Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu đề tài như đã phân tích ở trên, nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt của việc nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọ
Trang 1SINGHA NGIAMCHALEUN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
BẰNG TRỌNG TÀI – SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Tuyến
HÀ NỘI – Tháng 2/2013
Trang 2Luận văn này có lẽ đã không viết lên được nếu thiếu sự động viên và giúp đỡ, góp ý tận tình của gia đình, thầy cô và bạn bè cả trong và ngoài ngôi trường tôi đang học Lời cảm ơn chân thành này tôi xin gửi đến tất cả họ Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc tới người thầy hướng dẫn luận văn của tôi: TS Nguyễn Văn Tuyến đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, luôn động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này Thầy đã đọc và góp ý chân tình từ những ddaonj viết ngắn, đến bố cục, nội dung, các thuật ngữ trong các chương bản thảo Những hiểu biết và những góp ý của thầy khiến tôi cố gắng nhiều hơn
Tôi cũng xin cảm ơn các lãnh đạo, các đồng nghiệp đang công tác tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã động viên, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trogn quá trình thực hiện luận văn
Không thể quên người vợ đã thông cảm, chia sẻ những khó khăn của tôi và thời gian ít ỏi mà tôi dành cho gia đình khi tôi học tại Việt Nam
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn cha mẹ tôi, những người tôi mang ơn suốt cuộc đời vì công ơn sinh thành và nuôi dưỡng Tôi cũng không quên cảm ơn gia đình anh trai của tôi đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn
Hà Nội, Ngày 15 tháng 5 năm 2013
Tác giả
Singha Ngiamchaleun
Trang 3CHDCND: Cộng hòa dân chủ nhân dân CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa TTTM: Trọng tài thương mại
Trang 4
Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI 6
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI 6
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp thương mại 6
1.1.2 Thời điểm phát sinh tranh chấp thương mại 10
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI 12
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài 12
1.2.2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài 18
1.2.3 Trình tự giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài 20
Chương II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI – SO SÁNH GIỮA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 27
2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI – SO SÁNH GIỮA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT LÀO 27
2.1.1 Khái quát về cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 27
2.1.2 So sánh thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế giữa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 30
2.1.2.1 Các quy định về chủ thể giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài 30
2.1.2.2 Các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại 32
Trang 5Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
2.1.2.4 Các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp 36 2.1.2.5 Các quy định về giá trị pháp lý của phán quyết trọng tài và cơ chế thực thi phán quyết trọng tài 45
2.1.3 Một số nhận xét, đánh giá và kết luận rút ra từ kết quả so sánh 53 2.2 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 56
KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 6Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn
Theo nhận thức của tác giả, việc lựa chọn một đề tài khoa học để nghiên cứu phải xuất phát từ việc đánh giá về tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu đề tài đó như thế nào Đối với một đề tài luận văn thạc sĩ, nguyên
lý này cũng không phải là ngoại lệ
Về tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra ngày càng sâu sắc mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài Các quan hệ kinh
tế quốc tế trở nên sôi động hơn bao giờ hết và có tác động to lớn đến sự phát triển của các quốc gia trên thế giới Trong bối cảnh đó, nền kinh tế của nước CHDCND Lào đang trên đà phát triển và nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới Tuy nhiên, một trong những thách thức không nhỏ đối với Lào đó là có xuất phát điểm từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu Lào là một trong 20 nước kém phát triển trên thế giới, cuộc sống của người dân phần lớn gắn bó với nghề nông nghiệp Công nghiệp kém phát triển kéo theo trình
độ khoa học kỹ thuật, trình độ phát triển năng lực thấp, nguồn lực con người
có trình độ còn thiếu và yếu Để khắc phục những khó khăn hiện tại, thay đổi
bộ mặt cuộc sống, CHDCND Lào cần hết sức nỗ lực tìm những hướng đi phù hợp với tình hình kinh tế của mình
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các giao dịch thương mại ngày càng trở nên đa dạng hơn Điều này tất yếu dẫn đến những tranh chấp phát sinh từ những quan hệ thương mại và xu hướng thực tế cho thấy các tranh chấp này ngày càng trở nên phức tạp Tranh chấp thương mại là những tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại Mặc dù tranh chấp không phải là điều mong muốn của các thương nhân và họ đã rất cẩn trọng trong việc áp dụng các biện pháp nhằm loại bỏ tranh chấp song các bên không thể khẳng định rằng sẽ không có bất kỳ tranh chấp nào xảy ra trong các thương vụ mà
Trang 7Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
họ tham gia Vì vậy, điều quan trọng mà các thương nhân cần nhìn nhận trước
đó là giải pháp nào cần thực hiện nếu có tranh chấp phát sinh Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các hình thức giải quyết tranh chấp phổ biến đang được sử dụng bao gồm: thương lượng, hòa giải, tòa án, trọng tài
Thực tiễn cho thấy trong những giải pháp nói trên và trừ những vụ việc đặc biệt, giải pháp trọng tài thường được các bên lựa chọn bởi các ưu điểm vượt trội của nó
Về tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu khác nhau liên quan đến chủ đề giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài Các công trình nghiên cứu này được thực hiện dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau như
đề tài khoa học các cấp, bài viết tạp chí, khóa luận tốt nghiệp cử nhân, luận văn thạc sĩ và kể cả luận án tiến sĩ
Ở nước CHDCND Lào, kể từ khi góp ý cho dự án xây dựng Luật trọng tài, các chuyên gia pháp lý đã có rất nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh việc nên xây dựng Luật trọng tài theo hướng nào để phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hiện tại ở Lào Tuy nhiên, do Luật Trọng tài Thương mại ở CHDCND Lào chưa được ban hành nên hiện nay chưa có một công trình nào
ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu trực tiếp về vấn đề so sánh pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài giữa Việt Nam và Lào Đây là điều kiện thuận lợi để tác giả nghĩ đến ý tưởng lựa chọn vấn đề này làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn của mình
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu đề tài như đã phân tích ở trên, nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt của việc nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đối với các quốc gia đang phát triển nói chung
và đối với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào nói riêng, xét thấy sự tương đồng
về chế độ chính trị, hoàn cảnh địa lý, kinh tế giữa Việt Nam và Lào, tác giả đã
quyết định lựa chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng
Trang 82 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài luận văn có mục đích nghiên cứu chủ yếu là:
- Làm rõ các vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài và pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài nói chung;
- Phân tích những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài ở Việt Nam với pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài ở Lào nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài hiện nay ở Lào;
- Đề xuất các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phù hợp với yêu cầu của một luận văn thạc sĩ và tên đề tài đã chọn, Luận văn này không nghiên cứu toàn bộ hoạt động của Trọng tài thương mại ở CHDCND Lào so sánh với toàn bộ hoạt động của trọng tài thương mại ở Việt Nam mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam trong sự so sánh với các quy định về trọng tài thương mại ở CHDCND Lào Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại ở CHDCND Lào từ những bài học kinh nghiệm trong thực tiễn lập pháp về trọng tài thương mại của Việt Nam
Trang 9Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
4 Phương pháp nghiên cứu
Với mục đích của đề tài là so sánh pháp luật về trọng tài thương mại giữa Việt Nam và Lào nên tác giả luận văn cho rằng cách tiếp cận phù hợp nhất cần được lựa chọn để thực hiện luận văn này chính là áp dụng lý thuyết về so sánh luật học và kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ quát trong khoa học xã hội nói chung và luật học nói riêng
Nhằm triển khai ý tưởng nêu trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích tổng hợp,
so sánh đối chiếu, thống kê, khảo sát và khái quát hóa Trong các phương pháp nghiên cứu này, tác giả xác định phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu pháp luật là những phương pháp chủ đạo để giải quyết các vấn
đề do đề tài đặt ra
5 Những đóng góp mới của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài cho thấy những đóng góp mới của luận văn tập trung vào một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, về phương diện lý luận, luận văn đã góp phần làm rõ hơn một
số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài trong bối cảnh của những quốc gia đang phát triển Luận văn cũng chỉ rõ những vấn đề cần chú ý trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hoạt động thương mại ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam và Lào
Thứ hai, về phương diện thực tiễn, luận văn đã làm rõ thực trạng pháp
luật về trọng tài thương mại của Việt Nam và Lào, đồng thời phân tích những điểm tương đồng và khác biệt cơ bản giữa pháp luật hiện hành của Việt Nam
và Lào về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại ở CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay
Trang 10Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
6 Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được thiết kế bố cục gồm 2 chương như sau:
Chương I: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
Chương II: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài – so sánh giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và một số đề xuất
Trang 11Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI 1.1 KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp thương mại
Tranh chấp thương mại là hiện tượng kinh tế - xã hội xuất hiện trong bất
kỳ nền kinh tế nào, đặc biệt là trong điều kiện của các nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Xét về bản chất, tranh chấp thương mại là một dạng cụ thể của tranh chấp kinh tế phát sinh giữa các chủ thể trong hoạt động kinh tế nói chung [1]
Trong pháp luật thực định Việt Nam, nhiều khái niệm pháp lý khác nhau
đã được đề cập đến trong các văn bản quy phạm pháp luật để chỉ các tranh chấp thương mại trong lĩnh vực thương mại Chẳng hạn, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 sử dụng khái niệm “tranh chấp kinh tế”
và liệt kê những tranh chấp được coi là tranh chấp kinh tế, bao gồm: tranh chấp hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân và pháp nhân, pháp nhân và cá nhân có đăng kí kinh doanh, tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty, giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động và giải thể công ty, tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các tranh chấp khác theo quy định của pháp luật Còn Luật thương mại 1997 của Việt Nam lại định nghĩa “tranh chấp thương mại” là những tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thưc hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại Theo luật này, những tranh chấp không phát sinh từ hợp đồng thương mại không được gọi là tranh chấp thương mại Có thể nhận thấy rằng quan niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp thương mại theo Luật thương mại 1997 đã không bao quát hết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại theo cách hiểu phổ biến trên thế giới Điều này đã tạo ra
Trang 12tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác, vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật.[7]
Tiếp theo đó, sự ra đời của Luật Thương mại năm 2005, quan niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp thương mại đã có sự đổi mới, theo hướng tiệm cận gần hơn với quan niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp thương mại theo thông lệ quốc tế Bên cạnh sự đổi mới của pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng của Việt Nam cũng đã có những cải cách quan trọng trong các quy định về giải quyết tranh chấp thương mại[4] Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 của Việt Nam khi quy định về thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp thương mại đã sử dụng khái niệm “tranh chấp về kinh doanh, thương mại” và liệt kê các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án bao gồm:
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý, ký
Trang 13Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
gửi, thuê, cho thê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa, vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, mua bán cổ phiểu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác;
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức, tổ chức của công ty;
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật quy định.[3]
Có thể nhận thấy, các tranh chấp về kinh doanh, thương mại được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thực chất là các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại theo cách hiểu về hoạt động thương mại trong Luật Thương mại 2005, hay là tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh theo cách hiểu về kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp 2005
Tóm lại, từ những phân tích trên đây, về phương diện học thuật, tranh chấp thương mại có thể được định nghĩa như sau:
Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng (xung đột) về quyền, nghĩa vụ và lợi ích giữa các chủ thể tham gia quan hệ thương mại phát sinh trong hoạt động thương mại
Dưới tác động của quy luật cạnh tranh và sự tự do hóa thương mại, tranh chấp thương mại có xu hướng ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại và phức tạp về nội dung Tuy nhiên, suy cho cùng thì mọi tranh chấp thương mại đều giống nhau ở một số điểm nhất định Phần phân tích dưới đây sẽ làm rõ hơn những đặc điểm của tranh chấp thương mại
Trang 14Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
Về khía cạnh học thuật, có thể hình dung tranh chấp thương mại có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau đây:
Thứ nhất, chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại là các thương
nhân Sở dĩ như vậy là bởi vì, quan hệ thương mại vốn dĩ có thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác không phải là thương nhân Vì thế, một tranh chấp chỉ được gọi là tranh chấp thương mại khi có ít nhất một bên tranh chấp là thương nhân Ngoài thương nhân, trong những trường hợp nhất định các cá nhân, tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại
Thứ hai, căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại thường là do có hành vi
vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật của một trong các bên hoặc cả hai bên tham gia quan hệ thương mại Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên giả định có vi phạm hợp đồng và xâm hại đến lợi ích hợp pháp của các bên Tuy nhiên, trên thực tế không phải mọi hành vi vi phạm hợp đồng hay vi phạm pháp luật về thương mại đều dẫn đến tranh chấp thương mại, bởi vì bên bị vi phạm có thể vì những lý do khác nhau mà không thể hiện sự phản đối của mình đối với bên có hành vi vi phạm và không có những dấu hiệu cho thấy sự mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các chủ thể đó với nhau Vì thế mà tranh chấp không phát sinh, cho dù đã có hành vi vi phạm hợp đồng hay vi phạm pháp luật
Thứ ba, nội dung của tranh chấp thương mại là những xung đột về
quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong hoạt động thương mại Các quan
hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản, vì vậy nội dung tranh chấp thương mại thường liên quan trực tiếp tới những lợi ích kinh tế của các bên trong quan hệ thương mại
Thứ tư, tranh chấp tương mại đòi hỏi việc giải quyết tranh chấp phải
được tiến hành một cách nhanh chóng, thuận tiện, sao cho ít gây ra những tổn thất về uy tín và tiền bạc cho các bên tranh chấp (vốn dĩ chủ yếu là các nhà
Trang 15Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
kinh doanh)
1.1.2 Thời điểm phát sinh tranh chấp thương mại
Trong quá trình giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp thương mại nói riêng, việc tòa án thụ lý hay không thụ lý một vụ tranh chấp thường liên quan đến việc xác định quyền khởi kiện của các bên tranh chấp Nói cách khác, khi bên khởi kiện được xác định là mất quyền khởi kiện do hết thời hiệu khởi kiện thì khi đó tòa án mới có quyền từ chối thụ lý vụ kiện Tuy nhiên, cả về lý thuyết và thực tiễn pháp lý đều cho thấy rằng thời hiệu khởi kiện là khái niệm liên quan mật thiết với thời điểm phát sinh tranh chấp Vì vậy, việc xác điểm thời điểm phát sinh tranh chấp nói chung và tranh chấp thương mại nói riêng trở thành vấn đề quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến việc xác định thời hiệu khởi kiện của các bên tranh chấp còn hay đã hết Như đã phân tích ở trên, tranh chấp thương mại là sự mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích giữa các bên tham gia hoạt động thương mại Do vậy, về nguyên tắc có thể cho rằng thời điểm phát sinh tranh chấp thương mại chính là thời điểm phát sinh mâu thuẫn, xung đột hay bất đồng giữa các bên về quyền, nghĩa vụ hay lợi ích (với điều kiện các mâu thuẫn, xung đột hay bất đồng này đã thể hiện ra bên ngoài mặt khách quan thông qua những bằng chứng nhất định có thể chứng minh được) Nói khác
đi, thời điểm phát sinh tranh chấp thương mại là thời điểm phát sinh sự kiện
pháp lý theo đó một bên hoặc cả hai bên thể hiện sự phản đối bên kia bằng
những hành vi pháp lý cụ thể có thể xác định được, chẳng hạn như việc gửi văn bản khiếu nại trực tiếp cho bên vi phạm, hoặc gửi đơn kiện cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại để yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật…
Căn cứ vào nguyên tắc nêu trên, về lý thuyết, có thể xác định thời điểm phát sinh tranh chấp thương mại là những thời điểm cụ thể sau đây:
- Tranh chấp thương mại phát sinh khi có ít nhất một bên gửi văn bản
Trang 16sự xung đột, bất đồng về quyền, nghĩa vụ hay lợi ích giữa các bên tham gia hoạt động thương mại.[1]
Từ các phân tích trên đây, có thể rút ra một số kết luận như sau:
Thứ nhất, việc xác định thời điểm phát sinh tranh chấp nói chung và
tranh chấp thương mại nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình giải quyết tranh chấp, vì thời điểm phát sinh tranh chấp thường được coi
là cơ sở để xác định thời hiệu khởi kiện và do đó ảnh hưởng đến việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bên bị thiệt hại trong quan hệ thương mại
Thứ hai, việc xác định thời điểm phát sinh tranh chấp nói chung và tranh
chấp thương mại nói riêng phải đặc biệt chú ý đến sự kiện pháp lý đã diễn ra
trong đó thể hiện sự mâu thuẫn, xung đột hay bất đồng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích giữa các bên tham gia quan hệ thương mại Nếu không có sự kiện pháp
lý này thì khó có thể khẳng định là tranh chấp thương mại đã phát sinh giữa các bên hay chưa và thời hiệu khởi kiện còn hay đã hết
Thứ ba, tranh chấp nói chung và tranh chấp thương mại nói riêng chỉ thể
hiện ra bên ngoài thế giới khách quan để chúng ta nhận biết được thông qua những hành vi pháp lý cụ thể do các bên thực hiện Những hành vi pháp lý này luôn luôn thể hiện sự mâu thuẫn về quyền và lợi ích hợp pháp giữa các bên tranh chấp
Thứ tư, hầu hết các tranh chấp nói chung và tranh chấp thương mại nói
Trang 17Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
riêng đều bắt nguồn từ những hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật của một bên hoặc của các bên tham gia quan hệ pháp luật Tuy nhiên, không phải mọi hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm hợp đồng trong thương mại đều tất yếu dẫn đến tranh chấp thương mại
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
Tranh chấp thương mại là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh và vì vậy, việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được coi là đòi hỏi tự thân của nền kinh tế thị trường
Về lý thuyết, có thể hiểu giải quyết tranh chấp thương mại chính là việc các bên lựa chọn những hình thức, biện pháp thích hợp để giải tỏa tranh chấp, bất đồng, xung đột lợi ích giữa họ với nhau, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được Nói cách khác, đây chính là quá trình các bên tranh chấp tự thực hiện hoặc thông qua các chủ thể có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp (hòa giải, trọng tài viên, thẩm phán…) để giải tỏa xung đột, bất đồng về quyền và lợi ích giữa các bên nhằm khôi phục tình trạng ban đầu như trước khi có tranh chấp Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, mức độ hoàn thiện của pháp luật, sự ảnh hưởng của văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia mà nhà làm luật có thể xây dựng các cách thức, biện pháp giải quyết các tranh chấp khác nhau Ngày nay, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường, của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận rộng rãi các hình thức giải quyết tranh chấp có tính phổi biến như: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án
Trong các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được xem là phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất với đặc thù của tranh chấp thương mại
Trang 18lý, xem xét các chứng cứ trong vụ tranh chấp để đưa ra phán quyết cuối cùng
về việc phân định quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và yêu cầu các bên tự giác thực hiện
Khái niệm trên cho thấy về bản chất, trọng tài là cơ quan tài phán phi nhà nước (phi chính phủ) do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết các tranh chấp thương mại Trọng tài chính là bên trung gian thứ ba được các bên tranh chấp lựa chọn ra để giúp các bên giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ với nhau trên cơ sở đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên Cũng giống như thương lượng và hòa giải, phương thức trọng tài bắt nguồn từ
sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện Để đưa tranh chấp thương mại ra giải quyết tại trọng tài, các bên phải có thỏa thuận về việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Việc thỏa thuận này có thể được thực hiện bằng một điều khoản cụ thể nằm trong hợp đồng thương mại, hoặc bằng một thỏa thuận riêng độc lập với hợp đồng thương mại Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài giống hòa giải ở chỗ cả hai phương thức này đều có
sự xuất hiện của người thứ ba Tuy nhiên, trong hình thức hòa giải, vai trò của người thứ ba chỉ mang tính chất hỗ trợ, giúp đỡ các bên thỏa thuận với nhau Còn trong phương thức trọng tài, sau khi xem xét sự việc, trọng tài có thể đưa
ra phán quyết có giá trị pháp lý để đòi hỏi các bên phải tự giác thi hành
Qua nghiên cứu, khảo sát cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, có thể nhận thấy việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là một cơ chế
tài phán đặc biệt không phải do Nhà nước thực hiện mà do một tổ chức tài
Trang 19Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
phán phi chính phủ thực hiện dựa trên sự thỏa thuận, yêu cầu của các bên tranh chấp Trọng tài là một thiết chế dân chủ trong giải quyết tranh chấp thương mại, theo đó trọng tài không chỉ góp phần tạo ra trào lưu dân chủ và tự
do trong tư pháp mà hơn thế nữa trọng tài là “người” chia sẻ nhiệm vụ với Nhà nước trong việc xóa bỏ các tranh chấp, xung đột, bất đồng trong xã hội thông qua việc giải quyết các tranh chấp thương mại
Thứ hai, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa
yếu tố thỏa thuận và tài phán Cụ thể, sự thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể có phán quyết trọng tài thoát ly những yếu tố đã được thỏa thuận Bởi vậy về nguyên tắc, thẩm quyền của trọng tài không bị giới hạn bởi pháp luật, các đương sự có thể lựa chọn bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào đó trên thế giới để giải quyết tranh chấp Tuy nhiên để bảo vệ lợi ích công, pháp luật nhiều quốc gia chỉ thừa nhận thẩm quyền của trọng tài trong lĩnh vực luật tư
Thứ ba, phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
cho phép bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương sự cao hơn so với phương thức tòa án Điều này thể hiện ở chỗ, các đương sự trong tố tụng trọng tài có quyền lựa chọn trọng tài viên, địa điểm giải quyết tranh chấp, quy tắc tố tụng, luật áp dụng đối với tranh chấp…
Thứ tư, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể
kháng cáo trước bất cứ cơ quan, tổ chức nào Mặt khác, cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài không bắt buộc trọng tài phải xử công khai Đặc điểm này cho phép tổ chức trọng tài có điều kiện thuận lợi hơn trong việc giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các vụ tranh chấp thương mại, ít tổn hại đến uy tín của các bên tranh chấp (do không bắt buộc phải xử công khai) nên sẽ bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của các bên tranh chấp
Thứ năm, phán quyết trọng tài tuy không có hiệu lực cưỡng chế thi hành
giống như phán quyết của toà án nhưng pháp luật các nước đều quy định cơ chế hỗ trợ từ phía toà án đối với tổ chức và hoạt động của trọng tài Thông
Trang 20Thứ sáu, việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài được thực
hiện dưới hai phương thức cơ bản là trọng tài vụ việc (trọng tài ad hoc) và trọng tài thường trực (trọng tài quy chế)
Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài cho các bên tranh chấp thỏa
thuận thành lập để giải quyết vụ việc và sẽ chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ việc đó Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua các đặc trưng cơ bản như: (i) Được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động khi giải quyết xong vụ tranh chấp; (ii) Không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành, không có danh sách trọng tài viên Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được chỉ định có thể là người có tên trong hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất cứ trung tâm trọng tài nào; (iii) Quy tắc tố tụng của trọng tài vụ việc để giải quyết vụ tranh chấp có thể do các bên thỏa thuận xây dựng, lựa chọn từ bất kì một quy tắc tố tụng nào của các trung tâm trọng tài
Trọng tài vụ việc là hình thức tổ chức đơn giản, linh hoạt và mềm dẻo về phương thức hoạt động nên nói chung nó phù hợp với những tranh chấp ít tình tiết phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và nhất là các bên tranh chấp có kiến thức và hiểu biết pháp luật cũng như kinh nghiệm tranh tụng
Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài được tổ chức chặt chẽ, có bộ
máy, có trụ sở làm việc thường xuyên, có danh sách trọng tài viên hoạt động theo điều lệ và quy chế tố tụng riêng Hầu hết các tổ chức trọng tài lớn, có uy tín trên thế giới đều thành lập theo mô hình này dưới các tên gọi như: trung
Trang 21Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
tâm trọng tài, viện trọng tài, hội đồng trọng tài quốc gia và quốc tế… trong
đó, hình thức tổ chức chủ yếu và phổ biến của trọng tài thường trực vẫn là các trung tâm trọng tài
Về lý thuyết, trọng tài thường trực có một số đặc trưng cơ bản như: (i) Là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước Tổ chức trọng tài thường trực hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải
mà không được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước Khi giải quyết tranh chấp, trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nước mà nhân danh người thứ ba độc lập và đưa ra phán quyết;
(ii) Trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, mỗi trung tâm trọng tài là mỗi pháp nhân, tồn tài độc lập và bình đẳng với các trung tâm trọng tài khác Giữa các trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp trên, cấp dưới như hệ thống các cơ quan tài phán nhà nước mà hoàn toàn độc lập và bình đẳng với nhau trong vấn đề tổ chức và hoạt động chuyên môn;
(iii) Cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và cấc trọng tài viên của trung tâm Tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài gồm có chủ tich, một hoặc các phó chủ tịch trung tâm trọng tài và có thể có tổng thư kí trung tâm trọng tài do chủ tịch trung tâm trọng tài cử Bên cạnh ban điều hành, trung tâm trọng tài còn có các trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài Các trọng tài viên tham gia vào việc giải quyết tranh chấp khi được chọn hoặc mặc định;
(iv) Trung tâm trọng tài có thể tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố tụng riêng Trong quá trình hoạt động các trung tâm trọng tài có quyền mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi lĩnh vực hoạt động, nhưng phải được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đặc điểm này cho phép các trung tâm trọng tài có thể được tổ chức và hoạt động với tính chất trọng tài chuyên ngành (chỉ giải quyết những loại tranh chấp thương mại nhất định)
Trang 22Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
Có thể nhận thấy, giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài có nhiều ưu điểm như: thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng, các bên tranh chấp có khả năng tác động đến quá trình trọng tài, khả năng chỉ định trọng tài viên giúp các bên lựa chọn được trọng tài viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc vấn đề đang tranh chấp qua có điều kiện giải quyết tranh chấp hợp đồng nhanh chóng, chính xác; nguyên tắc trọng tài không đòi hỏi giải quyết một cách công khai giúp các bên hạn chế sự tiết lộ các bí quyết kinh doanh, giữ được uy tín của các bên thương lượng; trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của Nhà nước nên rất phù hợp để giải quyết các tranh chấp có nhân tố nước ngoài Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định như: Trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của Nhà nước, vì vậy có thể gặp khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp, như xác minh, thu thập chứng cứ,
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời; phán quyết trọng tài không có giá trị cưỡng chế thi hành thông qua các cơ quan thi hành án của nhà nước…
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra một số kết luận sau đây:
Một là, giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là một hình thức
giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba – tổ chức trọng tài/trọng tài viên làm trung gian giúp các bên tìm kiếm giải pháp tối ưu nhằm loại trừ tranh chấp
Hai là, giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là một cơ chế tài
phán phi chính phủ, do đó không áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự mà được thực hiện theo các quy định riêng về tố tụng trọng tài
Ba là, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là sự kết
hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán
Bốn là, thủ tục tố tụng trọng tài thương mại rất linh hoạt, phụ thuộc vào
sự thỏa thuận của các bên hơn so với tòa án
Trang 23Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
Năm là, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và có hiệu lực bắt
buộc thi hành Như vậy phán quyết của trọng tài không thể bị kháng cáo trước bất kỳ cơ quan, tổ chức nào Các bên chỉ có quyền yêu cầu tòa án hủy quyết định trọng tài khi có những căn cứ để hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại
Sáu là, cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài có sự hỗ
trợ từ tòa án trong việc bảo đảm thực thi các quyết định của trọng tài
1.2.2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
Như đã đề cập ở trên, tố tụng trọng tài là một cơ chế tài phán đặc thù, vốn dĩ không dựa trên quyền lực tư pháp của Nhà nước nên việc thực hiện đòi hỏi phải tuân thủ một số nguyên tắc đặc thù
Trong pháp luật thực định của các nước, người ta thừa nhận một số nguyên tắc cơ bản sau đây của tố tụng trọng tài:
Thứ nhất, nguyên tắc thỏa thuận trọng tài
Đây là nguyên tắc đầu tiên và cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng trọng tài Nguyên tắc này ấn định rằng trọng tài chỉ được thụ
lý giải quyết các vụ tranh chấp thương mại nếu các bên trong quan hệ tranh chấp cùng thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp đó
Nguyên tắc này được quy định trong pháp luật về tố tụng trọng tài dựa trên tư tưởng, triết lý tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp, vì trọng tài thương mại không phải là một cơ quan tư pháp của Nhà nước mà chỉ
là một tổ chức tài phán phi chính phủ Như vậy, thỏa thuận trọng tài được xem là vấn đề then chốt có vai trò quyết định đối với việc áp dụng phương thức trọng tài Nói cách khác, không có thỏa thuận trọng tài hợp pháp thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể
là một thỏa thuận riêng hoặc là thỏa thuận trong hợp đồng và phải được lập thành văn bản Theo quy định của nhiều nước, nếu không có thỏa thuận trọng
Trang 24Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
tài được lập bằng văn bản thì trung tâm trọng tài sẽ không có thẩm quyền giải quyết Nhưng điều kiện đó vẫn chưa đủ Để tranh chấp thương mại được giải quyết tại trọng tài thì các bên còn phải thỏa mãn điều kiện nữa là thỏa thuận trọng tài có hiệu lực Nếu thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu thì coi như chưa có thỏa thuận về trọng tài và do đó trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp đó
Thứ hai, nguyên tắc “trọng tài phải tuân theo thỏa thuận của các bên”
Nguyên tắc này cũng được thừa nhận trong pháp luật trọng tài của nhiều nước trên thế giới Tại Việt Nam, nguyên tắc này được ghi nhận tại Khoản 1
điều 4 Luật trọng tài thương mại 2010 như sau: “Trọng tài viên phải tôn trọng
thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội”.[5]
Sở dĩ có nguyên tắc này trong tố tụng trọng tài là bởi vì, các bên tranh chấp cần được đảm bảo tối đa quyền tự do định đoạt, trong đó có việc tự định đoạt về nội dung giải quyết tranh chấp và thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp Các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn hình thức trọng tài, địa điểm giải quyết vụ tranh chấp đó, thời hạn thực hiện các thủ tục cần thiết cho việc giải quyết tranh chấp Chỉ có trong tố tụng trọng tài, một hình thức tài phán tư, các bên mới có quyền thỏa thuận nhiều vấn đề như vậy và trọng tài viên bắt buộc phải tôn trọng nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội Nếu trọng tài viên vi phạm nguyên tắc này thì quyết định của hội đồng trọng tài sẽ bị tòa án hủy theo yêu cầu của các bên
Thứ ba, nguyên tắc trong tài viên phải độc lập, vô tư, khách quan trong
quá trình giải quyết tranh chấp
Đây là một nguyên tắc cơ bản của các cơ chế tài phán giải quyết tranh chấp nói chung Trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp, những yếu tố làm ảnh hưởng đến sự độc lập, vô tư, khách quan của các trọng tài viên đều phải được loại trừ Trọng tài viên phải có đủ các điều kiện nhất định để đảm
Trang 25Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
bảo rằng họ độc lập, vô tư, khách quan trong việc giải quyết tranh chấp
Thứ tư, nguyên tắc phán quyết trọng tài là chung thẩm
Theo nguyên tắc này thì phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm, nghĩa là có hiệu lực ngay sau khi ban hành mà không thể bị kháng cáo, kháng nghị giống như trong tố tụng tòa án (vốn dĩ phải tuân thủ nguyên tắc hai cấp xét xử) Nguyên tắc này là một trong những nét đặc trưng thể hiện rõ sự khác biệt giữa tố tụng trọng tài và tố tụng tòa án Trọng tài là cơ quan tài phán phi chính phủ chỉ tổ chức một cấp xét xử, quyết định của trọng tài có giá trị chung thẩm, không thể bị kháng cáo kháng nghị bởi bất cứ cơ quan hay tổ chức nào Nguyên tắc này mang lại cho trọng tài ưu thế trong việc giải quyết tranh chấp nhanh gọn, dứt điểm; tuy nhiên nó cũng tiềm ẩn nguy cơ có những quyết định trọng tài trái pháp luật mà không được xem xét lại bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thiết nghĩ vấn đề này cần được xem xét lại
Thứ năm, nguyên tắc xét xử kín
Đây cũng là một nguyên tắc mang tính đặc trưng của tố tụng trọng tài Nguyên tắc này được thiết lập nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của các bên tranh chấp, vốn dĩ là các nhà kinh doanh cần được bảo vệ về uy tín và bí mật kinh doanh Hầu hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín, nếu các bên không quy định khác Tính bí mật thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại Điều đó có ý nghĩa lớn trong bối cảnh cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
1.2.3 Trình tự giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
Theo thông lệ chung, trình tự giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài bao gồm các thủ tục sau đây:
Thứ nhất, bên nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại tổ chức trọng tài đã
được các bên thỏa thuận lựa chọn
Trang 26Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
Đối với giải quyết tranh chấp tại hội đồng trọng tài do các bên thành lập, nguyên đơn phải gửi đơn kiện cho bị đơn
Về nguyên tắc, đơn khởi kiện phải bao gồm các nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
- Tên và địa chỉ của các bên; tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);
- Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp;
- Cơ sở và chứng cứ khởi kiện, nếu có;
- Các yêu cầu của nguyên đơn và giá trị vụ tranh chấp;
- Tên và địa chỉ người được nguyên đơn chọn làm trọng tài viên hoặc đề nghị chỉ định trọng tài viên;
Ngoài đơn khởi kiện với các nội dung như trên, bên nguyên đơn còn phải nộp kèm theo văn bản thỏa thuận trọng tài, bản chính hoặc bản sao các tài liệu
có liên quan Trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác, thời hiệu khởi kiện theo thủ tục trọng tài là 02 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm Tố tụng trọng tài bắt đầu từ khi trung tâm trọng tài nhận được đơn kiện của nguyên đơn hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn nếu các bên không có thỏa thuận khác
Thứ hai, bên bị đơn gửi văn bản tự bảo vệ cho tổ chức trọng tài đã thụ lý
giải quyết vụ kiện
Nếu các bên không có thỏa thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện và những tài liệu kèm theo, bị đơn phải gửi bản tự bảo vệ cho trung tâm trọng tài
Nội dung của văn bản tự bảo vệ gồm:
- Ngày, tháng, năm làm bản tự bảo vệ;
- Tên và địa chỉ của bị đơn;
Trang 27Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
- Cơ sở và chứng cứ tự bảo vệ, nếu có;
- Tên và địa chỉ người được bị đơn chọn làm trọng tài viên hoặc đề nghị chỉ định trọng tài viên
Văn bản tự bảo vệ chính là tài liệu thể hiện quan điểm tranh tụng của bị đơn trước trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp
Thứ ba, thành lập Hội đồng trọng tài
Thành phần của hội đồng trọng tài có thể bao gồm một hoặc nhiều trọng tài viên theo sự thỏa thuận của các bên Trường hợp các bên không có thỏa thuận về số lượng trọng tài viên thì hội đồng trọng tài bao gồm ba trọng tài viên Các trọng tài viên tham gia Hội đồng trọng tài sẽ do các bên lựa chọn hoặc do trung tâm trọng tài chỉ định theo nguyên tắc do pháp luật quy định
Thứ tư, chuẩn bị giải quyết vụ tranh chấp
Để chuẩn bị giải quyết vụ tranh chấp thương mại, Hội đồng trọng tài phải tiến hành một số công việc sau đây:
- Nghiên cứu hồ sơ, xác minh sự việc: Trên cơ sở đơn kiện, chứng cứ của nguyên đơn, bản tự bảo vệ và các tài liệu, chứng cứ của bị đơn, các trọng tài viên phải nghiên cứu kĩ hồ sơ và các văn bản pháp luật có liên quan đến vụ kiện để tìm ra hướng giải quyết tốt nhất Hội đồng trọng tài có quyền gặp các bên để nghe ý kiến hoặc tìm hiểu sự việc từ người thứ ba với sự có mặt của các bên
- Thu thập chứng cứ: Hội đồng trọng tài có quyền yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ có liên quan đến vụ tranh chấp Các bên có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ cho yêu cầu của mình hoặc cho sự việc mà mình nêu ra Trong trường hợp cần thiết hội đồng trọng tài có thể tự mình thu thập chứng cứ, mời giám định theo yêu cầu của một bên hoặc các bên và phải thông báo cho bên kia biết
Trang 28Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
Sau khi tiến hành xong các công việc chuẩn bị giải quyết vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài sẽ chuyển sang thủ tục giải quyết tranh chấp theo các quy định của pháp luật về trọng tài
Thứ năm, yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, nếu cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm phạm thì các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án hỗ trợ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây:
a) Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
b) Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài;
c) Kê biên tài sản đang tranh chấp;
d) Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp;
đ) Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;
e) Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp Bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nộp một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá theo quyết định của Hội đồng trọng tài tương ứng với giá trị thiệt hại có thể phát sinh do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng gây ra để bảo vệ lợi ích của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Tài sản này được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng do Hội đồng trọng tài quyết định Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, ngay sau khi bên yêu cầu đã thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại khoản 3 Điều này thì Hội đồng trọng tài xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Trường hợp không chấp nhận yêu cầu, Hội đồng trọng tài thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho bên yêu cầu biết
Trang 29sẽ đình chỉ tố tụng Các bên cũng có thể yêu cầu hội đồng trọng tài tiến hành hòa giải Trong trường hợp hòa giải thành thì các bên có thể yêu cầu hội đồng trọng tài lập biên bản hòa giải thành và ra quyết định công nhận hòa giải thành Quyết định công nhận hòa giải thành của hội đồng trọng tài là chung thẩm và có giá trị như phán quyết trọng tài
Thứ bảy, tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp và quyết định trọng tài
Thời gian tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận, nếu các bên không có thỏa thuận thì chủ tịch hội đồng trọng tài quyết định thời gian mở phiên họp giải quyết Về nguyên tắc, phiên họp giải quyết vụ tranh chấp không công khai do đó có thể đảm bảo những bí mật trong kinh doanh cũng như uy tín của các bên Các bên có thể trực tiếp tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp hoặc ủy quyền cho người đại diện của mình, có thể mời nhân chứng, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình
Các bên hoặc đại diện của các bên phải tham gia phiên họp giải quyết vụ tranh chấp nếu không yêu cầu hội đồng trọng tài giải quyết vắng mặt họ Trường hợp các bên không yêu cầu hội đồng trọng tài giải quyết vắng mặt họ
mà vắng mặt không có lý do thì sẽ được giải quyết theo Điều 56 Luật trọng tài thương mại 2010 Theo quy định tại Điều 57 Luật trọng tài 2010, các bên cũng có thể yêu cầu hội đồng trọng tài hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp nếu có lý do chính đáng.[5]
Trang 30Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
Toàn bộ diễn biến của phiên họp giải quyết tranh chấp do thư ký hội đồng trọng tài lập biên bản Kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp, hội đồng trọng tài phải đưa ra quyết định trọng tài Quyết định trọng tài được biểu quyết thông qua theo nguyên tắc đa số, ý kiến của thiểu số được ghi vào biên bản phiên họp Nếu vụ tranh chấp do trọng tài viên duy nhất giải quyết thì trọng tài viên này quyết định Quyết định trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày công bố, các bên phải thi hành trừ trường hợp quyết định này
bị tòa án hủy theo quy định của pháp luật
Kết luận chương I
Kết quả nghiên cứu của chương I cho phép đưa ra một số nhận xét sau:
Một là, tranh chấp là hiện tượng bình thường trong thương mại, với sự
phát triển của quan hệ thương mại, tranh chấp ngày càng đa dạng, phong phú
và phức tạp Nhận thức rõ điều này cho nên từ xa xưa, các nhà kinh doanh đã tìm cách hóa giải những tranh chấp phát sinh bằng nhiều phương thức khác nhau nhằm giữ vững, củng cố và phát triển quan hệ đã thiết lập giữa các bên
Hai là, giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thương mại là yêu cầu
tất yếu, khách quan với các phương thức từ đơn giản đến phức tạp, từ tự giải quyết với nhau đến nhờ bên thứ ba giải quyết đó là: thương lượng, hòa giải,
trọng tài và tòa án
Ba là, giải quyết tranh trong thương mại bằng trọng tài là phương thức
được các doanh nhân trên thế giới chấp nhận và ưu tiên lựa chọn, các hình thức ngày càng phong phú và được hoàn thiện hơn Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nhân Việt Nam và Lào không thể đứng ngoài và không thể mãi ưu tiên chọn tòa án, khi hệ thống này cũng đang bị quá tải bởi
các vụ án hình sự, dân sự, hành chính
Bốn là, ở Việt Nam và CHDCND Lào, phương thức giải quyết tranh
chấp trong thương mại cũng luôn được hoàn thiện và không ngừng phát triển
Trang 31Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
Nhà nước cũng luôn chú trọng hoàn thiện điều chỉnh pháp luật giải quyết tranh chấp trong thương mại với các phương thức: Trọng tài kinh tế (nhà nước), Trọng tài kinh tế (phi chính phủ), TTTM với các hình thức điều chỉnh pháp luật ngày càng cao hơn, hoàn chỉnh hơn
Năm là, trọng tài thương mại đã được pháp luật Việt Nam thừa nhận và
được các bên tranh chấp lựa chọn Tuy nhiên, trọng tài thương mại ở CHDCND Lào lại chưa được các bên tranh chấp lựa chọn nhiều Trước thực trạng đó đặt cho các nhà luật học CHDCND Lào nhiệm vụ tìm ra nguyên
nhân và có giải pháp nhằm đưa quy định pháp luật vào cuộc sống
Trang 32Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
Chương II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI – SO SÁNH GIỮA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI – SO SÁNH GIỮA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT LÀO
2.1.1 Khái quát về cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động thương mại phổ biến trên thế giới Các nhà kinh doanh trên thế giới rất ưa chuộng hình thức trọng tài, vì trọng tài có nhiều ưu điểm không thể phủ nhận được như giải quyết nhanh và hiệu quả các tranh chấp, đảm bảo bí mật và uy tín của các nhà kinh doanh, giữ được quan hệ bạn hàng của họ với nhau để có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh trên thương trường Ở Việt Nam, hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài đã được thừa nhận trong pháp luật và trên thực tế, đến nay cũng đã tồn tại 7 trung tâm Trọng tài đang hoạt động Tuy nhiên, ở CHDCND Lào thì hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài chưa được thừa nhận mà đến nay chỉ có trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế
Trung tâm giải quyết tranh chấp về kinh tế trước đây được gọi là “tổ chức hòa giải về kinh tế” được thành lập theo sắc lệnh của chủ tịch Hội đồng Chính phủ ngày 28/12/1989 về việc tổ chức và hoạt động của Bộ Kinh tế - Kế hoạch và Tài chính, trong đó có vai trò và nhiệm vụ làm tham mưu cho Bộ trong việc hướng dẫn các đơn vị sản xuất và kinh doanh lập hợp đồng và ký hợp đồng hợp tác, quản lý việc thực hiện hợp đồng hợp tác về kinh tế và là ủy
Trang 33Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
viên trong việc giải quyết các tranh chấp xảy ra từ việc phá vỡ hợp đồng về kinh tế mà hai bên đương sự đã thỏa thuận nhau hoặc sau khi các tranh chấp xảy ra cả hai bên đương sự đều đồng ý cho tổ chức hòa giải về kinh tế là người giải quyết
Tổ chức hòa giải về kinh tế là một tổ chức có quyền lực tương đương với các đơn vị thuộc Bộ Kinh tế - Kế hoạch và Tài chính Cơ quan này hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Tổ chức hòa giải kinh tế gồm có một trưởng cơ quan, một phó trưởng cơ quan và một số học giả
Quy chế thực hiện công việc của tổ chức hòa giải về kinh tế trong giai đoạn này dựa vào pháp luật của nước CHDCND Lào đã ban hành trong từng giai đoạn Ngoài ra, cơ quan này còn áp dụng những bài học kinh nghiệm của các nước hay các tổ chức quốc tế như: bài học kinh nghiệm của Phòng Thương mại quốc tế (International Commercial Chamber - ICC) ở Pháp, trung tâm Liên Hiệp Quốc về luật thương mại quốc tế (United Nation Commission
on International Trade - UNCITRAL) ở Mỹ, bài học kinh nghiệm của nước CHXHCN Việt Nam, Ý, Trung Quốc, Hong Kong, Singapore và các nước khác Từ năm 1990 đến năm 1994, tổ chức hòa giải về kinh tế đã cải tiến tổ chức, đồng thời đã củng cố quy chế của tổ chức hòa giải về kinh tế
Vì vậy, sắc lệnh về việc giải quyết tranh chấp về kinh tế đã được soạn thảo, ban hành và đã được Thủ tướng phê chuẩn vào ngày 15/7/1994 Trong sắc lệnh đó đã đổi tên “tổ chức hòa giải về kinh tế” thành “cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế của nước CHDCND Lào”, đồng thời đã tăng thêm nhiệm vụ và trách nhiệm trong đó có vai trò thực hiện việc giải quyết tranh chấp về kinh tế phát sinh trong các hoạt động kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp Cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế được áp dụng các hình thức hòa giải và xét xử dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tư pháp Cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế của CHDCND Lào đã lập văn phòng của mình tại Bộ Tư pháp vào ngày 21/4/1995
Trang 34Singha Ngiamchaleun u n v n h c s
Thông qua việc thực thi công việc trong những năm qua, cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế ở Lào đã nhận được đơn khởi kiện từ các tổ chức, các công ty trong nước và nước ngoài yêu cầu cơ quan giải quyết tranh chấp
về kinh tế giải quyết vấn đề bằng hình thức hòa giải và hình thức xét xử Trong số các vụ tranh chấp được yêu cầu cơ quan này giải quyết, có khoảng 80% số vụ tranh chấp đã được giải quyết Những yêu cầu còn lại đã được góp
ý, hướng dẫn và trả lại cho người yêu cầu bởi vì những yêu cầu ấy không thuộc về vai trò, thẩm quyền của cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế Ngoài việc giải quyết tranh chấp về kinh tế, cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế còn tham gia nghiên cứu, biên soạn và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi thẩm quyền của mình, đồng thời, phối hợp với các cơ quan khác soạn thảo, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động giải quyết tranh chấp về kinh tế trên lãnh thổ Lào
Để đảm bảo chất lượng thực hiện công việc, cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế của Lào đã thành lập ban cố vấn, trong đó Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm chủ tịch, đại diện Bộ Tài chính làm phó chủ tịch và những người đại diện từ các Bộ, các tổ chức liên quan làm ủy viên
Ngày 15/9/1998 cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế của CHDCND Lào đã được công nhận là một thành viên của Hiệp định về sự hiểu biết và thực hiện quyết định của cơ quan hòa giải về kinh tế quốc tế (NewYork 1958) Hoạt động chuyên môn của cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế ở Lào được thực hiện dựa trên cơ sở pháp lý chủ yếu là Quyết định 106/CP ngày 15/7/1994 của Chính phủ và các văn bản pháp luật khác mà Chính phủ Lào đã ban hành, ngoài ra cơ quan này còn dựa vào những kinh nghiệm của các quốc gia khác trên thế giới để tiến hành các hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế
Cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế của CHDCND Lào có 4 trụ sở
ở các khu vực lãnh thổ như sau: