1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của tòa án nhân dân quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay một số vấn đề lý luận và thực tiễn

89 256 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 784,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, từ khi bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành án cho đến khi bản án, quyết định đó được thi hành xong đều là côn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CỒ KHẮC ĐAM

VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN, HUYỆN TRONG CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số : 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN ĐỘNG

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, gia đình, các anh chị em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, Bộ môn lý luận trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Văn Động, người thầy đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã dạy dỗ và cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và các anh chị trong lớp Cao học Lý luận 19A đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi học tập làm việc và hoàn thành luận văn

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Tác giả luận văn

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA TOÀ ÁN

NHÂN DÂN QUẬN, HUYỆN TRONG CÔNG TÁC THI HÀNH

ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

7

1.1 Công tác thi hành án hình sự trong phạm vi quận, huyện của

Thành phố Hà Nội hiện nay: khái niệm, đặc điểm, nội dung và vai

trò của Toà án nhân dân quận, huyện

7

1.1.1 Khái niệm “công tác thi hành án hình sự trong phạm vi quận,

huyện” và những đặc điểm cơ bản

7

1.1.2 Nội dung công tác thi hành án hình sự trên địa bàn quận, huyện

của Thành phố Hà Nội

12

1.1.3 Nội dung vai trò của Toà án nhân dân quận, huyện trong công tác

thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội

39

1.2 Những điều kiện bảo đảm thực hiện vai trò của Toà án nhân

dân quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn

Trang 4

1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nâng cao vai trò của Toà án

nhân dân quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa

bàn Thành phố Hà Nội

49

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI

TRÒ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN, HUYỆN TRONG CÔNG

TÁC THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

HÀ NỘI HIỆN NAY

53

2.1 Thực trạng vai trò của Toà án nhân dân quận, huyện trong

công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội

53

2.2 Những giải pháp nâng cao vai trò của Toà án nhân dân quận,

huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố

2.2.2 Về kiện toàn bộ máy thực hiện công tác thi hành án hình sự của

TAND quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hà Nội

70

2.2.3 Về xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự 71

2.2.4 Về những điều kiện bảo đảm thực hiện vai trò của cán bộ Toà án

quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự của Thành phố Hà Nội

77

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thi hành án hình sự là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân (TAND) ra thi hành trên thực tế Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng trong hoạt động tố tụng của các cơ quan thực thi pháp luật, nhằm buộc người

bị xử phạt tù phải chấp hành hình phạt mà Toà án đã quyết định Một bản án, quyết định của Toà án có được thi hành nghiêm chỉnh hay không tuỳ thuộc chủ yếu vào giai đoạn này Nếu người chấp hành án không tự nguyện chấp hành án hoặc bỏ trốn thì việc kết tội họ chỉ trên văn bản, còn nếu họ tự nguyện nghiêm chỉnh chấp hành thì trật tự kỷ cương xã hội và quyền lực nhà nước được tôn trọng Thực tế hiện nay có nhiều bản án, quyết định hình sự có hiệu lực pháp luật vẫn chưa được thi hành do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ phía người chấp hành án hoặc từ các cơ quan thi hành pháp luật hay từ các quy định của pháp luật Trước tình hình đó, một câu hỏi đặt ra là phải làm gì và làm như thế nào để các bản án, quyết định hình sự của Toà án có hiệu lực pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, triệt để trên thực tế Đó cũng là vấn đề đáng lo ngại của các cơ quan thực thi pháp luật và

là mối quan tâm của toàn xã hội

Từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thắng lợi quan trọng trên nhiều lĩnh vực Đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước đã có nhiều khởi sắc, được nhân dân ta và quốc tế đánh giá cao Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đã đạt được, vẫn còn không ít sơ hở, yếu kém trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội; tình hình tội phạm có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, đặc biệt là tình trạng phạm tội có tổ chức như tham nhũng,

Trang 6

2

buôn lậu, mua bán phụ nữ, xâm hại trẻ em phạm tội có sử dụng bạo lực, cướp của giết người, chống người thi hành công vụ, đâm thuê, chém mướn, bảo kê nhà hàng và các hành vi phạm tội khác có tính chất côn đồ hung hãn, gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng, gây lo lắng cho toàn xã hội

Công tác thi hành án hình sự đã góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội, cải tạo được nhiều người phạm tội, giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng Bên cạnh những đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, thực tiễn thi hành án phạt tù cũng đã đặt ra nhiều vấn

đề vướng mắc đòi hỏi khoa học thi hành án hình sự phải nghiên cứu, giải quyết để làm sáng tỏ về mặt lý luận như khái niệm thi hành án hình sự, vai trò của Toà án trong công tác thi hành án hình sự Trong khi đó, xung quanh những vấn đề lý luận và thực tiễn về thi hành án hình sự còn nhiều ý kiến tranh luận khác nhau, thậm chí trái ngược nhau

Vì vậy, việc chọn chủ đề "Vai trò của Toà án nhân dân quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học

nhằm giải quyết các vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn thi hành án hình sự, góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về thi hành án hình

sự, hướng dẫn thống nhất áp dụng các quy định, đang trở nên cấp thiết vừa có tính lý luận vừa có giá trị thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thi hành án phạt tù là vấn đề đã được nhiều nhà luật học trong nước quan tâm nghiên cứu

- Những vấn đề cần lưu ý về việc ra quyết định thi hành án hình sự của

Đỗ Văn Chính đăng trên Tập san Toà án nhân dân, Số 6/2000, tr.1 - 3 là bài

Trang 7

3

viết cung cấp những kỹ năng và những lưu ý trong quá trình ra quyết định thi hình án hình sự

- Những vấn đề cấp bách về lý luận và thực tiễn trong thi hành án hình

sự của Hoàng Ngọc Nhất đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1/2001,

tr 41 và Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chính sách thi hành án hình sự

của PGS.TSKH Lê Cảm đăng trên Tạp chí kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 10/2006, tr 3 - 12 đã cung cấp một cách nhìn khái quát và hoàn thiện vấn đề lý luận và thực tiễn về thi hành án hình sự trong điều kiện Việt Nam chưa có Luật thi hành án hình sự thống nhất như hiện nay

- Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và

thực tiễn của Võ Khánh Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng (chủ biên), Nxb Tư

pháp, Hà Nội, 2006 là công trình tương đối đầy đủ về công tác thi hành án hình sự cũng như hệ thống các cơ quan thi hành án hình sự Đây là tác phẩm nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn những vấn đề lý luận cơ bản về thi hành án hình

sự, mức độ tác động của pháp luật thi hành án hình sự; hệ thống, mô hình các

cơ quan thi hành án hình sự; tổng kết một cách đầy đủ thực tế thi hành án hình

sự ở Việt Nam nhằm chỉ ra những kinh nghiệm thành công cũng như chưa thành công của thực tiễn công tác thi hành án hình sự, từ đó xây dựng luận cứ khoa học cho nhiệm vụ tiếp tục đổi mới công tác thi hành án hình sự trong giai đoạn trước khi Luật thi hành án hình sự được ban hành năm 2010

- Bình luận khoa học luật thi hành án hình sự và các quy định mới nhất

về thi hành án hình sự của Trần Minh Hưởng, Nxb Thời đại, Hà Nội, 2010 là

công trình khoa học cung cấp kịp thời, toàn diện về cơ sở lý luận, thực tiễn Luật thi hành án hình sự và các quy định mới nhất về thi hành án hình sự Đồng thời công trình phân tích cụ thể, đối chiếu với thực tiễn thi hành pháp luật, làm cho các điều luật được giải thích rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu Phần nào

