Bên cạnh các Luận văn thạc sĩ Luật học và Luận án tiến sĩ Luật học đã kể ở trên, còn nhiều bài viêt với các nội dung liên quan đến Bảo hiểm thất nghiệp đã được đăng trên các báo và tạp c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-*** -
NGÔ THỊ THUỶ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60.38.01.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH XUÂN THẢO
HÀ NỘI - 2013
Trang 2Đề tài luận văn “Hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt
Nam hiện nay” được thực hiện từ tháng 12/2012 đến tháng 5/2013 Luận văn sử
dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ
rõ nguồn gốc, có một số thông tin thu thập từ thực tế ở địa phương, một số số liệu đã được phân tích, tổng hợp và xử lý với mục đích nghiên cứu khoa học trong phạm vi đề tài luận văn
Tôi xin cam đoan:
1 Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và
có nguồn trích dẫn rõ ràng, đảm bảo
2 Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này hoàn toàn vì mục tiêu khoa học, cống hiến, không có mục đích vụ lợi hoặc làm sai lệch thông tin ảnh hưởng đến đường lối chính trị của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước
3 Cam kết đã nghiêm túc nghiên cứu, minh bạch trong sử dụng thông tin, không làm ảnh hưởng đến uy tín của bất cứ nhà nghiên cứu nào có liên quan đến
đề tài của luận văn
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Trang 3- BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp
Trang 4Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
6
1.1 Khái quát chung về Bảo hiểm thất nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm thất nghiệp và người thất nghiệp 6
1.1.2 Khái niệm Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm thất nghiệp 8
1.1.3 Các nguyên tắc của Bảo hiểm thất nghiệp 12
1.2 Khái niệm, Nội dung pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp 14
1.2.1 Khái niệm pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp 14
1.2.2 Nội dung Pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp 15
1.3 Khái niệm hoàn thiện pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp 22
1.3.1 Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về Bảo hiểm
Trang 51.4.1 Bảo hiểm thất nghiệp ở Hàn Quốc 27
1.4.2 Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp Thái Lan 31
1.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ kinh nghiệm quốc tế 33 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT
NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chương 3.YÊU CẦU, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
60
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp 60
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về BHTN xuất phát từ thực tế khách quan 60
3.1.2 Đảm bảo sự định hướng của Đảng trong quá trình hoàn thiện pháp
luật Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
61
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp 63
3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp 63
3.2.2 Một số giải pháp hỗ trợ khác 69
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế khác nhau Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp được thể hiện một cách rõ nét nhất và được thừa nhận là hiện tượng kinh tế xã hội tất yếu Từ đầu thế kỷ XXI trở lại đây, suy thoái kinh tế tác động không nhỏ đến nền kinh tế toàn cầu, tình trạng thất nghiệp gia tăng và trở thành một vấn nạn của nhiều quốc gia trên thế giới Việt Nam chúng ta ít chịu ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu, tình trạng thất nghiệp cũng chưa đến mức báo động, nhưng thất nghiệp cũng đã và đang gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế của đất nước
Bảo hiểm thất nghiệp là chính sách mới và được quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2009, là một chính sách
an sinh xã hội mới có ý nghĩa rất lớn đối với người lao động Tuy mới thực hiện nhưng Nhà nước ta đã tiến hành nhiều biện pháp tích cực nhằm đưa chính sách mới vào cuộc sống, đưa ra các giải pháp hữu hiệu để Bảo hiểm thất nghiệp thực
sự phát huy được ý nghĩa an sinh xã hội Nếu như trước khi có Bảo hiểm thất nghiệp, người lao động sau khi mất việc làm gần như đơn độc trong quá trình tìm công việc mới để trở lại thị trường lao động, thì nay họ được tư vấn, giới thiệu việc làm mới, hỗ trợ học nghề và hưởng trợ cấp thất nghiệp, đặc biệt trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động còn được hưởng Bảo hiểm ý tế
Là một chế độ mới, hoàn toàn không có tiền lệ nên trong quá trình thực hiện không thể tránh khỏi những vướng mắc Vì vậy, nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về Bảo hiểm thất nghiệp và thực trạng thực hiện để từ
đó đưa ra các giải pháp hoàn hiện là rất cần thiết Chính vì vậy tác giả luận văn
đã chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện
nay” với mong muốn góp phần cung cấp thông tin về thực trạng và cơ sở khoa
học để các cơ quan xây dựng pháp luật, cơ quan quản lý nhà nước tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh và áp dụng pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiên nay
Trang 72 Tình hình nghiên cứu
Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ kinh tế - pháp lý đã được các nước phát triển trên thế giới thực hiện từ những năm đầu của thế kỷ 20 Ở các nước có nền kinh tế thị trường, việc phải đương đầu với vấn đề thất nghiệp luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu Một xã hội phát triển là xã hội có hệ thống chính sách, chế độ an sinh xã hội hoàn chỉnh và đồng bộ Ở Việt Nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, vấn đề thất nghiệp đã trở thành một vấn đề xã hội
Năm 2000, trong luận văn thạc sĩ Luật học “ Thất nghiệp và việc xây dựng
chế độ Bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác
giả Đỗ Năng Khánh đã nghiên cứu về mặt lý luận vấn đề thất nghiệp và sự điều chỉnh pháp luật đối với Bảo hiểm thất nghiệp trong cơ chế thị trường Luận văn
đã phân tích tình hình giải quyết việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam và các chế
độ hỗ trợ người thất nghiệp của Nhà nước từ trước đến nay, cũng như những kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các nước và quốc tế trong lĩnh vực này nhằm đưa ra những ý kiến có tính chất bước đầu về việc xây dựng chế độ Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam Tuy nhiên, thời điểm này Luật Bảo hiểm Xã hội chưa được ban hành, nội dung của đề tài này chỉ dừng lại ở những vấn đề mang tính định hướng
Năm 2004, trong Luận án tiến sĩ Luật học “Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, tác giả Lê Thị Hoài Thu đã đưa ra
những kinh nghiệm thực hiện Bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước trên thế giới cũng như quy định về Bảo hiểm thất nghiệp của tổ chức Lao động quốc tế từ đó chỉ ra những nội dung cần thiết của chế độ Bảo hiểm thất nghiệp khi được triển khai ở Việt Nam
Năm 2008, trong Luận án tiến sĩ Luật học “Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam”, tác giả Lê Hiền Phương cũng đã đề cập đến Bảo hiểm thất nghiệp như là một chế độ của Bảo hiểm xã hội bắt buộc Vì vậy, nội dung đề cập đến Bảo hiểm thất nghiệp mới dừng lại ở việc khái quát một nội dung chính của Bảo hiểm thất nghiệp
Trang 8Gần đây nhất, vào năm 2012 trong Luận văn Thạc sĩ Luật học “ Pháp luật
Bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện ở Nghệ An” của tác giả Ngô Thị
Thu Hoài cũng đã tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về Bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn áp dụng ở Nghệ An từ thời điểm bắt đầu triển khai Bảo hiểm thất nghiệp
Bên cạnh các Luận văn thạc sĩ Luật học và Luận án tiến sĩ Luật học đã kể ở trên, còn nhiều bài viêt với các nội dung liên quan đến Bảo hiểm thất nghiệp đã
được đăng trên các báo và tạp chí chuyên ngành như: “Một số vấn đề về Bảo
hiểm thất nghiệp” của Thạc sĩ Trần Thuý Lâm đăng trên Tạp chí Luật học số
03/2004; “Vấn đề quản lý Bảo hiểm thất nghiệp ở nước ngoài” của Tiến sĩ Lê Thị Hoài Thu đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 04/2005; “Bảo hiểm
thất nghiệp chỉ nên quy định về nguyên tắc và định hướng” của Tiến sĩ Nguyễn
Thị Kim Phụng đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 03/2006; “Hoàn thiện
chế độ Bảo hiểm thất nghiệp trong dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội” của Tiến sĩ
Lê Thị Hoài Thu đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 05/2006; “Quy định
về Bảo hiểm thất nghiệp trong Công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và một số nước trên thế giới” của Tiến sĩ Lê Thị Hoài Thu đăng trên Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật số 06/2006; “Bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Bảo hiểm xã
hội Việt Nam – Đôi điều cần biết” của Tiến sĩ Lê Thị Hoài Thu đăng trên tạp chí
Nhà nước và Pháp luật số 11/2008…
Như vậy, theo những tài liệu mà tác giả ghi nhận được, cho đến nay chưa
có công trình tập trung nghiên cứu và đánh giá kết quả thực hiện Bảo hiểm thất nghiệp kể từ khi triển khai thực hiện và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện Pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam Vì vậy, đề tài “Hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay” không trùng với các công trình khoa học đã được công bố
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là tìm hiểu về cơ sở lý luận của Bảo hiểm thất nghiệp, nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp kể từ khi pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp được chính thức áp dụng ở Việt Nam đến nay; trên cơ
sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp
và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về Bảo hiểm thất nghiệp như: Các khái niệm về thất nghiệp; người thất nghiệp; Bảo hiểm thất nghiệp; Nội dung cơ bản của Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp làm cơ sở để đánh giá hệ thống pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp hiện hành ở nước ta
- Nghiên cứu các quy định cơ bản của Bảo hiểm thất nghiệp như đối tượng tham gia, điều kiện hưởng và các chế độ của Bảo hiểm thất nghiệp
- Nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp từ kết quả thực hiện sau 3 năm triển khai ở Việt Nam, đưa ra những đánh giá về những mặt tích cực, hạn chế để từ đó kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp và nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp hiện hành của Việt Nam và thực tiễn thực hiện kể từ khi chính sách Bảo hiểm thất nghiệp chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2009 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện dựa trên phương pháp luận của triết học Mác – Lênin
về duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; Các quan điểm mang tính nguyên tắc của Đảng và Nhà nước về chính sách an xinh
xã hội, đảm bảo cuộc sống ổn định cho người lao động trong quá trình tham gia vào thị trường lao động
Bên cạnh đó, Luận văn còn sử dụng các phương pháp logic, phân tích, tổng hợp, so sánh để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra
Trang 106 Đóng góp của Luận văn
Luận văn góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận về pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp; Nêu rõ kết quả đã đạt được trên phạm vi toàn quốc sau 3 năm kể từ khi triển khai chính sách Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, đưa ra những số liệu
cụ thể làm căn cứ đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp Trên cơ sở đánh giá thực trạng thực hiện, Luận văn chỉ ra những bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật để từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp và nâng cao hiệu quả thực hiện Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Bảo hiểm thất nghiệp
Chương 2 Thực trạng pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay Chương 3: Yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
1.1 Khái quát chung về Bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1 Khái niệm thất nghiệp và người thất nghiệp
Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế xã hội tồn tại ở hầu hết các quốc gia khi phát triển theo mô hình kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp được biểu lộ một cách rõ nét nhất và được thừa nhận là hiện tượng kinh
tế xã hội Mỗi quốc gia trên thế giới, tuỳ vào cách tiếp cận mà có quan điểm khác nhau về thất nghiệp
Theo Luật về hỗ trợ lao động ngày 25/6/1969 của Cộng hoà liên bang Đức, thất nghiệp được hiểu là người lao động tạm thời không có quan hệ việc làm hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn Còn theo Luật về trợ cấp chờ việc của Trung Quốc năm 1995 thì thất nghiệp là hiện tượng người đang làm việc bị mất việc làm vì những lý do khác nhau
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra khái niệm thất nghiệp tại Điều
20, Công ước số 102 (1952) như sau: “Thất nghiệp là hiện tượng người lao động
bị ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc”
Ở nước ta, dưới góc độ pháp lý thì thuật ngữ “thất nghiệp” cũng đã được đề cập ở hai văn bản, đó là: Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 (Điều 76) và Nghị định số 233/HĐBT ngày 22/6/1990 của Hội đồng bộ trưởng ban hành quy chế lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (khoản 1 Điều 46) Tuy nhiên hai văn bản này mới chỉ đề cập thuật ngữ thất nghiệp mà không đưa ra một định nghĩa về thất nghiệp
Nếu ‘thất nghiệp” là một hiện tượng xã hội, chỉ trạng thái chung của những người không có việc làm thì “người thất nghiệp” dùng để chỉ những cá nhân
Trang 12đang trong tình trạng đi tìm việc làm và đảm bảo một số tiêu chí khác (như trong
độ tuổi lao động, có khả năng làm việc ngay…)
Việc xác định các tiêu chí để được coi là “người thất nghiệp” ở các quốc gia có thể không giống nhau Cộng hoà liên bang Đức quan niệm người thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn Cộng hoà Pháp cho rằng người thất nghiệp là người có đủ điều kiện để làm việc nhưng không có việc làm và đang tìm việc Nhật bản quan niệm người thất nghiệp là người không có việc làm trong tuần lễ điều tra thất nghiệp, có khả năng làm việc, đang tích cực tìm việc làm… Nhìn chung, dù còn chưa hoàn toàn thống nhất quan điểm về người thất nghiệp nhưng đa số các quốc gia đều cho rằng để được coi là người thất nghiệp phải đảm bảo các tiêu chí sau đây:
- Có khả năng lao động
- Không có việc làm
- Đang tích cực tìm kiếm việc làm
Ngoài ra, để phù hợp với cơ chế quản lý nguồn lao động của từng quốc gia, thực hiện việc chi trả chế độ bảo hiểm thất nghiệp, khuyến khích người lao động chủ động tìm kiếm việc làm, các nước có thể đưa ra các điều kiện bổ sung
để được công nhận là người thất nghiệp như:
- Đã đăng ký tìm việc làm ở cơ quan quản lý lao động
- Không có nguồn thu nhập dưới dạng tiền hưu trí, tiền mất sức lao động hay các nguồn thu nhập khác do người sử dụng lao động trả
- Giới hạn về độ tuổi
- Sẵn sàng làm việc theo sự giới thiệu của cơ quan lao động dưới mọi hình thức (việc làm công cộng, việc làm tạm thời, việc làm phù hợp hoặc không phù hợp với chuyên môn)
Trên cơ sở quan điểm về thất nghiệp của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) ở trên, Văn phòng lao động quốc tế (BTI) đã đưa ra khái niệm về người thất
nghiệp như sau: “Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động nhưng không có việc làm Họ có thể là người chưa có việc làm
Trang 13hoặc đã có việc làm nhưng đã thôi việc và đang cần tìm việc làm có thu nhập”
[11, tr 207]
Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 4, Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm
2006, khái niệm người thất nghiệp được hiểu như sau: “Người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”
Theo quan điểm của Tác giả, người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm nhưng không có việc làm Vì vậy, tác giả không hoàn toàn đồng tình với khái niệm về người thất nghiệp được quy định tại khoản 4, Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 Tuy nhiên, tại thời điểm chúng ta thực hiện chính sách Bảo hiểm thất nghiệp, ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp chỉ giới hạn thực hiện các chế độ cho những người tham gia Bảo hiểm thất nghiệp, nên khái niệm về người thất nghiệp được quy định tại khoản 4, Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 là hợp lý
1.1.2 Khái niệm Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm thất nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở… Để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, có nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người Trong thực tế cuộc sống, không phải người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc Ngược lại, người nào cũng có thể gặp phải những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay già yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của
tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác… Khi rơi vào các trường hợp đó, các nhu cầu thiết yếu của con người không vì thế mà mất đi Trái lại, có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện
Trang 14thêm nhu cầu mới Bởi vậy, muốn tồn tại, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình thì ngoài việc tự mình khắc phục, người lao động phải được sự bảo trợ của cộng đồng và xã hội Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện và phát triển cùng với quá trình phát triển kinh tế -xã hội của nhân loại Hệ thống bảo hiểm xã hội hình thành đầu tiên trên thế giới ở Đức dưới thời thủ tướng Bismark với cơ chế ba bên (Nhà nước, giới chủ, giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao động trong một số trường hợp rủi ro Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội và coi nó là một trong những chính sách quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội
Có thể nói, qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa nhiều vấn đề của giới chủ và giới thợ, cùng với sự đổi mới quá trình phát triển kinh tế xã hội, cùng với trình độ chuyên môn và nhận thức về BHXH của người lao động ngày càng được nâng cao, cách thức chủ động khắc phục khi có những sự kiện hoặc không may gặp những rủi ro xảy ra ngày càng hoàn thiện Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết được BHXH Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người như trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nêu
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra khái niệm về BHXH như sau: BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và
xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con
Từ điển giải thích từ ngữ Luật học xác định: BHXH là bảo hiểm cho thu nhập của người lao động trong một số trường hợp, do Nhà nước tổ chức quản lý
Trang 15Đặc trưng cơ bản để phân biệt BHXH với các loại hình bảo hiểm khác là sự kết hợp nghĩa vụ của người sử dụng lao động, việc thực hiện chính sách bảo đảm xã hội của nhà nước với sự tương trợ cộng đồng giữa những người lao động để ổn định cho họ và gia đình họ trong và sau quá trình lao động [12, tr85].
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật BHXH năm 2006 thì bảo hiểm xã hội được định nghĩa như sau: “ Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm sút hoặc mất thu nhập
do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”
Định nghĩa về bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật BHXH ở trên tương đối đầy đủ khi nêu lên được bản chất của bảo hiểm xã hội đồng thời khái quát toàn bộ các chế độ mà người tham gia bảo hiểm xã hội được hưởng nếu xảy ra những rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp…
Ở nước ta hiện nay thực hiện một số chế độ bảo hiểm sau: Chế độ bảo hiểm
ốm đau và nghỉ dưỡng sức; Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Chế độ bảo hiểm thai sản; Chế độ hưu trí; Chế độ tử tuất và chế độ bảo hiểm thất nghiệp
1.1.2.2 Khái niệm Bảo hiểm thất nghiệp
Cùng với xu thế toàn cầu hoá, tình trạng thất nghiệp là điều không tránh khỏi và xảy ra tại hầu hết quốc gia phát triển theo nền kinh tế thị trường Để ổn định đời sống người lao động cũng như trật tự an toàn xã hội, nhiều biện pháp
đã được đưa ra để hỗ trợ người lao động trong thời gian không có việc làm, học nghề và tìm kiếm một công việc khác Một trong số các biện pháp đó là xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp xuất hiện lần đầu ở Châu Âu, trong một nghề khá phổ biến và phát triển: nghề sản xuất các mặt hàng thuỷ tinh ở Thuỵ Sĩ Nghề này có tính chất rủi ro cao, năm 1983 các chủ doanh nghiệp ở Thuỵ Sĩ đã lập ra quỹ doanh nghiệp để trợ cấp cho những người thợ phải nghỉ việc vì lý do thời vụ sản xuất Sau đó, nhiều nghiệp đoàn ở Châu Âu cũng đã lập ra quỹ công đoàn để trợ
Trang 16cấp cho đoàn viên trong những trường hợp phải nghỉ việc, mất việc Tiền trợ cấp được tính vào giá thành sản phẩm và người dùng hàng hoá phải gánh chịu Khi thấy rõ vai trò và tác dụng của trợ cấp nghỉ việc, mất việc đối với công nhân, nhiều cấp chính quyền địa phương đã tổ chức liên kết các doanh nghiệp, các nghiệp đoàn lao động để hình thành quỹ trợ cấp, thực chất đó là quỹ BHTN Tham gia đóng góp cho quỹ lúc này không chỉ có giới chủ và cả những người lao động có công việc làm không ổn định Để tăng mức trợ cấp thất nghiệp đòi hỏi quy mô của quỹ phải lớn, cho nên đã có sự tham gia đóng góp của chính quyền địa phương và trung ương
Bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là một chế độ trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội, có mục đích hỗ trợ thu nhập cho người lao động bị mất thu nhập do thất nghiệp Việc thực hiện BHTN nhằm hỗ trợ cho người lao động bị mất việc làm, giúp họ có điều kiện học nghề, tạo cơ hội để người lao động tiếp tục tham gia thị trường lao động thông qua việc tạo lập và sử dụng một quỹ tiền
tệ tập trung Quỹ này được hình thành do có sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, có sự hỗ trợ của Nhà nước, được sử dụng để trả trợ cấp cho người thất nghiệp, cũng như tiến hành các biện pháp nhằm nhanh chóng giúp người thất nghiệp tìm được việc làm mới Khoản tiền trợ cấp trích từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc làm được gọi là trợ cấp thất nghiệp
Từ những phân tích trên đây có thể hiểu khái niệm BHTN như sau: Bảo
hiểm thất nghiệp là một biện pháp hỗ trợ người lao động trong nền kinh tế thị trường Bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc thì mục đích chính của bảo hiểm thất nghiệp là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp
và ổn định
Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì BHTN là sự đảm bảo, thay thế, bù đắp một phần thu nhập của người lao động trong trường hợp bị mất việc
Trang 17làm, đang có nhu cầu tìm việc làm, đồng thời có một số biện pháp để họ nhanh chóng quay lại thị trường lao động
1.1.3 Các nguyên tắc của Bảo hiểm thất nghiệp
1.1.3.1 Bảo hiểm thất nghiệp kết hợp chế độ trợ cấp tạm thời với chế
độ giải quyết việc làm cho người lao động
Bảo hiểm thất nghiệp có hai chức năng cơ bản là trả trợ cấp thất nghiệp và xúc tiến việc làm cho người lao động Kết hợp hài hoà và đảm bảo thực hiện hai chức năng này được coi là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo mọi hoạt động của bảo hiểm thất nghiệp
Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, bên cạnh việc quy định các mức trợ cấp thất nghiệp, điều kiện và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp nhằm hỗ trợ thu nhập cho người lao động bị mất việc làm, bảo hiểm thất nghiệp còn phải thực hiện các biện pháp nhằm tạo cơ hội cho người lao động tiếp tục tham gia quan hệ lao động Cung cấp thông tin về thị trường lao động, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm… là những biện pháp được bảo hiểm thất nghiệp trực tiếp triển khai trong thực tế nhằm tạo cơ hội việc làm cho người lao động, hạn chế tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội
1.1.3.2 Bảo hiểm thất nghiệp phải vừa bù đắp thu nhập, vừa tạo động lực tích cực cho người thất nghiệp chủ động tìm cơ hội trở lại làm việc
Một trong các vai trò quan trọng của bảo hiểm thất nghiệp là hỗ trợ cuộc sống cho người lao động khi bị mất thu nhập do thất nghiệp Giống như các chế
độ bảo hiểm xã hội khác, quỹ bảo hiểm thất nghiệp phải chi trả cho người đủ điều kiện thụ hưởng một khoản tiền trợ cấp thay lương khi họ ở trong trường hợp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Khi xác định mức trợ cấp thất nghiệp, ngoài việc căn cứ vào khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm thất nghiệp, còn phải khuyến khích người lao động chủ động tìm kiếm việc làm để thoát khỏi tình trạng thất nghiệp Đây là điểm khác trong việc xác định mức trợ cấp thất nghiệp so với các loại trợ cấp của bảo hiểm
xã hội thông thường Nếu quy định mức trợ cấp thất nghiệp cao, thời hạn hưởng
Trang 18trợ cấp kéo dài sẽ gây tâm lý trông chờ vào sự trợ giúp của bảo hiểm thất nghiệp, chấp nhận tình trạng thất nghiệp để hưởng trợ cấp Nhằm hạn chế tình trạng này, thời hạn trợ cấp thất nghiệp phải được quy định hợp lý, vừa đủ thời gian để người lao động tìm việc và học nghề mới hoặc nâng cao tay nghề; mức trợ cấp hàng tháng vừa đủ đảm bảo cuộc sống tạm thời cho người lao động nhưng vẫn buộc họ phải tích cực tìm việc làm, sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu để có thu nhập ở mức cao hơn, ổn định hơn so với khoản tiền trợ cấp của bảo hiểm thất nghiệp
1.1.3.3 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp phải được hình thành theo nguyên tắc ba bên cùng có trách nhiệm
Đối với người lao động và người sử dụng lao động, việc đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp là nghĩa vụ bắt buộc, xuất phát từ tầm quan trọng và những
ý nghĩa to lớn mà bảo hiểm thất nghiệp đem lại cho các bên Đây là sự cụ thể hoá của nguyên tắc cùng nhau chia sẻ rủi ro khi thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp Với ưu thế của loại hình bảo hiểm bắt buộc, quỹ bảo hiểm thất nghiệp sẽ
có nguồn thu đều đặn và ổn định tính theo tỷ lệ phần trăm lương của người lao động trích từ lương hàng tháng và doanh thu của các doanh nghiệp để chi trả cho các trường hợp thụ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, thực hiện các chức năng khác của bảo hiểm thất nghiệp Việc áp dụng hình thức bảo hiểm tự nguyện đối với bảo hiểm thất nghiệp là không phù hợp do những bất cập của loại hình này như nguồn thu không thường xuyên do công việc của người lao động không ổn định, các trường hợp chi trả tăng do nguy cơ mất việc làm nguy cơ mất việc làm của đối tượng tham gia bảo hiểm tự nguyện cao Kết quả thu sẽ không đủ chi và quỹ bảo hiểm thất nghiệp sẽ mất cân đối nghiêm trọng Vì vậy, nguyên tắc chung của quỹ bảo hiểm thất nghiệp là phải đảm bảo nghĩa vụ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động theo hình thức bắt buộc
Bên cạnh nghĩa vụ đóng góp bắt buộc của các bên trong quan hệ lao động, nhà nước cũng cần có sự hỗ trợ cần thiết cho hoạt động của bảo hiểm thất nghiệp Sự hỗ trợ này có thể được thực hiện dưới dạng các khoản tiền cố định
Trang 19được chuyển từ ngân sách nhà nước vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo định kỳ hoặc có thể là sự hỗ trợ nhất thời khi quỹ bảo hiểm thất nghiệp mất cân đối thu chi tài chính Việc đóng góp của nhà nước không đơn thuần chỉ mang ý nghĩa xã hội mà còn liên quan đến trách nhiệm chung khi để xảy ra tình trạng thất nghiệp
do những nguyên nhân khách quan như suy thoái kinh tế, khủng hoảng xã hội hay lạm phát… Ngoài ra, đảm bảo một lượng kết dư cần thiết trong quỹ bảo hiểm thất nghiệp còn giúp nhà nước chủ động về tài chính để giải quyết vấn đề thất nghiệp
1.2 Khái niệm, Nội dung Pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp
1.2.1 Khái niệm pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp
Pháp luật BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả trợ cấp thất nghiệp để bù đắp thu nhập cho người lao động bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa người lao động trở lại làm việc
Giống như các chế độ bảo hiểm xã hội khác, bảo hiểm thất nghiệp cũng xuất phát từ quan hệ lao động, có mục đích bù đắp thu nhập cho người lao động Bên cạnh đó, bảo hiểm thất nghiệp còn có một số điểm riêng như sau:
- Thứ nhất, việc thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp luôn được gắn với vấn
đề giải quyết việc làm cho người lao động Bảo hiểm thất nghiệp do đó vừa có chức năng hỗ trợ khó khăn cho người thất nghiệp khi tạm thời mất thu nhập vừa
có chức năng xúc tiến những hoạt động tìm kiếm và tạo việc làm cho người thất nghiệp
- Thứ hai, bảo hiểm thất nghiệp không chỉ thực hiện chi trả trợ cấp thất
nghiệp mà còn thực hiện các biện pháp khác để đưa người lao động trở lại thị trường lao động Cụ thể như: hỗ trợ học nghề, tư vấn giới thiệu việc làm, đóng góp bảo hiểm y tế cho người lao động trong thời gian bị thất nghiệp Do đó, cơ quan thựchiện bảo hiểm thất nghiệp vừa có trách nhiệm nhận đăng ký thất nghiệp, kiểm tra các điều kiện của người lao động trước khi trả trợ cấp thất nghiệp, vừa phải kịp thời nắm bắt các thông tin về thị trường lao động để giới thiệu việc làm, đào tạo nghề phù hợp cho người thất nghiệp Đây là điểm khác
Trang 20biệt biệt của hoạt động quản lý quản lý bảo hiểm thất nghiệp so với các loại hình bảo hiểm xã hội khác
Thứ ba, đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp là những người
trong độ tuổi lao động, có sức lao động nhưng bị mất việc làm, tạm thời không
có thu nhập và sẵn sàng trở lại làm việc Như vậy, đối tượng hưởng bảo hiểm thất nghiệp là những người lao động bị chấm dứt quan hệ lao động và vẫn có khả năng lao động Còn đối tượng của các chế độ bảo hiểm xã hội khác là những người lao động vẫn đang tồn tại quan hệ lao động (chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản); hoặc chấm dứt quan hệ lao động do không có khả năng tiếp tục làm việc (hưu trí, tử tuất)
Thứ tư, Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ bó hẹp trong việc thực hiện các
nghiệp vụ bảo hiểm xã hội thuần tuý mà còn phải giúp người lao động tìm kiếm việc làm và học nghề để tạo cơ hội tìm một công việc khác Đây là là hai chức năng cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp và cũng là điểm khác biệt cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp so với các chế độ bảo hiểm xã hội khác
Thứ năm, việc xác định điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp khó khăn hơn
so với các chế độ BHXH Sở dĩ như vậy vì ranh giới để phân định giữa có việc làm và không có việc làm, giữa có thu nhập và không có thu nhập không rõ ràng, khó xác định và kiểm tra trong thực tế.[11, tr 211 – 213]
1.2.2 Nội dung Pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp
Cùng với các chế độ bảo hiểm xã hội khác, BHTN đã góp phần ổn định đời sống của người lao động khi họ bị mất việc làm, đồng thời thực hiện các biện pháp hỗ trợ để thúc đẩy quá trình đưa họ trở lại thị trường lao động Nội dung của pháp luật BHTN thường gồm các quy định về đối tượng áp dụng; điều kiện hưởng, mức hưởng và thời gian hưởng BHTN; các chế độ BHTN; quản lý và sử dụng quỹ BHTN …
Hiện nay trên thế giới có 79 quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng chính sách BHTN như Anh (bắt đầu thực hiện năm 1911), Mỹ (1935), Italia (1937), Trung quốc (1986)…Tuy nhiên, quan điểm của các nước về vị trí của chế độ bảo hiểm
Trang 21thất nghiệp trong hệ thống pháp luật quốc gia không hoàn toàn giống nhau Đa
số các nước cho rằng BHTN là một bộ phận của hệ thống BHXH và được quy định trong Luật bảo hiểm xã hội của quốc gia (Anh, Mỹ, Canađa, Thuỵ Điển…) Một số ít các quốc gia (như Ba Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc…) xuất phát từ quan điểm không coi BHTN là biện pháp giải quyết hậu quả thất nghiệp một cách bị động, nhấn mạnh vai trò chủ động của BHTN trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, giảm thất nghiệp, tìm và tạo việc làm cho người lao động…đã ban hành luật về việc làm, trong đó có quy định về trợ cấp thất nghiệp Tại các nước này, quy định về BHTN không thuộc hệ thống pháp luật
về BHXH mà là một chế định trong hệ thống pháp luật về việc làm
Ở góc độ pháp luật quốc tế, vấn đề đảm bảo cuộc sống cho người thất nghiệp đã được ILO đề cập đến trong các công ước:
- Công ước số 44 về về bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp không tự nguyện được Hội nghị toàn thể của Tổ chức lao động quốc tế thông qua ngày 24/6/1934
- Công ước số 102 (gọi tắt là “ Công ước về An toàn xã hội (quy phạm tối thiểu), 1952) được Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế thông qua ngày 28/6/1952
- Công ước số 168 được Hội nghị toàn thể của ILO thông qua ngày 21/6/1988
Từ các văn bản của ILO, pháp luật về BHTN ở một số nước trên thế giới,
có thể thấy chế độ bảo hiểm thất nghiệp gồm các nội dung cơ bản sau:
* Đối tượng tham gia/ hưởng BHTN
Đối tượng của BHTN là mối quan tâm hàng đầu của Tổ chức Lao động quốc tế cũng như các quốc gia trên thế giới ILO đã có nhiều công ước quy định
rõ đối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp Trong Công ước số 44 quy định áp dụng BHTN cho tất cả những người làm việc được trả tiền lương hoặc tiền công Khi cần thiết pháp luật của mỗi quốc gia có thể quy định những ngoại lệ đối với những người giúp việc gia đình, làm việc tại nhà, những người làm dịch vụ công
Trang 22ích của Nhà nước, những người lao động chưa đến tuổi quy định, những người
đã đến tuổi nghỉ hưu, có thu nhập đảm bảo tham gia bảo hiểm thất nghiệp Theo công ước này những người thuộc diện được bảo hiểm bảo hiểm phải đảm bảo các yếu tố sau: có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc; đã đăng ký tìm việc làm tại một cơ sở dịch vụ việc làm công cộng hoặc các cơ sở khác có thẩm quyền; và có thể quy định ngoại lệ đối với số lao động khi có điều kiện
Tiếp đến Công ước số 102 năm 1952 quy định những đối tượng được hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm: Những người làm công ăn lương được quy định, tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương; Hoặc mọi người thường trú mà phương tiện sinh sống trong khi trường hợp thất nghiệp xảy ra không vượt quá giới hạn về mức trợ cấp được quy định tại Điều
67 của Công ước; Hoặc, nếu các quốc gia đã có bản tuyên bố về bảo lưu tạm thời điều khoản trợ cấp thất nghiệp phải bao gồm những người làm công ăn lương mà tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương làm việc trong các cơ sở công nghiệp đang sử dụng 20 người trở lên
Từ hai Công ước trên, có thể thấy:
- Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp là những người làm công ăn lương Tuy nhiên tuỳ vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia có thể mở rộng thêm đối tượng
- Đối tượng hưởng bảo hiểm thất nghiệp là những người đã tham gia BHTN, có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc
Trước tình hình thất nghiệp trên thế giới ngày một gia tăng, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, những người lần đầu tìm kiềm việc làm, các nhà kinh tế của tổ chức ILO cho rằng: các chính sách kinh tế xã hội cần đạt tới sự tăng trưởng bền vững, ổn định, không lạm phát và có những biện pháp mềm dẻo để dễ dàng thích ứng với những thay đổi của nền kinh tế, tạo được nhiều việc làm cho người lao động nhằm chống lại tình trạng thất nghiệp ngoài mong muốn của người lao động Công ước số 168 “ Công ước về xúc tiến việc làm chống lại thất nghiệp” được ILO thông qua năm 1988 nhằm bổ sung, hoàn chỉnh các
Trang 23Công ước và khuyến nghị trước đó trong lĩnh vực việc làm và chống thất nghiệp Điều 11 quy định “ Những người được bảo vệ sẽ gồm những người làm công ăn lương, kể cả những người làm công ăn lương khu vực công cộng và những người học nghề [31]
* Điều kiện, mức trợ cấp và thời gian hưởng hưởng trợ cấp BHTN
- Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp:
Rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm thất nghiệp là rủi ro nghề nghiệp, rủi ro việc làm Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bị mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp Trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp là mức trợ cấp thay tiền lương cho người mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào thị trường lao động
