thực

từ và hư từ vô cùng phổ biến trong nhiều ngôn ngữ, dù là ngôn ngữ thuộc loại hình tổng hợp tính hay loại hình phân tích tính Đối với một ngôn ngữ thuộc loại hình phân tích tính như Tiếng Việt thì hư từ có một tầm quan trọng đặc biệt Phần lớn các phạm trù ngữ pháp đều được thể hiện thông qua ý nghĩa và chức năng của hư

từ Các quan hệ ngữ pháp nói riêng giữa từ với từ, giữa câu với câu, và nói chung

Trang 5

xã hội đương thời Bên cạnh đó, Gia Định Báo là nền móng vững chắc của chữ viết, văn xuôi Quốc ngữ thời gian sau, là tiền đề tất yếu thúc đẩy quá trình canh tân, phát triển nền báo chí – văn học dân tộc giai đoạn 1932 – 1945 Gia Định Báo

là một nét vàng son trong dòng lịch sử, vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu về Gia Định Báo và những vấn đề liên quan vừa là nhu cầu đồng thời cũng là thách thức với những ai muốn đào sâu suy xét mọi mặt của tờ báo này

II Lịch sử nghiên cứu

1 Gia Định Báo

1.1 Nguyên nhân ra đời và lịch sử ra đời Gia Định Báo

Trong quá trình xâm lược Việt Nam, chính quyền Pháp muốn dùng báo chí

để phổ biến nền văn minh của họ và nhờ vào phương tiện hữu hiệu này họ có thể lưu ý và phô trương những thay đổi mới mẻ mà chính quyền mới đang đem đến và làm thay đổi tất cả hệ thống hành chính cổ truyền Việt Nam Việc phô trương này nhằm vào các thành phần trí thưc người bản xứ

Theo Lê Minh Quốc trong “ Hỏi đáp Báo chí Việt Nam” thì so với nhiều

quốc gia trên thế giới, báo chí ở nước ta ra đời muộn hơn Tờ báo đầu tiên xuất

hiện tại Việt Nam là tờ Le Bulletin Officiel de L’expe’dition de la Cochinchine

( Nam Kỳ Viễn chinh Công báo), bằng tiếng Pháp, số đầu tiên ra ngày 29/09/1861 tại Sài Gòn, do thống đốc Nam Kỳ cho xuất bản, phát hành hàng tuần, đến năm

1888 thì đình bản Tờ báo này tất nhiên là viết bằng tiếng Pháp và chỉ đăng những

Trang 6

5

nghị định, công văn của chính phủ Trong quá trình xâm lược nước ta, thực dân cũng dự định ra tờ báo viết bằng chữ Quốc ngữ để tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân Nhưng ý định này chỉ thực hiện được sau khi có dấu đúc ở Pháp gửi sang Sự kiện này được đánh dấu bằng sự ra đời của tờ Gia Định Báo, số đầu tiên

ra ngày 15 tháng 4 năm 1865, do ông Ec- Nét- Pốt- tô ( Ernest Potteau) - một người Pháp làm Chánh tổng tài ( như là giám đốc hoặc chủ nhiệm hiện nay) chịu trách nhiệm xuất bản và phát hành [3,14]

1 2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Gia Định Báo:

Theo nhiều tác giả đã đề cập trong “ Gia Định Báo tờ Việt ngữ đầu tiên”,

thì Báo Gia Định được đề cập lần đầu trong bài “Thử tìm hiểu long mạch của tờ

báo ta” của học giả Đào Trinh Nhất (1900-1951), chính bài viết đã gợi mở cảm

hứng cho những nghiên cứu sau này về báo chí Việt Nam, về Gia Định Báo

Từ năm 1954 đến nay, tại Việt Nam có hơn 30 công trình nghiên cứu, bài viết có đề cập tới tờ báo Việt ngữ đầu tiên – Gia Định Báo ở nhiều khía cạnh như:

“Lịch sử báo chí” của Lê Thái Bằng (1970), “Lịch sử báo chí Việt Nam từ thời

khởi thủy 1865 đến 1930” (1973) của Huỳnh Văn Tòng, “Lịch sử báo chí Việt Nam” của Nguyễn Việt Chước (1974), “Tìm hiểu báo chí Việt Nam” (1987), “120 năm lịch sử báo chí Việt Nam” (1990) của Hồng Chương, “Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới” (1992) của Bùi Đức Tịnh, “Lịch sử báo chí Việt

Nam 1865 – 1945” (2000) của Đỗ Quang Hưng, “Hỏi đáp báo chí Việt Nam”

(2001) của Lê Minh Quốc …

Nhìn ở mặt khác, Gia Định Báo được đề cập ở 9 loại công trình khác nhau,

đó là :

Sách giáo khoa về lịch sử báo chí mà các công trình của Huỳnh Văn Tòng, Hồng Chương vừa được nêu ở trên

Trang 7

6

Loại tài liệu tham khảo đánh máy như: “Gia Định Báo, tờ báo đầu tiên của

Việt Nam” (1965) của Phạm Việt Tuyền …

Sách nghiên cứu về văn học Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20

như : Tiến trình văn nghện miền Nam (1990) của Nguyễn Q Thắng, “Văn học

quốc ngữ ở Nam Kỳ” 1865 – 1930 (1992) của Bằng Giang, “Qúa trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 – 1945” (2000) do Mã Giang Lân chủ biên, “Văn học Việt Nam thế kỷ XX” (2004) do Phan Cư Đệ chủ biên ……

Các khóa luận tốt nghiệp của sinh viên và công trình nghiên cứu khoa học của giảng viên các chuyên ngành liên quan tới báo chí như : Lịch sử báo chí Việt Nam

giai đoạn 1865 – 1954 (2003) do Ngô Y Vân chủ nhiệm, “Gia Định Báo – sự hình

thành và phát triển” (2005) của Ưng Sơn Ca…

1.3 Tiến trình phát triển của Gia Định Báo:

Căn cứ vào “ Lịch sử báo chí Việt Nam từ thời khởi thủy 1865 đến 1930”

(1973) của Huỳnh Văn Tòng thì ngày 15 tháng 04 năm 1865, số đầu tiên của báo Gia Định được xuất bản Dưới quyền điều hành của Ernest Potteau, từ tháng 4 năm

1865 đến tháng 9 năm 1869, Gia Định Báo nặng về tính chất công báo với hai phần:

- Phần đăng các công văn nghị định, những tài liệu chính thức

- Phần tạp trở đăng những tin tức trong nước

Năm 1869, ông Trương Vĩnh Ký đảm nhiệm giám đốc Gia Định Báo thay cho Ernest Potteau theo nghị định của đô đốc Ohier ký ngày 16 tháng 09 năm 1869

Từ khi Trương Vĩnh Ký đảm nhiệm Giám đốc, nội dung của Gia Định Báo phong phú, sinh động hẳn lên Người ta còn tìm thấy những bài nghiên cứu về lịch

sử, thơ, chuyện cổ tích Ông khuyến khích và tạo điều kiện cho nhiều học giả tham gia viết báo

Trang 8

7

Tờ Gia Định Báo được in 4 trang, khổ 32 × 25 Trên đầu trang nhất, ba chữ Gia Định Báo được in bằng chữ Hán và bên dưới có ghi: “ Tờ báo này mỗi tháng Tây cứ ngày rằm in ra một lần ai muốn mua cả năm phải trả 6 góc tư” Sau đó được phát hành hai lần trong tháng và cuối cùng là mỗi tuần vào ngày thứ Ba, đặt mua mỗi năm 20 quan, 10 quan 6 tháng, 5 quan 3 tháng, “ ai muốn mua thì cứ đến dinh Quan Thượng Lại” Ngày 2/6/1900, ba chữ Hán không còn nữa và được thay

thế bằng những chữ Pháp “Repubique Frencaise, Libete- Egalite- Fraternite” Và

cũng trong dịp này, tiền mua báo được sửa lại bằng đồng bạc thay vì đồng quan Pháp: 1 năm tám đồng Trang thức tư cũng là trang cuối, thấy xuất hiện phần quảng cáo

Theo tác giả Triệu Thanh Lê trong bài viết “ Gia Định Báo trong tiến trình

báo chí Đông Nam Á” thì lời rao xuất bản báo Gia Định được đăng ngày 5/4/1865

trong số 7 tờ Courrie de Saigon đã dánh dấu sự ra đời của nền báo chí Việt Nam

Thời điểm ra đời của báo Gia Định cũng trong giai đoạn khởi đầu và phát triển của báo chí khu vực Đông Nam Á Đối với Việt Nam, Gia Định Báo đóng vai trò xây dựng nền tảng cho báo chí nước nhà và có công đầu trong việc khai sáng cũng như phát triển chữ Quốc ngữ Xét trong bối cảnh rộng hơn, bối cảnh khu vực Đông Nam Á, Gia Định Báo là một trong những tờ báo viết bằng ngôn ngữ bản xứ ra đời sớm nhất Nó có những nét tương đồng cũng như khác biệt với những tờ báo cùng thời trong khu vực, góp phần tạo nên diện mạo mới mẻ cũng như ghép một mảng lớn vào nội dung của báo chí Đông Nam Á ở thế kỷ XIX [ 5, 51]

Sự tồn tại của Gia Định Báo trong hơn 44 năm ( 15/4/1865- 31/12/1909) là cả một quá trình để tờ báo khẳng định tầm vóc cũng như phổ biến chữ Quốc ngữ đến với nhân dân Việc này càng được đẩy mạnh hơn trong thời gian Trương Vĩnh Ký làm Tổng tài Gia Định Báo

Trang 9

8

Trong giai đoạn 1882-1885, trong các số báo Gia Định đều có mục Thứ Vụ, chủ yếu đăng tải những bài học đối nhân xử thế thông qua các truyện ngụ ngôn và những kiến thức khoa học phổ thông

2 Lịch sử nghiên cứu hƣ từ:

Đã có không ít những công trình nghiên cứu về hư từ trong tiếng Việt Khác hẳn với thực từ, hư từ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ so với thực từ Tuy nhiên so với mảng thực từ thì hư từ vẫn đang là mảng “ gay cấn” gây nhiều tranh luận Đối với một ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt thì hư từ có một vai trò đặc biệt quan trọng Phần lớn các phạm trù ngữ pháp đều thể hiện thông qua ý nghĩa và chức năng của hư từ Có thể nói hầu hết những nhà nghiên cứu về tiếng Việt đều trực tiếp hay gián tiếp nói đến hư từ

Trong cuốn “Ngữ Pháp Tiếng Việt” của tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng

Văn Thung có đề cập một khía cạnh nhỏ của hư từ và cách sử dụng hư từ trong tiếng Việt

Nguyễn Anh Quế với quyển “ Hư từ trong tiếng Việt hiện đại” chủ yếu đề cập

đến cơ sở của việc phân định và phân loại hư từ đồng thời cũng mô tả chi tiết các

hư từ trên hai phương diện ngữ nghĩa và chức năng

“ Từ loại tiếng Việt hiện đại” của tác giả Lê Biên thì cho rằng vốn từ trong

tiếng Việt có thể phân chia thành hai mảng lớn: thực từ và hư từ Và ông đào sâu nghiên cứu vào hệ thống từ loại tiếng Việt

Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt, tiếng- từ ghép- đoản ngữ”

cũng đề cập đến hư từ và những yếu tố hình thành ngữ và đoản ngữ

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Hư từ trong tờ báo Việt ngữ đầu tiên của nước ta – Gia Định Báo

Trang 10

Đây là phương pháp cần thiết trước nhất để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống các hư từ trong Báo Gia Định, sau đó phân loại

4.2 Phương pháp phân tích miêu tả

Việc phân tích và miêu tả sẽ giúp chúng ta đi sâu vào đối tượng nghiên cứu, đưa ra những đặc trưng cơ bản của lớp từ hư trong tiếng Việt nói chung và trong Gia Định Báo nói riêng

4.3 Thủ pháp thống kê

Việc thống kê sẽ giúp chúng ta dễ dàng hơn trong tổng hợp cũng như đưa ra nhận xét về hư từ trong Gia Định Báo nói riêng và của tiếng Việt thời bấy giờ nói chung

V Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu đề tài này là đưa những kiến thức về lịch sử hình thành cũng như quá trình phát triển của Gia Định báo tới bạn đọc trẻ tuổi hiện nay Đồng thời làm rõ vấn đề hư từ trong tiếng Việt nói chung và trong Gia Định báo nói riêng để giúp chúng ta có cái nhìn khái quát nhất về nền báo chí nước nhà trong buổi đầu khởi thủy cũng như khẳng định tầm ảnh hưởng và tính thiết yếu của chữ Quốc ngữ trong xã hội bấy giờ

VI Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến báo Gia Định và vấn đề hư từ trong tiếng Việt để từ đó làm rõ các lớp từ hư trong báo Gia Định

Trang 11

10

Tiến hành phân tích và đưa ra những ý kiến thực tiễn, có cơ sở khoa học làm nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài

VII Ý nghĩa đề tài:

Niên luận này cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về buổi đầu của báo chí Quốc ngữ trong không gian văn hóa Nam Bộ, qua đó làm sáng tỏ những tác động của yếu tố xã hội bấy giờ lên từng trang báo, sự hình thành và phát triển báo chí cũng như những đóng góp tích cực của báo chí đối với sự phát triển của văn hóa Nam

Bộ nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung Đồng thời cung cấp những thông tin thiết yếu về ngữ pháp tiếng Việt thời buổi sơ khai, xoay quanh vấn đề hư từ

VIII Bố cục của đề tài

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận thì niên luận có bố cục gồm 3 chương :

Chương 1 Một số vấn đề tổng quan

Chương này nhằm giới thiệu những vấn đề nền tảng, làm cơ sở lý luận cần thiết, phục vụ cho niên luận như sự ra đời và phát triển của Gia Định Báo, những khái niệm và phạm trù liên quan đến hư từ

Chương 2: Các lớp từ hư trong Gia Định Báo trong năm 1884- 1885

Ở chương này, tôi đi sâu vào tìm hiểu lý thuyết hư từ trong ngữ pháp tiếng Việt và phân loại nghiên cứu quan điểm nhất định về hư từ, đồng thời khảo sát thực tế trên Gia Định Báo để đưa ra những kết luận cụ thể nhất

Chương 3: Những tác dụng cơ bản và đóng góp của hư từ trong Gia Định Báo

Từ những kết luận của chương 2, chương cuối cùng này tôi rút ra những đóng góp nhất định của hư từ trong Gia Định Báo và từ đó đưa ra quan điểm của mình

về những tác dụng mà hư từ mang lại cho tờ báo này

Trang 12

11 Phần dẫn nhập này là cơ sở nền tảng ban đầu để đi sâu triển khai làm rõ đề tài, đưa ra những nhận xét, kết luận đúng đắn nhất về đối tượng được nghiên cứu

Trang 13

12

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG QUAN

1 Xuất xứ

Có nhiều giả thuyết khi đề cập đến nguồn gốc của tờ Gia Định Báo

Theo nhà sách Nguyễn Khánh Đàm [ l0, 23], thì trong khi Đô đốc Bonard cho

ra tờ Bulletin Official de l’Expedition de la Cochinchine và tờ Le Bulletin De

Communes bằng chữ Hán, cũng cố gắng giúp đỡ cho ra một tờ bằng tiếng Việt

Muốn làm công việc trên, Đô đốc Bonard đã đặt làm những chữ in ở tận bên Pháp

để có thể in được chữ Quốc ngữ Công việc trên phải mất đến hai năm, nghĩa là hoàn tất vào tháng Giêng năm 1864

Lê Ngọc Trụ đã tìm đọc những tờ công báo năm 1865 để biết rõ hơn nghị định ngày 1 tháng 4 năm 1865 mà nhà xuất bản Nguyễn Khánh Đàm vừa nói ở trên, nhưng không tìm thấy Và Vương Hồng Sển trong quyển Sài Gòn năm xưa cũng cho rằng tờ Gia Định Báo được phát hành năm 1865

Theo những lần nghiên cứu ở Thư viện trường Ngôn ngữ Đông Phương

( L’Ecole Nationale dé Langues Orientales Vivantes) tại Paris, Huỳnh Văn Tòng

đã tìm ra được số báo cũ nhất của tờ Gia Định Báo phát hành ngày 15/09/1865, số

4 phát hành ngày 15 mỗi tháng Từ đó, chúng ta có thể suy ra rằng số thứ nhất của

tờ Gia Định Báo được ra đời ngày 15 tháng 4 năm 1865 Từ sự kiện này ta có thể xác nhận rằng quyền cho phát hành tờ Gia Định Báo đã được chính phủ cấp cho ông Ernest Potteau ngày 1 tháng 4 năm 1865 và tờ đầu tiên ra đời này 15 tháng 4 năm 1865

Giả thuyết trên đây đã được công nhận bởi một bức thư của ông G Roze, Thống đốc chỉ huy trưởng Nam Kỳ gửi cho Tổng trưởng Hải Quan và thuộc địa

Trang 14

13

Pháp ngày 9 tháng 5 năm 1865 Trong bức thư này, ông ta có ghi rõ: “ Số đầu tiên

của tờ Gia Định Báo được in bằng chữ Annam, theo mẫu tự La tinh, phát hành vào ngày 15 tháng 4 vừa qua ” [3, 59]

Để kết luận về nguồn gốc của tờ Gia Định Báo chúng ta có thể xác nhận một cách chắc chắn rằng đầu tiên chính ông E Potteau được giao cho quyền phát hành

tờ báo này ngày 1 tháng 4 năm 1865 cho đến ngày 16 tháng 9 năm 1869 một nghị định khác của Đô đốc Ohier giao cho ông Trương Vĩnh Ký đảm nhận tờ báo trên Tác giả Khổng Xuân Thu còn cho biết thêm rằng ông Trương Vĩnh Ký, trong khi làm công việc trên, được thù lao mỗi năm 3.000 quan ( theo quyết định ngày

16/09/1869) Và bà Đoàn Thị Đỗ trong quyển Báo chí ở Việt Nam từ 1865 đến

1955, thì chính ông Huỳnh Tịnh Của đã được giao phó chức vụ chủ bút của tờ Gia

là Tám ( là người đã từng hàm ơn Chánh Thi che chở trước) ghé thăm, thấy gia đình nghèo bèn xin nuôi và dạy giùm Từ đó Vĩnh Ký theo cụ Tám, rồi theo cố Long ( nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cho rằng cố Long là Bouillevaux, một linh mục thuộc dòng Thừa sai ở Paris, một nhà bác học nổi tiếng người Pháp, người có công phát hiện Đế Thiên Đế Thích, là tác giả những quyển sách viết về Việt Nam được giải thưởng của Pháp và quốc tế công nhận ) Điều đó cho thấy thêm bên cạnh những đặc điểm về nguồn gốc gia đình, Trương Vĩnh Ký ( gốc người Minh Hương) vốn thông minh bẩm sinh đã được chuẩn bị rất kĩ từ người

Trang 15

14

thầy bác học uyên thâm ngay từ thời trẻ Nam 11 tuổi, ông được gởi đi học tại trường đạo Pinhalu ở Cao Miên, nơi tụ tập học trò nhiều xứ ( Miên, Xiêm, Lào, Trung Quốc) mà sự tiếp xúc đã làm phát sinh nơi ông cái khuynh hướng bác ngữ sau này Học rất xuất sắc nên sau đó ông được gửi đi học ở viện tối cao cho Á Đông khi đó đặt ở đảo Penang ( ngoài khơi Ấn Độ Dương, do người Anh cai trị) Năm 1872, ông được phong chức Huyện hạng nhứt, thư ký hội đồng thành phố Chợ Lớn, năm 1873 làm giáo sư trường Hậu Bổ dạy Việt văn và Hán văn, viết sách Năm 18876, ông được biệt phái ra Bắc Kỳ nghiên cứu tình hình chính trị

( viết tập hồi ký Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi) Ông được cử vào Hội Đồng thành

phố Sài Gòn (là hội viên duy nhất và đầu tiên là người Việt Nam), Hội đồng học chánh thuộc địa và trở lại công việc viết sách

Có thể nói, Trương Vĩnh Ký là trí thức đầu tiên ở Việt Nam được biết đến bởi tầm học cao và vốn hiểu biết sâu rộng Khả năng ngoại ngữ của ông thật đáng trân trọng mặc dù ông chỉ tự học [ 11, 4]

2.2 Chủ bút Huỳnh Tịnh Của

Huỳnh Tịnh Của (1834- 1907) Ông rất tinh thông cả hai nền Hán học và Tây học Năm 1861, ông được cử giữ chức vụ Đốc phủ sứ và giám đốc phòng phiên dịch tư pháp của chính phủ Chính ông đã đề nghị dùng chữ Quốc ngữ thay chữ Hán Trong một bài điều trần gửi vua Tự Đức, ông đã yêu cầu nhà vua cho xuất bản báo chí bằng chữ Quốc ngữ để giáo dục quần chúng nhưng ông bị thất bại trong công việc này Ông là một trong những người Việt Nam đầu tiên có sáng kiến thành lập ra nền báo chí Việt Nam Văn của ông rất giản dị bà bình dân Ngoài công việc của một nhà báo, Huỳnh Tịnh Của còn là người đầu tiên soạn

ra một quyên tự vị để chỉ rõ nghĩa và cáhc viết chữ Quốc ngữ trong tình trạng còn phôi thai Đây là một tài liệu rất quý và được xem như một cuốn sách có căn bản vững chắc để cho các nhà văn Việt Nam lúc bấy giờ dùng để viết cho đúng và

Trang 16

15

chính nó cũng đã giữ một vai trò rất quan trọng trong văn học sử cận đại và trong việc xuất hiện nền báo chí nước nhà [ 3,74]

3 Nội dung của Gia Định Báo

Có thể nói rằng, Gia Định Báo là một nhân chứng lịch sử tiêu biểu, ghi lại toàn

bộ bối cảnh xã hội Việt Nam kể từ ngày ra đời Gia Định Báo thời bấy giờ quan tâm hàng đầu đến những vấn đề liên quan đến chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng đất Nam Kỳ Thông tin kinh tế Nam Kỳ thuộc địa thời bấy giờ thể hiện

rõ nhất trong mục Công vụ, là mục quan trọng nhất của tờ báo, nơi đăng những nghị định, lời dụ của chính quyền hay biên bản những buổi hơp nhóm Hội đồng quản hạt Bên cạnh đó là Ngoài công vụ và Quảng cáo ở Thứ vụ

Theo Phạm Việt Tuyền, Gia Định Báo gồm có bốn mục chính: Công vụ, Ngoài Công vụ, Thứ vụ và Quảng cáo

* Mục Công vụ:

Thời gian đầu, Gia Định Báo là một tờ công báo đúng nghĩa vì chỉ có phần

công vụ Nói cách khác, nó là ấn bản Quốc ngữ của tờ Courrier de Saigon, tờ công

báo của Soái phủ Nam Kỳ ấn hành từ năm 1864 So sánh nội dung hai tờ này không có gì khác biệt, ngoài chữ viết và khổ báo Từ khi Trương Vĩnh Ký làm chủ bút, phần Tạp vụ đã làm tăng giá trị của Gia Định Báo và đánh dấu sự chuyển mình của tờ báo vốn được khai sinh từ chủ đích chính trị của thực dân Pháp.[5, 51]Mục Công vụ bao gồm những văn thư, quyết định của nhà cầm quyền Sau này, còn có nhóm Hội đồng quản hạt với nhiều thông tin thú vị Đó là biên bản chi tiết các cuộc họp của Hội đồng quản hạt ( Hội đồng thuộc địa) để bàn bạc giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội cấp bách đang diễn ra tại Nam Kỳ bấy giờ

Bên cạnh đó, còn có những lời châu nghị Nó được tách thành một nội dung riền để giới thiệu trong Công vụ Đây là những lá thư- chỉ thị của Quan tổng thống hay Quan quyền Thống đốc Nam Kỳ gửi cho quan lại ở các địa phương

Trang 17

16

* Mục Ngoài Công vụ:

Mục này đăng lời rao, các thông tin buôn bán, nhượng quyền từ Nhà nước đến nhân dân Chiếm một diện tích không lớn bằng mục Công vụ trên toàn bộ mặt báo Bên cạnh đó, mục này còn thông tin cho nhân dân về các loại hàng hóa được chở tới Chợ Lớn, chỉ rõ ràng số ghe, số tạ, số mặt hàng Hơn nữa, ở cuối mục Ngoài công vụ này, chính quyền còn cho biết giá gạo mỗi loại và ở từng địa phương trong vùng Nam Kỳ

* Mục thứ vụ:

Mục cung cấp các thông tin “ mềm”, nằm liền sau mục Ngoài Công vụ và trước phần quảng cáo, chiếm khoảng một trang hoặc nửa trang Ngoài thể loại truyện và biên khảo, chuyên mục Thứ vụ còn có một số bài thuộc các thể loại như: Lời ngạn ngữ phương Tây, truyện cười ( số 22/8/1885)

* Mục quảng cáo:

Chuyên đăng những bài quảng cáo về những của hàng, mặt hàng, thuốc men ở Nam Kỳ thời bấy giờ, chiếm khoảng một trang giấy, chia ra nhiều tin bài và mỗi

tin bài đều có tiêu đề và số thứ tự

4 Hình thức trình bày Gia Định Báo

Theo những số báo đang khảo sát, thì tờ Gia Định Báo được in 4 trang, khổ 32

× 25 Trên đầu trang nhất, có ba câu nằm trên cùng môt dòng, phân ra đều đặn Đầu tiên là câu chỉ ngày tháng năm xuất bản báo thời bấy giờ tính theo lịch ta ( ví dụ: Năm Quý Mùi ngày mồng 8 tháng Chạp) Tiếp theo, ở ngay chính giữa là câu chỉ số năm mà báo Gia Định đã tồn tại - số báo ( ví dụ: năm thứ 20- số thứ 1) Cuối cùng năm ở góc phải là câu chỉ ngày tháng năm thời bấy giờ tính theo lịch Tây ( ví dụ: Ngày thứ 7, mùng 3 janvier, 1884)

Ba chữ Gia Định Báo được viết với khổ khá to và bằng chữ Quốc ngữ Tờ báo

được chia ra làm hai cột đều nhau Cột thứ nhất in ngày phát nhựt trình ( mỗi một

Trang 18

17

tháng in ra 4 lần, cứ mỗi ngày thứ 3 trong tuần lễ thì phát) Cột thứ hai in giá mua

nhựt trình (Ai muốn mua thì tới dinh quan Lại bộ thượng thơ tại Sài Gòn cho

người ta biên tên, mua trót năm thì giá 4 đồng bạc, mua 6 tháng thì 2 đồng bạc,

mà mua ba tháng thì 1 đồng bạc)

Các tin bài trong Gia Định Báo được phân tách với nhau bằng cách xuống dòng Một tin thường được viết liên tục, nhưng cũng có khi trong một tin cũng có xuống dòng Về phương diện hình thức, chúng ta thấy rằng những bài báo được in chen chúc và nối tiếp nhau trên những cột báo dài và không chú trọng gì đến kỹ thuật trình bày những trang báo cho đẹp như lối trình bàu của báo chí ngày nay Đối với Việt Nam, Gia Định Báo đóng vai trò xây dựng nền tảng cho báo chí nước nhà và có công đầu trong việc khai sáng cũng như phát triển chũ Quốc ngữ Xét trong bối cảnh rộng hơn, bối cảnh khu vực Đông Nam Á, Gia Định Báo là một trong những tờ báo viết bằng ngôn ngữ bản xứ ra đời sớm nhất Nó có những nét tương đồng cũng như khác biệt với những tờ báo cùng thời trong khu vực, góp phần tạo nên diện mạo mới mẻ cũng như ghép một mảng lớn vào nội dung của báo chí Đông Nam Á ở thế kỷ XIX [ 5, 58]

5 Đặc điểm ngôn ngữ Gia Định Báo

5.1 Về từ vựng

Theo Nguyễn Đức Dân, Gia Định Báo lúc bấy giờ mắc khá nhiều lỗi liên quan đến phát âm của người Nam Bộ Đó là những lỗi về thanh điệu, phụ âm cuối và phụ âm đầu, chẳng hạn lẫn lộn hai dấu hỏi và ngã, lẫn lộn các phụ âm cuối [5,155]

Biến thể phát âm thường gặp trong Gia Định Báo

Ví dụ:

Lại bộ thượng thư => Lại bộ thượng thơ

Đàn ông => đờn ông

Trang 19

Gia Định Báo thời bấy giờ cũng sử dụng từ Hán Việt, dùng pha cả từ Hán Việt

và từ thuần Việt để tạo các thuật ngữ mới Ví dụ như: “nước thán khí” ( nước chứa

CO2)

5.2 Về ngữ pháp

Sử dụng những lối nói đặc thù, đồng thời cũng có dùng liên từ, giới từ tuy nhiên chưa được rạch ròi, có nhiều lẫn lộn và dư thừa Nhiều dấu vết từ ngữ và cách diễn đạt trong tiếng Pháp còn để lại trong cách viết, nhất là cách dùng liên từ, giới từ và trợ từ

II Tổng quan về hư từ

1 Lý thuyết về lớp từ hƣ

1.1 Vấn đề phân định từ loại tiếng Việt

Theo tác giả Nguyễn Hồng Cổn trong “Tạp chí ngôn ngữ số 2, năm 2003”, có

rất nhiều công trình nghiên cứu Việt ngữ học đề cập đến vấn đề phân định từ loại tiếng Việt Trong đó, một số học giả cho rằng tiếng Việt cơ cấu theo một lối khác hẳn với với các ngôn ngữ phương Tây nên không có từ loại, cho nên họ phủ nhận phạm trù từ loại trong tiếng Việt Một số khác lại thừa nhận rằng trong tiếng Việt

có phạm trù từ loại, mặc dù tiêu chí và kết quả phân định từ loại của họ không hoàn toàn giống nhau Nguyễn Hồng Cổn đưa ra ba tiêu chuẩn phân loại thuộc ba quan điểm khác nhau của các nhà Việt ngữ học sau đây:

1.1.1 Phân định từ loại dựa vào tiêu chuẩn ý nghĩa:

Trang 20

19

Các tác giả như Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân chủ trương phân định từ loại tiếng Việt dựa vào tiêu chuẩn ý nghĩa Theo quan điểm này, hệ thống từ loại tiếng Việt được phân chia thành hai nhánh lớn : thực từ ( biểu hiện nghĩa từ vựng) - hư từ ( biểu hiện nghĩa ngữ pháp)

Theo nhận xét của Nguyễn Kim Thản, Đái Xuân Ninh và Đinh Văn Đức, hướng phân định này tuy cho thấy sự đối lập căn bản của hệ thống từ loại tiếng Việt nhưng không có tiêu chí rõ ràng phân biệt ý nghĩa từ vựng với ý nghĩa ngữ pháp, chỉ xác định ý nghĩa từ vựng về ba phạm trù khái quát là “sự vật”, “hành động”, “tính chất”

Cũng theo đó, Nguyễn Hồng Cổn cho rằng đa số các tác giả theo quan điểm truyền thống, chỉ giới hạn thực từ trong ba từ loại chính là danh từ, động từ, tính từ, còn các từ loại như số từ, đại từ hay một số phó từ (trạng từ) thì bị gạt ra khỏi phạm trù thực từ

1.1.2 Phân định từ loại dựa vào tiêu chuẩn ngữ pháp:

Quan điểm này xuất phát từ các tác giả như Phan Khôi, Lê Văn Lý, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Phú Phong, Lưu Vân Lăng Họ cho rằng cần phải phân định từ loại dựa vào chức vụ cú pháp và khả năng kết hợp

Theo thuyết “Cú bản vị” của Lê Cẩm Hy, Phan Khôi (1954) cho rằng phải

“tuỳ vào vị trí và chức vụ của từng từ mà quy nhập nó vào loại nào” (Phan Khôi

1954/88: 188), tức là lấy chức vụ cú pháp làm tiêu chuẩn duy nhất để phân định từ loại

Tuy nhiên, quan điểm này chưa phù hợp, bởi vì trong tiếng Việt các chức vụ

cú pháp không có dấu hiệu hình thức phân biệt rõ ràng, và việc nhận diện chúng phần lớn tùy thuộc vào quan điểm riêng của từng nhà nghiên cứu Chính vì vậy, nếu dựa vào đó để phân định từ loại cũng sẽ đem đến kết quả không khác gì dựa vào tiêu chuẩn ý nghĩa

Trang 21

20

Hơn nữa, cứ cho rằng có thể xác lập được danh mục các chức vụ cú pháp thì với số luợng các chức vụ cú pháp khá lớn, một từ loại nhất định có thể giữ nhiều chức vụ cú pháp khác nhau, và ngược lại một chức vụ cú pháp có thể do nhiều từ loại khác nhau đảm nhận Vì vậy, cho dù lấy chức vụ cú pháp làm tiêu chuẩn duy nhất để phân định từ loại sẽ khó phân biệt các từ loại giống nhau về chức vụ cú pháp

Nguyễn Tài Cẩn vì đã thấy được sự hạn chế này nên khi đưa ra tiêu chuẩn

“dựa vào mệnh đề” để bổ sung cho tiêu chuẩn “dựa vào đoản ngữ” để phân định từ loại, ông chỉ giới hạn sự xem xét ở hai chức vụ chủ yếu là chủ tố và vị tố Tuy nhiên giải pháp này cũng chỉ khắc phục được trở ngại về số luợng của các chức vụ

cú pháp, còn những khó khăn về tiêu chí nhận diện chúng vẫn chưa được giải quyết Lê Văn Lý (1948) đưa ra quan điểm dựa vào khả năng kết hợp Mặc dù có

sự khác nhau về việc lựa chọn tiêu chí và kết quả phân loại cụ thể, nhưng các tác giả theo hướng này đều thống nhất ở chỗ “dựa vào đoản ngữ” (tức là dựa vào khả năng làm thành tố của đoản ngữ cũng như khả năng kết hợp với kiểu trung tâm hay thành tố phụ nhất định) để phân định từ tiếng Việt Cách này là khách quan và

rành mạch, nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định

1.1.3 Phân đinh từ loại dựa trên tiêu chí kết hợp nội dung và hình thức:

Các tác giả như Hoàng Tuệ, Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức tiếp thu quan niệm của các nhà Đông phuơng học Xô Viết, coi từ loại là một phạm trù từ vựng ngữ-ngữ pháp, đã tiến hành phân định từ loại tiếng Việt dựa trên sự kết hợp

cả hai lại tiêu chí nội dung và hình thức

Họ vừa kế thừa quan niệm phân định từ loại truyền thống – dựa vào ý nghĩa khái quát phân chia các từ loại thành hai nhóm thực từ và hư từ, vừa vận dụng các tiêu chuẩn ngữ pháp (khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp) để làm cho hệ thống phân loại khách quan và sáng rõ hơn Mặc dù vậy, khi vận dụng tiêu chuẩn này để phân định từ loại, họ đã kết hợp chúng một cách tổng hợp chứ không theo một

Trang 22

21

trình tự ưu tiên nào Điều đó dẫn đến một từ loại có thể thoả đáng ở tiêu chí này nhưng lại bất cập ở tiêu chí khác, và việc đưa nó vào nhóm nào nhiều khi vẫn phụ

thuộc vào ý định chủ quan của nhà nghiên cứu “Vì vậy, mặc dù thống nhất về tiêu

chí phân loại nhưng trong khi nhiều người coi đại từ là một từ loại trung gian giữa thực từ và hư từ (UBKHXH 1983, Đinh Văn Đức 1986, Lê Biên 1993, Diệp Quang Ban 1998), thì một số người coi đại từ là thực từ (Nguyễn Kim Thản 1963), thậm chí là một tiểu loại của danh từ (Lê Cận -Phan Thiều 1983), còn một

số khác lại xếp đại từ vào nhóm hư từ (Đào Thanh Lan 1998) Tương tự, các số

từ một, hai, ba,… nếu xét về nghĩa thì hoàn toàn giống như thực từ , nhưng nếu xét

về đặc điểm ngữ pháp (khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp) lại giống với những, các - các từ chỉ số nhiều, thường được coi là hư từ Do sự nhập nhằng này nên trong khi nhiều người coi một, hai, ba… là thực từ, còn những, các là hư

từ (Đinh Văn Đức 1986, Lê Biên 1996, Diệp Quang Ban 1998), thì cũng có tác giả quy cả vào thực từ với tên gọi là “danh từ số luợng” (UBKHXH 1983: 78), dù rằng trên thực tế họ đều vận dụng cả hai tiêu chuẩn ý nghĩa và hình thức để phân định từ loại.”

Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của nhiều nhà nghiên cứu đi trước (Nguyễn Tài

Cẩn 1975, Đinh Văn Đức 2001) và vận dụng các thành tựu của Ngữ pháp học hiện

đại (Tèsnière 1959, Fillmore 1968, Halliday 1985, Dik 1989, Cao Xuân Hạo

1991), với quan niệm phân định từ loại là phân chia từ về mặt ngữ pháp, Nguyễn

Hồng Cổn cũng đề xuất một hướng phân định từ loại mới dựa trên sự điều chỉnh

hai tiêu chuẩn dựa vào “chức vụ cú pháp” (hay mệnh đề) và dựa vào “khả năng

kết hợp” (hay đoản ngữ) Kết quả cho thấy, nếu vận dụng riêng rẽ, bản thân các

tiêu chí này không đủ hiệu lực để phân biệt toàn bộ các từ loại với nhau, nhưng nếu kết hợp chúng một cách cơ giới cùng với tiêu chí ý nghĩa cũng không mang lại được kết quả mong muốn

Nguyễn Hồng Cổn cho biết, trong công trình “Ngữ pháp tiếng Việt”, khi thảo luận về việc vận dụng nguyên tắc “dựa vào đoản ngữ” để phân định từ loại tiếng

Trang 23

22

Việt, Nguyễn Tài Cẩn đã lưu ý rằng “tiêu chuẩn “dựa vào đoản ngữ ” (tức là dựa

vào khả năng làm chính tố hay phụ tố trong đoản ngữ) riêng một mình nó thì chưa

đủ Phải có cả tiêu chuẩn “dựa vào mệnh đề” (tức là dựa vào khả năng làm chủ tố

và vị tố của mệnh đề) bổ sung thì kết quả phân loại mới đáng tin cậy” [16, 305]

Gần đây, Đinh Văn Đức cũng đã chỉ ra một cách rất xác đáng rằng, cách miêu

tả và phân định từ loại theo lối “tam ngôi phân lập” như vậy mặc dù có tiện lợi và

rõ ràng nhưng xét về lý luận, đã “tạo ra sự chia cắt các khía cạnh vốn liên quan

rất chặt chẽ với nhau, đã làm mất đi một số mối liên hệ quan trọng giữa các đặc trưng của từ loại (….) khiến việc miêu tả các từ loại ở đây trở nên không được đầy đủ” [12, 249]

Phân định từ loại, theo tác giả “không nên hiểu đơn giản chỉ là công việc phân loại cơ giới vốn từ vựng của một ngôn ngữ nào đó, nhằm dán nhãn cho các từ, rồi

xếp chúng vào ô này hay ô khác (…) Mục tiêu ở đây là tìm ra các giá trị ngữ

pháp của một lớp từ, hạng từ, trong đó, gắng đến tận các từ cụ thể, rồi quy chúng vào những phạm trù nhờ những giá trị được xác lập ở chúng Như vậy, mỗi từ, theo bản chất ngữ pháp của mình, nhất định sẽ thuộc về từ loại này hay khác ” [12,

250]

Kế thừa những ý tưởng đó, Nguyễn Hồng Cổn cho rằng có thể “điều chỉnh nội

dung của hai tiêu chuẩn “dựa vào khả năng kết hợp và “dựa vào chức vụ cú pháp” của từ để phân định từ loại tiếng Việt thông qua việc phân tích các chức năng hay giá trị ngữ pháp (diễn trị và kết trị) của chúng trong việc tham gia cấu tạo và biểu hiện cấu trúc -ngữ nghĩa của mệnh đề với tư cách là một cấu trúc “đối -vị tố” của phát ngôn.”

Như đã nêu ở trên, quá trình phân loại vốn từ tiếng Việt được tiến hành qua nhiều bước, nhiều bậc: từ cái nhìn bao quát về lớp từ tiếng Việt đến việc phân định thành các phạm trù từ loại, các tiểu loại, các nhóm trong một từ loại Như vậy, vốn

từ tiếng Việt có thể phân chia thành hai mảng lớn:

Trang 24

23

Thực từ - Hư từ

Theo Lê Biên, trong quyển “ Từ loại tiếng Việt hiện đại”, thực từ chiếm số

lượng rất lớn trong vốn từ tiếng Việt, có vai trò quan trọng nhất về ngữ pháp Bao gồm: danh từ, động từ, tính từ và số từ

Còn hư từ chiếm số lượng không lớn, khác với thực từ, hư từ không có ý nghía định danh, ý nghĩa của các hư từ mang tính chất ngữ pháp và là phương tiện diễn đạt quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của người Việt [ 11, 22]

Nguyễn Anh Quế trong cuốn “ Hư từ trong tiếng Việt hiện đại” định nghĩa

hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, chỉ có tác dụng nối các từ, các mệnh đề, các câu lại với nhau theo một quan hệ nào đó và chúng cũng không thể làm thành phần câu [ 10, 14]

Đinh Văn Đức trong “ Ngữ pháp tiếng Việt từ loại” thì cho rằng hư từ là một

tập hợp từ loại không lớn về số lượng nhưng rất quan trọng với tần số xuất hiện rất cao trong sử dụng Khác với thực từ, bản chất ý nghĩa hư từ thiên về tính chất ngữ pháp Hư từ không trực tiếp biểu niệm, nó là phương tiện dùng để phân xuất các hình thức của khái niệm và biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy ( theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của người bản ngữ) Bản chất đó quy định khả năng kết hợp của các hư từ: chúng không làm trung tâm đoản ngữ, đôi khi có thể làm thành tố phụ một cách giới hạn trong đoản ngữ, còn trong đa số trường hợp, hư từ được dùng làm yếu tố liên kết cú pháp và chất xúc tác cho việc liên kết từ trong ngữ lưu qua cá loại hình cấu trúc ngữ pháp Bản chất đó cũng quy định chức năng của hư từ ở trong câu: hư từ không có khả năng độc lập tạo ra câu

và cũng không làm thành phần câu Các từ loại hư từ thường gặp nhất là liên từ, giới từ, quán từ Trong tiếng Việt và các ngôn ngữ đơn lập, danh sách hư từ có tăng lên vì đây là những ngôn ngữ thiên về phân tích tính [ 12, 53]

Trang 25

24

Hai tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung trong quyển “ Ngữ pháp

tiếng Việt tập 1” đưa ra quan điểm hư từ với khái niệm “ hư từ được giải thích

trong thế đối lập với thực từ và chủ yếu ở phạm vi diễn đạt mối quan hệ” [ 13, 21]

Những tác giả trên đều có cái nhìn chung về hư từ trong tiếng Việt, khác nhau chỉ là cách diễn đạt của mỗi người Theo đó, hư từ là một loại từ chiếm số lượng nhỏ hơn so với thực từ nhưng có vai trò vô cùng quan trọng, không có ý nghĩa về mặt từ vựng nhưng lại giữ vai trò trong việc liên kết các câu, các mệnh đề

1.2 Tóm tắt lý thuyết từ hƣ

1.2.1 Cơ sở phân loại từ hƣ:

Đối với tiếng Việt, các nhà nghiên cứu thường dựa vào những cơ sở sau đây

Tiêu biểu nhất cho hướng phân loại theo ý nghĩa từ vựng là Bystrov Bystrov

viết : “ Chúng tôi cho rằng hợp lý hơn là chia hư từ thành hai nhóm:

1) Những hư từ trong tất cả các cấu trúc đều chỉ có ý nghĩa hư;

2) Những hư từ ở một số cấu trúc có thể dùng ý nghĩa hư còn ở các cấu trúc khác thì lại dùng ý nghĩa thực

Nguyễn Kim Thản khi phân loại hư từ dựa vào cả chức năng lẫn ý nghĩa từ ( ý nghĩa hiểu theo nghĩa rộng, có thể là ý nghĩa từ vựng, cũng có thể là ý nghĩa ngữ pháp)

Trang 26

25

Tác giả Lê Văn Lý lại phân chia hư từ dựa vào thực từ Căn cứ vào thực từ, ông chia hư từ làm hai nhóm:

1) Hư từ dùng để chỉ loại thực từ ( từ kiểm nghiệm)

2) Hư từ dùng để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau ( từ trống)

Còn tác giả Nguyễn Tài Cẩn mặc dù không trực tiếp bàn đến hư từ nhưng ông

đề cập về vấn đề sử dụng đoản ngữ để phân định từ loại trong tiếng Việt thì tác giả

đã vạch ra một cách quy loại các hư từ chặt chẽ và hợp lý hơn cả

Tuy nhiên theo Nguyễn Anh Quế thì những cở sở phân loại này chưa thực sự thõa mãn trong nhiều trường hợp và gặp không ít trở ngại trong nghiên cứu Cho nên, ông đưa ra một ý kiến khác cho việc phân định này

Theo đó, ông phân làm ba loại hư từ:

1 Các hư từ chuyên dùng làm thành tố phụ cho đoản ngữ

2 Các hư từ không làm thành tố phụ cho đoản ngữ

3 Các hư từ nằm ngoài đoản ngữ

Cách phân chia này tương đối rõ ràng, nên trong bài niên luận này, tôi chọn quan điểm của Nguyễn Anh Quế làm tài liệu chủ chốt

1.2.2 Ý nghĩa và chức năng của hƣ từ

* Ý nghĩa

Đề cập đến phẩm chất ngữ nghĩa của một tín hiệu ngôn ngữ nói chung, một yếu tố hư từ nói riêng, Nguyễn Văn Chính chia sẻ cách nhìn nhận của Cao Xuân

Hạo như sau: “ mỗi phù hiệu (hay kí hiệu) ngôn ngữ, cũng như bất kì dấu hiệu nào

khác đều báo hiệu một cái gì, tức là đều có nghĩa ( có sở biểu) Cái nghĩa đó có thể là cái nghĩa biểu trưng hay nghĩa biểu hiện như nghĩa của danh từ, động từ, tính từ, tình thái từ, Nghĩa biểu trưng thường được chia làm hai cấp: sở biểu và

Trang 27

26

sở chỉ Sở biểu bao gồm nét đặc trưng của sự vật, nó phản ánh nội hàm của khái niệm Sở chỉ phán ánh biểu tượng chung của sự vật, nó phản ánh ngoại diên của khái niệm, tức biểu thị một chủng loại sự vật.”

Theo đó, Nguyễn Văn Chính phân tích nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế khi đụng chạm đến vai trò, chức năng, các phẩm chất ngữ nghĩa của hư từ để rồi từ đây, ông đã đề xuất hướng giải quyết triệt để và hiệu quả Ông cho rằng, trên

cở sở nghiên cứu các tư liệu Việt ngữ, dựa vào phương pháp cải biến, ông mạnh dạn đề xuất cách xử lý như sau:

Vì không thể định nghĩa trực tiếp bằng khái niệm nên ta cần phải xác định nội dung thông báo đích thực của tổng thể phát ngôn có chứa yếu tố hư từ Tiếp theo, xác định xem yếu tố hư từ đang xét đón góp vào phát ngôn đang xét phần thông tin

gì của riêng nó Sau đó, nếu không định nghĩa được ( thực ra rất khó định nghĩa chính xác) thì phải tạm lược bỏ yếu tố hư từ ấy ra khỏi cấu trúc phát ngôn để kiểm tra tổng thể của cấu trúc phát ngôn còn lại là thế nào, có bị thiếu hụt phần thông tin nào không Cuối cùng, dựa vào trực cảm của người bản ngữ, xác định được rằng,

có một sự thiếu hụt thông tin so với toàn bộ thông tin khi chưa cải biên thì phần thiếu hụt ấy chính là phần ngữ nghĩa mà hư từ đã góp vào tổng thể phát ngôn đang xét - nói khác đi, phần thiếu hụt tìm ra chính là hiệu lữ giao tiếp mà yếu tố hư từ

đã đóng góp vào cho phát ngôn

Hư từ cũng có ý nghĩa, nhưng vì ý nghĩa của hư từ chủ yếu được xác định thông qua các yếu tố trong kết cấu, trong tổ hợp, do đó chức năng ngữ nghĩa của

hư từ cũng chủ yếu là biểu đạt mối quan hệ giữa các yếu tố trong câu, quan hệ giữa các kết cấu với nhau và đôi khi là quan hệ giữa kết cấu với hiện thực bên ngoài Quan hệ trong ngôn ngữ là rất đa dạng, có thể có quan hệ hạn định- bị hạn định, quan hệ chính- phụ, quan hệ nối kết, quan hệ song song, quan hệ nhân- quả v v Mặt ngữ nghĩa thứ hai cũng khá quan trọng của hư từ là dùng để diễn đạt một số

Trang 28

và làm chủ một kiểu loại từ với những nét nghĩa tinh tế trong tiếng Việt- đó là hư

từ

* Chức năng

Hư từ cũng như mọi từ khác, đều có thể tham gia vào các kiểu loại cấu trúc khác nhau, cho nên ngoài chức năng ngữ nghĩa, nó còn có chức năng làm thành tố trong các cấu trúc của hư từ Ở đây khả năng làm thành tố của cấu trúc được đặt trong thế đối lập với khả năng không làm được thành tố của cấu trúc và cả toàn bộ thế đối lập ấy sẽ là cơ sở của sự phân loại Vì như đã đề cập ở trên, hư từ có ý nghĩa ngữ pháp nổi rõ hơn ý nghĩa từ vựng Để đơn giản hơn, khi không cần thiết phải phân biệt rõ ràng các khái niệm, ta dùng ngữ nghĩa để chỉ chức năng ngữ nghĩa và chức năng làm thành tố cú pháp để chỉ chung cho chức năng làm thành tố cấu trúc của hư từ nói chung [ 10, 49]

Theo hai tác giả Nguyễn Lai và Nguyễn Văn Chính trong bài viết “ Một vài

suy nghĩ về tư hư từ góc nhìn ngữ dụng học ( Qua cứ liệu tiếng Việt)”, từ hư

thường được coi như một phạm trù đối lập với thực từ theo cách nhìn quen thuộc của ngữ pháp truyền thống Hầu hết người ta cảm nhận chức năng ngữ pháp của từ

hư dễ hơn là chức năng ngữ nghĩa trong các kết hợp Chính vì vậy cũng không ngẫu nhiên khi các nhà nghiên cứu Việt ngữ học đều cho rằng từ hư không có khả năng đảm nhận thành phần chính trong cấu trúc phát ngôn Bên cạnh đó, người ta

Trang 30

2.1.1.1 NHỮNG, CÁC, MỌI

Theo sơ đồ cấu trúc danh ngữ của Nguyễn Tài Cẩn thì các từ những, các, mọi

được phân bố vào vị trí -2 Những từ này chuyên đi trước danh từ trung tâm và chỉ quan hệ về số lượng Theo Diệp Quang Ban trong “ Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông” thì những từ này được gọi là định từ Nhưng theo Hoàng Văn Thung thì

những, các, mọi lại được dùng làm công cụ ngữ pháp với chức năng quán từ

* NHỮNG, CÁC

Những, các đều được dùng để biểu thị số nhiều của danh từ, song những còn

có những chức năng khác phức tạp hơn các; những còn được dùng để nhấn mạnh,

đánh giá, để chuyển một từ loại khác thành danh từ, và trong một vài trường hợp đặc biệt, nó tách khỏi cấu trúc danh ngữ để tham gia vào một kết cấu vị ngữ Bên

cạnh đó, danh từ sau những bắt buộc phải có định ngữ, còn các thì không để khu

biệt sự việc này với sự việc khác

Ví dụ so sánh:

- Hội nhánh các ông chịu lấy sổ Nhà nước xin, cả thảy là 56,050 đồng bạc, bớt

đi hết 1,800 đồng trong sổ năm trước

( Mục Công vụ, Gia Định Báo số thứ 8, năm 1884)

Trang 31

30

- Hà- Tiên - Những người làm vườn nói tiêu không làm được bao nhiêu, tiêu

tươi, tiêu khô có ít, mà tôi chắc sẽ được nhiều

( Mục Ngoài Công vụ, Gia Định Báo số thứ 8, năm 1884)

Trong tiếng Việt hiện nay, những còn có thể kết hợp với một số đại từ nghi vấn như: đâu, ai, gì Nhưng các thì không có khả năng đó Có thể giải thích hiện

tượng này thông qua sự tương quan về mặt logic ngữ pháp giữa các đại từ nói trên với các danh từ Cũng từ sự khác nhau trên mà trong thưa gửi, trong lời kêu gọi

trên cấu trúc danh ngữ cùng một vị trí với số từ, những, các và sau đại từ chỉ lượng

Chính vì nét ngữ nghĩa gần nhau như thế cho nên ở một số hoàn cảnh chúng ta

có thể chỉ cần dùng từ mọi là đã bao hàm được ý nghĩa toàn bộ sự vật nêu ở danh

từ trung tâm Tuy nhiên, nếu như tất cả có thể chỉ toàn bộ nhiều sự vật thì mọi bao

giờ cũng nêu lên một toàn bộ nhiều sự vật Vì vậy, nếu danh từ muốn nêu một toàn

bộ nhiều sự vật, sự việc thì tuy đã có tất cả vẫn bắt buộc phải dùng mọi

Ví dụ: Tất cả mọi người ≠ Tất cả người

Tất cả mọi ngày ≠ Tất cả ngày

2.1.1.2 MỖI, MỘT

Dùng kèm trước danh từ, chỉ ý nghĩa phân phối về số lượng Chúng có đặc điểm của hư từ nhưng không biểu thị những ý nghĩa ngữ pháp có tính chất phạm trù như nhóm những các một Vì thế, có nhà nghiên cứu xếp chúng vào số từ

Trang 32

31

Ví dụ:

Một mình nó là hiệu nghiệm, không đau đớn, làm cho thông đàng tiểu trong

4,5 ngày

( Mục Thứ vụ, Gia Định Báo, số thứ 4, năm 1884)

Ví dụ trên hoàn toàn có thể viết:

Mỗi mình nó là hiệu nghiệm, không đau đớn, làm cho thông đàng tiểu trong

4,5 ngày

2.1.1.3 CŨNG

Cũng được dùng chủ yếu để biểu thị mối quan hệ qua lại giữa các hành động,

trạng thái hoặc giữa các chủ thể hoặc đối tượng tiến hành các hành động trạng thái

đó hoặc do các hành động hay trạng thái đó chi phối

Ví dụ:

Có một đôi khi đầu đờn ông đờn bà hay con nít thì cũng mắc cơn mệt nhọc

yếu đuối quá chừng vậy thuốc này để chữa những cơn như vậy nên phải uống sớm mai một muổn chiều một muổn, mỗi ngày phải gia tăng thêm một muổn cho đến khi nào uống tới sớm mai 4 muổn chiều 4 muổn thì thôi Giá một ve là một đồng bạc

( Mục Lời rao, Gia Định Báo số thứ 9, năm 1884)

Trang 33

32

Ví dụ:

Giấy giao ước cùng giấy biên bằng đều để tại sở Tạo- tác ( sở làm cầu đường)

Mục Ngoài Công Vụ, Gia Định Báo số 7, 1884)

2.1.1.5 CÒN

Còn chủ yếu được dùng để biểu thị một hành động chưa kết thúc

Ví dụ:

Quan quản đốc có sở thủy có làm một cái giấy nói các công việc đã có xét kĩ

càng, còn giấy làm giá tiền, thì là 30,000 đồng bạc

( Mục Công vụ, Gia Định Báo số thứ 7, 1884)

2.1.1.6 CỨ

Nét nghĩa chủ yếu của cứ là biểu thị một hành động một trạng thái mà chủ

quan của người nói cho rằng không thay đổi, hoặc nhất thiết không thay đổi

Ví dụ:

Mỗi một tháng ra 4 lần, cứ mỗi ngày thứ 3 trong tuần lễ thì phát

( Ngày phát nhựt trình, Gia Định Báo, 1884)

2.1.1.7 LẠI

Hư từ này về mặt ngữ pháp có nhiều nét gần gũi với các hư từ vừa mô tả trên

Cụ thể là, chúng biểu thị một hành động tiến hành tiếp tục sau khi đã có một sự ngừng nghỉ

Ví dụ:

Giá ấy sụt hơn giá lảnh bây giờ, lại có những giấy các người buôn bán khác

trình cho hội đồng trong kỳ nhóm 1882

Trang 34

có hoa xuân chiếu đỏ như lửa, cũng là ngọc quý, có ngọc lựu, màu hột lựu,

người ta nói nó ở trong trái lựu, sau nữa có ngọc cọp, ngọc rắn, ngọc chuột

( Về loài ngọc, Mục Thứ Vụ, Gia Định Báo số thứ 5, 1884)

2.1.1.9 ĐÃ

Nét nghĩa cơ bản của đã là biểu thị một hành động xảy ra trong quá khứ

Ví dụ: Các ông cũng đã ngó thấy các lẽ nhà nước làm ra trong sổ để mà xin

Sẽ có nét nghĩa chủ yếu là biểu thị một hành động xảy ra trong tương lai,

tương lai xảy ra hành động có thể là gần cũng có thể xa

Trang 35

34

Ví dụ:

Ngày thứ sáu, 15 fevrier 1884, 3 giờ buổi chiều, sẽ cho làm giá chịu đáp

đường thông thương số 10 lại, cùng chịu đá ong Biên- hòa cho đặng tu bổ các đường,

( Mục Ngoài Công Vụ, Gia Định Báo số thứ 6, năm 1884)

Rất, lắm, quá đều là những hư từ ( phó từ) biểu thị mức độ cao Rất luôn luôn

đứng trước động từ, tính từ, còn lắm thì ngược lại, luôn luôn đứng sau Mức độ do

các từ này biểu thị không khác nhau mấy, khác nhau chủ yếu là do việc sử dụng

Trang 36

35

chúng trong các phong cách ngôn ngữ khác nhau Trong ngôn ngữ nói thường

dùng lắm, ngôn ngữ viết thường dùng rất

Ví dụ:

Bên nước Hongrie có nhiều mỏ muối lớn lắm

( Mục Thứ Vụ, Gia Định Báo số thứ 7, năm 1884)

Quá có vị trí tương đối tự do hơn Khi đứng trước động từ, tính từ ta vẫn còn

có thể nhận ra nét nghĩa mức độ của nó

Ví dụ:

Bởi vì có nhiều việc nguy nan đổi dời, trong phép học hành phải giữ cho khỏi

những điều nghịch ý cùng những điều thới quá

( Mục Công vụ, Gia Định Báo số thứ 6, năm 1884)

2.1.2 Các hƣ từ không làm thành tố phụ cho đoản ngữ

Ở phần trước, khi mô tả các hư từ chuyên làm thành tố phụ cho đoản ngữ, chúng ta đã căn cứ vào từ loại trung tâm àm các hư từ đó phụ nghĩa để phân loại

và tìm hiểu các nét nghĩa khu biệt của chúng Tuy nhiên, trong tiếng Việt cũng có một loạt hư từ không có khả năng làm thành tố phụ cho đoản ngữ mà chỉ có khả năng kết nối các yếu tố trong đoản ngữ, trong câu Trước hết đó là những hư từ nối

kết các yếu tố có quan hệ chính - phụ: của, cho, để, mà, vù, do, bởi, tại, ở, như, với,

Trang 37

36

Nhà nước có trình cho hội đồng Quản hạt một cái giấy đòi một miếng đất 6 sào 56

thước, trong họa đồ Saigon, đề số 30 về phần chữ A, với hai dãy đất của ông

Jonanique

( Mục Công vụ, Gia Định Báo số thứ 7, năm 1884)

2.1.2.2 CHO

Trong số các động từ thuộc nhóm ban phát trao tặng như: cho, biếu, đưa, trao,

gửi thì cho là động từ bị hư hóa khá mạnh để trở thành một hư từ với khá nhiều ý nghĩa ngũa pháp khác nhau Đương nhiên vẫn còn một từ cho với đầy đủ ý nghãi

từ vựng chân thực của một động từ Trước hết, với tư cách là một giới từ, cho

dùng để nối yếu tố phụ chỉ mục đích với yếu tố chính là một động từ

Ví dụ:

Tôi kính gửi cho ông biết cùng xin ông phải cho ông làm đầu hội đồng Quản

hạt hay giấy dây thép tôi đã gửi thể về Bộ

( Mục Công vụ, Gia Định Báo số thứ 3, năm 1884)

2.1.2.3 ĐỂ

Để vốn là một động từ Trong tiếng Việt hiện đại động từ để có nhiều nét

nghĩa phong phú và phức tạp Để thường đặt trước một câu tường thuật biểu thị ý

nghĩa yêu cầu tiến hành một hành động mà chủ thể muốn nó xảy ra Trường hợp

này cuối câu có thể có cho hoặc đã

Trang 38

37

Trong hệ thống hư từ tiếng Việt, mà có thể coi là một hư từ đặc biệt Đặc biệt

ở chỗ, do ý nghĩa từ vựng đã gần như bị hư hóa hoàn toàn cho nên ý nghĩa kết hợp hay là ý nghĩa cú pháp rất mạnh Nó có nhiều chức năng khác nhau trong nhiều kiểu loại cấu trúc khác nhau

Vì điều thứ nhất trong lời dụ ngày mồng 5 aout1881, lập một hội nghị sự riêng

về việc Nhà nước ở các Quản hạt,

( Mục Công vụ, Gia Định Báo số thứ 4, năm 1884)

2.1.2.6 BỞI

Ví dụ:

Làm sao cũng phải cho có đèn vọi ấy, vậy vì việc tàu thuyền vô ra, chúng ta

phải làm hết sức mà làm cho rồi công việc ấy cho mau, bởi đó chúng tôi xin các

ông phải ưng theo các số tiêu chuẩn ấy

( Mục Công Vụ, Gia Định Báo số thứ 7, năm 1884)

2.1.2.7 TẠI

Trang 39

38

Biểu hiện nơi chốn, địa điểm xảy ra hành động trạng thái, nới xuất phát một vấn đè, một hiện tượng

Ví dụ:

Các giấy giao ước đều để tại phòng quan tham biện

( Mục Ngoài công vụ, Gia Định Báo số thứ 7, năm 1884)

2.1.2.8 VỚI

Biểu hiện nghĩa liên hợp giữa hai hiện tượng có quan hệ qua lại, cùng hành động chung Thường có “nhau” kèm theo Bên cạnh đó, nó còn biểu thị nghĩa đối tượng có quan hệ tiếp nhận và sự tồn tại của hành động hướng tới

Ví dụ:

Đứa con nít với thầy dạy học

( Mục Thứ Vụ, Gia Định Báo số thứ 4, năm 1884)

2.1.2.9 CŨNG

Biểu thị quan hệ đối chiếu về sự giống nhau ( đồng thời) của hiện tượng, trạng thái, tính chất

Ví dụ:

Những điều hội đồng Quản hạt đã xét cùng đã ước xin, đều làm chứng như có

lập phép kể tự cũng chưa đủ mà ngăn cấm những điều tình tệ như vậy

( Mục Công vụ, Gia Định Báo số thứ 7, năm 1884)

2.1.2.10 CÙNG

* Nếu là liên từ, nó biểu thị nghĩa quan hệ logic đồng nhất, như nhau

Ví dụ:

Trang 40

39

Giấy giao ước để tại phòng quan tham cùng tại phòng nhứt dinh Thượng thơ

( Mục Ngoài công vụ, Gia Định Báo số thứ 7, năm 1884)

* Nếu là giới từ, nó biểu thị nghĩa liên đới của đối tượng với chủ thể

Ví dụ:

Bởi đó tôi xin ông cho những nhà có con gửi đi Langsa biết về việc ấy, cùng

phải ra sức cho người ta làm giấy chịu như vậy mà gửi cho Bộ, trước khi cho con trẻ vào trường

( Mục Công vụ, Gia Định Báo số thứ 7, năm 1884)

2.1.2.11 RẰNG

Vốn là một động từ có nghĩa như nói ( chẳng nói chẳng rằng) Ít dùng độc lập Hiện nay dùng như một liên từ tương đương với là

Ví dụ:

Nhà nước có đem một cái giấy mà trình cho hội đồng Quản hạt, trong giấy ấy

Nhà nước nói rằng chưa được lời giao ước bên Bộ tính với ông Pierre mà nói về

sự truyền hạn thêm 5 năm, lại như có chết, thì phải giao phép cùng giao các đồ vật liệu để mà in sách nói về săng cổ Nam-kỳ cho Quản hạt

( Mục Công vụ, Gia Định Báo số thứ 7, năm 1884)

2.1.2.12 LÀ

Là đánh dấu quan hệ chủ ngữ và vị ngữ danh từ Nòa làm chức năng nối bộ

phận sau các động từ có nghĩa nhận thức, cảm nghĩ, nói năng Yếu tố “là” trong kết hợp này làm cho các động từ đó có chức năng như trợ động từ Tương đương

với rằng

Ví dụ:

Ngày đăng: 29/03/2018, 21:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w