Dưới sự tác động của sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của kỹ thuật và công nghệ, ngày nay lực lượng sản xuất đã có bước phát triển mạnh mẽ. Lực lượng sản xuất thay đổi cả về tính chất và trình độ kéo theo sự thay đổi về quan hệ sản xuất. Do đó mà trong các nước chủ nghĩa tư bản, bản chất của nó cung mang những đặcđiểm mới. Nhân dân ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mong muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới. Do vậy, tăng cường quan hệ với hệ thống kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động và cạnh tranh quốc tế đâng là đề tài quan trọngcần được làm sáng tỏ. Hiện nay các nước tư bản phát triển vẫn đang giữ vị trí chi phối nền kinh tế thế giới. Trên phương diện chính trị thế giới cũng như kinh tế thế giới, chủ nghĩa tư bản hiện đại đang chiếm ưu thế. Chúng ta kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh quốc tế như vậy nên việc hiểu thấu đáo về chủ nghĩa tư bản hiện đại là diều hết sức cần thiết. Hơn thế nữa, chủ nghĩa xã hội không phải bỗng dưng mà có và phát triển. Dương nhiên nó chỉ có thể làm nên những thành tựu của mình trên cơ sở đúc kết bài học và kinh nghiệm lịch sử, trên cơ sở phát triển của xã hội loài nguời. Nghiên cứu những thành bai, được mất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, lấy cái tốt bỏ cái xấu của nó là để giúp Chúng ta xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa tiến bộ hơn, ưu việt hơn tư bản chủ nghĩa. Do tính cấp thiết đó của đề tài, chúng em đã viết bài này. Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những đặc điểm của chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay và xu hướng vận động của nó.
Trang 1I - Lời mở đầu
Dới sự tác động của sự phát triển mạnh mẽ nh vũ bão của kỹ thuật
và công nghệ, ngày nay lực lợng sản xuất đã có bớc phát triển mạnh mẽ.Lực lợng sản xuất thay đổi cả về tính chất và trình độ kéo theo sự thay đổi
về quan hệ sản xuất Do đó mà trong các nớc chủ nghĩa t bản, bản chất của
nó cung mang những đặcđiểm mới
Nhân dân ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nớc, xây dựngnền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa, mong muốn làmbạn với tất cả các nớc trên thế giới Do vậy, tăng cờng quan hệ với hệthống kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động và cạnh tranh quốc tế
đâng là đề tài quan trọngcần đợc làm sáng tỏ Hiện nay các nớc t bản pháttriển vẫn đang giữ vị trí chi phối nền kinh tế thế giới Trên phơng diệnchính trị thế giới cũng nh kinh tế thế giới, chủ nghĩa t bản hiện đại đangchiếm u thế Chúng ta kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnhquốc tế nh vậy nên việc hiểu thấu đáo về chủ nghĩa t bản hiện đại là diềuhết sức cần thiết
Hơn thế nữa, chủ nghĩa xã hội không phải bỗng dng mà có và pháttriển Dơng nhiên nó chỉ có thể làm nên những thành tựu của mình trên cơ
sở đúc kết bài học và kinh nghiệm lịch sử, trên cơ sở phát triển của xã hộiloài nguời Nghiên cứu những thành bai, đợc mất của chủ nghĩa t bản hiện
đại, lấy cái tốt bỏ cái xấu của nó là để giúp Chúng ta xây dựng chế độ xãhội chủ nghĩa tiến bộ hơn, u việt hơn t bản chủ nghĩa
Do tính cấp thiết đó của đề tài, chúng em đã viết bài này Mục đíchnghiên cứu của đề tài là làm rõ những đặc điểm của chủ nghĩa t bản hiện
đại ngày nay và xu hớng vận động của nó
II - Đặc trng của chủ nghĩa t bản hiện đại ngày nay
1 Khái niệm về chủ nghĩa t bản hiện đại ngày nay
Chủ nghĩa t bản ngày nay là giai đoạn hiện nay của chủ nghĩa t bản
độc quyền(chủ nghĩa t bản hiện đại)nằm trong phơng thức sản xuất t bảnchủ nghĩa, đợc phân tích kể tì sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay,chủ yếu là từ những năm cuối của thế kỷ 20
ở đây chủ nghĩa t bản hiẹn đại phản ánh một giai đoạn phát triển mới vềchất trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa t bản Đó là giai đoạn chủ nghĩa
t bản độc quyền nhà nớc với nhiều đặc trng mới
Trang 22 Sự biến đổi về lực lợng sản xuất
2.1 Chủ nghĩa t bản đang trong bớc quá độ từ cơ sở vật chất kỹ thuật truyền thống sang cơ sở vật chất kỹ thuật hoàn toàn mới về chất -
đó là kinh tế trí thức
Kinh tế tri thức có những đặc trng là:
Các tài sản vật thể (physical assets) nh đất đai, nhà máy, thiết bịkhông còn đóng vai trò nh trớc Chất xám, vốn con ngời có ý nghĩaquyết định sức mạnh kinh tế Trong trao đổi, phần mềm chiếm vị tríquan trọng
Các hoạt động kinh tế đều đợc “số hoá” và đợc vận hành trên cácsiêu xa lộ thông tin, các mạng lới máy tính lan toả khắp nơi Thôngtin sẽ đóng vai trò quyết định nhất và có vai trò nh “bản vị của mọihoạt động kinh tế”
Các quan niệm truyền thống và phơng thức sản xuất kinh doanh sẽthay đổi Ví dụ, sở hữu trí tuệ đợc đề cao, quản lý theo mạng sẽthay thế phơng pháp quản lý theo thứ bậc
Tuy nhiên hiện nay loài ngời mới ở bớc quá độ Những biểu hiện
