1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm của cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của viện kiểm sát nhân dân

71 277 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 593,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó các yêu cầu và quyết định của VKS đối với CQĐT trong quá trình điều tra vụ án hình sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội được xử lý kịp thời, việc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGU YỄN THỊ THU HÀ

TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG VIỆC TH ỰC HIỆN CÁC YÊU CẦU VÀ QUY ẾT ĐỊNH

CỦA VIỆN KIỂ M SÁT NH Â N DÂN

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

M ã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG THỊ MINH SƠN

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, chính xác và được thu thập một cách hợp pháp

Hà Nội, ngày 24 tháng 5 năm 2013

Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 4

MỤC LỤC Trang

TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN ĐIÊU TRA

TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC YÊU CẦU VÀ QUYẾT ĐỊNH CỦA VIỆN

KIỂM SÁT

6

1.1 Khái niệm, bản chất, ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm của Cơ

quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện

kiểm sát trong tố tụng hình sự

6

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu

cầu và quyết định của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

6

1.1.2 Bản chất, ý nghĩa c ủa việc quy định trách nhiệ m của Cơ qua n điều tra trong

việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát

8

1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trách nhiệm của Cơ quan

điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm

sát

11

1.2.1 Các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Cơ quan điều

tra bắt buộc phải thực hiện

11

1.2.2 Các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự , Cơ quan

điều tra tùy nghi thực hiện

18

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CA O

TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG VIỆC THỰC HIỆN

CÁC YÊU CẦU VÀ QUYẾT ĐỊNH CỦA VIỆN KIỂM SÁT

27

2.1 Thực trạng Cơ quan điều tra thực hiện các yêu cầu và quyết định của

Viện kiểm sát

27

2.1.1 Những kết quả đạt được trong việc Cơ quan điều tra thực hiện các yêu cầu

và quyết định của Viện kiểm sát

27

2.1.2 Những tồn tại trong việc Cơ quan điều tra thực hiện các yêu cầu và quyết định

của Viện kiểm sát

Kiểm sát viên, Điều tra viê n

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo quy định của BLTTHS thì VKS có hai chức năng đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Một trong những cách thức để VKS thực hiện chức năng của mình đó là đề ra các yêu cầu và ban hành quyết định Trong đó các yêu cầu và quyết định của VKS đối với CQĐT trong quá trình điều tra vụ án hình sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra cũng như việc áp dụng biện pháp ngăn chặn có căn cứ và đúng pháp luật, đồng thời phát hiện kịp thời và loại trừ việc vi phạm pháp luật của CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Tuy nhiên trên thực tế không phải bất cứ y êu cầu hay quyết định nào của VKS đều được CQĐT nghiêm túc thực hiện Quy định của pháp luật về trách nhiệm của CQĐT khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các yêu cầu, quyết định của VKS còn hạn chế Thực tiễn cũng cho thấy, việc ban hành yêu cầu và quyết định của VKS ở một số trường hợp còn bộc lộ nhiều thiếu sót, tồn tại, không ít các trường hợp do nhận thức không thống nhất giữa CQĐT và VKS dẫn đến việc CQĐT không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các yêu cầu và quyết định của VKS, làm cho việc giải quyết vụ án bị kéo dài, gây tốn kém các chi phí tố tụng , ít nhiều ảnh hưởng và hạn chế đến chất lượng giải quyết các vụ án hình sự cũng như ảnh hưởng sâu sắc đến quan

hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS

Từ lý luận và thực tiễn trên đây đã đặt ra yêu cầu cần thiết nghiên cứu

và nhận thức một cách đúng đắn về việc ban hành yêu cầu, quyết định của VKS đối với CQĐT cũng như trách nhiệm thực hiện của CQĐT đối với các yêu cầu và quyết định của VKS, đồng thời tìm ra cơ sở khoa học để sửa đổi,

bổ sung và hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS về vấn đề này

Trang 6

Chính vì vậy, là một cán bộ hiện đang công tác trong ng ành Kiểm sát,

tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKSND” làm luận văn Thạc sỹ luật học nhằm

góp phần giải quyết một số vấn đề về lý luận và thực tiễn công tác đề ra

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chức năng của CQĐT, chức năng của VKS, mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong TTHS Tuy nhiên các công trình nghiên cứu khoa học về những vấn đề này ở phạm vi và mức độ nghiên cứu khác nhau:

Công trình nghiên cứu mang tính đại cương có Giáo trình Luật TTHS Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội); cuốn Bình luận khoa học BLTTHS Việt Nam năm 2003, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2004 do tác giả Võ Khánh Vinh chủ biên; cuốn Một số vấn đề mới của BLTTHS năm 2003, cuốn

Sổ tay KSV hình sự tập 1 của VKSNDTC Các tài liệu này đã phân tích nội

dung các quy định của BLTTHS trong đó có các quy định về chức năng của CQĐT, chức năng của VKS và đề cập đến nội dung trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu, quyết định của VKS

Ngoài ra, một số tạp chí cũng đề cập đến mối quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS, vấn đề tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều

tra như bài “Tăng cường quan hệ phối hợp giữa VKS với CQĐT, nâng cao trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp ”

- Tạp chí kiểm sát số 19, năm 2012 của tác giả Đỗ Văn Thắng; bài “Hoàn thiện quy định về mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong TTHS Việt Nam”- Tạp chí kiểm sát số 8, năm 2012 của tác giả Nguyễn Tiến Sơn; bài “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm công tố trong việc đề ra yêu cầu điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp” - Tạp chí kiểm sát số 13, năm 2012 của tác giả Vũ Việt Hùng; bài “Sửa đổi bổ sung BLTTHS nhằm thực hiện chủ trương của Đảng - Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra,

Trang 7

thực hiện cơ chế công tố gắn với điều tra”- Tạp chí kiểm sát số 21 năm 2012

của tác giả Nguyễn Thị Thủy… Hay nhiều đề tài khoa học nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS, về chức năng công tố của VKS

như luận án tiến sĩ năm 1996 “Mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong TTHS Việt Nam” của tiến sỹ Nguyễn Tiến Sơn; Luận văn thạc sĩ năm 1994 “Mối quan hệ giữa CQĐT và VKS khi thực hiện kiểm sát điều tra ” của thạc sỹ Hoàng Công Khôi; luận văn thạc sĩ năm 2012 “Quyền công tố của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” của thạc sĩ Phạm Thị Thùy Linh Những

bài viết trên tạp chí, công trình nghiên cứu khoa học trên đã tập trung nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận, căn cứ và thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS về chức năng thực hành quyền công tố của VKS, về mối quan

hệ giữa CQĐT và VKS, về yêu cầu điều tra của VKS qua đó đánh giá thực trạng trong việc áp dụng pháp luật đồng thời đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật cùng một số giải pháp, kiến nghị khác để nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tiễn các vấn đề này Các nghiên cứu trên đã có những đóng góp khoa học nhất định và đáng trân trọng cả về lý luận và thực tiễn

Tuy nhiên, hiện nay chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, trực tiếp, toàn diện về mặt lý luận, cũng như đưa ra các g iải pháp toàn diện để nâng cao trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS Xuất phát từ tình hình nghiên cứu như trên cho thấy cần phải có nghiên cứu về mặt lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật TTHS và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đây là đề tài chủ yếu liên quan đến việc thực hiện pháp luật nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu nh ững vấn đề lý luận cơ bản cũng như quy định của pháp luật TTHS về trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS, từ đó đánh giá thực tiễn thực hiện quy định của

Trang 8

pháp luật liên quan đến vấn đề này Do thời gian và khuôn khổ có hạn, luận văn tập trung vào việc nghiên cứu những vấn đề sau:

- Những vấn đề chung về trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKSND theo Điều 114 BLTTHS và một số quy định khác của BLTTHS liên quan đến nội dung này;

- Thực trạng áp dụng Điều 114 BLTTHS về trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện một số yêu cầu và quyết định của VKSND những năm gần đây (từ năm 2008 đến 2012) của cơ quan Cảnh sát điều tra và VKSND là hai chủ thể trực tiếp thực hiện

- Luận văn không nghiên cứu về trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS quân sự

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở phương pháp luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm

Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống

kê, khảo sát thực tế, chuyên gia

5 M ục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp luật về trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS, luận văn đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2003 về vấn đề này và đề ra một số giải pháp khác để nâng cao hiệu quả cũng như trách nhiệm thực hiện của CQĐT đối với các yêu cầu và quyết định của VKS

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:

- Phân tích bản chất, ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKSND trong TTHS;

Trang 9

- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về các yêu cầu, quyết định của VKS đối với CQĐT và trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định này ;

- Khảo sát để đánh giá thực trạng áp dụng những quy định của pháp luật về trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện một số yêu cầu và quyết định của VKSND trong TTHS trong những năm gần đây (2008 -2012)

6 Những kết quả nghiên cứu m ới của luận văn

- Nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về các yêu cầu và quyết định của VKS đối với CQĐT cũng như các quy định liên quan đến trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS;

- Phát hiện một số vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS về việc thực hiện của CQĐT đối với các yêu cầu, quyết định của VKS;

- Đề xuất sửa đổi, bổ su ng một số quy định của BLTTHS năm 2003, một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cũng như trách nhiệm thực hiện của CQĐT đối với các yêu cầu, quyết định của VKS

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

được kết cấu gồm 2 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung và quy định của Pháp luật TTHS về

trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS

Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm

của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS

Trang 10

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ C HUNG VÀ QUY ĐỊN H CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG V IỆC THỰC HIỆN CÁC YÊU CẦU VÀ QUYẾT ĐỊNH CỦA VIỆN KIỂM SÁT

1.1 Khái niệm , bản chất, ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm của

Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

Điều 23 BLTTHS quy định: VKS có chức năng thực hành quyền công

tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS Điều 112 BLTTHS quy định khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, VKS có quyền quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đề ra yêu cầu điều tra đối với CQĐT, khi xét thấy cần thiết trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra VKS có quyền áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, có quyền phê chuẩn hoặc không phê chuẩn một số quyết định của CQĐT; hủy các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT; quyết định việc truy tố bị can, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Điều 113 BLTTHS quy định khi kiểm sát điều tra, VKS có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Kiểm sát việc khởi tố, các hoạt động điều tra, việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT, việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra; yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra, cung cấp các tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của ĐTV, yêu cầu thủ trưởng CQĐT xử lý nghiêm minh ĐTV đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra; Kiến nghị các cơ quan tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp

phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

CQĐT có nhiệm vụ tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện

Trang 11

hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các b iện pháp khắc phục và ngăn ngừa [29; Điều 3]

Tuy VKS và CQĐT là các cơ quan nhà nước khác nhau, đ ộc lập với nhau và không có sự ràng buộc với nhau về quan hệ hành chính nhưng đều có nhiệm vụ chung là chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không

để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Chính nhiệm vụ chung này đã gắn kết CQĐT và VKS trong quá trình điều tra Đ ể bảo đảm VKS thực hiện chức năng của mình, Điều 114 BLTTHS quy định trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS

CQĐT là một trong ba cơ quan tiến hành tố tụng, là chủ thể chủ yếu trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Theo quy định tại Điều 110 BLTTHS thì CQĐT được tổ chức trong lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và ở VKSNDTC

Theo Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự thì:

- Trong Công an nhân dân có hai loại CQĐT: Cơ quan an ninh điều tra được tổ chức ở hai cấp là cấp trung ương và cấp tỉnh; Cơ quan cảnh sát điều tra được tổ chức ở ba cấp là cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện

- Trong Quân đội nhân dân có hai loại CQĐT: CQĐT hình sự trong Quân đội nhân dân được tổ chức ở ba cấp bao gồm CQĐT hình sự Bộ Quốc phòng, CQĐT hình sự quân khu và tương đương và CQĐT hình sự khu vực;

Cơ quan An ninh điều tra trong Quân đội nhân dân được tổ chức ở hai cấp, bao gồm: Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng và Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương

- Tổ chức của CQĐT của V KSN DTC bao gồm: CQĐT V KS NDTC và CQĐT VKS quân sự Trung ương

Trang 12

Ngoài ra theo Điều 111 BLTTHS thì những Cơ quan sau được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, bao gồm: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công

an nhân dân, Quân đội nhân dân Các cơ quan này chỉ là các cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động đ iều tra với quyền hạn và trách nhiệm hạn chế hơn nhiều so với CQĐT chuyên trách Tuy nhiên các cơ quan này cũng có quyền quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho VKS trong một số trường hợp do BLTTHS và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự quy định Do vậy trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự, các cơ quan này cũng phải có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS theo quy định tại Điều

114 BLTTHS

Từ điển mở W iktionary thể hiện Trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình [48] Theo Từ điển Tiếng Việt thì Trách nhiệm là nhiệm vụ mình phải gánh vác lấy [27]

Từ các phân tích trên có thể hiểu trách nhiệm của CQĐT trong việc

thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS đó là: Những điều CQĐT, các

cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải làm , phải gánh vác trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS trong TTHS nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

1.1.2 Bản chất, ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

Từ trước đến nay trong lý luận và thực tiễn đã hình thành một số quan điểm về mối quan hệ giữa VKS và CQĐT trong TTHS Quan điểm thứ nhất cho rằng CQĐT và VKS có quan hệ mật thiết với nhau và về tính chất quan

Trang 13

hệ này là quan hệ phối hợp và chế ước lẫn nhau [19; tr.12] Quan điểm thứ hai cho rằng, theo tinh thần cải cách tư pháp như hiện nay, chức năng công tố và vai trò của VKS ngày càng được nâng cao, thì nội dung “chế ước lẫn nhau” cũng không còn phù hợp mà quan hệ chế ước giữa VKS và CQĐT chỉ mang tính một chiều, VKS là cơ quan chế ước, còn CQĐT là cơ quan bị chế ước [23; tr.58] Tác giả đồng ý với nội dung quan hệ chế ước chỉ mang tính một chiều tức VKS chế ước CQĐT như quan điểm thứ hai Bởi Điều 114 BLTTHS đã thể hiện rõ khẳng định trên: CQĐT có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS Cũng có ý kiến cho rằng theo Điều 114 BLTTHS thì trong trường hợp CQĐT không nhất trí với một số yêu cầu, quyết định của VKS có quyền kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp, trong thời hạn nhất định VKS cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho CQĐT, điều này thể hiện nội dung CQĐT chế ước VKS Theo tác giả đây chỉ là quyền kiểm tra, giám sát của CQĐT đối với VKS cùng cấp Tính chất kiểm tra, giám sát của CQĐT đố i với VKS có mức

độ nhất định và không đầy đủ các yêu cầu của sự chế ước Phân biệt khái niệm “chế ước” và “giám sát” cho thấy nếu giám sát là việc kiểm tra, theo dõi thì chế ước bao gồm cả kiểm tra, theo dõi và thực hiện các biện pháp khác nhằm bảo đảm hoạt động được thực hiện đúng quy định của pháp luật, như vậy giám sát chỉ là một phần của sự chế ước Theo quy định của pháp luật hiện hành, nếu CQĐT phát hiện hoạt động của VKS không có căn cứ thì chỉ

có quyền kiến nghị với VKS cấp trên xem xét không có qu yền yêu cầu hoặc hủy bỏ các quyết định của VKS, việc giải quyết như thế nào là quyền của VKS cấp trên [23; tr.58] Trong khi chờ quyết định của VKS cấp trên thì CQĐT vẫn phải chấp hành yêu cầu, quyết định bị kiến nghị đó Như vậy, mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong TTHS là sự phối hợp và chế ước của VKS với CQĐT Sự phối hợp được thể hiện ở nhiều chế định trong BLTTHS như việc nắm, quản lý tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, phối hợp

Trang 14

trong quá trình giải quyết những vụ án phức tạp, án trọng đ iểm… Như đã phân tích ở trên VKS và CQĐT là các cơ quan nhà nước khác nhau, độc lập với nhau và không có sự ràng buộc với nhau về quan hệ hành chính Pháp luật TTHS cũng không có những quy định và chế tài về chế độ trách nhiệm của từng cơ quan, của người tiến hành tố tụng, của KSV, của ĐTV một cách cụ thể, rõ ràng để đảm bảo thực hiện mối quan hệ này Do đó, trong quá trình điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì khía cạnh phối hợp giữa hai cơ quan là không thể thiếu [30; tr.48]

Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong giai đoạn điều tra được quy định tập trung nhất ở hai điều luật của BLTTHS, đó là Điều 112 và Điều 113 Hai điều luật đã gắn trách nhiệm của VKS vào qúa trình điều tra Nếu như trong kiểm sát điều tra thì VKS ở ngoài cuộc, chỉ “thổi còi” đưa ra các yêu cầu, kiến nghị [31; tr.68] thì với chức năng thực hành quyền công tố, VKS trực tiếp đi sâu vào hoạt động điều tra, ban hành các q uyết định và đề ra các yêu cầu trong quá trình thực hiện các chức năng này Để VKS có thể thực hiện đầy đủ và có hiệu quả hai chức năng trên BLTTHS đã xác lập một hệ thống các quy định bảo đảm cho các yêu cầu và quyết định của VKS có hiệu lực thực hiện trên thực tế Một trong các quy định như vậy được thể hiện tại Điều 114 BLTTHS, điều luật quy định về trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS

Từ các phân tích nêu trên có thể thấy việc quy định trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS trong TTHS thể hiện sự chế ước một chiều của VKS đối với CQĐT trong quá trình điều tra vụ án hình sự Việc quy định này có những ý nghĩa:

- Bảo đảm cho các yêu cầu và quyết định của VKS có hiệu lực thực hiện trên thực tế

- Tạo cơ sở pháp lý để CQĐT, VKS thực hiện chức năng , nhiệm vụ của mình

Trang 15

- Tạo tiền đề để xây dựng VKS trở thành cơ quan công tố thực thụ trong tương lai theo tinh thần cải cách tư pháp: Nghiên cứu việc chuyển VKS thành viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra [3]

1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trách nhiệm của C ơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát

Điều 114 BLTTHS khẳng định CQĐT có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS Tuy nhiên việc chấp hành các yêu cầu và quyết định của VKS có hai mức độ: bắt buộc phải thực hiện và tùy nghi thực hiện

1.2.1 Các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong tố tụng hình

sự, Cơ quan điều tra bắt buộc phải thực hiện

Theo quy định của pháp luật TTHS thì chức năng cơ bản của CQĐT là khởi tố, điều tra tội phạm Tuy CQĐT có quyền độc lập khi tiến hành điều tra,

có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, ra các quyết định khởi tố, đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra… nhưng trong hoạt động điều tra, các quyết định do CQĐT ban hành đều nằm dưới sự kiểm sát chặt c hẽ của VKS Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động

tư pháp, VKS có quyền và trách nhiệm hủy các lệnh, quyết định không có căn

cứ và trái pháp luật của CQĐT Thay vào đó, VKS ban hành các lệnh, quyết định và yêu cầu CQĐT thực hiện Trong nhiều trường hợp những lệnh, quyết định liên quan đến việc hạn chế các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận thì phải có sự phê chuẩn của VKS Nếu không có sự phê chuẩn thì các lệnh, quyết định của CQĐT không có hiệu lực thi hành Theo quy định tại Điều 114 của BLTTHS thì những yêu cầu và quyết định của VKS được quy định tại các điểm 4, 5, 6 Điều 112 BLTTHS là những yêu cầu và quyết định mà CQĐT dù không nhất trí vẫn phải chấp hành CQĐT không có quyền

Trang 16

can thiệp vào hoạt động của VKS Các kiến nghị của CQĐT đối với VKS đều

do VKS cấp trên giải quyết:

- Quyết định áp dụng, thay đổi, hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác

Biện pháp ngăn chặn là những biện phá p cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với ng ười chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự [28; tr 197]

Điều 79 BLTTHS quy định: CQĐT, VKS, Toà án trong phạm vi thẩm

quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị

để bảo đảm Điều 166 BLTTHS cũng quy định: Sau khi nhận hồ sơ vụ án, VKS có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện ph áp ngăn chặn Điều 94 BLTTHS quy định về Huỷ bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn, có nêu: CQĐT, VKS huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác Đối với những biện pháp ngăn chặn do VKS phê chuẩn thì việc huỷ bỏ hoặc thay thế phải do VKS quyết định Theo quy định của các điều luật trên thì VKS có thẩm quyền áp dụng, thay đổi, hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam

và các biện pháp ngăn chặn khác Nhưng VKS không thể tự mình thi hành các

biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế như bắt, tạm giữ, tạm giam mà

phải yêu cầu CQĐT thực hiện bởi mỗi cơ quan tiến hành tố tụng đều có chức năng, nhiệm vụ riêng, đồng thời có cơ cấu tổ chức và bộ máy phù hợp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ đó, chỉ có lực lượng công an mới được Nhà nước

Trang 17

trao quyền và có khả năng triển khai thực hiện trên thực tế các hoạt động cưỡng chế như bắt, tạm giữ, tạm giam Do vậy, để đảm bảo cho VKS có điều kiện thực hiện chức năng của mình, trong mọi trường hợp các quyết định trên đều phải được CQĐT tuyệt đối thực hiện

- Quyết định phê chuẩn, không phê chuẩn cá c quyết định của CQĐT theo quy định của BLTTHS

Hoạt động thực hiện chức năng của CQĐT rất nhiều nhưng chỉ các hoạt động sau mới cần có sự phê chuẩn của VKS, đó là: Lệnh bắt khẩn cấp, Quyết định gia hạn tạm giữ, Quyết định đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, Lệnh khám xét, Lệnh thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện, Lệnh kê biên tài sản, Quyết định khởi tố bị can, Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can, Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can, Lệnh tạm giam, Lệnh bắt bị can để tạm giam

Đây là những trường hợp mà nếu thực hiện sẽ hạn chế quyền tự do cá nhân của đối tượng áp dụng, tác động trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện Nếu áp dụng không đúng sẽ xâm phạm đến quyền con người như quyền bất khả xâm phạm

về thân thể, quyền tự do đi lại… Vì vậy việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ phải do VKS quyết định Phê chuẩn hay không phê chuẩn các lệnh, quyết định nêu trên là hoạt động thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý với quyết định, hành vi của CQĐT sau khi nghiên cứu quyết định hành vi đó và các tài liệu có liên quan Nếu VKS quyết định phê chuẩn có ng hĩa là VKS nhận thấy quyết định, hành vi của CQĐT là hợp pháp và cần thiết; ngược lại không phê chuẩn nghĩa là VKS nhận thấy quyết định, hành vi của CQĐT không đảm bảo tính hợp pháp hoặc không cần thiết Hậu quả pháp lý của việc phê chuẩn là xác nhận tính hợp pháp và làm phát sinh hiệu lực thi hành hoặc làm cho quyết định, hành vi của CQĐT tiếp tục có hiệu lực thi hành (nếu đã được thi hành)

Trang 18

Ngược lại nếu VKS không phê chuẩn thì đối với quyết định chưa được thi hành thì nó không có hiệu lực pháp lý và không được phép thi hành trê n thực tế; đối với quyết định, hành vi mà CQĐT đã thực hiện rồi thì phải chấm dứt ngay việc thi hành và khắc phục những hậu quả mà việc thi hành quyết định, hành vi đó đã gây ra trên thực tế [8; tr.16,17]

Mục đích của việc phê chuẩn trong TTHS là nhằm kiểm soát chặt chẽ các hoạt động mang tính cưỡng chế bất lợi về quyền tự do đối với công dân của CQĐT; đảm bảo việc áp dụng các biện pháp này là hợp pháp và cần thiết Thông qua việc phê chuẩn, VKS có thể ngăn chặn những hoạt động xâm phạm các quyền của công dân không được pháp luật cho phép ; ngăn ngừa sự lạm quyền, lạm dụng các biện pháp cưỡng chế của CQĐT [8; tr.32] Do vậy trong mọi trường hợp CQĐT phải tuyệt đối chấp hành việc phê chuẩn, không phê chuẩn của VKS, điều này không chỉ khẳng định ở Điều 114 BLT THS mà còn khẳng định ở một số điều luật khác của BLTTHS như quy định tại Khoản

4 Điều 81 BLTTHS: Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Nếu VKS quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho ngư ời bị bắt Hay khoản 4 Điều 126 BLTTHS quy định: Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, CQĐT phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can đó cho VKS cùng cấp để xét phê chuẩn việc khởi

tố Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, VKS phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho CQĐT…

- Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT

Các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có thể là Quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ,

Trang 19

kê biên tài sản, xử lý vật chứng; Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; Quyết định không khởi tố vụ án; Quyết định nhập hoặc tách vụ án; Quyết định truy nã bị can; Quyết định trưng cầu giám định, quyết định khai quật tử thi; Quyết định tạm đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định phục hồi điều tra… Các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật nếu không được can thiệp kịp thời sẽ làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan, toàn diện và đầy đủ , xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức và công dân, làm mất niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan tiến hành tố tụng Chính vì vậy, khi phát hiện vi phạm và VKS

có văn bản hủy các quyết định của CQĐT thì đương nhiên các quyết định của CQĐT trở lên vô hiệu và dù muốn hay không CQĐT cũng phải thực hiện ngay Trong nhiều trường hợp, BLTTHS quy định rõ các trình tự tiếp theo mà CQĐT phải tiến hành khi VKS hủy bỏ các quyết định không hợp pháp của CQĐT Điển hình như khoản 2 Điều 109 BLTTHS quy định: Trong trường hợp Quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố đó; nếu Quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan đó không có căn cứ, thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án Hoặc khoản 4 Điều 164 BLTTHS quy định: Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra của CQĐT, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra

có căn cứ thì VKS phải trả lại hồ sơ vụ án cho CQĐT để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ

để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố

Khi phát hiện các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng CQĐT và ĐTV thì VKS ban hành văn bản yêu cầu Thủ trưởng

Trang 20

CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ hoặc trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ Đối với các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Thủ trưởng CQĐT thì VKS ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ Đối với các quyết định của CQĐT đã được VKS phê chuẩn mà phát hiện không có căn cứ

và trái pháp luật thì VKS ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ Qu yết định thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định của CQĐT phải được gửi ngay cho CQĐT để thực hiện

Tuy các quy định của BLTTHS đều khẳng định rõ thẩm quyền hủy các quyết định không có căn cứ của CQĐT nhưng trong một số trường hợp các văn bản dưới luật hướng dẫn trước khi hủy bỏ các quyết định không có căn cứ của CQĐT thì VKS phải thực hiện một bước trung gian đó là yêu cầu CQĐT hủy bỏ, VKS chỉ quyết định hủy bỏ nếu đã yêu cầu mà CQĐT không nhất trí Điều này được thể hiện rõ ở Thông tư liên tịch số 05/2005/TTL T-VKSTC-BCA-BQP ngày 7/9/2005 của VKSNDTC, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003 (từ đây gọi là Thông tư 05), đây là văn bản pháp luật hết sức quan trọng mà CQĐT, VKS thường xuyên áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Ví dụ như Mục 7.2 Thông tư 05 (hướng dẫn về thực hiện Điều 109 BLTTHS) quy định: Trường hợp đủ căn cứ chứng tỏ rằng quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự rõ ràng là không có căn cứ thì VKS có văn bản yêu cầu CQĐT ra quyết định hủy bỏ; nếu CQĐT không nhất trí thì VKS căn cứ Khoản 2 Điều 109 của BLTTHS ra quyết định hủy bỏ

Việc quy định như hướng dẫn tại Thông tư 05, sẽ tạo điều kiện để CQĐT

có điều kiện tự xem xét, đánh giá lại các quyết định của mình, từ đó tự nguyện tiến hành việc hủy bỏ Điều này sẽ giúp CQĐT nâng cao trách nhiệm thực hiện và hạn chế tối đa việc VKS hủy bỏ quyết định của CQĐT, ảnh hưởng đến quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS

Trang 21

- Quyết định việc truy tố bị can, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ

án

Điều 166 BLTTHS quy định: Khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, VKS phải ra một trong những quyết định sau đây: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Như vậy quyết định việc truy tố bị can, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ của VKS đều là những quyết định được VKS ban hành khi hồ sơ vụ án đã được CQĐT kết thúc điều tra, chuyển VKS đề nghị truy tố Đây là giai đoạn quan trọng mà chức năng thực hành quyền công tố của VKS thể hiện rõ nét nhất Để đảm bảo các quyết định của VKS có hiệu lực thi hành Điều 114 đã quy định trong mọi trường hợp CQĐT bắt buộc phải thực hiện ba quyết định nêu trên Việc CQĐT bắt buộc phải thực hiện các quyết định này của VKS là một tất yếu bởi lúc này hồ sơ vụ án đã được kết thúc điều tra, chuyển cho VKS Mọi hoạt động điều tra đã được CQĐT tiến hành ở giai đoạn trước đó, CQĐT cũng không có thẩm quyền can thiệp vào hoạt động của VKS Điều luật quy định như vậy là để giải quyết trường hợp quan điểm giữa CQĐT và VKS mâu thuẫn, không thống nhất như trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 164 BLTTHS: Nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì VKS hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra

và ra quyết định truy tố Bên cạnh đó nhiều trường hợp cần đến sự thực hiện của CQĐT đó là những hậu quả phát sinh từ các quyết định trên của VKS

- Yêu cầu CQĐT truy nã bị can

Điểm b khoản 2 Điều 169 BLTTHS quy định: VKS quyết định tạm đình

chỉ vụ án khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu; trong trường hợp này phải yêu cầu CQĐT truy nã bị can Như vậy, trong giai đoạn truy tố,

bị can tại ngoại không có mặt theo giấy triệu tập của VKS mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần và có căn cứ xác định bị can đã trốn khỏi địa

Trang 22

phương hoặc bị can đang bị tạm giam nhưng trốn khỏi nơi giam mà không biết rõ bị can đang ở đâu nên không thể tống đạt quyết định truy tố được Trong trường hợp này VKS phải yêu cầu CQĐT truy nã bị can VKS chỉ ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi đã hết thời hạn truy tố mà không bắt được

bị can Cũng giống như ở trường hợp nêu trên, CQĐT phải đảm bảo thực hiện yêu cầu truy nã của VKS bởi VKS không thể tự mình thực hiện được việc truy nã bị can chỉ CQĐT với bộ máy tổ chức và đủ lực lượng đủ mạnh mới có điều kiện để tiến hành việc truy bắt bị can Bên cạnh đó Điều 161 BLTTHS quy định chỉ CQĐT mới có thẩm quyền truy nã bị can

Tóm lại theo Điều 114 BLTTHS thì các quyết định và yêu cầu nêu trên của VKS, CQĐT phải tuyệt đối chấp hành Việc quy định như vậy đảm bảo việc điều tra khách quan, toàn diện, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra được kịp thời phát hiện, khắc phục và xử lý nghiêm minh Tuy nhiên cũng theo Điều 114 BLTTHS và hướng dẫn tại mục

9 Thông tư 05 thì: Đối với các yêu cầu và quyết định nêu trên, nếu không nhất trí, CQĐT vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền báo cáo CQĐT cấp trên trực tiếp và kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định; nếu là CQĐT ở cấp Trung ương thì kiến nghị với Viện trưởng VKSNDTC xem xét, quyết định Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ khi nhận được kiến nghị của CQĐT, nếu nhất trí thì VKS cấp trên trực tiếp hủy bỏ quyết định của VKS cấp dưới; nếu không đồng ý thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho CQĐT đã kiến nghị và VKS cấp dưới Kết quả giải quyết của VKS cấp trên trực tiếp, quyết định của Viện trưởng VKSNDTC là quyết định cuối cùng

1.2.2 Các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong tố tụng hình

sự, Cơ quan điều tra tùy nghi thực hiện

Điều 114 BLTTHS không quy định mang tính liệt kê đối với các yêu cầu, quyết định của VKS trong TTHS CQĐT tùy nghi thực hiện Tuy nhiên

có thể xác định được bằng việc loại trừ, tức là trừ các yêu cầu và quyết định

Trang 23

được quy định tại khoản 4, 5, 6 Điều 112 BLTTHS thì đối với các yêu cầu và quyết định của VKS còn lại CQĐT tùy nghi thực hiện Đó có thể là các yêu cầu, quyết định sau:

Các yêu cầu, quyết định của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra bao gồm:

- Quyết định khởi tố vụ án hình sự , khởi tố bị can; quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự , khởi tố bị can:

Theo quy định của BLTTHS thì VKS ra quyết định khởi tố vụ án hình

sự trong trường hợp VKS huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT

và một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án Trong trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố thì VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can Sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà VKS phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạ m tội trong vụ

án chưa bị khởi tố thì VKS ra quyết định khởi tố bị can Khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác thì VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố

vụ án hình sự Khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can

Tuy BLTTHS quy định cho VKS có quyền ban hành các quyết định nêu trên nhưng theo hướng dẫn tại Thông tư 05 thì trước khi ra các quyết định nêu trên, VKS phải yêu cầu CQĐT tự mình thực hiện, chỉ khi CQĐT không thực hiện theo yêu cầu của VKS thì VKS mới tự mình ban hành các quyết định nêu trên Khi CQĐT tự nguyện ra các quyết định thì CQĐT sẽ có trách nhiệm cao hơn trong việc tiến hành điều tra Sẽ hạn chế được trường hợp khi

Trang 24

VKS ra quyết định, CQĐT có thể không thực hiện hoặc thực hiện không đầy

đủ vì lúc này nếu điều tra dẫn đến việc oan, sai thuộc t rách nhiệm của VKS

Trường hợp có căn cứ thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, VKS có văn bản yêu cầu CQĐT ra quyết định; nếu đã yêu cầu mà CQĐT không nhất trí thì VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung q uyết định khởi tố vụ án hình sự Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, nếu có căn

cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc bị can còn có hành vi phạm tội khác thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS cùng cấp có quyền ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, nhưng VKS chỉ thực hiện thẩm quyền này khi đã yêu cầu mà CQĐT không thực hiện Sau khi nhận hồ

sơ vụ án và bản kết luận điều tra, phát hiện thấy có người đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố hoặc có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì VKS trả hồ sơ và yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và tiến hành các hoạt động điều tra theo thủ tục chung Nếu đã có yêu cầu mà CQĐT không thực hiện thì VKS ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra.[47]

Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra các quyết định trên, VKS phải gửi các quyết định đến CQĐT để tiến hành điều tra Tuy BLTTHS chỉ quy định chung chung về việc CQĐT có trách nhiệm thực hiện nhưng trong trường hợp này dù muốn hay không CQĐT vẫn buộc phải thực hiện bởi các quyết định này là cơ sở pháp lý đầu tiên để tiến hành việc điều tra, làm phát sinh tư cách tham gia tố tụng của người bị nghi thực hiện tội phạm, từ đây phát sinh quan

hệ tố tụng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và giữa những người tham gia tố tụng Bên cạnh đó CQĐT không có quyền hủy bỏ mà chỉ có VKS m ới có quyền hủy các quyết định trên của chính mình

Trang 25

- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra

Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra là một quyền năng quan trọng và cơ bản, đồng thời nó cũng thể hiện trình độ năng lực của KSV khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình

sự Thông qua yêu cầu điều tra, KSV thể hiện rõ quan điểm của mình trong việc thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện thủ tục tố tụng của vụ án hình sự Hoạt động điều tra có đúng hướng, đầy đủ hay không, có kịp thời, hiệu quả hay không một phần rất lớn phụ thuộc vào việc đề ra các yêu cầu điều tra của KSV [12; tr 23] Do vậy, KSV phải kịp thời trao đổi với ĐTV được phân công điều tra vụ án về những vấn đề cần điều tra ngay từ khi kiểm sát việc khởi tố vụ án, khám nghiệm hiện trường và trong quá trình điều tra, bảo đảm phối hợp để CQĐT nhanh chóng thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ của vụ

án KSV có thể trực tiếp đề ra yêu cầu điều tra bằng lời trong quá trình kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, đối chất, thực nghiệm điều tra Đối với các trường hợp khác khi đề ra yêu cầu điều tra, KSV phải có văn bản nêu rõ những vấn

đề cần điều tra để củng cố chứng cứ hoặc để làm rõ những tình tiết liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 63 của BLTTHS, đó là: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; n hững tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can và những đặc điểm về nhân thân của họ; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Đối với những vụ án trọng điểm, phức tạp thì KSV phải xin ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS trước khi ký văn bản yêu cầu điều tra ĐTV được phân công điều tra vụ án phải nghiên cứu để tiến hành điều tra những vấn đề mà KSV yêu cầu; nếu thấy cần thì trao đổi với KSV để

Trang 26

làm rõ nội dung những yêu cầu đó Trường hợp không nhất trí thì ĐTV báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT; KSV báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS để thống nhất việc chỉ đạo điều tra Trường hợp CQĐT không thực hiện những yêu cầu điều tra của VKS thì nêu rõ lý do trong Bản kết luận điều tra, khắc phục việc VKS trả hồ sơ để điều tra bổ sung dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài [47; mục 15]

- Yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV theo quy định của BLTTHS; nếu hành vi của ĐTV có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự

Khi phát hiện thấy ĐTV thuộc một trong những trường hợp bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng quy định tại khoản 1 Điều 44 của BLTTHS (khi họ thuộc một trong những trường hợp sau: Đồng thời là người

bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo; Họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó;

Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ; Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là KSV, Thẩm phán, Hội thẩm hoặc Thư ký Tòa án), KSV có quyền đề nghị Thủ trưởng CQĐT xem xét để thay đổi ĐTV hoặc đề nghị Viện trưởng VKS cấp mình xem xét để yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV Trong thời hạn ba ngày, kể từ khi nhận được đề nghị của KSV hoặc văn bản yêu cầu của Viện trưởng VKS cùng cấp, nếu xét thấy có căn cứ thì Thủ trưởng CQĐT phải ra quyết định thay đổi ĐTV; nếu thấy không có căn cứ thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do để VKS cùng cấp biết Trường hợp thay đổi Phó Thủ trưởng CQĐT thì Thủ trưởng CQĐT quyết định phân công Phó Thủ trưởng khác hoặc Thủ trưởng CQĐT trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án; đồng thời thông báo việc phân công đó cho VKS cùng cấp

Trang 27

Nếu Thủ trưởng CQĐT cấp dưới bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành

tố tụng thì căn cứ khoản 2 Điều 44 của BLTTHS, CQĐT đề nghị VKS cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án đến CQĐT cấp trên trực tiếp tiến hành điều tra và VKS báo cáo bằng văn bản việc chuyển vụ án đó với Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp để chỉ đạo thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án; nếu Thủ trưởng CQĐT cấp trung ương bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng thì lãnh đạo Bộ, ngành (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện trưởng VKSNDTC, Viện trưởng VKS quân sự trung ương) quyết định để m ột Phó Thủ trưởng CQĐT tiến hành tố tụng đối với vụ án Quyết định thay đổi ĐTV, Phó Thủ trưởng, Thủ trưởng CQĐT phải được gửi cho VKS cùng cấp

và đưa vào hồ sơ vụ án [47; mục 2]

Các yêu cầu, quyết định của VKS khi kiểm sát điều tra, bao gồm:

- Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra

Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các CQĐT thuộc các ngành khác nhau thì Viện trưởng VKS cùng cấp nơi tội phạm xảy ra hoặc nơi phát hiện tội phạm quyết định Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các CQĐT cùng ngành ở cấp nào thì Viện trưởng VKS cấp đó yêu cầu Thủ trưởng quản lý cùng cấp giải quyết Trong trường hợp cần thiết, CQĐT có thẩm quyền có quyền yêu cầu cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển ngay hồ sơ vụ án để trực tiếp điều tra Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển thì Viện trưởng VKS có thẩm quyền nơi xảy ra vụ án quyết định [32] Khi giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra, có nơi VKS ra quyết định, có nơi ban hành văn bản giải quyết dưới dạng công văn trả lời hay công văn đề nghị, yêu cầu

- Yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; Yêu cầu CQĐT cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của

Trang 28

ĐTV; Yêu cầu thủ trưởng CQĐT xử lý nghiêm minh ĐTV đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra;

Với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, KSV phải kiểm sát việc chấp hành pháp luật TTHS của CQĐT Do vậy, KSV thụ lý giải quyết vụ án phải kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra để yêu cầu khắc phục, báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu Thủ trưởng CQĐT xử

lý nghiêm minh ĐTV đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra Nếu

vi phạm của ĐTV có dấu hiệu tội phạm, thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu CQĐT có thẩm quyền khởi tố

vụ án hình sự Nếu hành vi của ĐTV có dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thì báo cáo Viện trưởng VKSNDTC giao cho Cục điều tra của VKSNDTC khởi tố, điều tra theo thẩm quyền.[32]

Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự, KSV có trách nhiệm tổng hợp các vi phạm pháp luật của CQĐT, các

vi phạm pháp luật và những sơ hở thiếu sót trong các lĩnh vực quản lý kinh tế,

xã hội của các cơ quan, tổ chức có liên quan, báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra ra văn bản kiến nghị khắc phục, áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật Theo quy định tại mục 9 Thông tư 05 thì CQĐT có trách nhiệm thực hiện đầy đủ và nhanh chóng các yêu cầu và quyết định tại các điểm 1, 2 và 3 Điều 112 của BLTTHS Tuy nhiên hướng dẫn tại Thông tư 05 không giải thích trong thời gian bao lâu là nh anh chóng? Điều này dẫn đến cách hiểu và vận dụng trên thực tế giữa CQĐT và VKS không thống nhất Nếu có căn cứ cho rằng yêu cầu, quyết định của VKS trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác thì CQĐT có phải thực hiện không, và trường hợp này giải quyết như thế nào? Vấn đề này Điều 114 BLTTHS không quy định rõ nhưng có thể vận dụng Điều 328 và Điều 330

Trang 29

BLTTHS để giải quyết: Nếu có căn cứ cho rằng yêu cầu, quyết định của VKS trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác thì trừ trường hợp pháp luật quy định khác CQĐT có quyền khiếu nại đối với KSV, Phó Viện trưởng và Viện trưởng VKS Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại

có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Việ n kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng Thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày

nhận hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng

Kết luận chương 1

1 Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra ở phần mở đầu, trong phạm vi Chương I, luận văn đã làm rõ được những những vấn đề chung và quy định của Pháp luật TTHS về trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS, bao gồm hai nội dung chính: Nội dung thứ nhất tác giả đã nêu được khái niệm, làm rõ bản chất, ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS trong TTHS; nội dung thứ hai là phân tích cụ thể các quy định về trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS trong TTHS Trong đó, tác giả đã phân định được hai trường hợp, đó là:

Trang 30

Các yêu cầu, quyết định của VKS trong TTHS CQĐT bắt buộc phải thực hiện

và các yêu cầu, quyết định của VKS trong TTHS CQĐT tùy nghi thực hiện

2 Tất cả những trình bày trên đây là cơ sở để đánh giá thực trạng CQĐT thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS từ đó xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu

và quyết định của VKS

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ G IẢI PH ÁP NH ẰM NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN ĐIỀ U TRA TRO NG VIỆ C THỰC HIỆN CÁC YÊU CẦU VÀ Q UYẾT ĐỊNH CỦA VIỆN KIỂ M SÁT 2.1 Thực trạng Cơ quan điều tra thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát

2.1.1 Những kết quả đạt được tro ng việc Cơ quan điều tra thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát

Trong những năm gần đây, quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003 ngày càng được nâng cao và hiệu quả hơn Các hoạt động TTHS của CQĐT luôn bảo đảm đúng các quy định của pháp luật, chất lượng, hiệu quả công tác điều tra từng bước được nâng cao Đáng chú ý, hai ngành Công an, VKS tăng cường trao đổi thống nhất trong việc ban hành các quyết định tố tụng nhất là các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lệnh bắt khẩn cấp, bắt tạm giam Việc phối hợp giữa ĐTV và KSV trong việc cung cấp, bổ sung tài liệu, chứng cứ phục

vụ việc phê chuẩn của VKS cơ bản được thực hiện đúng theo quy định của BLTTHS và Thông tư 05 Nhìn chung các yêu cầu bổ sung tài liệu chứng cứ của VKS được CQĐT chấp nhận thực hiện, hạn chế tối đa việc VKS ra quyết định từ chối hoặc huỷ bỏ các quyết định tố tụng của CQĐT ĐTV đã gửi đầy

đủ các tài liệu chứng cứ đã thu thập được cho KSV và cơ bản thực hiện nghiêm túc các nội dung yêu cầu điều tra KSV thường xuyên phối hợp với ĐTV để làm rõ những vấn đề cần chứng minh trong vụ án, kiểm sát chặt chẽ việc lập hồ sơ của CQĐT, bảo đảm việc điều tra vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật

Theo Báo cáo tổng kết của VKSNDTC thì trong 05 năm từ năm 2008 đến năm 2012, CQĐT đã khởi tố 343.230 vụ án hình sự, khởi tố đối với 539.867 bị can Trong đó, VKSND đã hủy: 258 quyết định khởi tố vụ án hình

Trang 32

sự, 308 quyết định không khởi tố vụ án hình sự, 1.399 quyết định khởi tố bị can VKS không phê chuẩn đối với 513 lệnh bắt khẩn cấp, 1.167 lệnh tạm giam, 987 lệnh bắt bị can để tạm giam Nhìn chung các quyết định nêu trên đều được CQĐT nghiêm túc thực hiện Số liệu cụ thể các năm theo bảng sau:

chuẩn lệnh bắt khẩn cấp 93 98 106 96 120 513 VKS quyết định không phê

chuẩn lệnh tạm giam 334 190 197 226 220 1.167 VKS quyết định không phê

chuẩn lệnh bắt tạm giam 298 178 150 179 182 987

[33] [34] [35] [36] [37 ]

Trong 5 năm, VKS quyết định truy tố 302.397 vụ án; quyết định đình chỉ 2.800 vụ án/4.047 bị can; q uyết định tạm đình chỉ 498 vụ/903 bị can Đối những trường hợp tạm đình chỉ do bị can trốn, VKS đều yêu cầu CQĐT truy

nã bị can, về cơ bản CQĐT đều đã ra quyết định truy nã và gửi quyết định truy nã đến VKS Số liệu cụ thể các năm theo bảng sau:

Trang 33

Trong 05 năm, VKS các cấp đã ra 278 Quyết định khởi tố vụ án hình

sự, 263 Quyết định khởi tố bị can để yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra; VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố để điều tra đối với 1.362 vụ án, khởi tố

để điều tra đối với 1.517 bị can, yêu cầu CQĐT bắt tạm giam đối với 422 bị can Căn cứ báo cáo tổng kết của VKSN DTC và phụ lục báo cáo cho thấy VKSNDTC không thống kê đầy đủ (có năm thống kê, có năm không thống kê) về số quyết định VKS khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, số bị can

mà CQĐT khởi tố hay bắt giam theo yêu cầu của VKS nhưng qua số liệu của một số năm cho thấy nhiều trường hợp CQĐT không khởi tố, không bắt tạm giam theo yêu cầu của VKS Cụ thể:

- Về yêu cầu khởi tố vụ án: Năm 2008, VKS yêu cầu CQĐT khởi tố đối với 206 vụ án hình sự, CQĐT khởi tố theo yêu cầu của VKS 164 vụ án, đạt 79,6% Năm 2009, đạt 82,6% (157/190 trường hợp )

- Về yêu cầu khởi tố bị can: Năm 2009, VKS yêu cầu CQĐT khởi tố đối với 209 bị can, CQĐT khởi tố theo yêu cầu của VKS đối với 187 bị can, đạt 89,5% Năm 2011, đạt 68,6% (214/312 trường hợp) Năm 2012 đạt 87,9% (459/522 trường hợp)

Trang 34

- Về yêu cầu bắt bị can để tạm gia m: Năm 2008, VKS yêu cầu bắt tạm giam đối với 111 bị can, CQĐT đã bắt tạm giam đối với 70 bị can, đạt 63,1%; năm 2009 đạt 79,7% (51/64 trường hợp); nă m 2011 đạt 70,9% (61/86 trường hợp); năm 2012 đạt 87,8% (86/98 trường hợp) [33] [34] [35] [36] [37 ]

Từ những số liệu nêu trên có thể thấy về cơ bản các trường hợp VKS ra yêu cầu, quyết định trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự CQĐT đều đảm bảo thực hiện, đặc biệt gần như 100% CQĐT thực hiện các yêu cầu, quyết định mà Điều 114 BLTTHS buộc CQĐT dù không đồng tình vẫn phải thực hiện

Như vậy, việc áp dụng quy định của BLTTHS năm 2003 trong phối hợp ban hành và thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS trong thời gian gần đây đã phần nào phát huy được tác dụng tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết đúng đắn các vụ án hình sự Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đã có sự đánh giá, phân loại về tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của đối tượng bị áp dụng KSV được phân công kiểm sát điều tra vụ án hình sự đều chú ý nghiên cứu kỹ hồ sơ, làm rõ các căn cứ để yêu cầu bắt, tạm giữ tạm giam, căn cứ để phê chuẩn khởi tố, kiên quyết không phê chuẩn đối với những trường hợp không đủ căn cứ nên các quyết định về phê chuẩn, không phê chuẩn áp dụng biện pháp ngăn chặn đều được CQĐT chấp nhận Nhiều trường hợp nhờ có sự phối hợp chặt chẽ giữa VKS và CQĐT, VK S ban hành các yêu cầu, quyết định đối với CQĐT hợp lý, có căn cứ và CQĐT nghiêm túc th ực hiện các yêu cầu, quyết định của VKS nên vụ việc phạm tội nhanh chóng được phát hiện, khởi tố và vụ án được giải quyết đúng đắn:

Điển hình là vụ án hình sự giết người xảy ra tại Hải Phòng mà cách đây

02 năm dư luận cả nước đặc biệt quan tâm: Hồi 13h ngày 07/01/2011 quần chúng nhân dân phát hiện tại khu đất trống số 66 ngõ 658 tổ dân phố Trường Chinh 3, Quán Trữ, Kiến An có 01 xác chết chưa rõ tung tích, bị mất đầu và

02 cánh tay được phủ phoi bào, mùn cưa Ngoài tử thi trên không phát hiện

Trang 35

thấy dấu vết nghi vấn gì khác Với hiện trường như vậy, KSV nhận định đây không phải hiện trường xảy ra của vụ án, mà chỉ là hiện trường mà đối tượng phạm tội đã phi tang xác nạn nhân Do vậy KSV yêu cầu ĐTV phải mở rộng hiện trường để tìm bộ phận còn lại của thi thể ĐTV đã nghiêm túc thực hiện yêu cầu của KSV Kết quả hồi 17h ngày 08/01/2011, sau hơn 1 ngày mở rộng hiện trường tìm kiếm, ĐTV đã phát hiện tại khu vực bể phốt của 01 móng nhà đang xây cách vị trí tử thi khoảng 30m , 02 tay của nạn nhân và chiếc áo khoác Sau khi phát hiện đôi tay, cơ quan giám định đã lấy dấu vân tay qua đó xác định được danh tính của nạn nhân và từ đó lần theo các mối quan hệ để truy tìm hung thủ Ngày 09/01/2011 CQĐT đã bắt giữ được Nguyễn Dũng Giang Kết quả điều tra đã xác định được: Hồi 21h ngày 05/01/2011 chị Nguyễn Thị Thu Hằng, sinh năm 1973 đi xe môtô BKS 16L9-2964 đến của hàng bán quần áo của Nguyễn Dũng Giang thu ê tại số nhà 676 Trường Chinh, Kiến An, Hải Phòng Phát hiện thấy chị Hằng đi xe môtô đến một mình, trên tay trái có đeo nhẫn vàng nên Giang nảy sinh ý định giết chị Hằng để cướp tài sản Lợi dụng khi chị Hằng đang ngồi chơi dư ới chiếu trên nền nhà, mặt quay

ra cửa, Giang đã lấy 01 búa đinh từ phía sau đập nhiều nhát vào đầu chị Hằng, làm chị Hằng bất tỉnh Sau khi đem xe mô tô của chị Hằng gửi tại cầu vượt Lạch Tray, Giang quay về nhà tìm cách phi tang xác chị Hằng Giang đã dùng dao phay cắt 02 tay, đầu và 02 chân Khi cắt chân gặp phải xương nên Giang không cắt được Sau đó cho 02 tay vào 01 túi nilon màu trắng, áo cho vào 01 túi nilon màu đen, đầu và quần dài cho vào 01 túi nilon màu đen, rồi lần lượt mang 03 túi này đi qua cửa hậu phi tang ở khu vực xung quanh Riêng thân chị Hằng, Giang mang ra lô đất số 66 ở phía sau nhà 676 khoảng 10m và dùng phoi bào phủ lên nhằm phi tang Ngày 24/5/2011 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt bị cáo mức án

Tử hình Ở vụ án này nếu như KSV trong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm thiếu trách nhiệm, không yêu cầu ĐTV mở rộng hiện trường để tìm

Ngày đăng: 29/03/2018, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w