1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của công chức tư pháp hộ tịch xã trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật ở việt nam hiện nay

74 513 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 745,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh đó, học viên lựa chọn đề tài nghiên cứu “Vai trò của công chức tư pháp – hộ tịch xã trong việc phổ biến giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay.” nhằm góp phần nhận diện và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ VIẾT THIỆN

VAI TRÒ CỦA CÔNG CHỨC TƯ PHÁP – HỘ TỊCH XÃ TRONG VIỆC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số : 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS DƯƠNG THANH MAI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài luận văn “Vai trò của công chức tư pháp – hộ tịch xã trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay” được thực hiện từ tháng

12/2012 đến tháng 5/2013 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc, có một số thông tin thu thập từ thực tế ở địa phương, một số số liệu đã được phân tích, tổng hợp và xử lý với mục đích nghiên cứu khoa học trong phạm vi đề tài luận văn

Tôi xin cam đoan:

1 Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và có nguồn trích dẫn rõ ràng, đảm bảo

2 Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này hoàn toàn vì mục tiêu khoa học, cống hiến, không có mục đích vụ lợi hoặc làm sai lệch thông tin ảnh hưởng đến đường lối chính trị của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước

3 Cam kết đã nghiêm túc nghiên cứu, minh bạch trong sử dụng thông tin, không làm ảnh hưởng đến uy tín của bất cứ nhà nghiên cứu nào có liên quan đến

đề tài của luận văn

Thanh Hóa, ngày 28 tháng 5 năm 2013

Trang 3

Lời cảm ơn Trước tiên, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô

Dương Thanh Mai, chuyên viên cao cấp của Bộ Tư Pháp - người đã

tận tình hướng dẫn và có nhiều hướng gợi mở để tác giả phát huy khả năng sáng tạo trong công trình nghiên cứu này

Qua đây, cho phép tác giả gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể Thầy Cô giáo Khoa Sau đại học - Trường Đại học Luật Hà Nội, các cơ quan, đơn vị đã giúp đỡ tác giả về mặt tư liệu trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Bên cạnh nguồn động viên, giúp đỡ trên, tác giả cũng nhận được

sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè và những người luôn ở bên tác giả trong những lúc khó khăn nhất Tác giả trân trọng cảm ơn những tình cảm tốt đẹp ấy

Những nội dung trình bày trong luận văn mới chỉ là kết quả nghiên cứu bước đầu Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do thời gian

và năng lực có hạn, quá trình thu thập tài liệu chưa đầy đủ như mong muốn, luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót nhất định

Cuối cùng, tác giả chờ đợi những đóng gúp ý kiến quý báu của Thầy Cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn !

Tác giả

Lê Viết Thiện

Trang 4

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

PBGDPL : Phổ biến, giáo dục pháp luật

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 5

MỤC LỤC

1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu……… 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 6

5 Phương pháp nghiên cứu……… 7

6 Ý nghĩa của đề tài……… 7

7 Kết cấu của đề tài……… 7

NỘI DUNG 8 Chương 1 Cơ sở lý luận về vai trò của công chức tư pháp – hộ tịch xã trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay … 8 1.1 Nhận thức chung về phổ biến, giáo dục pháp luật ………… 8

1.1.1 Khái niệm……… 8

1.1.2 Chủ thể và đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật……… 9

1.1.3 Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật……… 10

1.1.4 Nguyên tắc của phổ biến, giáo dục pháp luật……… 11

1.1.5 Những điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 12 1.2 Vị trí, vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch xã trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật……… 12

1.2.1 Vị trí của công chức tư pháp - hộ tịch xã……… 12

1.2.2 Đặc điểm của chức danh công chức tư pháp – hộ tịch xã…… 14

1.2.3 Vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch xã trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật……… 15

Trang 6

1.3 Những yêu cầu mới đối với công chức tư pháp - hộ tịch xã

trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn hiện nay 18 1.3.1 Thực hiện cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020… 18 1.3.2 Tiến hành chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020……… 19 1.3.3 Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở……… … 20 1.3.4 Thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới……… 22 1.3.5 Bảo đảm chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở… 24

1.3.6 Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức……….…… 26 1.3.7 Thực hiện Luật phổ biến giáo dục, pháp luật năm 2012…… 27 Chương 2 Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò của công chức tư

pháp – hộ tịch xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở

2.1 Khái quát về thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 29 2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

2.3 Thực trạng vai trò của công chức tư pháp – hộ tịch xã trong

công tác phổ biến, giáo dục pháp luật……… 40 2.3.1 Công chức tư pháp – hộ tịch xã thông qua hoạt động phổ

biến, giáo dục pháp luật góp phần nâng cao ý thức pháp luật

2.3.2 Công chức tư pháp – hộ tịch xã thông qua hoạt động phổ

biến, giáo dục pháp luật góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở……… 42 2.3.3 Kết quả thực hiện những yêu cầu mới của công chức tư pháp

Trang 7

- hộ tịch xã trong việc tiến hành các cuộc cải cách ở Việt Nam

2.3.4 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong công tác phổ

biến, giáo dục pháp luật của công chức tư pháp – hộ tịch xã… 49 2.4 Giải pháp nhằm nâng cao vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch xã

đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay 54

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng, mọi quan hệ xã hội chủ yếu đều phải được điều chỉnh bằng pháp luật và được thực hiện trên cơ sở tôn trọng pháp luật Mục tiêu và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vì con người đều lấy con người là trung tâm, là động lực và phải

được vận hành dựa trên nguyên tắc : “Dân biết - Dân bàn - Dân làm - Dân kiểm

tra” Nhìn từ góc độ pháp quyền, nguyên tắc đó được hiểu là nhân dân phải biết

pháp luật, phải được bàn về các chính sách, pháp luật từ khi khởi thảo đến khi ban hành và chính nhân dân là chủ thể thực thi pháp luật, đồng thời giám sát, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước trong tổ chức và hoạt động, đặc biệt là trong các hoạt động liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân

Tuy nhiên, hiện nay thực trạng người dân hiểu biết và tuân thủ pháp luật còn nhiều hạn chế, tình hình vi phạm pháp luật do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân không hiểu biết pháp luật còn phổ biến, đặc biệt là ở những nơi, những vùng miền kinh tế - xã hội chậm phát triển, khả năng nhận thức và tiếp cận thông tin pháp luật của nhân dân và cán bộ, công chức gặp nhiều khó khăn Luôn coi trọng vai trò của cán bộ tư pháp trong việc đưa pháp luật đến với người dân, ngay từ những năm tháng kháng chiến gian khó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

căn dặn: “Tư pháp phải gần dân, hiểu dân, giúp dân và học dân” (Hội nghị Tư

pháp toàn quốc năm 1950) Đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp, mà đặc biệt là

công chức tư pháp – hộ tịch xã, phường, thị trấn (từ nay gọi tắt là công chức tư

Trang 9

pháp - hộ tịch xã) có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động phổ biến, giáo

dục pháp luật nói chung, hoạt động của chính quyền cơ sở đưa pháp luật đến với người dân nói riêng Mặt khác, trong quá trình quản lý, điều hành xã hội, công chức tư pháp – hộ tịch xã có vị trí đặc biệt với chức năng tham mưu giúp chính quyền cơ sở áp dụng pháp luật một cách đúng đắn vào thực tiễn đời sống để giải quyết công việc của người dân, đồng thời tạo điều kiện để nhân dân có thể tham gia một cách dân chủ, thuận lợi vào các quyết định của chính quyền cơ sở, qua

đó giúp nhân dân hiểu về pháp luật trong từng việc cụ thể liên quan đến quyền và lợi ích của bản thân, gia đình Chính những bài học thực tế về dân chủ và pháp luật thông qua hoạt động của chính quyền cơ sở, của công chức tư pháp - hộ tịch

xã sẽ làm cho không chỉ kiến thức mà cả lòng tin của nhân dân đối với nhà nước

và pháp luật được củng cố, nâng cao hay bị xói mòn, giảm sút

Vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay đang đứng trước những cơ hội mới khi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật vừa được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 với nhiều chính sách, giải pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong đó có những quy định liên quan trực tiếp đến phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với hoạt động thi hành pháp luật tại cơ sở Đồng thời, các giải pháp cải cách hành chính, cải cách tư pháp hướng về cơ sở cùng với những quyết sách của Nhà nước về xây dựng và thực hiện các chuẩn mực kinh tế - xã hội, văn hóa nông thôn mới hay chuẩn mực tiếp cận pháp luật của người dân ở cơ sở cũng là cơ hội và thách thức mới đối với công chức tư pháp -

hộ tịch xã để họ khẳng định và có thể đảm đương vai trò cùng trách nhiệm ngày càng cao của mình trong việc gần dân, giúp dân biết, hiểu và làm theo pháp luật

Trang 10

Trong bối cảnh đó, học viên lựa chọn đề tài nghiên cứu “Vai trò của công chức

tư pháp – hộ tịch xã trong việc phổ biến giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay.” nhằm góp phần nhận diện và làm rõ những vấn đề mới đặt ra đối với nhận

thức về vai trò và các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch xã trong giai đoạn đẩy mạnh các công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau liên quan đến vai trò của chính quyền cơ sở nói chung, công chức tư pháp - hộ tịch xã nói riêng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Có thể khái quát các công trình nghiên cứu đó theo ba nhóm vấn đề sau:

Nhóm 1: Nghiên cứu về giáo dục pháp luật và phổ biến, giáo dục pháp luật

Những công trình nghiên cứu chung về lý luận giáo dục pháp luật như đề tài

khoa học cấp bộ năm 1992-1993 “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của công

tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay”, Chủ nhiệm đề tài

Dương Thanh Mai, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp; Sách “Bàn về giáo dục

pháp luật” của PTS Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai, Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, năm 1995 đã góp phần giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục pháp luật ở Việt Nam

Trên cơ sở đó, nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu đã được thực hiện về phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động của các chủ thể khác nhau

Trang 11

trong những lĩnh vực hoạt động cụ thể của các cơ quan nhà nước, trong số đó có thể kể đến:

- Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam – Luận án tiến sĩ luật học, bảo vệ năm 1996 của Dương Thị Thanh Mai

- Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ( không chuyên luật ) ở Việt Nam – Luận án tiến sĩ luật học bảo vệ năm

1996 của Đinh Xuân Thảo

- Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật trong trường cao đẳng, sư phạm hiện nay ( thực tế ở trường cao đẳng sư phạm Quãng Bình ) – Luận văn thạc sĩ luật học bảo vệ năm 2004 của Trần Thị Sáu

- Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật đối với sinh viên trong các trường đại học không chuyên Luật ở Việt Nam - Luận văn thạc sĩ luật học bảo vệ năm

2006 của Nguyễn Thu Thủy

- Phổ biến, giáo dục pháp luật trong ngành xây dựng Việt Nam hiện nay – Luận văn thạc sĩ luật học bảo vệ năm 2012 của Lương Thị Kim Loan

- Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc Thực trạng và giải pháp - Luận văn thạc sĩ luật học bảo vệ năm 2006 của Đinh Công Sỹ

- Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Thực trạng và giải pháp – khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật năm 2007 của Kim Hồng Thanh

Các công trình này đã tập trung làm rõ những đặc điểm về chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong các lĩnh vực hoạt động đa dạng của cơ quan nhà nước tại các địa bàn và với các đối tượng có điều kiện phát triển khác nhau

Trang 12

Nhóm 2: Nghiên cứu về công chức tư pháp – hộ tịch xã

- Đề án tăng cường năng lực cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp – Năm 2009 - Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

- Đề tài - Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chương trình, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp hộ tịch xã, phường, thị trấn – Năm 2007 - Học viện tư pháp, Bộ Tư pháp

- Đề tài khoa học cấp bộ - Tổ chức và hoạt động của ban tư pháp xã, phường, thị trấn

và tổ hòa giải ở cơ sở trong quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước – Năm 1999 - Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

- Đề tài khoa học cấp bộ – Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức tư pháp địa phương - Năm 2007 - Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

Các công trình này đã góp phần làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công tác tư pháp cấp xã, của công chức tư pháp - hộ tịch xã trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử phát triển ngành tư pháp nói riêng, của quá trình hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở nói chung

Nhóm 3 : Nghiên cứu về hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của công chức tư pháp – hộ tịch xã Chủ yếu đây là những bài viết, đánh giá trên các tạp chí, báo mạng

về hoạt động thực tiễn của công chức tư pháp - hộ tịch xã trong giai đoạn 2005 - 2010 gắn với việc triển khai các chương trình, kế hoạch của Chính phủ về phổ biến, giáo dục pháp luật tại xã, phường, thị trấn

Hiện nay giai đoạn mới với rất nhiều yêu cầu mới từ các cuộc cải cách đòi hỏi phải

có những nhận thức mới, sâu sắc hơn về vị trí, vai trò cũng như nhiệm vụ của công

chức tư pháp – hộ tịch xã trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật Đề tài “Vai trò

của công chức tư pháp – hộ tịch xã trong việc phổ biến giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, được thực hiện sẽ góp phần bổ sung những luận cứ khoa học, cả về lý

luận và thực tiễn cho những nghiên cứu thuộc nhóm 3 này

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm sâu sắc cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của công chức tư pháp –

hộ tịch xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và khuyến nghị những giải pháp

để nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của công chức

tư pháp - hộ tịch xã trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền, đẩy mạnh đồng bộ cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, cải cách hành chính

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm hướng đến làm sáng tỏ những vấn đề sau :

(i) Cơ sở lý luận về vai trò của công chức tư pháp – hộ tịch xã trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật và những yêu cầu mới đặt ra trong giai đoạn hiện nay (ii)Thực trạng vai trò, chất lượng của công chức tư pháp – hộ tịch xã hoạt động trong phổ biến giáo dục pháp luật trước những yêu cầu mới; làm rõ những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân;

(iii) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của công chức tư pháp – hộ tịch xã trong phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng các yêu cầu mới của cuộc cải cách pháp luật; cải cách tư pháp; cải cách hành chính ở Việt Nam.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò, nội dung, hình thức hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của công chức tư pháp – hộ tịch xã

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp như phương pháp lô gic - phương pháp phân tích - phương pháp liệt kê - phương pháp so sánh - phương pháp chuyên gia

Trong số các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu thì phương pháp phân tích, phương pháp thống kê được sử dụng chủ yếu

6 Ý nghĩa của đề tài

Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận vai trò của

đội ngũ công chức tư pháp – hộ tịch xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trước các yêu cầu mới của các cuộc cải cách đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay

Về mặt thực tiễn: Luận văn đóng góp một số giải pháp nhằm góp phần hoàn

thiện thể chế và nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của đội ngũ công chức tư pháp – hộ tịch xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 2 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của công chức tư pháp – hộ tịch xã trong

việc phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò của công chức tư pháp –

hộ tịch xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Trang 15

Tư pháp phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân

Lời phát biểu của chủ tịch Hồ Chí Minh Tại Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950

Trang 16

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG CHỨC TƯ PHÁP – HỘ TỊCH

XÃ TRONG VIỆC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Nhận thức chung về phổ biến, giáo dục pháp luật

1.1.1 Khái niệm

Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật, theo “Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật” (Kỷ yếu Dự án VIE/98/001 về Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam – giai đoạn II”, Hà Nội, 2002): phổ biến, giáo dục pháp luật là một từ ghép bởi hai từ ( phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật) Cả cụm từ phổ biến, giáo dục pháp luật có hai nghĩa: [10]

Nghĩa hẹp: Là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình

cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng

Nghĩa rộng: Là công tác, là lĩnh vực hoạt động bao gồm tất cả các công đoạn phục

vụ cho việc phổ biến, giáo dục pháp luật, cụ thể như: Định hướng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; Lập chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; Áp dụng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; Triển khai chương trình kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; Kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật

Trong Luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm chung, đã được thừa nhận rộng rãi về

phổ biến, giáo dục pháp luật như sau: “Phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động định

hướng có tổ chức, thường xuyên có chủ định của chủ thể tới nhận thức của con người, nhằm hình thành ở họ ý thức pháp luật, thái độ chấp hành pháp luật, thói quen tuân thủ pháp luật phù hợp với các quy định của pháp luật và đòi hỏi của nền pháp chế hiện

Trang 17

hành”.[23] Còn khi nói đến vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch xã trong phổ biến

giáo dục pháp luật, Luận văn tiếp cận theo cả hai nghĩa - theo nghĩa hẹp khi đề cập đến vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch xã với tư cách là một chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và theo nghĩa rộng khi đề cập đến vai trò của công chức tư pháp - hộ tịch xã trong việc tham mưu, giúp chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

tổ chức công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn thuộc chức năng, nhiệm vụ của UBND xã

1.1.2 Chủ thể và đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật

Chủ thể của phổ biến, giáo dục pháp rất đa dạng, phong phú Căn cứ vào sự liên

quan giữa chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm pháp lý với mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật, các chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật được phân thành các loại

sau [31]:

Chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật chuyên nghiệp là những người có chức năng,

nhiệm vụ hay trách nhiệm pháp lý chủ yếu, trực tiếp và thường xuyên thực hiện mục đích, nội dung của phổ biến, giáo dục pháp luật Đây là những chủ thể quan trọng và chủ yếu của phổ biến, giáo dục pháp luật

Chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật không chuyên nghiệp là những cá nhân, tổ chức

mà chức năng, nhiệm vụ chính của họ không phải là phổ biến, giáo dục pháp luật, nhưng khi thông qua các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của mình như hoạt động xét xử của toà án; hoạt động bào chữa, tư vấn của luật sư; hoạt động điều tra, truy tố của cơ quan công an, viện kiểm sát nhân dân đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Ngoài ra, công dân cũng được coi là chủ thể của phổ biến, giáo dục pháp luật vì

bằng sự hiểu biết pháp luật, bằng ý thức trách nhiệm công dân của mình và trước hết là bằng sự gương mẫu thực hiện đúng, đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương

Trang 18

Đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật là cá nhân, tổ chức được tiếp nhận trực

tiếp hoặc gián tiếp những tác động của các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật do các chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật tiến hành nhằm đạt mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật đã đặt ra Trong các công trình về phổ biến, giáo dục pháp luật [ 31] có

sáu nhóm đối tượng cụ thể với các đặc điểm nghề nghiệp, địa bàn sinh sống, lứa tuổi

thường được tập trung nghiên cứu bao gồm:

- Cán bộ, công chức, viên chức;

- Cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang;

- Người dân sống tại các loại địa bàn khác nhau (thành phố, nông thôn, miền núi, hải đảo…);

- Thanh thiếu niên; học sinh, sinh viên

- Người sử dụng lao động, người lao động trong các doanh nghiệp;

- Người nước ngoài ở Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài

Khi triển khai phổ biến, giáo dục pháp luật vào đời sống xã hội thì vấn đề có ý nghĩa quan trọng là xác định đúng đối tượng để áp dụng các phương pháp phù hợp trên cơ sở hiểu và đánh giá được tâm lý cũng như khả năng nhận thức của từng đối tượng Xác định đúng đối tượng ta sẽ có cái nhìn chi tiết, cụ thể và có hướng áp dụng pháp luật một cách đúng đắn Chủ thể tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật có thể là trực tiếp hay gián tiếp tác động lên đối tượng nhưng đều có chung mục đích là đưa pháp luật đi sâu vào cuộc sống - từ nhận thức đến hành động - của các đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật

1.1.3 Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật

Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật là những cách thức mà chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật sử dụng để thực hiện các nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật theo mục đích xác định Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật rất đa dạng và phong phú, trong

đó, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trực tiếp bằng lời nói là hình thức truyền

Trang 19

thống, được sử dụng nhiều nhất Đồng thời, với nền công nghệ thông tin hiện đại, việc cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; đăng tải trên công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử đang được sử dụng khá phổ biến Ngoài ra việc niêm yết các nội dung liên quan đến pháp luật thường được sử dụng tại các bản tin, trụ sở của cơ quan, tổ chức, khu dân cư nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân cập nhật thông tin Thông qua công tác xét xử, xử

lý vi phạm hành chính, hoạt động trợ giúp pháp lý và hòa giải ở cơ sở để thực hiện việc phổ biến, giáo dục pháp luật gắn liền với các sự kiện, tình huống pháp lý cũng là những hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khá hiệu quả do các chủ thể không chuyên nghiệp đảm nhiệm Lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật, các hoạt động sinh hoạt cộng đồng dân cư, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật

đã tạo ra các hình thức giúp cho người dân tiếp cận pháp luật với những hình thức nhẹ nhàng, dễ tiếp thu Trong khi đó, tại các trường đại học, cao đẳng và trung tâm dạy nghề, các cơ sở giáo dục thì hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật lại phải là chương trình giáo dục pháp luật có tính hệ thống, chính thức, bài bản phù hợp với từng cấp, từng ngành học Tùy từng điều kiện, đối tượng cụ thể mà các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác nhau được lựa chọn Sử dụng hình thức phổ biến giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng sẽ giúp cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đạt hiệu quả

1.1.4 Nguyên tắc của phổ biến, giáo dục pháp luật

Để đảm bảo đạt được các mục đích một cách có hiệu quả và bền vững, khi tiến hành hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cần tuân thủ đúng các nguyên tắc sau :

- Phổ biến, giáo dục pháp luật phải chính xác, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực;

- Phổ biến, giáo dục pháp luật phải kịp thời, thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm;

- Đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, phù hợp với nhu cầu, lứa tuổi, trình độ của đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc;

Trang 20

- Phổ biến, giáo dục pháp luật phải gắn với việc thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, của địa phương và đời sống hằng ngày của người dân;

- Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan, tổ chức, gia đình và xã hội trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật

1.1.5 Những điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Để cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đạt hiệu quả cần có những điều kiện

bảo đảm nhất định về nhân lực; kinh phí phục vụ cho phổ biến, giáo dục pháp luật và

các chính sách của nhà nước nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hỗ trợ kinh phí cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của pháp luật

Cùng với nhận thức mới về vai trò của Nhà nước và xã hội đối với hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và chủ trương xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thì việc huy động nguồn nhân lực và tài lực từ xã hội cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ngày càng là yêu cầu cấp thiết

1.2 Vị trí, vai trò của công chức tư pháp – hộ tịch xã trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật

1.2.1 Vị trí của công chức tư pháp – hộ tịch xã

Theo quy định tại điều 61, Luật cán bộ công chức ngày 13/11/2008 (có hiệu lực từ ngày 1/1/ 2010), thì công chức tư pháp - hộ tịch là một trong 7 chức danh công chức cấp xã thực hiện các công việc thuộc lĩnh vực chuyên môn cụ thể Theo quy định tại điều 81 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì Cán bộ Tư pháp - hộ tịch là công chức cấp xã, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm

vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch Đối với những xã, phường, thị trấn có

Trang 21

đông dân cư, số lượng công việc hộ tịch nhiều, thì phải có cán bộ chuyên trách làm công tác hộ tịch, không kiêm nhiệm các công tác tư pháp khác

Công chức tư pháp - hộ tịch xã là những cán bộ tư pháp cấp cơ sở, có vai trò hết sức quan trọng trong việc triển khai các nhiệm vụ của ngành tư pháp tại cơ sở Hoạt động

tư pháp là hoạt động liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực từ khâu xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật cho đến kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật trên thực tế Trong khi đó công tác hộ tịch là hoạt động ghi và lưu lại lại các sự kiện hộ tịch quan trọng của công dân Hộ tịch được hiểu là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết Sự kiện quan trọng thường được ghi nhận bao gồm việc khai sinh, khai tử, kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn, ly thân tư pháp, nhận nuôi con nuôi… Mặc dù công tác hộ tịch thực chất là một phần của hoạt động tư pháp nhưng với những đặc điểm riêng biệt về quản lý con người thì lẽ ra chức danh tư pháp và chức danh hộ tịch phải do hai công chức chuyên môn khác nhau thực hiện Tuy nhiên, do những lý do nhất định, trong đó có nhận thức chưa đầy đủ về

vị trí, tính chất đặc thù của công tác hộ tịch ở cơ sở nên trong cơ cấu của bộ máy chính quyền cấp xã hai lĩnh vực công tác này được giao cho một công chức thực hiện Công chức này, do vậy, có chức năng kép thể hiện trong tên gọi ghép của chức danh: công chức tư pháp - hộ tịch xã Như vậy, công chức tư pháp – hộ tịch xã ngoài việc đảm nhiệm công tác đăng ký và quản lý hộ tịch còn phải đảm nhiệm công tác tư pháp với 12 đầu việc khác nhau từ việc giúp Ủy ban nhân dân cấp xã soạn thảo, ban hành các văn bản quản lý theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật bao gồm công tác phổ biến giáo dục pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật để tham mưu những biện pháp xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp

luật… Trên cơ sở đó công chức tư pháp - hộ tịch xã có thể được hiểu như sau: “Công

chức tư pháp - hộ tịch xã là công chức, có trình độ am hiểu pháp luật được tuyển dụng,

bổ nhiệm để thực hiện việc quản lý, giải quyết, tham mưu cho chính quyền xã về các vấn đề chuyên môn trong lĩnh vực tư pháp, hộ tịch tại địa phương”.[6]

Trang 22

1.2.2 Đặc điểm của chức danh công chức tư pháp – hộ tịch xã

Thứ nhất, công chức tư pháp – hộ tịch xã là một chức danh công chức của chính

quyền cơ sở Điều đó đòi hỏi công chức tư pháp- hộ tịch phải có một vị trí ổn định trong bộ máy chính quyền để thực hiện các nhiệm vụ hành chính tư pháp liên quan trực

tiếp đến các quyền và lợi ích cơ bản của người dân trong đời sống dân sự hàng ngày Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển tổ chức, hoạt động tư pháp cơ sở thì việc xác lập chức danh công chức tư pháp - hộ tịch là một bước tiến có tính đột phá so với mô

hình Ban tư pháp xã trước đó với tính chất “mặt trận” gồm nhiều thành viên nhưng

không có chuyên môn, không chuyên trách và thiếu tính ổn định

Là công chức ở cấp cơ sở nên một yêu cầu rất quan trọng đối với công chức tư pháp

- hộ tịch xã là phải có năng lực vận động nhân dân, phải gần dân, hiểu dân và giúp dân

để họ hiểu và tin vào chính sách, pháp luật của Nhà nước đồng thời phải am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác để có thể vận dụng sáng tạo trong công việc

Thứ hai, công chức tư pháp - hộ tịch là chức danh chuyên môn pháp luật, yêu cầu

đầu tiên và không thể thiếu của chức danh này là trình độ am hiểu về pháp luật bởi vì mọi nhiệm vụ mà công chức tư pháp - hộ tịch xã thực hiện đều là công việc thuộc lĩnh vực pháp luật, tư pháp, đòi hỏi người giải quyết các công việc đó phải hiểu và biết áp dụng pháp luật một cách đúng đắn trong những tình huống cụ thể Đương nhiên, bên cạnh hiểu biết, kiến thức về pháp luật, công chức tư pháp - hộ tịch xã đồng thời phải là người hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của

Đảng để không mắc phải bệnh “pháp lý thuần túy” trong xử lý công việc

Thứ ba, công chức tư pháp - hộ tịch là chức danh nghiệp vụ hành chính tư pháp

Ngoài trách nhiệm tham mưu cho Chủ tịch ủy ban nhân dân xã trong quản lý nhà nước

về pháp luật, công chức tư pháp - hộ tịch xã trực tiếp thực hiện rất nhiều công việc nghiệp vụ thuộc lĩnh vực hành chính tư pháp Điều đó đòi hỏi người đảm nhiệm chức

Trang 23

danh này phải được đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu để có thể thực hiện một cách sáng tạo nhưng vẫn tuân thủ nghiêm túc tất cả các quy trình, thủ tục giải quyết các công việc

cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức, đảm bảo tính chính xác của các tài liệu, dữ liệu hộ tịch của mỗi người dân được xác lập và lưu giữ lâu dài

Các đặc điểm này của chức danh công chức tư pháp - hộ tịch đã được “tiêu chuẩn

hóa” tại nghị định 158/2005/NĐ - CP của Chính phủ, cụ thể như sau: “Có bằng tốt nghiệp trung cấp luật trở lên; được bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác hộ tịch; chữ viết

rõ ràng” Sau khi được tuyển dụng, công chức tư pháp - hộ tịch xã phải hoàn thành

lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình tương ứng của các cơ sở đào tạo chính trị - hành chính địa phương

1.2.3 Vai trò của công chức tư pháp – hộ tịch xã trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật

Thứ nhất, tham mưu và giúp chủ tịch Ủy ban nhân dân xã tổ chức triển khai nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân xã

- Chính quyền cấp cơ sở có chức năng chính là tổ chức thi hành Hiến pháp, luật và

các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên tại địa bàn xã, phải đưa pháp luật đến từng hộ gia đình, từng cá nhân, tổ chức

- Với vai trò là người tham mưu và giúp Chủ tịch UBND xã tổ chức công tác phổ

biến, giáo dục pháp luật thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân xã, công chức tư pháp

- hộ tịch xã phải chủ trì hoặc trực tiếp thực hiện các công việc như: xây dựng kế hoạch PBGDPL sát với nhu cầu thiết thực về thông tin pháp luật của nhân dân trên địa bàn; lựa chọn hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật nào thích hợp với các nội dung đó và phù hợp với trình độ nhận thức, với điều kiện sống, sinh hoạt của người dân trên địa bàn; dự kiến, đề xuất để Chủ tịch UBND phân công trách nhiệm chủ trì, phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật từng nội dung cho các ban, ngành, tổ chức đoàn thể…); quán

Trang 24

triệt kế hoạch sau khi được ban hành, tập huấn nội dung, phương pháp PBGDPL cho các cá nhân, tổ chức liên quan; đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc triển khai và thực hiện

kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá, sơ kết, tổng kết, đề xuất khen thưởng, động viên các cá nhân, tổ chức làm tốt, xây dựng mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật

hiệu quả tại địa phương…

Thứ hai, trực tiếp thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc chức năng, nhiệm vụ của công chức tư pháp - hộ tịch xã

- Tiếp nhận, cập nhật, xử lý các thông tin pháp luật mới từ cấp trên cũng như những phản ánh nhu cầu thông tin pháp luật từ phía cộng đồng dân cư trên địa bàn để xây dựng, biên soạn hoặc hướng dẫn các ban, ngành, tổ chức đoàn thể xây dựng, biên soạn các tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật theo từng chủ đề để cung cấp cho các chủ thể tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn

- Trực tiếp thực hiện các hoạt động, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật (Tập huấn, phổ biến về pháp luật mới; trực tiếp trả lời, giải đáp pháp luật, cung cấp thông tin pháp luật theo yêu cầu của nhân dân liên quan đến các công việc cụ thể thuộc thẩm quyền…

- Quản lý và khai thác tủ sách pháp luật ở xã phục vụ cán bộ chính quyền và nhân dân; phối hợp với các mô hình thông tin ở cộng đồng (Điểm bưu điện văn hóa xã, Trung tâm học tập cộng đồng…) để khai thác tối đa mỗi mô hình và kết hợp nguồn lực cho các mô hình để tăng khả năng phục vụ nhân dân…

Thứ ba, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của công chức tư pháp - hộ tịch xã

- Cả 12 công việc thuộc trách nhiệm của công chức tư pháp - hộ tịch đều thuộc lĩnh

vực pháp luật, hành chính tư pháp, do vậy, công chức tư pháp - hộ tịch xã có điều kiện

và cần phải lồng ghép nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật vào việc thực hiện các nhiệm vụ này

Trang 25

Chẳng hạn như khi tham mưu và trực tiếp soạn thảo văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân xã hay hương ước xã, thôn, công chức tư pháp - hộ tịch xã phải thực hiện đúng cung cấp thông tin cho nhân dân và tham khảo ý kiến nhân dân về dự thảo văn bản, tạo điều kiện cho người dân biết để tham gia trước khi ban hành văn bản nhằm tạo

sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư; gắn kết tổ chức thi hành pháp luật, kiểm tra theo dõi thi hành pháp luật với phổ biến, giáo dục pháp luật; thông qua hướng dẫn hoạt động hòa giải, phối hợp tổ chức trợ giúp pháp lý… để thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật; đặc biệt là thông qua giải quyết các việc hộ tịch, vận động nhân dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch để phổ biến, giáo dục pháp luật giúp nhân dân hiểu và biết cách thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích thiết thực của bản thân,

con cái, gia đình mình

Như vậy, công chức tư pháp – hộ tịch xã bằng những hoạt động chuyên môn, nghiệp

vụ của mình luôn có điều kiện và khả năng để thực hiện vai trò kép: giải thích, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua quá trình áp dụng pháp luật để tổ chức cho người dân thực hiện đúng các quy định của pháp luật đồng thời giúp chính quyền xã quản lý kinh tế - xã hội bằng pháp luật, góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của cán bộ và nhân dân trên địa bàn

Nhìn từ phía người dân, công chức tư pháp – hộ tịch xã là cầu nối nhân dân với lãnh

đạo chính quyền địa phương thông qua việc tìm hiểu, tiếp nhận nhu cầu và giải đáp vướng mắc về pháp luật của nhân dân trong quá trình giải quyết các công việc của họ với chính quyền, giúp nhân dân ổn định về tư tưởng, giải tỏa về mặt tâm lý và tăng cường về nhận thức trong các vấn đề về pháp luật, giúp họ tự điều chỉnh và kiềm chế bản thân mình để không thực hiện hành vi mà pháp luật cấm trên cơ sở tự nguyện, tự

giác

Từ các phân tích trên có thể rút ra nhận xét chung về vai trò của công chức tư pháp -

hộ tịch xã trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật: “công chức tư pháp – hộ tịch

xã bằng hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của mình góp phần phổ biến kiến thức pháp

Trang 26

luật và hướng dẫn thực hiện pháp luật cho nhân dân nhằm mục đích hình thành ở họ

sự hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật và thói quen hành động theo pháp luật đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội bằng pháp luật của chính quyền xã.”.[6]

1.3 Những yêu cầu mới đối với công chức tư pháp - hộ tịch xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn hiện nay

1.3.1 Thực hiện cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020

Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020 gồm 6 nhiệm vụ trọng tâm trong đó có 3 mục tiêu liên quan trực tiếp đến Chính quyền, công chức cơ sở như sau:

- Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước

- Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình

độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước

Những yêu cầu này đòi hỏi công chức tư pháp – hộ tịch xã phải có nhận thức mới và

chủ động trong việc “tự đổi mới”, tự cải cách công việc của mình nhằm thực hiện tốt

chương trình cải cách hành chính mà Chính phủ đã đề ra

Công chức tư pháp – hộ tịch xã phải xác định rõ vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong hệ thống hành chính tư pháp, thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho chính quyền cơ sở trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính tư pháp, nâng cao chất

lượng thực hiện cơ chế “một cửa”, đề xuất phương thức xử lý một cách hợp lý, đúng pháp luật những yêu cầu đặc thù của công tác tư pháp - hộ tịch trong cơ chế “một cửa,

một cửa liên thông” nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong công tác cải cách thủ tục hành

chính tư pháp, kiến nghị đơn giản hóa, loại bỏ những thủ tục, giấy tờ hành chính không cần thiết, không thuận lợi cho dân, đặc biệt trong các việc đăng ký hộ tịch

Trang 27

1.3.2 Tiến hành chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Trong những năm qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết

08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công

tác tư pháp trong thời gian tới”, công cuộc cải cách tư pháp đã được các cấp ủy, tổ

chức Đảng lãnh đạo và tổ chức thực hiện với quyết tâm cao, đạt được nhiều kết quả Tuy nhiên, những kết quả đó mới là bước đầu và mới tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc nhất Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế, tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp

lý Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về

phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp

Để đảm bảo nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền ngày 02 /6 / 2005 nghị quyết số 49 –NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với 8 nhóm nhiệm vụ cụ thể Nghị quyết đề ra

mục tiêu: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo

vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [25]

Từ yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp cũng như tình hình của đất nước ta giai

đoạn hiện nay, nhìn từ góc độ PBGDPL, trách nhiệm của công chức tư pháp- hộ tịch xã

trong việc thực hiện nghị quyết số 49 –NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược Cải cách

tư pháp đến năm 2020 cần tập trung vào: “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối

với hoạt động tư pháp Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; không ngừng nâng cao trình độ dân trí pháp lý, ý thức sống, làm việc theo Hiến pháp

và pháp luật cho mọi người dân Tăng cường vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, cung cấp thông tin về hoạt động tư pháp”.[25]

Trang 28

Nhiệm vụ đó đặt ra các yêu cầu cụ thể đối với công chức tư pháp – hộ tịch xã

Thứ nhất, công chức tư pháp – hộ tịch xã phải thấm nhuần tư tưởng tôn trọng và

phát huy quyền dân chủ của nhân dân đối với các hoạt động của cơ quan tư pháp Công chức tư pháp – hộ tịch xã phải tận tụy phục vụ nhân dân, giáo dục pháp luật cho nhân dân để họ hiểu quyền và thực hiện đúng quyền của mình

Thứ hai, công chức tư pháp – hộ tịch xã phải góp phần thực hiện xã hội hóa hoạt

động tư pháp theo chủ trương của cuộc cải cách tư pháp Xã hội hóa hoạt động tư pháp trong những năm qua đã được triển khai khá mạnh mẽ trong các lĩnh vực công chứng, giám định tư pháp và hiện nay đang thí điểm mô hình thừa phát lại Nghị quyết 49 cũng đặc biệt nhấn mạnh đến xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý, PBGDPL và hòa giải ở cơ sở Công chức tư pháp - hộ tịch xã có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến giúp cho người dân hiểu biết và tin cậy sử dụng các dịch vụ đó để tự bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của mình đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển các nghề nghiệp mới trong lĩnh vực pháp luật, tư pháp

Thứ ba, Công chức tư pháp – hộ tịch xã phải thường xuyên cập nhật các kiến thức

mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, giữ gìn phẩm chất, đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

1.3.3 Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân với quan

điểm: "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" là mục tiêu, đồng thời là

động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới Phát huy dân chủ phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao dân trí, tạo điều kiện mở rộng dân chủ có chất lượng và hiệu quả Nội dung quy chế phát huy dân chủ ở cơ sở phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, tinh thần dân chủ đi đôi với kỷ cương, trật tự

Trang 29

Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với 05 nguyên tắc quy định tại Pháp lệnh Số 34/2007/PL-UBTVQH11 về việc thực hiện dân

chủ ở xã, phường, thị trấn như sau: “công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân

dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã” [32]

Với vị trí của mình là công chức cơ sở, công chức tư pháp – hộ tịch xã phải tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, về thực hiện quyền dân chủ trực tiếp tại cơ sở bằng việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền một cách thường xuyên, liên tục, không ngừng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân về dân chủ và thực hành dân chủ

ở cơ sở

Với vai trò của mình, công chức tư pháp- hộ tịch xã cần làm tốt các công việc sau:

Một là, kịp thời cung cấp thông tin pháp luật, chủ trương, chính sách của nhà nước

đến nhân dân tại địa phương, đặc biệt là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hàng ngày của nhân dân tại cơ sở

Hai là, tham mưu cho Ủy ban nhân dân xã ban hành và hoàn thiện quy chế và các

hình thức phù hợp để nhân dân ở cơ sở bàn bạc và tham gia đóng góp ý kiến vào các chủ trương, chính sách, hoạt động cụ thể tại địa phương

Ba là, tham mưu cho Ủy ban nhân dân xã ban hành những quy định cụ thể để nhân

dân bàn bạc, trao đổi và quyết định dân chủ đối với những loại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân trên địa bàn như chủ trương huy động sức dân để xây dựng kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi; các khoản đóng góp và lập các loại quỹ trong khuôn khổ pháp luật

Trang 30

Bốn là, góp phần hoàn thiện cơ chế giám sát hoạt động của nhân dân đối với hoạt

động của chính quyền xã Kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát của nhân dân phải được tiếp thu một cách nghiêm túc

Năm là, công chức tư pháp – hộ tịch xã cần tham mưu cho Ủy ban nhân dân xã mở

rộng các hình thức tổ chức tự quản, những công việc mang tính xã hội hoá với sự

hỗ trợ của chính quyền địa phương như việc xây dựng hương ước, quy ước làng văn hoá, xây dựng tổ hoà giải, tổ an ninh, phong trào vệ sinh - môi trường, đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ người nghèo…

Sáu là, công chức tư pháp - hộ tịch xã phải là những người gương mẫu đi đầu

trong công tác thực hiện quy chế dân chủ tại cơ sở, nói và làm theo pháp luật dân chủ một cách thật lòng, có thể nhân dân mới tin tưởng mà làm theo, hiệu quả của quy chế dân chủ mới đạt được kết quả như mong muốn

1.3.4 Thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

Nghị quyết số 26- NQ/ TW tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khóa X về nông nghiệp, nông thôn, nông dân ngày 05/8/2008 đề ra mục tiêu tổng

quát như sau: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư

nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao”.[18]

Trên cơ sở đó Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới với 05 nhóm tiêu chí cùng 19 tiêu chí cụ thể Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình nông thôn

Trang 31

mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; kiểm tra, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới Bộ tiêu chí đã được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung Quyết định 342/QĐ-TTg Quyết định số 800/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/6/2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông

thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 với mục tiêu chung là “xây dựng nông thôn mới có

kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức

tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ,

ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dung trọng yếu với mục tiêu đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn, năm 2020

số xã đạt chuẩn sẽ là 50 % Chương trình được thực hiện từ năm 2010 cho đến năm

2020 trên phạm vi cả nước

Tuy nhiên xây dựng mô hình nông thôn mới là việc làm khó khăn, tốn kém, liên quan đến nhiều ngành Chính vì thế mà vai trò của công chức tư pháp – hộ tịch xã càng thể hiện rõ nét và quan trọng hơn bao giờ hết Mặc dù trong 19 tiêu chí cụ thể của chương trình nông thôn mới chưa có tiêu chí nào đề cập đến pháp luật nhưng vai trò của pháp luật lại có ý nghĩa xuyên suốt trong quá trình thực hiện chương trình Công chức tư pháp – hộ tịch xã phải tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đồng thời xác định rõ các tiêu chí, cách thức tiến hành và nêu lên các thuận lợi khó khăn của việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn sinh sống Từ đó góp phần giúp nhân dân hiểu được giá trị cũng như ý nghĩa quan trọng của từng tiêu chí; cách thức tiến hành; cách nhìn nhận và đánh giá các tiêu chí trong tổng thể chung của chương trình Công chức tư pháp – hộ tịch xã phải là người hiểu rõ, đánh giá, phân

Trang 32

tích và thuyết phục nhân dân thực hiện đúng các tiêu chí mà chương trình đã quy định Hơn thế công chức tư pháp – hộ tịch xã phải tham mưu, đề xuất các phương pháp để giúp chính quyền cơ sở xây dựng những tiền đề ban đầu tốt nhất nhằm thực hiện chương trình nông thôn mới có hiệu quả

1.3.5 Bảo đảm chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở

Ngày 24/01/2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 09/2013/QĐ-TTg

về quy định chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở với mục đích “đánh

giá thực trạng tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở để có giải pháp thúc đẩy, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc triển khai các thiết chế tiếp cận pháp luật, bảo đảm điều kiện đáp ứng nhu cầu nâng cao nhận thức pháp luật, thực hiện, bảo vệ và phát huy quyền và lợi ích hợp pháp của công dân ngay tại cơ sở; phát huy vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.[19]

Theo Quyết định có 8 nhóm tiêu chí bao gồm 41 chỉ tiêu, tương ứng là 1.000 điểm trên các chỉ tiêu tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở cụ thể như sau: Tiêu chí về giải quyết các vụ việc hành chính, tư pháp, gồm 12 chỉ tiêu (300 điểm); Tiêu chí về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phường, gồm 02 chỉ tiêu (50 điểm); Tiêu chí về phổ biến, giáo dục pháp luật, gồm 06 chỉ tiêu (110 điểm); Tiêu chí về trợ giúp pháp lý, gồm 05 chỉ tiêu (100 điểm); Tiêu chí về thực hiện dân chủ ở xã, phường, gồm 05 chỉ tiêu (130 điểm); Tiêu chí về thiết chế tiếp cận pháp luật của xã hội, gồm 06 chỉ tiêu (130 điểm); Tiêu chí về bộ máy bảo đảm thực hiện thiết chế pháp luật, gồm 02 chỉ tiêu (110 điểm); Tiêu chí về kinh phí và cơ sở vật chất, gồm 03 chỉ tiêu (70 điểm) Việc đánh giá, công nhận, xếp hạng, biểu dương, khen thưởng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, dân chủ, đúng tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp

Trang 33

luật Việc đánh giá và xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật bảo đảm

sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan; gắn với việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đồng thời phải mang tính lâu dài, bền vững, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn, được thực hiện đồng bộ từ trung ương đến địa phương

Địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là địa phương có môi trường pháp lý thuận lợi với đủ các thiết chế pháp luật; hoạt động truyền thông và cung ứng dịch

vụ pháp luật tốt, được xã hội hóa; người dân nói chung, đặc biệt là người nghèo và đối tượng chính sách có cơ hội tiếp cận với hoạt động của các cơ quan nhà nước và

sử dụng các thiết chế pháp luật, các phương tiện hỗ trợ pháp lý tại cơ sở thuận lợi

để bảo vệ, thực hiện quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình Địa phương tiêu biểu phải đạt chuẩn tiếp cận pháp luật 02 năm liên tục, việc khen thưởng được thực hiện

02 năm/lần theo chuyên đề

Xã, phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là xã không có tiêu chí nào đạt dưới 50% số điểm tối đa và đạt từ 900 điểm trở lên đối với các phường thuộc các quận của thành phố trực thuộc Trung ương Đạt từ 800 điểm trở lên đối với các xã, thị trấn thuộc huyện của thành phố trực thuộc Trung ương; xã, phường của thành phố thuộc tỉnh; xã, phường của thị xã thuộc tỉnh; thị trấn của huyện thuộc tỉnh khu vực đồng bằng, trung du; xã, phường của thị xã, thành phố thuộc tỉnh miền núi Đặc biệt đối với các xã, thị trấn thuộc miền núi, hải đảo; xã đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phải đạt từ 700 điểm trở lên Thời hạn được tính để đánh giá địa phương bắt đầu từ ngày 01/7/2013

Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm xây dựng xã, phường, thị trấn tiếp cận pháp luật; thực hiện, chỉ đạo cán bộ, công chức trực thuộc thực hiện và đề xuất các giải pháp khắc phục tồn tại, hạn chế, cải thiện điều kiện tiếp cận pháp luật của người dân trên địa bàn; báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện về tình hình thực hiện theo

Trang 34

kế hoạch Công chức Tư pháp - Hộ tịch tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân xã, phường thực hiện trách nhiệm trên Các công chức khác của xã, phường có trách nhiệm phối hợp với công chức Tư pháp - Hộ tịch thực hiện nhiệm vụ theo quy định

Có thể nói việc giao nhiệm vụ cụ thể cho công chức tư pháp – hộ tịch xã đối với việc xây dựng chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở là một thách thức

vô cùng lớn đối với ngành Tư pháp và với đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch toàn quốc Ngoài việc phổ biến cho nhân dân hiểu về các tiêu chí mà chương trình đề ra thì công chức tư pháp – hộ tịch xã còn có nhiệm vụ tính toán, phân tích, giải thích rõ từng tiêu chí; cách tính điểm; phương pháp để đạt được số điểm theo quy định Công chức tư pháp – hộ tịch xã phải đảm bảo địa phương mình thực hiện đúng và đầy đủ các tiêu chí về pháp luật, nhân dân tham gia tích cực trong các hoạt động liên quan đến pháp luật Dân hiểu pháp luật thì mới thực hiện pháp luật đầy đủ, có hiệu quả Nhân dân thực hiện pháp luật có hiệu quả thì đất nước mới phát triển

Mọi người dân thực hiện tốt phương châm: “sống và làm việc theo hiến pháp và

pháp luật”, thì chương trình chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở mới

đạt kết quả cao trong thực tế

1.3.6 Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức

Ngày 18/10/2012 quyết định số 1557/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức với mục tiêu chung là xây dựng

một nền công vụ “Chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả” Để

việc đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức đạt được kết quả tốt, cần thiết phải

có một số các giải pháp hỗ trợ như thực hiện ứng dụng mạnh mẽ công nghệ tin học vào các hoạt động thực thi công vụ và quản lý cán bộ, công chức

Chương trình cải cách về chế độ công vụ, công chức được thực hiện có hiệu quả, trong thời gian sắp tới công chức tư pháp – hộ tịch xã cần phát huy hơn nữa vai trò

Trang 35

cũng như vị trí của mình trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật đến từng đối tượng mà chương trình hướng tới Mỗi công chức tư pháp – hộ tịch xã cần quán triệt sâu sắc nhiệm vụ của mình, nắm rõ các quy định để tham mưu cho chính quyền hoạch định các chính sách, phương án và xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cần nêu cao trách nhiệm, tự đánh giá năng lực của mình, từ đó

tự ý thức được những nhược điểm cũng như hạn chế của bản thân mà bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ một cách kịp thời Công chức tư pháp – hộ tịch xã còn phải thực hiện nhiệm vụ phổ biến các tiêu chuẩn, chính sách, các quy định về công chức cho đội ngũ cán bộ, công chức tại địa phương, góp phần nâng cao nhận thức chung của đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn về trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc thực thi nhiệm vụ

1.3.7 Thực hiện Luật phổ biến giáo dục, pháp luật năm 2012

Luật phổ biến, giáo dục pháp luật được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012, có

hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 quy định: “Uỷ ban nhân dân các cấp có trách

nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương”

Như vậy Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm sau đây:

- Ban hành theo thẩm quyền chương trình, kế hoạch, đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật;

- Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức triển khai và kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

- Xây dựng, tập huấn, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật; thực hiện chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật theo quy định của pháp luật;

- Tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hỗ trợ cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp

Trang 36

Là người chịu trách nhiệm chính trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở, hơn ai hết công chức tư pháp – hộ tịch xã cần nhận thấy trách nhiệm cũng như vai trò của mình trong việc làm cầu nối để pháp luật đến được với nhân dân Luật đặt ra yêu cầu đối với các chủ thể PBGDPL nói chung, công chức tư pháp - hộ tịch xã nói riêng phải sáng tạo trong việc truyền đạt thông tin, truyền tải nội dung pháp luật đến từng đối tượng cụ thể sinh sống tại địa phương bằng những hình thức phù hợp Lần đầu tiên, Luật đã pháp điển hóa các nội dung, hình thức, phương thức PBGDPL cho các đối tượng đặc thù như đồng bào ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân; nạn nhân bạo lực gia đình, người khuyết tật; người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc,

cơ sở cai nghiện bắt buộc; người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người bị phạt tù được hưởng án treo… Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, nhất là các tổ chức xã hội nghề nghiệp như Hội luật gia, Đoàn luật sư… phối hợp với chính quyền các cấp, đặc biệt chính quyền cơ sở trong việc thực hiện công tác PBGDPL cho các đối tượng Luật đã tạo ra những cơ hội mới, những điều kiện thuận lợi cho công chức tư pháp - hộ tịch xã thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong công tác PBGDPL nhưng đồng thời cũng đặt ra những trách nhiệm, những yêu cầu cao hơn về chất lượng, hiệu quả PBGDPL nói chung, chất lượng PBGDPL của công chức tư pháp - hộ tịch xã nói riêng

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÔNG CHỨC TƯ PHÁP - HỘ TỊCH XÃ TRONG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN,

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Khái quát về thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong những năm vừa qua đã đạt được nhiều kết quả tốt

Công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế về PBGDPL có bước phát triển đột phá với

việc Quốc hội thông qua Luật PBGDPL (có hiệu lực ngày 1/1/2013) và các văn bản hướng dẫn thi hành

Công tác PBGDPL được triển khai theo các chương trình, kế hoạch dài hạn, hàng năm và theo chuyên đề ở cả cấp quốc gia (Chính phủ), cấp bộ ngành và cấp địa phương (từ tỉnh đến huyện, xã) Việc thực hiện các chương trình, kế hoạch đều có sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả, hiệu quả nghiêm túc

Nội dung PBGDPL đã bám sát các nhiệm vụ chính trị của đất nước, bộ ngành và địa

phương, có trọng tâm, trọng điểm ở từng giai đoạn; việc phổ biến, tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật mới, các chính sách mới trong các lĩnh vực giao thông vận tải, môi trường, nông nghiệp và nông thôn, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được chú trọng

Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật có nhiều đổi mới, trong đó mô hình “Ngày pháp luật” được triển khai có hiệu quả ở nhiều bộ, ngành, địa phương, góp phần nâng

cao nhận thức pháp luật của cán bộ, công chức và người dân Một số địa phương có cách làm mới, hiệu quả như tuyên truyền pháp luật tại các phiên tòa lưu động (tại tỉnh Đồng Tháp), mô hình lồng ghép phổ biến, tuyên truyền pháp luật trong sinh hoạt của các Chi bộ cơ sở (tại tỉnh Vĩnh Phúc) Theo thống kê của Bộ Tư pháp, từ năm 2008 đến năm 2012, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua báo in có 1.081.038 bài, báo hình 38.769, báo nói 254.509, báo điện tử 12.427 chuyên trang, chuyên mục, tin,

Ngày đăng: 29/03/2018, 20:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hoá - Thông tin (1999), Nghị quyết liên tịch ngày 09/7 về việc phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ và nhân dân ở vùng nông thôn, vùng cao, vùng sâu, vùng xa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết liên tịch ngày 09/7 về việc phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ và nhân dân ở vùng nông thôn, vùng cao, vùng sâu, vùng xa
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hoá - Thông tin
Năm: 1999
3. Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ (2009), Thông tư liên tịch số 01, ngày 28/4/2009 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ quy định cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã, phường thị trấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ (2009)
Tác giả: Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ
Năm: 2009
4. Bộ tư pháp, Viện khoa học pháp lý ( 2003), Thông tin khoa học pháp lý, Chuyên đề: “ Đánh giá nhu cầu phát triển hệ thống pháp luật và phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam đến năm 2010”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề: “ Đánh giá nhu cầu phát triển hệ thống pháp luật và phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam đến năm 2010
5. Bộ tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2009), Đề án tăng cường năng lực cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tăng cường năng lực cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp
Tác giả: Bộ tư pháp, Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
6. Bộ tư pháp, Học viện tư pháp (2007), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chương trình, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp – hộ tịch xã, phường, thị trấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chương trình, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp – hộ tịch xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ tư pháp, Học viện tư pháp
Năm: 2007
8. Bộ tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1999), Tổ chức và hoạt động của ban tư pháp xã, phường, thị trấn và tổ hòa giải ở cơ sở trong quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của ban tư pháp xã, phường, thị trấn và tổ hòa giải ở cơ sở trong quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước
Tác giả: Bộ tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý
Năm: 1999
9. Bộ tư pháp, Viện khoa học pháp lý ( 2007), Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức tư pháp dịa phương, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức tư pháp dịa phương
Tác giả: Bộ tư pháp, Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: Đề tài khoa học cấp bộ
Năm: 2007
10. Bộ Tư Pháp (2002), Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ Tư Pháp
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
16. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2003)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
2. Bộ Nội vụ (2004), Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/1/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Khác
7. Bộ tư pháp, Vụ tổ chức cán bộ ( 2012), Báo cáo tổng kết công tác nghiệp vụ tư pháp năm 201, phương hướngchỉ đạo năm 2013 Khác
11. Chính phủ (1998), Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay Khác
12. Chính phủ (2006), Quyết định số 28/2006/QĐ-TTg ngày 28/01/2006 phê duyệt 4 Đề án chi tiết thuộc Chương trình 212 Khác
13. Chính phủ ( 2008), Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 12/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012 Khác
14. Chính phủ (2005), Nghị định 158/2005/NĐ-CP năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch Khác
15. Chính phủ (2003), Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Khác
17. Chính phủ (2004), Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16/12/ 2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w