cụ thể của bớc quá độ là sự thay thế từng bớc các t liệu sản xuất truyềnthống do cuộc cách mạng công nghiệp mang lại bằng các t liệu sảnxuất hiện đại dựa trên cơ sở của những thành tựu của cuộc cách mạngkhoa học công nghệ, mà tập trung ở các lĩnh vực điện tử, tin học, vậtliệu mới, công nghệ sinh học thể hiện trong những thiết bị siêu nhỏ,siêu nhẹ, siêu bền tác động nhanh, hiệu quả cao, tiêu tốn ít năng l -ợng Các t liệu sản xuất này hết sức đa dạng, phong phú cả vế đối tợnglao động lẫn t liệu lao động Các công cụ thiết bị tự động hoá ngàycàng phát triển thay thế cho các công cụ, thiết bị cơ khí hoá Có thểnói khái quát là hiện đã có ba loại thiết bị biểu hiện chức năng tự độnghoá Đó là:
+ Máy tự động trong quá trình hoạt động
+ Máy công cụ điều khiển bằng số
+ Ngời máy Đặc biệt là ngời máy(Robot) đã từng bớc thay thếphần công việc nặng nhọc, những công đoạn nguy hiểm, độc hại chongời lao động, đồng thời đã xuất hiện những nhà máy tự động hoá dongời máy điều khiển những công đoạn cần thiết Các quá trình lao
động trí óc cũng đã bớc đầu đợc thử nghiệm để ngời máy thay thế Tính cách mạng của t liệu sản xuất trớc hết thể hiện ở công cụ lao
động dây chuyền đến tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất Dovậy, phơng thức sản xuất của cải vật chất cũng có bớc nhảy vọt từ kỹthuật cơ khí sang bán tự động và tự động và các yếu tố cơ bản của nềnkinh tế tri thức đã xuất hiện
Nguyên nhân của bớc quá độ này là do tác động của cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ Chính cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ với những lĩnh vực mũi nhọn đợc tập trung là kỹ thuật điện
tử, công nghệ thông tin, vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệhải dơng đã tạo ra những thành tựu mới và đợc chủ nghĩa t bản
1 Hiện nay thế giới có khoảng 500000 ngời máy công nghiệp và
đ-ợc tập chung ở những nớc t bản phát triển Tỷ lệ ngời máy trên một vạn
Trang 3dân của Thụy Điển là 8, Nhật Bản: 6, Mỹ: 2, Cộng hoà liên bang Đức:
1, 5
2 Tỷ lệ này có sự khác nhau ở các nớc Chẳn hạn ở Pháp số côngnhân làm việc trên máy hoàn toàn tự động chiếm 15, 7% tổng số côngnhân trong các ngành công nghiệp
áp dụng một cách hiệu quả để tạo ra “ cái cốt vật chất” mới thay cho
đại công nghiệp cơ khí Vai trò khoa học ở đây rất to lớn Nó đã thực
sự phát huy tác dụng khi trở thành lực lợng sản xuất nh C Mác đãkhẳng định, và ngày nay vai trò đó đã đợc đánh giá cao Chẳng hạntheo đánh giá gần đây ngời ta cho rằng những đổi mới công nghệ đã
đóng góp tới 65% tăng trởng kinh tế của Nhật Bản, 73% kinh tế củaAnh va 76% kinh tế của Pháp và Cộng hoà liên bang Đức Trong báocáo số hai về nền kinh tế số hoá đang xuất hiện (công bố tháng 6-1999), Bộ thơng mại Mỹ đã khẳng định khu vực công nghệ thông tin
đã đóng góp tới 35% tăng trởng kinh tế của Mỹ
2 2 Sự biến đổi về cơ cấu lao động
Đội ngũ ngời lao động làm thuê lực lợng sản xuất cơ bản, cũng có
sự biến đổi cả về trình độ nghiệp vụ cơ cấu và các yếu tố cấu thành giá trịhàng hoá sức lao động để phù hợp với bớc nhảy vọt mang tính cách mạngcủa t liệu sản xuất Cho đến nay đội ngũ lao động ở các nớc t bản pháttriển đã đạt trình độ văn hoá chuyên môn nghiệp vụ cao Cơ cấu lao động
đã có sự thay đổi theo chiều hứơng tiến bộ và các yếu tố tái sản xuất t bảnchủ nghĩa một cách có hiệu qủa
-Về cơ cấu lao động :
Lao động dịch vụ đợc tập trung cao 70-75%, đồng thời đội ngũchuyên gia có tay nghề cao chủ yếu đợc tập trung ở khu vực này Chẳnghạn ở Mĩ thập kỉ 80, tỉ lệ lao động “cổ trắng” và “ cổ xanh” là 50/32
Đồng thời xuất hiện lực lợng “công nhân cổ vàng” Đó là cán bộ có trình
độ chuyên môn đại học, trên đại học Lực lợng lao động này đang ngàycàng tăng lên ở các nớc t bản phát triển
Với nền sản xuất dần dần từng bớc chuyển sang nền “ sản xuất trithức”, vai trò của nguồn nhân lực càng trở nên quan trọng Theo đánh giácủa ngân hàng thế giới ởNhật Bản nguồn lực con ngời chiếm 81% trongtổng số các nguồn lực Còn với Mĩ, Pháp, Đức, Italia lần lợt là 59%, 77%,79%, 82%
Để đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, các nớc t bản đã tăng cờng
đầu t vào việc nghiên cứu và triển khai, thực hiện hợp tác quốc tế trongnhững chơng trình nghiên cứu các đề tài mang tính chiến lợc, thực hiện cảicách giáo dục
-Về tái sản xuất sức lao động :
Do sự đầu t vào con ngời để làm tăng các yếu tố tái sản xuất sức lao
động cả về vật chất lẫn tinh thần nhằm khơi dậy sự sáng tạo, phục vụ quátrình tái sản xuất t bản chủ nghĩa trong điều kiện mới một cách tốt hơnnên tốc độ tăng trởng kinh tế tăng, GDP bình quân đầu ngời cao, tuổi thọbình quân và tỉ lệ ngời biết chữ tăng, điều đó biểu hiện ở chỉ số HDI tăng.Theo thống kê của LHQ, chỉ số HDI của các nớc t bản phát triển thập kỉ
90 khá cao, xấp xỉ 1 Chẳng hạn chỉ số HDI ở Nhật là 0, 98 và Canada là
0 989
Trang 4Cùng với việc nâng cao trình độ nghề nghệp của ngời lao động, cácnớc t bản đã quan tâm đến các yếu tố cấu thành của gía trị hàng hoá sứclao động, thực hiện nâng cao chất lợng cuộc sống Chẳng hạn, thông qua
sự điều tiết kinh tế, can thiệp vào các điều kiện của quá trình tái sản xuất,
đảm bảo các điều kiện ăn, ở, sinh hoạt, đi lại, học hành, vui chơi giải trícủa bản thân và gia đình ngời lao động Do đó xuất hiện tầng lớp trung lu (bao gồm cả những ngời công nhân “cổ trắng”, “cổ vàng” ) Ngoài việcthực hiện chính sách xã hội, nh chính sách việc làm, bảo hiểm, trợ cấp thấtnghiệp, trợ cấp gia đình đông con chăm sóc y tế ngời già, trẻ em, ngời tàntật nhà nớc t sản còn sử dụng các công cụ điều tiết giá cả, lạm phát,thuế, thực hiện điều tiết phân phối lạiđể ổn định tiền lơng, thu nhập.Trong giai đoạn 1981 –1990, tỉ lệ lạm phát ở các nớc t bản phát triểntrung bình 5, 5 % ( trong đó Mĩ 4, 5%, EU 6, 6%, Nhật Bản 1, 9%), giai
đoạn 1991-2000 tỉ lệ đó là 2, 2%, trong đó năm 1991 : 4, 5%, 1998: 1,4%, 1999:1, 1%
Sự quan tâm đến điều kiện tái sản xuất sức lao động của chủ nghĩa
t bản một mặt liên quan đến tiêu dùng có tính sản xuất và có thể nói nócũng giống nh sự quan tâm của nhà t bản đến máy móc thiết bị, vì đó là tbản và là tài sản của mình Nhng mặt khác xã hội càng văn minh thì buộcchủ nghĩa t bản cũng phải sử dụng các phơng pháp tinh tế trong việc giảiquyết các quan hệ xã hội Do đó không thể không quan tâm đến tàinguyên con ngời, nhân tố quyết định cuối cùng đến việc thắng hay thua
đối thủ cạnh tranh Đó là một tất yếu khách quan mà nhà nớc với t cách làngời quản lí kinh tế và quản lí xã hội phải thực hiện
Có thể nói trong điều kiện thời đại ngày nay, chủ nghĩa t bản độcquyền nhà nớc đã tăng cờng điều tiết quá trình phân phối và phân phối lại.Vì vậy mặc dù về cơ bản ngời lao động cũng chỉ nhận đợc phần V, cònnhà t bản hởng phần m, song do quá trình điều tiết của nhà nớc một phầnnhỏ m cũng thuộc về ngời lao động dới hình thức quĩ phúc lợi xã hội và đ-
ợc hởng thụ thông qua việc tiêu dùng các giá trị sử dụng của công trình
do quĩ phúc lợi xã hội mang lại
3 Sự biến đổi, điều chỉnh của quan hệ sản xuất
3.1 Sự biến đổi về các hình thức sở hữu
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay hình thức sở hữu củachủ nghĩa t bản đã coc bớc biến đổi hết sức to lớn với những biểu hiệnquan trọng là :
a) Hình thức sở hữu đa dạng :
- Có nhiều chủ thể cùng sở hữu t liệu sản xuất trong một doanh nghiệp
cổ phần voí những tỉ lệ khác nhau trong đó có cả những nhà t bản lớn nhỏ
và kể cả ngời lao động cũng đóng góp cổ phần để đợc hởng lợi tức cổphần Chẳng hạn ở Thuỵ Điển có tới 21% dân c có cổ phần trong cácdoanh nghiệp Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng sở hữu của các nhà t bảnvẫn giữ vị trí trọng yếu, còn sở hữu cổ phiếu của ngời lao động chỉ chiếmmột tỉ lệ nhỏ, không đáng kể và đợc chủ nghĩa t bản sử dụng nhmột công
cụ trong quản lí để thu hút sự quan tâm của ngơì lao động vào quá trìnhsản xuất Theo số liệu thống kê quốc tế toàn bộ cổ phần mà ngời lao động
ở Mĩ có đợc chỉ chiếm khoảng 1% toàn bộ giá trị cổ phiếu Ví dụ ở Mĩmột doanh nghiệp có số vốn hoạt động là 180 triệu USD, nhng giá trị mỗi
cổ phiếu bán ra cho ngời lao động chỉ là 2 USD Nh vậy ngời lao động có
Trang 5nắm nhiều cổ phiếu thế nào đi nữa cũng không đủ để giữ vị trí quan trọngtrong công ty
Ngoài hình thứccổ đông hoá một cách rộng rãi trong các tầng lớpdân c, hiện nay đã bớc đầu xuất hiện loại hình xí nghiệp do công nhân tựquản Chẳng hạn nhà nớc Mĩ đã “ quốc hữu hoá “ chi nhánh của GMC vàgiao cho công nhân tự quản còn nhà nớc chỉ tham gia hỗ trợ thông quachính sách vĩ mô Điều này không có nghĩa là các nhà t bản tự nguyệnchuyển quyền sở hữu cho ngời lao động và càng không có nghĩa là “ cuộccách mạng trong sở hữu t liệu sản xuất “ ở thời đại ngày nay sẽ diễn ratheo cách tiến hoá nh một số ngời đã và đang cố tình nhầm lẫn và với ý đồmuốn phê phán “ sự lỗi thời “ của chủ nghĩa Mác theo cách nghĩ của họ
- Trong chủ nghĩa t bản ngày nay, sở hữu không chỉ giới hạn trongviệc sở hữu t liệu sản xuất ( tức là sở hữu hiện vật) mà chủ yếu là sở hữu
về mặt giá trị ( vốn ) dới nhiều hình thức nh vốn tự có, vốn cổ phần, vốncho vay Nếu nh thời kì đầu trong quá trình phát triển của chủ nghĩa t bảnquyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền quản lí gắn làm một trong một chủ
sở hữu và khi xuất hiện t bản cho vay đã làm hai quyền đó tách rời( tức là
t bản sở hữu tách rời t bản chức năng ) thì trong chủ nghĩa t bản ngày nay
sự tách rời đó càng đợc đẩy mạnh và lao động quản lí đã trở thành mộtnghề, giám đốc thực hiện chức năng quản lí thông qua hợp đồng là thuê.Tuy nhiên ở đây không có nghĩa là nguyên lí về quyền sở hữu quyết địnhquyền quản lí, vì thế không còn giá trị, mà trái lại điều đó chỉ thể hiện sựbiến thể do sự phát triển của phân công lao động xã hội ở trình độ mới,còn vai trò quyết định cuối cùng của ngời sở hữu vẫn không có sự thay
đổi
Cùng với quá trình đó còn xuât hiện nhiều hình thức sở hữu khác,
nh sở hữu trí tuệ, sở hữu các công trình khoa học, bằng phát minh sángchế, kiểu dáng công nghiệp, thông tin Các hình thức này, nhất là sở hữuthông tin, đã ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế thị trờng hiện
đại và mang tính quyết định đối với sự tăng trởng kinh tế Bởi vì chính trítuệ là nguồn gốc của việc sản sinh ra của cải xã hội Rất nhiều nhà Khoahọc, trong đó có Các Mác, đã khẳng định và đề cao vai trò của tri thứckhoa học đối với sự phát triển kinh tế –xã hội giống nh “ đôi đũa thần”làm giàu cho xã hội
- Sở hữu t nhân đã có sự biến đổi lớn, tính độc lập tơng đối bị mấtdần, thay vào đó là sở hữu hỗn hợp Trong quá trình sản xuất, kinh doanhcác nhà t bản lớn đã từng bớc thôn tính các doanh nghiệp vừa và nhỏ, lôicuốn chúng vào quĩ đạo hoạt động của mình dới những hình thức khácnhau theo cơ chế “tham dự” Các doanh nghiệp nhỏ này trở thành vệ tinhnhận thầu và thầu lại của các doanh nghiệp lớn mà các doanh nghiệp lớn
đó thờng là doanh nghiệp độc quyền đợc tổ chức lại trong một cơ cấu mới.Chẳng hạn Công ty GE một công ty hàng đầu thế giới của Mĩ về ngành
điện dân dụng, đã tập hợp quanh mình 3200 xí nghiệp thành viên (kể cảcác hộ gia đình) với những mối liên kết ở mức độ khác nhau, thực hiệnnhững chức năng khác nhau nh sản xuất từng bộ phận chi tiết, đảm nhậntừng công đoạn, từng khâu trong sản xuất, lu thông qua việc nhận thầu,thầu lại theo những hợp đồng của công ty mẹ
Điều cần nhấn mạnh là mặc dù với “hệ thống tham dự mới” trong đó có sựtham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, của các hộ gia đình và cảnhững ngời công nhân lao động làm thuê, song có thể nói đó chủ yếu là sự
Trang 6biến đổi trong cách thức tổ chức quản lí doang nghiệp nhằm nâng cao hiệusuất của t bản chứ không có nghĩa là ngời công nhân trở thành chủ sở hữu
t liệu sản xuất, bởi vì giá trị cổ phiếu mà họ sở hữu là quá thấp so với giaicấp t bản nh đã nêu ở trên Mặt khác với sở hữu đó ngời công nhân cha trởthành ngời chủ sở hữu thực sự, mà chỉ mang tính hình thức nên chỉ là ngờibán sức lao động, chứ không phải vừa lao động, vừa quản lí theo hình thứctiểu chủ Về mặt lí luận, cần phân biệt khi là chủ sở hữu thực sự thì phải
có thực quyền chi phối cái mà mình sở hữu ( với những mức độ nhát định)
Đồng thời cũng cần phân biệt về mặt lợng cũng nh mối quan hệ biệnchứng giữa lợng và chất
Ngoài ra nguồn gốc của gía trị cổ phiếu mà họ có là do tiền lơng tiếtkiệm đợc chứ không phải từ nguồn gốc chiếm đoạt lao động của ngờikhác, những phần tiết kiệm đó lại chỉ bù đắp ( thậm chí không đủ bù đắp)
đợc phần mà họ mắc nợ do phải đứng ra mua chịu t bản cố định gia đình
do nhà nớc đứng ra điều tiết Trên thực tế giá trị của cái gọi là t liệu sảnxuất mà họ sở hữu nằm trong hệ thống quản lí ngân hàng và sự khống chếcủa t bản tài chính chứ họ không có quyền tự do sử dụng theo ý riêng củamình
Hình thức sở hữu độc quyền vẫn tồn tại nhng không còn độc quyềnthuần tuý mà là dạng hỗn hợp và dới hình thức sở hữu của các công tyxuyên quốc gia, hoặc chủ nghĩa t bản độc quyền nhà nớc, t bản tài chính
Đây là hình thức vận động rất mới mẻ của quan hệ sản xuất t bảnchủ nghĩa mà ở thời Lênin mối chỉ có mầm mống
+Về hình thức sở hữu độc quyền xyên quốc gia
Do quá trình tích tụ và tập trung sản xuất đợc đẩy mạnh hơn nữa, dới tác
động của qui luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa t bản, cùng với những điềukiện quốc tế hoá sản xuất, t bản và thông tin, các tổ chức độc quyền quốcgia đã vợt biên giới quốc gia, thực hiện kinh doanh quốc tế dới nhiều hìnhthức và trở thành các công ty xuyên quốc gia
Khi ra ngoài biên giới quốc gia, các công ty này đã thực hiện sự liênkết để bành trớng thế lực và khai thác tiềm năng của nớc chủ nhà Thôngqua con đờng đó các công ty xuyên quốc gia ngày càng thâu tóm nhiều tliệu sản xuất, vốn, trí tuệ quốc tế, tạo ra nhiều hình thức sở hữu hỗn hợpmang tính quốc tế hoá Hiện nay trên 70% các xí nghiệp chi nhánh củacác công ty xuyên quốc gia là các xí nghiệp liên doanh với tỉ lệ vốn gópkhác nhau, ít nhất là 2và thông thờng có 3-4 chủ sở hữu trong một xínghiệp Hiện nay các công ty xuyên quốc gia thờng tồn tại dới dạngconcern và CM(conglomerate) mà concern và CM là những tổ hợp đangành với những mức độ khác nhau Điều đó phản ánh tính đa dạng, phứctạp và tính hỗn hợp và sở hữu xuyên quốc gia
Có thể nói hiệ tợng đa quốc gia hoá trong sở hữu ở các xí nghiệp chinhánh của các công ty xuyên quốc gia đã trở thành phổ biến, làm cho tínhhỗn hợp của sở hữu tăng lên mạnh mẽ
Hình thức sở hữu độc quyền xuyên quốc gia là hình thức sở hữu hỗnhợp và đã đợc quốc tế hoá Đó cũng chính là hình thức sở hữu mang tínhkhách quan do các tác động của quá trình xã hội hoá sản xuất dới hìnhthức quốc tế trong điều kiện của chủ nghĩa t bản, nhất là trong thời đạingày nay
+Về hình thức sở hữu t bản tài chính
Trang 7T bản tài chính là hình thức hỗn hợp về t bản giữa t bản công ngiệp
và t bản ngân hàng do quá trình tích tụ sản xuất dẫn tới Ngày nay mặc dùhạt nhân của nó không thay đổi, nhng t bản tài chính đã lôi cuốn hầu nhtoàn bộ t bản ở các ngành sản xuất, lu thông và cơ cấu tổ chức của mình,hình thành nên một cơ cấu mang tính hỗn hợp, trớc hết về mặt sở hữu.Lênin khẳng định : t bản tài chính bao giờ cũng có tính quốc tế hoá trongmọi hoạt động Ngày nay đặc tính ấy biểu hiện rất rõ rệt và mang tính phổbiến Đó là trờng hợp khá điển hình về sự phát triển những đặc tính vốn cócủa độc quyền và cũng là trơng hợp điển hình về tính hỗn hợp và tính quốc
tế hoá của hình thức sở hữu của chủ nghĩa t bản đơng đại –kế thừa vàphát triển đặc tính của nó ở giai đoạn trớc –giai đoạn chủ nghĩa t bản tự
do cạnh tranh thống trị
+Hình thức sở hữu độc quyền nhà nớc
Xét về bản chất giai cấp của nhà nớc t sản, sở hữu nhà nớc chính là
sở hữu của t bản tập thể Điều này đúng nh nhận xét của Ăng ghen rằngnhà nớc t sản là nhà nớc của các nhà t bản, là nhà t bản tập thể lí tởng vànhà nớc ấy càng chyển nhiều lực lợng sản xuất thành tài sản của nó baonhiêu thì nó lại biến thành nhà t bản tập thể thực sự bấy nhiêu
Sở hữu độc quyền nhà nớc đợc hình thành thông qua nhiều con ờng khác nhau trong đó có quốc hữu hoá các xí nghiệp của t bản t nhân,xây dựng mới bằng việc chi ngân sách nhà nớc, góp vốn cổ phần và mualại một phần xí nghiệp t bản t nhân trong trờng hợp cần thiết Song ngaytrong trờng hợp quốc hữu hoá hoặc xây dựng mới bằng việc chi ngân sáchnhà nớc thì tính hỗn hợp của sở hữu không vì thế mà thay đổi, vì nhà nớc
đ-t sản chẳng qua là “ nhà đ-t bản đ-tập đ-thể” hoặc chỉ là “ mộđ-t công đ-ty cổ phần”
nh Ăng ghen đã nhận xét
Sự biến đổi của hình thức sở hữu trong quan hệ sản xuất t bản chủnghĩa là một đặc trng rất cơ bản của chủ nghĩa t bản ngày nay bởi vì sởhữu là quan hệ xã hội của nền sản xuất, là tổng thể các quan hệ kinh tế vàtheo đó là tổng thể các quyền sử dụng, chi phối, quản lí, định đoạt gắn liềnvới nó trong một xã hội nhất định Đồng thời nó cũng chính là sự thốnnhất biện chứng giữa điều kiện cần phái có của sản xuất với mặt kết quảthực tế trong quá trình tái sản xuất Việc biến đổi về hình thức quan hệ sởhữu nêu trên là sự biến đổi dới tác động của qui luật về sự phù hợp giữalực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
Do tính chất xã hội hóa cao của lực lợng sản xuất, đòi hỏi quan hệsản xuất phải có sự biến đổi để thích ứng Trong điều kiện của chủ nghĩa tbản sự hỗn hợp hoá và quốc tế hoá theo kiểu t bản chủ nghĩa là một sự đápứng đòi hỏi ấy Đó chính là quá trình kinh tế mang tính khách quan ngoài
ý muốn chủ quan của nhà t bản
Sự biến đổi của hình thức sở hữu trong quan hệ sản xuất t bản chủnghĩa để thích ứng với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất đã có tác
động trở lại nhất định đến sự phát triển của lực lợng sản xuất Tuy sự tác
động này còn có tính hạn chế, song đây là quá trình mang tính khách quan
và là xu thế vận động cơ bản trong thời đại ngày nay Đông thời sự biến
đổi cúa hình thức sở hữu cũng đã đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi quan hệquản lí và phân phối phải có sự biến đổi tơng ứng
3.2 Sự điều chỉnh về quan hệ tổ chức quản lí
Trang 8Sự biến đổi về tổ chức quản lý trong nền kinh tế của CNTB hiện đạidiễn ra cả trong lĩnh vực vi mô và vĩ mô, từ trong các công ty, xí nghiệp
đến hoạt động quản lý của nhà nớc t sản Trên cơ sở những thành tựu củacuộc cách mạng khoa học công nghệ thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin,
tự động hoá các thiết bị điều khiển chơng trình số, thiết kế và chế tạo với
sự giúp đỡ của máy tính điện tử, các hẹ thống sản xuất linh hoạt, ngờimáy phơng thức tổ chức quản lý sản xuất vật chất có sự thay đổi từ sảnxuất lớn hàng loạt sang tổ chức quản lý theo loạt nhỏ hay đơn chiếc đápứng yêu cầu thị hiếu đa dạng của khách hàng tức là thực hiện phi hàngloạt hoá và đa dạng các sản phẩm: phi chuyên môn hoá sản xuất theo tổhợp các khối cấu kiện, phụ kiện chứ không phải từ những cấu kiện rời đợcchuyên môn hoá nh trớc, phi tập trung hoá - quá trình sản xuất đợc phântán thành những đơn vị sản xuất nhỏ và vừa trên phạm vi rộng của cả quốcgia và quốc tế; vi tiểu hình hoá sản phẩm với phơng châm “nhỏ là đẹp”.Các sản phẩm sản xuất ra có kích cỡ ngày càng nhỏ, thậm chí nhỏ cỡnanomet nh Robot y học dùng trong chuẩn đoán và chữa bệnh Thực hiện
tổ chức quản lý từ xa đợc thực hiện trên cơ sở xuất hiện các siêu lộ thôngtin cho phép điều khiển quá trình sản xuất trên diện rộng ở nhiều vùngkhác nhau, nền kinh tế mang tính chất toàn cầu và hoạt động nh một đơn
vị kinh tế cấp toàn cầu, vì vậy hoạt động quản lý cũng mang tính chấtquốc tế hoá, toàn cầu hoá Tất cả các biến đổi trên cho thấy, việc tổ chứcquản lý sản xuất và hoạt động kinh tế đã dịch chuyển từ kiểu đại trà, đợctiêu chuẩn hoá theo loạt lớn sang kiểu sản xuất loạt nhỏ và linh hoạt theo
đơn đặt hàng, cũng nh dịch chuyển từ các tổ chức có quy mô lớn đợc liênkết theo chiều dọc sang phi liên kết theo chiều dọc và sang các mạng lớitheo chiều ngang giữa các đơn vị kinh tế trong nớc và ngoài nớc
