Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM THỊ HẢI YẾN
HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử nhà nước và ph áp luật
M ã số: 60380101
LUẬN VĂN TH ẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA H ỌC: PG S.TS NGUYỄN THỊ HỒI
HÀ NỘI – 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm
2013
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHẠM THỊ HẢI YẾN
Trang 3MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 5
C HƯ ƠNG 1 6
M ỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ C ỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 6
1.1 HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN – KHÁ I NIỆM , Đ ẶC ĐIỂM 6
1.1.1 Khái niệm hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án 6
1.1.2 Đặc điểm hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án 8
1.2 T H Ẩ M Q U Y Ề N X É T X Ử S Ơ T H Ẩ M V Ụ Á N H Ì N H S Ự C Ủ A T Ò A Á N 10
1.2.1 Thẩm quyền xét xử theo vụ việc 11
1.2.2 Thẩm quyền xét xử theo đối tượng 13
1.2.3 Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ 13
1.3 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA TÒA Á N 15
1.3.1 Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa 15
1.3.2 Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân 16
1.3.3 Các nguyên tắc đảm bảo tính chính xác, khách quan trong hoạt động xét xử 17
1.3.4 Các nguyên tắc đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử 20
1.4 C ÁC Y Ế U T Ố Ả N H H Ư Ở N G Đ Ế N H O Ạ T Đ Ộ N G X É T X Ử C Ủ A T Ò A Á N 22
C HƯ ƠNG 2 28
THỰ C TR ẠNG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ C ỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH NGHỆ AN THỜI GIAN QUA 28
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH NGHỆ AN 28
2.2 NHỮNG THÀNH TỰ U TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN NGHỆ AN 30
2.3 NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN NGHỆ AN 36
2.4 NGUYÊ N N HÂN CỦ A N HỮN G HẠ N CHẾ, BẤT CẬP 38
Trang 42.4.1 Nguyên nhân chủ quan 39 2.4.2 Nguyên nhân khách quan 44
C HƯ ƠNG 3 47
M ỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG C AO C HẤT LƯ ỢNG XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ
AN THỜI GIAN TỚI 473.1 NÂNG CAO CHẤT LƯ ỢNG ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN DÂN, CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN 47 3.1.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán, Thư ký của Tòa án nhân
dân cấp huyện 47 3.1.2 Bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, ngân
sách cho hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và xét xử sơ thẩm án hình
sự nói riêng 50 3.1.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ Hội Thẩm nhân dân 52 3.1.4 Thực hiện tốt chiến lược cải cách tư pháp trong thời gian tới 54 3.2 NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG TÒ A 55 3.3 NÂNG CA O CHẤT LƯ ỢN G TRAN H TỤN G TẠI T ÒA 56 3.4 NÂNG CAO CHẤT LƯ ỢNG CÔNG TÁC NỘI BỘ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CÁC CẤP Ở TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY 58 3.5 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY 59 3.6 TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NHÂN DÂN 61 KẾT LUẬN 64DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, so với cả nước thì N ghệ A n là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển nhanh, mạnh về kinh tế nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung nên đã đạt được một số thành tựu đáng kể như: kinh tế tiếp tục tăng trưởng
và ổn định, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, kỷ cương văn minh đô thị có nhiều tiến bộ… Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực
đã đạt được, cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, những sơ hở, thiếu sót, tồn tại, yếu kém và bất cập trong quá trình quản lý khiến cho nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm có môi trường nảy sinh, phát triển Theo Báo cáo giải quyết án hình sự của Phòng Thống kê, Tòa án nhân dân tỉnh N ghệ An trong năm năm gần đây thì: từ năm
2008 – 2012 số lượng vụ án hình sự toàn ngà nh Tòa án nhân dân Ngh ệ An đã thụ lý
là 11344 vụ/18972 bị cáo (trong đó Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý 9858 vụ/15976 bị cáo), số lượng án hình sự đã giải quyết là 11201 vụ/17952 bị cáo (xét xử sơ thẩm là 9755vụ/15721 bị cáo; xét xử phúc thẩm là 1187 vụ/1537 bị cáo), số vụ án còn lại chủ yếu là mới thụ lý và đang tiếp tục được giải quyết theo quy định của pháp luật Qua số liệu trên cho thấy mỗi năm các Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An phải giải quyết một số lượng lớn án hình sự nhưng nhìn chung công tác xét xử vẫn đảm bảo đúng pháp luật, chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao hơn, góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác nhưng hoạt động xét xử các vụ án nói chung và các vụ án hình sự nói riêng của TAND Nghệ An vẫn còn những sai sót, vướng mắc như: vẫn còn án bị hủy, thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ, vẫn còn hồ sơ quá hạn theo luật định, khi xét xử Thẩm phán thiếu vô tư, khách quan dẫn đến xét xử không đúng người, đúng tội…
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Tòa án
có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ, pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Có thể nói đây là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) của quá trình giải quyết một vụ án hình sự Do đó, đòi hỏi những người tiến hành tố tụng và n gười tham gia tố tụng phải tập trung trí tuệ,
Trang 7giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác và có sức thuyết phục, đồng thời lại phải tuân theo những quy định của pháp luật
Chính vì vậy, đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác xét xử các vụ á n hình sự, đặc biệt là ở giai đoạ n xét xử sơ thẩm nhằm tìm ra những giải pháp khắc phục những vướng mắc, hạn chế, giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án hình sự, phòng và chống các loại tội phạm hình sự ngày càng gia tăng
và có tính phức tạ p cao như hiện nay, góp phần đẩy mạ nh việc thực hiện các m ục tiêu chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo Nghị quyết số 49 -NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX là: “Xây dựng nền Tư pháp trong sạch, vững m ạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” và trọng tâm của cải cách tư pháp là: “Xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột ph á của cải cách tư pháp”
Để hiểu rõ thực trạng hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND ở tỉnh Nghệ An trong thời gian qua, tìm ra những ưu điểm, hạn chế của hoạt động này, xác định nguyên nhân dẫn đến những hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết án hình sự c ủa Tòa chính là lý do của việc nghiên cứu đề
tài “Hoạt độn g xét xử sơ th ẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ
An hiện nay”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về “Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp… sắp xếp lại hệ thống TAND” đã có nhiều công trình khoa học, nhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn
ở những mức độ khác nhau đề cập đến vấn đề về tổ chức và hoạt động của Tòa án, thủ tục tố tụng, thẩm quyền của Tòa án mỗi cấp… Có thể kể đến một số công trình sau:
Luận án Tiến sỹ của Lê Thành Dương “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa
án nhân dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” đề cập đến chức năng, vai trò, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân ở nước ta theo Hiến pháp và
Trang 8pháp luật Việt Nam Luận án còn làm rõ thực trạng tổ chức, hoạt động của Tòa án nhân dân và những nội dung cơ bản về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Văn Huyên: “Thẩm quyền của Tòa án các cấp theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam” Luận án nghiên cứu một cách toàn diện về hệ thống thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp Trong đó, tác giả có nêu nhữ ng quy định của BLTTHS về thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp: sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm cũng như thực tiễn áp dụng và hoàn thiện các quy định đó
Luận văn Thạc sỹ của Đặng Công Cường: “Vai trò của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” xem xét về vị trí, vai trò của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền và vai trò, tổ chức, hoạt động của Tòa án ở Việt Nam
Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Hồng Vân: “Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hiện nay” đề cập đến một số vấn đề lý luận về hoạt độ ng xét
xử của Tòa án như: khái niệm, đặc điểm xét xử của Tòa án, các nguyên tắc và thẩm quyền xét xử của Tòa án Bên cạnh đó, Luận văn làm rõ thực trạng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thời gian qua đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hiện nay
Khóa luận tốt nghiệp đại học của Ngô Thị An: “Nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân trong giai đoạn hiện nay” đề cập sơ lược về tổ chức của Tòa án nhân dân trong các kiểu nhà nước trong lịch sử nhân loại, quan điểm của Đảng ta về Tòa án và Tòa án nhân dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam Ngoài ra, khóa luận cũng nêu lên thực trạng hoạt động của Tòa án nhân dân nói chung và nội dung cơ bản để nâng cao hiệu quả hoạt động này trong giai đoạn hiện nay
Bài viết của PGS.TS Trần Văn Độ: “Một số vấn đề về hoàn thiện quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục xét xử sơ thẩm” trên Tạp chí Kiểm sát số 8/2012,
số chuyên đề, ra ngày 20/4/2012, đề cập đế n cơ sở của việc hoàn thiện thủ tục xét
xử sơ thẩm, những hạn chế, thiếu sót của BLTTHS quy định về vấn đề này đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
về thủ tục xét xử sơ thẩm
Trang 9Bài viết trên tạp chí Tòa án nhân dân số 10 tháng 5 năm 2012 của tác giả Nguyễn Ngọc Kiện: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong điều kiện cải cách tư pháp” Bài viết nêu lên các bảo đảm cho hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ th ẩm Đề xuất một số ý kiến
về vị trí của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, người bào chữa và bị cáo tại phiên tòa, cách thức tổ chức phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp
Bài viết trên tạp chí Tòa án nhân dân số 13 tháng 7 năm 2012 của tác giả Nguyễn Hữu Chính: “Một số vấn đề về tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” nêu lên thực trạng, nguyên nhân và giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự
Bài viết trên tạp chí Tòa án nhân dân số 16 tháng 8 năm 2010 của tác giả Nguyễn Hoài Nam: “Thực trạng và hướng hoàn thiện chức năng xét xử của Tòa án trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003” khẳng định xét xử là chức năng cơ bản, có vai trò quyết định trong tố tụng hình sự, những vướng mắc và phương hướng hoàn thiện các quy định của BLTTHS
Mặc dù các công trình trên về cơ bản đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau như: lịch sử phát triển, vị trí, vai trò, thẩm quyền xét xử, tổ chức và hoạt động của Tòa án Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập riêng đến vấn đề lý luận về hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án một cách có hệ thống, đề cập đến các khía cạnh tổng thể trong công tác xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án
và đánh giá toàn diện về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ A n trong giai đoạn hiện nay như công trình này
3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài:
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An hiện nay Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn:
+ Làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân: khái niệm, đặc điểm hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự, thẩm quyển xét xử sơ thẩm và nguyên tắc xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân
+ Đánh giá thực trạng hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An thời gian qua
Trang 10+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án và đánh giá thực trạng hoạt động xét xử sơ thẩm
án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh N ghệ An từ năm 2008 đến năm 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật, vận dụng quan điểm về tư pháp và cải cách tư pháp của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê tư pháp, so sánh, đối chiếu v.v…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn trình bày được một cách khái quát một số vấn đề lý luận về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân
Luận văn phân tích, đánh giá được thực trạng hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh N ghệ A n thời gian qua và đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dâ n ở tỉnh Nghệ An trong thời gia n tới Vì thế, luận văn sẽ có thể là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác xét xử trong lĩnh vực hình sự của Tòa án nhân dân nói chung và T òa án nhân dân N ghệ A n nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự của Tòa án nhân dân
Chương 2 Thực trạng hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An thời gian qua
Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.1 HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨ M V Ụ ÁN HÌNH SỰ C ỦA TÒA
ÁN – KHÁI NIỆ M , ĐẶ C ĐIỂM
1.1.1 Khái niệm hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án
Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, Tòa án là cơ quan chuyên biệt và duy nhất được trao thẩm quyền xét xử Hoạt động xét xử là việc xem xét, đánh giá các chứng cứ để đưa ra các phán quyết có tính chất bắt buộc tại Tòa của những người có thẩm quyền Khi xem xét khái niệm xét xử, có nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm nhìn nhận khái niệm hoạt động xét xử tại Tòa theo nghĩa hẹp:
“Xét xử là hoạt động của a án tại phiên a đ xem xét các chứng cứ và căn cứ vào pháp luật, xử lý vụ án b ng việc ra bản án và các quyết đ nh của a án” [37,
tr 360] Theo quan điểm này, hoạt động xét xử chỉ được xem xét trong phạm vi là những hoạt động tại phiên òa của òa án Tuy nhiên, với quan điểm nhìn nhận hoạt
động xét xử theo nghĩa rộng hơn thì: “ Xét xử là hoạt động đ c trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các a án Các a án là những c quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm c hức năng xét xử, mọi bản án do các a án tuyên đều phải qua xét
xử hông một ai có th b buộc tội mà không qua xét xử của các a án và kết quả xét xử phải được công bố b ng bản án” [38, Tr 576] Điều này có nghĩa xét xử là
hoạt động chính và chủ yếu của Tòa án, theo đó hoạt động này sẽ bao gồm nhiều giai đoạn mà hoạt động tại phiên tòa chỉ là một giai đoạn trong chuỗi các giai đoạn của quá trình xét xử Và “sản phẩm” đặc trưng, riêng biệt, chỉ hình thành thông qua hoạt động xét xử là bản án Việc nhì n nhận hoạt động xét xử của Tòa án theo nghĩa rộng được áp dụng phổ biến hơn và là quan điểm được sử dụng để triển khai nội dung đề tài này
Hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án giữ vai trò quan trọng và chủ yếu trong toàn bộ hoạt động xét xử của Tòa Thực hiện việc xét xử vụ án hình sự thể hiện rõ nét nhất tính quyền lực cũng như tính phải chịu trách nhiệm từ các quyết định được ban hành của Tòa án
Thực tế hiện nay khái niệm vụ án hình sự chưa được quy định cụ thể trong một văn bản quy phạm pháp luật nào Theo Từ điển luật học thì vụ án hình sự được hiểu là vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm đã được quy định trong Bộ luật
Trang 12hình sự đã được cơ quan điều tra ra lệnh khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ t ục đã được quy định ở Bộ luật tố tụng hình sự Người vi phạm pháp luật đã bị khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét
xử theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự tức là can án hình sự sẽ bị áp dụng một số biện pháp do luật quy định như p hải khai cung, phải có mặt tại nơi và vào thời gian do các cơ quan tiến hành tố tụng - Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quy định, có trường hợp bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế như tạm giam, khám nhà, v.v… Có thể bị phạt tù, bị cấm hành nghề nếu q ua xét xử Tòa án đã đủ chứng
cứ chứng minh là phạm tội và ra quyết định bằng một bản án hình sự Khái niệm này phù hợp với quan điểm nhìn nhận hoạt động xét xử của Tòa án theo nghĩa rộng Tuy nhiên việc chưa đưa khái niệm vụ án hình sự vào một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể gây nhiều khó khăn cho thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án khi xác định phạm vi thẩm quyền cũng như khi trực tiếp giải quyết vụ án cụ thể
Hiện nay, trong pháp luật quốc tế cũng như các quốc gia đều thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử khi thực hiện hoạt động xét xử, đó là xé t xử sơ thẩ m và phúc thẩm Tức là khi vụ án mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định được T oà án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm Nguyên tắc hai cấp xét xử được tổ chức thực hiện bằ ng các quy định cụ thể của thủ tục tố tụng trong pháp luật tố tụng của mỗi quốc gia Thủ tục tố tụng quy định càng c hính xác thì nguyê n tắc này càng phát huy hiệu quả c ủa nó trong bảo đảm xét xử đúng đắn, khách quan vụ án và bả o
vệ có hiệu quả các quyền tự do dân chủ của công dâ n, đặc biệt là của những người tham gia tố tụng Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là cấp xét xử đầu tiên cũng được ghi nhận là giai đoạn đầu tiên của hoạt động xét xử , trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật Hoạt động xét xử sẽ dừng tại giai đoạn này nếu như bản án, quyết định sơ thẩm
có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng ng hị Nói cách khác, xét xử sơ thẩm là một cấp xét xử nhưng đồng thời cũng là một giai đoạn xét xử không thể thiếu của hoạt động xét xử của T òa án
Như vậy Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án là hoạt động
được tiến hành tại giai đoạn đầu của q uá trình xét xử trong đó T a án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết đ nh tố tụng theo quy
đ nh của pháp luật Đ ây là hoạt động m ang tính quyền lực nhà nước, do T a án tiến
Trang 13hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do pháp luật quy đ nh nh m chứng minh tội phạm, đ nh tội, đ nh hình phạt cho người phạm tội đ trừng tr người phạm tội, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa
họ phạm tội mới, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh
ph ng ngừa và chống tội phạm
1.1.2 Đặc điểm hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án vừa mang những đặc điểm chung của hoạt động xét xử vừa có những đặc điểm đặc thù riêng
Thứ nhất, hoạt động xét xử s thẩm vụ án hình sự của T a án là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước
Điều này được thể hiện ở việc Nhà nước thông qua các văn bản pháp luật trao cho cơ quan tiến hành xét xử và người tiến hành xét xử những quyền hạn để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Trong quá trình thực hiện hoạt động xét xử, để giải quyết vụ án, Tòa án, các Thẩm phán, Hội đồng xét xử được phép ban hành các văn bản tố tụng, các quyết định, bản án có tính chất bắt buộc thi hành K hi tuyên án hoặc ra quyết định nào đó, Hội đồng xét xử không phải nhân danh các thành viên Hội đồng xét xử mà nhân danh Nhà nước để thực hiện chức năng của mình Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải nghiêm túc chấp hành các văn bản này Việc bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án được coi là nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự và được quy định tại Điều
22 BLTTHS năm 2003 Như vậy các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án trong các vụ án hình sự có cơ chế đảm bảo thi hành, có tính cư ỡng chế cao, thể hiện rõ dấu ấ n quyền lực nhà nước
Thứ hai, toàn bộ hoạt động xét xử s thẩm vụ án hình sự của Tòa án tuân the o trình tự, thủ tục được quy đ nh tại Bộ luật tố tụng hình sự và các v ăn b ản hướng dẫn thi hành
Hoạt động xét xử sơ thẩm nằ m trong hoạt động tố tụng vì vậy phải tuân the o các quy định về thủ tục tố tụng Bên cạnh đó, hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự có những thủ tục riêng khác với thủ tục xét xử phúc thẩ m, giám đốc thẩ m và tái thẩm Xét xử sơ thẩm được tiến hành tại giai đoạn đầu tiê n của hoạt động xét xử vì vậy có m ột số hoạt động đặc thù c hỉ có tại giai đoạn này như việc xác định thẩ m
Trang 14quyề n xét xử, c huẩn bị xét xử… Riêng hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩ m chiếm vị trí quan trọng Giai đoạn chuẩ n bị xét xử sơ thẩm bắt đầu từ ngày Tòa án thụ lý vụ
án hình sự và kết thúc khi Thẩm phán được phân công C hủ tọa phiê n tòa ra m ột trong số các quyết định được quy định tại khoả n 2 Điều 176 BLTTHS năm 2003 Đây là giai đoạn Tòa án giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành nhữ ng việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa Pháp luật quy định cụ thể về thời hạn chuẩn bị xét xử và những trường hợp được gia hạn thời hạn chuẩ n bị xét xử (Điều 176 BLTTHS năm 2003) Việc quy định thời hạn phải đáp ứng yêu cầu tạo thời gian hợp lý cho Tòa án nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét việc rút quyết định truy tố của Viện kiể m sát hoặc rút yêu cầu khởi tố c ủa người bị hại (nếu c ó) để ra một trong các quyết định theo khoản 2 Điều 176 BLTTHS năm
2003 đồng thời không quá kéo dài, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người tham gia tố tụng
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự kết thúc khi T òa án ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc khi Tòa án ra bản án sơ thẩm Bả n án sơ thẩ m chưa có hiệu lực ngay tại thời điểm tuyên án mà chỉ sa u khi hết thời hạn khá ng cáo, kháng nghị, nếu không
có khá ng cáo , kháng nghị thì bả n án mới có hiệu lực pháp luật Tại giai đoạn điề u tra và truy tố, mặc dù cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng một số biện phá p ngăn chặn như tạm giam, tạm giữ… Song, bị can, bị cáo chưa bị coi là người có tội
và chưa phải chịu trách nhiệm hình sự N hưng khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, nế u bị cáo bị tuyên là có tội, họ buộc phải c hấp hành hình phạt ghi nhận trong bản án Vì vậy, có thể thấy, tại phiên tòa xét xử sơ thẩ m, các đương sự được tạo điều kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình như được trình các chứng
cứ hợp pháp tại Tòa, được tranh tụng tại Tòa… Trong khi đó, cơ quan tiến hà nh tố tụng và người tiến hành tố tụng c ó trách nhiệm tùy the o vị trí, vai trò của mình để tìm ra sự thật của vụ án, chứng minh bị cáo là người có tội hay không có tội C ó thể nói xét xử sơ thẩ m được xác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ
án hình sự
Thứ ba, sự tham gia c ủa H ội thẩm trong quá trình xét xử s thẩm
M ột đặc điểm riêng c ủa hoạt động xét xử sơ thẩm vụ á n hình sự của Tòa án là
sự tham gia bắt buộc của Hội thẩm nhân dân trong thành phần H ội đồng xét xử Khi tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm, Hội thẩm chiếm đa số trong Hội đồng xét xử (2/3 hoặc 3/5) và khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán t rong việc ra các
Trang 15phán quyết về vụ án Nếu bị cáo là người chưa thành niên thì thành phần Hội đồng xét xử phải có m ột Hội thẩm là giáo viê n hoặc cán bộ Đ oàn thanh niên Cộng sản H ồ Chí Minh (Điều 307 BLTTHS năm 2003) K hi được phân công giải quyết vụ án, Hội thẩm có các nhiệm vụ như: nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa, tham gia xét xử các vụ án theo thủ tục sơ thẩm các loại vụ án (riêng đối với vụ án hình sự thì Hội thẩm có thể tham gia xét xử theo thủ tục phúc thẩm trong trường hợp cần thiết), tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của H ội đồng xét xử Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình Việc tham gia của Hội thẩm nhân dân tại giai đoạn xét xử sơ thẩm đảm bảo tính “dân chủ” trong hoạt động xét xử, tăng cường mối quan hệ giữa Tòa án và nhân dân, từ đó giúp đẩy mạnh quá trình tuyên truyền, phổ biến pháp luật Bê n cạnh đó, xét xử sơ thẩm yêu cầu phải đưa ra được những đánh giá, nhận định toà n diệ n và khách qua n nhất về vụ á n Sự tham gia của Hội thẩm nhân dâ n là một trong những cơ sở để hoạt động xét xử đáp ứng được yêu cầu trên Tuy nhiên, để cho vai trò của Hội thẩm nhân dâ n trong thực tế đúng với tinh thần c ủa các quy định pháp luật thì phải tă ng cường chất lượng c ho đội ngũ H ội thẩm nhâ n dân, đảm bảo Hội thẩm và Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân the o pháp luật
1.2 THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN
Thẩm quyền xét xử s thẩm các vụ án hình sự của a án là quyền được tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết đ nh tố tụng theo trình tự s thẩm
Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không thống nhất ở các hệ thống pháp luật khác nhau Hiện nay ở Việt Nam, các Toà án được tổ chức theo đơn
vị hành chính lãnh thổ tương tự như hệ thống cơ quan quản lý hành chính nhà nước Tương ứng với cơ quan quản lý hành chính trung ương là Tòa án tối cao, cơ quan quản lý hành chính cấp tỉnh là Tòa án cấp tỉnh và cơ quan quản lý hành chính cấp huyện là Toà án cấp huyện Trong đó thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thuộc
về Tòa án cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu và Tòa án cấp huyện, Tòa án quân
sự cấp khu vực Việc quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự luôn phải dựa trên rất nhiều căn cứ khác nhau nhưng các căn cứ sau đây khá phổ biến và có ý nghĩa quan trọng:
Trang 16Thứ nhất là dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội, tính chất nghiêm trọng, phức tạp của vụ án hình sự Đây là căn cứ để phân định thẩm quyền xét xử theo sự việc
Thứ hai là dựa trên yếu tố không gian thực hiện tội phạm hoặc hành vi tố tụng
Theo căn cứ này để phân định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ
Thứ ba là dựa trên các đặc điểm nhân thân của người phạm tội Xuất phát từ
căn cứ này để phân định thẩm quyền xét xử theo đối tượ ng
Theo các tiêu chí này, khi xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án luôn phải xem xét toàn diện: thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ, thẩm quyền xét xử theo vụ việc
và thẩm quyền xét xử theo đối tượng
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được quy định cụ thể tại các điều từ 170 đến 175 thuộc Chương XVI Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản pháp luật có liên quan
1.2.1 Thẩm quyền xét xử theo vụ việc
Có thể căn cứ vào tính chất quan trọng của khách thể bị tội phạm xâm hại, mức độ nghiêm trọng hoặc phức tạp của tội phạm, điều kiện cơ sở vật chất, năng lực của cơ quan tiến hành tố tụng cấp dưới,… để phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự cấp khu vực với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu Theo quy định tại Điều 170 BLTTHS năm 2003 thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu bao gồm hai trường hợp sau đây:
+ Những vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩ m quyền của tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự cấp khu vực (các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và các tội phạm thuộc các trường hợp tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003)
+ Những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử
Đối với trường hợp thứ hai, Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định cụ thể những vụ án nào thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện nhưng Tòa án cấp tỉnh sẽ lấy lên để xét xử Điều này còn phụ thuộc vào sự đánh giá năng lực thực tế của các
cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện đối với từng vụ án Thông thường đó là những vụ án phức tạp, có nhiều tình tiết khó đánh giá thống nhất về tính chất vụ án
Trang 17hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; nhữ ng vụ án mà bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, sĩ quan công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người [24, Mục II] Ngoài ra, trường hợp bị cáo phạm nhiều tội trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên thì Tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án để đảm bảo thống nhất trong hoạt động tố tụng (Điều 173 BLTTHS năm 2003)
Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003 thì phần lớn số lượng các vụ án hình sự xét xử sơ thẩm sẽ được thực hiện tại toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự cấp khu vực Quy định đã thể hiện hướng cải cách trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án là tập trung việc xét xử sơ thẩm ở cấp huyện; tòa án cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm; TAND tối cao tập trung vào công tác tổng kết xét xử, hướng dẫn các Tòa án áp dụng pháp luật thống nhất và làm tốt chức năng giám đốc xét xử Theo hướng này, Tòa án cấp huyện sẽ xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án hình sự với tội danh mà khung hình phạt từ mười lăm năm tù trở xuống, trừ những tội quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm
2003
Sau những nỗ lực nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán và tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các Tòa án cấp huyện Hiện nay, tất cả các Tòa án cấp huyện đã được giao thẩm quyền xét xử vụ án hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003
Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự ở nước ta nói chung và trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng cho thấy việc mở rộng thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự cấp khu vực là một thay đổi phù hợp tình hình khách quan, tạo điều kiện thuận lợi tiến hành các hoạt động tố tụng cũng như giảm số lượng đáng kể vụ án tồn đọng tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu
Trang 181.2.2 Thẩm quyền xét xử theo đối tượng
Thẩm quyền xét xử theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự căn cứ vào đối tượng phạm tội Vấn đề này được quy định tại Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002
Việc phân định thẩm quyền xét xử theo đối tượng giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng thuận lợi hơn trong công tác điều tra, truy tố, xét xử Việc giải quyết các vụ án liên quan đến quân đội nếu do T oà án nhân dân xét xử sẽ có thể gặp khó khăn vì sẽ liên quan đến những lĩnh vực chuyên môn trong quân sự , cũng như liên quan đến bí mật quân sự… Mặc dù hệ thống tòa quân sự được tổ chức song hành các cấp cùng hệ thống Tòa án nhân dân như ng Toà án nhân dân tối cao quản lý các Toà án quân sự về tổ chức có sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng (Điều 20, Pháp lệnh tổ chức tòa án quâ n sự năm 2002 ) Do vậy hoạt động xét xử tại các Tòa quân sự vẫn đảm bảo đáp ứng các yêu cầu riêng nhưng không tách rời khỏi các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự
1.2.3 Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ
Thẩm quyền xét xử theo lãn h thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử căn cứ vào nơi tội phạm được thực hiện hoặc nơi kết thúc việc điều tra Điều 171 BLTTHS năm 2003 là căn cứ pháp lý để xác định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ
Trường hợp thứ nhất: tội phạm được thực hiện trong lãnh thổ Việt Nam,
thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án sẽ được xác định dựa trên các căn cứ:
+ Nơi tội phạm được thực hiện: Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện Nơi tội phạm được thực hiện là nơi người phạm tội đã thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm để xâm phạm tới quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Có trường hợp nơi tội phạm được thực hiện và nơi phát hiện tội phạm là đồng nhất nhưng đối với những trường hợp phạm tội tinh vi, người phạm tội cố tình che dấu việc phạm tội của mình thì nơi tội phạm được thực hiện và nơi phát hiện tội phạm là không đồng nhất Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải dùng các biện pháp nghiệp vụ cũng như thu thập các chứng cứ để tìm được nơi tội phạm được thực hiện
Trang 19+ Nơi kết thúc điều tra: Trong thực tế có nhiều vụ án phức tạp, tội phạm xảy ra tại nhiều nơi khác nhau hoặc không thể xác định được nơi thực hiện tội phạm thì thẩm quyền xét xử sẽ thuộc về Tòa án nơi kết thúc việc điều tra
Quy định ở khoản 1 Điều 171 BLTTHS năm 2003 là khá hợp lý, bao quát được phần lớn các trường hợp xảy ra trong thực tế và góp phần hạn chế tình trạng tranh chấp thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án
Trường hợp thứ hai: bị cáo phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng vẫn thuộc
thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam, trong trường hợp này nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước có thẩm quyền xét xử Nhưng cũng có một thực tế là có thể bị cáo không có nơi cư trú
ổn định hoặc cơ quan tiến hành tố tụng không thể xác định được nơi cư trú cuối cùng của bị cáo Khi đó thẩm quyền xét xử vụ án sẽ theo quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí M inh xét xử Nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân
sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự Trung ương Như vậy, đối với những vụ án hình sự xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm chỉ thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu Đối với những vụ án mà tội phạm được thực hiện tại nước ngoài thì việc điều tra, truy tố, xét xử sẽ gặp phải một số trở ngại mà có thể Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự cấp khu vực không đủ điều kiện thực hiện xét xử Vì vậy quy định chỉ trao thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu đối với những vụ án như vậy là hoàn toàn hợp
lý Riêng đối với Tòa án quân sự, Phần II Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT/TANDTC – VKSNDTC – BQP – BCA ngày 18/4/2005 về hướng dẫn
về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự có quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa
án quân sự theo lãnh thổ Nhìn chung, quy định này thống nhất với Điều 171 BLTTHS năm 2003, được vận dụng để phù hợp với đặc thù riêng của đối tượng xét
xử của Tòa án quân sự
M ột trư ờng hợp đặc biệt khác mà việc phân định thẩm quyền xét xử có liên quan tới dấu hiệu lãnh thổ đó là trư ờng hợp của nhữ ng vụ án xảy ra trên
tà u ba y, tà u biể n c ủa nư ớc C ộng hòa xã hội c hủ nghĩa V iệ t N a m đa ng hoạ t động ngoài không phận hoặc lãnh hải V iệt N am T rong trư ờng hợp này thẩm quyền xét xử đư ợc quy định tại Đ iều 172 BLT TH S năm 2003 N hữ ng vụ án này
Trang 20luôn thuộc thẩm quyền xét xử của T òa án V iệt N am T òa án nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển đó trở về đầu tiên trên lãnh thổ V iệt Nam hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó đư ợc đăng kí có thẩm quyền xét xử
Nhìn chung, các quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo lãnh thổ trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã tương đối cụ thể, chặt chẽ và phù hợp với thực tiễn xét xử trong giai đoạn hiện nay Các tranh chấp về thẩm quyền hoặc tình trạng các Tòa án đùn đẩy việc cho nhau tuy vẫn còn xảy ra nhưng về cơ bản đã được khắc phục
1.3 CÁC NG UYÊN T ẮC CƠ BẢN TRO NG T Ố TỤ NG HÌNH SỰ CỦA TÒ A ÁN
Như đã trình bày ở trên, hoạt động xét xử của Tòa án có vai trò và ý nghĩa vô cùng to lớn, tác động trực tiếp tới việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân Hoạt động xét xử của Tòa án có thể giúp m ột quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ không bị hoặc không còn bị xâm phạm, nhưng cũng có thể buộc người vi phạm phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm của mình gây ra Vì vậy, mặc dù hoạt động xét xử được trao cho cơ quan Tòa án thực hiện nhưng toàn bộ quá trình xét xử đều phải được thực hiện theo một quy trình tố tụng chặt chẽ và được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật
Hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án là một hoạt động mang những đặc thù riêng Ngoài việc tuân theo các nguyên tắc đư ợc ghi nhận trong Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 thì hoạt động xét xử vụ án hình sự còn phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việc tuân thủ các nguyên tắc này là tiêu chí đ ể đảm bảo tính công bằng, tính quyền lực Nhà nước và tính pháp chế của hoạt động xét xử của Tòa
án Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã được sửa đổi bổ sung của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các nguyên tắc được xác định và đưa vào Chương II của Bộ luật, được coi là tiêu chí để xây dựng các quy định cụ thể và định hướng cho toàn bộ các giai đoạn tố tụng của Tòa án Với 29 Điều, chương II Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 thể hiện tập trung các nguyên tắc cơ bản sau:
1.3.1 Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Dân chủ và pháp luật có vị trí tối thượng là hai yêu cầu cơ bản của một Nhà nước pháp quyền Vì vậy bảo đảm pháp chế XHCN là một trong những nguyên tắc bao quát của tố tụng hình sự Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 3 của BLTTHS: Đây là nguyên tắc chỉ đạo, bao trùm nhất, được thể hiện trong tất cả các
Trang 21hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và trong hoạt động xét xử của Toà
án nhân dân nói riêng Có thể thấy nội dung của nguyên tắc này được thể hiện cả trong các nguyên tắc tiếp theo của BLTTHS Ví dụ, nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16); nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 10)… Nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN đặt ra yêu cầu cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng như sau:
- Cơ quan điề u tra, Viện kiể m sát, Tòa á n, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, từ các quy định của pháp
luật tố tụng đến các quy định của pháp luật về nội dung
- Bảo đảm mọi hành vi tố tụng, đặc biệt là các biện phá p cưỡng chế nhà nước trong tố tụng phải được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục, không được làm những gì mà pháp luật tố tụng hình sự không cho phép, đồng thời không được lẩn tránh những nghĩa vụ pháp luật bắt buộc phải thực hiện Đó là nghĩa vụ khởi tố vụ án, xử lý nghiêm minh tội phạm, bảo đảm các quyền của người tham gia
tố tụng, phối hợp với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân trong việc xác minh, xử lý tội phạm, người phạm tội
- Bảo đảm hoạt động kiểm tra, kiểm sát, giám đốc các hoạt động tố tụng, các hành vi tố tụng một cách kịp thời, đúng đắn Trường hợp phát hiện vi phạm pháp luật trong quá trình tố tụng thì nhất thiết phải kịp thời hủy bỏ, khắc phục hậu quả như đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, điều tra bổ sung, hủy bản án, trả tự do cho người bị tạm giam, tạm giữ v.v…
Việc đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN được thực hiện chặt chẽ từ cấp xét
xử sơ thẩm, tức là giai đoạn đầu của quá trình tố tụng sẽ giúp hoạt động xét xử được tiến hành đúng pháp luật, xét xử đúng người, đúng tội, tránh án oan sai, tránh tình trạng kéo dài quá trình tố tụng
1.3.2 N guyên tắc tôn trọng và b ảo vệ các q uyền cơ b ản của công dân
Do đặc thù là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, có tính cưỡng chế cao,
có tác động trực tiếp tới việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của công dân, hoạt động xét xử luôn phải đảm bảo việc tôn trọng và bảo vệ các qu yền cơ bản của công dân trong quá trình tố tụng Nguyên tắc này được quy định khái quát tại Điều 4 BLTTHS năm 2003 được đặt ra cho cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Theo Điều 9 BLTTHS năm 2003 thì: Không ai b ị coi là có tội và phải chịu hình
Trang 22phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Như vậy, dù là bị can, bị cáo nhưng khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì đều
có thể sử dụng các quyền hợp pháp của mình để chứng minh có tội hay vô tội Vì vậy, tôn trọng và đảm bảo cho người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình chính là điều kiện để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xác định được chính xác và nhanh chóng sự thật của vụ án, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội Việc tôn trọng và bảo vệ quyền công dân được thể hiện trong các quy định: Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trư ớc pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị
xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật (Điều 5); Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6); Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (Điều 7); Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (Điều
8); Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11); Bảo đảm
quyền bình đẳng trước Toà án (Điều 19); Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trong trư ờng hợp này cần phải có phiên dịch (Điều 24); Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (Điều 29); Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra (Điều 30); Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự (Điều 31)
Bên cạnh đó, công dân c ũng có thể thực hiện quyền của mình một cách giá n tiếp thông qua đại biểu dân cử: Giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hà nh tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều 32) Trách nhiệm c ủa các tổ chức và công dân trong đấ u tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 25)
1.3.3 Các nguyên tắc đảm bảo tính chính xác, khách quan trong hoạt động xét xử
Có thể nói tính c hính xác, khác h qua n trong ho ạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án là vô cùng cần thiết, vì c hỉ khi đả m bả o được tính c hất nà y, hoạt động xét xử mới đi được đến tận cùng sự thật của vụ án Việc đảm bảo tính chính xác, khách quan được đặt ra với người tiến hành tố tụng trong từng giai đoạn của hoạt động tố tụng Xác định sự thật vụ án là nguyên tắc cơ bản cũng là tiêu chí, là m ục
Trang 23đích hướng tới của hoạt động xét xử N guyên tắc này được quy định tại Điều 10
BLTTHS năm 2003
Việc xác định sự thật của vụ án phải được đảm bảo từ khâu đầu tiên của quá trình tố tụng Tuy nhiên, trong giai đoạn xét xử, nguyên tắc này càng cần được tuân thủ và thực hiện triệt để Vì việc buộc tội một người có tội hay vô tội căn cứ vào bản án được tuyên tại Tòa Xác định sự thật vụ án là việc cơ quan tiến hành tố tụng phải thu thập, xem xét, đánh giá các chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện nhất Mặc dù trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cá c cơ quan tiến hành
tố tụng như ng điều đó không có nghĩa những chứng cứ được thu thập và được xem xét tại Tòa chỉ là chứng cứ buộc tội, đồng thời cũng không được áp đặt suy nghĩ chủ quan cho rằng một người vô tội hoặc có tội để tiến hành thu thập chứng cứ D ù là chứng cứ chứng minh vô tội hay chứng cứ chứng minh có tội, những tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ… nếu có liên quan tới vụ án, có khả năng giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác minh được sự thật của vụ án thì đều phải được xem xét đầy đủ Việc thu thập chứng cứ cũng không chỉ do cơ quan điều tra tiến hành mà các cơ quan tiến hành tố tụng khác, người tham gia tố tụng cũng có thể tự tiến hành thu thập chứng cứ bổ sung K hi xét xử, H ội đồng thẩm phán sẽ căn cứ vào các chứng cứ
được trình bày tại Tòa để quyết định: “Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, đ a đi m và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; m ục đích, động c phạm tội; nhữ ng tình tiết tăng n ng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của b c an, b cáo và nhữ ng đ c đi m về nhân thân của b can, b cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.” (Điều 63 BLTTHS
năm 2003)
Để thực hiện được nguyên tắc xác định sự thật vụ án, đảm bảo tính chính xác, khách qua n trong hoạt động xét xử, sự chí c ông vô tư, sự khách quan của những người “cầm cân nảy mực” là điều bắt buộc Điều 14 BLTTHS năm 2003 quy định nguyên tắc: Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc người tha m gia tố tụng Sự không vô tư của người tiến hành tố tụng có thể xuất phát từ những quan hệ của họ đối với những người liên qua n tới vụ á n, vấ n đề này được quy định khá c ụ thể ở Đ i ề u 4 2 , Điều 46, Điều 47 B L T T H S n ă m 2 0 0 3 Có thể thấy bên cạnh những m ối qua n hệ tình cảm có thể tác động tới quyết định của các Thẩm phán, H ội thẩm và Thư ký Tòa án, việc họ đã tham gia với vai trò là ngư ời tiế n hành tố tụng
Trang 24của cùng vụ án tại một giai đoạn tố tụng trước đó c ũng là căn cứ để không được đảm nhận nhiệm vụ tiếp tục giải quyết vụ án Điều này đảm bảo cho việc xem xét
vụ án được toàn diện và khách quan nhất, không bị ảnh hưởng của những quyết định và phán đoán trước đó mà đưa ra những nhận định căn cứ trên chứng cứ trình bày tại Tòa Bên cạnh đó, nguyên tắc Thẩm phán và H ội thẩ m xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 12, Điều 16 BLTTHS năm 2003) vừa đảm bảo tính phá p chế vừa đảm bảo tính chính xác, khách quan c ủa hoạt động xét xử Việc Tòa án xét
xử tập thể có sự tham gia của Hội thẩm nhân dâ n không làm m ất đi tính khách qua n của bản á n, quyết định của Tòa
Để đảm bảo tính chính xác, khách quan, xác định đúng sự thật vụ án và buộc tội đúng người, việc xét xử được thực hiện qua hai cấp: xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩ m Điều 20 BLTTHS năm 2003 quy định khá cụ thể về vấn đề này, tuy nhiên, không phải bất cứ vụ án nào cũng phải trải qua hai cấp xét xử Việc xét xử phúc thẩm chỉ được tiến hành khi có kháng cáo hoặc kháng nghị, nếu không có kháng cáo, kháng nghị trong khoảng thời gian pháp luậ t quy định thì bản án sơ thẩm
sẽ có hiệu lực pháp luật Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật chỉ bị xem xét lại khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới Như vậy, nếu trong quá trình xét xử sơ thẩm, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật, tìm được và xem xét, đánh giá đầy đủ các chứng cứ của vụ án một cách khách quan và chính xác nhất thì hoạt động tố tụng sẽ không buộc phải kéo dài để tìm ra sự thật của vụ án
Để đảm bảo tính chính xác, khách quan của hoạt động xét xử, việc kiểm tra, giám sát phải luôn được thực hiện song hành với quá trình xét xử Đó là hoạt động giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp trên với Tòa án cấp dưới, Tòa án nhân dân tối cao với Tòa án quân sự các cấp để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất (Điều 21 BLTTHS năm 2003) Viện kiểm sát bên cạnh vai trò là
cơ quan thực hành quyền công tố cũng được giao quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật (Điều 23 BLTTHS năm 2003)
M ặc dù có sự phân chia các nguyên tắc cơ bản thành từng nhóm khác nha u nhưng giữa các nguyên tắc trong cùng nhóm và ở các nhóm khác nhau luôn có m ối quan hệ thống nhất với nha u Có thể thấy, những nguyên tắc đảm bảo tính chính xác, khách quan của hoạt động xét xử thể hiện cả nội dụng đả m bả o pháp chế
Trang 25XHCN và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Vì thế, việc phân chia các nguyên tắc cơ bản thành từng nhóm c hỉ ma ng tính tương đối, tinh thần, nội dung của hệ thống nguyê n tắc được thể hiện trong từng điề u luật và trong toàn b ộ các quy định của BLTTHS năm 2003
1.3.4 C ác ngu yên tắc đảm bảo tính dân chủ trong hoạt đ ộng xét xử
Hoạt động xét xử là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Nhưng tính quyề n lực nhà nước chỉ nhằm đảm bảo cho việc phá p luật được áp dụng và chấ p hành nghiêm chỉnh Tại Điều 9 BLTTHS năm 2003 đã quy đ ịnh: K hông ai b ị coi là
có tội nếu c hưa có bản á n kết tội đã có hiệ u lực pháp luật của Tòa án Điều này cho thấy, tính quyền lực nhà nước không có nghĩa là những người tiến hà nh tố tụng có thể áp đặt suy nghĩ ch ủ quan c ủa mình vào hoạt động xét xử, ra quyết định, bản á n
M ọi bản án, quyết định của Tòa án đều phải xuất phát từ sự thật khách quan và quy định của pháp luật Để đảm bảo được điều này, tính dân chủ trong hoạt động xét xử
số đối tượng sẽ không được phép tham dự phiên T òa
Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Toà án xét xử kín, nhưng phải tuyê n án công khai Tuyê n án công khai được hiểu là việc tuyên án đó không được thực hiện kín mà được tuyên cho mọi người cùng nghe Quy định này đảm bảo rằng phán quyết của tòa án phải được công khai, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo được mục tiêu răn đe và phòng ngừa chung Một điều quan trọng nữa của việc tuyên án công khai là bản án sẽ được nhân dân,
xã hội giám sát nên việc phán xử không thể tùy tiện
Trang 26“Dân chủ” trong hoạt động xét xử còn thể hiện ở chỗ mọi người đều có quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 19 BLTTHS năm 2003) Trong quá trình xét xử, mặc
dù với vai trò, nhiệm vụ khác nhau nhưng người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đều có quyền bình đẳng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa như việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, được quyền hỏi và tranh luận tại Tòa Trong trường hợp không thể tự mình thực hiện việc thu thập chứng cứ,
họ có thể nêu yêu cầu đối với Tòa án (ví dụ việc trưng cầu giám định… ), Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện và thực hiện các yêu cầu nếu điều đó cần thiết để làm rõ
sự thật khách quan của vụ án
Một trong những nguyên tắc đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử là quy định về việc Tòa án xét xử tập thể (Điều 17 BLTTHS năm 2003) và sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử (Điều 185 BLTTHS năm 2003) Như vậy, tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, sự tham gia của Hội thẩm nhân dân là bắt buộc
“Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của Bộ luật này Khi xét xử, H ội thẩm ngang quyền với Thẩm phán” (Đ i ề u 1 5 B L T T H S n ă m 2 0 0 3 )
Một trong những đặc trưng của N hà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Bản thân chế định Hội thẩm là sự t hể hiện
tư tưởng "lấy dân làm gốc", bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án Tòa án là cơ quan thực hiện quyền lực của Nhà nước, Nhà nước thông qua Tòa án để thực hiện quyền lực tư pháp của mình Chính bằng hoạt động xét xử, Tòa án giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của nhân dân Hội thẩm bằng sự tham gia của mình vào Hội đồng xét xử mà thực hiện quyền lực
tư pháp và thông qua đó để n hân dân tham gia một cách có hiệu quả vào công tác quản lý nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng Nguyên tắc này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xét xử, bởi việc tham gia của Hội thẩm giúp cho Tòa
án xét xử không chỉ đúng pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Pháp luật không chỉ quy định khi xét xử Hội đồng xét xử phải có Hội thẩm nhân dân tham gia mà còn quy định khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, tức là Hội thẩm nhân dân cùng Thẩm phán quyết định giải quyết m ọi vấn đề của vụ
án không kể về nội dung hay thủ tục tố tụng Mặc dù Hội thẩm không phải là cán bộ trong biên chế Tòa án mà là người của cơ quan, tổ chức được cơ quan nhà nước có
Trang 27thẩm quyền bầu hoặc cử làm đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét x ử của Tòa án, như ng khi tham gia xét xử Hội thẩm lại ngang quyền với Thẩm phán, từ việc đọc hồ sơ vụ án, nghiên cứu chứng cứ, cho đến việc ra quyết định giải quyết vụ
án Đây là điều quan trọng để H ội thẩm nhân dân thực sự phát huy được vai trò là đại diện cho quần chúng nhân dân của mình
Tuy Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán, nhưng Hội thẩm chỉ chính thức bắt đầu tham gia tố tụng và trở thành thành viên của Hội đồng xét xử khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Là một trong những người tiến hành tố tụng, H ội thẩm nhân dân có một vị trí pháp lý khá quan trọng, số lượng Hội thẩm nhân dân chiếm 2/3 trong thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm; đối với những vụ án phức tạp, tính chất nghiêm trọng, số lượng Hội thẩm nhân dân có thể lên đến 3 người trong tổng số 5 thành viên của Hội đồng xét xử Như vậy, trong thành phầ n của Hội đồng xét xử sơ thẩm, số lượng H ội thẩm nhân dân bao giờ cũng chiếm tỷ lệ cao hơn so với Thẩm phán Đây là một lợi thế để các Hội thẩm nhân dân thể hiện "ngang quyền" trên tinh thần dân chủ Tuy nhiên, trong thực tế phải thẳng thắn thừa nhận rằng khi trình độ, điều kiện giữa Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán có một khoảng cách quá xa thì nguyên tắc "ngang quyền" của Hội thẩm khi tham gia xét xử rất khó thực hiện Để nguyên tắc này có tính khả thi, không tượng trưng, hình thức, hơn nữa
để nâng cao chất lượng xét xử thì cần có giải pháp khắc phục
Pháp luật hiện hành trao cho H ội thẩm nhân dân quyền năng pháp lý khá lớn, song chưa có cơ chế để Hội thẩm nhân dân phát huy vai trò, nhiệm vụ củ a mình, do vậy hoạt động của họ còn mang tính hình thức Muốn giải quyết vấn đề này, đòi hỏi phải có các phương án và giải pháp đồng bộ cùng với sự tham gia tích cực, trách nhiệm từ nhiều phía Vấn đề này sẽ được đề cập ở chương III
1.4 CÁC YẾU TỐ Ả NH HƯ ỞN G ĐẾN HO ẠT ĐỘN G XÉT XỬ CỦ A TÒA ÁN
Muốn bảo vệ công lý, công bằng xã hội, bảo đảm mọi người đều bình đẳng trước pháp luật thì hoạt động xét xử của T òa án đòi hỏi phải được tiến hành một cách thật sự khách quan, chính xác và thống nhất Thời gian qua, thôn g qua hoạt động xét xử, các Tòa án ở nước ta đã ban hành ra nhiều bản án, quyết định công tâm, đúng đắn, chính xác, “vừa thấu tình, vừa đạt lý” Song thực tế cũng đã có không ít các quyết định áp dụng pháp luật, phán quyết của Thẩm phán được ban hành không đúng pháp luật, bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội, dẫn đế n sự
Trang 28giảm sút lòng tin của nhân dân đối với cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nói riêng Sở dĩ có nhữ ng hiện tượng đó là vì hoạt động xét xử của Tòa án chịu sự tác động của nhiều yếu tố mà cơ bản là các yếu tố sau:
- Ý thức chính trị, đạo đức cách m ạng và vốn sống thực tiễn của đội ngũ cán bộ công chức ngành Tòa án
Trình độ nhận thức và ý thức giác ngộ chính trị của Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hình thành lý tưởng sống và lập trường tư tưởng của họ Trước tiên, việc thấm nhuần chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng H ồ Chí Minh sẽ giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức ngành T òa án có một thế giới quan khoa học, một nhân sinh quan cộng sản; sống và làm việc theo Hiến pháp
và pháp luật, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, có bản lĩnh, ý chí và tinh thần kiên quyết bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế, kiên quyết đấu tranh chố ng tội phạm, không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội Lập trường tư tưởng chính trị vững vàng sẽ là tiền đề vững chắc bảo đảm cho hoạt động xét xử của Tòa án đúng với đường lối của Đảng và pháp luật của N hà nước Chính ý thức chính trị của mỗi cán bộ, công chức là nhân tố thường trực nhắc nhở khi tiến hành các hoạt động áp dụng pháp luật không rơi vào tình trạng “pháp luật đơn thuần”, máy móc, tách rời các quy phạm pháp luật với lợi ích chung của xã hội Khi ý thức chính trị ở trình độ cao sẽ giúp cho Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân có được những bản lĩnh để
xử lý các tình huống trong thực tiễn một cách nhanh chóng, kịp thời và sáng tạo Chính vì vậy, một trong những tiêu chuẩn quan trọng trước tiên để xem xét bổ nhiệm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân theo Điều 37 L uật tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân năm 2002 là: “Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực”
Đạo đức cách mạng là cơ sở quan trọng tạo lên nhân cách của ngườ i cán bộ ngành Tòa án và xác lập vị trí của họ trong xã hội Chủ tịch H ồ Chí Minh đã từng xem đạo đức cách mạng là cái gốc của người cách mạng: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức cách mạng thì có tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Đạo đức, phẩm chất của cán bộ ngành Tòa án bao gồm những đức tính: trung thực, thẳng thắn, lòng nhân ái, sự dũng cảm, tính công bằng, tinh thần trách nhiệm, sự tự tin, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xét xử Nếu các cán bộ ngành Tòa án mà đặc biệt
Trang 29là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có phẩm chất đạo đức tốt thì quyết định, phán quyết của họ sẽ đúng đắn, công tâm và khách quan Ngược lại, nếu đội ngũ này bị tha hóa về đạo đức, phẩm chất chính trị, trở thành người thoái hóa, biến chất, sách nhiễu, nhận hối lộ thì quyết định, phán quyết của họ không thể đúng đắn, chính xác được
Việc tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng theo những phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” sẽ giúp cho Thẩm phán, Thư ký, H ội thẩm nhân dân có cái tâm trong sáng, một bản lĩnh chính trị vững vàng khi hoạt động xét xử nhằm đưa ra những phán quyết công tâm, thấu tình, đạt lý, thuyết phục lòng người
Vốn sống, kinh nghiệm sống, sự am hiểu các mặt của đời sốn g xã hội cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xét xử của Tòa án Chính vì vậy, pháp luật nước ta đòi hỏi những tiêu chuẩn nhất định khi được bầu, bổ nhiệm Thẩm phán, H ội thẩm nhân dân (Điều 37 đến Điều 43 Luật tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân năm 2002)
- Ý thức pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán, Thư ký và Hội thẩm nhân dân Như chúng ta đã biết, ý thức pháp luật là tổng hợp những học thuyết, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người, thể hiện thái độ, sự đánh giá đối với pháp luật và đối với hành vi pháp luật của các cá nhân, tổ chức trong xã hội Trong hoạt xét xử của Tòa án, ý thức pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội thẩm nhân dân là một yếu tố vô cùng quan trọng và cần thiết đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật của
họ được đúng đắn, chính xác
Nếu ý thức pháp luật, nhận thức pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội thẩm nhân dân ở mức độ thấp rất dễ dẫn đến việc hiể u sai nội dung của quy phạm phá p luật; đánh giá, xem xét các tình tiết của vụ án một cách hời hợt, chủ quan, phiến diện và rất dễ dẫn đế n oan, sai Nếu ý thức pháp luật, trình độ nhậ n thức phá p luật của các chủ thể này ở tầm cao thì quyết định áp dụng pháp luật được ban hành sẽ có
cơ sở khoa học và thực tiễn khách quan và công minh Ý thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán, Thư ký và Hội thẩm nhân góp phần tạo ra phong cách làm việc đĩnh đạc, tự tin, quyết đoán, chính xác và khoa học khi thao tác quy trình
áp dụng pháp luật để giải quyết từng vụ án cụ thể
Có thể nói, ý thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán, Thư ký và Hội thẩm nhân dân có một vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động xét xử Ý thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp cùng với ý thức chính trị, đạo đức cách mạng tạo thành tư cách của người cán bộ, công chức ngành Tòa án Tư cách ấy không p hải tự nhiên mà có, không phải mong muốn mà được Nó được hình thành và phát triển
Trang 30qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện – đặc biệt là sự tự rèn luyện của mỗi người mới có được
- Tác động từ công luận và dư luận xã hội.
Trong thời đại thông tin hiện nay, công luận và dư luận xã hội đã và đang phát huy vai trò quan trọng của mình vào quá trình quản lý và phát triển đất nước Các phương tiện truyền thông cùng với dư luận xã hội đang trở thành một trong những lực lượng xung kích quan trọng phát hiện nhữ ng hiện tượng tích cực và tiêu cực vẫn còn tồn tại trong xã hội Sự khen chê của công luận và dư luận xã hội có một sức mạnh không nhỏ tác động vào tâm tư, suy nghĩ, hành động của từng cá nhân, đối với hoạt động xét xử của Tòa án, việc áp dụng pháp luật, r a các phán quyết của Thẩm phán lại càng được công luận và dư luận xã hội quan tâm đặc biệt Bởi vì, thông qua các phiên tòa xét xử, tính pháp chế và dân chủ được biểu hiện một cách rõ ràng nhất nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể và lợi ích hợp p háp của mọi công dân Mặt khác, hoạt động xét xử còn góp phần quan trọng vào việc giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật Các phương tiện thông tin đại chúng là địa chỉ tin cậy để các đương sự, bị can, bị cáo và mọi công dân cung cấp thông tin và nhờ lên tiếng bảo vệ lợi ích của mình Những bài báo, những loạt phóng sự điều tra về những hành vi chạy tội, để lọt tội phạm hoặc truy cứu, xét xử không nghiê m min h của báo chí, công luận xã hội đã giúp ích rất nhiều cho các cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện tốt việc điều tra, truy tố, xét xử
Nếu công luận và dư luận xã hội phản ánh đúng đắn các tình tiết của vụ án, nhận định và bình luận một cách khách quan, không thiên vị để chờ phán quyết của
cơ quan tiến hành tố tụng sẽ là điều hết sức thuận lợi cho Thẩm phán trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Khi đó, tính giáo dục, thuyết phục của hoạt động tố tụng sẽ được nhân lên gấp nhiều lần tr ong đời sống xã hội Trường hợp truy tố, xét xử không dựa trên cơ sở pháp luật, thiên lệch, không công bằng, không nghiêm minh thì công luận và dư luận xã hội lại là người trọng tài nghiêm khắc lên tiếng, phát hiện và đòi hỏi công lý phải được thực thi
Nhưng nếu công luận và dư luận xã hội phản ánh các tình tiết, sự việc một cách phiến diện, hời hợt và chủ quan, bình luận, lên án hoặc bảo vệ quá mức thì khi thực hiện nhiệm vụ của mình, Hội đồng xét xử mà đặc biệt là Thẩm phán phải chịu
Trang 31áp lực không nhỏ Trong trường hợp như vậy, nhất thiết Hội đồng xét xử phải có bản lĩnh, không ra những quyết định, bản án chiều theo dư luận và công luận xã hội
- Tác động từ những tiêu cực xã hội.
Hiện nay, những tiêu cực xã hội (đặc biệt là nạn hối lộ) đã và đang tấn công vào hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan tư pháp nói riêng, gây ra những tác hại không nhỏ, giảm sút lòng tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ Đối với ngành Tòa án, các các tệ nạn xã hội đã và đang tấn công vào đội ngũ cán bộ của ngành Tác hại của nạn hối lộ và tiêu cực trong xã hội đối với đời sống xã hội, đối với hoạt động xét xử là rất nghiêm trọng, vì nó không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân lương thiện, không chỉ làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào cơ quan tư pháp, mà còn làm công lý không được thực thi; trật tự và công bằng xã hội bị đảo lộn Một thực tế mà chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận là bên cạnh một lực lượng đông đảo đội ngũ Thẩm phán liêm khiết, công tâm và có trách nhiệm trong khi thự c thi nhiệm vụ, thì vẫn còn một số ít Thẩm phán đã bị cám dỗ, trở thành nạn nhân của tệ nạn hối lộ và tiêu cực xã hội
Qua những phân tích trên cho thấy, để cho hoạt động xét xử của Tòa án được chính xác, hiệu quả, đúng căn cứ theo quy định của pháp luật, cần có các giải pháp
cụ thể để xây dựng đội ngũ Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân trong sạch, vững mạnh, liêm khiết, có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp
- M ột số yếu tố tác động khác.
Thẩm phán ngoài quan hệ công tác còn có các mối quan hệ xã hội bình thường như các quan hệ gia đình, bạn bè, họ hàng, làng xóm Tư tưởng nhờ vả vào người thân, hàng xóm láng giềng của mình quan tâm giải quyết những vụ án có lợi cho mình vẫn còn tồn tại khá phổ biến Chính những tư tưởng, suy nghĩ đó đã ảnh hưởng không tốt đến hoạt động xét xử của Tòa án Nếu Thẩm phán không vững vàng; không kiên quyết bảo vệ pháp luật và sự công bằng; không thực hiện được tư tưởng “công pháp bất vị thân” thì chắc chắn các phán quyết của Thẩm phán khó đạt được các chuẩn mực cần thiết
Ngoài ra, sự tác động của những người có c hức, có quyền c ũng là một trong những nguyên nhân để nảy sinh tiêu cực Đặc biệt với cơ chế bổ nhiệm Thẩm phán theo nhiệm kỳ như hiện nay thì sự phụ thuộc của Thẩm phán vào những người có chức có quyền, thủ trưởng đơn vị là điều khó tránh khỏi Do đó, cần phải có hình thức tuyển chọn bổ nhiệm Thẩm phán cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới
Trang 32Trên đây là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động xét xử của Tòa án Bên cạnh những yếu tố cơ bản nêu trên thì cơ sở v ật chất, phương tiện làm việc, chế
độ đãi ngộ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của Thẩm phán Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xét xử của Tòa án cho chúng ta hiểu rõ hơn những tác dộng đến hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân để từ đó có những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án - một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động tư pháp
Kết luận chương 1
Qua những phân tích trên, có thể thấy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động không thể thiếu khi tiến hành giải quyết một vụ án hình sự Đó là hoạt động được tiến hành tại giai đoạn đầu của quá trình xét xử trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật Đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, do Tòa án tiến hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm chứng minh tội phạm, định tội, định hình phạt cho người phạm tội để trừng trị người phạm tội, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa
họ phạm tội mới, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Hoạt động này phải tuân theo những nguyên tác cơ bản là: Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; Các nguyên tắc đảm bảo tính chính xác, khách quan trong hoạt động xét xử; Các nguyên tắc đả m bảo tính dân c hủ trong hoạt động xét
xử Khi Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm, từng giai đoạn của hoạt động này phải được thực hiện đầy đủ, mọi vấn đề của vụ án phải được xem xét một cách toàn diện, khách quan, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án phải được đảm bảo Để nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như tổng kết, đánh giá hoạt động xét xử sơ thẩm của Tòa án trong từng giai đoạn để từ đó rút kinh nghiệm và có hướng hoàn thiện là điều cần thiết
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH NGHỆ AN THỜI GIAN QUA
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÒA ÁN N HÂN DÂ N Ở TỈNH NG HỆ AN
Cùng với sự ra đời, phát triển và trưởng thành của ngành Toà án nhân dân nói chung, được sự quan tâm của các ngành, các cấp ở Trung ương và Tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh, Toà án Nghệ Tĩnh ra đời với chức năng là cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩ nh chia tách thành hai tỉnh riêng biệt là Nghệ An và Hà Tĩnh thì Tòa án Nghệ Tĩnh đổi tên gọi thành Tòa án nhân dân N ghệ An và Tòa án nhân dân Hà Tĩnh Từ khi thành lập cho đến nay, ngành Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đã nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, vừa tiến hành xây dựng cơ sở vật chất vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ c huyên m ôn, đặc biệt, đảm bảo xét xử các loại án nhằm kịp thời phục vụ nhiệm vụ ổn định tình hình
an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh, góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của đất nước Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 thì Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An được tổ chức thành hai cấp: Cấp tỉnh và cấp huyện
- Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An gồm c ó 5 tòa chuyên trách (Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động và Tòa hành chính); Phòng G iám đốc kiểm tra - Thi hành án phạt tù; Phòng tổ chức cán bộ và bộ phận văn phòng Chánh án Tỉnh là người quản lý cao nhất, có 4 Phó chánh án, 5 Chánh tòa chuyên trách, 10 Phó chánh tòa của 5 tòa chuyên trách, 24 Thẩm phán, 01 Trưởng phòng giám đốc kiểm tr a và thi hành án phạt tù, 02 Phó phòng giám đốc kiểm tra và thi hành án phạt tù, 01 Chánh văn phòng, 02 Phó chánh văn phòng, 01 Trưởng phòng tổ chức cán bộ, 01 Phó phòng tổ chức cán bộ, 14 Thư ký cho các Tòa phòng và 05 Thẩm tra viên
- Cã 20 Tòa án nhân dân cấp huyện (bao gồm 1 Tòa án Thành phố, 2 Tòa án Thị
xã và 17 Tòa án cấp huyện) Đối với Tòa án cấp huyện không có Tòa chuyên trách, có
20 Chánh án quản lý chung, có 21 Phó chánh án (Tòa án Thành phố có 2 Phó chánh án), 100 Thẩm phán, 108 Thư ký và bộ phận văn phòng
Trang 34Sơ đồ Cơ cấu tổ chức Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
Từ khi thành lập cho đến nay TAND tỉnh N ghệ A n đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc xây dựng và kiện toàn bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ Không những tăng về số lượng mà chất lượng cũng được nâng lên về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị
Mặc dù khối lượng công việc ngày càng nhiều nhưng lãnh đạo TAND tỉnh rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, năm qua đã cử 4 người đi học cao cấp chính trị, 7 người đi học Thạc sỹ luật học; 2 cán bộ đi học chương trình đào tạo tiếng Anh mở rộng tại Trung tâm Anh ngữ Quốc gia; 5 cán bộ đi học chương trình đào tạo Thẩm phán tại H ọc viện tư pháp; 2 cán bộ đi học lớp quản lý nhà nước để thi ngạch Thẩm tra viên chính; hàng chục lượt Thẩm phán dự tập huấn các chuyên
đề về hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động Tiến hành tập huấn cho toàn bộ Thẩm phán TAND và Hội thẩm nhân dân trên toàn tỉnh
Thực hiện BLTTHS năm 2003 về việc tăng thẩm quyền xét xử đối với TAND cấp huyện, theo đó TAND cấp huyện được xét xử các tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trong do đó số lượng án hình sự sơ thẩm của TAND tỉnh giảm dần, đồng thời án hình sự của cấp huyện cũng dần tăng lên Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới, nhữ ng năm qua ngành Tòa án đã chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để tạo nguồn Thẩm phán, kết hợp công tác luân chuyển cán bộ và
Trang 35lãnh đạo theo Nghị quyết 11 – NQ/TW ngày 25/01/2002 và Nghị quyết 42 – NQ/TW ngày 30/11/2004, đồng thời cũng đáp ứng yêu cầ u chuyên môn nghiệp vụ của ngành Tính đến nay (tháng 5/2013) việc tăng thẩm quyền đã thực hiện xong Đối với TAND tỉnh, sau khi tăng thẩm quyền đối với cấp huyện số lượng án hình sự phúc thẩm sẽ tăng, để đáp ứng yêu cầu TAND tỉnh đã chủ động tăng cường Th ẩm phán có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm thực tiễn để tham gia xét xử phúc thẩm
Với những nỗ lực phấn đấu không ngừng của tập thể cán bộ, công chức ngành
và những thành tích đã đạt được trong 68 năm qua, ngành TAND tỉnh Nghệ An đã tạo được niềm tin vững chắc đối với chính quyền, với nhân dân, thực sự xứng đáng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư”, đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng ba, hạng nhì, hạng nhất, H uân chương Đ ộc lập hạng ba, hạng nhì và nhiều danh hiệu cao quý khác
Để đáp ứng yêu cầu công cuộc hội nhập của đất nước, thực hiện chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08, Nghị quyết 49, Kết luận số 79 của Bộ chính trị, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) của Ban chấp hành Trung ương Đảng, TAND tỉnh Nghệ A n phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của ngành, đưa ngành TAND thật sự là trung tâm của hoạt động tư pháp và xét xử là trọng tâm Từng bước xây dựng, phát triển và giữ vững truyền thống 68 năm, ngành TAND tỉnh quyết tâm vượt mọi khó khăn, thách thức tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó
2.2 NHỮ NG THÀNH T Ự U TRO NG HO ẠT ĐỘN G XÉT XỬ SƠ
THẨM V Ụ ÁN HÌNH SỰ C ỦA TÒA ÁN NH ÂN DÂ N NGH Ệ A N
Xét xử sơ thẩm án hình sự luôn là phần công việc chính trong hoạt động giải quyết án hình sự của TAND, là thủ tục đầu tiên có ý nghĩa rất quan trọng trong toàn
bộ quá trình giải quyết vụ án Vì lẽ đó, để thực hiện chức năng, nhiệm v ụ của ngành cũng như chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, hoạt động xét xử sơ thẩm án hình sự trong thời gian qua của các cấp TAND tỉnh Nghệ An đã góp phần quan trọng vào việc: phân hoá tội phạm với một chính sách nhất quán, rõ ràng; duy trì trật
tự an toàn xã hội; xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật, ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm ở địa phương; kịp thời trừng trị những hành vi xâm phạm tính
Trang 36mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm của người khác; bảo vệ quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức và của Nhà nước Những bản án, quyết định của Toà án đúng pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá kết quả hoạt động của ngành
Kết quả giải quyết án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An
thời gian qua được thể hiện ở bảng sau:
Trong đó: Cấp tỉnh : 741 vụ/1506 bị cáo;
Cấp huyện : 9117 vụ/13770 bị cáo
Theo Báo cáo tổng kết công tác hàng năm của ngành TAND tỉnh Nghệ An cho thấy: Từ năm 2008 đến năm 2012, hầu hết số vụ án hình sự và số bị cáo đã giải quyết, xét xử sơ thẩm của ngành đều tăng so với năm trước (riêng năm 2009 và năm
2012 số vụ và số bị cáo tăng mạnh so với các năm còn lại) Đặc biệt, qua công tác xét xử án hình sự năm 2011 cho thấy các tội xâm phạm quyền sở hữu, tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm vẫn chiếm tỷ lệ cao, trong đó có nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng Tòa án nhân dân tỉnh đã thụ lý 49 vụ với 93 bị cáo phạm tội giết người (tăng
14 vụ so với năm 2010), 103 vụ án vi phạm quy định v ề an toàn giao thông đường
bộ Tình trạng phạm tội ở lứa tuổi chưa thành niên vẫn tương đối cao: 112 vụ với
140 bị cáo, trong đó tội giết người là 12 vụ với 13 bị cáo; nhóm tội xâm phạm sở hữu là 51 vụ với 106 bị cáo; cố ý gây thương tích là 8 vụ với 8 bị cáo; tội phạm ma túy là 7 vụ với 7 bị cáo; hiếp dâm trẻ em là 3 vụ với 3 bị cáo… [29, tr 3]
Trang 37Điều này cho thấ y, tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật hình sự ở Nghệ An ngày càng gia tăng và có diễn biến phức tạp Xảy ra tình trạng này, một phần là do
vị trí địa lí c ủa tỉnh Với địa hình miề n núi hiểm trở, phức tạp, vừa giáp biển, vừa có đường biên giới dài tiếp giáp với nước bạn Lào, đây là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động buôn lậu, buôn bán ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em… gia tăng Hơn thế nữa, Nghệ An là tỉnh có diện tích miền núi rộng nhất cả nước bao gồm rất nhiều dân tộc thiểu số định cư, sinh sống lâu đời, vẫn tồn tại những tập tục lạc hậu, cổ hủ, trình độ dân trí thấp, sự phân hóa giàu nghèo cao cũng là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho tình hình tội phạm hình sự ngày một gia tăng trên địa bàn tỉnh
Mặc dù số vụ án và số bị cáo phải giải quyết, xét xử hàng năm đều tăng (chủ yếu tập trung ở một số loại tội thuộc nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu, tính mạng, sức khoẻ, ma tuý) nhưng tiến độ giải quyết, xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm các năm vẫn đạt tỷ lệ cao, chất lượng tốt Tính bình quân trong 5 năm (2008 - 2012) tỷ
lệ giải quyết các vụ án hình sự của ngành TAND tỉnh đạt 98% về số vụ So với chỉ tiêu của ngành giao, hàng năm tỷ lệ giải quyết, xét xử vượt từ 3 - 4% về số vụ và số
bị cáo
Về chất lượng: mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn trong công tác cán bộ, cơ sở
vật chất, điều kiện làm việc hạn chế, nhưng TAND cấp huyện nói riêng và ngành TAND tỉnh Nghệ An nói chung đã tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của TAND tối cao, của Tỉnh ủy - HĐND, Uỷ ban nhân dân tỉnh, của các cơ quan, ban ngành liên quan và cấp ủy, chính quyền các huyện, thành phố, thị xã và nỗ lực của mình đã cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ và tỷ lệ giải quyết các loại án của ngành đề ra (Trong đó việc giải quyết án hình sự ở các đơn vị Tòa
án cấp huyện đạt tỷ lệ cao) Chánh án T òa án nhân dân tỉnh Nghệ A n đã ban hành
Kế hoạch triển khai Chỉ thị 48 – CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tội phạm trong t ình hình mới; xây dựng kế hoạch cụ thể trong đấu tranh phòng chống các loại tội phạm: ma túy, mua bán người, các tội phạm liên quan đến pháo nổ, tệ nạn xã hội theo các chương trình của Tòa án nhân dân Tối cao và kế hoạch chung của chính quyền địa phương
Trong 5 năm qua (2008 - 2012) về cơ bản công tác xét xử án hình sự sơ thẩm của ngành TAND tỉnh Nghệ An đạt chất lượng tốt, xét xử đúng người, đúng tội,