ĐẶNG THỊ KIM THANH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH
Trang 1ĐẶNG THỊ KIM THANH
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60.34.01.02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Hồng Trình
Trang 3kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trongbất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, kết quả do trực tiếp tác giả thu thập, thống kê và xử lý Cácnguồn dữ liệu khác được tác giả sử dụng trong luận văn đều có ghi nguồntrích dẫn và xuất xứ
Tác giả luận văn
Đặng Thị Kim Thanh
Trang 52 Mục đích nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
7 Bố cục đề tài 4
8 Tổng quan những nghiên cứu trước đây 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11
1.1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 11
1.1.1 Khái niệm và phân loại hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 11
1.1.2 Những chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 15
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 21
1.2.1 Cấu trúc vốn 21
1.2.2 Quy mô doanh nghiệp 23
1.2.3 Tăng trưởng 23
1.2.4 Hiệu suất sử dụng tài sản 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 27
2.1 TỔNG QUAN VỀ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM 27
2.1.1 Bất động sản và hoạt động kinh doanh bất động sản 27
2.1.2 Thị trường bất động sản Việt Nam 30
2.1.3 Các đặc thù của ngành bất động sản 32
2.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 33
Trang 62.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ DỮ LIỆU 35
2.4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 35
2.5 GIẢ THIẾT VỀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 36
2.6 MÔ TẢ CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG 40
2.6.1 Biến phụ thuộc – Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 40
2.6.2 Biến độc lập 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
3.1 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 47
3.1.1 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE 47
3.1.2 Chỉ số Tobin’s Q 49
3.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 50
3.2.1 Thống kê mô tả các biến độc lập 50
3.2.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình 53
3.2.3 Mô hình hồi quy bội và phân tích kết quả 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71
CHƯƠNG 4 THẢO LUẬN KẾT QUẢ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 72
4.1 THẢO LUẬN KẾT QUẢ 72
4.2 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM 74
Trang 7PHẦN KẾT LUẬN 81 PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN(Bản sao)
Trang 8Số hiệu
Tran g
Bảng 1.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây 9Bảng 2.1 Bảng tóm tắt các giả thiết nghiên cứu 40
Bảng 2.2 Tóm tắt nghiên cứu các biến ảnh hưởng đến giá trị
doanh nghiệp và cách đo lường 45Bảng 3.1 Thống kê mô tả Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu 47Bảng 3.2 Thống kê mô tả Chỉ số Tobin’s Q 49Bảng 3.3 Thống kê mô tả các biến độc lập 50Bảng 3.4 Hệ số tương quan Pearson 54
Bảng 3.5 Mô hình hồi quy theo phương pháp Enter với biến
Bảng 3.6 Kết quả hồi quy mô hình 1 với biến phụ thuộc ROE 57
Bảng 3.7 Kết quả thực hiện hồi mô hình 2 với biến phụ thuộc
3.10
Mô hình hồi quy theo phương pháp Enter với biến phụ thuộc TOBINSQ 63Bảng
Trang 9Bảng 3.14 Kết quả phân tích thực nghiệm khi đo lường Hiệu quả
tài chính bằng Tobin’s Q 69
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiệu quả tài chính cao là một trong những mục tiêu kinh doanh quantrọng nhất của doanh nghiệp Hiệu quả tài chính chịu tác động của nhiều nhân
tố khác nhau, bao gồm cả nhân tố vĩ mô và nhân tố vi mô thuộc về doanhnghiệp Để có thể nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, nhà quản trịtài chính phải thiết kế được hệ thống các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệuquả tài chính, am hiểu cơ chế tác động của các nhân tố đến hiệu quả tài chínhcủa doanh nghiệp Từ đó, đưa ra các giải pháp đúng để cải thiện hiệu quả tàichínhcủa doanh nghiệp
Các doanh nghiệp bất động sản là một bộ phận không nhỏ trong thịtrường, sự phát triển của các doanh nghiệp này có tác động rất lớn đến sự pháttriển chung của thị trường chứng khoán Việt Nam Việc quản lý tốt hiệu quảtài chính của nhóm doanh nghiệp bất động sản là nhu cầu cấp thiết của bảnthân doanh nghiệp và của cả thị trường
Việc xem xét, đánh giá hiệu quả tài chính của một doanh nghiệp khôngchỉ là mối quan tâm của mỗi doanh nghiệp đó mà nó còn tác động rất lớn tớiquyết định của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Các thông tin, số liệucung cấp trên sàn chứng khoán chủ yếu là các chỉ số tài chính thông qua việccông bố báo cáo tài chính của doanh nghiệp Việc sử dụng các chỉ số tài chính
để so sánh giữa các doanh nghiệp cùng ngành có vẻ như thuyết phục được cácnhà đầu tư hơn, giúp nhà đầu tư đọc số liệu dự báo tương lai của doanhnghiệp đơn giản và dễ hiểu hơn
Trang 11Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để nghiên cứu trong phạm vi
luận văn này
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả tài chính và xácđịnh mô hình cho phép nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tàichính của doanh nghiệp;
- Vận dụng mô hình đã xây dựng trong nhận diện, đánh giá các nhân tốảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp bất động sản niêm yếttrên thị trường chứng khoán Việt Nam;
- Tiến hành đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tớihiệu quả tài chính, từ đó rút ra một số kết luận và hàm ý chính sách đối vớicác doanh nghiệp bất động sản và các chủ thể liên quan
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam hiệnnay như thế nào?
- Có những nhân tố nào tác động đến hiệu quả tài chính của các doanhnghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán?
- Những nhân tố đó tác động như thế nào đến hiệu quả tài chính của cácdoanh nghiệp bất động sản?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chínhcủa các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán ViệtNam
Trang 12- Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung đề tài: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đếnhiệu quả tài chính của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam
+ Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu với 55 doanh nghiệp bấtđộng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
+ Phạm vi về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thờigian 5 năm từ 2012 - 2016
5 Phương pháp nghiên cứu
- Trình tự nghiên cứu
Đầu tiên, tác giả tìm hiểu và tổng hợp các lý thuyết có liên quan và cácnghiên cứu đã được thực hiện trước đó cả ở trong nước và trên thế giới Tiếptheo, tác giả tiến hành lựa chọn các công ty niêm yết trong mẫu nghiên cứu,thu thập BCTC của các công ty trong mẫu Sau đó, xác định các nhân tố tácđộng đến hiệu quả tài chính, đặt giả thuyết nghiên cứu Cuối cùng, tiến hànhhồi quy, kiểm định các giả thuyết, rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu
Trang 13+ Đề tài sử dụng hồi quy bội nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đếnhiệu quả tài chính của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam Từ bộ dữ liệu thu thập được, đề tài đã sử dụng phầnmềm phân tích dữ liệu SPSS 20.0 để xây dựng mô hình hồi quy phân tích cácnhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước
về hiệu quả tài chính làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài này
Xác định sự ảnh hưởng của các nhân tố: cấu trúc vốn (tỷ lệ nợ, tỷ lệ nợngắn hạn, tỷ lệ nợ dài hạn), quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng và hiệusuất sử dụng tài sản đến hiệu quả tài chỉnh của các doanh nghiệp bất động sảnniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Đề xuất một số giải pháp để các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam cóđịnh hướng trong việc xây dựng chiến lược nhằm đạt được mục tiêu tài chínhngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp mình
7 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận thì luận văn nghiên cứu được trình bày vớikết cấu gồm các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Ở chương này, tác giả đưa ra các lý thuyết cơ bản về hiệu quả tài chínhcủa doan nghiệp, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính.Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Tác giả xác định, đo lường các biến của mô hình, đặt các giả thiết nghiêncứu, làm cơ sở cho phần kết quả mô hình hồi quy ở chương 3
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính OLS với phần mềmSPSS để đưa ra mô hình hồi quy tối ưu, kết luận vấn đề nghiên cứu
Trang 14Chương 4: Hàm ý chính sách
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở chương 3, tác giả đề xuấtmột số giải pháp nhằm tăng hiệu quả tài chính của doanh nghiệp bất động sảnniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
8 Tổng quan những nghiên cứu trước đây
Nghiên cứu thực chứng của Kinsman và Newman (1998) cho thấy, kếtquả tổng thể cho thấy mối tương quan nghịch giữa nợ và hiệu suất công ty(được đo lường bằng ROE và ROA) Kết quả này phù hợp với những pháthiện của Majumdar và Chhibber (1999) khi kết quả hồi quy cho thấy tỉ lệ nợtrên vốn chủ sở hữu có tác động tiêu cực và có liên quan đáng kể đến hiệu quảtài chính Ngoài ra, nghiên cứu này cũng phát hiện ra Quy mô doanh nghiệp
có tác động đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Nghiên cứu của Agarwal và cộng sự (2001) cũng chỉ ra rằng nợ có ảnhhưởng tiêu cực lên hiệu quả tài chính của doanh nghiệp khi đo lường bằngROE Tuy nhiên, lợi nhuận của công ty có ảnh hưởng tích cực bởi doanh thu
và tăng trưởng doanh số Kết quả này tương đồng với nghiên cứu Hammes vàChen (2004), tỷ lệ nợ liên quan đến ROE Tuy nhiên, Quy mô ảnh hưởng tíchcực liên quan đến tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu
Nghiên cứu của Mesquita và Lara (2003), nhóm tác giả đã tiến hànhnghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ cấu trúc tài chính và khả năng sinhlời của 70 công ty niêm yết tại Brazil trong giai đoạn 1995 – 2000 đã pháthiện thấy nợ ngắn hạn có mối quan hệ dương và có ý nghĩa thống kê với hiệuquả đo lường bằng ROE, và nợ dài hạn có mối quan hệ âm có ý nghĩa thống
kê với ROE
Trang 15Nghiên cứu của Weixu (2005), Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 1,130 công
ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải Kết quả nghiên cứucho thấy Hiệu quả tài chính (ROE) bị tác động rất lớn bởi biến tỷ lệ nợ Hiệuquả tài chính có mối tương quan mạnh phi tuyến bậc 2, bậc 3 khi tỷ lệ nợ <100% Tỷ lệ nợ có tác động dương (+) đến hiệu quả tài chính khi ở mức tỷ lệ
nợ thấp và tác động âm (-) khi ở mức tỷ lệ nợ cao Hiệu quả tài chính không
có tương quan mạnh với tỷ lệ nợ dài hạn, lý do là các công ty ở Trung Quốcthích sử dụng nợ ngắn hạn hơn là sử dụng nợ dài hạn Trong nghiên cứu nàycũng chỉ ra Quy mô có tương quan dương khá mạnh với Hiệu quả tài chínhROE nhưng Tốc độ tăng trưởng tài sản Growth lại không tác động đến ROE.Nghiên cứu của Huang và Song (2006) cũng cho ra kết quả tương tự
Min Tsung Cheng (2009) đã chỉ ra mối tương quan giữa việc huy động
nợ và vốn chủ sở hữu đối với hoạt động kinh doanh Các phát hiện trongnghiên cứu này cho thấy công ty dòng tiền mặt cao, đòn bẩy nợ cũng cónhững tác động tiêu cực đáng kể đối với hiệu quả kinh doanh (đo lường bằngROA và ROE) Do đó, những phát hiện này gợi ý rằng nguy cơ các doanhnghiệp phải dựa vào hoặc phải phụ thuộc hoàn toàn vào vốn vay hoặc vốn cổphần tự có, việc kết hợp 2 nguồn vốn này mang lại hiệu quả tài chính tốt hơn Wang và cộng sự (2010) nghiên cứu về 60 công ty bất động sản TrungQuốc đã chứng minh rằng kết quả đòn bẩy nợ của doanh nghiệp có tác độngtiêu cực đến cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp Dựa trên kết quả nghiêncứu, các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng thấp và cơ hội tăng trưởng cao
có quan hệ tiêu cực giữa việc vay nợ và hiệu suất; trong khi các doanh nghiệp
có cơ hội tăng trưởng trung bình có mối quan hệ tích cực giữa tỷ lệ nợ vớiROE Các phát hiện của Saeedi và Mahmoodi (2011) cho thấy Tỷ lệ nợ, Tỷ lệ
nợ dài hạn và Tỷ lệ nợ ngắn hạn có tác động đến ROE
Trang 16Nghiên cứu của Cheng và cộng sự (2010) về cấu trúc vốn và hiệu quả tài
chính (ROE) ở Trung Quốc: phân tích hồi quy ngưỡng Mẫu dữ liệu nghiêncứu của 650 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Trung Quốc, baogồm 12 ngành nghề, giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2006 Thông quaphương pháp hồi quy ngưỡng, Cheng và cộng sự (2010) đã tìm ra được: ROE
có mối tương quan dương với cấu trúc vốn ở mức dưới 53,97% Tốc độ tăngtrưởng tác động cùng chiều lên hiệu quả của doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởngcủa doanh nghiệp càng cao thì doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả Cònquy mô công ty có tác động ngược chiều lên hiệu suất hoạt động
Nghiên cứu của Onaolapo & Kajola (2010) chỉ nghiên cứu biến hiệu quảkinh doanh dưới góc độ tài chính, được đại diện bởi chỉ số ROA, ROE Dữliệu nghiên cứu gồm 30 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịchchứng khoán Nigeria từ năm 2001 – 2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
nợ tác động âm (-) với Hiệu quả tài chính
Nghiên cứu của Gill và cộng sự (2011), Sử dụng dữ liệu của 272 công tyhoạt động ở ngành dịch vụ và sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoánNew York giai đoạn 2005 – 2007 để khảo sát tác động của cấu trúc vốn đếnkhả năng sinh lời của doanh nghiệp Mỹ Kết quả cho thấy, tồn tại mối quan hệthuận chiều giữa nợ ngắn hạn và tổng nợ đến khả năng sinh lời ROE đối vớidoanh nghiệp hoạt động lĩnh vực dịch vụ, mối quan hệ thuận chiều giữa nợngắn hạn, nợ dài hạn và tổng nợ đến ROE đối với doanh nghiệp hoạt độnglĩnh vực sản xuất
Trang 17Mahdi và cộng sự (2014) Nghiên cứu mối quan hệ giữa quy mô và tuổidoanh nghiệp với hiệu quả tài chính được đo lường bằng Tobin’s Q Mẫunghiên cứu 96 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tehran giaiđoạn 2008-2011, phân tích hồi quy tuyến tính với phần mềm SPSS Kết quả
mô hình cho thấy, quy mô và tuổi doanh nghiệp có tác động cùng tích cực đếnchỉ số Tobin’s Q
Nghiên cứu khác của Hoque và cộng sự vào năm 2014, nghiên cứu dữ
liệu của 117 công ty sản xuất được niêm yết trên thị trường chứng khoán ởDhaka của Bangladesh, trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012 Thôngqua phương pháp hồi quy bằng phần mềm SPSS, Hoque và cộng sự đã tìmthấy được: Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu, tỷ số trả lãi vay, tỷ số tài sản cốđịnh trên tổng tài sản, tỷ số tài sản trên vốn chủ sở hữu có xu hướng tác độngcùng chiều đến Tỷ suất sinh lời của Vốn chủ sở hữu (ROE)
Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2010) về các nhân tố ảnh hưởngđến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính bằng phương pháp đường dẫn đểphân tích số liệu của 428 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoánViệt Nam đã chỉ ra tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính Kếtquả cho thấy hiệu quả kinh doanh (ROA), cấu trúc tài chính có quan hệ tỉ lệthuận với hiệu quả tài chính (ROE)
Trong nghiên cứu của Chu Thị Thu Thủy và cộng sự (2015), Nghiên cứu
sử dụng số liệu của 230 công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên Sở giaodịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn năm 2011-2013trong 14 ngành Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiệu quả tài chính của cáccông ty bị ảnh hưởng đáng kể bởi tỷ lệ vốn nhà nước, đòn bẩy tài chính, nănglực quản lý, quy mô công ty, khả năng thanh toán nhanh và chu kỳ sản xuấtkinh doanh của công ty Mặt khác, nghiên cứu cũng chỉ ra tác động dương (+)của ROA lên tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Trang 18Bảng 1.1: Tóm tắt kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây
STT Nghiên cứu Nhân tố Kết quả tác động đến hiệu quả tài chính
1 Kinsman vàNewman (1998)
Tỷ lệ nợ ngắn hạn Tác động cùng chiều
Tỷ lệ nợ dài hạn Tác động ngược chiều
Tỷ lệ nợ Tác động ngược chiềuQuy mô Tác động ngược chiều
2 Agarwal vàcộng sự (2001)
Nợ Tác động ngược chiềuDoanh thu và tăng
trưởng doanh thu Tác động cùng chiềuQuy mô Tác động cùng chiều
3 Mesquita vàLara (2003) Tỷ lệ nợ ngắn hạn Tác động cùng chiều
Tỷ lệ nợ dài hạn Tác động ngược chiều
4 Weixu (2005)
Tỷ lệ nợ Có tương quan mạnhphi tuyến tính bậc 2,3
Tỷ lệ nợ dài hạn Có tương quanQuy mô Tác động cùng chiềuTốc độ tăng trưởng tài
Trang 19Tỷ lệ nợ (nhóm cònlại) Tác động ngược chiều
7 Cheng và cộngsự (2010) Cấu trúc vốn Có tác động mạnh
Tốc độ tăng trưởng Tác động cùng chiều
8 Onaolapo &Kajola (2010) Tỷ lệ nợ Tác động ngược chiều
9 Gill và cộng sự(2011) Nợ ngắn hạn, Tổng nợ Tác động cùng chiều
10 Mahdi và cộngsự (2014) Quy mô Tác động cùng chiều
Tuổi doanh nghiệp Tác động cùng chiều
11 Hoque và cộngsự (2014)
Tỷ số nợ trên Vốn chủ
sở hữu, tỷ số trả lãivay, tỷ số tài sản cốđịnh trên tổng tài sản,
tỷ số tài sản cố địnhtrên vốn chủ sở hữu
kỳ sản xuất kinh doanh
Có ảnh hưởng đáng kể
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1.1 Khái niệm và phân loại hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
a Khái niệm hiệu quả
Hiệu quả là phạm trù kinh tế hiện nay còn nhiều quan điểm chưa đồngnhất, các nhà nghiên cứu đứng dưới góc độ, phạm vi khác nhau lại đưa ra mộtquan điểm khác nhau về phạm trù này Theo Paul A Samuemlson viết trongcuốn Kinh tế học chỉ ra: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất cácnguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người”.Theo cách tiếp cận này, đã chỉ rõ được hai đặc tính của phạm trù hiệu quả đó
là sử dụng tối ưu các nguồn lực và mục đích của hoạt động Tuy nhiên, cáchtiếp cận này chưa đưa đến cách thức xác định hiệu quả nói chung, hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp nói riêng Theo quan điểm của nhà kinh tế họcngười Anh, Adam Smith, cho rằng: “Hiệu quả - Kết quả đạt được trong hoạtđộng kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” Với cách tiếp cận này, việc xácđịnh hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp thuần túy dựa vào có tiêu thụđược sản phẩm hay không Quan điểm này chưa phân định rõ hiệu quả và kếtquả kinh doanh khi chưa tính đến yếu tố chi phí để đạt được hiệu quả kinhdoanh đó
Trang 21Cần có sự phân biệt rạch ròi giữa hiệu quả và kết quả kinh doanh Kếtquả kinh doanh mới chỉ là biểu hiện về mặt hình thức mà hoạt động kinh tếthu được, nhưng kết quả đó tạo ra bằng cách nào, với giá nào mới là mối quantâm của các nhà kinh tế học, nó thể hiện chất lượng của hoạt động Như vậy,hiệu quả kinh tế phải là một đại lượng kinh tế so sánh giữa kết quả thu được
và chi phí bỏ ra Cụ thể, kết quả kinh doanh là những gì doanh nghiệp đạtđược sau một kỳ nhất định được lượng hóa bằng các chỉ tiêu như sản lượngtiêu thụ, doanh thu, thị phần tiêu thụ , còn hiệu quả kinh doanh phản ánhtrình độ sử dụng các nguồn lực, được tính bằng tỷ số giữa kết quả và hao phí
bỏ ra để đạt được kết quả đó
Theo quan điểm của tác giả cho rằng, “Hiệu quả không chỉ là sự so sánhgiữa chi phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra; hiệu quả được hiểu trướctiên là việc hoàn thành mục tiêu, nếu không hoàn thành mục tiêu thì khôngthể có hiệu quả và để hoàn thành mục tiêu ta phải sử dụng nguồn lực như thếnào” Như vậy, theo quan điểm này thì hiệu quả được gắn với một mục tiêunhất định và việc sử dụng nguồn lực một cách thông minh
Cùng theo quan điểm trên, Trần Thị Thu Phong (2013) đưa quan điểm:
“Biểu hiện cao nhất, tập trung nhấp của hiệu quả kinh doanh là khả năng sinhlời (sức sinh lời), nên việc phân tích hiệu quả kinh doanh phải tập trung phântích khả năng sinh lời của các nguồn lực sử dụng cho hoạt động kinh doanh.Tuy nhiên, khả năng sinh lời chỉ có thể đạt được khi doanh nghiệp có nănglực hoạt động tốt, thể hiện thông qua việc quản lý và sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực của doanh nghiệp Chính vì vậy, để đánh giá được đầy đủ hiệu quảkinh doanh theo đó sẽ bao gồm phân tích 2 nội dung là phân tích hiệu quảhoạt động và phân tích khả năng sinh lời”
Trang 22Tác giả Đoàn Thục Quyên (2015) cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa kết quả kinhdoanh mà doanh nghiệp mà doanh nghiệp thu được với chi phí hoặc nguồnlực bỏ ra để đạt được kết quả đó Hiệu quả kinh doanh được xác định bằngcác chỉ tiêu kinh tế đặc trưng, phản ánh mối quan hệ tỷ lệ so sánh giữa chỉtiêu phản ánh kết quả kinh doanh đạt được với các chỉ tiêu phản ánh chi phíhoặc nguồn lực đã sử dụng vào sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêucủa doanh nghiệp”
Như vậy, có thể thấy rằng có nhiều quan điểm về phạm trù hiệu quảkinh doanh và cách thức xác định hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, theoquan điểm của tác giả, tác giả đồng thuận với cách thức tiếp cận khái niệmhiệu quả tài chính của các nhà khoa học Nguyễn Văn Tạo, Trần Thị ThuPhong, Đoàn Thục Quyên Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi sử dụngkhái niệm hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánhmối quan hệ giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp mà doanh nghiệp thuđược với chi phí hoặc nguồn lực bỏ ra để đạt được kết quả đó, được thể hiệnthông qua các chỉ tiêu về khả năng sinh lời của doanh nghiệp Xét dưới góc
độ tài chính, mục tiêu tối đa của doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị doanhnghiệp trên cơ sở tôn trọng pháp luật và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội Do
đó, một doanh nghiệp có hiệu quả tài chính cao sẽ tạo ra sự gia tăng giá trịdoanh nghiệp trong dài hạn trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các nguồn lực củadoanh nghiệp Để đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, thì cácdoanh nghiệp phải không ngừng cải thiện hiệu quả tài chính Do vậy, hiệu quảhoạt đông kinh doanh còn thể hiện ở tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanhtrong tương quan với chi phí sử dụng vốn: Điều này có nghĩa là trên một đồngvốn bỏ ra, doanh nghiệp cố gắng thu được lợi nhuận cao nhất trên cơ sở đãtính đến các rủi ro có thể chấp nhận
Trang 23b Khái niệm hiệu quả tài chính
Tài chính doanh nghiệp là toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp liên quanđến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn để tối đahóa giá trị doanh nghiệp Xuất phát từ khái niệm của tài chính doanh nghiệpthì hiệu quả tài chính doanh nghiệp có thể được hiểu là hiệu quả gắn liền đếnviệc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn để tối đa hóagiá trị doanh nghiệp
Trên thực tế hiện nay, khi hiểu về hiệu quả tài chính doanh nghiệp có haiquan điểm: Quan điểm thứ nhất: hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc huyđộng, quản lý và sử dụng vốn trong quá trình kinh doanh; quan điểm thứ hai:hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc huy động vốn, còn hiệu quả của việcquản lý và sử dụng vốn là hiệu quả kinh doanh
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tác giả nhìn nhận hiệu quả tàichính doanh nghiệp trên quan điểm thứ nhất
c Phân loại hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Hiệu quả tài chính là chỉ tiêu quan trọng sử dụng để phân tích, đánh giá,rút kinh nghiệp đặc biệt trong việc phục vụ đưa ra các quyết định, lựa chọnphương án kinh doanh Do hiệu quả tài chính là phạm trù tổng hợp, do vậycần nhìn nhận hiệu quả tài chính theo nhiều tiêu chí, khía cạnh, phạm vi khácnhau để có cái nhìn sâu sắc hơn về hiệu quả tài chính
Trang 24- Theo phạm vi tính toán: Theo cách phân loại này hiệu quả tài chínhchia thành hiệu quả tài chính tổng quát và hiệu quả tài chính thành phần Hiệuquả tìa chính tổng quát: Phản ánh trình độ sử dụng mọi nguồn lực để thựchiện các mục tiêu kinh tế xã hội của toàn doanh nghiệp Hiệu quả thành phần:phản ánh trình độ sử dụng từng loại chi phí, nguồn lực riêng biệt như hiệu quả
sử dụng các loại chi phí, các nguồn lực như vật tư, lao động, tiền vốn, từng bộphận kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện một mục tiêu cụ thể
- Theo tính chất tác động: Theo cách phân loại này hiệu quả tài chínhđược chia thành hiệu quả tài chính trực tiếp và hiệu quả tài chính gián tiếp.Hiệu quả tài chính trực tiếp là hiệu quả do chủ thể thực hiện có tác động trựctiếp ngay đến kết quả khi thực hiện mục tiêu hoạt động của chủ thể Hiệu quảtài chính gián tiếp là hiệu quả mà một đối tượng nào đó tạo ra cho một đốitượng khác
- Theo quá trình hình thành: Theo cách phân loại này hiệu quả tài chínhbao gồm hiệu quả trung gian và hiệu quả cuối cùng Hiệu quả trung gian làkhâu trung gian trong quá trình đánh giá hiệu quả tài chính cuối cùng củadoanh nghiệp Biểu hiện của hiệu quả tài chính trung gian là hiệu suất sử dụngcác nguồn lực của doanh nghiệp, là bước trung gian, tiền đề đánh giá hiệu quảtài chính cuối cùng của doanh nghiệp Hiệu quả tài chính cuối cùng là khảnăng sinh lời của doanh nghiệp, một mục tiêu chủ đạo trong hoạt động củadoanh nghiệp
- Phân loại theo cách thức xác định hiệu quả tài chính: Theo cách phânloại này, hiệu quả tài chính được chia thành hiệu quả tương đối và hiệu quảtuyệt đối Hiệu quả tương đối là hiệu quả được xác định bằng tỷ số giữa kếtquả và chi phí Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả được đo bằng hiệu số giữa kếtquả và chi phí
1.1.2 Những chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Trang 25Theo cách tiếp cận truyền thống, hiệu quả tài chính được dùng để chỉmối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu tài chính của chủ thể và chiphí mà chủ thể phải bỏ ra để thực hiện mục tiêu đó trong những điều kiệnnhất định Theo cách tiếp cận này, hiệu quả tài chính tuyệt đối được xác địnhtheo phương pháp:
H = K - CTrong đó:
H Là hiệu quả theo số tuyệt đối
K: Là kết quả đạt được theo mục tiêu đề ra
C: Là chi phí bỏ ra
Thông thường, hiệu quả H chủ yếu được xét đến là lợi nhuận trong kỳ.Như vậy, nếu kết quả kinh doanh K càng lớn theo mục tiêu đề ra bao nhiêu sovới chi phí bỏ ra C thì hiệu quả kinh doanh đạt được đối với doanh nghiệpcàng cao Hiệu quả kinh doanh H còn có thể xác định tương đối:
H = K/C
Trang 26Khi đó hiệu quả kinh doanh H được xét đến là các chỉ tiêu phản ánh tỷsuất như tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận trên giá thành
Do bản thân thuật ngữ hiệu quả tài chính có nhiều cách hiểu và tiếp cận bởimục tiêu, phạm vi, quy mô, thời điểm đánh giá khác nhau nên quan điểm về
hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp cũng cónhiều khác biệt Có quan điểm cho rằng, đánh giá hiệu quả dựa chính trên cácchỉ tiêu về khả năng sinh lời của vốn kinh doanh Quan điểm này đượcUegene F Brigham và Joel F Houston, Đại học Floria (Mỹ) đưa ra tại sáchQuản trị tài chính với nhận định: Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời cho thấytác động kết hợp của tính thanh khoản, quản lý tài sản và nợ lên kết quả kinhdoanh Do vậy, đánh giá hiệu quả tài chính chủ yếu dựa trên việc đánh giá cácchỉ tiêu về khả năng sinh lời của doanh nghiệp Cùng quan điểm này nhiềunhà khoa học như Nguyễn Tấn Bình khi đánh giá hiệu quả tài chính chỉ đánhgiá khả năng sinh lời của doanh nghiệp Cũng có quan điểm cho rằng, do hiệuquả tài chính là thước đo tổng hợp kết quả cuối cùng của việc sử dụng tổnghợp các nguồn lực của doanh nghiệp, các bộ phận của doanh nghiệp trongmột kỳ nhất định do vậy, việc tiếp cận chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính cầnphải đảm bảo nhận diện tốt hơn các nhân tố, bộ phận tạo ra hiệu quả cuốicùng của doanh nghiệp
Trang 27Đánh giá và đo lường hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là một trongnhững vấn đề gây tranh cãi và được thảo luận nhiều trong quản lý tài chính.Việc sử dụng các công cụ nào để đánh giá về hiệu quả tài chính doanh nghiệp
có vai trò quan trọng Có rất nhiều các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chínhdoanh nghiệp, song các chỉ tiêu thường được sử dụng nhất trong các nghiêncứu có thể chia thành hai nhóm chính: Nhóm chỉ tiêu thứ nhất, sử dụng công
cụ kế toán được nhiều tác giả sử dụng trong các nghiên cứu trước đây, đó là
tỷ suất giữa kết quả đạt được (thu nhập thuần, lợi nhuận ròng) và các yếu tốđầu vào (tài sản, nguồn vốn, vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu); Nhóm chỉ tiêu thứhai, gồm các mô hình kinh tế dựa trên giá trị thị trường
* Nhóm chỉ tiêu thứ nhất
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS)
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thuthuần trong kỳ của doanh nghiệp Nó thể hiện, khi thực hiện một đồng doanhthu trong kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận Khả năng tạo
ra doanh thu của doanh nghiệp là những chiến lược dài hạn, quyết định tạo lợinhuận và nâng cao Hiệu quả tài chính Song mục tiêu cuối cùng của nhà quảntrị không phải là doanh thu mà là lợi nhuận sau thuế, do đó để tăng lợi nhuậnsau thuế cần duy trì tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí,khi đó mới có sự tăng trưởng bền vững Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên doanhthu cũng thể hiện trình độ kiểm soát chi phí của các nhà quản trị nhằm tăng sựcạnh tranh trên thị trường, chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên doanh thu (ROS) =
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ Doanh thu trong kỳ
Trang 28Chỉ tiêu này cũng là một trong các chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý,tiết kiệm chi phí của một doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp quản lý tốt chi phíthì sẽ nâng cao được tỷ suất này Bên cạnh đó, tỷ suất này phụ thuộc lớn vàođặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh và chiến lược cạnh tranh củadoanh nghiệp Ví dụ, các doanh nghiệp cạnh tranh bằng sự khác biệt hoá(thương hiệu nổi tiếng) thường có hệ số này cao, trong khi các doanh nghiệpcạnh tranh bằng việc dẫn đầu về chi phí thấp thường có hệ số này thấp.
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP)
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản còn được gọi là tỷ suất lợi nhuậntrước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh (BEP) Chỉ tiêu này phản ánh khảnăng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh không tính đến ảnh hưởng củathuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận
kinh tế của Tài sản
(BEP)
=
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
Tổng tài sản bình quân
Trang 29Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tài sản (ROA)
Tỷ suất này còn được gọi là tỷ suất sinh lời ròng của tài sản (ROA) Hệ
số này phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợinhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên tài sản (ROA) =
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ Tổng tài sản bình quân
Chỉ số này cho biết bình quân 1 đồng tài sản bỏ vào đầu tư thì sau quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ thu lại được bao nhiêu đồng lời Đây
là thước đo có thể tránh được những bóp méo có thể có do các chiến lược tàichính của nhà quản trị DN tạo ra Chỉ số ROA có tính đến số lượng tài sảnđược sử dụng để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh Chỉ số này xác định công
ty có thể tạo ra một tỷ suất lợi nhuận ròng đủ lớn trên những tài sản của mình
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Đây là một chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm Hệ số này đo lườngmức lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng vốn của chủ sở hữu trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
trên vốn chủ sở hữu (ROE)
=
=
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ
Trang 30Chỉ số này cho biết bình quân 1 đồng vốn CSH được bỏ vào đầu tư thìsau quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ sở hữu thu lại được baonhiêu đồng lời Đây là một chỉ số được sử dụng rất phổ biến bởi tính đơngiản, dễ hiểu và dễ so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề vớiquy mô khác nhau, hoặc giữa các doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề khácnhau, hoặc giữa nhiều hoạt động đầu tư khác nhau như tiền gửi tiết kiệm, bấtđộng sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ, dự án kinh doanh chính vì vậy nó
sẽ giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định tài trợ nhanh chóng
Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của chỉ số ROE là nó có thể dễ dàng bịbóp méo bởi các chiến lược tài chính của nhà quản trị doanh nghiệp Ví dụ,nhà quản trị có thể dự đoán được vì một lý do gì đó mà lợi nhuận của DN cókhả năng bị ảnh hưởng và suy giảm nên doanh nghiệp sẽ tăng đầu tư vào dư
nợ hoặc mua lại cổ phiếu từ nguồn tiền mặt tích trữ, và chính những hoạtđộng này sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện được đáng kể chỉ số ROE
Tóm lại, nhóm hệ số dựa trên giá trị sổ sách là cách nhìn về quá khứhoặc đánh giá khả năng lợi nhuận ngắn hạn của doanh nghiệp Các hệ số này
là những chỉ báo hiệu quả cho kết quả sản xuất kinh doanh hiện tại và phảnánh lợi nhuận và doanh nghiệp đạt được trong các kỳ kế toán đã qua Bêncạnh đó, các chỉ tiêu của nhóm thứ nhất không đưa ra một góc nhìn dài hạncho cổ đông và lãnh đạo doanh nghiệp bởi đó là thước đo quá khứ và ngắnhạn
* Nhóm chỉ tiêu thứ hai
Nhóm hệ số giá trị thị trường cũng thường được sử dụng để phản ánhhiệu quả tài chính hoặc xác định giá trị doanh nghiệp Trong đó hai hệ sốMBVR và Tobin’s Q rất thông dụng như các công cụ đánh giá tốt về hiệu quảtài chính doanh nghiệp
Chỉ số Tobin’s Q
Trang 31Grunfeld (1960) đã đề nghị sử dụng giá trị thị trường của công ty như
là đại diện tiêu biểu cho khả năng tạo lợi nhuận kỳ vọng của công ty Vì vậy,đầu tư phụ thuộc vào giá trị thị trường của công ty đó Cách tiếp cận giá trị thịtrường này của Grunfeld được xem là người đi trước mở đường cho lý thuyết
Q của Tobin (Tobin’s Q theory) Brainare và Tobin (1968), và Tobin (1969)
đã nỗ lực giải thích về đầu tư dựa trên một chỉ số q, chỉ số này là tỷ số của giátrị thị trường của vốn và chi phí thay thế nó Ý tưởng của lý thuyết này là khichỉ số q lớn hơn 1, thì công ty nên tiến hành đẩy mạnh đầu tư vì lợi nhuận tạo
ra sẽ vượt hơn chi phí mua tài sản của công ty
Tobin’s Q =
(Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu + Giá trị sổ sách của
các khoản nợ) Giá trị sổ sách của tài sản
Trang 32Chỉ số MBVR được sử dụng để so sánh vố chủ sở hữu theo giá trị thịtrường và giá trị sổ sách kế toán Thể hiện sự kỳ vọng của thị trường đối vớihiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
MBVR = Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu
Giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu
Các hệ số MBVR và Tobin’s Q có thể cho biết hiệu quả tương lai củadoanh ngiệp, bởi chúng phả ánh được đánh giá của thị trường về tiềm năng lợinhuận của doanh nghiệp trong tương lai (phản ảnh vào thị giá của cổ phiếu).Điều này hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa của các phương pháp định giá cổphiếu sử dụng dòng tiền tương lai chiết khấu về hiện tại theo một mức rủi roxác định
Tóm lại, hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp có thể được đánh giáthông qua hai nhóm hệ số kết hợp lại Sự kết hợp của hai nhóm hệ số này cóthể đưa ra cho nhà quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp, cổ đông và thị trườngnhững đánh giá bao quát về hiệu quả tài chính trong quá khứ cũng như tiềmnăng lợi nhuận và tăng trưởng tương lại của doanh nghiệp
Trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng chỉ số ROE vàTobin’s Q để đánh giá hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp bất động sảnniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Cấu trúc vốn
Trang 33Cấu trúc vốn là quan hệ tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu của doanhnghiệp để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh (Ahmad và các cộng
sự, 2012) Theo Damodaran (2006) cho rằn nig: cấu trúc vốn của doanhnghiệp là sự pha trộn của nợ và vốn chủ sở hữu được sử dụng để tài trợ chohoạt động sản xuất kinh doanh Cấu trúc vốn được xem là sự kết hợp của cácnguồn tài chính được sử dụng để tạo nên các tài sản đó, bao gồm các nguồntài chính đến từ bên ngoài hoặc từ nguồn nội bộ bên trong doanh nghiệp Nếudoanh nghiệp chỉ sử dụng nguồn vốn của mình thì toàn bộ lợi nhuận đượcphân phối cho các cổ đông và tích lũy (qua hình thức trả cổ tức và lợi nhuậngiữ lại) Nếu doanh nghiệp sử dụng một phần nợ, doanh nghiệp phải dành mộtphần lợi nhuận để trả nợ sau này Cho đến bây giờ sự tranh luận về tầm quantrọng của việc lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp vẫn đang tiếp tục mặc
dù nó đã diễn ra trong nhiều thập kỷ và xét về mặt bản chất, đó chính là quátrình tranh luận tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính doanhnghiệp Các chuyên gia tài chính theo quan điểm cổ điển cho rằng tăng đònbẩy tài chính của doanh nghiệp, ví dụ như tăng tỷ trọng nợ trong cấu trúc vốncủa doanh nghiệp lên đến một điểm nào đó sẽ làm tăng hiệu quả tài chínhdoanh nghiệp nhưng ngoài điểm đó mà nếu tiếp tục tăng lên trong đòn bẩy sẽlàm tăng chi phí vốn của doanh nghiệp và kết quả sẽ làm giảm hiệu quả tàichính
Trang 34Sự tranh luận này không chỉ đối với lý thuyết và nó cũng xảy ra với cácnhà nghiên cứu thực nghiệm như: với Carpentier (2006) cho rằng không cóbằng chứng cho thấy cấu trúc vốn tác động đến hiệu quả tài chính Tuy nhiên,với tác giả Gill và cộng sự (2011) và Hoque và cộng sự (2014) thì cho rằngcấu trúc vốn có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính Ngược lại, Mesquita
và Lara (2003) cho rằng: Tỷ lệ nợ và Tỷ lệ nợ dài hạn tác động ngược chiềuvới ROE với mức ý nghĩa 5%, trong khi đó Tỷ lệ nợ ngắn hạn lại có tác độngtích cực đến ROE và có ý nghĩa thống kê Đa số các nghiên cứu lại cho rằng
tỷ lệ nợ tác động tiêu cực đế hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, như nghiêncứu của Min Tsung Cheng (2009); Onaolapo & Kajola (2010),… Tóm lại, cácnghiên cứu này là bằng chứng cho thấy cấu trúc vốn có tác động đến hiệu quảtài chính doanh nghiệp tuy nhiên có chỉ tiêu thì tích cực nhưng có chỉ tiêu lạitiêu cực và nó căn cứ vào từng biến độc lập và biến phụ thuộc cụ thể Từ cácnghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm, nghiên cứu này sẽ cung cấp bằngchứng thực nghiệm cho thấy cấu trúc vốn có tác động hay không tác động đếnhiệu quả tài chính của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam giai đoạn 2012-2016
1.2.2 Quy mô doanh nghiệp
Trang 35Quy mô doanh nghiệp có thể được hiểu là quy mô nguồn vốn, quy môtài sản, quy mô mạng lưới tiệu thụ… Mô hình lý thuyết Lợi thế kinh tế theoquy mô hay còn gọi là lợi nhuận tăng dần theo quy mô được thể hiện khi chiphí bình quân trên một sản phẩm sản xuất ra sẽ giảm dần theo mức tăng củasản lượng sản phẩm Bên cạnh đó, các doanh nghiệp lớn sẽ có điều kiện thuậnlợi về uy tín, thương hiệu, thị phần, sức mạnh tài chính nên có khả năng tiếpcận nguồn vốn tốt hơn (dễ dàng huy động vốn hơn, mức vay nợ cao hơn, lãisuất thấp hơn) Đối với các doanh nghiệp bất động sản, việc tiếp cận nguồnvốn vay cực kì quan trọng và cần thiết vì đặc thù của sản phẩm ngành bấtđộng sản có giá trị lớn, nếu chỉ sử dụng vốn tự có thì rất khó khăn trong việcquay vòng vốn kinh doanh.
Các doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì khả năng huy động vốn càngcao, doanh nghiệp sẽ có đủ vốn để đầu tư cho các dự án bất động sản mớitrong khi tồn kho bất động sản lớn vẫn chưa bán được Như vậy với lợi thế vềquy mô các doanh nghiệp bất động sản sẽ có hiệu quả tài chính tốt hơn Điềunày được chứng minh trong các nghiên cứu của Weixu (2005), Mahdi và cộng
sự (2014), Chu Thị Thu Thủy và cộng sự (2015) Điều này trái ngược với kếtquả nghiên cứu của Agarwal và cộng sự (2001), Cheng và cộng sự (2010)
1.2.3 Tăng trưởng
Myers (1977) cũng cho rằng các doanh nghiệp tăng trưởng cao cónhiều lựa chọn hơn để đầu tư trong tương lai hơn là các doanh nghiệp tăngtrưởng thấp Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hộimang lại tỷ suất sinh lời cao hơn cho doanh nghiệp
Trang 36Tăng trưởng của doanh nghiệp có thể được đo lường bằng sự tăngtrưởng về tài sản, về doanh thu, lợi nhuận, vốn chủ sỡ hữu… Trong nghiêncứu này tác giả chú ý đến sự tăng trưởng về tài sản và doanh thu Các nghiêncứu trước đây đã đưa ra những bằng chứng thuyết phục cho thấy, tốc độ tăngtrưởng có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp nhưnghiên cứu của Agarwal và cộng sự (2001); Cheng và cộng sự (2010)….
1.2.4 Hiệu suất sử dụng tài sản
Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu của bất cứ mộtdoanh nghiệp nào cũng là nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu, dovậy mà việc sử dụng tài sản một cách có hiệu quả tức là kinh doanh đạt tỷsuất lợi nhuận cao Hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp là phạm trùkinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng tài sản vào hoạt động sản xuấtkinh doanh của mình nhằm mục tiêu sinh lợi tối đa Các doanh nghiệp đều cốgắng sao cho tài sản được đưa vào sử dụng hợp lý để kiếm lợi cao nhất đồngthời luôn tìm các nguồn tài trợ, tăng tài sản hiện có để mở rộng sản xuất kinhdoanh cả về chất và lượng, đảm bảo các mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.Việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định sẽ góp phần đáng kể đem lạihiệu quả kinh tế cao cho các doanh nghiệp
- Trước hết nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản sẽ góp phần làm tăngdoanh thu cũng đồng thời tăng lợi nhuận Doanh thu tăng lên kết hợp với chiphí sản xuất giảm do tiết kiệm được nguyên, nhiên vật liệu và các chi phíquản lý khác đã làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên so với trước kia
Trang 37Hiệu suất sử dụng tài sản cao sẽ tác động tích cực đến hiệu quả sử dụngvốn của doanh nghiệp Khi hiệu suất sử dụng tài sản cao thì có nghĩa là doanhnghiệp đã làm cho đồng vốn đầu tư sử dụng có hiệu quả và sẽ tạo cho doanhnghiệp một uy tín tốt để huy động vốn Bên cạnh đó khi hiệu suất sử dụng tàisản cao thì nhu cầu vốn sẽ giảm đi, do đó sẽ cần ít vốn hơn để đáp ứng nhucầu kinh doanh nhất định, kế đó sẽ làm giảm chi phí cho sử dụng nguồn vốn,tăng lợi thế cạnh tranh về chi phí Việc tiết kiệm về vốn nói chung và vốn cốđịnh nói riêng là rất ý nghĩa trong điều kiện thiếu vốn như hiện nay.
Hiệu suất sử dụng tài sản còn tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệptrên thị trường Sức cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào lợi thế cạnhtranh của doanh nghiệp trong đó có lợi thế về chi phí và tính khác biệt của sảnphẩm
Hiệu suất sử dụng tài có ý nghĩa quan trọng không những giúp chodoanh nghiệp tăng được lợi nhuận (là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp)
mà còn giúp doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn cố định, tăng sức mạnhtài chính, giúp doanh nghiệp đổi mới, trang bị thêm nhiều tài sản cố định hiệnđại hơn phục vụ cho nhu cầu sản xuất, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệptrên thị trường
Rõ ràng hiệu suất sử dụng tài sản có ảnh hưởng đến Hiệu quả tài chínhcủa doanh nghiệp, hiệu suất sử dụng càng cao thì hiệu quả tài chính cũng tăngtheo Điều này cũng đã được Hoque và cộng sự (2014) thể hiện trong nghiêncứu của mình
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hiệu quả tài chính là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giámột doanh nghiệp Đối với nhà quản trị, hiệu quả tài chính giúp nhà điều hànhnhìn nhận và xem xét các chiến lược đưa ra có hướng doanh nghiệp đi tớimục tiêu đã đề ra ban đầu hay không Đối với nhà đầu tư trên thị trường, hiệuquả tài chính tác động rất lớn tới quyết định đầu tư của họ bởi vì bất kỳ nhàđầu tư nào cũng mong muốn bỏ vốn vào các doanh nghiệp làm ăn có hiệuquả
Có nhiều lý thuyết và các công trình nghiên cứu thực nghiệm được đưa
ra nhằm đo lường, đánh giá và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quảtài chính của doanh nghiệp nhưng vì một số nguyên nhân như: các nghiên cứuthực hiện ở những quốc gia có nền kinh tế khác nhau, thời gian và phạm vikhác nhau nên kết quả nghiên cứu là không thống nhất
Đưa những lý thuyết này vào thực tiễn nền kinh tế Việt Nam và cụ thể
là các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam, nhìn nhận ra những vấn đề củahiệu quả tài chính của các doanh nghiệp bất động sản hiện nay trên thị trườngchứng khoán Việt Nam chính là những gì mà nghiên cứu này hướng đến
Trang 39CHƯƠNG 2THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU2.1 TỔNG QUAN VỀ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM
2.1.1 Bất động sản và hoạt động kinh doanh bất động sản
Trang 40Bất động sản có những đặc điểm khác biệt so với những hàng hoá khácnhư tính cố định, tính cá biệt và giá trị phụ thuộc nhiều vào mục đích sửdụng Trong đó, tính cố định là đặc trưng khác biệt giữa hàng hóa bất độngsản so với các loại hàng hoá khác Đặc tính này đòi hỏi phải có phương thứcgiao dịch và quản lý hoạt động giao dịch khác với các thị trường hàng hoákhác Với các hàng hoá khác, người bán, người mua có thể dễ dàng đem hànghoá về nơi nào tuỳ ý nhưng với bất động sản thì chủ nhân của nó phải chuyểnđến nơi có bất động sản Hàng hoá bất động sản không thể đem ra thị trường(chợ, siêu thị) để trưng bày như các loại hàng hoá khác mà thường phải giớithiệu nó thông qua mô tả bằng mô hình, hình ảnh hoặc bản vẽ thiết kế Tính
cố định còn tạo cho hàng hoá bất động sản mang tính “địa điểm” và “tính địaphương" rất cao Cùng một loại bất động sản nhưng ở những địa điểm khácnhau thì có giá trị khác nhau Với bất động sản có cùng quy mô, chất lượngnhư nhau, nhưng nếu có vị trí khác nhau thì giá trị của chúng sẽ khác nhau.Tương tự như vậy, cùng một loại bất động sản nhưng bất động sản ở đô thịlớn có giá trị cao hơn nhiều bất động sản đó ở các đô thị nhỏ, vùng sâu, vùng
xa Tính cố định đặt ra vấn đề phải có sự điều tiết thị trường bất động sảnkhác so với các thị trường hàng hoá khác Với hàng hoá bình thường có thểđiều chỉnh cung - cầu bằng cách chuyển hàng hoá từ những nơi dư thừa đếnnơi thiếu Nhưng với bất động sản phải chủ động điều chỉnh cung - cầu thôngqua công tác dự báo và lập kế hoạch phù hợp với điều kiện cụ thể của từngđịa phương, khu vực Ngoài ra, bất động sản còn có những đặc điểm khác,như: tính cá biệt và khan hiếm, đặc biệt là đất đai; tính bền lâu; tính chịu ảnhhưởng lẫn nhau