Trớc sự phát triển của khoa học công nghệ và phân công lao độngquốc tế hình thức quản lý chuyển đổi từ loại tập chung cao độ quyền lựcquản lý vào công ty mẹ theo kiểu “kim tự tháp” sang các công ty chinhánh, các đơn vị sản xuất theo kiểu “màng lới” Nh A Toffer nhận xét:
“Tổ chức quản lý theo kiểu hình tháp, cồng kềnh và quan liêu, hiện đang
bị các công ty chạy đua giải thể” đã làm cho các loại hình tổ chức mớitheo kiểu ma trận, nhóm dự án ngày càng đợc đề cao và a chuộng, đây sẽ
là loại hình tổ chức quản lý chủ yếu của xã hội dựa trên tri thức
Bởi vì trong xã hội thông tin ngày nay, sự truyền đạt tin tức quản lýphải đợc nhanh chóng, chính xác, trong khi mô hình quản lý cũ đã làmchậm và mất tính chuẩn của tin do việc truyền tin qua nhiều tầng lớp trongkhông gian từ trên xuống dới và ngợc lại, không linh hoạt, cồng kềnh kémhiệu quả Thể chế truyền thống đã tỏ ra bất cập trớc những vấn đề mớiphát sinh nh: tính nhất trí của lợi ích, sự khác nhau về văn hoá, tuổi thọsản phẩm…Thể chế quản lý màng lThể chế quản lý màng lới không co trung tâm, mỗi một tầngquản lý trong mạng lới, mỗi ngời quản lý đều là một trung tâm, giữachúng có mối liên hệ phức tạp giao chéo kiểu rẻ quạt Mục tiêu quản lýcủa nó không chỉ có quản lý kinh doanh, tiêu thụ, quản lý nhân viên, màcòn cả việc thiết kế hình tợng xí nghiệp, với tôn chỉ là hoạt động có hiệuquả nhất tàI năng và u thế của mỗi ngời trong mạng lới công ty Tronghình thức này, tin tức lan truyền nh hệ thống thần kinh, đảm bảo cho mọicấp quản lý đều nhận đợc thông tin mới nhất và hoàn chỉnh để đa ra quyếtsách, do đó mà có khả năng ứng phó với mọi điều kiện sản xuất tiêu thụsản phẩm trớc mọi biến động của thị trờng thế giới hiện nay
Trang 9Mô hình tổ chức quản lý của thể chế này có hai loại, theo quá trìnhnằm ngang và theo kiểu “tế bào sản xuất”
Mô hình tổ chức quản lý theo quá trình nằm ngang đợc xây dựng lànhằm khắc phục những khuyết tật của kiểu quản lý truyền thống,giảm bớt nhiều tầng lớp trung gian, chuyển từ việc lấy chức năngcông việc làm hạt nhân sang quá trình làm hạt nhân để tổ chức nhânviên Nội dung chủ yếu của kết cấu tổ chức quản lý theo kiểu nằmngang là việc tập hợp những viên chức có kỹ năng khác nhau vàomột “tế bào sản xuất” để họ thấy đợc đầy đủ mục tiêu của một “quảtrình tác nghiệp” Từ đó họ tự quản lý sản xuất, phát huy cao độtinh thần hợp tác và u thế của một tập thể hoàn chỉnh để giànhthắng lợi trong cạnh tranh ở đây, đội sản xuất trỏ thành nền tảng và
đảm nhiệm một quá trình sản xuất, thực hiện tự kiểm soát, kiểm trachất lợng sản phẩm của mình, giảm đợc việc tổ chức giám sát, kiểmtra và loại bỏ đợc mọi hoạt động không làm tăng giá trị của sảnphẩm, kích thích thi đua hợp tác của nhân viên, tăng khả năng tiếpxúc, cuốn hút khách hàng, do vậy mà nó hiệu quả hơn
Mô hình tổ chức quản lý kiểu “tế bào sản xuất” là kiểu tổ chứcquản lý trong đó công nhân đợc chia ra từng ca, kíp nhỏ (thờng từ2-50 công nhân) có thể chế tạo, kiểm tra và hoàn thành toàn bộ sảnphẩm Mỗi công nhân có thể làm nhiều việc và mỗi tế bào phảIchịu trách nhiệm về chất lợng sản phẩm của mình “Tế bào sảnxuất” là một “quá trình hẹp” nhựng lại rất linh hoạt, đáp ứng đợcyêu cầu thay đổi kiểu dáng, mẫu mã của khách hàng một cáchnhanh chóng, đảm bảo cho việc sản xuất theo đơn đặt hàng phù hợpvới sự biến động mau lẹ của thị trờng Mỗi tế bào sản xuất một sảnphẩm khác nhau, nếu rủi ro thì chỉ ảnh hởng tới tế bào “đơng sự”tránh đợc rủi ro cho toàn xí nghiệp Do đó, tế bào sản xuất manglại năng suất, chất lợng, hiệu quả cao hơn
Nh vậy, một điều nổi rõ trong quá trình chuyển đổi hình thức tổchức quản lý là nhằm vào phát huy và sử dụng các nguồn lực của conngời - đó là hệ thống tổ chức sản xuất lấy con ngời làm trung tâm, địnhhớng vào loại nhân lực có trình độ cao trong quá trình sản xuất, bồi d-ỡng kiến thức và nâng cao trình độ chuyên môn một cách liên tục và có
hệ thống, với một đội ngũ công nhân năng động và cách thức tổ chứclinh hoạt từ trên xuống dới đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cả việctrang bị các thiết bị hiện đại Việc hoàn thiện công tác quản lý nguồnnhân lực con ngời mang lại một tác động mạnh mẽ hơn nhiều mặt vềthành tựu so với việc mua sắm các kỹ thuật tiên tiến hơn từ các máycộng cụ điều khiển bằng chơng trình số cho tới các hệ thống sản xuấtlinh hoạt
Trớc hết, các xí nghiệp lớn ngày càng thực hiện chế độ cung ứng(hoặc chế độ khoán), giao một số linh kiện hoặc giai đoạn nào đó củasản phẩm cho các xí nghiệp khác hoàn thành Cách làm này đã có từlâu Chỗ khác nhau giữa chế độ cung ứng mới hiện nay và trớckia là ởchỗ, chẳng những các hãng chế tạo lớn khoán việc sản xuất mà cònkhoán toàn bộ công tác nghiên cứu khoa học, chế tạp thử cho tới sảnxuất những linh kiện đó cho các xí nghiệp khác, từ đó hình thành nênmạng lới xí nghiệp do hãng chế tạo lớn cầm đầu, có nhiều hãng nhậnkhoán (hoặc hãng cung ứng) tham gia Các xí nghiệp đều độc lập về
Trang 10mặt pháp luật, nhng về sản xuất là một chỉnh thể, về hành động thìnhất trí, mục tiêu và sự chú ý của họ đều tập chung vào việc làm thếnào để sản phẩm có sức cạnh tranh lớn nhất
Thứ đến, để nâng cao hiêu quả công tác, các xí nghiệp lớn đang cảitiến cơ chế quản lý trớc đây là phân công ngành quá chi tiết, quá nhiềutầng nấc…Thể chế quản lý màng l lần lợt giảm bớt các tầng nấc, xoá bỏ một số ngành chứcnăng, hoặc phá bỏ “rào chắn” giữa chúng, thực hiện tổng hợp hoá chứcnăng, cắt giảm hàng loạt nhân viên quản lý trung gian
Tóm lại, sự thay đổi trên thể hiện thông qua: Thứ nhất, việc chuyển
từ chế độ dự dựa trên sở hữu cổ phiếu khống chhé đợc thay thế bằngchế độ uỷ nhiệm, do việc phát hành cổ phiếu với mệnh giá nhỏ, khối l-ợng lớn, bán rộng rãi để thu hút nguồn vốn rộng rãi trong dân c, làmcho cổ phiếu của công ty bị phân tán, quyền lực khống chế của t bảnriêng biệt bằng sở hữ cổ phần đang bị lu mờ dần đi Thứ hai, do mức
độ rủi ro trong đầu t ngày càng cao, t bản tiếp tục phân tán giải ra cácngành, các công ty và cả các tập đoàn t bản khác nhau, quyền lực lớn
sở hữu bị suy yếu, độc quyền dựa trên ý chí một vài cá nhân t bản lớnhầu nh không còn cơ sở để tồn tại Thứ ba, sự phát triển của kết cấutập đoàn t bản tài chính mạng lới, tạo nên quan hệ thống nhất và mâuthuẫn dựa trên mục tiêu, hiệu quả và lợi ích của t bản sở hữu và t bảnchức năng, là một hình thức quan hệ kinh tế mới của t bản tai chính.Trong kết cấu này tồn tại nhiều thế lực có sức mạnh cân bằng và lợi íchxoắn xuýt vào nhau, vì chúng có cổ phần đan xen nhau, các bên có sởhữu cổ phần ngang nhau, không bên nào độc quyền chiếm cổ phần cóquyền khống chế Từ đó mà hình thành ra một hình thức t bản tàichính tập thể
Quyền lực thực sự trong các tập đoànt bản tài chính đã chuyển dần
từ tay những t bản kếch sù cha truyền con nối, những ngời hoàn toàntách rờiquá trình sản xuất trực tiếp sang tay những ngời vạch đờng chodoanh nghiệp phát triển và những ngời trực tiếp điều hành Thống kê ở
Mỹ cho thấy, giám đốc và chủ tịch của 3500 công ty lớn đã kiểm soátgần 1/2 tàI sản công nghiệp cả nớc, 1/2 tài sản ngân hàng, 1/2 tàI sảnngành GTVT và khu vực công cộng, 1/3 tài sản ngành bảo hiểm.Trong đó chie có 10% là con cháu các gia đình giàu có, còn lại là hàngngũ giám đốc kể từ bậc thấp nhất của nấc thanh chi phối xí nghiệp đến
vị trí ngai vàng quyền lực Trong các nhà tỷ phú có rất nhiều ngờithuộc hàng ngũ giám đốc đI lên bằng con đờng doanh nghiệp Trongkhi 3/5 t bản có đợc từ lợi nhuận của công ty, 1/5 từ nguồn vay tíndụng ngân hàng, 1/5 từ nguồn đầu t của các tổ chức ngoài ngành, vàcác nhà đầu t cá thể tự do chỉ cung cấp có 5% thì tấtnhiên sẽ hìnhthành hình thức sở hữu tập thể của t bản độc quyền thông qua hàng ngũgiám đốc trực tiếp quản lý xí nghiệp, các nhà t bản độc quyền và hàngngũ giám đốc hoà làm một Thực tế ở Nhật Bản, Cộng hoà liên bang
Đức, Anh, Pháp…Thể chế quản lý màng l cũng diễn ra sự di chuyển quyền lực nh thế
Giữa các bộ phận, các thành viên trong nội bộ tập đoàn tài chính cóquan hệ vừa cạnh trah với nhau, vừa phối hợp chặt chẽ với nhau vì lợiích hơn của tập đoàn Quan hệ giữa chúng trớc tiên là quan hệ đối tác
đợc quyết định trên thị trờng và do các quy luật của thị trờng chi phối.Song quan hệ cạnh tranh ở đây không phải là cạnh tranh thuần tuý, mà
là quan hệ cạnh tranh giữa các bộ phận có sự lệ thuộc lẫn nhau chịu sự
Trang 11chỉ đạo điều khiển từ trung tâm, đảm bảo cho các bộ phận chóp bu củatập đoàn khống chế đợc bộ phận ngoại vi để thu lợi nhuận cao hơn.Mặt khác, nó còn bảo vệ cho các bộ phận đó không bị bóp chết trongcạnh tranh, đợc nâng đỡ định hớng trong kinh doanh Tuy vậy, các bộphận của tập đoàn cũng có tính độc lập tơng đối của nó với bộ phậnchóp bu, chúng cũng bị đào thải khi kinh doanh không hiệu quả, hoặctrở thành bộ phận chủ đạo khi chúng kinh doanh có hiệu quả và pháttriển mạnh lên
Việc kiểm soát trong tập đoàn của nhà t bản sở hữu lớn vừa có tínhtrực tiếp, lại vừa có tính gián tiếp Việc kiểm soát trực tiếp đợc thựchiện bằng cách sử dụng cổ phần khống chế để can thiệp vào xí nghiệp
và các công ty thành viên Việc kiểm soát gián tiếp thông qua cơ chếthị trờng bằng cách chủ động tạo ra sự ổn định cho hoạt động của công
ty, hoặc bơm vào nó những đợt sóng xung đột lớn trên thị trờng chứngkhoán, để buộc các t bản chức năng phảI tuân theo ý chí của chủ sởhữu t bản lớn
Nh vậy, quyền lực thống trị của t bản tài chính đã có sự biến đổicho phù hợp với quá trình xã hội sản xuất ngày càng mở rộng Dù cho
cổ phiếu có phân tán, t bản có đợc xã hội hoá, quyền lực khống chếtrực tiếp đối với t bản có chuyển vào tay các pháp nhân kinh tế, thì lợiích của t bản sở hữu không vì thế mà không đảm bảo T bản tài chínhngày càng mở rộng và bành trớng thế lực của mình ra toàn bộ nền kinh
tế thé giới
Quyền lực của t bản tài chính còn đợc tăng cờng hơn nữa bởi có sựdung hợp của nhà nớc với t bản tài chính, giữa sức mạnh của t bản tàichính với sức mạnh của nhà nớc t sản, tạo nên hình thức mới là t bảntài chính nhà nớc Ngày nay t bản tài chính nhà nớc đã bao trùm hầu
nh toàn bộ nền kinh tế xã hội Chúng khống chế cả theo chiều dọc vàchiều ngang, xuyên qua tất cả các xí nghiệp, các ngành, các khu kinh
tế và các quốc gia tạo thành một mạng lới liên hệ kinh tế chằng chịtneo chặt những mảng kinh tế chủ yếu vào một khối thống nhất chịu sựchi đạo của t bản tàI chính nhà nớc Từ đó mà t bản tài chính ngàycàng bành trớng, nó tạo điều kiên thuận lợi để phát triển kinh tế - xãhội, tạo ra thích ứng tơng đối giữa quan hệ sản xuất TBCN với sự pháttriển cao của sức sản xuất xã hội, đồng thời cũng làm tăng nguy cơ xảy
ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu
3.3 Sự biến đổi trong quan hệ phân phối
Để thoát khỏi khủng hoảng, các nhà kinh tế học của CNTB, đạibiểu là J M Keynes đã chủ trơng kích cầu bằng cách nâng cao tiêudùng và tăng đầu t, việc nâng cao tiền lơng và cải thiện đời sống củacông nhân không những không tổn hại đến lợi nhuận của nhà t bản mà
nó còn có lợi cho quá trình tái sản xuất mở rộng TBCN, làm dịu mâuthuẫn giữa t bản và lao động, thúc đẩy sản xuất có lợi cho nhà nớc tbản, giữ môI trơng xã hội ổn định, củng cố chính trị
Cách mạng khoa học công nghệ chẳng những tạo tiền đề để nângcao sức sản xuất mà còn tạo ra cơ sở vật chất để nâng cao mức sốngngời lao động Thực tế tại các nớc t bản phát triển chủ chốt cho thấytốc độ tăng lơng thực tế của ngời lao động nhanh hơn tốc độ tăng giá.Trong vòng 30 năm, từ 1960 đến 1990 giá tiêu dùng của Mỹ tăng 4, 5
Trang 12lần, tiền lơng giờ công nhân ngành chế tạo tăng 9, 5 lần; tơng tự nh vậy
ở các nớc Canada: 5 lần và 7, 3 lần, Nhật Bản: 3, 5 lần và 51, 4 lần,Pháp: 7 lần và 19 lần Cộn hoà liên bang Đức: 2, 7 lần và 28 lần, Italia:
13, 4 lần và 28, 9 lần, Anh: 10 lần và 16 lần
Cùng với việc tăng lơng thực tế, đời sống của công nhân đợc nângcao, kết cấu tiêu dùng của công nhân cũng có sự thay đổi lớn, tỷ lệ chicho ăn, mặc giảm xuống, chi cho cải thiện đời sống tăng lên Hiện naykhông còn hiện tợng thiếu ăn thiếu mặc (trừ những trờng hợp cá biệt
do nghiện ngập, bệnh tâm thần…Thể chế quản lý màng l ) Việc sử dùng hàng tiêu dùng lâubền nh điện thoại, vô tuyến, máy giặt, ô tô, nhà ở đều tăng lên và đ-
ợc cảI thiện rất nhiều
Tuy nhiên, tơng quan giữa việc nâng cao chất lợng cuộc sống củangời công nhân với việc nâng cao khối lợng lợi nhuận của nhà t bản làtơng quan cùng chiều nhng không cùng mức độ Thu nhập của nhà tbản tăng nhanh hơn thu nhập thực tế của ngời lao động Đức, trongthời gian 1980 -1989 thu nhập tiền lơng của ngời lao động làm thuêtăng bình quân hàng năm là 3, 7%, thu nhập kinh doanh xí nghiệp vàtài sản bình quân hàng năm tăng 7, 4% Theo báo cáo tổng thống Mỹ
1992 cho thấy, thu nhập bình quân của 20% hộ ở bậc cao nhất so với20% hộ ở bậc thấp nhất chênh lệch 44, 8 lần (trớc khi nhà nớc tái phânphối) 34, 4 lần (sau khi điều tiết qua thuế) 6, 6 lần (sau khi điều tiếtqua thuế và các khoản trích nộp khác) ở Anh, khoảng chênh lệch giữacác hộ giàu và hộ nghèo là 3, 8 lần Mức độ chiếm dụng tài sản của các
hộ giàu ở Mỹ ngày càng tăng, năm 1963: 10% số hộ giàu chiếm 65%toàn bộ của cải của tất cả các gia đình Mỹ năm đó, năm 1983 tỷ trọngcảu cải của 10% hộ giàu chiếm 68, 8% Và hiện nay 20% số ngờinghèo nhất chiếm tổng thu nhập 3, 8% trong khi đó 30% số ngời giàunhất lại chiếm tới 48%
Nh vậy, mặc dù đời sống của công nhân có đợc nâng lên, nhngchênh lệch về thu nhập và tài sản giữa công nhân và t bản càng tăng.Việc tăng lơng thực tế, tăng mức sống của công nhân chỉ là nhằm tănglên mức cầu hiệu quả có lợi cho quá trình tái sản xuất của CNTB màthôi Do vậy, trong lòng CNTB vẫn chứa đựng những xung đột lợi íchgay gắt, vẫn chứa đựng khả năng khủng hoảng, đòi hỏi nhà nớc phảitrực tiếp tham gia vào quá trình phân phối lợi ích, mới có thể cứu vãn
đợc CNTB
Điều chỉnh quan hệ lợi ích của nhà nớc đợc diễn ra bắt đầu từnhững tác động vào thị trờng sức lao động, thông qua quan hệ mua bángiữa ngời bán (ngời lao động) và ngời mua (nhà t bản) Đây là một thịtrờng luôn biến động bởi mối tơng quan giữa nhà t bản và ngời lao
động, giữa giới chủ và ngời thợ, là mối quan hệ vừa thống nhất vừamâu thuẫn không thể thay thế cho nhau đợc Sự can thiệp của nhà nớcvào các quan hệ trao đổi, mua bán này bằng cách quy định các mức tốithiểu, độ dài ngày lao động, số ngày nghỉ việc trong năm, quy tắc sathải, quy chế làm việc trong doanh nghiệp, phơng tiện bảo hộ, bằngcác luật và các quy định pháp luật khác nhau
Những biến đổi trong quan hệ lợi ích trong CNTB hiện đại đã và
đang đem lại những cải thiện mới đối với đời sống ngời lao động vànhững tiến bộ xã hội nói chung Sở dĩ có sự tăng thêm đó thì nói chungvì sự trao đổi sản phẩm diễn ra ngày càng nhiều hơn, sự trao đổi này