Trên cơ sở quy định của các Công ước quốc tế, các quốc gia thành viên quy định điều kiện để hưởng trợ cấp BHTN phù hợp với điều kiện nước mình Thông thường các điều kiện để người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm: Người tham gia BHTN phải nộp phí bảo hiểm trong một thời gian nhất định và tham gia đóng bảo hiểm trong một thời gian tối thiểu; Phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm việc làm tại cơ quan lao động có thẩm quyền do nhà nước quy định; Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động: trong trường hợp này người lao động phải chứng minh được việc thất nghiệp không do lỗi của bản thân họ; Có sổ bảo hiểm thất nghiệp
- Mức trợ cấp BHTN
Về nguyên tắc, mức trợ cấp BHTN phải thấp hơn mức thu nhập của người lao động khi đang làm việc nhưng vẫn phải bảo đảm đời sống tối thiểu cho người thất nghiệp Công ước 102 quy định mức trợ cấp thất nghiệp là tỉ lệ % so với tổng số tiền lương của một người lao động thất nghiệp có gánh nặng gia đình giống như người được hưởng mẫu (người thụ hưởng mẫu là người có vợ và hai con được hưởng tỷ lệ trợ cấp thất nghiệp là 45%)
Tại Nhật mức hưởng từ 60% đến 80% mức tiền công ngày (tỷ lệ này sẽ cao hơn đối với người có thu nhập thấp; 50% đến 80% cho người thất nghiệp trong
Trang 24khoảng độ tuỏi từ 60 đến 64 Thành phố Bắc Kinh (Trung Quốc) mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp được cấp phát từ 70% đến 90% mức lương tối thiểu trong thành phố Cộng hoà Séc quy định trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp được tính bằng 50% tiền lương tháng trong suốt 3 tháng làm việc đầu tiên; 40% cho 3 tháng tiếp theo; 60 % trong trường hợp ngừơi lao động phải đào tạo lại [31]
-Thời gian hưởng trợ cấp BHTN
Thời gian hưởng trợ cấp BHTN tối đa phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố tài chính, vào quỹ bảo hiểm và thời gian tham gia BHTN, ngoài ra còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội khác
Công ước số 102 của ILO quy định: “việc chi trả trợ cấp thất nghiệp có thể giới hạn ở 13 tuần trong thời kỳ 12 tháng, nếu người được bảo vệ là người làm công ăn lương; 26 tuần trong thời kỳ 12 tháng, nếu người được bảo vệ là người thường trú mà các phương tiện sinh sống trong khi trường hợp bảo vệ xảy ra không vượt ra không vượt quá giới hạn quy định”
Còn theo Công ước số 168 của ILO đã bổ sung Công ước 102, các quốc gia thành viên có thể giới hạn thời gian chi trả trợ cấp thất nghiệp, hoặc tới 39 tuần cho mỗi kỳ thất nghiệp, hoặc tới 39 tuần trong mỗi giai đoạn 24 tháng Nếu quốc gia thành viên đưa ra bản tuyên bố bảo lưu quy định này, thì thời gian chi trả trợ cấp có thể giới hạn tới một tuần trong mỗi thời kỳ 13 tháng, hoặc trung bình 13 tuần nếu pháp luật nước đó quy định rằng thời gian đầu trả trợ cấp sẽ thay đổi theo độ dài thời gian làm việc (Điều 19)
Trên cơ sở quy định của Công ước quốc tế, các nước quy định thời gian trả trợ cấp là khác nhau Thông thường ở các nước, thời hạn hưởng khoảng từ 12 tuần đến 52 tuần lễ như: Cộng hoà Liên bang Đức 13 tuần, Anh 24 tuần, Italia
180 ngày…Tuy nhiên, cũng có một số nước quy định thời gian để hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp rất chặt chẽ Chẳng hạn như: Trung Quốc quy định: trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp sẽ được hưởng trong vòng 12 tháng nếu người bị thất nghiệp đã đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian từ 1 đến 5 năm; những người đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 5 đến 10 năm thì được hưởng
Trang 25trợ cấp thất nghiệp tối đa là 18 tháng; những người đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 10 năm thì sẽ được nhận tối đa là 24 tháng Khi người lao động lại bị thất nghiệp sau khi đã tìm được việc làm thì thời gian đóng góp cho quỹ sẽ được tính toán lại trên cơ sở xem xét khoảng thời gian họ đã nhận bảo hiểm thất nghiệp trước đây, tuy nhiên mức tối đa cũng không được vượt quá 24 tháng [31]
* Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp là một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ
sự đóng góp của các bên tham gia quan hệ BHTN và dùng để chi trả trợ cấp cho người lao động khi bị thất nghiệp theo quy định của pháp luật nhằm đưa người thất nghiệp sớm trở lại thị trường lao động Pháp luật điều tiết việc thành lập quỹ bảo hiểm thất nghiệp bằng hai quy định: những quy định về đóng bảo hiểm và những quy định về quản lý quỹ bảo hiểm Đa số các nước đang phát triển, việc lập quỹ bảo hiểm thất nghiệp gồm 3 bên: người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước Tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước mà mỗi quốc gia có quy định về mức độ đóng góp và cách thức đóng góp vào quỹ bảo hiểm Hầu hết các quốc gia quy định mức đóng góp BHTN trong luật tài chính
để đảm bảo an toàn và chắc chắn cho quỹ hoạt động Mức độ đóng góp vào quỹ BHTN của các nước trên thế giới là không giống nhau Ở Đức, người lao động
và người sử dụng đóng cùng một mức là 3,25%, nhà nước sẽ cấp bù khi Quỹ không đủ để chi trả Ở Trung Quốc, người lao động đóng 1%, người sử dụng lao động đóng 2% và trong trường hợp thiếu thì Nhà nước cấp bù Tỷ lệ đóng bảo hiểm thất nghiệp phụ thuộc vào nội dung sử dụng quỹ BHTN Nếu cố định mức hưởng và thời gian hưởng thì tỷ lệ đóng BHTN sẽ phụ thuộc trực tiếp vào tỷ lệ thất nghiệp
Qua kinh nghiệm thực hiện BHTN ở các nước phát triển cũng như đang phát triển, có thể thấy BHTN là một nhánh của chế độ bảo hiểm xã hội nhưng chế độ BHTN được tạo thành qũy riêng và gắn bó chặt chẽ với các biện pháp thị trường lao động, việc quản lý quỹ BHTN thường do Bộ Lao động quản lý
Để phù hợp với các Công ước của ILO, đảm bảo tính thống nhất và đồng
bộ của hệ thống pháp luật lao động, phù hợp với mục đích của BHTN, theo quy
Trang 26định của pháp luật Việt Nam, BHTN được coi là một chế độ của Bảo hiểm xã hội, và được quy định tại Chương V của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006
Ngay sau khi Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực, để kịp hướng dẫn thực hiện chính sách Bảo hiểm thất nghiệp (chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009), Chính phủ đã ban hành Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp;
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 01 năm 2009 hướng dẫn thực hiện một
số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP nêu trên; trên cơ sở thực tế khi triển khai thực hiện, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đã kịp thời ban hành Thông tư số 34/2009/TT-BLĐTBXH ngày 16 tháng 10 năm 2009 sửa đổi, bổ sung một số điểm Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH, trong đó quy định nội dung rất quan trọng là chuyển nhiệm vụ thực hiện bảo hiểm thất nghiệp từ Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội cấp huyện sang Trung tâm Giới thiệu việc làm thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương Ngày 25 tháng 10 năm 2010, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp (thay thế Thông tư số 04/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25 tháng
10 năm 2010 và Thông tư số 34/2009/TT-BLĐTBXH ngày 16 tháng 10 năm
2009 nêu trên) nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho người lao động và khắc phục, giải quyết được các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện bảo hiểm thất nghiệp
Từ thực tiễn thực hiện chính sách BHTN sau 3 năm thực hiện, vào ngày 21/11/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/2012/NĐ- CP về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ- CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/01/2013 với những quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm thất
Trang 27nghiệp, hỗ trợ học nghề, trình tự và thủ tục thực hiện bảo hiểm thất nghiệp Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 04/2013/TT-BLĐTBXH ngày 01/3/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25 tháng 10 năm 2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP
Tuy Việt Nam thực hiện chính sách BHTN khá muộn so với các nước trên thế giới, nhưng pháp luật về BHTN của chúng ta tương đối hoàn chỉnh do chúng
ta có cơ hội tiếp thu, học tập những kinh nghiệm của các nước đã có hàng thế
kỷ thực hiện chính sách BHTN Bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách an sinh
xã hội có phạm vi tác động khá rộng, với đối tượng là những người lao động làm công ăn lương, lực lượng chính tạo ra thu nhập cho xã hội, vì vậy các quy định của pháp luật BHTN có đầy đủ và phù hợp với thực tế mới phát huy hết được ý nghĩa nhân văn của chính sách này
1.3 Khái niệm hoàn thiện pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp
Trên thực tế, các quan hệ xã hội luôn luôn vận động, đòi hỏi các quy phạm pháp luật cũng phải có sự điều chỉnh để phù hợp với sự vận động của các quan
hệ xã hội Do đó, hoàn thiện pháp luật là một trong những công việc thường xuyên của bất cứ quốc gia nào Bảo hiểm thất nghiệp là chính sách mới được thực hiện ở Việt Nam từ năm 2009 đến nay, là một chính sách mới nên trong qúa trình thực hiện vẫn còn nhiều điểm chưa hoàn phù hợp với thực tiễn Việc nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp là nhu cầu tất yếu, đòi hỏi cũng phải bảo đảm được những tiêu chuẩn và yêu cầu nhất định
Để hoàn thiện pháp luật về BHTN hết các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải đánh giá được thực trạng việc thực hiện các quy định của pháp luật BHTN hiện hành, trên cơ sở các kết quả cụ thể đưa ra những nhận định về tính phù hợp hay chưa phù hợp của các quy phạm pháp luật Bên cạnh đánh giá về nội dung, cần phải đánh giá về mặt hình thức, nhất là các quy định về thẩm
Trang 28quyền, trình tự, thủ tục thực hiện BHTN để bảo đảm cho các bên tham gia BHTN thực hiện chính sách một cách thuận lợi nhất Trên cơ sở kết quả đánh giá thực trạng và dựa trên những quan điểm, yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về BHTN, bằng kỹ thuật, trình độ lập pháp cao để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về BHTN
Quá trình hoàn thiện pháp luật về BHTN, một trong những yêu cầu quan trọng nhất đó là pháp luật BHTN phải bảo đảm điều chỉnh được các quan hệ xã hội có liên quan đến BHTN xảy ra trong thực tiễn Theo đó, các quy phạm pháp luật về BHTN được ban hành, sửa đổi, bổ sung đều xuất phát từ những yêu cầu khách quan, phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và phát huy được hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội
Như vậy, có thể định nghĩa: Hoàn thiện pháp luật về BHTN là quá trình
làm cho các quy định của pháp luật về BHTN đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn, tính dự báo và đạt trình độ kỹ thuật pháp lý cao đáp ứng yêu cầu là một chính sách an sinh xã hội lớn của Nhà nước
1.3.1 Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp
Đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về BHTN là một công việc hết sức khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải dựa trên những tiêu chí nhất định, trên thực
tế, có nhiều tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật nói chung và pháp luật về BHTN nói triên Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật hay mỗi ngành luật, lĩnh vực pháp luật, chế định pháp luật được đánh giá cũng dựa trên những tiêu chí khác nhau Thông thường để đánh giá mức độ hoàn thiện của một
hệ thống pháp luật ta dựa vào các tiêu chí cơ bản là: tính toàn diện, tính đồng bộ,
tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật Để đánh giá
mức độ hoàn thiện pháp luật về BHTN, chúng ta cần dựa vào các tiêu chí sau:
1.3.1.1 Đảm bảo tính toàn diện
Tính toàn diện là tiêu chuẩn đầu tiên thể hiện mức độ hoàn thiện của hệ
thống pháp luật Có thể nói đây là tiêu chuẩn để “định lượng” một hệ thống
Trang 29pháp luật nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng, vì chỉ khi nào định lượng được
mới có thể tiếp tục nghiên cứu để “định tính” Tính toàn diện ở mức độ chung
nó đòi hỏi hệ thống pháp luật phải có đủ các ngành luật theo cơ cấu nội dung lôgíc và thể hiện thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương ứng Tính toàn diện ở mức độ cụ thể nó đòi hỏi mỗi ngành luật phải có đủ các chế định pháp luật và các quy phạm pháp luật Tính toàn diện của pháp luật về BHTN phải bảo đảm cả về mặt hình thức và nội dung, điều chỉnh được các quan
hệ pháp luật về BHTN, trong đó, bất cứ một trường hợp cụ thể nào xảy ra trên thực tế đều có thể căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành để áp dụng, điều chỉnh
1.3.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ
Pháp luật về BHTN phải thể hiện sự thống nhất của nó Khi xem xét mức
độ hoàn thiện của pháp luật về BHTN chúng ta cần chú ý xem giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật đó có trùng lặp, chồng chéo hay mâu thuẫn không? Sau khi xem xét tính toàn diện cần phải dựa vào tính đồng bộ của pháp luật để đi sâu phân loại, đặt các bộ phận của hệ thống pháp luật trong mối liên hệ qua lại để phân tích, đối chiếu, xác định rõ mức độ thống nhất (đồng bộ) trên cơ sở đó tiếp tục xác định tính chất và trình độ của một hệ thống pháp luật Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành hay sửa đổi, bổ sung phải bảo đảm được sự thống nhất với các văn bản khác trong hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật
về lĩnh vực này nói riêng, không mâu thuẫn, chồng chéo với các văn bản luật, nhất là các văn bản đang có hiệu lực pháp luật, đồng thời bảo đảm được sự thống nhất giữa các quy phạm pháp luật trong cùng một văn bản pháp luật về xử BHTN Mặt khác, các quy định của pháp luật về BHTN phải bảo đảm tính thứ bậc trên - dưới Các quy định của pháp luật về BHTN không trái với các quy định khác trong hệ thống pháp luật nhất là Hiến pháp, các đạo luật
1.3.1.3 Đảm bảo tính phù hợp với thực tiễn
Pháp luật về BHTN phải có tính phù hợp với thực tiễn, khả thi và dễ vận dụng Các quy định của pháp luật về BHTN xây dựng phải dựa trên cơ sở thực
Trang 30tiễn, bảo đảm sự phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước Thực tiễn chính là tiêu chuẩn để kiểm tra, đánh giá lại pháp luật có phù hợp không, có hiệu lực, hiệu quả không Pháp luật về BHTN phải được xây dựng và hoàn thiện trên cơ sở các quan hệ xã hội hiện đang tồn tại, đồng thời, các phương pháp, cách thức điều chỉnh của pháp luật về BHTN cũng phải phù hợp với trình độ phát triển của đất nước
1.3.1.4 Đảm bảo tính dự báo
Pháp luật về BHTN phải có tính dự báo nhằm đảm bảo tính ổn định tương đối của pháp luật, tránh việc các văn bản quy phạm pháp luật lạc hậu ngay sau khi vừa ban hành Tính dự báo của pháp luật về BHTN thể hiện ở chổ pháp luật
về lĩnh vực này không chỉ quy định về đối tượng tham gia, mức đóng, các chế
độ của BHTN, mà từ việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá các điều kiện thực tế
và qua công tác dự báo, các nhà làm luật còn phải quy định trong hệ thống pháp luật những tình huống tuy chưa xảy ra trong đời sống xã hội nhưng sẽ xảy ra trong tương lai gần Ngoài ra, pháp luật về BHTN cũng phải đánh giá được sự thay đổi các điều kiện kinh tế - xã hội để định liệu những tình huống phù hợp với thực tiễn, nếu không pháp luật sẽ nhanh chóng bị sửa đổi, bổ sung
1.3.1.5 Pháp luật về BHTN phải được xây dựng trên cơ sở trình độ kỹ thuật pháp lý cao
Hệ thống các quy phạm pháp luật về BHTN phải được cấu trúc một cách chặt chẽ, logic, khoa học theo chương, mục, điều, khoản, điểm; các khái niệm, định nghĩa, thuật ngữ được sử dụng phải bảo đảm sự chuẩn xác, đơn nghĩa, trong sáng về ngôn ngữ, bảo đảm dễ hiểu và phù hợp với khả năng nhận thức, ý thức pháp luật của xã hội Trong từng văn bản quy phạm pháp luật thì các bộ phận và các quy định đều có cấu trúc thích hợp và giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất nội tại với nhau
Như vậy, việc xác định đúng đắn các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về BHTN có ý nghĩa sâu sắc và quan trọng Vì chỉ khi nào xác định rõ
Trang 31các tiêu chí này thì chúng ta mới có cơ sở vững chắc để hoàn thiện và áp dụng pháp luật về BHTN một cách có hiệu quả trên thực tế
1.3.2.Những nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp
1.3.2.1 Sự tác động của quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong những năm vừa qua đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập cho người dân Yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội cũng đặt ra yêu cầu quản lý nhà nước ngày càng phải được nâng cao cho tương ứng Pháp luật là công cụ quản lý hữu hiệu của nhà nước và
sự phát triển kinh tế - xã hội khiến các quan hệ xã hội thêm phong phú, đa dạng hơn
Vì vậy, trong quá trình hoàn thiện pháp luật BHTN cần cố gắng dự liệu được các tình huống sẽ nảy sinh trong thực tế để kịp thời điều chỉnh Pháp luật trong lĩnh vực này cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.3.2.2 Sự tác động của ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật mang tính chính trị sâu sắc Nội dung của ý thức pháp luật luôn phản ánh những nhu cầu về chính trị, thể hiện mối quan hệ của các giai cấp đối với các quy định của pháp luật do nhà nước ban hành có liên quan trực tiếp đến đời sống chính trị xã hội Ngoài ra, ý thức pháp luật còn bao gồm cả những yếu tố tâm lý xã hội như cảm giác, tình cảm, quan niệm, thể hiện những mối quan hệ cụ thể đối với các quy phạm pháp luật, đối với các quyền và nghĩa vụ
Vì vậy, vai trò giáo dục của pháp luật cần được đề cao trong quá trình hoàn thiện pháp luật về BHTN
1.3.2.3 Sự tác động của yếu tố văn hóa, truyền thống dân tộc
Văn hóa là sản phẩm tinh hoa của con người, là yếu tố quyết định cách xử
sự của con người và gắn bó với con người Yếu tố văn hóa thường chi phối và ảnh hưởng đến pháp luật, có sự tác động đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về BHTN nói triêng, trong đó nhiều quy phạm pháp
Trang 32luật được xác lập dựa trên cơ sở nền tảng của văn hóa Vì vậy, trong quá trình hoàn thiện pháp luật BHTN cũng cần chú ý các yếu tố văn hóa để phát huy, bảo
vệ được những giá trị văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.3.2.4 Sự tác động của quá trình hội nhập quốc tế
Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực
và toàn cầu Vì vậy, hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về BHTN nói riêng cần được hoàn thiện theo hướng phù hợp với điều ước quốc tế, thông lệ quốc tế và các cam kết của Việt Nam Đây là xu hướng buộc chúng ta phải thực hiện để hội nhập kinh tế quốc tế
1.4 Kinh nghiệm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước trên thế giới
1.4.1 Bảo hiểm thất nghiệp ở Hàn Quốc
Nhờ tăng trưởng kinh tế liên tục, cho đến nửa đầu của năm 1996 Hàn Quốc
đã duy trì được một tỷ lệ thất nghiệp thấp khoảng 2% Sau đó tăng trưởng kinh
tế bắt đầu chậm lại, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, tình hình việc làm của Hàn Quốc xấu đi một cách nghiêm trọng, tổng việc làm giảm và thất nghiệp tăng do suy thoái kinh tế, lòng tin của quốc tế giảm, quá trình tái cơ cấu của các tập đoàn gia tăng và tuyển dụng lao động mới giảm
Vì vậy, cùng với việc triển khai chính sách kinh tế theo cách thức giảm thất nghiệp tổng thể, Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng và thực hiện các biện pháp chống thất nghiệp một cách toàn diện nhằm tạo việc làm cho người thất nghiệp, giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của thất nghiệp, duy trì khả năng và khuyến khích mong muốn làm việc của người thất nghiệp và giảm số lượng người có thời gian thất nghiệp dài Với nhận thức rõ ràng rằng các chính sách thị trường lao động đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giải quyết tình trạng thất nghiệp, cho nên trong một thời gian dài Hàn Quốc đã phát triển một hệ thống toàn diện được gọi là bảo hiểm việc làm bao gồm các chương trình bảo hiểm thất nghiệp, đào tạo và duy trì việc làm và thúc đẩy hỗ trợ việc làm
Trang 33Hệ thống Chính sách bảo hiểm việc làm được ban hành ngày 1 tháng 7 năm
1995 nhằm giải quyết sự mất cân đối giữa cung và cầu đối với lực lượng lao động, thực hiện các biện pháp hỗ trợ đối với điều chỉnh việc làm do quá trình tái
cơ cấu của các tập đoàn và củng cố hệ thống đào tạo nghề
Nhờ các biện pháp này, tỷ lệ thất nghiệp ở mức 8,7% vào tháng 1/1999
đã giảm xuống mức bình quân năm là 3,7% năm 2001 Trong năm 2002, Chính phủ đã thay đổi định hướng chính sách việc làm của mình từ việc giảm số lượng thất nghiệp sang cải thiện chất lượng các biện pháp về an toàn việc làm Chính sách việc làm đã được thực hiện với trọng tâm giảm tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu trong thanh niên và củng cố các dịch vụ hỗ trợ việc làm đối với những nhóm thiệt thòi, chẳng hạn những người có thời gian thất nghiệp dài Kết quả là tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 1 năm 2002 từ 3,7% đã giảm xuống còn 2,6% trong tháng 10 cùng năm
Hệ thống chính sách Bảo hiểm việc làm của Hàn Quốc được xem như
một hệ thống chính sách toàn diện bao gồm chính sách thị trường lao động và bảo hiểm xã hội Chính sách bảo hiểm việc làm không chỉ thực hiện chức năng truyền thống là cung cấp trợ cấp thất nghiệp đối với người thất nghiệp mà còn thực hiện chức năng xúc tiến điều chỉnh cơ cấu các ngành, ngăn ngừa thất nghiệp, xúc tiến các hoạt động bảo đảm việc làm để tăng việc làm và xúc tiến các hoạt động phát triển kỹ năng nghề đối với người lao động Bộ Lao động chịu trách nhiệm hướng dẫn thực hiện hệ thống chính sách bảo hiểm việc làm này
Cơ quan Phúc lợi Lao động Hàn Quốc (trực thuộc Bộ Lao động) triển khai và thực hiện thu bảo hiểm Các Văn phòng lao động địa phương thực hiện chi trả chế độ bảo hiểm việc làm (thông qua tài khoản cá nhân) Hệ thống chính sách Bảo hiểm việc làm của Hàn Quốc gồm bốn cấu phần chính: chương trình bảo đảm việc làm, chương trình phát triển kỹ năng nghề, trợ cấp thất nghiệp
Chương trình bảo đảm việc làm bao gồm tất cả những hoạt động đảm bảo
an toàn việc làm trong thời kỳ thay đổi cơ cấu ngành, nghề và công nghệ bằng cách chống thất nghiệp, khuyến khích trở lại làm việc, mở rộng cơ hội việc làm
Trang 34và hỗ trợ điều chỉnh việc làm đối với người lao động tham gia bảo hiểm hoặc đã từng tham gia bảo hiểm việc làm
Chương trình phát triển kỹ năng nghề bao gồm các hoạt động phát triển kỹ
năng nghề nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, phát triển
kỹ năng của người lao động và xúc tiến an toàn việc làm thông qua việc hỗ trợ đào tạo suốt đời cho việc phát triển các kỹ năng nghề của người lao động
Trợ cấp thất nghiệp nhằm chi trả trợ cấp bằng tiền mặt để ổn định đời sống
của người thất nghiệp và gia đình họ trong một thời gian nhất định và cung cấp các thông tin về việc làm để giúp họ tìm được việc làm mới Mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp là 50% thu nhập của người lao động của tháng trước khi họ mất việc làm Mức hưởng tối thiểu là 70% mức tiền lương tối thiểu
Thời gian được hưởng phụ thuộc vào thời gian đóng bảo hiểm và các yếu
tố như độ tuổi, mức độ tàn tật được nêu ra một cách chung nhất và dấu hiệu của những khó khăn khi được tuyển dụng lại Trợ cấp thất nghiệp được trả trong thời gian từ 90 đến 240 ngày dựa trên thời gian đóng góp và tuổi đời của người
thất nghiệp
Điều kiện đủ để được hưởng trợ cấp thất nghiệp là người lao động phải đóng bảo hiểm ít nhất 180 ngày trong vòng 18 tháng trước khi bị thất nghiệp Khi bị mất việc làm người lao động phải đăng ký thất nghiệp với Văn phòng lao động địa phương Để duy trì quyền được hưởng trợ cấp thất nghiệp, người thất nghiệp trong thời gian hưởng trợ cấp phải trình diện Văn phòng lao động địa phương 2 tuần một lần với các bằng chứng đã tích cực tìm kiếm việc làm
Để khích lệ người thất nghiệp tích cực tìm kiếm việc làm, chương trình đã quy định những người thất nghiệp tìm được việc mới trong vòng nửa thời hạn quy định tối đa đối với mỗi nhóm tuổi và hoàn cảnh của họ sẽ được nhận một khoản chi trả một lần bằng 1/3 tổng số trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp còn lại Người thất nghiệp tham gia chương trình bảo hiểm thất nghiệp được tiếp tục hưởng bảo hiểm y tế bằng tiền mặt cho đến 12 tháng nếu người lao động bị
sa thải có đóng góp phần của mình Trong trường hợp này, Cơ quan Bảo hiểm Y
Trang 35tế có liên quan sẽ phải đóng góp phần của người sử dụng lao động Phần hưởng thêm phụ thuộc vào người lao động đóng góp cho những cơ quan bảo hiểm y tế nhất định
Đối tượng áp dụng của chính sách bảo hiểm việc làm: Về nguyên tắc
chính sách bảo hiểm việc làm được áp dụng đối với tất cả người lao động Tuy nhiên, do những khó khăn trong công tác quản lý bảo hiểm và do những đặc điểm rất đặc trưng của công việc của một số người lao động, nên một số loại hình lao động dưới đây không thuộc đối tượng áp dụng:
- Những người lao động từ 65 tuổi trở lên;
- Những người lao động mà số giờ làm việc trong một tháng ít hơn 80 giờ (bao gồm cả những người lao động mà số giờ làm việc trong một tuần ít hơn 18 giờ);
- Công chức quy định trong Luật Công chức Nhà nước và Luật Công chức địa phương;
- Những người thuộc đối tượng của Luật Hưu trí dành cho giáo viên phổ thông;
- Những người lao động đặc biệt trong ngành bưu điện;
- Công nhân trên biển theo Luật Công nhân trên biển
Phạm vi áp dụng của chính sách bảo hiểm việc làm: Khi mới ban hành,
chính sách bảo hiểm việc làm chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp có thuê mướn từ 70 lao động trở lên đối với các chương trình bảo đảm việc làm và phát triển kỹ năng nghề và từ 30 lao động trở lên đối với chương trình bảo hiểm thất nghiệp Từ tháng 10 năm 1998, tất cả các cơ sở có thuê mướn từ 1 lao động trở lên, dù họ là người lao động tạm thời hoặc làm việc theo giờ đều trở thành đối tượng của hệ thống bảo hiểm việc làm Tỷ trọng người lao động được tham gia bảo hiểm việc làm là 80% trong năm 2002 Mức đóng góp bảo hiểm việc làm dựa trên mức tiền lương hàng tháng của người lao động và được xác định cho mỗi một loại hình hoạt động Mức đóng bảo hiểm đối với các hoạt động bảo đảm việc làm và trợ cấp thất nghiệp không phụ thuộc vào quy mô và loại hình
Trang 36doanh nghiệp Mức đóng bảo hiểm đối với các hoạt động bảo đảm việc làm được ấn định là 0,3% và đối với trợ cấp thất nghiệp là 1,0% Mức đóng góp cho các hoạt động phát triển kỹ năng nghề thay đổi từ 0,1% đến 0,7% tuỳ theo quy
mô doanh nghiệp.[15]
1.4.2 Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp Thái Lan
- Đối tượng và phạm vi áp dụng: Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp
chính là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, gồm tất cả các doanh nghiệp có sử dụng từ 1 người lao động trở lên
- Mức đóng góp: Đóng góp bảo hiểm thất nghiệp được thu kể từ
01/01/2004; Người sử dụng lao động và người lao động hàng tháng đóng một mức như nhau cho Quỹ bảo hiểm thất nghiệp là 0,5% mức tiền lương, Nhà nước đóng 0,25% quỹ tiền lương
- Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp ít
nhất 6 tháng trong vòng 15 tháng trước khi bị thất nghiệp; Đăng ký thất nghiệp với cơ quan dịch vụ việc làm của Nhà nước; Có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu một việc làm phù hợp; Tham gia các khóa đào tạo nghề được giới thiệu; Phải trình diện với cơ quan dịch vụ việc làm ít nhất 1 lần/một tháng;Bị thất nghiệp không phải vì những lý do (Không hoàn thành nhiệm vụ được giao; Có hành vi phạm tội chống lại người sử dụng lao động; Cố
ý gây thiệt hại cho người sử dụng lao động; Vi phạm nghiêm trọng quy chế và
kỷ luật lao động của người sử dụng lao động; Bỏ làm 7 ngày liên tục mà không
có lý do chính đáng; Gây thiệt hại nghiêm trọng cho người sử dụng lao động do
bỏ làm; Bị phạt tù; Không hưởng lương hưu hàng tháng; Được hưởng bảo hiểm thất nghiệp sau tám ngày kể từ ngày bị mất việc đối với người sử dụng lao động cuối cùng)
- Mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp: Người lao động có đóng bảo hiểm bị sa
thải được hưởng 50% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp không quá 180 ngày trong vòng 1 năm; Người lao động có đóng bảo hiểm tự nguyện
Trang 37bỏ việc được hưởng 30% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp không quá 90 ngày trong vòng 1 năm và tổng số ngày hưởng bảo hiểm thất nghiệp vì thất nghiệp tự nguyện không quá 180 ngày
Bộ máy quản lý bảo hiểm thất nghiệp: Ở Thái Lan, Chương trình bảo
hiểm thất nghiệp do 3 cơ quan thuộc Bộ Lao động chịu trách nhiệm: (1) Cơ
quan Bảo hiểm Xã hội, (2) Vụ Việc làm và (3) Vụ Phát triển Kỹ năng Trách
nhiệm của mỗi một cơ quan như sau:
- Cơ quan Bảo hiểm Xã hội có trách nhiệm:
+ Thu đóng góp bảo hiểm thất nghiệp và duy trì các thông tin liên quan đến đóng góp bảo hiểm thất nghiệp;
+ Thẩm tra xác định điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp cho người tham gia bảo hiểm;
+ Kiểm tra quá trình đóng góp bảo hiểm thất nghiệp;
+ Thẩm tra xác định lý do chấm dứt việc làm;
+ Quyết định trả trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp cho người tham gia bảo hiểm qua ngân hàng;
+ Trả trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp;
+ Nhập số liệu vào hệ thống trực tuyến để thông báo cho Vụ Việc làm
- Vụ Việc làm có trách nhiệm:
+ Đăng ký người thất nghiệp để bố trí việc làm;
+ Nhận đơn xin hưởng bảo hiểm thất nghiệp;
+ Phỏng vấn, cung cấp tư vấn và bố trí việc làm tuỳ theo trình độ của người
bị thất nghiệp;
+ Tìm kiếm nguồn tuyển dụng;
+ Phối hợp với Vụ Phát triển Kỹ năng trong trường hợp người tham gia bảo hiểm có nhu cầu được đào tạo nghề; và
+ Nhập số liệu vào hệ thống trực tuyến để thông báo cho Cơ quan Bảo hiểm
Xã hội và Vụ Phát triển Kỹ năng
Trang 38- Vụ Phát triển Kỹ năng có trách nhiệm:
+ Kiểm tra các thông báo về đào tạo tìm việc đối với người tham gia bảo hiểm tuỳ theo điều kiện và trình độ của người đó;
+ Đào tạo người tham gia bảo hiểm khi cần thiết;
+ Đánh giá các kết quả sau khi đào tạo;
+ Nhập số liệu vào hệ thống trực tuyến để thông báo cho Cơ quan Bảo hiểm
Xã hội và Vụ Việc làm [15]
1.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ kinh nghiệm quốc tế
Nghiên cứu chính sách bảo hiểm thất nghiệp của các nước rút ra kinh nghiệm cho chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam tập trung ở một số nội dung sau: -Về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp: đối tượng áp dụng là người lao động có giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ đủ 03 tháng trở lên với người sử dụng lao động có sử dụng từ 01 lao động trở lên Tuy nhiên, cần có các phương án tài chính Quỹ bảo hiểm thất nghiệp nhằm bảo toàn quỹ bảo hiểm thất nghiệp khi mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp với người lao động giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng
dễ bị thất nghiệp, người sử dụng lao động dưới 10 lao động thường là những tổ chức, doanh nghiệp nhỏ
- Về đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động:
+Trong thời gian tới cần nghiên cứu quy định trong Luật về tỷ lệ cố định phần đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động với người sử dụng lao động, mức đóng được quy định theo năm (chuyển từ mô hình Quỹ bảo hiểm kết dư sang mô hình Quỹ bảo hiểm thất nghiệp cân đối hàng năm)
+ Nhà nước không tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp mà chỉ giữ vai trò bảo đảm cho sự tồn tại của quỹ: ví dụ trong năm thu quỹ lớn hơn chi thì năm sau
sẽ giảm thu; trong năm chi quỹ lớn hơn thu thì Nhà nước sẽ cho vay để đảm bảo chi, năm sau sẽ tăng mức thu để chi và trả lại khoản đã vay của nhà nước
Trang 39- Về điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp: chỉ những người lao động bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà không
do lỗi của người lao động mới được hưởng bảo hiểm thất nghiệp
- Về các chế độ bảo hiểm thất nghiệp: chính sách bảo hiểm thất nghiệp cần được xây dựng một cách toàn diện không chỉ hỗ trợ người lao động sau khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà còn có các biện pháp hỗ trợ người lao động để đảm bảo việc làm, duy trì việc làm trong thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp (chính sách bảo hiểm việc làm)
- Về mức hưởng, thời gian hưởng bảo hiểm thất nghiệp: Cần nghiên cứu để điều chỉnh về mức đóng, mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp nhằm giảm thiểu các hành vi trục lợi và đảm bảo cân bằng quỹ
- Về trình tự, thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp: cần quy định khi nào người lao động có nhu cầu hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì đăng ký thất nghiệp
và nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp; không quy định người lao động trực tiếp đến đăng ký thất nghiệp với cơ quan lao động và thông báo về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp,… để tạo điều kiện cho người lao động trong việc hưởng chính sách
- Về tổ chức, bộ máy thực hiện bảo hiểm thất nghiệp: Cơ quan thực hiện cần được tổ chức theo ngành dọc từ Trung ương tới địa phương; thực hiện thu, chi và quản lý Bảo hiểm thất nghiệp
- Ngoài ra cần gắn công nghệ thông tin liên ngành trong vấn đề quản lý việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác bảo hiểm thất nghiệp
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Đối tượng áp dụng BHTN, điều kiện hưởng BHTN
2.1.1 Đối tượng áp dụng BHTN
Theo quy định tại Điều 80 Luật Bảo hiểm xã hội: “Bảo hiểm thất nghiệp áp dụng bắt buộc đối với người lao động quy định tại khoản 3 và người sử dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật này”
* Người Lao động tham gia Bảo hiểm thất nghiệp theo khoản 3 Điều 2 Luật
Bảo hiểm xã hội là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động, bao gồm các loại hợp đồng như sau:
- Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng;
- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
- Hợp đồng làm việc xác định từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng; Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn
Người đang hưởng lương hưu hàng tháng, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng có giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động không thuộc đối tượng tham gia Bảo hiểm thất nghiệp Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ mười bốn ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội; người lao động tạm hoãn thực hiện giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật thì thời gian này người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp
* Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo khoản 4 Điều 2
Luật Bảo hiểm xã hội là người sử dụng lao dộng từ mười (10) người lao động
trở lên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp sau đây: