Điều này được thực hiện thông qua hoạt động chức năng của tổ chức BHTG trong giám sát, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn trong hoạt động của các tổ chức tham
Trang 1NGUYỄN ĐỨC M INH
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: L uật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN TH ẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA H ỌC: TS NGUYỄ N MINH HẰNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 2dẫn rõ ràng
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2013
Học viên
Nguyễn Đức Minh
Trang 31.1 Khái quát về bảo hiểm tiền gửi 6
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi 6
1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi 8
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi trong hoạt động ngân hàng 9
1.2 Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi 11
1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo hiểm tiền gửi 11
1.2.2 Vai trò của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi 13
1.2.3 Nội dung cơ bản của Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi 14
1.3 Kết luận 20
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ B ẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 21
2.1 Quy định về các chủ thể tham gia pháp luật bảo hiểm tiền gửi 21
2.1.1 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 21
2.1.2 Quy định về tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi 28
2.1.3 Quy định về người gửi tiền 29
2.2 Quy định về đối tượng được bảo hiểm tiền gửi, phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức bảo hiểm tiền gửi 31
2.2.1 Quy định về đối tượng được bảo hiểm tiền gửi 31
2.2.2 Quy định về mức phí bảo hiểm tiền gửi 34
2.2.3 Quy định về hạn mức bảo hiểm tiền gửi 36
2.3 Quy định về chi trả bảo hiểm tiền gửi và thu hồi nợ sau khi chi trả bảo hiểm tiền gửi 38
2.3.1 Quy định về sự kiện bảo hiểm tiền g ửi 38
2.3.2 Quy định về chi trả bảo hiểm tiền gửi 40
2.3.3 Vấn đề thu hồi nợ sau khi chi trả bảo hiểm tiền gửi 43
2.4 Kết luận 45
Trang 4nay 463.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam hiện nay 47
3.2.1 Về các chủ thể thực thi pháp luật bảo hiểm tiền gửi 47 3.2.2 Về đối tượng bảo hiểm tiền gửi, phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức bảo hiểm tiền gửi 49 3.2.3 Về việc chi trả Bảo hiểm tiền gửi, thu hồi nợ sau khi chi trả bảo hiểm tiền gửi 52 3.2.4 Về việc phát huy hiệu quả của hoạt động giám sát từ xa 54
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hiểm tiền gửi 543.4 Kết luận 56
KẾT LUẬN 58
Trang 5TCTD Tổ chức tín dụng
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động của hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ , phần nào khẳng định được vai trò cung cấp vốn cho nền kinh tế Trong quá trình phát triển, các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng mang lại cho nền kinh tế ng ày càng đa dạng và phong phú Tuy nhiên, hoạt động được xem là cơ bản và quan trọng nhất của các ngân hàng là huy động vốn từ công chúng bằng cách nhận tiền gửi dưới những hình thức nhất định và sử dụng khoản tiền đó để cấp vốn cho các chủ thể khác đang có nhu cầu sử dụng trong nền kinh tế Như vậy, có thể nói một cách khái quát rằng, hoạt động cơ bản của các ngân hàng là đi vay để cho vay Đây cũng chính là căn nguyên dẫn đến khả năng tiềm ẩn nguy cơ rủi
ro đối với hoạt động ngân hàng Mặt khác, đặc trưng của hoạt động ngân hàng là tính phản ứng dây chuyền rất cao, do vậy, khi một ngân hàng xảy ra rủi ro, đổ vỡ có thể sẽ dẫn đến đổ vỡ của cả hệ thống, thậm chí còn có thể gây khủng hoảng cho cả nền kinh tế Để phòng tránh và ngăn chặn rủi ro , Việt Nam cũng giống như các quốc gia khác đã áp dụng nhiều biện pháp thông qua việc ban hành các quy định pháp luật nhằm đem lại sự an toàn ở m ức độ cao nhất có thể trong hoạt động ngân hàng
Xét ở một khía cạnh khác, để bảo đảm cho sự bình ổn của hoạt động ngân hàng rói riêng và cả nền kinh tế xã hội nói chung cần phải tính đến việc bảo vệ người gửi tiền Bởi lẽ, huy động vốn bằng tiền gửi là ng uồn vốn quan trọng nhất của các ngân hàng , lượng vốn này đóng vai trò quyết định đến lượng tiền mà các ngân hàng có thể sử dụng để cấp cho nền kinh tế
Như vậy, vấn đề bảo vệ người gửi tiền và bảo vệ sự an toàn, bền vững trong hoạt động của các ngân hàng phải được xem xét một cách đồng thời và
có mối quan hệ biện chứng với nhau Bảo hiểm tiền gửi xuất hiện được xem
Trang 7như hoạt động kết hợp hài hoà lợi ích, trước hết bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triể n an toàn, bền vững của hệ thống ngân hàng
Được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2000, BHTG Việt Nam đã chứng minh được vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an sinh xã hội Tuy nhiên, do thời gian hoạt động chưa nhiều và công tác thông tin tuyên truyền còn có những hạn chế nên công chúng chưa biết nhiều
về tổ chức BHTG Việt Nam Hơn nữa, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đang có những biến đổi mạnh mẽ, mặc dù Luật Bảo hiểm tiền gửi được ban hành (2012) đã thống nhất điều chỉnh v ề bảo hiểm tiền gửi nhưng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành về vấn đề này vẫn còn nhiều điểm bất cập, cần được hoàn thiện hơn nữa để bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và đảm bảo an sinh xã hội Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý của hoạt động BHTG mang ý nghĩa đóng
góp to lớn, Luận văn “Hoàn thiện pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi tại Việt
Nam” mong muốn đóng góp một vài ý kiến pháp lý về vấn đề BHTG ở Việt
Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu của luận văn
Lĩnh vực BHTG là một lĩnh vực mới ở Việt Nam Hiện nay, đã có một
số nghiên cứu về BHTG chủ yếu tập trung vào nghiệp vụ kiểm tra, giám sát, phí BHTG dưới các hình thức như khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Tiến Sỹ năm 201 0 về “Pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam – Thực trạng, phương hướng hoàn thiện”, luận án tiến sĩ luật học của Bùi Hữu Toàn năm 2010 về “Pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” Ngoài ra cũng có nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí đề cập đến vai trò của tổ chức BHTG trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an sinh xã hội như: bài viết “kinh nghiệm quốc tế về tổ
Trang 8chức Bảo hiểm tiền gửi hiệu quả” của Viện nghiên cứu lập pháp, bài viết
“Mô hình bảo hiểm tiền gửi hiện nay và những vấn đề cần quan tâm nghiên cứu khi xây dụng luật Bảo hiểm tiền gửi” của tác giả Đinh Dũng Sỹ - Văn phòng chính phủ, chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu “Vai trò của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an sinh
xã hội” của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Việc tôi tiếp tục chọn vấn đề liên quan đến BHTG để làm đề tài nghiên cứu là nhằm nghiên cứu sâu hơn các quy định của pháp luật về BHTG từ đó đề ra được những kiến nghị, giải pháp
cụ thể để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- M ục đích của luận văn : Thông qua việc nghiên cứu những nội dung
cơ bản của pháp luật về BHTG ở Việt Nam hiện nay, luận văn nghiên cứu và đánh giá vai trò của BHTG Việt Nam đối với hoạt động ngân hàng nói riêng
và đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung Đồng thời, luận văn còn nghiên cứu thực trạng của BHTG Việt Nam để thấy được những thành tựu và tồn tại cần khắc phục, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về BHTG ở Việt Nam hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn : Để đạt được mục đích đã nêu
trên, các nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được xác định cụ thể như sau:
+ Nghiên cứu làm rõ khái niệm bảo hiểm, bảo hiểm tiền gửi để từ đó phân tích mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền gửi;
+ Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của BHTG;
+ Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về tổ chức BHTG; tổ chức tham gia BHTG và chủ thể được thụ hưởng BHTG
Trang 9+ Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về loại tiền được bảo hiểm; về phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi cho người thụ hưởng khi có sự kiện bảo hiểm phát sinh
+ Phân tích thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quy trình chi trả bảo hiểm tiền gửi
Từ kết quả nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật về BHTG
và thực tiễn thực hiện pháp luật về BHTG đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam t rong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Luận văn tập trung nghiên cứu cơ chế pháp lý
điều chỉnh hoạt động BHTG ở Việt Nam hiện nay và thực trạng của hoạt động BHTG, đồng thời tìm hiểu về pháp luật BHTG theo thông l ệ quốc tế nhằm so sánh, đánh giá để tìm ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về BHTG Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu : Bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về bảo hiểm tiền
gửi có thể được tiếp cận phân tích ở nhiều góc độ, mức độ khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi một bản luận văn không thể phân tích hết các vấn đề đó, xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn xác định phạm vi nghiên cứu như sau:
+ Phân tích những vấn đề chung về bảo hiểm tiền gửi như: khái niệm, mục đích và vai trò của bảo hiểm tiền gửi cũng như những vấn đề mang tính
lý luận về pháp luật bảo hiểm tiền gửi;
+ Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm tiền gửi, đánh giá thực trạng các quy định này;
Trang 10+ Đưa ra các yêu cầu trong việc hoàn thiệ n pháp luật về bảo hiểm tiền gửi; đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ
lục kèm theo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Khái quát về bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Chương 2 Thực trạng pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam hiện nay
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI Q UÁT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ PHÁP LUẬT
VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1.1 Khái quát về bảo hiểm tiền gửi
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi
Hoạt động tài chính - ngân hàng luôn gắn liền với sự nhạy cảm và tiềm
ẩn nguy cơ rủi ro, chính vì vậy, mỗi quốc gia cần có một tổ chức đứng ra bảo
vệ người gửi tiền trong trường hợp hệ thống ngân hàng xảy ra đổ vỡ để ổn định an ninh xã hội Trong thực tế, các quốc gia chưa hình thành hệ thống BHTG cũng đã sử dụng công cụ "bảo hiểm ngầm" có nghĩa là mặc dù không
có cam kết công khai trước công chúng về việc bảo vệ tiền gửi của người gửi tiền trong trường hợp ngân hàng đổ bể nhưng nếu điều đó xảy ra thì Chính phủ vẫn đứng ra bảo vệ người gửi tiền [11, tr 12] Để việc bảo vệ người gửi tiền thật sự mang lại lợi ích cho quốc gia cũng như xây dựng niềm tin vững chắc cho công chúng đối với hoạt động ngân hàng, hệ thống BHTG công khai đã ra đời
Nguồn gốc ra đời của BHTG gắn liền với việc chuyển từ bảo vệ ngầm sang bảo vệ công khai tiền gửi Theo đó, người gửi tiền sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ tiền gửi khi ngân hàng đổ vỡ theo hợp đồng hoặc cam kết công khai Sự kiện bảo hiểm tiền gửi công khai đầu tiên được hình thành ở
thành phố New York (Mỹ) vào năm 1829 với tên gọi: "Chương trình bảo
hiểm trách nhiệm ngân hàng" Từ năm 1908 đến năm 1917, ở Mỹ có 8 bang
thành lập hệ thống BHTG Tuy nhiên, đến năm 1930 cả 8 bang này đều bị đóng cửa do điều kiện kinh tế suy thoái, các ngân hàng Mỹ hoạt động rất khó khăn, đỉnh điểm là năm 1933 đã có tới 4000 ngân hàng bị đóng cửa do suy thoái kinh tế [11, tr 18] Trong bối cảnh như vậy, Chính phủ M ỹ đã quyết định thành lập BHTG liên bang (FDIC) vào năm 1933 nhằm ổn định tình hình kinh tế, chính trị đất nước FDIC bắt đầu đi vào hoạt động từ n gày
Trang 121/1/1934 và sau đó nhanh chóng trở thành mô hình bảo hiểm tiền gửi công khai được nhiều nước trên thế giới áp dụng [11, tr 25]
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của hệ thống tài chính - ngân hàng trên thế giới, xu thế hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, nhu cầu bảo vệ người tiêu dùng nói chung và người gửi tiền nói riêng là đòi hỏi tất yếu đặt ra cho bất kỳ Chính phủ nào Bởi lẽ, niềm tin của người gửi tiền rất quan trọng đối với sự an toàn và phát triển lành mạnh của hệ thống ngân hàng trong thế giới hiện đại Với những ưu thế và tính chuyên nghiệp trong việc bảo vệ người gửi tiền và góp phần đảm bảo sự ổn định của hoạt động ngân hàng, hệ thống bảo hiểm tiền gửi công khai ngày càng phát triển mạnh
mẽ trên thế giới Tính đến năm 2009, trên th ế giới có khoảng 104 quốc gia [6,
tr 3] trên thế giới sử dụng hệ thống BHTG công khai và 16 quốc gia khác đang nghiên cứu hình thành hệ thống BHTG để bảo vệ người gửi tiền, xu hướng này vẫn còn tiếp tục tăng cao do ưu thế vượt trội của hệ thống BHTG
Ở Việt Nam, khởi đầu của chính sách BHTG là Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của QTDND đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn đã được ban hành kèm theo Quyết định số 101/TCQĐ-BH ngày 1/2/1994 của Bộ Tài chính do Bảo Việt triển khai Tuy nhiên, đối tượng tham gia BHTG do Bảo Việt triển khai bao gồm các QTDND, trong đó BHTG chỉ thực hiện chức năng chi trả tiền gửi khi tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ và việc tham gia BHTG là tự nguyện Trong khi đó, cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á năm
1997 cũng có những tác động nhất định đến hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Xu hướng chung của khu vực Châu Á và trên thế giới là sử dụng BHTG như một công cụ hữu hiệu để góp phần giải quyết khủng hoảng, lấy lại niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng Trong bối cảnh như vậy, Ngân hàng nhà nước đã đề xuất với Chính phủ việc thành lập tổ chức
Trang 13BHTG để có thêm kênh kiểm tra hoạt động của TCTD và xử lý các TCTD bị phá sản
Ngày 09/11/1999 Chính phủ đã ban hành quyết định số 218/QĐ-TTg cho phép thành lập tổ chức BHTG Việt Nam (BHTG Việt Nam) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự phát triển ổn định, an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng Tổ chức chính thức đi vào hoạt động từ ngày 7/7/2000, cho đến nay, văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động BHTG ở Việt Nam là Nghị địn h 89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999, Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 của Chính phủ về BHTG và Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 ngày 18/6/2012
Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Bảo hiểm tiền gửi, khái niệm
về BHTG được định nghĩa như sau:
Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo
hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền
hoặc phá sản
1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi
BHTG cũng mang bản chất của các loại hình bảo hiểm nói chung, tức
là hoạt động theo nguyên lý lấy số đông bù số ít nhưng bên cạnh đó, BHTG còn mang những tính chất đặc thù như sau:
Thứ nhất, BHTG là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì
mục tiêu lợi nhuận Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, tổ chức BHTG có trách nhiệm thay tổ chức tín dụng trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của các cá nhân gửi tiền ở tổ chức tham gia BHTG Trong thực tế, hoạt động ngân hàng
là hoạt động nhạy cảm, mang tính rủi ro và lan truyền cao Sự đổ vỡ của các ngân hàng sẽ ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và gây ra những bất ổn về xã
Trang 14hội Do đó, Chính phủ các quốc gia đã sử dụng công cụ tài chính BHTG góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lạnh mạnh của hoạt động ngân hàng và ổn định xã hội
Thứ hai, trong quan hệ BHTG, các tổ chức tín dụng là đối tượng tham
gia BHTG, có trách nhiệm đóng phí BHTG cho tổ chức BHTG và đối tượng được bảo hiểm chính là khoản tiền gửi của người gửi tiền Theo đó, trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG bị giải thể hoặc phá sản thì tổ chức BHTG sẽ đứng ra chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho ngườ i gửi tiền theo quy định của pháp luật Mặc dù người gửi tiền được hưởng các quyền lợi trực tiếp
từ chính sách BHTG nhưng họ không phải trực tiếp tham gia BHTG Thông qua cơ chế này, tổ chức tham gia BHTG cũng được hưởng lợi gián tiếp từ việc tham gia BHTG vì niềm tin của công chúng đối với các tổ chức tham gia BHTG sẽ cao hơn, hoạt động huy động tiền gửi từ dân cư sẽ dễ dàng hơn
Thứ ba, cơ chế tham gia BHTG là bắt buộc đối với các tổ chức tài
chính có hoạt động huy động tiền gửi của cộng đồng Pháp luật v ề BHTG quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm mà các tổ chức tham gia BHTG có nghĩa vụ thực hiện, các bên tham gia không có quyền thỏa thuận Đặc điểm này làm cho BHTG khác biệt so với đa số các loại hình bảo hiểm thương mại được hình thành trên cơ sở hợp đồng và các bên có thể thỏa thuận
về nội dung của hợp đồng Việc áp dụng chế độ bảo hiểm bắt buộc đối với tiền gửi không chỉ nhằm hạn chế rủi ro cho các tổ chức nhận tiền gửi, bảo vệ lợi ích của người gửi tiền mà còn đảm bảo sự bình đẳng, góp phần nâng cao
uy tín của các tổ chức tín dụng
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi trong hoạt động ngân hàng
Hệ thống ngân hàng hoạt động thông suốt, lành mạnh và hiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chính được luân chuyển, phân bổ và sử dụng hiệu quả, kích thích tăng trưởng kinh tế một cách bền vững Tuy nhiên, hoạt động
Trang 15kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là hoạt động có nhiều rủi ro, trong đó rủi ro về tín dụng, ngoại tệ, rủi ro trong các nghiệp vụ thanh toán là những rủi ro lớn, dễ xảy ra và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn của hệ thống ngân hàng
Vì vậy, trong lịch sử phát triển của ngân hàng, các nước trên thế giới đã phải tìm ra các giải pháp để kiểm soát và xử lý các rủi ro này Một trong những giải pháp được đưa ra là xây dựng hệ thống BHTG để hỗ trợ cho khách hàng khi xảy ra các tình huống rủi ro và quan trọng hơn là xây dựng niềm tin cho khách hàng gửi tiền, giúp ngân hàng tăng thêm uy tín và thuận lợi trong hoạt động huy động vốn
Nhìn chung, vai trò của hoạt động BHTG đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng của mỗi quốc gia có thể tóm tắt ở những điểm sau:
Một là, hoạt động BHTG có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người
gửi tiền, nâng cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, góp phần củng cố và tăng cường uy tín của các ngân hàng Điều này được thực hiện thông qua hoạt động chức năng của tổ chức BHTG trong giám sát, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG; hỗ trợ tổ chức tham gia BHTG khi gặp khó khăn về tài chính nhằm phục hồi hoạt động của tổ chức đó; xử lý tổ chức tín dụng bị đổ vỡ, chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền
Hai là, BHTG góp phần đảm bảo sự phát triển lành mạnh của hoạt
động ngân hàng bằng việc tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả các TCTD, đặc biệt là các TCTD có quy mô hoạt động nhỏ Thông qua các nghiệp vụ kiểm tra, giám sát rủi ro các TCTD, BHTG có thể cảnh báo đến các cơ quan chức năng hoặc TCTD về tình hình hoạt động của TCTD có vấn
đề, từ đó giúp cơ quan chức năng và TCTD có vấn đề có những hành động kịp thời nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động Ngoài ra, trong trường hợp TCTD gặp khó khăn thì BHTG sẽ sử dụng các biện pháp hỗ trợ tài chính
Trang 16nhằm phục hồi TCTD có nguy cơ đổ vỡ và thực hiện chi trả tiền gửi cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG trong trường hợp có đổ vỡ xảy ra
để tránh ảnh hưởng đến các TCTD khác và ổn định tình hình kinh tế - xã hội
Ba là, BHTG góp phần thúc đẩy quá trình huy động vốn phục vụ phát
triển kinh tế và ổn định xã hội Thông qua vai trò bảo vệ người gửi tiền và xây dựng, củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, BHTG có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình huy động vốn phục vụ phát triển kinh tế đất nước Huy động vốn trong dân cư để phục vụ phát triển là nhu cầu tất yếu đặt ra đối với mỗi nền kinh tế Nguồn vốn trong dân cư được thu hút qua nhiều kênh khác nhau, đặc biệt là thông qua các tổ chức tín dụng Khi người dân có niềm tin vào hệ thống ngân hàng thì hoạt động huy động vốn sẽ đạt hiểu quả cao hơn, nguồn vốn phát triển kinh tế và ổn định xã hội cũng dồi dào hơn
Bốn là, BHTG còn có vai trò trong giải quyết khủng hoảng ngân hàng
Một trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng ngân hàng là hiện tượng rút tiền hàng loạt của người gửi tiền Trong khi đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính nhạy cảm và lan truyền cao, hiện tượng rút tiền hàng loạt có thể xảy ra do những tin đồn sai sự thật mà không xuất phát từ chính hoạt động yếu kém của tổ chức nhận tiền gửi Trong trường hợp này, BHTG
sẽ là một lá chắn quan trọng hỗ trợ cho tổ chức tham gia BHTG, tạo tâm lý
an tâm cho người gửi tiền và ngăn chặn hiện tượng đổ vỡ hàng loạt xảy ra
1.2 Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
1.2.1 Khái niệm pháp luật về b ảo hiểm tiền gửi
Tính từ khi tổ chức BHTG liên bang Hoa Kỳ (FDIC) ra đời, hệ thống BHTG trên thế giới đã có lịch sử hoạt động hơn 70 năm [6, tr 3] Xuyên suốt quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng hiện đại, BHTG được coi là công
cụ quan trọng bảo vệ người gửi tiền và góp phần duy trì sự ổn định của hệ
Trang 17thống ngân hàng Xuất phát từ vai trò quan trọng trên mà các quốc gia có hoạt động BHTG đều nỗ lực xây dựng một hệ thống pháp luật về BHTG ngày càng hoàn thiện hơn
Trong đó, pháp luật về BHTG được hiểu: là tổng thể các quy phạm
pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành điề u chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện BHTG
Các quốc gia trên thế giới hầu như đều xây dựng Luật BHTG hoặc Luật Bảo vệ người gửi tiền trước khi thành lập tổ chức BHTG [6] Thông lệ trên đã được áp dụng phổ biến, từ các quốc gia có hệ thống BHTG phát triển lâu đời như Mỹ, Canada, từ các quốc gia Châu Âu đến các quốc gia Châu Á
có đặc thù phát triển tương tự Việt Nam So với các nước trên thế giới, tổ chức BHTG Việt Nam ra đời muộn hơn (Tổ chức BHTG Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ năm 2000) Ở Việt Nam, vấn đề BHTG được đề cập
từ năm 1994 theo quyết định số 101/1994/TCQĐ/BH về việc ban hành quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng nhân dân đối với các khoản tiền
có kỳ hạn Đây là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi Tuy nhiên, BHTG trong giai đoạn này chỉ là một nghiệp vụ kinh doanh của Bảo Việt, một doanh nghiệp chuyên kinh doanh các loại bảo hiểm thương mại Sau đó, hoạt động BHTG được tách thành một hoạt động độc lập và mang tính chuyên biệt theo Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999 về BHTG và hoạt động này được thực hiện bởi tổ chức BHTG Việt Nam, tổ chức này được thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ -TTg ngày 09 tháng 11 năm 1999 Tiếp đến, ngày 16 tháng 3 năm 2000, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 03/2000/TT -NHNN hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/1999/NĐ -CP về BHTG Sau một thời gian áp dụng, Nghị định số 89/1999/NĐ-CP đã bộc lộ những hạn chế nhất định nên ngày 24 tháng 8 năm 2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2005/NĐ-CP về
Trang 18việc sửa đổi, bổ sung một số điều của của Nghị định 89/1999/NĐ -CP và ngày
25 tháng 4 năm 2006 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư
số 03/2006/TT-NHNN thay thế cho Thông tư số 03/2000/TT -NHNN Có thể thấy pháp luật về BHTG đã dần dần được hoàn thiện và phần nào đáp ứng được yêu cầu của thực hiện nền kinh tế
Tuy nhiên, tất cả các văn bản pháp luật nói trên mới chỉ tồn tại ở dạng văn bản dưới luật, tính pháp điển chưa cao, chưa tạo ra hành lang pháp lý ổn định, chưa đồng bộ và phù hợp với các văn bản pháp luật khác có liên quan
và có nhiều quy định đã bộc lộ sự không phù hợp so với đòi hỏi của thực tiễn Chính vì vậy ngày 18 tháng 6 n ăm 2012, nước ta đã có một đạo luật chính thức về BHTG là Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13
Nhìn chung, hệ thống pháp luật về BHTG Việt Nam đều hướng tới điều chỉnh những nội dung cơ bản là: các chủ thể thực thi pháp luật về BHTG; loại tiền được bảo hiểm; phí BHTG và hạn mức BHTG; chi trả BHTG và thu hồi nợ sau khi chi trả BHTG
1.2.2 Vai trò của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Pháp luật về BHTG được quy định đầy đủ, rõ ràng được coi là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho tổ chức BHTG phát huy tốt nhất chức năng, nhiệm vụ được giao Thông qua những nội dung hoạt động của tổ chức BHTG, vai trò của Pháp luật về BHTG được thể hiện như sau:
Một là, pháp luật về BHTG là công cụ để thể chế hóa được quan điểm
chủ trương, chính sách và thể chế chính trị của một nhà nước, thể hiện được tính đặc thù của hệ thống ngân hàng của từng quốc gia
Hai là, hệ thống pháp luật về BHTG được ban hành sẽ là cơ sở pháp lý
quan trọng để xác định quyền lợi của người gửi tiền, các trung gian tài chính, các cơ quan quản lý và tổ chức BHTG, từ đó bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền và các bên liên quan
Trang 19Ba là, pháp luật về BHTG tạo ra một cơ chế pháp lý bảo vệ công khai
đối với người gửi tiền Theo đó, khoản tiền trong một giới hạn nhất định của người gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi sẽ được tổ chức BHTG bảo đảm và thực hiện chi trả cho người gửi tiền trong trư ờng hợp tổ chức nhận tiền gửi mất khả năng thanh toán
Bốn là, pháp luật về BHTG còn có vai trò trong việc quy định về
nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi; vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức BHTG, thẩm quyền được giao và mối quan hệ của tổ chức BHTG với các c ơ quan khác nhằm tránh chồng chéo nhiệm vụ với các cơ quan khác và giúp hoạt động bảo hiểm tiền gửi đạt hiệu quả cao hơn
Năm là, pháp luật về BHTG khi được xây dựng thống nhất, đồng bộ
với các đạo luật có liên quan như Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Bảo vệ người tiêu dùng… sẽ là công cụ hữu hiệu đảm bảo hiệu quả hoạt động của tổ chức BHTG và điều chỉnh hoạt động của hệ thống ngân hàng
Pháp luật về BHTG điều chỉnh các quan hệ pháp luật về BHTG, qua
đó bảo đảm hiệu quả của hoạt động bảo hiểm tiền gửi, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng
1.2.3 Nội dung cơ bản của Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Chính sách BHTG muốn đi vào cuộc sống phải được thể ch ế hóa thành pháp luật của Nhà nước Pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của BHTG, đồng thời chính thức công khai việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền
Quan hệ pháp luật về BHTG không hình thành trên cơ sở hợp đồng được ký kết giữa các bên Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật BHTG đều do pháp luật quy định, các bên không thể tự thỏa thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ của mình Điều này cho thấy ý chí của Nhà nước
Trang 20trong các quan hệ pháp luật về BHTG rất cao Điều đó hoàn toàn phù hợp với mục tiêu chính sách công của hoạt động BHTG là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng Các nội dung
cơ bản của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi bao gồm các nhóm quy định sau:
Thứ nhất, nhóm các chủ thể thực thi pháp luật về bảo hiểm tiền gửi:
Một là, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi:
Tổ chức BHTG là đối tác nhận đóng góp tài chính từ tổ chức tham gia BHTG và có trách nhiệm chi trả tiền gửi được bảo hiểm đến người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động hoặc mất khả năng thanh toán
Hầu hết ở các quốc gia, tổ chức BHTG đều được xác định là cơ quan thực hiện chức năng bảo vệ người gửi tiền và là cơ quan giám sát, đảm bảo
an toàn cho hệ thống ngân hàng Trên thế giới, hệ thống BHTG được cấu trúc theo nhiều hình thức khác nhau Phổ biến nhất là tổ chức BHTG có thể là cơ quan thuộc chính phủ hoặc doanh nghiệp nhà nước độc lập (ví dụ như Mỹ, Canada, Nhật Bản, Mexico ) [6, tr 5] với nhiều ưu điểm cho phép tổ chức BHTG thực hiện được nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền; hoặc có thể là một mô hình tổ chức do các ngân hàng thương mại góp vốn thành lập, quản lý (ví dụ như Pháp, Argentina, Brazil ) [6, tr 6]; hoặc một mô hình ít được sử dụng hơn đó là một đơn vị thuộc ngân hàng trung ương hoặc cơ quan giám sát (ví dụ như Lào, Đảo Síp, Srilanca) [6, tr 7] Với mỗi mô hình này đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy , một tổ chức BHTG hoạt động hiệu quả nhất, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền là tổ chức có nhiệm vụ, chức năng được quy định rõ ràng, được trao đầy đủ quyền hạn để thực thi nhiệm vụ được giao và được tạo điều kiện độc lập trong hoạt động
Hai là, tổ chức tham gia BHTG:
Trang 21Tổ chức tham gia BHTG là các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Theo thông lệ quốc tế, hiện nay trên thế giới có hai xu hướng tham gia BHTG, đó là các tổ chức tham gia BHTG có thể tham gia BHTG một cách bắt buộc hoặc tự nguyện Điều này phụ thuộc vào chính sách tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia Tuy nhiên, qua nghiên cứu ở các nước, cho thấy xu hướng phổ biến hiện nay là tham gia BHTG bắt buộc Khi tham gia BHTG các tổ chức này có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức đó trong trường hợp tổ chức này bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động
Ba là, chủ thể được bảo hiểm tiền gửi:
Chủ thể được bảo hiểm tiền gửi là khách hàng có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG Người gửi tiền không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi kể tiền lãi tích lũy trên t iền gửi đó trong hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm của tổ chức BHTG, có thể là một phần hoặc toàn bộ tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia Ở các loại hình bảo hiểm thương mại khác, khi chủ thể tham gia bảo hiểm sẽ xuất hiện mối quan hệ trực tiếp giữa một bên là đối tượng bảo hiểm và một bên là đối tượng được bảo hiểm Còn ở BHTG, mặc dù người gửi tiền là người được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách bảo hiểm nhưng không xuất hiện mối quan hệ trực tiếp về BHTG giữa người gửi tiền và tổ chức BHTG trừ trường hợp xảy ra đổ vỡ của
tổ chức tín dụng
Mỗi chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật BHTG hướng tới những lợi ích nhất định và điều này cần phải được quan tâm khi xây dựng các quy định pháp luật nhằm dung hòa lợi ích của các bên Với người gửi tiền, họ mong muốn được bảo hiểm và được chi trả tối đa khoản tiền gửi và tiền lãi
Trang 22của mình trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ Nói cách khác,
họ mong muốn mọi khoản tiền gửi đều được bảo hiểm và hạn mức bảo hiểm càng cao càng tốt Trong khi đó, tổ chức tham gia BHTG do phải đóng phí bảo hiểm nên mong muốn mức phí phải đóng càng ít càng tốt và mong muốn đạt được lợi ích tối đa từ việc tham gia BHTG Riêng tổ chức BHTG, với tư cách là tổ chức thực hiện chính sách công của Nhà nước, mong muốn hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG an toàn, lành mạnh, để quyền lợi của người gửi tiền được đảm bảo và vì vậy ít phải thực hiện chi trả tiền bảo hiểm; đồng thời, tổ chức BHTG cũng mong muốn có sự cân đối giữa mức phí bảo hiểm được thu và hạn mức chi trả BHTG để đảm bảo an toàn và cân đối
nguồn vốn hoạt động của tổ chức
Thứ hai, nhóm quy định về đối tượng được bảo hiểm tiền gửi, phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức bảo hiểm tiền gửi:
Một là, đối tượng được bảo hiểm tiền gửi (loại tiền gửi được bảo hiểm):
Hiện nay pháp luật các nước đều có quy định về loại tiền được bảo hiểm Tuy nhiên việc quy định về chủng loại tiền được bảo hiểm có khác nhau, bên cạnh việc bảo vệ đồng nội tệ, một số quốc gia có áp dụng bảo hiểm cho ngoại tệ, nhằm kích thích quá trình huy động vố n, đặc biệt là lượng kiều hối gửi từ nước ngoài về và nhằm đảm bảo sự công bằng đối với những người gửi tiền Một số quốc gia thực hiện chính sách bảo hiểm ngoại tệ như Indonesia, Mỹ, Đức, Hà Lan [24] Pháp luật về BHTG Việt Nam hiện hành chỉ quy định tiền gửi được bảo hiểm là đồng Việt Nam và không áp dụng cho bất cứ ngoại
tệ nào Việc pháp luật quy định không bảo hiểm đối với ngoại tệ đó là liên quan đến chính sách ngoại hối của mỗi quốc gia Ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới thông thường chỉ bảo hiểm cho đồng nội tệ để tránh tình trạng đô la hóa
Hai là, phí bảo hiểm tiền gửi:
Trang 23Phí bảo hiểm tiền gửi là khoản tiền mà tổ chức tham gia BHTG có nghĩa vụ nộp cho BHTG Việt Nam để được bảo hiểm cho tiền gửi khách hàng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Phí BHTG được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tham gia BHTG
Hiện nay có hai hệ thống phí BHTG được áp dụng trên thế giới đó là
hệ thống phí đồng hạng và hệ thống phí trên cơ sở rủi ro Tuy nhiên ngày càng có nhiều nước đã chuyển từ hệ thống phí trên cơ sở đồng hạng sang hệ thống phí trên cơ sở rủi ro Hệ thống phí trên cơ sở rủi ro có nhiều ưu điểm như đảm bảo công bằng giữa các tổ chức tham gia BHTG, đảm bảo nguyên tắc, kỷ cương thị trường và kích thích sự phát triển của thị trường tài chính - ngân hàng M ột số quốc gia đang áp dụng mức phí trên cơ sở rủi ro như M ỹ, Nhật bản, Philipine [6]; hoặc chuyển từ phí đồng hạng sang mức phí trên cơ
sở rủi ro như Indonesia [7]
Ở Việt Nam, nhằm đảm bảo tính linh hoạt khi áp dụng phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức trả tiền bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh, Luật không quy định một mức phí hay một khung phí cứng
mà trao thẩm quyền cho Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức trả tiền bảo hiểm theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Căn cứ vào khung phí bảo hiểm tiền gửi, Ngân hàng Nhà nước quy định mức phí bảo hiểm tiền gửi cụ thể đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên
cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ chức này Phí bảo hiểm tiền gửi được tính trên cơ sở số dư tiền gửi bình quân của tiền gửi được bảo hiểm tại
tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi (Khoản 3, Điều 20)
Phần lớn các quốc gia có hệ thống BHTG, phí BHTG là nguồn tài chính quan trọng để đảm bảo hoạt động của của tổ chức BHTG trong việc thực hiện chi trả tiền BHTG trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm Ngoài
ra, việc thu phí BHTG cũng nhằm mục đích khuyến khích việc huy động tiền
Trang 24gửi của các TCTD, giúp cân đối giữa trách nhiệm đóng góp tài chính và quyền lợi mà tổ chức tham gia BHTG nhận được
- Về hạn mức trả tiền bảo hiểm:
Theo thông lệ quốc tế, hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm dao động từ 1 đến 9 lần GDP/người Ở châu Á mức chi trả bìn h quân là 4 lần thu nhập quốc nội bình quân đầu người một năm Điển hình như Indonesia thực hiện mức chi trả cho mỗi người gửi tiền tại một tổ chức tín dụng là 100.000.000 Rp (11.000 USD), hạn mức này gấp khoảng 9,6 lần GDP của Indonesia [7] Trong thực tế tùy thuộc vào tình hình cụ thể mà mỗi quốc gia
có cách xác định hạn mức chi trả khác k hau Cụ thể là các quốc gia thường căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, bối cảnh hoạt động tài chính, ngân hàng
để điều chỉnh hạn mức chi trả cho phù hợp với quốc gia mình
Thứ ba, nhóm quy định về chi trả bảo hiểm tiền gửi và thu hồi nợ sau khi chi trả bảo hiểm tiền gửi:
Tổ chức BHTG có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG trong phạm vi giới hạn được pháp luật quy định khi tổ chức tham gia BHTG bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn Việc chi trả bảo hiểm tiền gửi chỉ được tiến hành khi có sự kiện BHTG, trong trường hợp TCTD mới chỉ ở tình trạng có nguy cơ mất khả năng chi trả nhưng chưa đến mức đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt thì tổ chức BHTG c ó thể hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia BHTG dưới các hình thức: cho vay, bảo lãnh, mua lại các khoản nợ của các khách hàng tại tổ chức tham gia BHTG và các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật của từng quốc gia
Sau khi thực hiện chi trả tài chính cho tổ chức tham gia BHTG, tổ chức BHTG sẽ trở thành chủ nợ của tổ chức tham gia BHTG đối với số tiền bảo hiểm đã chi trả Việc thu hồi các khoản nợ này là cần thiết để đảm bảo cho
Trang 25hoạt động của tổ chức BHTG, vì vậy, tổ chức BHTG được phân chia g iá trị tài sản theo thứ tự như người gửi tiền và thu hồi số tiền bảo hiểm phải trả trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật
Nội dung pháp luật về BHTG cũng như pháp luật nói chung được quyết định bởi những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của mỗi quốc gia bao gồm: sự phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường vốn, sự phát triển của hệ thống ngân hàng, mức độ cạnh tranh, minh bạch trong hoạt động ngân hàng,
sự hoạt động của các thiết chế quản lý, giá m sát có liên quan, mức độ hiểu biết, thói quen tiết kiệm của người dân Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về BHTG phải dựa trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia, không thể sao chép máy móc kinh nghiệm xây dựng pháp luật BHTG của các quốc gia khác
1.3 Kết luận
Với việc Việt Nam chúng ta đã chính thức trở thành thành viên của WTO (07/11/2007), tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng tự do hóa Tài chính, Ngân hàng có thể sẽ làm gia tăng rủi ro đối với hoạt động Ngân hàng Trong bối cảnh hội nhập với nhiều thách thức như vậy vai trò của BHTG Việt Nam càng cần thể hiện là một định chế tài chính quan trọng không thể thiếu của nền kinh tế hiện đại
Mặc dù, những năm qua BHTG Việt Nam đã có nhiều cố gắng và đạt được thành tựu bước đầu tương đối khả quan, song với diễn biến hiện tại và triển vọng phát triển của hệ thống Ngân hàng thì BHTG Việt Nam cũng như
hệ thống giám sát Tài chính - Ngân hàng đang đứng trước nhiều thách thức đối với việc bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng trong điều kiện
mở cửa thị trường tài chính theo cam kết gia nhập WTO
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam đang có những biến động rất lớn
và có mối liên hệ mật thiết với sự thay đổi của tình hình thế giới Việc gia nhập và thực thi cam kết WTO trong những năm qua đã cho thấy pháp luật của nước ta còn thiếu sót về nhiều mặt, khung pháp lý cần được tiếp tục được
bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với các cam kết chung trong WTO và thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển Trong báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) về tình hình kinh tế Việt Nam tại hội nghị giữa kỳ tháng 6/2008, Nhóm
tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam nêu ra một trong nhiều giải pháp đối với nền kinh tế Việt Nam tại thời điểm đó là: "Cần đảm bảo sự ổn định của thị trường tài chính và duy trì niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống ngân hàng" Việc sát nhập các ngân hàng nhỏ vào các ngân hàng lớn hơn, có uy tín hơn là phù hợp với xu thế phát triển chung
Ngày 18/6/2012, Luật Bảo hiểm tiền gửi đã được Quốc hội khóa XIII
kỳ họp thứ 3 thông qua, ghi nhận một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hoạt động của bảo hiểm tiền gửi Luật Bảo hiểm tiền gửi có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về bảo hiểm tiền gửi vẫn còn những tồn tại hạn chế, bất cập, nhiều điểm mâu thuẫn, chưa phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành về ngân hàng, đặc biệt là với những qui định tại các văn bản pháp luật được ban hành trong th ời gian gần đây, làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của bảo hiểm tiền gửi,
cụ thể:
2.1 Quy định về các chủ thể tham gia pháp luật bảo hiểm tiền gửi
2.1.1 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Trang 27Tổ chức BHTG Việt Nam - tên tiếng Anh: Deposit Inusurance of Vietnam (DIV) là tổ chức tài chính Nhà nước được thành lập theo Quyết định
số 218/1999/QĐ-TTg, ngày 09/11/999 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tham gia BHTG và sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng BHTG Việt Nam có tư cách pháp nhân, độc lập về tài chính và chủ động trong quá trình hoạt động Nguồn vốn hoạt động của tổ chức BHTG Việt Nam được hình thành từ nguồn vốn do Nhà nước cấp và nguồn vốn góp thường xuyên của các tổ chức tham gia BHTG Đây là một tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, được miễn các loại thuế theo quy định của pháp luật, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc nhà nước, tại TCTD Nhà nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật; có cân đối tài chính và được lập các quỹ phù hợp với quy định của pháp luật
* Nội dung hoạt động chủ yếu của BHTG Việt Nam bao gồm :
M ột là, nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi:
Đây là hoạt động chủ yếu của BHTG Tổ chức BHTG thực hiện chức năng bảo hiểm cho tiền gửi của những người gửi tiền ở các tổ chức có huy động tiền gửi của dân chúng Trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG bị phá sản thì tổ chức BHTG đứng ra chi trả tiền bảo hiểm cho người dân Để thực hiện chức năng này, tổ chức BHTG tiến hành các nghiệp vụ như: cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cho các tổ chức tham gia BHTG; thu phí bảo hiểm; cung cấp thông tin, tư vấn cho người gửi tiền; thực hiện nhiệm vụ chi trả bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm bị phá sản và cuối cùng là tiến hành xử lý (thanh lý và thu nợ) đối với tổ chức tham gia BHTG bị đóng cửa
Hai là, hoạt động đầu tư:
Pháp luật quy định tổ chức bảo hiểm tiền gửi có quyền mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng
Trang 28nhà nước; gửi tiền tại Kho bạc nhà nước, Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng nhà nước nhằm bảo đảm an toàn vốn, bảo tồn vốn, bù đắp chi phí
Tính đến 31/12/2009, tổng nguồn vốn của BHTG Việt Nam đã đầu tư
là 4.905 tỷ đồng, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm 2008, tổng lãi th u được là
370 tỷ đồng, tăng 36% so với năm 2008 Trong đó, đầu tư vào tổ chức tín dụng Nhà nước dưới hình thức tiền gửi là 3.785 tỷ đồng và giấy tờ có giá do NHTMNN phát hành là 1.040 tỷ đồng; đầu tư vào Kho bạc nhà nước dưới hình thức trái phiếu chính phủ là 50 tỷ đồng và công trái giáo dục là 30 tỷ đồng [2,tr 17] Tổ chức BHTG Việt Nam thường xuyên theo dõi những biến động trên thị trường tài chính tiền tệ để đầu tư nguồn vốn đảm bảo hiệu quả cao, bảo toàn và phát triển vốn; đồng thời thực hiện cơ cấu lại các khoản vốn đầu tư kịp thời, xây dựng các phương án đầu tư phù hợp với các quy định về quản lý và sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi của BHTG Việt Nam; theo dõi sát sao và thu hồi đầy đủ gốc và lãi của các khoản vốn đầu tư đến hạn, nhằm nâng cao thu nhập từ hoạt động đầu tư vốn và góp phần nâng cao năng lực tài chính của BHTG Việt Nam Nhờ đó, tính đến 31/12/2010, tổng lượng vốn tạm thời nhàn rỗi của BHTG Việt Nam đã đầu tư là 6.599 tỷ đồng, tăng 34,56% so với cùng kì năm trước Tổng lãi thu được từ hoạt động đầu tư vốn đạt 670 tỷ đồng, tăng 81% so với tổng số lãi thu được trong năm 2009 [33] Tuy nhiên, quy định này vẫn còn có điểm chưa hợp lý, bởi lẽ việc cho phép
tổ chức BHTG mua trái phiếu, tín phiếu của tổ chức tín dụng nhà nước hoặc gửi tiền tại tổ chức tín dụng nhà nước sẽ dẫn đến việc tổ chức bảo hiểm trở thành người gửi tiền không được bảo hiểm đối với những khoản tiền gửi của mình tại tổ chức tín dụng nhà nước Điều này có thể gây nên những tác động rất xấu đến hiệu quả của hệ thống bảo hiểm tiền gửi, cụ thể là trong trường hợp tổ chức tín dụng nhà nước đổ vỡ, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có khả năng không thu hồi được khoản tiền gửi tại tổ chức tín dụng nhà nước đó, dẫn đến
Trang 29việc quỹ bảo hiểm tiền gửi bị hao tổn và liên quan đến các rủi ro đạo đức, tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ có những động thái trì hoãn hoặc gây khó khăn trong khi thực hiện các chức năng của mình về bảo hiểm tiền gửi như giám sát từ xa, thu phí bảo hiểm tiền gửi, chi trả tiền bảo hiểm…
Ba là, chức năng thanh tra, giám sát an toàn hoạt độn g ngân hàng của
tổ chức bảo hiểm tiền gửi:
Theo quy định ngoài chức năng thu phí bảo hiểm tiền gửi, chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền, tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản, tổ chức bảo hiểm tiền gửi c òn có chức năng theo dõi, giám sát và kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và các quy định về an toàn trong hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Nội dung quy định về giám sát của tổ chức BHTG đối với tổ chức nhận tiền gửi được quy định tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP về BHTG (Nghị định 89/1999/NĐ -CP), Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 89/1999/NĐ-CP, Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg về việc thành lập BHTG Việt Nam ngày 9/11/1999 do Thủ tướng Chính phủ ban hành và Quyết định
số 75/2000/QĐ-TTg ngày 28/6/2000 quy định về Điều lệ tổ chức và hoạt động của BHTG Việt Nam Theo đó, tổ chức BHTG được quyền tiến hành kiểm tra việc các tổ chức tham gia BHTG chấp hành các qui địn h
về BHTG quy định tại Nghị định 89/1999/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung năm 2005; được quyền tiến hành theo dõi, giám sát và kiểm tra việc chấp hành các quy định về an toàn trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG Từ các quy định trên cho thấy, tổ chức BHTG thực hiện quyền giám sát của mình trên cả ba khía cạnh: (i) thanh tra tại chỗ, (ii) giám sát trực tiếp và (iii) giám sát từ xa đối với cả quy định về BHTG và quy định về an toàn trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG
Trang 30Việc trao chức năng thanh tra, giám sát an toàn hoạt động ngân hàng cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi như vậy là không phù hợp, gây chồng chéo, mâu thuẫn với hệ thống pháp luật Việt Nam mà cụ thể là Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 sửa đổi năm 2004 trước đây và Luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành Mặc dù Luật các TCTD năm 1997 (sửa đổi năm 2004) không có quy định về giám sát Ngân hàng mà chỉ có quy định về thanh tra ngân hàng, song trên thực tế, hoạt động giám sát Ngân hàng được giao cho cơ quan thanh tra ngân hàng thực hiện theo Quyết định 398/1999/QĐ-NHNN3 Theo đó, Thanh tra NHNN thực hiện giám sát toàn hệ thống đối với: TCTD Nhà nước; chi nhánh ngân hàng nước ngoài; TCTD liên doanh; TCTD phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài; Quỹ tín dụng nhân dân trung ương Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố giám sát đối với: TCTD cổ phần của Nhà nước
và nhân dân; các chi nhánh của TCTD; chi nhánh của TCTD phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài; quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Luật NHNN năm 2010
bổ sung quy định về giám sát Ngân hàng bên cạnh thanh tra ngân hàng, xác định rõ thẩm quyền của NHNN trong việc giám sát an toàn hoạt động của các TCTD thông qua hoạt động giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ, luật hóa chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra, giám sát Ngân hàng thuộc NHNN Ngoài ra, Luật NHNN Việt Nam cũng đã quy định, NHNN Việt Nam thực hiện quản lý nhà nước về BHTG theo quy định của pháp luật về BHTG
Từ những quy định này cho thấy, hoạt động giám sát Ngân hàng vừa
do BHTG Việt Nam thực hiện, vừa do NHNN Việt Nam thực hiện Điều này
sẽ (i) gây tốn kém chi phí xã hội khi hai cơ quan cùng thực hiện một chức năng; (ii) tạo gánh nặng cho các tổ chức tín dụng khi phải chịu sự thanh tra của hai cơ quan khác nhau; cụ thể trong việc chịu sự thanh tra tại chỗ, xây dựng các báo cáo theo các yêu cầu của các cơ quan khác nhau, báo cáo và
Trang 31giải trình việc tuân thủ quy định của pháp luật; và (iii) gây khó khăn cho tổ chức tín dụng trong trường hợp các kết luận thanh tra không thống nhất
Luật Bảo hiểm tiền gửi (2012) trao cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi chức năng giám sát từ xa trên cơ sở các thông tin nhận được từ Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nhằm phát hiện và báo cáo Ngân hàng Nhà nước xử lý kịp thời những rủi ro gây mất an toàn trong hệ thống ngân hàng, những vi phạm quy định về an toà n hoạt động ngân hàng; tổ chức bảo hiểm tiền gửi được tham gia vào quá trình kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Ngân hàng Nhà nước hay tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi th eo quy định của Chính phủ Quy định này đảm bảo cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện tốt chức năng bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và xác định
rõ giới hạn của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc bảo đảm an toàn hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia
Hoạt động giám sát từ xa được BHTGVN triển khai từ năm 2002 trên
cơ sở nội dung giám sát việc chấp hành các quy định về BHTG và giám sát việc chấp hành các quy định pháp luật về an toàn trong hoạt động ngân hàng dựa trên nguồn thông tin đầu vào từ các tổ chức tham gia BHTG và các nguồn thông tin khác theo quy định Trong thời gian này, BHTGVN đã chủ động tập trung nghiên cứu, ứng dụng một số mô hình giám sát tài chính hiệu quả phù hợp với thực tiễn của Việt Nam; hoạt động giám sát từ xa đã được thực hiện thống nhất từ trụ sở chính tới các Chi nhánh BHTG khu vực, không chồng chéo và đáp ứng các yêu cầu trong quá trình quản lý, điều hành Báo cáo giám sát từ xa của BHTGVN đã trở thành 1 kênh thông tin giám sát có chất lượng đối với các cơ quan quản lý tài chính Tính đến tháng cuối năm
2012, BHTGVN đã thực hiện giám sát định kỳ đối với 100% tổ chức tham gia BHTG gồm 90 NHTM, 11 TCTD phi NH và 1.138 QTDND với tổng số
Trang 32dư tiền gửi được bảo hiểm là khoảng gần 1.500 nghìn tỷ đồng Kết quả của công tác giám sát từ xa đã phát hiện nhiều vi phạm về BHTG và vi phạm an toàn trong hoạt động NH từ đó có cảnh báo kịp thời tới các tổ chức tham gia BHTG Hoạt động giám sát từ xa của BHTGVN liên tục được đổi mới, tiến dần tới chuẩn mực quốc tế Giám sát từ xa đối với các tổ chức tham gia BHTG là cơ sở cho các hoạt động nghiệp vụ khác tại BHTGVN [34]
Trong thực tế thực hiện nhiệm vụ, tổ chức BHTG còn gặp khó khăn, đặc biệt là với những tổ chức không chấp hành những quy định kiểm tra, giám sát của tổ chức BHTG Trong khi đó, pháp luật không có quy định cụ thể về chế tài đối với những trường hợp không tuân thủ những quy định của Nhà nước về thực hiện chính sách BHTG Đây cũng là rào cản trong quá trình BHTG Việt Nam thực hiện việc kiểm tra, giám sát tổ chức tham gia BHTG và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của BHTG Việt Nam
Ngoài ra, năng lực và kinh nghiệm thanh tra, giám sát an toàn hoạt động ngân hàng của tổ chức BHTG ở Việt Nam còn yếu Điều này đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn hơn 10 năm hoạt động Tính đến hết tháng 12/2010, hoạt động thanh tra, giám sát của tổ chức BHTG mới chỉ dừng lại ở 2.722 cuộc kiểm tra Hơn nữa, hoạt động thanh tra, giám sát của tổ chức BHTG chỉ chủ yếu tập trung vào kiểm tra quỹ tín dụng n hân dân với 2.439 cuộc - chiếm 89,6% tổng số cuộc kiểm tra, trong khi đó số cuộc kiểm tra ngân hàng thương mại trong nước chỉ là 167 cuộc - chiếm 6,1%, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 86 cuộc - chiếm 3,2%, ngân hàng 100% vốn nước ngoài là 4 cuộc - chiếm 0,1% và công ty tài chính là 27 cuộc - chiếm 1% [26] Thậm chí các cuộc kiểm tra này của tổ chức BHTG vẫn chỉ dừng lại ở việc kiểm tra việc tính và nộp phí BHTG, việc niêm yết chứng nhận BHTG, quản lý, hạch toán tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm, chấp hành quy định thông tin báo cáo đối với tổ chức BHTG
Trang 332.1.2 Quy định về tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Hiện nay, chủ thể tham gia BHTG được quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng được nhận tiền gửi của
cá nhân
Khoản 1 Điều 10 Luật các TCTD 2010 quy định tổ chức tín dụng có
trách nhiệm "tham gia tổ chức bảo toàn, bảo hiểm tiền gửi theo quy định của
pháp luật và công bố công khai việc tham gia tổ chức bảo toàn, bảo hiểm tiền gửi tại trụ sở chính và chi nhánh" Trong đó, tổ chức tín dụng được hiểu: là
doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân [khoản 1, Điều 4, Luật các TCTD 2010] Các tổ chức tham gia BHTG bao gồm:
- Các Ngân hàng thương mại Nhà nước;
- Ngân hàng cổ phần;
- Ngân hàng nước ngoài;
- Ngân hàng liên doanh;
- Quỹ tín dụng nhân dân;
- Công ty tài chính;
- Công ty cho thuê tài chính
Tính đến nay, có 1.044 tổ chức tham gia BHTG bao gồm 3 ngân hàng thương mại nhà nước, 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 5 ngân hàng liên doanh, 46 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 11 công ty tài chính, 1 quỹ tín dụng nhân dân trung ương và 941 quỹ tín dụng cơ sở
Trong thực tế, với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính, số lượng và loại hình các tổ chức tham gia BHTG ngày càng tăng lên Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, việc bảo vệ người gửi tiền ở