Niên luận: TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRÊN GIA ĐỊNH BÁO (KHẢO SÁT CÁC SỐ TRONG NĂM 1883) 3.1.Ngữ nghĩa của các hư từ địa phương 3.1.1. Nghĩa ngữ pháp của các hư từ địa phương trong Gia Định Báo 3.1.2. Nghĩa gốc và nghĩa phái sinh hư từ địa phương trên Gia Định Báo. 3.2. Ngữ nghĩa của thực từ địa phương. 3.2.1 Nghĩa gốc của thực từ địa phương trong Gia Định Báo 3.2.2 Nghĩa phái sinh của thực từ địa phương trong Gia Định Báo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
NIÊN LUẬN CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
Đề tài:
TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRÊN GIA ĐỊNH BÁO (KHẢO SÁT CÁC SỐ TRONG NĂM 1883)
CBHD: TH HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH SVTH: NGUYỄN THỊ YẾN VÂN
LỚP: NGÔN NGỮ K12 MSSV: 1256010205
TP.HCM, ngày 24 tháng 06 năm 2015
Trang 21
Mục lục
DẪN NHẬP 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu vấn đề 5
4 Phương pháp nghiên cứu vấn đề 5
5 Mục đích và ý nghĩa khoa học 5
6 Kết cấu niên luận 6
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN THỰC TIỄN 7
1.1 Nguồn gốc và quá trình phát triển Gia Định Báo 7
1.1.1 Nguồn gốc Gia Định Báo 7
1.1.2 Qúa trình phát triển Gia Định Báo 8
1.2 Nội dung và hình thức trình bày của Gia Định Báo 9
1.2.1 Nội dung Gia Định Báo 9
1.2.2 Hình thức trình bày Gia Định Báo 10
1.3 Đặc điểm ngôn ngữ trong Gia Định Báo 13
1.3.1 Về chính tả 13
1.3.2 Về từ ngữ 13
1.3.3 Về ngữ pháp 14
1.4 Từ địa phương Nam Bộ 14
1.4.1 Qúa trình hình thành và phát triển từ địa phương Nam Bộ 15
1.4.2 Đặc điểm từ địa phương Nam Bộ 15
1.5 Tiểu kết chương 1 18
CHƯƠNG 2 : ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TỪ ĐỊA PHƯƠNG TRÊN GIA ĐỊNH BÁO 19
Trang 32
2.1 Đặc điểm cấu tạo từ địa phương theo dạng từ đơn 19
2.2 Đặc điểm cấu tạo từ địa phương theo dạng từ ghép 24
2.3 Đặc điểm cấu tạo từ địa phương theo dạng từ láy 28
2.4 Tiểu kết chương 2 30
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRÊN GIA ĐỊNH BÁO 32
3.1.Ngữ nghĩa của các hư từ địa phương 32
3.1.1 Nghĩa ngữ pháp của các hư từ địa phương trong Gia Định Báo 32
3.1.2 Nghĩa gốc và nghĩa phái sinh hư từ địa phương trên Gia Định Báo 34
3.2 Ngữ nghĩa của thực từ địa phương 35
3.2.1 Nghĩa gốc của thực từ địa phương trong Gia Định Báo 35
3.2.2 Nghĩa phái sinh của thực từ địa phương trong Gia Định Báo 36
3.3 Tiểu kết chương 3 40
KẾT LUẬN 41
PHỤ LỤC 42
Trang 4Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển báo chí Việt Nam, có thể thấy Nam Bộ chính là cái nôi của báo chí Quốc ngữ với sự ra đời của Gia Định Báo – tờ báo Việt ngữ đầu tiên Sự xuất hiện của Gia Định Báo vào năm 1865 không chỉ là tiền đề cho sự nở rộ của hàng loạt tờ báo khác vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX mà còn góp phần đặt nền móng cho sự phát triển chữ Quốc ngữ và văn xuôi Quốc ngữ sau này
Thế nên dù đã ra đời cách đây 150 năm ( 1865 – 2015) nhưng dấu ấn Gia Định Báo trong lịch sử vẫn còn đậm nét Bởi vậy để tìm hiểu thêm về quá trình phát triển chữ Quốc ngữ, tôi đã chọn Gia Định Báo làm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu này Tuy nhiên vì hạn chế về thời gian và việc tìm kiếm báo nên tôi chỉ tiến hành khảo sát những số báo trong năm 1883 Với việc chọn đề tài “ Từ ngữ địa phương trên Gia Định Báo (khảo sát các số trong năm 1883)”, tôi hi vọng có thể đưa ra được những kết luận về đặc điểm của từ địa phương trên Gia Định Báo lúc bấy giờ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ ngữ địa phương Nam Bộ cũng là đề tài đã được nhiều người thực hiện nghiên cứu :
Với công trình “ Tự vị tiếng Việt miền Nam”, Vương Hồng Sển đã chỉ ra và giải
thích được khá công phu những từ ngữ chuyên dùng của người Nam Bộ, các từ chỉ món ăn đặc sản, các từ chỉ địa danh Nam Bộ
Hay Trần Thị Ngọc Lang với công trình “ Phương ngữ Nam Bộ” cũng đã chỉ ra
được sự khác nhau cơ bản giữa phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ Từ đó, tác giả đưa ra những sự khác biệt về mặt từ vựng, ngữ âm, ngữ nghĩa
Trang 54
Huỳnh Công Tín với cuốn “ Từ điển từ ngữ Nam Bộ” cũng đã phần nào mang
đến một lượng tri thức tổng hợp trong việc tìm hiểu từ ngữ Nam Bộ ở các bình diện như:
từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ âm
Với đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, “Gia Định Báo -Sự hình thành và
phát triển”, Ưng Sơn Ca đã đưa ra những đánh giá về ngôn ngữ trong Gia Định Báo lúc
bấy giờ Về nội dung này, tác giả chia thành hai phương diện là về chữ viết, chính tả và về
cú pháp trên Gia Định Báo Theo Ưng Sơn Ca , hầu hết các số báo đều mắc phải việc sai chính tả do chữ viết được đúc từ tiếng Pháp nên những kí hiệu về dấu thanh sai rất nhiều Tác giả cũng đề cập đến sự xuất hiện của từ Hán, từ Pháp , từ địa phương và những từ mà ngày nay không được sử dụng phổ biến Bằng phương pháp thống kê, tác giả nhận xét tỉ lệ phương ngữ trong Gia Định báo rất cao và cách viết đó giúp người dân có thể tiếp nhận thông tin một cách dễ dàng Còn về cú pháp, tác giả cho rằng trong những năm đầu báo rất khó hiểu bởi câu cú không được chú ý và do sử dụng chấm, phẩy một cách tùy tiện Vì thế đặc trưng của báo Gia Định là viết như nói
Trong công trình “Gia Định Báo – tờ báo Việt ngữ đầu tiên”, Nguyễn Đức Dân
cũng đề cập đến “ Đặc điểm ngôn ngữ trong Gia Định Báo” Ở đây, tác giả chia thành 2 vấn đề là đặc điểm về từ ngữ và đặc điểm về ngữ pháp Về mặt từ ngữ, Nguyễn Đức Dân không đề cập đến vấn đề chính tả mà chỉ đưa ra những đặc điểm về hiện tượng phương ngữ, thuật ngữ và tên riêng Theo tác giả, hai hiện tượng phương ngữ điển hình là những biến thể phát âm thường gặp và từ địa phương Tuy nhiên tác giả chỉ dừng lại ở việc đưa ra những ví dụ minh họa chứ không tiếp tục đi sâu vào việc nghiên cứu đặc điểm của hiện tượng phương ngữ đó Còn về mặt ngữ pháp, tác giả cho rằng Gia Định Báo vẫn chưa rạch ròi trong việc sử dụng liên từ , giới từ và vẫn còn những cách liên kết trật tự câu từ không chuẩn
Cũng trong công trình này, Lê Khắc Cường đã có bài về “Ngôn ngữ báo chí
tiếng Việt từ Gia Định Báo đến báo trực tuyến” Ở bài viết này, tác giả cũng chia đặc
điểm ngôn ngữ trên Gia Định Báo thành hai phần là: từ ngữ và cú pháp Về mặt từ ngữ, tác giả chủ yếu tập trung về từ địa phương Bên cạnh đưa ra những ví dụ và giải thích nghĩa của từ một cách gần nhất, tác giả cũng rút ra được mô hình cấu tạo của một số từ địa
Trang 65
phương mà tác giả cho rằng rất Nam Bộ, cụ thể và giàu sắc thái biểu cảm Theo tác giả, đây chính là “kho ngữ liệu “tươi” và hết sức phong phú cho những nhà nghiên cứu phương ngữ học, từ nguyên học” Còn về mặt cú pháp, Gia Định Báo là bản sao lời ăn tiếng nói của người dân Nam Bộ vì cách viết “trơn tuột như lời nói”
Vì vậy với đề tài “Từ ngữ địa phương trên Gia Định Báo (khảo sát các số
trong năm 1883)” , tôi hi vọng có thể làm rõ và đi sâu hơn về những đặc điểm cùa từ địa
phương trên Gia Định Báo một cách cụ thể Qua đó biết được sự phát triển của từ địa phương Nam Bộ từ những ngày đầu trên Gia Định Báo cho đến nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu vấn đề
Đối tượng nghiên cứu là từ địa phương trên Gia Định Báo Do được ra đời trên vùng đất Nam Bộ nên Gia Định Báo đã phản ánh toàn diện vốn từ của phương ngữ Nam
Bộ lúc bấy giờ
Phạm vi nghiên cứu vấn đề:
+ Thời gian: Các số báo trong năm 1883
+ Không gian: Vùng văn hóa Nam Bộ
4 Phương pháp nghiên cứu vấn đề
Để đi sâu làm rõ vấn đề, bài niên luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả để miêu tả cấu tạo và ngữ nghĩa của từ địa phương
- Phương pháp phân tích để phân tích nghĩa của từ ngữ
5 Mục đích và ý nghĩa khoa học
Mục đích : Đưa ra đặc điểm ngôn ngữ của lớp từ địa phương trên Gia Định Báo lúc bấy giờ, để có cơ sở so sánh về quá trình phát triển của từ địa phương từ lúc sơ khai cho đến ngày nay Qua đó rút ra được nhận xét về sự phát triển của từ địa phương Nam Bộ
trong hệ thống tiếng Việt
Ý nghĩa khoa học : góp phần vào kho tư liệu cho các công trình nghiên cứu về những đề tài liên quan sau này
Trang 76
6 Kết cấu niên luận
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận thì niên luận còn có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Gia Định Báo
Trong chương này, tôi sẽ trình bày về nguồn gốc, quá trình hình thành phát triển của Gia Định Báo cũng như giới thiệu về những đặc điểm chung của từ địa phương Nam
Bộ
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của từ địa phương trên Gia Đình Báo
Ở chương này, tôi sẽ phân tích về cấu tạo của từ địa phương qua 3 dạng : từ đơn, từ láy,
từ ghép
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ địa phương trên Gia Định Báo Ở chương này,
tôi sẽ phân tích đến ngữ nghĩa của hư từ địa phương và thực từ địa phương
Trang 87
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN THỰC TIỄN
1.1 Nguồn gốc và quá trình phát triển Gia Định Báo
1.1.1 Nguồn gốc Gia Định Báo
Trong thời kì đầu tiên của chế độ Pháp thuộc tại Nam Kỳ, công cụ được sử dụng sớm nhất là báo chí Đầu năm 1862, sau hiệp định Nhâm Tuất, tờ báo đầu tiên bằng tiếng Pháp là Bullentin officiel de I’expédition de Cochinchine (Nam Kỳ viễn chinh công báo : BOEC ) đã ra đời Tờ báo này phát hành mỗi tuần một lần, bao gồm các nghị định, quyết định, và các thông cáo có liên quan đến các giới chức dân sự và quân sự và các cư dân nước ngoài thuộc địa châu Á sống tại Nam
Kỳ Đồng thời còn có các mục quảng cáo và lời rao thương mại kèm theo tờ công báo Nó được xem là phương tiện thông tin giữa nhà đương cực quân sự Pháp với sĩ quan và binh lính Pháp và là phương tiện để thông báo những mệnh lệnh của chế độ cầm quyền Pháp cho người dân bản xứ biết
Tuy nhiên do lúc bấy giờ người Việt Nam biết tiếng Pháp rất ít nên tờ báo BOEC không được nhiều người đọc Vì thế với mục đích phổ biến và thông tin cho người dân biết được những thông tin cũng như những cải cách chính quyền, chính phủ Pháp đã cho ra đời
tờ Bullentin des Communes ( Làng xã công báo ) in bằng chữ Hán – chữ viết chính thức của nhà nước phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ Tờ báo này phát hành số đầu tiên vào năm
1862 với mục đích thông báo “ những biện pháp thi hành của viên thống đốc chỉ huy trưởng hầu thiết lập một nền an ninh trật tự cho xứ sở” Báo được lưu hành ở các thôn xã trong vùng giặc Pháp chiếm đóng để củng cố ách thống trị thực dân mà đế quốc Pháp thiết lập trên phần đất mà chúng đã chiếm được ở nước ta
Ngày 1/1/1864, Pháp cho ra đời Courrier de Saigon ( Sài Gòn thời báo ) Báo ra nửa tháng một kỳ, nội dung gần gũi với báo chí đời thường hơn Tuy tờ báo vẫn do nhà nước quản lý nhưng phạm vi thông tin đã mở ra nhiều lĩnh vực Ngoài công vụ còn có những bài xã luận, các thông tin về canh nông, thương mại, những tin tức về quan, hôn, tang, tế… thân quen trong cuộc sống hằng ngày Không chỉ thế, trong một vài số báo còn
Trang 98
có phụ trang thêm lịch sử, văn học Do đó Sài Gòn thời báo được đánh giá là rất hữu ích
cho sự buôn bán của xứ Bordeaux về việc phát triển và mở rộng để tiếp xúc với các thuộc địa mới của Pháp ở Viễn Đông
Sau khi cho ra đời đủ loại báo bằng tiếng Pháp, tiếng Hán , thực dân Pháp tiếp tục phát hành tờ Gia Định Báo – tờ báo đầu tiên ở Việt Nam viết bằng chữ Quốc ngữ Do chữ quốc ngữ thông dụng, được nhiều người biết đến nên với sự ra đời của Gia Định Báo, chính phủ Pháp sẽ dễ dàng truyền đạt thông tin, chính sách của họ đến mọi thành phần, mọi tầng lớp nhân dân Qua đó thực hiện thành công và hiệu quả công cuộc khai thác thuộc địa Sự ra đời của Gia Định Báo đã có ảnh hưởng lớn đến thời cuộc lúc bấy giờ và
nó được khẳng định trong văn thư của Thống đốc Nam Kỳ gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa
Pháp ngày 9.5.1865 : “… tờ Gia Định Báo đã được dân chúng ủng hộ một cách nồng nhiệt
và ở nhiều địa phương những em bé biết đọc chữ Quốc ngữ đã đọc cho cha mẹ chúng nghe Như vậy tờ báo này xuất bản mỗi tháng một lần sẽ là một sự hữu ích không thể chối cãi được và nó góp phần vào việc thay thế chữ quốc ngữ của chúng ta và chữ Hán, một thứ chữ mà chỉ có một thiểu số quan lại hiểu mà thôi”
Ngày 1/4/1865, lời yêu cầu về việc xin được thành lập tờ báo chữ Quốc ngữ mang tên Gia Định Báo của cụ Trương Vĩnh Ký đã được chấp thuận Nhưng nghị định cho phép xuất bản được kí không phải cho cụ mà là cho một người Pháp tên là tên là Ernest Potteaux ( một viên thông ngôn làm ở Soái phủ Đông Kỳ ) Đến ngày 16/9/1869 mới có nghị định kí hẳn tờ Gia Định Báo cho cụ Trương Vĩnh Ký làm chủ biên
1.1.2 Qúa trình phát triển Gia Định Báo
Thời gian đầu, Gia Định Báo ra mỗi tháng 1 kỳ, 4 trang , khổ 35 x 25 (cm) Sau đó, báo ra mỗi tháng 2 kỳ và cuối cùng là phát hành hàng tuần vào thứ 3 Gía báo mỗi năm 20 quan, 6 tháng 10 quan, 3 tháng 5 quan Nhưng đến 2/6/1900, tiền mua báo được sửa lại bằng đồng bạc thay cho đồng quan Pháp : 1 tháng 8 đồng
Gia Định xuất bản liên tục trong suốt 32 năm ( 1865 -1897), dàn trải khắp thời kì Pháp xâm chiếm nước ta : miền Đông Nam Kỳ, miền Tây Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ Từ tháng 4/1865 đến tháng 9/1869, Gia Định Báo nặng tính chất về công báo, đăng công văn,
Trang 109
nghị định, những văn kiện chính thức của nhà cầm quyền Pháp và những bài nhằm phổ biến, giải thích các văn kiện chính thức của Phủ Tổng đốc Nam Kỳ Báo được lưu hành tận các xã thông vì làng buộc phải xuất công quỹ ra mua báo
Năm 1869, khi Trương Vĩnh Ký lên đảm nhiệm Giám đốc, nội dung Gia Định Báo trở nên phong phú, sinh động hẳn lên với chủ trương “ viết như nói thường”, chống viết theo lối cổ Bên cạnh đăng công văn, nghị định của nhà cầm quyền, báo còn trở nên đa dạng hơn với sự xuất hiện của các bài nghiên cứu lịch sử, thơ, truyện ngụ ngôn Đồng thời vì cổ động cho lối học mới, khuyến khích trí thức và phát triển chữ quốc ngữ nên nội dung trong báo đa phần được viết bằng chữ quốc ngữ mà trong đó nhiều nhất là từ địa phương Bên cạnh đó cũng có hiện tượng vay mượn từ ngoại lại như Pháp, Hoa, Khmer…
Năm 1872, Trương Vĩnh Ký thôi giữ chức Giám đốc Gia Định Báo, cử J.Bonet thay Ít lâu sau, E.Pốt – tô trở lại thay Bonet Từ đó phương hướng biên tập của báo thay đổi, trở lại tính chất công báo như ban đầu Sang đầu thế kỉ 20, năm 1909, Gia Định Báo không còn tác dụng gì mấy trong việc thực hiện chính sách của thực dân Pháp nên báo đình bãn sau 44 năm tồn tại
1.2 Nội dung và hình thức trình bày của Gia Định Báo
1.2.1 Nội dung Gia Định Báo
Kể từ khi ra đời, Gia Định Báo đã đóng vai trò là kênh thông tin quan trọng và hữu ích đối với người dân Việt Nam lúc bấy giờ Nội dung của Gia Định Báo phần lớn xoay quanh thông tin về hoạt động của chính quyền, quyết định ngân sách, tuyển bổ, làm đường
sá, cầu cống, thuế má,…thông tin về tình hình chiến sự, tình hình ngoài nước, tình hình nông nghiệp, thương mại, kỹ nghệ Đồng thời còn hướng dẫn làm các thủ tục, giấy tờ hành chính…một cách tỉ mỉ Bên cạnh đó, Gia Định Báo còn cung cấp thêm kiến thức văn hóa, luật pháp và canh nông , giúp người dân mở mang hiểu biết, giáo dục luân lí và đặc biệt phổ biến chữ Quốc ngữ Ngoài tin tức, Gia Định Báo còn làm nội dung đa dạng, phong phú hơn với những bài nghiên cứu về lịch sử, những bài thơ, chuyện ngụ ngôn…
Trang 1110
Theo từng giai đoạn, Gia Định Báo có ít nhiều những thay đổi, nhưng nhìn chung mỗi số Gia Định Báo có 4 phần : Công vụ, Ngoài Công vụ, Thứ vụ, Quảng cáo
Công vụ : Là mục đăng các nghị định, thông cáo, sắc lệnh, chỉ thị của chính quyền
thực dân hay các thông tin về hoạt động của chính quyền…
Ngoài công vụ : Là mục đăng các lời rao, tin tức về canh nông, kỹ nghệ, thương
mại, đấu giá, đất đai, tình hình kinh tế, giá cả hàng hóa
Thứ vụ : Là mục đăng những bài có tính chất khoa học như : y tế, hiện tượng tự
nhiên, sinh vật…Và những bài có tính chất văn học như : truyện ngụ ngôn, văn vần, thơ lục bát…
Quảng cáo : là nơi đăng quảng cáo, rao vặt, cáo thị…
Nhìn chung, mọi nội dung trên Gia Định Báo đều được viết bằng văn xuôi, văn vần với từ ngữ dễ hiểu, gần gũi với đời sống hằng ngày Điều này đúng với chủ trương của Trương Vĩnh Ký “Cách nói tiếng An Nam ròng” viết chữ quốc ngữ phải : “ trơn tuột như lời nói” Qua đó, Gia Định Báo dễ dàng truyền tải, cung cấp những thông tin thiết thực và thiết yếu cho cuộc sống người dân, góp phần giúp họ tiếp cận tri thức để cải thiện cuộc sống tốt hơn
1.2.2 Hình thức trình bày Gia Định Báo
Các số báo đầu trình bày rất rối và khó đọc Trong một số đoạn rất dài có nhiều nội dung chẳng liên quan với nhau và chỉ cách nhau bằng hình thức xuống dòng Điều này làm cho người đọc không phân biệt được đó là những thông tin riêng biệt hay thông tin chung trong một đoạn Càng về sau, Gia Định Báo càng trình bày rõ ràng hơn, có sự phân cách giữa bài này với bài khác bằng các đường kẻ, các khoảng trống giữa các đoạn Bên cạnh
đó, việc dùng các box cho thấy sự phát triển của Gia Định Báo xét ở mặt hình thức
Còn về Manchettle ( tên báo) của Gia Định Báo, kể từ lúc ra đời cho đến khi đình bản đã thay đổi 4 lần
Trang 1211
Lần thứ nhất, năm 1865, machettle là 3 chữ Hán : Gia Định Báo ở trên rồi đến chữ Quốc ngữ Gia Dịnh Báo ở dưới Điều này cho thấy vào những ngày đầu của Gia Định Báo, chữ Hán vẫn còn được sử dụng chủ yếu, còn chữ Quốc ngữ vẫn chưa thông dụng nên còn nhiều thiếu sót , chữ “ Đ” bị viết thành “ D” Phía trên ghi ngày tháng năm phát hành báo, bên phải là ngày tháng dương lịch và bên trái là ngày tháng âm lịch đều được ghi bằng âm Hán và chưa đầy đủ dấu
Lần thứ hai, manchette, năm 1872, in 3 chữ quốc ngữ Gia Dinh Báo lên phía trên, 3 chữ Hán phía dưới và vẫn chưa khắc phục được tình trạng thiếu sót dấu (-) trong “ Đ” Phía trên tờ báo vẫn có phần ngày phát hành, năm thứ, số báo nhưng lần này các chữ đều được viết rõ ràng theo nghĩa tiếng Việt với đầy đủ dấu Như vậy có thể thấy trong giai đoạn này, chữ Quốc ngữ đã được chú trọng và phổ biến hơn
Trang 1312
Lần thứ 3, từ số 26 năm 1880, manchette thay đổi Font chữ với nét chữ mỏng hơn, nằm giữa 2 đường kẻ ngang Cách trình bày ngày tháng, số báo phát hành được ghi thành một dòng gọn gàng và đẹp mắt hơn
Lần thứ 4, manchette đã được viết một cách đầy đủ dấu và phía trên có ghi 2 hàng chữ Pháp Điều này cho thấy, Gia Định Báo vừa có sự kết hợp giữa chữ quốc ngữ và chữ ngoại lai Và chữ Quốc ngữ cho đến thời điểm này đã được phổ biến rộng rãi
Trang 141.3.2 Về từ ngữ
Đặc điểm từ ngữ trên Gia Định Báo là sử dụng nhiều phương ngữ, những biến thể phát âm và từ địa phương
Về thuật ngữ : do hệ thống chưa phát triển nên thường xảy ra theo ba hướng: để
nguyên dạng từ nước ngoài ; dùng từ thông thường, từ Hán Việt, dùng pha cả từ thuần Việt với từ Hán Việt để tạo thành các thuật ngữ mới; dùng thuật ngữ Hán Việt
Trang 1514
Về tên riêng, thường dùng theo âm Hán hoặc để nguyên dạng ( nước Saxe, báo
Hồng mai, tên Arabe )
Về tử vựng còn khá nhiều khá biệt so với cách dùng ngày nay : chống chịu vây -
kháng cự, làm nhơn dung – mở lòng khoan dung….Bên cạnh đó, còn có hiện tượng vay mượn tiếng Pháp, nhưng vẫn còn lộn xộn, chưa đồng nhất, lúc thì dịch ra tiếng Việt, lúc lại
để nguyên mẫu
1.3.3 Về ngữ pháp
Trong cấu trúc ngữ pháp, các câu đã sử dụng liên từ và giới từ nhưng chưa phân
biệt rạch ròi, có nhiều từ lẫn lộn và dư thừa, đặc biệt là dùng lộn xộn các liên từ thì, và,
mà Bên cạnh đó, do tiếng Pháp có ảnh hưởng khá nhiều đến tiếng Việt, nên ngữ pháp câu
cũng có sự ảnh hưởng rõ rệt Chẳng hạn khi dịch một danh từ, dấu vết của các quán từ xác định “ le ; la” còn để lại khá rõ, thường dịch kèm theo “ con, cây, cái, đứa” Ví dụ : con chồn với con bò ( Le Renard et la Cicogne)
Nhiều dấu vết từ ngữ và cách diễn đạt trong tiếng Pháp còn để lại trong cách việt, nhất là cách dùng liên từ, giới từ và trợ từ Ví dụ tiếng Pháp “Cependant il avint qu’ au sortir de forêts, ce Lion fut pris dans des rets” dịch ra nghĩa là “những mà khi ra khỏi rừng, rủi đâu xảy đến cho con sư tử nầy, phải mắc vào bẫy rập” Cách nói “Cependant … qu’”
dẫn đến cách dịch “ nhưng mà khi” và sắp nhầm chữ nhưng thành những, còn chữ “ dans”
dẫn tới xuất hiện giới từ “ vào” làm câu trên không giống với cách nói chuyện bình thường của người Việt, vì chúng ta nói “ Con sư tử mắc phảu bẫy rập”
Nói tóm lại ngôn ngữ trên Gia Định Báo lúc bấy giờ nhìn chung vẫn còn chịu ảnh hưởng của gốc Pháp và gốc Hán Tuy nhiên chiếm đa phần trong nội dung tờ báo vẫn là từ địa phương Nam Bộ, với câu từ giản dị, dễ hiểu và gần gũi với mọi người
1.4 Từ địa phương Nam Bộ
Từ địa phương Nam Bộ là lớp từ vựng được người Nam Bộ sử dụng mọi lúc mọi nơi Nó có sự khác biệt về ngữ âm cũng như ngữ nghĩa so với ngôn ngữ toàn dân và các phương ngữ khác
Trang 1615
1.4.1 Qúa trình hình thành và phát triển từ địa phương Nam Bộ
Trải qua nhiều cuộc chiến tranh ác liệt kéo dài, Trịnh Nguyễn phân tranh chia cắt hẳn sự tiếp xúc giữa hai miền trong nước Rồi thực dân Pháp xâm lược chia nước ta làm 3
kỳ để cai trị ( Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những thể chế hành chính và luật lệ khác nhau Năm 1954, đất nước lại bị chia cắt bởi hiệp định Geneve về Đông Dương Những yếu tố đó tạo ra sự biến dạng trong sinh hoạt vật chất và tinh thần cũng như ngôn ngữ ở các vùng miền Vì thế sự giao lưu giữa các vùng miền bị hạn chế Và đó cũng là nguyên nhân hình thành các từ địa phương nói chung cũng như từ địa phương Nam Bộ nói riêng Qúa trình hình thành và phát triển của từ địa phương Nam Bộ cũng là quá trình tiếp xúc ngôn ngữ của nhiều tiếng địa phương khác nhau từ các miền nước ngoài mang vào, với ngôn ngữ của các dân tộc cùng sinh sống ở vùng đất này như người Hoa (chủ yếu là người Triều Châu và Quảng Đông, Khmer và người Chăm)
1.4.2 Đặc điểm từ địa phương Nam Bộ
1.4.2.1 Về bình diện ngữ âm
- Không phân biệt các cặp phụ âm đầu, dẫn đến hiện tượng đồng âm nhiều hơn
Âm V , D, Gi đều được đọc thành D : Ví dụ Vui vẻ sẽ phát âm thành dui dẻ, giỏ thành dỏ
Âm S, X thường không có sự phân biệt và đều được phát âm thành X Ví dụ : Sao thành
xao , sáng thành xáng
Âm Tr , Ch thường không có sự phân biệt và đều được phát âm thành Ch Ví dụ trời thành
chời , trăng thành chăng
- Về hệ thống âm đệm U/O (W) , thường xảy ra 2 trường hợp : hoặc là mất hẳn, hoặc
chuyển hóa thành O ở khuôn vần OA, hoặc U ờ khuân vần UÂ Ví dụ Hoa sẽ phát âm
thành Wa , Quán thành wán, Thủy thành thỉ , Loa thành La
- Không có sự phân biệt các khuôn vần, làm tăng hiện tượng khuôn vần, dẫn đến tình trạng khó phân biệt nghĩa của từ
ÂM – ĂM thể hiện thành ĂM , ÂP – ĂP thể hiện thành ẮP Ví dụ : nấm thành nắm, nấp
thành nắp
Trang 1716
ÔM – OM – ƠM thể hiện thành ƠM, ÔP – OP – ƠP thể hiện thành ƠP Ví dụ : hôm
thành hơm, nom thành nơm, hộp thành hợp, cọp thành cợp
IÊM – IM thể hiện thành IM Ví dụ : niềm thành nìm, tiệm thành tịm
IÊP – IP thành IP Ví dụ : thiệp thành thịp
IÊU – IU thành IU Ví dụ : nồi niêu thành nồi niu, chiêu thành chiu
UÔI – UI thành UI Ví dụ : tuổi thành tủi, chuối thành chúi
UƠM/ ƯÔM – UM thành ƯM Ví dụ : lượm thành lựm , buồm thành bừm
ƯƠU – ƯU thành U Ví dụ : hươu thành hu
- Một số chung vần kết hợp với chung âm có phân biệt vị trí phát âm đầu lưỡi/ gốc lưỡi với trường độ dài / ngắn, được người Nam Bộ thể hiện đồng nhất :
AN – ANG thành ANG, ví dụ : lan thành lang, hán thành háng
AT – AC thành AC, ví dụ : lát thành lác, nát thành nác
AY – AI thành AI, ví dụ : Nay thành nai, hay thành hai
AU – AO thành AO, ví dụ : rau thành rao , lau thành lao
- Ngoài ra còn có các trường hợp :
Ê thể hiện thành I Ví du : kênh thành kinh, bệnh thành bịnh
A, Â thành Ơ Ví dụ : đàn ông thành đờn ông, nhân thành nhơn
1.4.2.2 Về bình diện từ vựng – ngữ nghĩa
Do điều kiện địa lí đặc thù nên cách thức hoạt động sản xuất của cư dân Nam Bộ mang đặc trưng sông nước rõ nét nhất, đồng thời cũng đa dạng nhất so với tất cả các vùng miền khác Mạng lưới kinh rạch chằng chịt gắn liền với mọi hoạt động sinh hoạt của người dân, tư giao thông đi lại đến buôn bán, đánh bắt – nuôi trồng thủy sản Thế nên đặc trưng thứ nhất của từ địa phương Nam Bộ chính là những từ ngữ chỉ loại hình và hoạt động sông
Trang 18Đặc trưng thứ ba là ưu tiên sử dụng các từ xưng hô lâm thời Trong nhóm danh từ thân tộc, không dùng bố, u, me, bọ, mạ… mà sử dụng ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, thím…
để xưng hô Trong nhóm danh từ chỉ chức danh xã hội, không dùng tôi, tớ, chúng tôi, chúng tớ,…nhưng sử dụng tui, tụi tui, sếp, bác sĩ…để xưng hô Và cuối cùng là sử dụng các đại từ ngôi 3 mang thanh hỏi : bển, đẳng, trỏng, ngoải, trển, ổng, bả…để xưng hô
Đặc trưng thứ tư là sử dụng các phó từ chỉ mức độ đặc thù như : hà, thiệt, dữ, lậng…Bên cạnh đó là các phó từ chỉ mức độ đi kèm với tính từ như : dở ẹc, tối hù, sáng rỡ,
ốm nhom…
Đặc trưng thứ năm là sử dụng các ngữ khí từ đặc thù như hả, há, héng, hèng chi, chết cha, chứ bộ
Đặc trưng cuối cùng là sử dụng các quán ngữ đặc thù như : hổng dám đâu, quá xá quà xa, hết nước hết cái…
1.4.2.3 Về bình diện ngữ pháp
Từ địa phương Nam Bộ có hai đặc điểm nổi bật trên bình diện ngữ pháp Thứ nhất
là cách xưng gọi, từ dùng xưng gọi : Người Nam Bộ thường dùng thứ + tên để gọi : Tư Thắng, Sáu Rô Những từ thân mật trong họ hàng cũng được sử dụng để gọi cho người ngoài Người lớn tuổi gọi con cháu “ mày”, “ tao” theo sắc thái thân mật chứ không mang nghĩa coi thường Và đặc điểm thứ hai là lối nói lái và tư duy nói lái trong nhận thức người Nam Bộ Ví dụ “ Lì một lam” là “ Làm một li”…
1.4.2.4 Về bình diện phong cách diễn đạt
Trang 1918
Người Nam Bộ không chú trọng, trau chuốt hình ảnh ngôn từ bóng mượt mà thường dùng những hình ảnh gần gũi, dễ liên tưởng để nói lên tâm tư tình cảm của mình Không vòng vo, luẩn quẩn mà diễn đạt rất mộc mạc thẳng thắn theo lối hài hước, cường điệu và phóng đại
1.5 Tiểu kết chương 1
Với vai trò là tờ báo tiếng Việt đầu tiên được xuất bản tại Việt Nam, Gia Định Báo
đã đánh dấu khởi đầu cho nền báo chí nước nhà Là một tờ công báo của chính quyền cai trị, Gia Định Báo đã góp phần phổ biến các văn kiện và truyền bá chữ Quốc ngữ trong dân chúng Những bài viết mang tính chất khoa học phổ thông và văn chương đã cung cấp cho nhân dân thêm kiến thức, kinh nghiệm để cải thiện đời sống Về mặt ngôn ngữ, tuy vẫn còn mắc phải nhiều nhược điểm trong cách diễn đạt nhưng có thể thấy ngôn ngữ trong Gia Định Báo lúc bấy giờ gọn gàng, sáng sủa, giản dị và mang đậm phong cách Nam Bộ Thế nên việc trình bày và phân tích những đặc trưng ngôn ngữ của phương ngữ Nam Bộ nói chung ở chương này sẽ là cơ sở để tìm hiểu và phân tích về đặc điểm của từ địa phương nói riêng trên Gia Định Báo lúc bấy giờ
Trang 2019
CHƯƠNG 2 : ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TỪ ĐỊA
PHƯƠNG TRÊN GIA ĐỊNH BÁO
Trong chương này, tôi sẽ liệt kê những từ địa phương được khảo sát trong Gia Định Báo năm 1883 và chia thành ba dạng cấu tạo : cấu tạo theo dạng từ đơn, cấu tạo theo dạng từ ghép và cấu tạo theo dạng từ láy Từ đó, rút ra nhận xét về đặc điểm cấu tạo của từ địa phương ttrong Gia Định Báo lúc bấy giờ
2.1 Đặc điểm cấu tạo từ địa phương theo dạng từ đơn
Từ đơn là từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập, do một hình vị tạo nên Về mặt
ngữ pháp, từ đơn có thể dùng độc lập ( về vị trí và độ lập về ngữ pháp) Về mặt ý nghĩa, từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội , các số đếm, Từ đơn là những từ cơ bản nhưng giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị các khái niệm
có liên quan đến đời sống và cấu tạo từ mới cho tiếng Việt
Sau đây là một số từ đơn trong cấu tạo từ địa phương trên Gia Định Báo, khảo sát các số năm 1883 :
Nầy: này, nây
“Ông chánh Chương lý hay việc xửu đoán trong cả hạt Nam kỳ làm Lời rao nầy đặng khuyên người Annam, từ nầy sắp lên…” ( 1, 13)
Biên: viết, ghi chép
Thâu: thu nhận vào từ nhiều nguồn đóng góp
“Những đơn kêu ấy phải hiệp theo giấy thuế, hay là một cái giấy biên tromg số y theo lời quan làm đầu coi việc thâu thuế hay là…” (1, 13)
Hộc: ngăn kéo, chỗ để đồ được đặt ở bên dưới hoặc bên trong một số vật dụng
“Hộc thơ tại đường Catinat…” ( 2, 29)
Ngó: nhìn, trông, xem đưa mắt về một hướng nào đó để quan sát
Trang 2120
“Đề ra cho người ta ngó thấy…” (3, 45)
Sanh : sinh, đẻ
“Như ngựa cái đã có sanh đẻ thì bớt 7kil rưỡi và 10 kilogrammes” (3, 45)
Coi: xem, nhận biết bằng mắt
“…các người muốn biết đặng tới đó mà coi.” (8, 134)
Hột: Còn gọi là hạt, một bộ phận có hình trứng hay dẹp chứa trong rau quả
“ Hột điều, 65 kilogrammes, hột kê, 67 kilogrammes.” (14, 222)
Ghe: thuyền gỗ có mui
Be: men theo, dọc theo
“Đánh giá mỗi tạ đựng bao bố, dọc be tàu, không thuế…” ( số 16, trang 255 )
Đặng: được, có khả năng hiểu hoặc tiếp nhận một điều gì đó
“ Bảng đồ hai miếng đất ấy để tại phòng quan tham biện Bi hòa, ai nấy đều đặng tới
đó mà coi” (16, 255)
Muôn: đơn vị tính tương đương với mười nghìn
Ngàn: nghìn, số đếm, đơn vị tính bằng mười lần của một trăm
“Độ theo mặt biển, mây ấy có khi ở cao không quá ngàn thước, độ với núi cao, có khi
cách nhau cho tới muôn thước Lây theo mực giữa chừng mây cao…” (16, 255)
Thới: thái, bình yên, thản nhiên, trạng thái thuận lợi may mắn
“…hễ khi hai món trước hạ xuống, còn kim táo thấp qua bên phía trớt nhằm mực thới quá,
thì đoán chắc được là trời mưa…” (16, 255)
Mùng, mền : chăn, màn
“Trong mỗi một hạt, hãy còn phải biết ông làm đầu tòa hình còn có chỗ ở, dọn sẵn
dồ dọn ấy thì là những dò dùng, mùng, mền, bàn, ghế, vân vân” ( 17, 260)
Guộn : cuộn, cuốn, vo, làm cho thu gọn lại bằng cách vấn tròn
“…thổi cát vun vồng như sóng, guộn lên cho tới năm, sáu thước cao…”(17, 271)
Trang 2221
Rài: rày, nay, này, thời điểm đang nói tới
“Bên phía biển bắc, gần lôi xích đạo, có ngọn gió rài thổi trường từ đông sang tây…”(
17, 271)
Liệng : ném, vứt
“Tại các xứ cù lao Antilles thường giựt cà xuyên đà mà liệng ra ngoài trăm thước,
súng lớn kềm trên giá, nó cũng bưng đi…” (17, 271)
Nhứt: nhất, số khởi đầu của số đếm thứ tự
“Miếng thứ nhứt đạc thành 13 sào 47 thước…” (18, 287)
Bậu: tiếng gọi người tiếp chuyện mình, khác giới tính, có ý thương mến, thân mật
“con chó săn cái với con bậu bạn nó…” (18, 287)
Khoái: thích, ghiền, nghiện, có cảm giác đam mê một cái gì đó
“Qụa nghe lời nói khoái lòng, thoạt liền mở mỏ…”(19, 303)
Nội: Bên trong
“…uống như vậy nội 10 ngày thì ngưng lại, mà cách 15 ngày sau, lại uống lại,
Hưu: con hươu
Nhồi: nhào, trộn đều với nước làm cho dẻo, cho nhuyễn
“…ăn thịt trâu nước, thịt nai hưu, bánh thì nhồi lộn với cá xé khô, đồ uống lại dùng
cho cay nồng…” ( 21,327)
Ưng: đồng ý, chấp nhận
“Ai nấy đều ưng ý như vậy” (21, 324)
Rựa: Cái dao lớn có mấu, là đồ dùng để chặt cây đốn củi
“ Dứt lời, xách rựa phân thay
Trang 2322
Chặt lia hai cái chia rày làm ba.” (22, 340)
“Vậy thì người nhẹ hơn nước có thể nổi trên mặt nước, nhứt là nước biển tánh nặng
hơn, hậu hơn thì lại dễ lội” (22, 339)
Té : vấp, ngã
“Dẫu không biết lội, té xuống nước phải cho tỉnh nhất là nín hơi, làm sao
cũng nổi, đầu nằm ngang xuống nước, nước có vô tai cũng phải rán mà chịu…” (22, 339)
Chơn: chưn, chân, bộ phận cơ thể
“…cho được tùy ý vẫy vùng; giơ tay giơ chơn lên trên không…”( 22, 339)
Chúi: ngả đầu, lủi đầu về phía trước như sắp muốn té
“…tại đầu nặng thì cứ việc chúi đầu xuống nước…” (22, 339)
Queo: héo, co thâu lại
“Lạnh queo, tê cứng, thảm thay…” ( 22,340)
Gởi: Gửi, chuyển đến người khác qua trung gian
“Số vị nào mình muốn mua ra nói một tờ giấy, biên số ấy bằng chữ quốc ngữ hay là
chữ nho cũng được, rồi tính hết thảy giá thuốc muốn mua là bao nhiêu, đoạn gởi giấy ấy
Rảo: theo dõi, tuần tra, xem xét
“ Có khi nó vầy đoàn, rảo trong các tràng cát…”(24, 363)
Vắn: ngắn, không có chiều dài tương xứng yêu cầu
“Cổ nó dài mà không lông, đầu nhỏ, mỏ vắn mà đẹp…” (24, 363)
Lượng: lạng, mười đồng cân
“…cứ mỗi một lượng phải phạt 20 đồng…” (25, 368)
Trang 2423
Bịnh: Bệnh, trạng thái cơ thể hoạt động không bình thường
Đờn ông, đờn bà : đàn ông, đàn bà
“Là thuốc rượu chữa bịnh tim la bịnh đau mình mẩy, bịnh truyền nhiên cùng là
các thứ máu độc trong thân bất biên đờn ông đờn bà có thai hay con nít đều uống được…”
(25, 376)
Đành: vừa lòng, ở tình trạng có tâm lí thích và muốn tiếp nhận vì hợp lí mình
“Bán buôn được giá, lưới câu đành lòng” (26, 379)
Quấu: vuốt, phần móng nhọn sắc và cong ở đầu ngón chân một số loài
“Có một thú có hai nanh lớn, mọc tại hàm trên quấu xuống…” (26, 379)
Xức: Bôi cho dính thấm vào
Khít: Kể bên, sát ngay bên cạnh
“ Là thuốc dầu để xức khi phạm đao đầu hết phải khít nơi đút…” (28, 384)
Tịm: tiệm, cửa hàng nơi buôn bán hàng hóa
“…trả tiền thuốc cho tịm bán thuốc ở tại Saigon…” (28, 384)
Chun: chui, bò qua khoảng trống hẹp, di chuyển từ bên ngoài vào bên trong
Vựa : nơi mua bán sỉ lẻ, mua bán khối lượng lớn, có nhà để cất chứa
“Con chồn mình mẩy ốm tom
Chun theo chỗ hở vào trong vựa nhà” (29, 392)
Bậy: tạm, qua loa, sơ sài, từ biểu thị tình trạng không được như ý, nhưng vẫn
hơn không có gì
“Trên đầu nó có mồng là văn, hầu chưng có cựa là vỏ, gặp gà lạ, dám đá là
dỏng, có ăn tức nhau; là nhơn; đêm khuya không gáy bậy là tín” (29, 392)
Trang 2524
Mướn: thuê, nhờ người nào đó làm việc và trả tiền công
“Khoản thứ 6 – Các làng đều có phép kiện thưa theo việc hộ cho được đòi tiền mướn lính
mới tình nguyện hay là tình nguyện lại…” (30,)
Rưỡi: nửa, một phần hai
“Gạo đựng bao bố, cứ một trăm phải trừ một, gạo đựng bao bàng, cứ số một trăm, trừ một
rưỡi…” (33, 415)
Dựa vào những được khảo sát trên, nhìn chung cấu tạo từ đơn trong từ địa phương trên Gia Định Báo có những đặc điểm như sau:
Được cấu tạo do hiện tượng biến âm, phát âm theo thói quen của người Nam Bộ Chẳng
hạn như : gởi (gửi) ; tánh (tính), nhứt (nhất), rài (rầy), thới (thái), bịnh (bệnh) , ngàn
(nghìn), guộn (cuộn), quấc (quốc), tịm (tiệm), liện ( liệng) , hưu (hươu)
Được cấu tạo do ảnh hưởng những hoạt động, tính chất, gắn liền với những vấn đề vùng miền Những từ này thường mang đậm nét Nam Bộ và không xuất hiện ở các phương ngữ
khác như: be, ghe, ve, (con) lãi, bậu, bậy, đành, đặng, xức, ưng, rựa, chúi, queo…
Được vay mượn từ tiếng Hán như: muôn, ngàn, nội, biên, lượng…
2.2 Đặc điểm cấu tạo từ địa phương theo dạng từ ghép
Từ ghép là từ được cấu tạo từ các âm tiết ( các tiếng) có quan hệ về ngữ nghĩa với
Sau đây là một số từ ghép ( chính phụ và đẳng lập) trong từ địa phương trên Gia Định Báo, được khảo sát trên các số báo năm 1883 :
Dầu lửa : dầu hỏa, dầu hôi
“Lời nghị định lời hội đồng Quản hạt bản nghĩ bớt giá thuế dầu lửa….” (1,1)
Trang 2625
Nước ròng: Nước thủy triều hạ xuống, nước xuống theo con nước hằng ngày, thường có
sự dời đổi thời gian chậm lại khoảng một tiếng
Nước lớn: Nước thủy triều dâng, nước dâng theo con nước hằng ngày, thường có
sự dời đổi thời gian chậm lại khoảng một tiếng
“Thứ vụ - Con dê – nước ròng, nước lớn” (1, 1)
Thơ ký: thư ký, người giúp ghi lại thông tin buổi làm việc
“ Giấy các sự thế riêng và nào làm giấy đấu, nên để lại phòng sở kho sáng và tại phòng
thơ ký quan năm…” (1,14)
Dây thép: điện tín, điện báo, phương thức truyền chữ viết dưới hình thức tín hiệu
điện
“gởi đi theo dây thép…” (8, 134)
Áo cụt: áo ngắn tay
“Người đưa xe đò số 206, ở Phú- hòa có được hai cái áo cụt trắng của người đi xe
bỏ quên, bây giờ để lại tại trại lính tuần thành đường Bangkok” (14, 222)
Đánh lộn: đánh nhau, ẩu đả lẫn nhau giữa hai cá nhân hoặc một số cá nhân “Hai đứa
ăn trộm đánh lộn với nhau…” (16, 255)
Bao bố: Bao tải làm bằng đay (bố)
“ Đánh giá mỗi tạ đựng bao bố…” (16, 255)
Gạo lứt: Gạo xay vừa mới ra lò, hạt màu vàng đục pha trộn với hạt màu nâu đỏ
Trang 2726
“ Gạo lứt mới đựng trong bao bố…” (16, 255)
Chảo đụn: Là loại chảo cực lớn, dùng để nấu ăn cho bếp tập thể
“Hơi nước ở chỗ đất ướt, ở dưới nước như sông biển vân vân, chẳng có giây phút nào
mà chẳng cất lên trên không không ở đó, đụng khí lạnh lại kết làm nước hột, ấy cũng như
dùng chảo đụn, đổ nước đầy, đem vào phòng đóng cửa kín…” ( số 16, 255)
Con nít: trẻ con
“…con nít từ 5 tuổi cho …đến 15 tuổi…”(16, 255)
định về năm 1883 cho được một hai người lam việc ăn lên” (17, 261)
Mất cở: mắc cỡ, thẹn, xấu hổ, tự cảm thấy bối rối, mất tự nhiên
“Qụa làm mất cở, cải chừa thì thôi, ăn năn thì sự đã rồi, mới thề chẳng để gạt đôi ba
lần…” (19, 303)
Rúng chuyển: dao động, xáo động
“ Vật rúng chuyển gấp ở giữa khí không không, thì làm ra tiếng…” (19, 303)
Lạnh queo: lạnh héo hon, quá lạnh
“Lạnh queo, tê cứng, thảm thay…” ( 22,340)
Phụng hoàng: phượng hoàng, chim phượng, được coi là chúa tể loài chim
“Có kẻ nhìn lạc là phụng hoàng; vì người phương Đông cho phụng hoàng là vô trùng
chi trướng….”( 25, 375)
Miếu sập: nơi thờ thần linh hoặc những nhân vật được thần thánh hóa
“chim ưng thường đậu trên chót đá cao, đậu theo cổ tháp, hoặc đậu theo chùa hư miếu
sập…” (25, 375)
Bắt bớ: bắt giữ
Trang 2827
“Điều thứ 21 – Hễ khi đoán việc bắt bớ là quấy, mà trường quan thuế có nài phức
thẩm…”(25, 367)
Lần lựa: lần nữa, kéo dài thời gian để trì hoãn
“Điều thứ 35 – Hễ ai thiếu tiền mà lần lựa, thì trưởng quan thuế có phép cầm bắt.” ( 25,
367)
Đậu phụng : đậu phộng
“Người ta đương lo cày cấy Đương lo trỉa đậu phụng, song có hai tồng, người ta sợ
đậu phụng không được mùa…” (28, 383)
Mơn trớn: vuốt ve, nâng đỡ, lấy lòng, làm cho toại
“Chó biết chủ, mến chủ hay ngoắt đuôi, mơn trớn, có đuổi đánh nó cũng trở về.”(29, 391)
Qúa giang : đi nhờ phương tiện của ai đó
“Tiền quá giang cùng tiền bồi phí cho ông ấy…” (34, 423)
Bắt thăm: bỏ thăm, thử vận Rút số hiệu làm như phép bói toán
“Ấy là việc tra xét năm ngoái, có 7, 8 tiếng bắt thăm trong năm 1881 và 1882…”(37,
441)
Con niêm: con dấu gắn bìa thơ
“Nhà nước khuyên các người Phương – đông, có thơ thì đem tới nhà thơ, cho được
dán con niêm…” (38, 450)
Ban mai: lúc sáng sớm
“…7 giờ ban mai, sẽ hội tại trường Chasseloup – Laubat….” (42, 480)
Gấp rúc: gấp rút, làm nhanh trong khoảng thời gian ngắn nhất
“ vì việc gấp rúc, tôi đã nhất định không đợi hội nhóm theo lệ…” (43, 486)
Có thể thấy, đặc điểm từ địa phương cấu tạo theo dạng từ ghép trên Gia Định Báo lúc bấy giờ cũng gần giống như từ đơn trong cấu tạo từ địa phương:
- Được tạo thành do hiện tượng biến âm : đậu phụng (đậu phộng), mất cở (mắc cỡ)…
- Được tạo thành bằng cách kết hợp 2 từ thuần Việt với nhau để tạo ra từ mới mang nét
nghĩa Nam Bộ: nước lớn, nước ròng, bao bố, dầu lửa, dây thép, trồng trỉa, lạnh queo, bắt
bớ, rúng chuyển…