Trang 8

4

đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tìm hiểu, nâng cao nhận thức và triển khai có hiệu quả Luật thi hành án hình sự và các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành

- Luật thi hành án hình sự năm 2010 sau khi có hiệu lực thi hành bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác thi hành án hình sự trong phạm vi cả nước, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính cũng như bảo đảm tốt hơn quyền lợi trách nhiệm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thi hành án hình sự năm 2010

- Một số vướng mắc trong công tác thi hành án hình sự và kiến nghị

hoàn thiện của Nguyễn Văn Tuấn đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân,

TANDTC, số 7/2012, tr 23 - 25, nghiên cứu về những vướng mắc, hướng sửa đổi và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt án treo, biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ thực tiễn thi hành bản án, quyết định hình sự có hiệu lực pháp luật của Toà án

Các công trình nói trên đã đề cập các khía cạnh khác nhau của việc thi hành án hình sự ở mức độ khác nhau nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về vai trò của TAND quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự hiện nay và các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án hình sự

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là TAND quận, huyện của Thành phố Hà Nội Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp, khó khăn, do đó trong phạm vi một luận văn, chúng tôi chỉ có thể đề cập vai trò của TAND quận,

Trang 9

5

huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích đề xuất được những giải pháp nâng cao vai trò của TAND quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay

Nhằm đạt được mục đích trên, Luận văn có nhiệm vụ phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận về vai trò của TAND quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay; đánh giá thực trạng vai trò đó và đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của TAND quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay

5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể của Luận văn

Luận văn được hoàn thành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN); về chính sách hình sự nói chung, chính sách thi hành án hình sự của TAND nói riêng Ngoài ra, tác giả luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác để hoàn thành luận văn như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê…

6 Giá trị lý luận và thực tiễn của Luận văn

Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của Luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của TAND quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội Việc đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao vai trò của TAND quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự

Trang 10

6

trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, hướng dẫn những cán bộ làm công tác thi hành án hình sự tại Toà án quận, huyện áp dụng thống nhất các quy định

về thi hành án hình sự Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của TAND quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay, Luận văn đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao vai trò của TAND quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay, đáp ứng nhu cầu công cuộc cải cách tư pháp hiện nay ở nước ta

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 2 chương: Chương 1 luận giải cơ sở lý luận về vai trò của TAND quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố

Hà Nội hiện nay; Chương 2 đánh giá thực trạng của TAND quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay và đề xuất vai trò đó trong thời gian tới

Trang 11

1.1.1 Khái niệm “công tác thi hành án hình sự trong phạm vi quận, huyện” và những đặc điểm cơ bản

Theo Hán - Việt từ điển của Đào Duy Anh, thi hành là: "Đem cái việc

đã trù định sẵn mà làm ra cho có hiệu quả"(1) Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là đem bản án của Toà án ra thi hành trên thực tế cho có hiệu quả; còn thi hành án hình sự là việc đưa các bản án, quyết định hình sự của Toà án

đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế Điều này có nghĩa là chỉ các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và đang có hiệu lực pháp luật mới được đem thi hành Đó là các bản án, quyết định hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 226 BLTTHS năm 2003 nhưng chưa quá thời hiệu thi hành bản án theo quy định tại Điều 55 BLHS năm 2009; những bản án và quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình

tự phúc thẩm; những bản án và quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; những quyết định của Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Theo quy định của pháp luật hiện hành, những bản án, quyết định hình

sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật không được thi hành ngay mà còn phải chờ một thủ tục hành chính Đó là việc Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ

(1) §µo Duy Anh, H¸n ViÖt tõ ®iÓn, Nxb Lª V¨n T©n, Hµ Néi, 1932, tr 398

Trang 12

8

án hoặc được ủy quyền phải ra quyết định thi hành án thì mới được thi hành

Vì vậy, thi hành án hình sự không phải bao giờ cũng kịp thời và đúng như pháp luật quy định

Thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án là một hoạt động phức tạp, đa dạng liên quan đến nhiều lĩnh vực từ việc thi hành các hình phạt chính như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình đến các hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền (khi không

áp dụng là hình phạt chính), trục xuất (khi không áp dụng là hình phạt chính); các biện pháp tư pháp như tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi, bắt buộc chữa bệnh; các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội như giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng Như vậy, thi hành án hình sự, biện pháp tư pháp có quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chặt chẽ với nhau Trong mối quan hệ này, hình phạt và biện pháp tư pháp giữ vai trò quyết định, quy định nội dung, phương pháp, hình thức, thời gian thi hành án hình sự Có thể dễ dàng chứng minh điều này, vì thi hành hình phạt tử hình khác với thi hành hình phạt tù, khác với thi hành các hình phạt không phải là tù và tử hình và càng khác với thi hành các biện pháp tư pháp Ngược lại, thi hành án hình sự có tác động trở lại đối với hình phạt, biện pháp tư pháp, làm cho mục đích của hình phạt, biện pháp tư pháp được thực hiện trên thực tế, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật

Thực chất của thi hành án hình sự là việc tổ chức thi hành các hình phạt, biện pháp tư pháp được quy định trong bản án hoặc quyết định hình sự

có hiệu lực pháp luật trên thực tế Đó chính là việc thực thi công lý trên cơ sở chân lý đã được hoạt động tố tụng hình sự chứng minh

Trang 13

9

Thi hành án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự và có thể coi

đó là giai đoạn cuối cùng của một vụ án hình sự Công tác điều tra, truy tố và xét xử là rất quan trọng Quyết định hình phạt của Toà án chính là sự đánh giá, sự lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện Nếu chỉ dừng ở mức đánh giá, lên án mà không thực hiện bằng các biện pháp mang tính cưỡng chế đặc trưng của quyền lực Nhà nước thì tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa và tính chịu hình phạt hạn chế, thậm chí là không có tác dụng Chính vì vậy, pháp luật hình sự đã có những quy định cụ thể về thi hành

án hình sự, các ngành tư pháp trung ương nói chung và TANDTC nói riêng cũng đã ban hành một số thông tư liên tịch, nghị quyết để hướng dẫn một số quy định của BLHS năm 2009, BLTTHS năm 2003 về thi hành án hình sự nhằm đảm bảo việc thi hành nghiêm túc các bản án, quyết định của Toà án đã

có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay

Nội dung thi hành án hình sự rất rộng, bao gồm: thủ tục, chế độ, tổ chức thi hành án, áp dụng các biện pháp hành chính, giáo dục, y tế, văn hoá,

xã hội và thực hiện chế độ, chính sách đối với người bị kết án Các quan hệ xã hội cụ thể phát sinh trong quá trình thi hành và chấp hành hình phạt như: việc đưa bản án ra thi hành, chỉ định cơ quan tổ chức thi hành án, tổ chức lực lượng, cơ sở vật chất đảm bảo cho thi hành án; quản lý nhà nước về công tác thi hành án; quy định về quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án; nghĩa vụ của cơ quan nhà nước hữu quan do pháp luật thi hành án hình sự quy định

Từ sự phân tích ở trên, có thể đi đến kết luận rằng: Công tác thi hành

án hình sự là việc đưa các bản án, quyết định hình sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế

Trang 14

10

Trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo, thẩm tra dự án Bộ luật thi hành

án, vấn đề xác định tính chất của hoạt động thi hành án cũng thu hút được nhiều sự quan tâm Điều đáng lưu ý là trong dự án Bộ luật thi hành án trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp vừa qua, thì phạm vi điều chỉnh của dự án Bộ luật là rất rộng, điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thi hành án hình sự, dân sự, hành chính… Ngoài nội dung thi hành các bản án, quyết định của Toà án, phạm vi điều chỉnh của dự án Bộ luật này còn bao gồm việc thi hành các phán quyết của Trọng tài thương mại Việt Nam, các bản án, quyết định của Toà án nước ngoài đã được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Với phạm vi rộng, đa dạng này, việc xác định rõ tính chất của hoạt động thi hành án nói chung để từ đó có cơ sở quy định một cách thống nhất, khoa học trong dự án

Bộ luật (như về giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án; về hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong từng lĩnh vực thi hành án…) là một yêu cầu quan trọng, song cũng là vấn đề phức tạp xét cả về lý luận và thực tiễn

Lâu nay, quan niệm về họat động thi hành án thu hút được nhiều sự quan tâm và được nhìn nhận trên nhiều phương diện khác nhau:

Thứ nhất, có ý kiến cho rằng, nếu xét về những đặc điểm cơ bản của

hoạt động thi hành án, thì có thể coi đây là một giai đoạn tiếp nối và cũng là sau cùng của hoạt động tố tụng nói chung Ngay trong hệ thống pháp luật hiện hành, họat động thi hành án cũng đã được xác định thuộc phạm vi điều chỉnh trong các văn bản pháp luật về tố tụng Ví dụ: theo quy định tại Điều 1

BLTTHS năm 2003 hiện hành: “Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự,

thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự;” BLTTHS

năm 2003 còn có một phần riêng (Phần thứ năm) về “Thi hành bản án và quyết định của Toà án” bao gồm 5 chương, 17 điều quy định cụ thể về trình

tự, thủ tục thi hành án hình sự

Trang 15

11

Bên cạnh đó, loại ý kiến này cũng cho rằng: Việc các cơ quan, tổ chức, đơn vị không phải là các cơ quan tiến hành tố tụng được giao những nhiệm vụ nhất định trong công tác thi hành án không làm thay đổi về bản chất của họat động này; điều này cần được nhìn nhận dưới khía cạnh về sự phân công, phân nhiệm và phối hợp trong công tác thi hành án; tương tự như việc các cơ quan

bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm mặc dù không phải là các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng pháp luật tố tụng vẫn quy định thẩm quyền của các cơ quan này trong việc thực hiện một số hoạt động điều tra Hơn nữa, có thể nói thi hành án không tách rời, mà gắn liền với họat động của các cơ quan tiến hành tố tụng Trong thi hành án hình sự, theo quy định của BLTTHS năm

2003 hiện hành thì Toà án có nhiệm vụ ra quyết định thi hành án hoặc uỷ thác thi hành án (Điều 256), theo dõi việc thi hành án (Điều 260), cho hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù (Điều 263), giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt (Điều 269) v.v Có thể nói, đây là những thẩm quyền quan trọng trong công tác thi hành án được giao cho Toà án đảm nhiệm Trong các đạo luật về

tố tụng hình sự, về tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới cũng đều có nội dung quy định về việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án

Thứ hai, có ý kiến cho rằng hoạt động thi hành án là hoạt động hành

chính hay hành chính - tư pháp; bởi vì căn cứ để thi hành án chính là các bản

án, quyết định của Toà án; cách thức, biện pháp thi hành án đều tuân theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; cơ quan thi hành án phải tác động trực tiếp tới đối tượng phải thi hành để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành…

Thứ ba, có ý kiến cho rằng, quan niệm thi hành án là hoạt động tư

pháp, thi hành án là hoạt động hành chính hay hành chính - tư pháp đều có những hạt nhân hợp lý nhất định; tuy nhiên, đi sâu vào phân tích từng khía cạnh cụ thể của từng quan điểm thì cũng đều bộc lộ những mâu thuẫn không

Trang 16

12

thể giải quyết được Từ đó, ý kiến này cho rằng “cần phải xem xét thi hành án như một hiện tượng phức tạp, có tính đặc thù, không nên tìm mọi cách giải thích, quy kết, cố đưa nó về một dạng hoạt động thuần tuý, coi đó hoặc là hoạt động hành chính hoặc là hoạt động tư pháp đơn thuần… Có thể khẳng định: thi hành án như là hoạt động “bản lề” nối liền giữa hoạt động tư pháp và hoạt động hành chính Chính điều này đã tạo nên tính chất phức tạp, đặc thù của thi hành án, khiến cho thi hành án có tính chất “lưỡng tính”, vừa mang tính chất của hoạt động tư pháp, vừa chịu sự tác động, chi phối mạnh mẽ của hoạt động quản lý hành chính

Trong quá trình thẩm tra dự án Bộ luật thi hành án vừa qua, có ý kiến của thành viên Uỷ ban pháp luật cho rằng, trong dự án Bộ luật này chưa thể hiện rõ vấn đề rất cơ bản, đó là việc xác định rõ tính chất của hoạt động thi hành án Tương tự như các quan niệm nêu trên, các thành viên của Uỷ ban cũng chia sẻ vấn đề này từ những giác độ khác nhau, cụ thể là: thi hành án là một giai đoạn tiếp theo của các giai đoạn tố tụng trước đó; thi hành án là nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước; thi hành án là họat động hành chính - tư pháp

1.1.2 Nội dung công tác thi hành án hình sự trên địa bàn quận, huyện của Thành phố Hà Nội

Trên thực tế thì các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay cũng không phân định rõ rệt cơ quan tư pháp nào có chức năng "chủ trì" trong thi hành án,

do đó mỗi quan điểm trên đều đưa ra những lập luận riêng để bảo vệ quan điểm của mình Xét về góc độ thực tiễn thì hiện nay một bản án, quyết định

về hình sự có thể do nhiều cơ quan thi hành, nhất là trong trường hợp bản án, quyết định đó có nhiều bị cáo, có nhiều loại hình phạt được áp dụng hoặc có nhiều quyết định về dân sự, về hình phạt bổ sung

Trang 17

13

Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập vấn đề thẩm quyền của TAND quận, huyện trong công tác thi hành án mà không đi sâu về việc phân tích xem các quan điểm nào về việc "chủ trì" thi hành án hình sự là của cơ quan tư pháp nào

Theo quy định của BLHS năm 2009 và BLTTHS năm 2003 thì TAND quận, huyện có thẩm quyền thực hiện các việc về thi hành án hình sự, đó là: ra quyết định thi hành án hình sự hoặc quyết định uỷ thác thi hành án hình sự cho TAND cùng cấp ra quyết định thi hành án; ra quyết định hoãn thi hành án phạt tù; ra quyết định về giảm thời gian thử thách của án treo; ra quyết định miễn, giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ; xem xét việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí; ra quyết định xoá án tích

hoặc cấp giấy chứng nhận xoá án tích

Như vậy, từ khi bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành án cho đến khi bản án, quyết định đó được thi hành xong đều là công việc của Toà án, tức là căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự, Toà án phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc và chính xác nhằm đảm bảo các bản án, quyết định phải đưa ra thi hành được thực hiện nghiêm chỉnh

- Ra quyết định thi hành án hình sự hoặc ra quyết định uỷ thác thi hành

án hình sự cho Toà án khác cùng cấp

+ Về việc ra quyết định thi hành án hình sự: tại Điều 255 BLTTHS năm

2003 quy định những bản án, quyết định được thi hành gồm: bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị; những bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Toà

án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt

tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn

Trang 18

14

thời hạn đã tạm giam thì bản án, quyết định của Toà án được thi hành ngay mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị Mặc dù Điều 255 BLTTHS chỉ quy định những bản án và quyết định nêu trên được thi hành, nhưng theo quy định tại Điều 240 BLTTHS thì những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Khoản 1 Điều 237 BLTTHS quy định: "Những phần của bản án bị

kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định

tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật này…” Điều này phù hợp với quy định tại

Điều 240 BLTTHS năm 2003 Lẽ ra, Điều 255 BLTTHS năm 2003 phải quy định thêm trường hợp những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành mới phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 237 và Điều 240 BLTTHS năm 2003

Như vậy, nếu Toà án căn cứ vào quy định tại Điều 240 BLTTHS năm

2003 để ra quyết định thi hành án hình sự đối với các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị và quyết định đó được thi hành trước khi có bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm (đã áp giải thi hành án, đã thi hành phần dân sự trong vụ án hình sự, đã thi hành các hình phạt bổ sung…)

mà sau đó bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm lại sửa án sơ thẩm theo hướng có lợi cho những bị cáo này thì rõ ràng quyết định thi hành án phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án sơ thẩm phải được huỷ bỏ Vấn đề là ai có quyền ra quyết định huỷ bỏ hoặc thay thế quyết định thi hành án trước đây Hiện nay, TANDTC chưa có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, nhưng theo chúng tôi thì Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định khác để thi hành bản án, quyết định phúc thẩm (nếu bản án, quyết định đó phải đưa ra thi hành)

Trang 19

15

Về nguyên tắc mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đều phải được thi hành nghiêm chỉnh và phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng Cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chấp hành đó (Điều 22 BLTTHS năm 2003) Tuy nhiên, không phải mọi bản án quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì Toà án đều phải ra quyết định thi hành án hình sự bởi vì

có những bản án, quyết định không phải ra quyết định thi hành Ví dụ: những bản án, quyết định mà Toà án tuyên bố bị cáo không phạm tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, áp dụng hình phạt tù khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam, quyết định đình chỉ vụ án của Toà án cấp sơ thẩm hoặc quyết định đình chỉ, huỷ bản án sơ thẩm trong trường hợp bị cáo đã chết, cảnh cáo tại phiên toà, buộc xin lỗi công khai…

Như vậy, Toà án chỉ ra quyết định thi hành án hình sự đối với những trường hợp bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà bản án, quyết định đó đã áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình, hình phạt trục xuất, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng cho hưởng án treo Đối với các bản án, quyết định của Toà án có phần dân sự trong vụ án hình sự thì kể cả trường hợp Toà án phải ra quyết định hoặc không phải ra quyết định thi hành án hình sự đều do cơ quan thi hành án dân

sự ra quyết định thi hành

Đối với các bản án, quyết định có áp dụng các hình phạt bổ sung như quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, tước một số quyền công dân… đã nằm trong các bản án, quyết định, là một phần của bản án, quyết định đó nên khi Toà án ra quyết định thi hành bản án, quyết định số … ngày … tháng … năm … của Toà án

… thì đồng thời cũng là quyết định thi hành các hình phạt bổ sung (nếu có)

Trang 20

16

Việc thi hành các hình phạt bổ sung nói trên thuộc trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân địa phương hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc

Riêng đối với hình phạt trục xuất (dù là hình phạt chính hay hình phạt

bổ sung) do cơ quan công an thực hiện, căn cứ vào quyết định thi hành án hình sự của Toà án

Riêng đối với hình phạt tiền (dù là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung) do cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành

+ Điều 256 BLTTHS năm 2003 và Điều 21, Điều 22 Luật thi hành án hình sự năm 2011 quy định: “Thủ tục đưa ra thi hành bản án và quyết định của Toà án" thì thời hạn ra quyết định thi hành án là bảy ngày bao gồm cả ngày làm việc và ngày nghỉ Trường hợp ngày cuối cùng là ngày nghỉ cuối tuần hoặc nghỉ lễ thì ngày làm việc tiếp theo của ngày đó là thời hạn cuối cùng của thời hạn bảy ngày

Ví dụ: Ngày cuối cùng của thời hạn là ngày thứ bảy thì ngày làm việc tiếp theo của ngày thứ bảy là thứ hai và thứ hai là thời hạn cuối của thời hạn bảy ngày Thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày xác định Ngày xác định là ngày Toà án tuyên án hoặc ra quyết định trong trường hợp Viện kiểm sát, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên toà hoặc là ngày bản án, quyết định được giao hoặc được niêm yết nếu xử vắng mặt

Theo quy định tại các Điều 254 BLTTHS năm 2003 "Việc giao bản án

và quyết định phúc thẩm" thì trong thời hạn mười ngày kể từ ngày tuyên án hoặc ngày ra quyết định thì Toà án cấp phúc thẩm phải gửi bản án hoặc quyết

Trang 21

17

định phúc thẩm cho người kháng nghị, Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan công

an nơi đã xử sơ thẩm, người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong trường hợp bản án phúc thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự… Trong thực tiễn, các bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm thường gửi (giao) không đáp ứng được quy định của pháp luật Việc giao nhận bản án, quyết định thường rất chậm do sau khi xét xử, việc đánh máy bản án, quyết định chậm, việc rà soát, xin chữ ký trong bản án, quyết định cũng chậm và việc chuyển giao bản án, quyết định (thường là thông qua bưu điện và gửi bình thường)… Những sự chậm trễ nêu trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra quyết định thi hành án hình sự của Toà án quận, huyện cấp sơ thẩm Nếu đúng quy định của pháp luật thì từ khi bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm tuyên án hoặc ra quyết định thì chậm nhất là trong 17 ngày (10 ngày giao bản án và trong thời hạn 7 ngày ra quyết định thi hành án) thì các bản án, quyết định phúc thẩm phải được đưa ra thi hành Trong thực tiễn, thời hạn trên không thực hiện được vì các lý do chậm trễ nên có thể Toà án cấp sơ thẩm ra quyết định thi hành án không đúng với thời hạn nêu trên Trong trường hợp kéo dài thời hạn ra quyết định thi hành án, dù bất cứ lý do nào thì đó cũng là lỗi của Toà án và người bị kết án sẽ phải chịu thiệt thòi về "khoảng trống" mà Toà án

đã tạo ra Khi chưa có quyết định thi hành án thì người bị kết án chưa được chuyển sang trại cải tạo, trại giam

+ Về việc ra quyết định uỷ thác thi hành án hình sự cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án: TAND khác cùng cấp là cùng cấp huyện (TAND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; Toà án quân sự khu vực ) hoặc TAND cấp tỉnh (TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Toà án quân sự quân khu và tương đương) Hiện nay tất cả các TAND cấp

Trang 22

18

huyện, Toà án quân sự cấp khu vực đều đã thực hiện thẩm quyền xét xử theo khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003

Việc uỷ thác cho TAND cùng cấp quận, huyện ra quyết định thi hành

án hình sự chỉ được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp:

Trường hợp thứ nhất: Sau khi TAND quận, huyện đã xét xử sơ thẩm

vụ án ra quyết định thi hành án và đã gửi cho cơ quan công an cùng cấp để thi hành, nhưng cơ quan công an cùng cấp thông báo bằng văn bản cho Toà án cùng cấp biết là người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể

Trường hợp thứ hai: TAND quận, huyện đã xét xử sơ thẩm vụ án có

căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác

Như vậy, ở trường hợp thứ nhất thì TAND quận, huyện sẽ phải ra hai quyết định, một là quyết định thi hành án và hai là quyết định uỷ thác thi hành

án Vấn đề là khi Toà án ra quyết định uỷ thác thi hành án và quyết định này chỉ ban hành sau khi Toà án đã ra quyết định thi hành án, đã gửi cho cơ quan công an cùng cấp và nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan công an cùng cấp cho Toà án biết là người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể Trường hợp này sẽ phát sinh vấn đề là quyết định thi hành án của Toà án cấp sơ thẩm đã ban hành nhưng không được thực hiện bởi Toà án sẽ phải ra quyết định uỷ thác thi hành án và có thể hiểu là quyết định uỷ thác thi hành án đã phủ định quyết định thi hành án trước đó, tức là quyết định thi hành án này không còn hiệu lực thi hành Cũng có quan điểm cho rằng trong trường hợp này Toà án đã ra quyết định uỷ thác thi hành án gửi quyết định uỷ thác và gửi cả quyết định thi hành án Theo chúng tôi, Toà án ra quyết định uỷ thác chỉ cần gửi quyết định uỷ thác thi hành án cùng với hai bản sao bản án, quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật là đủ và đúng với hướng dẫn tại mục 1 Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 30/6/1993 của TANDTC, Bộ

Trang 23

a) Nếu toà án chưa ra quyết định thi hành án mà có căn cứ người bị kết

án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác thì ra quyết định uỷ thác thi hành

án, gửi cho toà án được uỷ thác các tài liệu kèm theo, trong đó có tài liệu mà căn cứ vào tài liệu này, toà án biết rõ người bị kết án đang cư trú trên địa bàn của toà án được uỷ thác thi hành án Tài liệu này giúp cho toà án được uỷ thác thi hành án ra quyết định thi hành án và tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan công an thi hành quyết định của toà án

b) Nếu sau khi toà án đã ra quyết định thi hành án mới biết là có căn cứ người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác, có thể thông tin (căn cứ) này không phải do cơ quan công an cung cấp hoặc thông báo bằng văn bản mà do từ các nguồn thông tin khác thì toà án sơ thẩm thực hiện việc uỷ thác thi hành án như hướng dẫn ở trường hợp thứ nhất (như việc nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan công an về việc người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể)

Trang 24

20

Để đảm bảo theo dõi, quản lý tốt việc uỷ thác, nhận uỷ thác thi hành án, tránh tình trạng toà án đã uỷ thác thi hành án cho rằng sau khi đã gửi các tài liệu về uỷ thác thi hành án là đã hoàn thành nhiệm vụ, không còn thẩm quyền, không còn trách nhiệm và toà án được uỷ thác có nhận được quyết định, tài liệu kèm theo việc uỷ thác thi hành án không, có ra quyết định thi hành án không, đồng thời tránh tình trạng Toà án được uỷ thác tuy nhận được là hồ sơ

uỷ thác thi hành án nhưng không thực hiện việc ra quyết định thi hành án Như vậy, có thể xảy ra (và trong thực tiễn đã xảy ra) trường hợp quyết định thi hành án được ban hành nhưng không gửi hoặc đã nhận hồ sơ thi hành án nhưng không thực hiện Cả hai trường hợp này đều dẫn tới người bị kết án vẫn không có quyết định thi hành án và nếu không bị phát hiện thì họ đương nhiên được hưởng thời hiệu thi hành án Điều này có nghĩa là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không còn được thi hành Chúng tôi cho rằng, TANDTC cần có hướng dẫn, quy định cụ thể về vấn đề này Theo chúng tôi, nên có quy định cụ thể về việc giao nhận hồ sơ uỷ thác thi hành án Chẳng hạn, toà án đã uỷ thác phải gửi cùng hồ sơ uỷ thác phiếu gửi, toà án được uỷ thác phải ký, đóng dấu vào phiếu gửi và gửi trả lại toà án đã uỷ thác như một xác nhận đã nhận được hồ sơ uỷ thác thi hành án, phiếu gửi này được lưu tại toà án đã uỷ thác để xác định đã gửi hồ sơ uỷ thác và toà án đã nhận uỷ thác thi hành án Cũng có thể quy định toà án được uỷ thác phải gửi cho toà án đã

uỷ thác quyết định thi hành án hoặc thông báo bằng văn bản cho toà án đã uỷ thác và các tài liệu này được lưu tại toà án đã uỷ thác để quản lý, theo dõi chặt chẽ việc uỷ thác thi hành án hình sự

- Ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù

Hoãn thi hành án là thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội, bị phạt tù nhưng có một trong các tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 61 hoãn chấp hành hình phạt tù, BLHS năm 2009 Theo quy

Trang 25

21

định tại Điều 261 của BLHS năm 2003 và Điều 23 Luật thi hành án hình sự năm 2010 quy định: hoãn chấp hành hình phạt tù là việc Toà án đã ra quyết định thi hành án đối với người bị xử phạt tù đang được tại ngoại, nhưng xét thấy có những căn cứ quy định tại Điều 61 BLHS năm 2009 hoặc xét thấy có căn cứ khác để chưa buộc họ phải chấp hành hình phạt ngay

+ Về thẩm quyền và thủ tục hoãn chấp hành hình phạt tù: Thẩm quyền ban hành quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù thuộc Chánh án Toà án đã

ra quyết định thi hành án phạt tù Ví dụ: Chánh án TAND quận A đã ra quyết

định thi hành án phạt tù có quyền ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù

Về thủ tục để hoãn chấp hành hình phạt tù: Viện kiểm sát và cơ quan Công an cùng cấp có văn bản đề nghị hoặc người bị kết án có đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù Trường hợp không có đề nghị hoặc có đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phạt tù

có thể tự mình xét và ra quyết định cho người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt tù nếu người thân thích của người bị kết án (cha, mẹ, vợ, chồng, anh chị em…) hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người bị kết án thường trú có đề nghị bằng văn bản Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù phải

có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị hoãn; hồ sơ xin hoãn chấp hành hình phạt tù bao gồm các tài liệu: bản sao bản án hoặc trích lục bản án hình sự; văn bản đề nghị của những cơ quan, tổ chức, cá nhân, viện kiểm sát, công an cùng cấp… (những người được đề nghị hoặc xin hoãn)

Kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật của người

bị kết án Đối với trường hợp người bị kết án bị HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS thì chỉ cần kết quả xét nghiệm HIV và phải xác định rõ là đang có các nhiễm trùng cơ hội và tiên lượng xấu Trường hợp này được coi là người

Trang 26

22

bị kết án bị bệnh nặng và được hoãn chấp hành hình phạt tù Kết luận của bệnh viện cấp huyện trở lên về việc người bị kết án là phụ nữ đang có thai hoặc bản sao giấy khai sinh, giấy chứng sinh và xác nhận của chính quyền địa phương nơi họ thường trú về việc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Xác nhận của chính quyền địa phương nơi người bị kết án thường trú về việc họ là lao động duy nhất trong gia đình, nếu họ đi chấp hành hình phạt tù thì gia đình gặp khó khăn đặc biệt Văn bản của cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc hoặc chính quyền nơi người đó thường trú xác nhận cần có sự có mặt của

họ vì nhu cầu công vụ

+ Về các căn cứ và thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù: có đầy đủ hồ

sơ đề nghị hoặc xin hoãn chấp hành hình phạt tù; có một trong các điều kiện hoãn chấp hành hình phạt tù quy đinh tại khoản 1 Điều 61 BLHS năm 2009

và thoả mãn các điều kiện theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TANDTC tại mục 7 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 Cụ thể là: a) Bị bệnh nặng được hoãn cho đến khi sức khoẻ được khôi phục Người bị kết án

bị bệnh nặng tức là bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được và nếu họ phải chấp hành hình phạt tù thì có thể nguy hiểm đến tính mạng Các bệnh được coi là nặng như: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ trướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS (bệnh viện cấp tỉnh xác nhận); b) Là phụ

nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì được hoãn đến khi con

đủ 36 tháng tuổi Không phân biệt người con đó là con đẻ hay con nuôi và nếu họ bị xử phạt tù lần đầu; c) Là người không bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và họ là người lao động có thu nhập duy nhất trong gia đình Thời hạn hoãn là một năm; d) Là người bị kết án về tội ít nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt với tội ấy là 3 năm tù) và do nhu cầu công vụ thì được hoãn đến

Trang 27

23

một năm; đ) Người lao động duy nhất trong gia đình hoặc do nhu cầu công vụ

có thể được hoãn một lần hoặc nhiều lần nhưng tổng thời gian hoãn không quá một năm Do đó, nếu đã hoãn một lần hoặc nhiều lần mà thời gian hoãn

đã được một năm thì người bị kết án không được xét hoãn nữa nếu họ xin hoãn hoặc đề nghị hoãn của cơ quan, chính quyền vẫn vì lý do công vụ hoặc

vì lý do là người lao động duy nhất trong gia đình; f) Ngoài các trường hợp được hoãn chấp hành hình phạt tù quy định tại khoản 1 Điều 61 BLHS năm

2009 và hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TANDTC tại tiểu mục 7.1 mục 7 Nghị quyết Hội đồng thẩm phán số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 thì Toà án cũng có thể cho người bị kết án phạt tù được hoãn chấp hành hình phạt

tù nhưng phải xem xét thận trọng, chặt chẽ (xem ví dụ tại tiểu mục 7.2 mục 7 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán số 01/2007 ngày 2/10/2007)

+ Về thời hạn ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù: sau khi nhận được hồ sơ đề nghị hoặc xin hoãn chấp hành hình phạt tù, Chánh án Toà án đã

ra quyết định thi hành án phải nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy có tài liệu nào chưa

đủ hoặc cần làm rõ hơn thì yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù bổ sung, làm rõ thêm (kể cả cơ quan công an hoặc viện kiểm sát đề nghị) Trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu bổ sung, làm rõ, Chánh án Toà án phải quyết định cho hoãn hoặc không cho hoãn chấp hành hình phạt tù Nếu không chấp nhận thì Chánh

án phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị hoãn biết, trong đó phải nêu rõ lý do về việc không chấp nhận đề nghị hoãn Nếu chấp nhận thì Chánh án ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù và quyết định này được gửi cho người được hoãn chấp hành hình phạt tù; Viện kiểm sát, cơ quan công an cùng cấp (hoặc cơ quan thi hành án của quân đội cùng cấp); chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người được hoãn chấp hành hình phạt tù đang cư trú hoặc làm việc để quản lý theo quy

Trang 28

24

định tại Điều 263 của BLTTHS năm 2003 và hướng dẫn tại mục 3 phần III Nghị quyết Hội đồng thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 Nếu Viện kiểm sát có kháng nghị đối với văn bản thông báo không chấp nhận đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù ví lý do không xác đáng hoặc kháng nghị quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù vì không có căn cứ thì Chánh án phải xem xét để nếu có căn cứ thì huỷ bỏ thông báo hoặc quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù và thay bằng quyết định mới

+ Về việc tiếp tục ra quyết định thi hành án khi sắp hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù (khoản 2 Điều 261 BLTTHS năm 2003): Chậm nhất là bảy ngày trước khi hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, Chánh án Toà

án đã cho hoãn chấp hành hình phạt tù phải ra quyết định thi hành án và phải gửi ngay quyết định thi hành án cùng bản án, quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan công an cùng cấp và người bị kết án trước khi hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù Nếu quá thời hạn bảy ngày kể từ ngày hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, người bị kết án không có mặt tại cơ quan công an để đi chấp hành hình phạt tù mà không có lý do chính đáng, thì

cơ quan công an phải áp giải người bị kết án đi chấp hành hình phạt tù

Như vậy, các Toà án cấp sơ thẩm phải có sổ theo dõi về việc hoãn chấp hành hình phạt tù Các tiêu chí theo dõi phải được thể hiện như: họ và tên người bị kết án; số bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, ngày tháng năm của bản án, quyết định đó; tội danh và mức hình phạt tù; lý do được hoãn chấp hành hình phạt tù; quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù số, ngày tháng năm; thời gian được hoãn; ngày hết hạn hoãn; hoãn lần thứ mấy…

Từ những tiêu chí theo dõi, quản lý nêu trên, Toà án có căn cứ để ra quyết định thi hành án (tiếp tục thi hành án), có căn cứ để khi thấy cần thiết Chánh án tự mình cho hoãn (nếu như thời hạn được hoãn vẫn còn, ví dụ như

Trang 29

25

hoãn lần 1 là 6 tháng, vẫn có thể cho hoãn tiếp lần thứ hai 6 tháng hoặc 2 lần nữa mỗi lần 3 tháng để tổng các lần hoãn vì người bị kết án là lao động duy nhất hoặc vì lý do công vụ không quá một năm)

Trường hợp không có căn cứ cho hoãn nữa (con đã đủ 36 tháng tuổi, có thai nhưng đã sảy thai, con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đã bị chết hoặc không được Toà án giao nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi ly hôn…) thì thủ tục để buộc người bị kết án chấp hành hình phạt tù đúng như quy định tại đoạn một, khoản 2 Điều 261 BLTTHS năm 2003 Nếu quá 7 ngày kể từ ngày hết hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, người bị kết án không có mặt tại cơ quan công

an, không có lý do chính đáng thì cơ quan Công an phải áp giải người đó đi chấp hành hình phạt tù Lý do chính đáng là những lý do gì, được trình bày với cơ quan công an hay với cơ quan nào ? Vấn đề này chưa được TANDTC hướng dẫn, do đó khi có lý do mà cơ quan công an cho là chính đáng thì sẽ không thực hiện việc áp giải người bị kết án đi chấp hành hình phạt tù và nếu kéo dài có thể dẫn tới hết thời hiệu thi hành án hình sự

- Rút ngắn thời gian thử thách của án treo

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt không quá ba năm tù, căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành án phạt tù Theo đó, người phải chấp hành án treo không bị cách ly khỏi

xã hội , được giám sát, giáo dục trong môi trường bình thường dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án học tập, công tác, cư trú Do vậy, khi quyết định hình phạt, Toà án phải xác định mức hình phạt tù đó, tức là Toà án phải căn cứ vào các quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự, các hướng dẫn của TANDTC để xem

Trang 30

Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 BLHS năm 2009 thì khi cho người

bị phạt tù hưởng án treo, trong mọi trường hợp Toà án phải ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm Cách tính thời gian thử thách của án treo

đã được TANDTC hướng dẫn tại mục 6 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt và tại mục 1 Công văn số 99-TANDTC-KHXX ngày 01/7/2009 của TANDTC "về việc thi hành một số quy định của các văn bản quy phạm pháp luật"

Khi cho bị cáo hưởng án treo, căn cứ vào quy định nêu trên, các Toà án

ấn định thời gian thử thách của bị cáo Những cơ quan, tổ chức trong Điều 3

Trang 31

27

Nghị định 61/CP là những cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục người được hưởng án treo và Toà án phải căn cứ vào người được hưởng án treo thuộc đối tượng nào của Điều 3 Nghị định 61/CP và hướng dẫn tại tiểu mục 6.6 mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TANDTC để quyết định trong bản án về việc giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục

họ trong thời gian thử thách

- Hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo

Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 61/CP thì "Khi đề nghị Toà án rút ngắn thời gian thử thách quy định tại điểm g khoản 1 của Điều này,

cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người được hưởng án treo phải gửi kèm

hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách Hồ sơ đề nghị gồm có: bản đề nghị của cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục về việc rút ngắn thời gian thử thách cho người được hưởng án treo; sổ theo dõi người được hưởng án treo; quyết định của Toà án về việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo và trích lục bản án; đơn xin rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo (nếu họ có đề nghị); bản tự kiểm điểm của người được hưởng án treo; biên bản cuộc họp kiểm điểm người được hưởng án treo Trình tự, thủ tục tiến hành, thời hạn xét rút ngắn thời gian thử thách, ra quyết định rút ngắn thời gian thử thách, gửi quyết định, kháng nghị quyết định, phúc thẩm quyết định… được thực hiện như đối với việc xét miễn, giảm hình phạt tù, hình phạt cải tạo không giam giữ Thẩm quyền quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo thuộc TAND cấp quận, huyện nơi người được hưởng án treo đang chấp hành hình phạt, chịu thử thách

Mức rút ngắn thời gian thử thách: Mỗi lần người được hưởng án treo có thể được Toà án quyết định rút ngắn thời gian thử thách từ ba tháng đến một

Trang 32

28

năm; người được hưởng án treo có thể được Toà án rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải đảm bảo thời hạn thực tế chấp hành thời gian thử thách là ba phần tư Có nghĩa là mức rút ngắn thời gian thử thách dù nhiều lần cũng chỉ được một phần tư thời gian thử thách Ví dụ người được hưởng án treo phải chịu thời gian thử thách là 4 năm thì họ phải đảm bảo thời gian đã chấp hành là 3 năm Thời gian được rút ngắn thử thách cao nhất chỉ là một năm; Người được hưởng án treo lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và có

đủ các điều kiện: đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; thành thực hối cải, tích cực lao động, học tập; được cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương có trách nhiệm giám sát, giáo dục đề nghị bằng văn bản rút ngắn thời gian thử thách, thì Toà án có thể quyết định miễn chấp hành thời gian thử thách còn lại

- Miễn, giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ

Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật thi hành án hình sự giám sát, giáo dục người chấp hành án tại xã, phường, thị trấn và khấu trừ thu nhập sung quỹ nhà nước theo bản án đã có hiệu lực pháp luật Theo quy định của pháp luật, án phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng, đang có nơi làm việc

ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội

+ Về giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ: Điều kiện xét giảm như sau: đã chấp hành được một phần ba thời hạn bị phạt cải tạo không giam giữ; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thành thật hối cải, tích cực lao động; được cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách

Trang 33

29

nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục đề nghị bằng văn bản xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ

+ Về mức xét giảm: người bị kết án cải tạo không giam giữ thì mỗi lần

có thể được giảm từ ba tháng đến chín tháng Các trường hợp đặc biệt như lập công, mắc bệnh hiểm nghèo, quá già yếu, người chưa thành niên, được xét giảm sớm hơn hoặc cao hơn cũng thực hiện tương tự như việc xét giảm hình phạt tù Hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ bao gồm các tài liệu sau đây: bản sao bản án hoặc trích lục bản án hình sự; văn bản đề nghi của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kết án; đơn xin giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của người bị kết án; bản tường trình của người bị kết án về việc đã lập công hoặc lập công lớn

có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền (cũng có thể họ xuất trình các quyết định khen thưởng vì đã lập công hoặc lập công lớn); kết luận của bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật của người bị kết án (nếu họ bị mắc bệnh hiểm nghèo)

TAND quận, huyện nơi người bị kết án chấp hành hình phạt có thẩm quyền quyết định miễn, giảm hình phạt cải tạo không giam giữ Trình tự, thủ tục để xét giảm hình phạt cải tạo không giam giữ cũng tương tự như xét giảm chấp hành hình phạt tù Tuy nhiên, Hội đồng xét giảm hình phạt cải tạo không giam giữ được thành lập ở Toà án cấp huyện, Toà án quân sự khu vực nên thành phần có thể là hai thẩm phán và một hội thẩm nhân dân hoặc Hội thẩm quân nhân (khi các Toà án này không đủ ba thẩm phán) Việc ra quyết định, gửi quyết định thực hiện như việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù Tuy nhiên, trong các mẫu kèm theo Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TANDTC chỉ có mẫu quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ mà không có mẫu quyết định giảm, miễn

Trang 34

30

hoặc không chấp nhận giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ Trong thực tiễn, các Toà án quận, huyện rất ít xem xét, giải quyết đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, nhưng không vì thế mà TANDTC không ban hành các loại mẫu quyết định này

- Về miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ

Các điều kiện để được xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cũng tương tự như điều kiện để xét giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ và đều được quy định chung trong Điều 57 BLHS năm 2009

và Điều 268 BLTTHS năm 2003 Tuy nhiên miễn và giảm là hai chế định khác nhau nên trong quy định của pháp luật về hai chế định này cũng có những điểm khác nhau Miễn chấp hành là không buộc phải chấp hành nữa, tức là có sự khoan hồng đặc biệt hơn so với giảm thời hạn chấp hành hình phạt Vì vậy, trình tự, thủ tục miễn chấp hành hình phạt cũng cần chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo việc miễn chấp hành hình phạt nói chung và hình phạt cải tạo không giam giữ nói riêng đúng quy định của pháp luật

Theo quy định tại khoản 2 Điều 269 BLTTHS năm 2003 "Thủ tục giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt" thì: "Hồ sơ đề nghị xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, miễn chấp hành toàn bộ hoặc phần hình phạt tù còn lại, miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại phải có đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp" Do đó, hồ sơ đề nghị miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ bao gồm các tài liệu sau: bản sao bản

án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự; văn bản đề nghị của Viện trưởng viện kiểm sát; đơn xin miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của người bị kết án; bản tường trình của người bị kết án về việc đã lập công hoặc lập công lớn có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nếu họ có tình tiết này

Trang 35

31

Cũng có thể người bị kết án xuất trình các quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc khen thưởng đối với người bị kết án Trường hợp này, theo chúng tôi, không cần thiết phải yêu cầu họ làm bản tường trình và cũng không cần phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nữa vì các quyết định khen thưởng của cơ quan có thẩm quyền đã là xác nhận thành tích của người bị kết

án rồi Trường hợp người bị kết án được xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ vì lý do họ mắc bệnh hiểm nghèo thì trong hồ sơ phải có kết luận của bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật của người bị kết

án Các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành, thời hạn xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ; các quy định miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ trong những trường hợp đặc biệt hoặc đối với người bị kết

án là người chưa thành niên; việc giao quyết định, kháng nghị quyết định, phúc thẩm quyết định miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện như việc xét miễn, giảm hình phạt tù

- Miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí

Miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí là những trường hợp người phải thi hành các khoản tiền này theo bản án, quyết định của Toà

án, nhưng có đủ các điều kiện do pháp luật quy định nên được Toà án có thẩm quyền quyết định miễn hoặc giảm khoản tiền mà họ phải thi hành Tiền phạt được xem xét để miễn, giảm không phân biệt là hình phạt chính hay hình phạt

bổ sung Trường hợp người phải thi hành án đã thi hành được một phần hình phạt tiền là trường hợp người phải thi hành án đã nộp một khoản tiền hoặc tài sản để thi hành án mà ít nhất là 1/20 khoản tiền phạt phải thi hành, nhưng không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch Người phải thi hành án được miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí trong trường hợp người đó lập được công lớn hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài Người phải thi hành án lập công lớn là trường hợp người đó đã

Trang 36

32

có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hoả hoạn;

có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng Người phải thi hành án bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài là người bị mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản, mất hoặc giảm thu nhập, không đảm bảo hoặc chỉ đảm bảo được nhu cầu tối thiểu của bản thân người đó và gia đình từ mười hai tháng trở lên, kể

từ khi thời điểm thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, ốm đau đến thời điểm xét miễn giảm thi hành án, trừ trường hợp do người phải thi hành án tự gây ra tai nạn,

ốm đau cho bản thân họ nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án

- Các trường hợp được giảm thi hành án

Khi hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành án khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau: không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn; số tiền phạt còn lại từ trên hai mươi triệu đồng; không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại

Khi chưa hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành án khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau: là người chưa thành niên khi phạm tội; không thuộc trường hợp phạm tội

Trang 37

33

có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn; Số tiền phạt còn lại trên hai triệu đồng; bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn

Khi hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) hoặc người phải thi hành án phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự

về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau: là người chưa thành niên khi phạm tội;

số tiền phạt còn lại trên hai triệu đồng; bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn Người phải thi hành khoản tiền án phí có giá ngạch trên hai mươi triệu đồng nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền án phí còn lại được giảm thi hành án trong trường hợp đã đủ mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu

- Xoá án tích

Xoá án tích là một chế định được quy định tại Chương IX BLHS năm

2009 và Chương XXIX BLHS năm 2009 Theo các quy định của hai Bộ luật này thì có hai hình thức xoá án tích, đó là "Đương nhiên được xoá án tích" và

"xoá án tích theo quyết định của Toà án" Xoá án tích là việc xoá đi vết tích

Trang 38

34

phạm tội của người bị kết án, làm cho người đó được coi như chưa bị kết án,

họ có quyền được ghi trong lý lịch của mình chưa có tiền án sau khi đã được Toà án cấp giấy chứng nhận hoặc ra quyết định xoá án tích

- Đương nhiên xoá án tích

Đương nhiên xoá án tích được áp dụng đối với những trường hợp quy định tại Điều 64 BLHS năm 2009, đó là: người được miễn hình phạt; người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI "Các tội xâm phạm an ninh quốc gia" và Chương XXIV "Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh" của BLHS năm 2009, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau: một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo; ba năm trong trường hợp hình phạt tù đến ba năm; năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm; bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm Ở đây cần chú ý một số vấn đề sau: chấp hành xong bản án tức là người bị kết án đã tự mình chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án Trường hợp các quyết định của bản án hình sự về tài sản, án phí, tiền phạt… đã có người thân của người bị kết án nộp thay hoặc người có trách nhiệm liên đới bồi thường

đã thực hiện bồi thường đầy đủ toàn bộ theo quyết định của bản án thì cũng được coi là người bị kết án đã chấp hành xong Người bị xử phạt tù, nhưng được hưởng án treo đã chấp hành xong thời gian thử thách và chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án (tiền bồi thường, tiền phạt, án phí… nếu có)

- Về thời hiệu thi hành bản án

Trang 39

35

Khi xem xét thời hiệu thi hành bản án đã hết hay chưa để xem xét việc xoá án tích, thì cần phải căn cứ vào Điều 55 BLHS năm 2009 Đặc biệt cần chú ý là thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với trường hợp áp dụng hình phạt tiền trước đây chưa được quy định trong BLHS năm 1985, do đó được thi hành theo Pháp lệnh thi hành án dân sự Bộ luật hình sự năm 2009 đã bổ sung tại điểm a, khoản 2 Điều 55 và theo quy định này thì thời hiệu thi hành

án đối với hình phạt trên là năm năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà

án có hiệu lực pháp luật Đối với các quyết định khác về tài sản trong bản án hình sự (tiền bồi thường thiệt hại; trả lại tài sản; tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến thiệt hại; tịch thu tài sản; án phí…) thì vẫn thi hành theo các quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm

2008 đã quy định cụ thể về thời hiệu thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án Tuy nhiên, để xác định thời hiệu thi hành án đối với các quyết định về tài sản trong bản án hình sự còn hay hết thì cần phân biệt các trường hợp sau:

+ Đã hết thời hiệu thi hành án đối với các quyết định về tài sản trong bản án hình sự khi hết thời hạn quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 mà không có trở ngại khách quan, nhưng người được thi hành án không có đơn gửi cơ quan thi hành án để yêu cầu thi hành án hoặc trong trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải chủ động ra quyết định thi hành án, nhưng không ra quyết định này (thời hạn là năm đối với các trường hợp phải yêu cầu thi hành án)

+ Nếu trong thời hạn quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm

2008 mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được thi hành án đã có đơn gửi cơ quan thi hành án yêu cầu thi hành án hoặc thủ trưởng cơ quan thi hành án đã chủ động

ra quyết định thi hành án, thì chỉ khi nào người bị kết án thi hành xong các quyết định về tài sản hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án thì mới được coi

Trang 40

- Xoá án tích do TAND quyết định

Xoá án tích do Toà án quyết định là việc trên cơ sở xem xét những điều kiện được quy định tại Điều 65 và Điều 66 BLHS năm 2009, ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát, đơn của người bị kết án, nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc, Toà án ra quyết định về việc xoá án tích

Về các điều kiện để xoá án tích do Toà án quyết định: những người đã

bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XI BLHS năm 2009)

và các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (chương XXIV BLHS năm 2009) Khi quyết định xoá án tích đối với những người bị kết án về những tội phạm này, Toà án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân dân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của họ trong các trường hợp sau: đã bị phạt tù đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án; đã bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án Như vậy, xoá án tích do

Ngày đăng: 29/03/2018, 15:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm