NGUYỄN THU TRANG NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN CỦA CÁC THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH Chuyên ngành: Luật Dân sự Mã số: 60380103 LUẬN VĂN THẠC S
Trang 1NGUYỄN THU TRANG
NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN CỦA CÁC THÀNH VIÊN GIA
ĐÌNH TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGÔ THỊ HƯỜNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 2Trước hết, tôi xin dành lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy cô giáo khoa Luật Dân sự, khoa Sau Đại học, trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Tiến sĩ Ngô Thị Hường, người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, giúp tôi hoàn thành luận văn
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Mặc dù tôi đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu hoàn toàn của tôi, dưới sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn này nếu có
sự tranh chấp
Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2013 Nguyễn Thu Trang
Trang 4MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH VÀ CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH 6
1.1 Gia đình và thành viên gia đình 6
1.1.1 Khái niệm gia đình 6
1.1.2 Khái niệm thành viên gia đình 9
1.2 Các chức năng xã hội cơ bản của gia đình 16
1.2.1 Khái niệm chức năng xã hội cơ bản của gia đình 16
1.2.2 Các chức năng xã hội cơ bản của gia đình 18
CHƯƠNG 2: THỰC HIỆN CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000 32
2.1 Nghĩa vụ và quyền của các thành viên gia đình trong việc thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình 32
2.1.1 Nghĩa vụ và quyền của vợ chồng 32
2.1.2 Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ 41
2.1.3 Nghĩa vụ và quyền của anh, chị, em 42
2.1.4 Nghĩa vụ và quyền của ông bà 44
2.1.5 Nghĩa vụ và quyền của con cháu 45
2.1.6 Nghĩa vụ và quyền của các thành viên khác trong gia đình 47
2.2 Thực tiễn thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình ở nước ta trong những năm gần đây 48
2.2.1 Những kết quả đạt được 48
2.2.2 Những hạn chế 53
2.3 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo việc thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình 61
Trang 52.3.3 Trong chức năng giáo dục 65 2.3.4 Trong cơ chế bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình 67
KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong mỗi chúng ta, ai cũng đều nhận thấy gia đình là một tổ ấm thiêng
liêng Gia đình có vai trò, vị trí hết sức quan trọng, là “cái nôi nuôi dưỡng
suốt cả đời người” Gia đình là “tế bào xã hội”, là “hạt nhân xã hội” và là môi
trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nếp sống, nhân cách của mỗi cá nhân, chuẩn bị hành trang để mỗi cá nhân hòa nhập vào cộng đồng
xã hội, tham gia tích cực vào sự hình thành và phát triển của xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình phát triển lành mạnh, xã hội sẽ lành mạnh, mọi người đều có cơ hội phát triển và hưởng hạnh phúc Gia đình lỏng lẻo, không thực hiện tốt vai trò và chức năng của mình, xã hội có nguy cơ xáo động, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình và cộng đồng xã hội Củng cố nền tảng gia đình luôn là mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới
Gia đình là một nhóm xã hội được gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng Các thành viên trong gia đình có mối quan
hệ mật thiết với nhau bởi trách nhiệm và quyền lợi, giữa họ có sự ràng buộc mang tính pháp lý, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ
Gia đình là một thiết chế xã hội đa chức năng Đó là các chức năng xã hội cơ bản như: Chức năng sinh đẻ, chức năng kinh tế, chức năng giáo dục… Các chức năng của gia đình là một thể thống nhất và thông thường được thể hiện tổng hợp trong một công việc hoặc nhiều hoạt động của gia đình Các chức năng xã hội cơ bản của gia đình có quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau Chính các chức năng của gia đình đem lại cho gia đình một giá trị đích thực Trong gia đình mọi thành viên, tùy thuộc vào vai trò, lứa tuổi… đều có nghĩa
vụ và quyền thực hiện các chức năng xã hội đó
Trang 7Gia đình vừa tạo dựng nên xã hội, lại vừa biến đổi cùng sự biến đổi của
xã hội Trong giai đoạn hiện nay, đất nước đi vào hội nhập và toàn cầu hóa, kéo theo sự biến đổi toàn diện và mạnh mẽ của cả xã hội Quá trình này tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống gia đình Gia đình - tế bào cơ sở của
xã hội tất yếu có những biến động khi xã hội không ngừng biến đổi Sự thay đổi các quan hệ và các hệ giá trị xã hội khiến cho việc thực hiện các chức năng xã hội của gia đình đứng trước rất nhiều cơ hội và thách thức Đánh giá việc thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình để thấy được những kết quả mà các thành viên gia đình với nghĩa vụ và quyền của mình nỗ lực thực hiện đạt được và những hạn chế cần khắc phục là cần thiết trong bối cảnh hiện nay Bên cạnh những thành công trong việc xây dựng và phát triển của gia đình Việt Nam cũng phải thừa nhận những hạn chế đã và đang tồn tại
được coi là những “căn bệnh” của gia đình Việt Nam Các thành viên trong
gia đình ngày càng có ít thời gian bên nhau dẫn đến các mối quan hệ trong gia đình có xu hướng lỏng lẻo hơn Vai trò làm cha mẹ trong cuộc sống hiện đại đang có biểu hiện bị suy giảm ở nhiều gia đình vì những lo toan thái quá trong việc làm kinh tế mà ít chú ý đến việc giáo dục nhân cách đối với con cái Cha
mẹ quá bận rộn lo kiếm tiền ít có thời gian chăm sóc tới gia đình, con cái Vợ chồng cũng ít có thời gian gần gũi quan tâm tới nhau Những mâu thuẫn của vợ chồng ảnh hưởng không tốt tới suy nghĩ và hành động của con trẻ làm chúng có những quan niệm sai lệch về gia đình Cô đơn, bị bạo hành và bị bỏ rơi vẫn còn tồn tại với khá đông phụ nữ, người già và trẻ em Nhiều phụ nữ và trẻ em phải
bỏ nhà lang thang, người già rơi vào trạng thái cô đơn, u sầu, ảnh hưởng đến sức khỏe của các thành viên trong gia đình, làm tăng tình trạng bệnh tật, mất việc làm, tăng chi phí chăm sóc, phục hồi sức khỏe và nhiều chi phí gián tiếp khác về kinh tế - xã hội Đời sống gia đình đang xảy ra nhiều mâu thuẫn với mức độ ngày càng phức tạp và diễn biến dưới nhiều hình thức… Những căn bệnh đó có thể ảnh hưởng trực tiếp đối với sự tồn tại của gia đình cũng như sự
Trang 8ổn định của xã hội Các thành viên gia đình cần hiểu rõ và thực hiện tốt các
nghĩa vụ và quyền của mình để chống lại những “căn bệnh” của gia đình, đảm
bảo cho gia đình thực hiện tốt nhất các chức năng xã hội cơ bản
Xuất phát từ những lý do trên đây, em đã lựa chọn đề tài: “Nghĩa vụ và quyền của các thành viên gia đình trong việc thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình” cho luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các chức năng xã hội cơ bản của gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Đặc biệt, Xã hội học rất quan tâm nghiên cứu gia đình
và chức năng xã hội của gia đình Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu của ngành Xã hội học, các chức năng xã hội cơ bản của gia đình được nghiên cứu
để đánh giá vai trò, tầm quan trọng cũng như sự thay đổi của các chức năng này trong quá trình biến động và phát triển không ngừng của xã hội Xã hội học không đi sâu nghiên cứu về nghĩa vụ và quyền của các thành viên gia đình trong việc thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình Trong khoa học pháp lý, từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về các chức năng xã hội cơ bản của gia đình và nghĩa vụ và quyền của thành viên gia đình trong việc thực hiện các chức năng đó Trong các giáo trình giảng dạy Luật học tại các cơ sở đào tạo Luật học cũng mới chỉ đề cập đến các chức năng xã hội cơ bản của gia đình một cách cơ bản, khái quát và độc lập Hàng năm các khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật hoặc luận văn cao học Luật nghiên cứu chủ yếu về các chế định của Luật Hôn nhân và gia đình Năm 2010, luận văn thạc sỹ Luật học của Trần Thị Huyền Trang với đề tài
“Chức năng giáo dục của gia đình theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam và thực hiện trong xã hội hiện đại” mới chỉ nghiên cứu về chức năng giáo dục của gia đình và quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình trong việc thực hiện chức năng này
Trang 9Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có tính hệ thống về nghĩa vụ và quyền của các thành viên gia đình trong việc thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để xác định nghĩa vụ và quyền của các thành viên gia đình trong việc thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chính sách của Đảng, Nhà nước và tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê…
5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu các chức năng xã hội cơ bản của gia đình, xác định rõ mỗi thành viên trong gia đình, với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thực hiện các nghĩa vụ và quyền của mình nhằm đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội cơ bản, đảm bảo cho gia đình phát triển ổn định, bền vững
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, cần phải thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về chức năng xã hội cơ bản của gia đình cũng như nghĩa vụ và quyền của các thành viên gia đình trong pháp luật Việt Nam hiện hành
Trang 10- Nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về nghĩa vụ và quyền của các thành viên gia đình trong việc thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình theo pháp luật hiện hành
- Đánh giá việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình trong việc thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay Từ đó nêu được những kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận về chức năng xã hội
cơ bản của gia đình, về nghĩa vụ và quyền của các thành viên gia đình trong việc thực hiện các chức năng đó
Việc đánh giá các quy định của luật thực định cũng như thực tiễn thực hiện tạo nên một cái nhìn toàn diện và đầy đủ về các chức năng xã hội cơ bản của gia đình cũng như vai trò, trách nhiệm của mỗi thành viên gia đình trong việc thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình Điều này góp phần điều chỉnh hành vi của mỗi thành viên gia đình trong việc thực hiện nghĩa vụ
và quyền của mình
Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các giảng viên, sinh viên ngành luật, các cán bộ làm công tác thực tiễn liên quan đến lĩnh vực hôn nhân
và gia đình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu bởi 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thành viên gia đình và các chức năng xã hội cơ bản của gia đình
Chương 2: Thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH VÀ CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH
1.1 Gia đình và thành viên gia đình
1.1.1 Khái niệm gia đình
Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như Triết học, Tâm lý học, Kinh tế học, Xã hội học, Luật học… Ở mỗi ngành khoa học, gia đình được nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau và khái niệm gia đình cũng được hiểu khác nhau
Dưới góc độ Triết học, gia đình là một hình thức tổ chức có tính chất
lịch sử của đời sống loài người, giữa nam giới và nữ giới Trong suốt quá trình lịch sử, những biến đổi diễn ra trong mối quan hệ giữa nam và nữ, hôn nhân và hình thức gia đình đều do sự thay đổi của chế độ kinh tế, xã hội quyết định Từ thời hoang sơ, quan hệ giữa nam và nữ chỉ đơn thuần là quan hệ tính giao nhằm duy trì nòi giống Quan hệ giữa nam và nữ thời đó không theo một quy tắc nào Xã hội lúc đó chia thành các bộ lạc và quan hệ tính giao không
có sự chọn lọc ngôi thứ thích thuộc Lúc này không có hôn nhân, không có gia đình và bộ lạc như là một đơn vị duy nhất không tách rời của xã hội nguyên thủy Từ trạng thái nguyên thủy đó đã phát triển nhiều hình thức hôn nhân và gia đình khác nhau Trong thời kỳ chế độ thị tộc, thịnh hành nhất là chế độ quần hôn với hình thức gia đình huyết tộc và gia đình Pu – na – lu – an
(theo tiếng của người da đỏ ở Mỹ có nghĩa là cùng hội cùng thuyền) Trong
gia đình huyết tộc, anh chị em là vợ chồng của nhau, chỉ có quan hệ giữa cha
mẹ và con, giữa ông bà và cháu là bị cấm Trong gia đình Pu – na – lu – an, quan hệ tính giao bị cấm đến cả anh chị em với nhau Tiếp theo chế độ quần hôn, gia đình đối ngẫu xuất hiện do người đàn ông xác định người đàn bà là
vợ chính, họ gắn bó với nhau hơn trong quan hệ tính giao Tuy nhiên, hình
Trang 12thái gia đình này rất dễ dàng bị phá vỡ, trong điều kiện chế độ thị tộc không thể vững bền Sự thay đổi lớn lao của quá trình phân công lao động và sự xuất hiện của các ngành nghề khác nhau thể hiện quá trình phát triển, tiến bộ của
xã hội nguyên thủy, đã dẫn đến của cải trong xã hội tăng lên nhanh chóng, của cải do người đàn ông nắm giữ, chế độ tư hữu xuất hiện Do kết quả của sự kiện trên, gia đình đối ngẫu đã trở thành một đơn vị kinh tế độc lập trong thị tộc, không còn phụ thuộc vào thị tộc và cuối cùng làm tan rã thị tộc Như vậy
đã diễn ra việc chuyển từ gia đình đối ngẫu sang gia đình cá thể Mục đích của chế độ gia đình này là con của người vợ sinh ra dứt khoát là con của chồng bà ta, người con sẽ theo dòng họ cha chứ không theo dòng họ mẹ Người đàn ông mong muốn chuyển tài sản cho con được thừa kế nên gia đình một vợ một chồng đã xuất hiện, chế độ phụ quyền đã thay thế cho chế độ mẫu quyền, quan hệ thân tộc được xác định về phía cha, công xã nguyên thủy tan
rã Gia đình cá thể không phải là kết quả của tình yêu giữa nam và nữ, đây là hình thức gia đình đầu tiên của mối quan hệ có tính toán kinh tế Đàn bà trở thành nô lệ cho đàn ông Trong sự phát triển tiếp theo của lịch sử, gia đình tư sản đã xuất hiện trong xã hội tư bản Đây là biến thể của chế độ một vợ một chồng trong xã hội có giai cấp đối kháng, không phải là sự liên kết trên cơ sở tình cảm mà dựa trên cơ sở tài sản Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một
sự thay đổi sâu sắc, toàn diện Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, gia đình xã hội chủ nghĩa mà nền tảng là gia đình Xô viết xuất hiện và phát triển ngày càng vững chắc Đây là hình thức gia đình kiểu mới, trong đó phụ nữ được tôn trọng, nam giới và nữ giới được bình đẳng, chỉ có lúc này thì hôn nhân mới dựa trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ
Như vậy có thể nhận thấy rằng gia đình phản ánh tất cả những mâu
thuẫn thu nhỏ của xã hội Dưới góc độ Triết học, gia đình là một hình thức có
Trang 13tính chất lịch sử của tổ chức đời sống chung của loài người, trong đó nền tảng là quan hệ giữa nam giới và nữ giới
Dưới góc độ Xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội
Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi con nuôi Các thành viên gia đình gắn bó với nhau còn bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người Gia đình tạo nên cấu trúc xã hội và gắn
bó chặt chẽ với toàn xã hội Các nhà xã hội học đều thống nhất khẳng định gia đình là một thiết chế xã hội “Gia đình là một nhóm xã hội về nguyên tắc dựa trên sự chung sống có tính dục khá chặt chẽ và bền vững để tạo thêm những đứa con và nuôi dạy chúng” [27, tr 19] Như vậy, nói đến gia đình là nói đến những người sống chung với nhau trong một mái nhà và có quỹ tiêu dùng chung để tạo thành một hệ kinh tế Gia đình được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, gia đình gồm những người có quan hệ với nhau
do hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng mà có quyền và nghĩa vụ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Theo nghĩa hẹp, gia đình gồm những người có quan hệ với nhau do hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng
mà sống chung dưới một mái nhà Gia đình được phân chia thành hai loại: Gia đình hạt nhân (gia đình có một hoặc hai thế hệ) và gia đình nhiều thế hệ (từ ba thế hệ trở lên) Theo một cuộc điều tra Xã hội học gần đây, kết quả cho thấy mô hình hộ gia đình hai thế hệ khá phổ biến với 63,4% Hộ gia đình ba thế hệ trở lên có xu hướng giảm, tỷ lệ này ở nông thôn thấp hơn thành thị Mô hình gia đình quy mô nhỏ có xu hướng phổ biến ở thành thị hơn ở nông thôn,
số hộ có trẻ từ 0 – 14 tuổi có tỷ lệ khá cao trong xã hội 57,8% [12]
Trang 14Dưới góc độ Luật học, gia đình là một tổ chức của xã hội loài người, trong đó có các mối quan hệ chủ đạo là cha mẹ và con, ông bà và cháu và những người thân thích khác Những người này có trách nhiệm với nhau, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, gia đình luôn là đối tượng điều chỉnh Trong đó, nhà làm luật đặc biệt quan tâm đến cơ sở phát sinh quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ và con, quan hệ giữa những người thân thích, cũng như các quyền và nghĩa vụ giữa họ Tuy nhiên,
từ khi có các đạo luật đầu tiên cho đến trước khi ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, khái niệm gia đình hầu như rất mơ hồ Lần đầu tiên Luật Hôn nhân và gia đình giải thích thuật ngữ gia đình Theo đó “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” [6, Khoản 10 Điều 8]
Như vậy, dưới góc độ Luật học, gia đình được hiểu là sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội
1.1.2 Khái niệm thành viên gia đình
Gia đình được gắn kết một cách bền chặt là do tình nghĩa và trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình Việc xác định rõ các thành viên gia đình
để từ đó xác định quyền và nghĩa vụ giữa họ rất có ý nghĩa về lý luận và thực
tiễn
Theo giải thích tại Khoản 10 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 có thể thấy rõ gia đình là tập hợp một nhóm người do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi con nuôi Như vậy, nếu không hạn chế mức độ xa gần của quan hệ huyết thống thì có thể thấy phạm vi quan hệ giữa
Trang 15các thành viên gia đình sẽ rất rộng Ngoài quan hệ giữa cha mẹ và con; giữa ông bà và cháu; giữa anh chị em thì còn có quan hệ giữa cô, dì, chú, bác, cậu với các cháu; quan hệ giữa anh chị em họ với nhau; quan hệ giữa cụ với các chắt; giữa cô, dì, chú, bác, cậu họ với cháu… Tuy nhiên, chỉ những người có quyền và nghĩa vụ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì mới tạo thành gia đình Thông qua các chế định của Luật Hôn nhân và gia đình có thể nhận thấy Luật Hôn nhân và gia đình chủ yếu điều chỉnh quan hệ giữa vợ và chồng; cha mẹ và con; ông bà nội ông bà ngoại và cháu; giữa anh chị em ruột với nhau Bên cạnh đó, hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình nên những người có quan hệ vợ chồng với nhau được xác định là thành viên gia đình Cuối cùng, những người có quan hệ là cha - con, mẹ - con, ông - cháu,
bà - cháu, anh - chị - em nhưng do quan hệ nuôi con nuôi đem lại cũng được xác định là thành viên gia đình
Cơ sở để xác định thành viên gia đình là những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng Ngoài ra, Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 còn quy định thêm quan hệ giữa các thành viên trong gia đình tại Điều 49: “Các thành viên cùng sống chung trong gia đình đều có nghĩa vụ quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung của gia đình, đóng góp công sức, tiền và tài sản khác để duy trì đời sống chung phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mình Các thành viên trong gia đình
có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau Quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” Điều luật này đã tạo ra những cách hiểu khác nhau về thành viên gia đình Có
ý kiến cho rằng thành viên trong gia đình được quy định ở điều luật này là những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng được nói ở trên Nhưng cũng có ý kiến cho rằng thành viên gia đình được nói ở Điều 49 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 này không phải là
Trang 16người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hay nuôi dưỡng, vì những quan hệ trên đã được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật riêng rồi, do đó những người được nói đến ở đây được hiểu là những người không có ba mối quan hệ trên mà cùng sống chung trong một gia đình Cũng có ý kiến khác lại cho rằng bất kỳ người nào mà sống chung trong một gia đình, dưới một mái nhà (tất nhiên phải loại trừ trường hợp những người cùng thuê một nhà để sinh sống, người giúp việc trong gia đình) mà thỏa mãn quy định của điều luật này thì cũng được xem là thành viên gia đình Theo em, việc xác định thành viên gia đình cũng là để từ đó xác định nghĩa vụ và quyền giữa họ Đã được gọi là thành viên gia đình thì phải xuất phát từ cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống
và nuôi dưỡng Họ có thể cùng sống chung hoặc không cùng sống chung với nhau Còn trong thực tiễn xác định, phạm vi có thể được mở rộng hơn nhưng xuất phát điểm vẫn là từ các quan hệ này Như vậy tiêu chí đầu tiên để xác định thành viên gia đình phải là có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng Tiêu chí tiếp theo là sống chung hay không sống chung Đối với gia đình hạt nhân, bất kể có sống chung hay không sống chung vẫn là thành viên gia đình, có quyền và nghĩa vụ với nhau Ví dụ: Bố, mẹ dù không sống chung với con cái vẫn có nghĩa vụ với con cái; anh chị em ruột đã trưởng thành, kết hôn và sống riêng vẫn có nghĩa vụ với nhau Đối với gia đình lớn (ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng) đó là những người có quan hệ bàng hệ (có cùng quan
hệ huyết thống, quan hệ họ hàng theo dòng bên) thì phải sống chung mới là thành viên gia đình, có quyền và nghĩa vụ với nhau Ví dụ: Người họ hàng đến nhà “người thân” sống nhờ; cháu họ sống cùng với cô, dì, chú, bác… Ngoài ra, với các quan hệ thích thuộc về trực hệ như bố mẹ chồng với con dâu, bố mẹ vợ với con rể, con riêng với bố dượng hoặc mẹ kế cần phải sống chung mới xác định là thành viên gia đình và có nghĩa vụ và quyền với nhau.Các mối quan hệ giữa các thành viên gia đình cụ thể như sau:
Trang 17- Quan hệ giữa vợ và chồng:
Quan hệ giữa vợ và chồng được hình thành do sự kiện kết hôn và tồn tại dưới hình thức của quan hệ hôn nhân Để ghi nhận nam nữ trở thành vợ chồng của nhau, pháp luật hiện hành quy định giữa nam nữ phải đăng ký kết hôn Sự kiện kết hôn là cơ sở pháp lý để nam nữ trở thành vợ chồng của nhau, có quyền và nghĩa vụ với nhau theo quy định của pháp luật Như vậy, sau khi kết hôn nam nữ trải qua thời kỳ hôn nhân, họ sống cùng nhau và trở thành viên trong một gia đình Các quan hệ giữa họ (nhân thân và tài sản) được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Ngoài ra, việc nam nữ chung sống với nhau trước 03/01/1987 có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn cũng được pháp luật hiện hành thừa nhận là vợ chồng [8] Do vậy, các bên chung sống với nhau là thành viên gia đình
- Quan hệ giữa cha mẹ và con:
Quan hệ giữa cha, mẹ và con được phát sinh dựa trên sự kiện sinh đẻ và
sự kiện nuôi con nuôi Khi một người phụ nữ sinh con thì người phụ nữ đó được xác định là mẹ của đứa trẻ Do quan hệ mẹ con là quan hệ huyết thống nên người con là thành viên gia đình của người mẹ sinh ra đứa trẻ Nếu đứa trẻ được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người mẹ có thai trong thời
kỳ hôn nhân thì bằng phương pháp suy đoán, đứa trẻ là con của người chồng Con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân tức là đứa trẻ được sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt Đứa trẻ được sinh ra trước thời kỳ hôn nhân, về nguyên tắc chỉ xác định được người mẹ sinh ra đứa trẻ Nhưng nếu sau đó người mẹ kết hôn, chồng của mẹ đứa trẻ thừa nhận là con thì đứa trẻ đó là con chung của vợ chồng Như vậy, sự suy đoán để xác định cha của đứa trẻ chính là xác định quan hệ huyết thống giữa đứa trẻ với một người đàn ông Khi người đàn ông là cha của đứa trẻ thì đứa trẻ được coi là thành viên của gia đình người cha Trong trường hợp xác định cha con ngoài
Trang 18giá thú mà nếu người con sống cùng cha của nó thì đương nhiên đứa trẻ được mọi người thừa nhận là thành viên gia đình của người cha đứa trẻ Trong trường hợp đứa trẻ không sống cùng với cha của đứa trẻ thì đứa trẻ đó vẫn được thừa nhận là thành viên trong gia đình của cha đứa trẻ đó bởi đứa trẻ vốn đã có quan hệ huyết thống với cha của nó
Quan hệ nuôi con nuôi cũng hình thành mối quan hệ cha, mẹ và con Việc nhận nuôi con nuôi tạo nên quan hệ nuôi dưỡng, người được nhận làm con nuôi trở thành thành viên của gia đình người nhận con nuôi Theo Điều
24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010: “Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha
mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan"
Về mặt tình cảm, hiếu thảo là một đạo lý sâu xa trong mô hình gia đình truyền thống Lấy đạo hiếu làm trọng vì thế trong gia đình truyền thống Việt Nam, con cái đối với cha mẹ phải kính trọng, vâng lời, tu dưỡng đạo đức, làm nên sự nghiệp để báo hiếu, đền đáp công ơn dưỡng dục sinh thành Việc phụng dưỡng cha mẹ là đạo lý mà con cái phải thực hiện thường xuyên trong suốt cuộc đời Về phía cha mẹ có quyền quyết định một số quyền của con cái nhưng đồng thời phải có trách nhiệm, nghĩa vụ nuôi dưỡng, bao bọc, dạy bảo
các con nên người với niềm mong ước và sự hãnh diện khi “Con hơn cha là
nhà có phúc” Người làm cha mẹ phải biết hi sinh, sống bao dung, tu dưỡng
bản thân, làm việc thiện và xây dựng nền nếp gia đình để truyền lại cho con cháu Mối quan hệ cha mẹ - con cái luôn thấm nhuần trong tâm thức mỗi người Việt Nam
- Quan hệ giữa ông bà và cháu:
Trang 19Quan hệ giữa ông bà và cháu cũng là quan hệ dựa trên sự suy đoán Khi một đứa trẻ sinh ra thì được suy đoán là cháu ngoại của ông bà đã sinh ra mẹ đứa trẻ Tương tự thì đứa trẻ sẽ được suy đoán là cháu nội của ông bà đã sinh
ra cha đứa trẻ Như vậy, cũng từ sự kiện sinh đẻ mà một đứa trẻ trở thành có quan hệ huyết thống với ông bà nội hay ông bà ngoại
Sự kiện nuôi con nuôi cũng làm phát sinh quan hệ giữa ông bà và cháu Theo quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì người con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo pháp luật hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan [7, Điều 24] Cha mẹ của người nhận nuôi con nuôi là ông bà của người con nuôi Ngược lại, con nuôi của con trai, con gái cũng là cháu của ông bà Người con nuôi và cha mẹ của người nhận nuôi con nuôi có nghĩa vụ và quyền đối với nhau giống như quan hệ giữa ông
bà nội, ông bà ngoại và cháu
- Quan hệ giữa anh chị em:
Anh chị em ruột được phát sinh do sự kiện sinh đẻ, gồm anh chị em cùng cha cùng mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha Theo cách thức tổ chức gia đình Việt Nam chủ yếu là gia đình hạt nhân gồm cha mẹ và các con chưa kết hôn, họ cùng nhau sống dưới một mái nhà, do đó thì thông thường các anh chị em là thành viên gia đình Nhưng khi những người con này đã trưởng thành lập gia đình và sống riêng thì họ không sống cùng nhau nữa Tuy nhiên, đối với gia đình gốc thì họ vẫn là thành viên của gia đình gốc này Như vậy, khi một người trưởng thành lập gia đình và ra ở riêng thì họ vừa là thành viên gia đình mới của người đó, đồng thời họ cũng là thành viên trong gia đình gốc của mình
Người Việt quan niệm anh chị em là “ruột rà máu thịt” vì vậy mà “máu
chảy ruột mềm” Gia đình truyền thống Việt Nam tuy có ảnh hưởng Nho giáo
Trang 20“quyền huynh thế phụ”, nhưng vẫn đề cao giá trị “kính trên nhường dưới”, hòa thuận với nhau Vì: “Anh em như thể chân tay Như gốc với rễ, như cây với
cành.Anh thời phải thuận đạo anh Em thời hiếu đễ mới đành đạo em” [17]
Quan hệ giữa các anh, chị, em cũng hình thành dựa trên sự kiện nuôi con nuôi Theo Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2000 quy định quyền, nghĩa vụ giữa con nuôi với các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi trong đó có mối quan hệ giữa các anh, chị, em với nhau Người con nuôi với những người con đẻ của cha mẹ nuôi là anh, chị, em với nhau, do đó họ có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật hôn nhân
và quyền với nhau Nhưng nếu họ không sống cùng nhà thì không xác định là thành viên gia đình Ngoài những người có họ trong phạm vi ba đời thì những người có họ xa hơn nữa, như những kiểu gia đình tứ đại đồng đường, ngũ đại đồng đường… cũng được xác định là thành viên gia đình nếu những người này sống cùng nhà Thậm chí, không chỉ dừng lại ở cô dì chú bác ruột mà cả
cô dì chú bác cậu họ với cháu họ mà sống cùng nhà thì cũng là thành viên gia đình
Như vậy, trong quan hệ huyết thống để xác định thành viên gia đình thì những người sống chung dưới một mái nhà chỉ có ý nghĩa đối với những người có quan hệ huyết thống xa Chẳng hạn như cô, dì, chú, bác, cậu, con cô, con dì, con chú, con bác, con cậu… hay những người có quan hệ họ hàng xa
Trang 21hơn nữa Còn đối với những người có quan hệ huyết thống gần như cha mẹ và con, ông bà và cháu, anh chị em với nhau thì ngay cả khi những người này không sống cùng nhau thì họ vẫn là thành viên gia đình
Quan hệ giữa những người này đảm bảo tính tôn ti, trật tự, sự tôn trọng
lẫn nhau theo phép tắc “có trên, có dưới”, là tình cảm yêu thương, đùm bọc
chia sẻ, giúp đỡ nhau
1.2 Các chức năng xã hội cơ bản của gia đình
1.2.1 Khái niệm chức năng xã hội cơ bản của gia đình
Gia đình hình thành, tồn tại và phát triển vì nó mang những chức năng
tự nhiên và xã hội riêng biệt mà các thiết chế xã hội khác không có Các chức năng xã hội của gia đình hình thành gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và được chính con người xã hội hóa chúng Về cơ bản, gia đình có ba chức năng xã hội cơ bản: Sinh đẻ (tái sản xuất con người), giáo dục và kinh
tế Các chức năng này là cơ sở để hình thành các quyền tự nhiên của con người về gia đình và được xã hội hóa thành các quyền cơ bản của công dân Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Đảng và Nhà nước ta đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng những quan hệ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa Sự phát triển của chế độ hôn nhân và gia đình cũng dựa trên cơ sở là các quan điểm, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để góp phần thực hiện mục tiêu nhiệm vụ đó
Ở nước ta, ngay từ khi bước vào sự nghiệp đổi mới, tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới” Trong các Nghị quyết Đại hội VII, VIII, IX đều đề cập đến vị trí, vai trò của gia đình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định cụ thể và rõ ràng hơn vị trí, vai trò của gia đình cũng như xác định định hướng phát triển
Trang 22gia đình Việt Nam trong giai đoạn mới: “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [11]
Thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng về sự ổn định và phát triển gia đình, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý cho gia đình phát triển Các quy định nằm rải rác
từ đạo luật cơ bản nhất là Hiến pháp đến các đạo luật khác như: Bộ luật Dân
sự năm 2005, Luật Đất đai năm 2003, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm
2007, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em năm 2004, Luật Nuôi con nuôi năm 2010…
Hiến pháp 1992 thể hiện sự quan tâm tới các quan hệ hôn nhân và gia đình, quy định những nguyên tắc là nền tảng, cơ sở cho sự phát triển của hệ thống văn bản pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Hiến pháp năm
1992 quy định: “Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà nước
và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con”[5, Điều 64]
“Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”[5, Điều 65] “Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em; thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình” [5, Điều 40]
Trang 23Để đảm bảo sự phát triển của gia đình, sau khi hòa bình lập lại, Đảng và Nhà nước đã sớm ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 Khi cả nước bước vào thời kỳ đổi mới, chúng ta tiếp tục ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 Sau 15 năm tiến hành đổi mới, Quốc hội lại ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Các đạo luật hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ là cơ sở pháp lý để đảm bảo cho gia đình phát triển Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có nhiều chế định pháp lý nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc và tiến bộ như: Chế định kết hôn, chế định quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia đình… Có thể nói 110 điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 là cơ sở pháp lý để đảm bảo sự ổn định, xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam trong những năm đổi mới
Vị trí, vai trò to lớn của gia đình với tính cách là tế bào xã hội được thể hiện ở các chức năng cơ bản như: Chức năng sinh đẻ, chức năng kinh tế, chức năng giáo dục và chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý của các thành viên trong gia đình Như vậy gia đình là thiết chế đa chức năng Thông qua việc thực hiện những chức năng này mà gia đình vẫn tồn tại và phát triển, đồng thời tác động đến tiến bộ chung của xã hội Các chức năng được thực hiện trong sự thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau Nhiều khi, các chức năng được thể hiện tổng hợp trong một công việc hoặc nhiều hoạt động của gia đình
Như vậy, chức năng xã hội cơ bản của gia đình gồm chức năng sinh đẻ, chức năng giáo dục và chức năng kinh tế Thông qua việc thực hiện các chức năng này mà gia đình tồn tại, phát triển và tác động đến sự phát triển của xã
hội
1.2.2 Các chức năng xã hội cơ bản của gia đình
- Chức năng sinh đẻ
Trang 24Quan niệm truyền thống coi việc sinh con đẻ cái như một nhiệm vụ cơ bản và quan trọng nhất của gia đình Gia đình là đơn vị duy nhất được xã hội thừa nhận và cho phép tạo ra những công dân mới cho xã hội Đây là chức năng riêng của gia đình, tất cả các nhóm xã hội, các thiết chế xã hội khác không có chức năng này.Việc thực hiện chức năng sinh sản, tái sản xuất ra con người nhằm duy trì và phát triển nòi giống được xem là mục đích xây dựng gia đình và cũng là nhu cầu cần được thỏa mãn của các cặp vợ chồng Việc thực hiện chức năng này không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong ước của người vợ, người chồng mà còn là vấn đề của gia đình, dòng họ, xã hội và
là vấn đề duy trì tính liên tục của xã hội Vừa đáp ứng nhu cầu tự nhiên, tâm - sinh lý của con người, đồng thời mang ý nghĩa xã hội là duy trì nòi giống, cung cấp cho xã hội các thế hệ công dân mới, lực lượng lao động mới, đảm bảo sự phát triển liên tục và trường tồn của xã hội loài người, làm cho xã hội tồn tại, phát triển Chức năng sinh đẻ của gia đình là yếu tố quyết định dân số
của quốc gia và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước
Chức năng sinh đẻ tồn tại một cách tự nhiên Chức năng này được coi là một giá trị của gia đình mà từ cổ chí kim loài người phải thừa nhận Bản thân F.Engel, một nhà duy vật vĩ đại cũng cho rằng theo quan điểm duy vật, nhân
tố quyết định trong lịch sử suy cho cùng là… sự tái sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống [22] Chức năng sinh sản của gia đình là một giá trị trường tồn Theo dòng văn hóa, ở mỗi thời đại, việc sinh sản của gia đình
có những hệ quả nhận thức khác nhau về giới tính, số lượng con Mặt khác, sự sinh sản trong gia đình giúp cho việc xác định nguồn cội của con người, từ đó tránh tình trạng quan hệ hôn nhân giữa những người có quan hệ huyết thống gần, góp phần tạo nên tôn ti gia đình, trật tự xã hội, đảm bảo được các điều kiện cơ bản cho nòi giống phát triển
Khi thực hiện chức năng sinh đẻ, vợ chồng được quyền quyết định số lần sinh, khoảng cách giữa các lần sinh Mọi sự cưỡng bức, lừa dối trong việc
Trang 25thực hiện chức năng sinh đẻ đều là trái pháp luật Việc lựa chọn số con và khoảng cách giữa các lần sinh phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, sức khỏe, công việc của vợ chồng mà không phụ thuộc vào việc họ sinh con trai hay con gái Các biện pháp kế hoạch hóa gia đình phải được vợ chồng bàn bạc thống nhất, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới trong gia đình Mọi sự áp đặt biện pháp kế hoạch hóa gia đình cho người vợ hoặc phá thai để lựa chọn giới tính thai nhi đều trái với nguyên tắc bình đẳng giới và là hành vi vi phạm pháp luật Khi thực hiện chức năng này cần dựa vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và sự gia tăng dân số để có chính sách phát triển nhân lực cho phù hợp Trong xu thế phát triển và hội nhập, đối với nước ta, chức năng sinh
đẻ của gia đình đang được thực hiện theo xu hướng hạn chế, vì trình độ phát triển kinh tế nước ta còn thấp, dân số đông Xu hướng hạn chế sinh đẻ và thu hẹp quy mô gia đình là một xu hướng có tính quy luật, gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, thành thị hóa cũng như quá trình nâng cao mức sống văn hóa, vật chất của người dân và nâng cao vị thế của người phụ nữ
Ngày xưa, gia đình Việt Nam coi trọng chức năng sinh đẻ vì quan niệm
sinh đẻ là để có con “nối dõi tông đường” và đáp ứng nguồn nhân lực cho nền
kinh tế nông nghiệp vốn rất cần nguồn lao động dồi dào Đông con là một giá trị cơ bản của gia đình và xã hội truyền thống Mặt khác, do đất nước luôn có chiến tranh xâm lược nên gia đình là nơi cung cấp nguồn nhân lực tham gia
bảo vệ Tổ quốc Những quan niệm như “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”,
“Nữ sanh ngoại tộc”, “Con gái là con người ta”, “Ruộng sâu trâu nái, không
bằng con gái đầu lòng”… là biểu hiện của các giá trị văn hóa lạc hậu gắn với
chức năng sinh đẻ trong nhân dân [17]
Khác với gia đình truyền thống, trong gia đình hiện đại có ít con Hầu hết mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con Điều này xuất phát từ chính sách dân số của quốc gia và sự thay đổi quan niệm về con cái Theo chính sách dân
Trang 26số, mỗi cặp vợ chồng chỉ có một hoặc hai con [9, Điều 10] Hơn nữa, người Việt nam hiện nay (đặc biệt là lớp trẻ) cho rằng có con là có sự gắn kết tình cảm, không phải để nhờ cậy khi tuổi già Con trai, con gái đều được yêu quý như nhau Và cũng có một sự chuyển đổi nhận thức rất rõ về số con, đại bộ phận người dân đã tự nhận thức được giá trị của con cái trong cuộc sống gia đình nói chung, chứ không chỉ đơn thuần thực hiện theo quy định của chính sách dân số
- Chức năng giáo dục
Gia đình được lịch sử sắp đặt ở vào vị trí trung tâm của mối quan hệ giữa
cá nhân và cộng đồng xã hội Trước khi trở thành con người của xã hội thì mỗi cá nhân trước hết phải là sản phẩm của gia đình, được gia đình nuôi dưỡng và giáo dục Để trở thành con người hoàn chỉnh, cá nhân phải trải qua quá trình giáo dục, rèn luyện của gia đình và xã hội, trong đó môi trường giáo dục đầu tiên, quan trọng nhất và kéo dài suốt cả cuộc đời, đó là giáo dục gia đình Nói như vậy có nghĩa là cá nhân chỉ trở thành con người xã hội thực sự khi bước qua ngưỡng cửa gia đình Trong xã hội nhỏ bé và ấm cúng của cuộc sống gia đình, con người được chăm sóc, bảo vệ và giáo dục ngay từ thuở mới lọt lòng để đến khi trưởng thành, con người được chuẩn bị những hành trang cần thiết cho cuộc sống tự lập Đặc biệt, ở thời kỳ chưa thành niên, giáo dục gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách, trí tuệ và thể lực của mỗi con người Thời kỳ này được chia thành
ba giai đoạn: Từ 0-3 tuổi, từ 3-5 tuổi, từ 6-18 tuổi Cả ba giai đoạn cá nhân lớn lên đều dưới sự chăm sóc, dạy dỗ, uốn nắn từng bước của các thành viên gia đình Đối với đứa trẻ, gia đình là môi trường đầu tiên, trực tiếp tác động đến việc hình thành nhân cách của nó Nó cảm nhận, lắng nghe, quan sát từ lời ăn tiếng nói, các kiểu mẫu hành động, các tri thức, cách thức ứng xử [18] Một đứa trẻ không thể thích ứng được với cộng đồng nếu không được người
Trang 27lớn dạy “học ăn, học nói, học gói, học mở” Quá trình dạy đứa trẻ từ một cá thể thành một nhân cách là quá trình dạy – học “làm người” bắt đầu từ gia
đình Ngôn ngữ mẹ đẻ, thói quen sinh hoạt gia đình, cách ăn mặc, giao tiếp, cách quan sát, các nhu cầu và phương thức thỏa mãn nhu cầu đều được gia đình hướng dẫn trẻ theo một nếp sống, truyền thống ổn định Gia đình đưa trẻ
em vào thế giới của những giá trị mà gia đình thừa nhận và thực hiện trong đời sống hàng ngày Gia đình dạy dỗ, hướng dẫn, rèn luyện mỗi cá nhân, giúp
cá nhân làm quen và thực hiện các chuẩn mực trong gia đình và ngoài xã hội; điều chỉnh nhận thức để có khả năng giao tiếp phù hợp trong các quan hệ xã hội, dần bước vào đời sống của một cá thể trong đời sống xã hội Việc hoàn thiện và củng cố nhân cách con người ở tuổi trưởng thành và khi về già cũng
do tác động của đời sống, sinh hoạt, văn hóa gia đình
Việc gia đình giáo dục các cá nhân thông qua các mối quan hệ đặc biệt với vai trò của từng thành viên gia đình Quá trình xã hội hóa cá nhân bắt đầu
từ khi cá nhân có sự xác định vị trí, vai trò của từng cá nhân trong mối quan
hệ ấy Gia đình thông qua thái độ, tâm lý, tình cảm và mối liên hệ thường xuyên, tác động một cách tổng thể, kiên trì, bền bỉ, khéo léo truyền thụ cho mỗi cá nhân những mẫu mực, hành vi xã hội để ứng xử trong gia đình và ngoài xã hội Qua mối quan hệ đặc biệt, thái độ, tình cảm tâm lý, gia đình từng bước uốn nắn những lệch lạc hành vi, ngăn chặn những hành vi trái với chuẩn mực xã hội ở từng cá nhân Việc giáo dục và hình thành nhân cách con người trong gia đình có tính chất đặt nền móng, mang tính truyền thống gia phong, thực hiện bước đi đầu tiên Là trung tâm xuất phát điểm của giáo dục con người, là cơ sở của những nền tảng giáo dục con người, là trường học đầu tiên của con người, gia đình có vai trò đặc biệt trong việc xã hội hóa giáo dục con người Như vậy, gia đình trở thành môi trường văn hóa đầu tiên, nơi mà mỗi cá nhân khi chào đời và trong suốt quá trình phát triển, liên tục được tiếp
Trang 28nhận những tình cảm từ các thành viên trong gia đình Gia đình truyền thụ cho các cá nhân những giá trị văn hóa truyền thống cũng như những giá trị văn hóa hiện đại tạo nên giá trị xã hội và nhân cách văn hóa của mỗi con người Giáo dục gia đình cần được hiểu theo nghĩa rộng, đó là việc truyền thụ (truyền dạy và tiếp thu), chuyển giao giữa các thế hệ về kiến thức cuộc sống, những kinh nghiệm sản xuất, những giá trị văn hóa truyền thống được đúc kết, trải nghiệm trở thành những di sản quý báu của gia đình, cộng đồng, dân tộc Thực hiện tốt chức năng giáo dục gia đình là điều kiện tiên quyết trong việc hình thành nhân cách cho các thế hệ tiếp nối Có thể gọi đây là quá trình
xã hội hóa cá nhân để con người của gia đình trở thành con người của xã hội
Do vậy, ngay cả các thành viên đã trưởng thành thì giáo dục gia đình vẫn là cần thiết
Nội dung giáo dục gia đình bao gồm cả tri thức, kinh nghiệm, đạo đức, lối sống, nhân cách, thẩm mỹ… Phương pháp giáo dục gia đình cũng đa dạng, song chủ yếu bằng phương pháp nêu gương, thuyết phục về lối sống, gia phong của gia đình truyền thống Nêu gương là cách giáo dục tốt nhất trong gia đình nên từ cách ứng xử giữa các thành viên (cha mẹ thương yêu chân thành, tôn trọng, giúp đỡ nhau; cha mẹ, ông bà vừa yêu quý, vừa nghiêm khắc
và bao dung với con cháu), giữa gia đình với họ hàng, với láng giềng, với cộng đồng (trọng nhân nghĩa, làm điều thiện, sống chan hòa, ghét thói gian tham, điều giả dối)… Qua đó giúp con cháu tiếp thu một cách tự nhiên, nhẹ nhàng những bài học cuộc đời nhưng lại tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách Chủ thể giáo dục gia đình chủ yếu là cha mẹ, ông bà đối với con cháu, cho nên giáo dục gia đình còn bao hàm cả tự giáo dục Giáo dục gia đình là một bộ phận và có quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho gia đình, nhà trường và xã hội Trong đó, giáo dục gia đình có vai trò quan trọng được coi là thành tố của nền giáo dục xã hội chung Dù giáo dục xã hội đóng
Trang 29vai trò ngày càng quan trọng, nhưng có những nội dung và phương pháp giáo dục gia đình mang lại hiệu quả lớn không thể thay thế được Giáo dục gia đình chủ yếu được thực hiện bằng tình cảm và đó là nền giáo dục vừa toàn diện, vừa cụ thể và mang tính cá biệt cao Toàn diện bởi giáo dục gia đình hướng tới thúc đẩy sự phát triển đầy đủ mọi phẩm chất con người Cụ thể là vì giáo dục gia đình không mang tính chất chung chung, trừu tượng mà nhằm vào mỗi cá nhân cụ thể và nhằm xây dựng, phát triển những phẩm chất, năng lực cụ thể của từng người Giáo dục gia đình mang tính cá biệt là do đối tượng
là những cá thể đặc thù, riêng biệt Đối với mỗi cá nhân cụ thể đó thì phải có phương pháp, cách thức và nội dung giáo dục riêng, cụ thể, cá biệt mới phù
hợp và chỉ có như thế mới mang lại hiệu quả của giáo dục gia đình
Gia đình không phải là thể chế xã hội duy nhất có vai trò giáo dục trẻ em
và thanh thiếu niên nhưng chức năng giáo dục của gia đình là quan trọng nhất Thông qua chức năng giáo dục mà gia đình trở thành cầu nối không thể thay thế được giữa xã hội và cá nhân Mặc dù vậy, từ xưa đến nay, chức năng giáo dục của gia đình thường được thực hiện một cách tự phát
Trong xã hội hiện đại, mục đích phát triển xã hội là xây dựng cá nhân Tất cả các chức năng xã hội khác của gia đình đều phụ thuộc vào chức năng giáo dục, bởi vì những chức năng này đều nhằm tạo ra những điều kiện cho con người phát triển toàn diện Tuy vậy, gia đình trong xu thế phát triển và hội nhập, việc thực hiện chức năng giáo dục lại là một thách thức lớn Chức năng này được tăng cường hơn bao giờ hết và trở thành một trách nhiệm nặng
nề mà gia đình phải gánh vác Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nhu cầu về nguồn lao động có tay nghề tăng cao nên đòi hỏi nguồn nhân lực phải đáp ứng đầy đủ các tư chất cần thiết Do đó, tiêu chuẩn của việc dưỡng dục con cái cũng tăng theo Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đã làm tăng kì vọng xã hội đối với tiêu chuẩn chất lượng của việc giáo dục con cái
Trang 30Đây là lí do chính thu hút sự quan tâm của cha mẹ đối với việc học của con cái Tuy nhiên, sự quan tâm này không giống nhau giữa các khu vực, vùng, miền và dân tộc Cha mẹ ở thành thị chăm lo đến việc học của con cao hơn so với nông thôn Trong quá trình xã hội biến đổi nhanh chóng, trong gia đình đang nảy sinh nhiều xáo trộn trong chức năng dưỡng dục con cái và xã hội hóa Do cha mẹ còn trong độ tuổi lao động, phải tham gia vào quá trình lao động để đảm bảo chức năng kinh tế của gia đình nên việc dành thời gian cần thiết để chăm sóc và giáo dục con là một khó khăn lớn Dành thời gian để chăm sóc và giáo dục con như thế nào là hợp lý vẫn là bài toán khó đối với nhiều người cha, người mẹ Nhiều gia đình, cha mẹ đi làm từ sáng sớm đến chiều tối, việc giáo dục con cái giao phó cho nhà trường Nhiều gia đình cha
mẹ giao con cho người giúp việc chăm sóc Vì vậy, con cái phát triển lệch lạc, nhiều đứa trẻ hư hỏng, phạm tội… Ngoài ra, trong gia đình hiện đại thường xuất hiện những xung đột giữa các thế hệ: Cha mẹ với con, ông bà với cháu… Thế hệ trẻ mới lập gia đình cho dù có nhận được sự giúp đỡ của bố mẹ nhưng
họ vẫn bộc lộ những bất đồng thế hệ, xung quanh việc nuôi dạy con cái vì giới trẻ ngày nay trông cậy vào tri thức khoa học và chuyên môn hơn là những kinh nghiệm của các thế hệ trước như ông bà, cha mẹ Giải quyết được các bất đồng, xung đột đó thì giáo dục gia đình mới đạt hiệu quả Cha mẹ phải thực sự là người bạn lớn của con Gia đình là môi trường của những cuộc tranh luận tự do, trên nguyên tắc là sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau Giáo dục trẻ em trong gia đình cũng phải xuất phát từ quyền và bổn phận của trẻ em
cũng như quyền và nghĩa vụ của cha mẹ Trong xã hội cũ, quan niệm “yêu
cho roi cho vọt” là sai lầm Trong xã hội hiện đại vẫn còn không ít gia đình
chưa xác định rõ ranh giới của sự giáo dục Vì vậy, hành vi của cha mẹ, ông
bà trong việc giáo dục con cháu lại trở thành sự trừng phạt Nhiều trường hợp cha mẹ dạy dỗ con nhưng biện pháp và hành vi không phù hợp nên trở thành
Trang 31hành vi bạo lực đối với con Trong xã hội cũ, giáo dục mang tính một chiều Cha mẹ dùng quyền uy của mình buộc con cái phải tuân theo Trong xã hội hiện đại, vấn đề giáo dục con phải trên nguyên tắc hai chiều: Con cái nghe lời cha mẹ, cha mẹ lắng nghe và tôn trọng nguyện vọng của con Ngày nay không chỉ có cha mẹ là người hiểu biết nhiều nhất, là người giỏi nhất, là người thầy dạy duy nhất của các con Lớp trẻ có điều kiện tiếp xúc với nhiều loại thông tin, sách báo nên dễ dàng thu nhận được nhiều kiến thức mới, đặc biệt là về
kỹ thuật sản xuất hiện đại, các công nghệ thông tin… Bởi vậy, nhiều điều cha
mẹ cần lắng nghe con, học tập ở con, mà không tự coi là điều gì mình cũng biết Đặc biệt, khi con có ý kiến khác, cha mẹ nên lắng nghe con trình bày một cách bình tĩnh, điều gì con nói đúng cần tiếp thu, không giấu dốt, điều gì con nói sai phải thuyết phục bằng lý lẽ, không thể áp đặt một cách vũ đoán, gia trưởng Hình thức giáo dục trong gia đình hiện đại cũng cần phải thay đổi: Cha mẹ phải giảng giải, thuyết phục con để con có hành động đúng đắn Cha
mẹ không được ra lệnh cho con Cha mẹ phải nghiêm khắc với con nhưng vẫn thể hiện tình yêu thương Cha mẹ phải là tấm gương sáng cho con học tập Trong giáo dục gia đình, ngoài giáo dục đạo đức, tri thức còn giáo dục
về thể lực như giáo dục các kiến thức gia đình: Đảm bảo nguồn dinh dưỡng,
có chế độ ăn cho trẻ em, người già hợp lý; chế độ luyện tập lao động vừa sức
để nâng cao sức khỏe, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên gia đình đặc biệt
là trẻ em, người cao tuổi, người đau yếu; giữ gìn vệ sinh cá nhân Gia đình là nơi chăm lo, bảo vệ sức khỏe, đảm bảo nhu cầu ăn uống, dinh dưỡng hàng ngày cho mọi thành viên Gia đình còn là nơi hướng dẫn cho mọi người biết cách tự chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh, tạo cho con người niềm vui, tinh thần thoải mái, tăng cường sức khỏe
Tóm lại, gia đình là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo vệ và phát huy văn hóa truyền thống tốt
Trang 32đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Gia đình có vai trò hết sức quan trọng, bởi lẽ gia đình
là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong bối cảnh đất nước và quốc tế đang có những thay đổi diện mạo về mọi mặt, đặc biệt từ khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, gia đình Việt Nam ngày càng
có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng cơ bản của mình, trong
đó đề cao và nhấn mạnh chức năng giáo dục - xã hội hóa cá nhân hình thành nhân cách con người
- Chức năng kinh tế
Đây là chức năng nhằm bảo đảm sự tồn tại, phát triển của mỗi gia đình
và góp phần vào sự phát triển của toàn xã hội Kinh tế gia đình phát triển có tác dụng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Chức năng kinh tế của gia đình được biểu hiện trên cả hai phương diện: Sản xuất và tiêu dùng Thực hiện chức năng này các gia đình tiến hành các hoạt động lao động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tạo ra thu nhập chính đáng để nâng cao đời sống, đảm bảo đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần cho gia đình Thực hiện chức năng này còn là việc các gia đình sử dụng nguồn thu nhập để mua sắm những sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu đời sống vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại…) và đời sống tinh thần (học hành, tiếp cận thông tin, vui chơi giải trí…) của gia đình Việc tiêu dùng sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong xã hội đã tác động vào sản xuất, tiền tệ, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển Việc tổ chức đời sống gia đình chính là việc sử dụng hợp lý các khoản thu nhập của các thành viên và thời gian nhàn rỗi để tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, đời sống vật chất của mỗi thành viên được đảm bảo sẽ nâng cao sức khỏe của các thành
Trang 33viên gia đình đồng thời cũng duy trì sắc thái, sở thích riêng của mỗi người Vai trò của gia đình trong việc thực hiện chức năng này là hết sức quan trọng Các thành viên gia đình cùng sống chung dưới một mái nhà và tạo nên một hệ kinh tế Gia đình trong các xã hội trước đây thực hiện chức năng kinh tế chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất, coi sản xuất tạo ra của cải cho gia đình
là trọng tâm Gắn với văn minh nông nghiệp, gia đình là đơn vị tổ chức sản
xuất tự chủ Gia đình Việt Nam coi trọng cơ nghiệp cho nên “Tấc đất tấc
vàng”, “Con trâu là đầu cơ nghiệp” hay “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, hoặc
“Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rong, nhất nông nhì sĩ”, rồi “Phi thương bất
phú”… diễn tả các giá trị chức năng kinh tế của gia đình, được sử dụng để giáo
dục các thành viên trong gia đình cách lao động, phát triển kinh tế gia đình qua các thời kỳ Trong cách tiêu dùng của gia đình cũng cố gắng sao cho phù hợp
như “Liệu cơm gắp mắm” hay “Khéo ăn thì no – khéo co thì ấm” [17]
Có thể thấy rằng do quá trình công nghiệp hóa mà gia đình và nơi làm việc bị tách rời nhau về mặt không gian, theo đó chức năng sản xuất của gia đình cũng suy giảm hoặc mất đi và chức năng tiêu dùng được tăng cường Điều này có thể dẫn đến lối sống của gia đình được quyết định tùy thuộc vào công việc hay mức thu nhập của các thành viên trong gia đình và tiêu chuẩn tiêu dùng của gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của gia đình Đối với trường hợp của các gia đình ở nông thôn thì chức năng sản xuất và chức năng tiêu dùng của gia đình không bị phân chia rạch ròi nhưng dưới cơ chế xã hội lấy việc sản xuất phục vụ cho sự trao đổi thì việc sản xuất tự cung tự cấp của gia đình cũng bị suy giảm Tóm lại, khi các hoạt động sản xuất kinh doanh do gia đình như một đơn vị kinh tế thực hiện có xu hướng giảm thì các hoạt động kinh tế do cá nhân thực hiện ngoài gia đình sẽ tăng lên (ví dụ như làm công ăn lương…) Xu hướng cá nhân hóa các nguồn thu nhập của các thành viên trong gia đình dẫn đến chỗ phạm vi
Trang 34hoạt động của gia đình như một đơn vị kinh tế thu hẹp lại Chức năng kinh tế của gia đình bộc lộ rõ hơn ở các hoạt động tiêu dùng hơn là các hoạt động tạo thu nhập
Như vậy là chức năng kinh tế của gia đình hiện đại đã chuyển một phần
từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực tiêu dùng hay đúng hơn là được giảm nhẹ ở khâu tổ chức, sản xuất, nhưng với tư cách là đơn vị tiêu dùng thì chức năng kinh tế với việc tính toán thu chi hàng tháng, hàng năm vẫn là nỗi lo của các chủ gia đình Một số những thay đổi trong chức năng kinh tế của gia đình thể hiện rõ ràng và cụ thể như sau:
+ Trong lĩnh vực sản xuất: Vai trò của phụ nữ ngoài xã hội và trong gia đình hiện đại đã có sự thay đổi lớn so với truyền thống Người phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Kết hợp hài hòa giữa lao động trong gia đình và xã hội là một thách thức đối với phụ nữ và nam giới Lao động trẻ em đang là vấn đề được quan tâm trong xã hội hiện đại Tình trạng trẻ em phải lao động sớm tương đối phổ biến hiện nay: Trẻ em nông thôn đi giúp việc trong các gia đình ở thành thị; trẻ em đường phố phải làm đủ nghề để kiếm sống; trẻ em trong các làng nghề truyền thống…Trẻ em phải lao động sớm dẫn đến nhiều hệ quả bất lợi như: Bị đánh đập, bị lạm dụng, bị thất học…
+ Trong lĩnh vực tiêu dùng: Vấn đề tiêu dùng của gia đình có ý nghĩa to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trong điều kiện đời sống được nâng cao thì nhu cầu của con người càng lớn Đây là một yếu tố thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế quốc gia Vì vậy Nhà nước có chính sách đưa nhu cầu tiêu dùng của gia đình từ trạng thái tự phát sang trạng thái có tính định hướng (ví dụ: Chính sách kích cầu) Cần xây dựng mô hình tiêu dùng cho gia đình một cách hợp lý về cơ cấu và mức độ tiêu dùng của các thành viên gia đình Điều
Trang 35này không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng lối sống mới, văn minh, hiện đại
Ở nước ta hiện nay, kinh tế gia đình được đánh giá đúng với vai trò của
nó Đảng và Nhà nước có những chính sách khuyến khích và bảo vệ kinh tế gia đình.Vì vậy mà đời sống gia đình và xã hội được cải thiện đáng kể Chức năng kinh tế giúp cho các thành viên gia đình được đảm bảo cuộc sống, giúp các thành viên gia đình thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng trẻ em, người cao tuổi
và người ốm đau, tàn tật Thực hiện chức năng kinh tế tốt sẽ tạo tiền đề và cơ
sở vật chất cho tổ chức đời sống gia đình Thực hiện tốt tổ chức đời sống gia đình không những đảm bảo hạnh phúc gia đình, hạnh phúc của từng cá nhân
mà còn đóng góp vào sự tiến bộ của xã hội
Ngoài ba chức năng xã hội cơ bản trên, gia đình Việt Nam còn có chức năng tâm lý, tình cảm Đây là chức năng có ý nghĩa quan trọng trong việc chia
sẻ trách nhiệm, tình yêu thương gắn bó giữa các thành viên gia đình, đặc biệt là tình yêu hạnh phúc lứa đôi Tổ ấm gia đình vừa là điểm xuất phát, là nơi nuôi dưỡng cho con người trưởng thành, vững tin bước vào cuộc sống xã hội, đồng thời cũng là nơi bao dung, an ủi cho mỗi cá nhân trước những rủi ro, sóng gió cuộc đời Càng về cuối đời, con người càng trở nên thấm thía và khao khát tìm
về sự bình yên, thỏa mãn nhu cầu cân bằng trạng thái tâm lý, tình cảm trong sự chăm sóc, đùm bọc của gia đình Gia đình là một cộng đồng đặc biệt, không một cộng đồng hay tổ chức nào có thể đem lại tình cảm ấm áp, sâu sắc và thiêng liêng như gia đình Chức năng này kết hợp với các chức năng khác tạo
ra khả năng thực tế cho việc xây dựng hạnh phúc gia đình Nó là yếu tố cần thiết giúp cho sự bền vững của gia đình Nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến giới tính, tuổi tác, sự căng thẳng mệt mỏi về thể xác và tâm hồn trong lao động
và công tác…thì môi trường gia đình là nơi giải quyết hiệu quả nhất
Trang 36Nhờ vào quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nên thành viên gia đình có tình yêu thương và ý thức, trách nhiệm với nhau Không phải ngẫu
nhiên người ta gọi gia đình với cách gọi yêu thương, trìu mến: “mái ấm”
Trong gia đình, người già được chăm sóc khỏe mạnh, vui vẻ lạc quan, truyền lại cho con cháu vốn sống, cách ứng xử đẹp Nơi đó, con cái biết yêu kính, vâng lời cha mẹ; vợ chồng quan tâm chia sẻ vui buồn cực nhọc với nhau Khi một thành viên gặp biến cố, gia đình sẽ có sự quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ để niềm vui được nhân đôi, nỗi buồn được vơi đi một nửa Điều đó đã tạo nên sợi dây vô hình nhưng bền chặt kết nối nghĩa tình những thành viên trong gia đình với nhau
Như vậy, dưới góc độ nghiên cứu của Luật học và với các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, gia đình đã có một khái niệm chung đó là sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội Từ đây xác định được thành viên gia đình cũng như mối quan hệ giữa các thành viên gia đình Đó là các mối quan hệ cụ thể như: Giữa vợ và chồng; giữa cha mẹ và con cái; giữa ông bà và cháu; giữa các anh chị em; giữa cô, dì, chú, bác, cậu với các cháu; giữa anh chị em con cô, con cậu, con chú, con bác, con dì với nhau Gia đình cũng là một thiết chế đa chức năng Các chức năng xã hội cơ bản của gia đình là: Chức năng sinh đẻ, chức năng giáo dục, chức năng kinh tế Mỗi chức năng có những đặc điểm riêng và cũng có sự biển đổi qua các giai đoạn Thông qua việc thực hiện những chức năng này mà gia đình tồn tại và phát triển
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000
2.1 Nghĩa vụ và quyền của các thành viên gia đình trong việc thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình
Từ thời xa xưa, tình cảm gia đình được ví như một thứ tình cảm thiêng
liêng cao đẹp, thấm đượm trong từng câu ca dao, tục ngữ “Công cha nghĩa mẹ
ơn thầy”, “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, tình anh em cũng gắn bó biết bao “Chị ngã em nâng”, “Anh em như thể chân tay, rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”… Về sau với sự hoàn thiện của
hệ thống pháp luật, các mối quan hệ gia đình được sự điều chỉnh của pháp luật, từ đó quyền và nghĩa vụ của các thế hệ, thành viên trong gia đình cũng được quy định trong các văn bản pháp luật nhằm đề cao, ca ngợi, tôn trọng bảo vệ tình cảm gia đình, vừa là giáo dục nhân cách con người, giữ gìn những
vẻ đẹp truyền thống của con người Việt Nam Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 đã cụ thể hóa các quy định, theo đó, các thành viên trong gia đình phải thực hiện nghĩa vụ của mình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và vì sự tồn tại và phát triển của gia đình Việc thực hiện nghĩa vụ phải được thể hiện cụ thể qua thái độ, hành vi, cử chỉ của người có nghĩa vụ Trong mối liên hệ với các chức năng xã hội cơ bản của gia đình thì việc các thành viên gia đình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình cũng chính là thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình
2.1.1 Nghĩa vụ và quyền của vợ chồng
Mục đích của hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa là xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Điều 18 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ chồng chung thủy, thương yêu, quý
Trang 38trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững” Để đạt được mục đích này trước hết vợ chồng phải được bình đẳng với nhau trong mọi lĩnh vực, việc bình đẳng giữa
vợ chồng tạo điều kiện cho gia đình phát triển, mối quan hệ hôn nhân được ổn định và lâu dài Bên cạnh đó, đảm bảo sự bình đẳng chính là để bảo vệ quyền
và lợi ích cho các bên Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình” Như vậy, để đạt được mục đích hôn nhân tốt đẹp, đều phải xuất phát từ cả hai phía vợ và chồng Vợ chồng phải vì lợi ích chung
của gia đình, phải “chung sức chung lòng”, “thuận vợ, thuận chồng” Vợ
chồng phải bình đẳng như nhau, có trách nhiệm như nhau trong việc xây dựng gia đình và xã hội Pháp luật không căn cứ vào giới tính để quy định nghĩa vụ
và quyền riêng cho mỗi bên vợ, chồng mà chỉ quy định nghĩa vụ và quyền chung của họ Thông qua những quyền và nghĩa vụ này mà vợ chồng thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình Vợ chồng bình đẳng với nhau
về mọi mặt trong gia đình thể hiện ở chỗ: Vợ chồng đều có quyền tham gia đóng góp ý kiến, cùng nhau bàn bạc và thực hiện các công việc, các vấn đề liên quan đến nhân thân, tài sản của vợ chồng và các thành viên gia đình Quy định này có ý nghĩa trong việc thực hiện cả chức năng sinh đẻ, chức năng kinh tế và chức năng giáo dục của gia đình Vợ chồng đều có quyền và nghĩa
vụ ngang nhau khi quyết định đến các vấn đề như số lần sinh con, khoảng cách các lần sinh, biện pháp kế hoạch hóa gia đình, cách thức nuôi dạy và giáo dục con cái, tiến hành các hoạt động kinh tế gia đình, tổ chức đời sống
gia đình, tiêu dùng các sản phẩm…
- Vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc thực hiện chức năng sinh đẻ:
Việt Nam có quy mô dân số lớn, mật độ dân số rất cao; bên cạnh đó, chất lượng dân số còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
Trang 39hóa – hiện đại hóa đất nước Đứng trước tình hình phát triển dân số nhanh sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế của đất nước, có thể dẫn đến đói nghèo, lạc hậu Các yếu tố về tầm vóc, thể lực của người Việt Nam còn hạn chế; đặc biệt là chiều cao, cân nặng, sức bền bỉ còn thấp so với nhiều nước trong khu vực Tỷ lệ mắc các bệnh do rối loạn chuyển hóa, di truyền ở trẻ sơ sinh và tử vong sơ sinh còn cao Suy dinh dưỡng trẻ em đang là vấn đề cấp bách Tình trạng trẻ em thừa cân, tự kỷ, tiểu đường đang gia tăng Tình trạng sức khỏe sinh sản có thể coi là một nội dung của chất lượng dân số cũng đang
có nhiều vấn đề như: Tử vong mẹ, tình trạng phá thai và vô sinh, mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và ung thư đường sinh sản… Chính vì vậy, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước,
là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu, là yếu tố nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội Nhà nước ta
đang thực hiện cuộc vận động “dân số và kế hoạch hóa gia đình” theo tinh thần chung “mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ một hoặc hai con” Dựa trên các
tư tưởng chỉ đạo đó, phù hợp với chức năng xã hội cơ bản của gia đình là sinh
đẻ, duy trì nòi giống, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã kịp thời quy định về nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình của vợ chồng Khoản 3 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình” Quy định này mang tính nguyên tắc, đưa ra tinh thần chung, nhằm đề cao trách nhiệm cho vợ chồng thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình Với quy định này, việc sinh đẻ có kế hoạch đã trở thành nghĩa vụ chung của vợ chồng Vợ chồng có trách nhiệm tạo điều kiện cho nhau để thực hiện tốt nghĩa
vụ của mình Vợ chồng bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ này, cùng giúp
đỡ nhau, động viên nhau, tạo điều kiện cho nhau thực hiện tốt nghĩa vụ