1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn

68 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 630,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi biện pháp chống bán phá giá là để đối phó với hành vi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị trường và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh thì biện pháp chống tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI NGỌC CƯỜNG

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

La Văn Thái

Trang 3

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chống trợ cấp hàng hóa nhập

khẩu và pháp luật về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu

1

5

Chương 2: Nội dung của pháp luật chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu

2.4 Một số nhận xét qua thực tiễn áp dụng 49

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao

hiệu quả thi hành pháp luật chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt

Nam

53

3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về

Trang 4

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

SCM : Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong thương mại quốc tế, các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và

tự vệ được coi là ba cột trụ của hệ thống các biện pháp phòng vệ thương mại (trade remedies) và được áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài Về bản chất, biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được áp dụng để đối phó với hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không công bằng của hàng hóa nhập khẩu Trong khi biện pháp chống bán phá giá là để đối phó với hành vi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị trường và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh thì biện pháp chống trợ cấp lại được áp dụng để loại bỏ tác động tiêu cực gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa trong nước, xuất phát từ các chính sách trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu Trong xu thế toàn cầu hóa, và nhất là khi Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường thế giới để bảo vệ các nghành sản xuất trong nước chống lại sự “xâm lấn” của hàng hóa nhập khẩu và việc bảo vệ được quyền lợi cho các doanh nghiệp có hàng hóa xuất khẩu đòi hỏi Việt Nam phải có các biện pháp đối ứng phù hợp mà biện pháp cụ thể là phải ban hành các văn bản pháp luật về chống trợ cấp phù hợp với tình hình thực tế trong nước và đồng thời phù hợp với luật pháp quốc tế (WTO) WTO đã ban hành khung tiêu chuẩn về trợ cấp, nhưng việc trợ cấp vẫn

có xu hướng gia tăng, đặc biệt trong thương mại quốc tế vẫn đang xảy ra một nghịch lý là các nước càng giàu thì trợ cấp càng nhiều mà các nước nghèo về tiềm lực tài chình như Việt Nam phải chấp nhận thua thiệt

Hiện nay, Việt Nam chưa có vụ điều tra chống trợ cấp nào đối với hàng hóa nhập khẩu Nhưng chúng ta đã và đang bị một số nước điều tra về chống trợ cấp đối với một số mặt hàng ví dụ như Tôm, thép ống Các bon……Chúng ta chưa bị kiện nhiều là do chúng ta là nước đang phát triển và có lượng nhập khẩu sản phẩm liên quan ít hơn 4% tổng nhập khẩu hàng hoá tương tự vào nước nhập khẩu Nhưng trong tương lai khi nền kinh tế chúng ta phát triển thì chúng ta sẽ phải đối mặt nhiều vụ kiện chống trợ cấp hơn, hiện tại chúng ta đang phải đối

Trang 6

mặt với vấn đề chống bán phá giá và phần thua thiệt đang ở phía Việt Nam Nếu ngay từ giờ chúng ta không nhanh chóng nghiên cứu, tìm hiểu kỹ và ban hành các quy định pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam phù hợp với xu thế hội nhập thì sẽ có một ngày chúng ta sẽ bị động và lại thua thiệt trên bàn cờ thế giới về vấn đề chống trợ cấp

Mặc dù Việt Nam đã ban hành pháp lệnh về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 và một số nghị định thông tư khác kèm theo, nhưng với tình hình phức tạp của nền kinh tế thế giới và sự hội nhập ngày càng sâu sắc của nền kinh tế Việt Nam trên thị trường thế giới, thiết nghĩ việc nghiên cứu pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động ở Việt Nam để làm sáng tỏ cơ sở

lý luận, thực tiễn và hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này trong quá trình hội nhập là vấn đề vô cùng cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong hoạt động thương mại thế giới vấn đề pháp luật về chống trợ cấp được

đề cập từ rất sớm, những năm 1980 của thế kỷ XX, WTO và một số các nước thành viên đã ban hành bộ tiêu chuẩn, thuế về chống trợ cấp và pháp luật về chống trợ cấp Nhưng ở Việt Nam mãi đến năm 2004 mới ban hành pháp lệnh về chống trợ cấp chống nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam và một số nghị định, thông tư kèm theo nhưng hầu như chỉ “dừng lại” ở quy định khung…Vì vậy, có thể nói đề tài về chống trợ cấp ở Việt Nam còn khá mới mẻ trong khoa học pháp

lý và trong thực tế Ở các phạm vi và mức độ khác nhau, có một số công trình đã được công bố, đề cập đến một vài khía cạnh liên quan đến nội dung của đề tài Đáng chú ý có một số công trình nghiên cứu đề cập đến pháp luật về chống trợ cấp của WTO và Việt Nam như: Trợ cấp và các biện pháp đối kháng theo quy định của WTO của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến đăng trên Website của Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Phân tích thuế quan, nghành và trợ cấp của nhóm tác giả Montague Lord, Malcolm Bosworth, Đỗ Trọng Khanh và Nguyễn Trường Sơn NXB Tài chính 2005, điều chỉnh chính sách thuế và trợ cấp sau khi gia nhập WTO của tác giả Lê Xuân Sáng và Nguyễn Xuân Trình chủ

Trang 7

biên NXB Tài chính 2007…Tuy nhiên, trong những công trình này các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân tích những quy định của pháp luật WTO hoặc đánh giá chính sách trợ cấp của Việt Nam và đưa ra những giải pháp hiệu chỉnh… Qua nghiên cứu cho thấy rằng ở Việt Nam tính đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu về pháp luật chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam nói chung, không đề cập và giải quyết các khía cạnh pháp lý liên quan đến pháp luật trong lĩnh vực cụ thể

Đề tài nghiên cứu tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam Nhận diện, phân tích, đánh giá tác động của chống trợ cấp đối với nguyên tắc tự do hóa thương mại, các quy định về chống trợ cấp của WTO, một số nước thành viên WTO, đi sâu phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về chống trợ cấp Đồng thời , đưa ra một số kiến nghị nhằm đáp ứng tình hình thực tế và giải pháp hoàn thiện thiện pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam để bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp trong nước, đồng thời phù hợp với luật pháp quốc tế (WTO)

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài dựa trên lý luận của học thuyết Mác – Lê nin về chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng Đồng thời, đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Thu thập tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, giải thích pháp luật…để đánh giá và làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Tìm hiểu và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản pháp luật về chống trợ

Trang 8

cấp

Phân tích, đánh giá những nội dung cơ bản của pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam, đồng thời nghiên cứu quan điểm và cách tiếp cận của WTO, một số nước thành viên WTO về vấn đề chống trợ cấp,

so sánh với pháp luật Việt Nam về vấn đề này

Trên cơ sở đánh giá tình hình thực tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa và nhất là khi Việt Nam tham gia sâu hơn vào thương mại Quốc tế

6 Những kết quả nghiên cứu mới của đề tài

Đề tài sẽ tìm hiểu một cách toàn diện và đầy đủ nhất pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam Thông qua việc phân tích, đánh giá làm sáng tỏ vấn đề pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam đồng thời so sánh với các quy định của WTO và một số nước thành viên Ngoài ra tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, một số biện pháp nhằm nâng cao tính khả thi trên thực tế và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành trong lĩnh vực này để bảo vệ các doanh nghiệp, các nghành sản xuất trong nước, đồng thời phù hợp với luật pháp quốc tế

7 Cơ cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của đề tài gồm ba chương chính chi tiết như sau:

Trang 9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG TRỢ CẤP HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG TRỢ CẤP HÀNG HÓA

NHẬP KHẨU 1.1 Lý luận về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu

1.1.1 Quan niệm về chống trợ cấp và phân loại trợ cấp hàng hóa nhập khẩu

1.1.1.1 Quan niệm về chống trợ cấp

Trong thương mại quốc tế, tranh chấp là một hiện tượng song hành với sự gia

tăng các luồng giao thương trên phạm vi toàn cầu Tranh chấp diễn ra khi một nước cho rằng một nước khác vi phạm thỏa thuận đã cam kết gây thiệt hại cho nước mình Các tranh chấp thương mại đưa ra giải quyết tại WTO thông thường xoay quanh ba nội dung chính là các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp

và tự vệ

Trợ cấp hàng hóa nhập khẩu được hiểu là sự hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp

của chính phủ nước xuất khẩu hàng hóa đó cho thương nhân hoặc ngành sản xuất hàng xuất khẩu của nước mình mà sự hỗ trợ đó đã giúp cho thương nhân, ngành sản xuất hàng xuất khẩu đó được hưởng một khoản lợi ích tài chính nhất định nhằm tào lợi thế cạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu

Chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu là các biện pháp mà WTO cho phép

chính phủ nước nhập khẩu áp dụng nhằm chống lại các tác động tiêu cực do có

sự trợ cấp của chính phủ nước ngoài đối với hàng hóa gây ra cho thị trường nước nhập khẩu với mục đích đảm bảo công bằng trong thương mại, qua đó bảo vệ lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp, ngành sản xuất sản phẩm tương tự trong nước

Chống trợ cấp (hay còn gọi là biện pháp đối kháng) là một biện pháp bảo hộ hợp pháp đối với hàng hóa sản xuất trong nước trước các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu có sự trợ cấp của chính phủ nước

Trang 10

ngoài Nó nhằm vào các nhà sản xuất xuất khẩu nước ngoài được trợ cấp (thông qua thủ tục điều tra chống trợ cấp do nước nhập khẩu tiến hành) chứ không nhằm vào chính phủ nước ngoài đã thực hiện việc trợ cấp (WTO quy định các cơ chế

xử lý khác mang tính đa phương cho trường hợp này) Mục đích của biện pháp chống trợ cấp được áp dụng để loại bỏ tác động tiêu cực gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa trong nước xuất phát từ các chính sách trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu

Biện pháp chống trợ cấp nó khác với hai biện pháp còn lại, thể hiện ở chỗ Biện pháp chống bán phá giá là để đối phó với hành vi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị trường và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh và Biện pháp tự vệ, biện pháp tự vệ thường được nói đến như một công cụ bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trong nước trong trường hợp khẩn cấp do tình trạng gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu nhằm hạn chế những tác động không thuận lợi gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước Như vậy, biện pháp tự vệ có thể được áp dụng kể cả khi các đối tác thương mại thực hiện kinh doanh một cách chính đáng, không có tình trạng bán phá giá hoặc trợ cấp Chính vì vậy, biện pháp tự vệ được áp dụng một cách khắt khe hơn so với hai biện pháp còn lại

Ở Việt Nam khi áp dụng biện pháp chống trợ cấp người ta hay gọi là “vụ kiện” chống trợ cấp Đây thực chất là một quy trình Kiện - Điều tra - Kết luận -

Áp dụng biện pháp chống trợ cấp (còn gọi là biện pháp đối kháng) mà nước nhập khẩu tiến hành đối với một loại hàng hoá nhập khẩu từ một nước nhất định khi

có những nghi ngờ rằng hàng hoá được trợ cấp (trừ trợ cấp đèn xanh) và gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu Trên thực tế, đây không phải thủ tục tố tụng tại Toà án mà là một thủ tục hành chính và do cơ quan hành chính nước nhập khẩu thực hiện Thủ tục này liên quan đến một bên là ngành sản xuất nội địa và một bên là các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài Khác với thủ tục kiện chống bán phá giá, kiện chống trợ cấp liên quan đến cả Chính phủ nước xuất khẩu (vì liên quan đến khoản trợ cấp) Thủ

Trang 11

tục, trình tự kiện chống trợ cấp gần tương tự với thủ tục, trình tự kiện chống bán phá giá Thủ tục này được quy định gần giống thủ tục tố tụng tại toà án (nên thường được gọi là “vụ kiện”) [2] Khi cơ quan hành chính ra quyết định cuối cùng về việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp chống trợ cấp, các bên không đồng ý với quyết định này có thể kiện cơ quan này ra Toà án có thẩm quyền của nước nhập khẩu hoặc khởi kiện tại cơ quan có thẩm quyền của WTO

Có quan niệm cho rằng: chống trợ cấp là một trong ba cột trụ phòng vệ thương mại, thông thường được sử dụng để “đối phó” với hành vi thương mại hoàn toàn bình thường (không có hành vi vi phạm pháp luật hay cạnh tranh không lành mạnh) nên về hình thức, việc áp dụng biện pháp tự vệ bị coi là đi ngược lại chính sách tự do hoá thương mại của WTO

Tuy vậy, đây là biện pháp được thừa nhận trong khuôn khổ WTO (với các điều kiện chặt chẽ để tránh lạm dụng) Lý do là trong hoàn cảnh buộc phải mở cửa thị trường và tự do hoá thương mại theo các cam kết WTO, các biện pháp tự

vệ là một hình thức “van an toàn” mà hầu hết các nước nhập khẩu là thành viên WTO đều mong muốn Với chiếc van này, nước nhập khẩu có thể ngăn chặn tạm thời luồng nhập khẩu để giúp ngành sản xuất nội địa của mình tránh những đổ vỡ trong một số trường hợp đặc biệt khó khăn

1.1.1.2 Phân loại trợ cấp hàng hóa nhập khẩu

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, người ta phân loại trợ cấp thành trợ cấp chung và trợ cấp riêng; trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu; trợ cấp trực tiếp

và trợ cấp gián tiếp; trợ cấp nông nghiệp và trợ cấp phi nông nghiệp

Theo quy định của SCM, chia trợ cấp thành 3 loại dựa trên mức độ ảnh hưởng đến thương mại của chúng: Trợ cấp bị cấm sử dụng, trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện, trợ cấp không bị khiếu kiện, với quy chế áp dụng khác nhau:

*/Trợ cấp bị cấm (Trợ cấp đèn đỏ) bao gồm:

o Trợ cấp xuất khẩu (trợ cấp căn cứ vào kết quả xuất khẩu, ví dụ thưởng xuất khẩu, trợ cấp nguyên liệu đầu vào để xuất khẩu, miễn thuế/giảm thuế cao hơn

Trang 12

mức mà sản phẩm tương tự bán trong nước được hưởng, ưu đãi bảo hiểm xuất khẩu, ưu đãi tín dụng xuất khẩu…); hoặc

o Trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa so với hàng nhập khẩu Đây là những hình thức trợ cấp mà hiện tất cả các thành viên WTO đều bị cấm

áp dụng

*/ Trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện (Trợ cấp đèn vàng)

bao gồm tất cả các loại trợ cấp có tính cá biệt (trừ các loại trợ cấp đèn xanh) Các nước thành viên có thể áp dụng các hình thức trợ cấp này nhưng nếu gây thiệt hại cho nước thành viên khác hoặc ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước thành viên khác thì có thể bị kiện ra WTO

*/ Trợ cấp không bị khiếu kiện (Trợ cấp đèn xanh) bao gồm:

o Trợ cấp không cá biệt: Tức là các loại trợ cấp không hướng tới một (một nhóm) doanh nghiệp/ngành/khu vực địa lý nào Tiêu chí để hưởng trợ cấp là khách quan; không cho cơ quan có thẩm quyền cấp khả năng tuỳ tiện xem xét và không tạo ra hệ quả ưu đãi riêng đối với bất kỳ đối tượng nào; hoặc

o Các trợ cấp sau (dù cá biệt hay không cá biệt):

- Trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu do các công ty, tổ chức nghiên cứu tiến hành (với một số điều kiện về loại trợ cấp và mức trợ cấp cụ thể);

- Trợ cấp cho các khu vực khó khăn (với các tiêu chí xác định cụ thể về mức thu nhập bình quân hoặc tỷ lệ thất nghiệp)

- Trợ cấp để hỗ trợ điều chỉnh các điều kiện sản xuất cho phù hợp với môi trường kinh doanh mới

Các nước thành viên có thể áp dụng các hình thức này mà không bị thành viên khác khiếu kiện (tức là loại trợ cấp được phép vô điều kiện)

1.1.2 Các biện pháp chống trợ cấp

Thông thường có hai biện pháp chống trợ cấp là:

Áp dụng thuế chống trợ cấp và thực hiện cam kết của tổ chức, cá nhân hoặc của Chính phủ nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất, xuất khẩu về biện pháp loại trừ trợ cấp

Trang 13

Thuế chống trợ cấp (còn gọi là thuế đối kháng) là khoản thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩu thông thường) đánh vào sản phẩm nước ngoài được trợ cấp vào nước nhập khẩu gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước

Biện pháp áp dụng thuế và thực hiện cam kết được pháp luật Việt Nam áp dụng tương thích với quy định của các nước trên thế giới và quy định của WTO Nhưng khái niệm về thuế chống trợ cấp của Việt Nam không giống với khái niệm về thuế chống trợ cấp của SCM, khái niệm về thuế chống trợ cấp theo pháp luật Việt Nam dễ bị hiểu nhầm là khoản thuế bổ sung thuế nhập khẩu

1.1.3 Điều kiện áp dụng biện pháp chống trợ cấp

Khi hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào nước nhập khẩu gây thiệt hại hoặc

đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước, Chính phủ nước nhập khẩu

có thể sử dụng biện pháp chống trợ cấp để bảo vệ ngành sản xuất trong nước Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp chống trợ cấp phải đáp ứng được 03 điều kiện sau đây:

Một là, có trợ cấp và mức trợ cấp cụ thể (“xác định trợ cấp”)

Hai là, ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa tương tự trong nước nhập khẩu

bị thiệt hại một cách đáng kể hoặc bị đe dọa gây thiệt hại một cách đáng kể (“xác định thiệt hại”)

Ba là, thiệt hại mà ngành sản xuất trong nước phải gánh chịu xảy ra hoặc bị

đe dọa xảy ra là do hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp gây ra (“xác định mối quan

hệ nhân quả”)

Như vậy là chỉ khi phát hiện có trợ cấp và thiệt hại xảy ra, hoặc đe dọa xảy ra Chính phủ nước nhập khẩu mới có thể áp dụng các biện pháp chống trợ cấp như đưa ra một cơ quan giải quyết tranh chấp quốc tế hoặc tiến hành điều tra đánh thuế chống trợ cấp với hàng nhập khẩu được trợ cấp

Trang 14

1.1.4 Tác động của chống trợ cấp đối với tự do hóa thương mại

Trong thương mại quốc tế nói chung và trong chính sách thương mại của các

nước nói riêng, vấn đề tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại luôn luôn đi liền với nhau Nghịch lý này được tất cả các nước chấp nhận như một thực tế khách quan, vì một mặt nước nào cũng muốn tự do hoá thương mại, nhưng mặt khác bất cứ nước nào cũng có nhu cầu phải bảo hộ một số ngành sản xuất trong nước của mình Tuy nhiên, mục tiêu bảo hộ của các nước lại khác nhau, tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế và những biện pháp bảo hộ thương mại trên thế giới ngày càng trở nên tinh vi hơn Do đó, chống trợ cấp có tác động hai mặt đối với tự do hóa thương mại

*/ Chống trợ cấp làm hạn chế tự do hóa thương mại

Chống trợ cấp thực chất là một biện pháp phi thuế quan nhằm bảo hộ ngành sản xuất trong nước

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập trên cơ sở kế thừa Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947) đánh dấu sự phát triển cực kỳ quan trọng của thương mại quốc tế hiện đại Sứ mệnh quan trọng nhất của WTO là đề ra các định chế, các quy định luật pháp nhằm điều chỉnh hệ thống thương mại đa phương và làm cho tiến trình tự do thương mại toàn cầu đi đúng hướng Với 16 hiệp định đa phương và 2 hiệp định nhiều bên (2 hiệp định nhiều bên đã hết hiệu lực) cùng với các văn bản pháp lý liên quan khác (các Quyết định, các Tuyên bố cấp Bộ trưởng, các Nghị định thư gia nhập, các Nghị định thư về dịch vụ, các sửa đổi bổ sung ) WTO đã điều tiết hầu hết các khía cạnh của thương mại quốc tế hiện đại

Tuy nhiên, trên thực tế, trình độ phát triển kinh tế của các nước chênh lệch nhau khá nhiều và sức ép đòi bảo hộ của các ngành sản xuất trong nước nên thông thường các nước trên thế giới đều cố gắng duy trì những biện pháp bảo hộ thương mại ở mức độ khác nhau Do đó, điều chớ trêu là rất nhiều biện pháp bảo

hộ thương mại lại được dựa trên ngay chính các định chế luật pháp của WTO

Trang 15

Biện pháp bảo hộ thương mại cổ điển nhất là thuế quan thì đã được WTO yêu cầu phải cắt giảm Các thành viên WTO đều phải cam kết không tăng thuế vượt mức đã cam kết đối với phần lớn các mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu Cam kết này được gọi là cam kết "ràng buộc thuế quan"

Chính sức ép phải giảm thuế đó đã khiến các nước lợi dụng chính những định chế luật pháp của WTO để đề ra các biện pháp bảo hộ thương mại tinh vi, hiện đại khác không phải là thuế, đó là các biện pháp phi thuế quan hay gần đây chúng ta hay gọi đó là các rào cản thương mại phi thuế quan, nếu các biện pháp

đó gây cản trở một cách bất hợp lý cho hoạt động thương mại quốc tế

Biện pháp phi thuế quan được hiểu là tất cả các biện pháp không phải là thuế quan, được qui định cụ thể trong hệ thống chính sách luật pháp hay phát sinh từ

thực tiễn quản l ý hoạt động thương mại, có ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu thì được gọi là các biện pháp phi thuế quan

Trong khuôn khổ WTO, trong một chừng mực nào đó, các biện pháp phi thuế quan có thể được phép áp dụng, nếu nó tuân theo những tiêu chí của WTO và không được gây cản trở hay bóp méo thương mại Đó được gọi là những biện pháp phi thuế quan phổ thông (NTM) Tuy nhiên, về mặt nguyên tắc, WTO yêu cầu phải chuẩn mực hoá lại các biện pháp phi thuế quan phổ thông theo các qui định chung của WTO hoặc các thông lệ quốc tế và khu vực khác và phải giảm thiểu, tiến tới loại bỏ các rào cản phi thuế quan (NTB) gây cản trở đối với thương mại

Khi một biện pháp phi thuế quan được áp dụng gây cản trở cho thương mại

mà không giải thích được theo bất kỳ một định chế hay nguyên tắc nào của WTO thì biện pháp đó được coi là một rào cản phi thuế quan gây cản trở hay bóp méo thương mại

Trên thực tế, một biện pháp phi thuế quan có thể được coi là hợp pháp trong giai đoạn này, nhưng lại bị coi là một rào cản phi thuế quan trong giai đoạn khác Hoặc nếu áp dụng một biện pháp phi thuế quan quá mức cần thiết hay quá thời

Trang 16

gian quy định của WTO thì biện pháp đó được coi là rào cản phi thuế quan */

Chống trợ cấp tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh hơn tạo điều kiện thúc đẩy tự do hóa thương mại

Trong hoạt động thương mại trợ cấp tạo ra lợi thế cạnh tranh không lành mạnh (bóp méo thương mại) – là rào cản của tự do hóa thương mại.Trợ cấp làm biến dạng nguyên tắc xác định giá cả của một loại hình hàng hóa, tức là trong trường hợp có trợ cấp, giá cả sẽ không được hạch toán theo các nguyên lý của kinh tế thị trường [15] Thông qua các khoản hỗ trợ tài chính, các chính phủ đã trực tiếp hoặc gián tiếp điều tiết “đồ thị” giá cả của một loại hình hàng hóa Vượt

ra khỏi biên giới của quốc gia, sự điều tiết này có thể sẽ ảnh hưởng đến quyền tự

do thương mại của quốc gia khác Theo cách tiếp cận của tổ chức thương mại thế giới mức độ ảnh hưởng đến tự do hóa thương mại của các loại hình trợ cấp có sự khác nhau tùy thuộc vào mức độ bóp méo thương mại Ở mức độ cao nhất thường là loại trợ cấp “đèn đỏ” đây là hình thức trợ cấp gây cản trở xu hướng tự

do hóa thương mại trong WTO nhiều nhất, các hình thức trợ cấp khác không có tác động hoặc có tác động nhưng không đáng kể

Các nước thành viên của WTO, mặc dù họ ủng hộ tự do hóa thương mại nhưng ngược lại họ vẫn bị cám dỗ bởi các biện pháp bảo hộ dưới hình thức trợ cấp Thực tiễn đã chứng minh rằng các biện pháp trợ cấp làm biến dạng sự phân

bổ nguồn lực kinh tế của các nước phát triển, là nguyên nhân chủ yếu đẩy lùi các sản phẩm nhập khẩu đến từ các nước đang phát triển ra khỏi thị trường nội địa thông qua cơ chế kìm giá Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, các nước phát triển đã phải áp dụng những biện pháp hỗ trợ tài chính, giữ giá nông sản trên thị trường nội địa nhằm tránh sự xâm nhập của làn song nông sản có lợi thế giá rẻ đến từ các nước đang phát triển do chi phí nguyên liệu và nhân công luôn ở mức thấp hơn nhiều và như vậy hệ quả là, mặc dù hàng rào thuế quan có thể giảm xuống khi các nước thực thi các cam kết trong khuôn khổ WTO, nhưng sự di chuyển tự do của các luồng hàng vẫn bị ảnh hưởng Theo một số tài liệu nghiên cứu cho thấy các hình thức trợ cấp trong nước làm sai lệch giá trị thực tế trên thị

Trang 17

trường nông sản thế giới ở mức 31% Hỗ trợ xuất khẩu làm sai lệch giá trị thực trên thị trường thế giới 13% [9] Điều này chứng tỏ tự do hóa thương mại khó có thể tạo dựng được một lối đi bền vững trong điều kiện các hình thức trợ cấp vẫn còn tồn tại làm sai lệch giá trị thực tế của hàng hóa trên thị trường thế giới Trợ cấp trong nước có thể dẫn đến kích thích sản xuất dư thừa hệ quả là giá sản phẩm có nguy cơ bị giảm nếu bán sản phẩm đó trong nước Vì vậy các quốc gia mong muốn tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường ra bên ngoài lãnh thổ nước mình Để bán được lượng hàng hóa dư thừa trong nước ra thị trường thế giới, nơi giá cả vốn thấp hơn thì cần phải có trợ cấp xuất khẩu Do đó, kết quả là các nước

có chính sách trợ cấp lại có thể sản xuất và xuất khẩu hàng hóa nhiều hơn mức bình thường Điều này khẳng định rằng tự do hóa thương mại đã không được vận hành theo đúng nghĩa của nó khi các nguyên lý cạnh tranh trong thương mại quốc tế đã không được tuân thủ

Trợ cấp đã tác động đến hai chiều của thương mại đó là xuất và nhập khẩu

Nó có thể mở rộng thị trường của một nước, đồng thời cũng có thể hạn chế việc tiếp cận thị trường của nước khác Cả hai tác động này đều có xu hướng đẩy lùi, làm chậm, thậm chí làm biến dạng tiến trình tự do hóa thương mại

Do đó, chống trợ cấp triệt tiêu lợi thế của hàng nhập khẩu được chính phủ nước xuất khẩu trợ cấp, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa hàng sản xuất nội địa và hàng nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy tự do hóa thương mại phát triển mạnh mẽ hơn

1.2 Pháp luật về chống trợ cấp

1.2.1 Pháp luật của WTO và của một số nước về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu

1.2.1.1 Cách tiếp cận của WTO về trợ cấp và chống trợ cấp

WTO tiếp cận về trợ cấp và chống trợ cấp theo các khía cạnh sau:

Thứ nhất, WTO dựa trên tiêu chí thiệt hại khi tiếp cận trợ cấp Theo đó là sự

thừa nhận thực tiễn trong nhiều trường hợp trợ cấp là công cụ cần thiết được chính phủ sử dụng để thực hiện chính sách chính đáng của mình Mặc dù vậy khi

Trang 18

được thực hiện, chúng có thể mâu thuẫn với những mong muốn rất chính đáng của chính phủ nước nhập khẩu Điều này cho thấy rằng có sự xung đột giữa các mục tiêu của chính sách cạnh tranh một mặt các chính phủ có lý do chính đáng khi thực hiện chính sách trợ cấp, mặt khác các nước nhập khẩu cũng có lý do chính đáng để lo ngại về việc nhập khẩu sản phẩm được trợ cấp vì những sản phẩm này có thể gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất của nước họ Như vậy làm thế nào để cân bằng được những lợi ích này? Theo quan điểm của WTO, điều quan trọng nhất là kiểm tra thiệt hại Đây là nguyên tắc trung gian giúp cho các chính phủ có thể hài hòa những lợi ích cạnh tranh hoàn toàn đối lập đó Vấn đề đặt ra là nếu hàng hóa được trợ cấp không gây ra thiệt hại cho lợi ích của nước nhập khẩu thì không cần phải áp dụng các biện pháp đối phó, biện pháp đối phó chỉ được đặt ra khi hàng hóa được trợ cấp gây thiệt hại cho lợi ích của nước nhập khẩu

Thứ hai, WTO tiếp cận vấn đề trợ cấp và chống trợ cấp dựa theo tiêu chí về

mức độ “bóp méo thương mại” Trong lĩnh vực TMHH, WTO sử dụng phương pháp tiếp cận “ hệ thống đèn giao thông” để xây dựng các quy định điều chỉnh việc sử dụng trợ cấp Đối với sản phẩm phi nông nghiệp, trợ cấp bị SCM cấm sử dụng trợ cấp “đèn đỏ”, trợ cấp “đèn đỏ” là trợ cấp bị coi là “bóp méo thương mại” nhiều nhất và gây tổn hại đến lợi ích của các thành viên khác Thông thường có hai dạng trợ cấp bị cấm: Trợ cấp căn cứ theo thành tích xuất khẩu( thưởng xuất khẩu, miễn các khoản thuế trực thu có liên quan tới hàng xuất khẩu, phí vận tải chuyên chở trong nước đối với hàng xuất khẩu rẻ hơn so với hàng sản xuất tiêu dùng nội địa,…) và trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay cho hàng nhập khẩu( còn được gọi là trợ cấp thay thế nhập khẩu) Theo SCM, trợ cấp

“đèn đỏ” có thể bị kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO mà không cần phải chứng minh tác động bất lợi của trợ cấp đối với thương mại hoặc bị nước khác áp dụng biện pháp đối kháng( tức là bị điều tra đánh thuế chống trợ cấp) Trợ cấp có thể dẫn tới hành động đối kháng( trợ cấp “đèn vàng”) là những trợ cấp mang tính riêng biệt tuy không bị cấm sử dngj song lại có thể bị kiện ra cơ

Trang 19

quan giải quyết tranh chấp của WTO với điều kiện phải chứng minh có sự tác động bất lợi của trợ cấp đối với thương mại hoặc bị nước khác áp dụng biện pháp đối kháng Trợ cấp không bị dẫn đến đối kháng( trợ cấp “đèn xanh”) là những trợ cấp chung, phổ biến và ba loại trợ cấp mang tính riêng biệt nhưng được miễn trừ

có điều kiện( đó là hỗ trợ nghiên cứu phát triển, hỗ trợ vùng khó khăn, hỗ trợ cải tiến trang thiết bị đang sử dụng để đáp ứng các quy định mới về môi trường) Đây là những dạng trợ cấp được coi là ít gây “bóp méo thương mại” nhất nên được cho phép sử dụng và không bị nước khác áp dụng biện pháp đối kháng để chống lại Tuy nhiên, loại này đến nay không còn được áp dụng(bỏ trợ cấp đèn xanh)

Thứ ba, cách tiếp cận vấn đề trợ cấp và chống trợ cấp của WTO dựa trên tiêu

chí về “tính riêng biệt” Theo điều 1 SCM yêu cầu khi chính phủ nước ngoài có hành động trợ cấp có tác động đến hoạt động xuất, nước nhập khẩu muốn đối phó lại bằng thuế đối kháng thì cần phải chứng minh được hành động trợ cấp đó phải có tính “riêng biệt”, nghĩa là không phải một biện pháp đem lại lợi ích chung cho mọi đối tượng tại nước xuất khẩu Về mặt kinh tế, nếu có một chương trình trợ cấp dành cho cả xã hội, người ta giả định rằng hành động trợ cấp đó không làm biến dạng quan hệ thương mại do đó nó không thể dẫn đến hành động đối kháng đơn phương của chính phủ nước nhập khẩu

Thứ tư, cách tiếp cận vấn đề trợ cấp và chống trợ cấp của WTO dựa trên sự

khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, thương mại giữa các nước Với cách tiếp cận này, WTO có một số ngoại lệ dành cho các nước chậm và đang phát triển, các nước chuyển đổi trong việc điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp vì thách thức đối với các nước này sau khi gia nhập WTO rất đáng

kể Để tạo điều kiện cho các nước thuộc nhóm này thực hiện chính sách kinh tế

có hiệu quả, tránh dẫn đến tình trạng “hội nhập thất bại”, nên WTO đã dành một

số ưu tiên trong chính sách trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp cho các nước chậm và đang phát triển

Trang 20

Qua những phân tích, đánh giá ở trên chúng ta có thể rút ra những nhận xét như sau:

Cách tiếp cận của WTO về trợ cấp và chống trợ cấp thể hiện quan điểm hài hòa hóa mối quan hệ tự do hóa thương mại và lợi ích của các quốc gia thành viên Cách tiếp cận của WTO về trợ cấp và chống trợ cấp thể hiện quan điểm WTO không hoàn toàn triệt tiêu trợ cấp mà hướng tới các quốc gia thành viên sử dụng trợ cấp ít “bóp méo thương mại” nhằm phân bổ hợp lý nguồn lực kinh tế, phục

vụ cho mục đích phát triển và đảm bảo công bằng xã hội Thực tiễn đàm phán trợ cấp trong khuôn khổ WTO cho thấy, cách tiếp cận vấn đề trợ cấp, chống trợ cấp của WTO bị chi phối bởi tương quan về vị thế kinh tế, chính trị giữa các quốc gia thành viên, chính sự khác biệt về trình độ phát triển, sự phân hóa lợi ích giữa các nước thành viên đặc biệt giữa hai nhóm các nước phát triển và các nước đang phát triển trong nhiều trường hợp đã ảnh hưởng đến cách tiếp cận vấn đề trợ cấp

và chống trợ cấp của WTO Các cuộc đàm phán về trợ cấp trong WTO thường đem lại kết quả có lợi cho các nước phát triển

1.2.1.2 Các Quy định của WTO về chống trợ cấp

Biện pháp chống trợ cấp là một biện pháp bảo hộ hợp pháp đối với hàng hóa sản xuất trong nước trước các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu có sự trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu Biện pháp này không được đề cập đến trong các cam kết song phương mà chỉ được quy định trong khuôn khổ WTO tại điều 16 GATT và SCM Theo quy định SCM, trừ trường hợp được quy định trong hiệp định nông nghiệp (đối với hàng nông sản), các khoản trợ cấp bị cấm bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thể hàng nhập khẩu Theo yêu cầu của hiệp định, các nước thành viên không được cấp hay duy trì những khoản trợ cấp này để gây tác động có hại đến quyền lợi của các thành viên khác Trong trường hợp phát hiện biện pháp trợ cấp nêu trên, WTO công nhận quyền của các thành viên áp dụng biện pháp chống trợ cấp Tuy nhiên, việc

áp dụng các biện pháp chống trợ cấp phải phù hợp với các nguyên tắc, các khái

Trang 21

niệm của WTO về xác định trợ cấp, trình tự thủ tục điều tra, tham vấn, hòa giải

và áp dụng thuế đối kháng để giải quyết tranh chấp

Trong SCM quy định biện pháp chống trợ cấp có thể được áp dụng thông qua các cơ chế sau:

Thứ nhất, thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương ( khiếu kiện ra

cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO) về hành vi trợ cấp của nước khác gây tổn hại tới quyền lợi xuất khẩu của nước mình hoặc gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa của nước mình

Thứ hai, thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp đơn phương, theo quy định

của WTO, việc áp dụng biện pháp chống trợ cấp theo cơ chế đơn phương thông qua điều tra để áp dụng thuế chống trợ cấp đối với hàng hóa nước ngoài được trợ cấp gây thiệt hại cho nước nhập khẩu

SCM quy định chỉ được phép áp dụng biện pháp đối kháng khi đã xác định được rằng hàng nhập khẩu được trợ cấp là nguyên nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu

Thuế chống trợ cấp được áp dụng theo nguyên tắc: Một là, mức thuế chống trợ cấp không được cao hơn giá trị trợ cấp tính theo đơn vị sản phẩm nhập khẩu được trợ cấp Hai là, thuế trợ cấp phải được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử với hàng nhập khẩu từ tất cả các nước bị xác định là có trợ cấp gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu

Thuế chống trợ cấp được áp dụng chừng nào nào còn cần thiết để đối phó với trợ cấp của nước ngoài gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước Tuy nhiên,

để ngăn chặn việc lạm dụng thuế chống trợ cấp, SCM quy định thời hạn áp dụng thuế chống trợ cấp là 5 năm kể từ ngày bắt đầu áp dụng Trong trường hợp muốn kéo dài thời hạn trên thì cơ quan điều tra bắt buộc phải tiến hành rà soát việc áp dụng thuế chống trợ cấp theo các thủ tục như điều tra mới trước khi thời hạn áp dụng 5 năm kết thúc Cơ quan điều tra có thể chủ động tiến hành rà soát hoặc tiến hành rà soát theo đề nghị của đại diện ngành sản xuất trong nước

Trang 22

Trong trường hợp khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp, nếu nước áp dụng trợ cấp không thực hiện khuyến nghị của ban hội thẩm thì nước khiếu kiện

có thể yêu cầu WTO cho phép biện pháp trả đũa Mặc dù nước nhập khẩu bị tổn hại có thể đồng thời khởi kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO và điều tra đánh thuế chống trợ cấp đối với hàng nhập khẩu được trợ cấp gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước nhưng cuối cùng chỉ được áp dụng hoặc thuế chống trợ cấp hặc biện pháp trả đũa được WTO cho phép chứ không được áp dụng đồng thời cả hai biện pháp này

1.2.1.3 Quy định của một số nước về chống trợ cấp

 Hoa kỳ

Pháp luật về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của Hoa Kỳ về cơ bản được xây dựng dựa trên các quy định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO (cụ thể là Hiệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng của WTO - SCM) Nét đặc trưng của pháp luật về chống trợ cấp của Hoa kỳ thể hiện ở chỗ:

Một là về thẩm quyền, cơ quan có thẩm quyền để tiến hành điều tra và áp

dụng các biện pháp chống trợ cấp là Bộ thương mại (DOC) chịu trách nhiệm điều tra trợ cấp và đưa ra quyết định áp dụng các biện pháp chống trợ cấp Ủy ban thương mại Quốc tế (ITC) chịu trách nhiệm điều tra thiệt hại, còn Bộ trưởng Thương mại ra quyết định áp thuế chống trợ cấp (tạm thời, cuối cùng và rà soát lại

Hai là về thời hạn điều tra, Pháp luật về chống trợ cấp của Hoa Kỳ đưa ra rất

nhiều loại thời hạn điều tra để áp dụng các biện pháp chống trợ cấp như là thời hạn khởi xướng để điều tra là 20 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện, thời hạn kết luận sơ bộ của ITC là 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện, thời hạn để ra kết luận sơ bộ của DOC là 85 ngày kể từ ngày khởi xướng điều tra (trong trường hợp được ra hạn thêm thì thời gian gia hạn là 150 ngày), thời hạn kết luận cuối

cùng của DOC là 160 ngày kể từ ngày khởi xướng điều tra (trong trường hợp

được gia hạn thêm thì thời gian gia là 225 ngày), thời hạn để ra kết luận cuối cùng của ITC là 205 ngày kể từ ngày khởi xướng điều tra (trong trường hợp

Trang 23

được gia hạn thì thời gian gia hạn là 270 ngày), thời hạn rà soát kết luận sơ bộ là

110 ngày kể từ ngày đăng thông báo tiến hành rà soát trên Công báo Liên bang, thời hạn ra Kết luận rà soát cuối cùng là 240 ngày kể từ ngày đăng thông báo tiến hành rà soát trên Công báo Liên bang

Ba là, áp dụng pháp luật về chống trợ cấp của Hoa kỳ có những điểm khác biệt thể hiện ở chỗ khi xem xét số phiếu tán thành/phản đối việc điều tra chống

trợ cấp của các nhà sản xuất trong nước thì vị thế của ban giám đốc và người công nhân là ngang nhau tức là nếu một công ty mà ban giám đốc ủng hộ việc điều tra chống trợ cấp trong khi công nhân lại phải đối thì công ty đó được coi như không ủng hộ cũng không phản đối điều tra Trong kết luận điều tra sơ bộ, các nhà sản xuất, xuất khẩu mà được xác định là có mức trợ cấp bằng 0 hoặc dưới mức tối thiểu vẫn không được lọa trừ ra khỏi cuộc điều tra Tuy nhiên, các nhà sản xuất, xuất khẩu này sẽ không phải chịu các biện pháp tạm thời Pháp luật

về trợ cấp của Hoa Kỳ khá chi tiết, phức tạp và được sửa đổi nhiều lần Do đó cần phải đọc tất cả các văn bản sửa đổi bổ sung để nắm được chính xác các quy định đó

Bốn là, vấn đề công bố thông tin, các thông tin liên quan đến vụ kiện (trừ

thông tin mật) được đăng trên Công báo Liên bang để các bên liên quan có thể tiếp cận được

Trung Quốc

Pháp luật về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của Trung Quốc về cơ bản được xây dựng dựa trên các quy định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO (cụ thể là HIệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng của WTO - SCM) Nét đặc trưng của pháp luật về chống trợ cấp của Trung Quốc thể hiện ở chỗ:

Một là về thẩm quyền, cơ quan có thẩm quyền để tiến hành điều tra và áp

dụng các biện pháp chống trợ cấp là Bộ Thương mại Trung Quốc chịu trách

nhiệm tiến hành điều tra và xác định hành vi trợ cấp, thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước và đề xuất các biện pháp áp dụng, Ủy ban Thuế quan Hội đồng

Trang 24

Nhà nước có quyền quyết định áp dụng các biện pháp đối kháng tạm thời/chính thức dựa trên kết quả điều tra và đề xuất của Bộ Thương mại, quyết định tiếp tục hay chấm dứt các biện pháp đối kháng dựa trên kết quả rà soát và đề xuất của Bộ Thương mại

Hai là về thời hạn điều tra, Pháp luật về chống trợ cấp của Trung Quốc đưa

ra 4 loại thời hạn điều tra cụ thể: Thời hạn quyết định khởi xướng điều tra là 60

ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện Trong trường hợp đặc biệt có thể gia hạn thêm (nhưng không nói rõ thời hạn gia hạn thêm)

Ba là về vấn đề công bố thông tin, Quyết định khởi xướng điều tra, áp dụng biện

pháp tạm thời/chính thức sẽ được Bộ Thương mại thông báo bằng văn bản cho các bên, các bên có thể tiếp cận các thông tin vụ kiện (trừ các thông tin mật)

 Nhật Bản

Pháp luật về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của Nhật Bản về cơ bản được xây dựng dựa trên các quy định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO (cụ thể là Hiệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng của WTO - SCM) Nét đặc trưng của pháp luật về chống trợ cấp của Nhật Bản thể hiện ở chỗ:

Một là về thẩm quyền, cơ quan có thẩm quyền để tiến hành điều tra và áp

dụng các biện pháp chống trợ cấp là Bộ tài chính

Hai là về thời hạn điều tra, Pháp luật về chống trợ cấp của Nhật Bản đưa ra

duy nhất một loại thời hạn điều tra để áp dụng các biện pháp chống trợ cấp đó là

1 năm kể từ ngày khởi xướng điều tra, trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn thêm 6 tháng

Ba là, áp dụng pháp luật về chống trợ cấp của Hoa kỳ có những điểm khác biệt thể hiện ở chỗ Công đoàn gồm các thành viên trực tiếp hoặc không trực tiếp

tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu bị điều tra và tổng số những thành viên này chiếm không ít hơn 25% tổng số lao động tham gia vào quá trình sản xuất trên được xem là bên liên quan Các tổ

Trang 25

chức đại diện cho người tiêu dùng chỉ được trình bày quan điểm của mình/cung cấp thông tin lên Bộ tài chính trong trường hợp các sản phẩm bị điều tra là các sản phẩm được bán lẻ rộng rãi trên thị trường

Bốn là, vấn đề công bố thông tin, các thông tin liên quan đến vụ kiện sẽ được

đăng Công báo để các bên có thể tiếp cận được

 Hàn Quốc

Pháp luật về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của Hàn Quốc về cơ bản được xây dựng dựa trên các quy định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO (cụ thể là HIệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng của WTO – SCM) Nét đặc trưng của pháp luật về chống trợ cấp của Hàn Quốc thể hiện ở chỗ:

Một là về thẩm quyền, cơ quan có thẩm quyền để tiến hành điều tra và áp

dụng các biện pháp chống trợ cấp là Ủy ban Thương mại (thuộc Bộ Tài chính và Kinh tế) tiến hành điều tra và đề xuất các biện pháp áp dụng, Bộ trưởng Tài chính và Kinh tế có quyền quyết định áp dụng các biện pháp đối kháng tạm thời/chính thức dựa trên đề xuất của Ủy ban Thương mại

Hai là về thời hạn điều tra, Pháp luật của Hàn Quốc quy định rất chi tiết và nhiều loại thời hạn điều tra như là thời hạn điều tra ban đầu là 2 tháng kể từ khi

nhận được đơn kiện, thời hạn báo cáo kết quả điều tra ban đầu của Ủy ban Thương mại là 3 tháng kể từ khi công bố quyết khởi xướng điều tra Thời hạn ra quyết định áp dụng biện pháp đối kháng tạm thời của Bộ trưởng Tài chính và Kinh tế là 1 tháng kể từ khi nhận được báo cáo kết quả điều tra ban đầu, có thể gia hạn nhưng không quá 20 ngày Thời hạn điều tra cuối cùng là 1 ngày sau khi nộp báo cáo kết quả điều tra ban đầu, thời hạn báo cáo kết quả điều tra cuối cùng

của Ủy ban Thương mại là 3 tháng kể từ ngày khởi xướng điều tra cuối cùng

Thời hạn tiến hành các biện pháp áp dụng thuế đối kháng là 1 năm kể từ ngày thông báo khởi xướng điều tra, trong trương hợp cần thiết có thể kéo dài đến 18 tháng Thời hạn yêu cầu rà soát là sau 1 năm áp dụng các biện pháp đối kháng và

Trang 26

trước 6 tháng trước khi các biện pháp này hết hiệu lực Thời hạn Quyết định tiến hành rà soát là 2 tháng kể từ khi nhận được yêu cầu rà soát Thời hạn ra Kết luận

rà soát của Ủy ban Thương mại là 6 tháng kể từ ngày khởi xướng rà soát, có thể gia hạn không quá 4 tháng Thời hạn Quyết đinh về các biện pháp thực hiện của

Bộ trưởng Tài chính và Kinh tế là 1 tháng sau khi nhận được kết quả rà soát, có thể gia hạn không quá 20 ngày

Ba là, áp dụng pháp luật về chống trợ cấp của Hoa kỳ có những điểm khác biệt thể hiện ở chỗ trong trường hợp đơn kiện bị rút lại trong giai đoạn điều tra

ban đầu hoặc cuối cùng và lý do rút lại đơn kiện được cho là không thỏa đáng,

Bộ trưởng Tài chính và Kinh tế hoặc Ủy ban Thương mại có thể hoãn quyết định chấm dứt điều tra hay không cho tới khi có kết luận điều tra ban đầu hoặc cuối cùng và tỉ lệ trợ cấp = Lượng trợ cấp/giá trị hải quan x 100%

Bốn là, vấn đề công bố thông tin, các thông tin liên quan đến vụ kiện sẽ được

Bộ trưởng Tài chính và Kinh tế đăng Công báo Các quyết định của cơ quan điều tra liên quan đến vụ kiện sẽ được thông báo cho các bên bằng văn bản Trong tiến trình điều tra, các bên liên quan có thể gửi yêu cầu bằng văn bản tới Bộ trưởng Tài chính và Kinh tế hoặc Ủy ban Thương mại để được cung cấp thông

tin chi tiết về cuộc điều tra trong thời điểm đó

1.2.2 Pháp luật chống trợ cấp của Việt Nam

Trang 27

Nghị định 04/2006/NĐ-CP về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ;

Nghị định 06/2006/NĐ-CP về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh;

Thông tư 106/2005/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và các khoản bảo đảm thanh toán thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp

1.2.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật chống trợ cấp của Việt Nam

Các quy định về chống trợ cấp ở Việt Nam tuân thủ các nguyên tắc và quy định của WTO về vấn đề này Nội dung của pháp luật chống trợ cấp bao gồm những vấn đề cơ bản sau:

Điều kiện điều tra và áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp;

Thủ tục, trình tự điều tra, cơ quan có thẩm quyền trong việc điều tra và quyết định áp dụng các biện pháp này;

Quy trình thực thi các biện pháp chống trợ cấp tại hải quan

Về cơ bản, hầu hết các quy định này dừng lại ở các quy định “khung”, điều chỉnh những vấn đề thuộc về nguyên tắc mà chưa đi sâu vào những vấn đề mang tính chất chi tiết, kỹ thuật liên quan

Cách quy định như vậy cho phép cơ quan thực thi có khoảng không gian nhất định để linh hoạt xử lý các trường hợp cụ thể Ngoài ra, khi chưa có kinh nghiệm thực tế, cách quy định như vậy tránh được tình trạng quy định duy ý chí, không hiện thực, không khả thi Tuy nhiên, cũng có những ý kiến cho rằng đối với một chế định có mối liên hệ mật thiết và tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế của các bên liên quan, các quy định khung, thiếu cụ thể có thể sẽ gây phản ứng nghịch, bất lợi cho cơ quan thực thi (xuất phát từ sự phản đối của các đối tượng chủ thể

áp dụng liên quan)

Trang 28

Chương 2 NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT CHỐNG TRỢ CẤP HÀNG HÓA

NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 2.1 Nhóm quy định nhằm xác định hành vi chống trợ cấp

2.1.1 Các dấu hiệu pháp lý của trợ cấp theo quy định của pháp luật Việt nam

Việc nhận diện hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình điều tra để áp dụng biện pháp chống trợ cấp Trong trường hợp, nếu không nhận diện được hoặc nhận diện không đúng hiện tượng trợ cấp, thì cơ quan có thẩm quyền sẽ không áp dụng được các biện pháp chống trợ cấp hoặc nếu có áp dụng thì không những không ngăn chặn được hành động trợ cấp mà ngược lại, gây ra thiệt hại cho quyền lợi người tiêu dùng và nhà tiêu thụ sử dụng hàng nhập khẩu làm nguyên liệu cho sản xuất Ngoài ra, nó còn có thể làm cho quan hệ thương mại với quốc gia hoặc vùng lãnh thổ có hàng hóa được xác định có trợ cấp trở nên căng thẳng Hơn nữa, áp dụng biện pháp chống trợ cấp còn có thể làm ảnh hưởng trực tiếp đến thị phần của nhà sản xuất của họ

ở Việt Nam và điều này có thể dẫn tới sự khiếu nại từ phía chính phủ nước xuất khẩu và khi tham vấn liên chính phủ không thành công, có thể dẫn đến bị trả đũa

Do vậy, việc xác định được chính xác hành động chống trợ cấp đòi hỏi phải hết sức thận trọng, khách quan và phải biết vận dụng linh hoạt và áp dụng đúng các quy định của pháp luật liên quan

Pháp luật về chống trợ cấp của Việt Nam không quy định chi tiết thế nào là hành động trợ cấp cũng như phương pháp xác định trợ cấp để phù hợp với thông

lệ chung, tiêu chí xác định hành động trợ cấp Theo quy định của pháp luật Việt Nam phần lớn mang tính định tính, điều này xuất phát từ hiệu ứng đa chiều của việc áp dụng biện pháp chống trợ cấp mang lại

Theo điều 2, pháp lệnh về chống trợ cấp 2004 đưa ra khái niệm về trợ cấp và cũng là tiêu chí để xác định có sự tồn tại của trợ cấp Theo đó, trợ cấp được xác

Trang 29

định là “sự hỗ trợ về tài chính của chính phủ hoặc cơ quan của chính phủ dành cho tổ chức, cá nhân khi sản xuất, xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam và đem lại lợi ích cho tổ chức, cá nhân đó” ở khái niệm này ta thấy đây là khái niệm mang tính định tính, để xác định được hành động hỗ trợ tài chính mang lại lợi ích cho chủ thể nhận được hỗ trợ tài chính đó là không dễ dàng Bởi vì, bất kỳ hành động hay một chính sách thương mại được ban hành bởi chính phủ suy cho cùng cũng

vì lợi ích của các cá nhân và lợi ích của các doanh nghiệp là đối tượng hướng đến chính sách và lợi ích chung của cả nền kinh tế Để xác định được trong trường hợp nào là trợ cấp và trường hợp nào không có, nếu căn cứ theo quy định này thì sẽ rất khó xác định và sẽ phụ thuộc rất lớn vào sự cân nhắc lợi ích của cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp chống trợ cấp Nếu áp dụng biện pháp chống trợ cấp có lợi thì việc giải thích sự tồn tại trợ cấp theo tiêu chí của luật đưa ra không phải quá khó Ngược lại nếu giải thích theo hướng không có trợ cấp khi hàng hóa giá rẻ vào Việt Nam có lợi cho người tiêu dùng thì cũng không quá khó Nhưng sự vận dụng linh hoạt luôn luôn tiềm

ẩn nguy cơ áp dụng tùy tiện, bừa bãi một khi áp dụng có trợ cấp hay không phụ thuộc rất nhiều vào những người có thẩm quyền xem xét

Khi áp dụng biện pháp chống trợ cấp cho một vụ kiện thông thường phải theo nguyên tắc, trình tự khá phức tạp của WTO, trong trường hợp áp dụng sai sẽ

bị kiện ngược lại Chính vì vậy, để làm rõ cho khái niệm về trợ cấp tại điều 2, điều 3 của pháp lệnh về chống trợ cấp 2004 quy định khá rõ về các hình thức trợ cấp, có thể xem đây là một sự giải thích bổ sung cho thuật ngữ “hỗ trợ tài chính” được nêu trong khái niệm tại điều 2 Theo đó có thể hiểu, sự hỗ trợ tài chính có thể hiểu là việc chính phủ trực tiếp đứng ra thực hiện một hoặc một số hoạt động như: Chuyển tiền/ vốn trực tiếp( cấp phát, cho vay, tham gia góp vốn); chuyển tiền/ vốn gián tiếp( bảo lãnh vay; miễn hoặc không thu các khoản phí, thuế đáng

lẽ phải thu; cung cấp hàng hóa dịch vụ không phải cơ sở hạ tầng chung; mua hàng hóa, dịch vụ vào với giá cao hơn và bán ra cho cá nhân, tổ chức với giá thấp hơn giá thị trường Như vậy, hình thức trợ cấp được hiểu ở phạm vi rộng,

Trang 30

không chỉ thể hiện dưới dạng tiền hoặc vốn mà còn thể hiện dưới hình thức hiện vật Tại điều 3của pháp lệnh về chống trợ cấp 2004 cũng đã thể hiện sự linh hoạt của các nhà lập pháp Việt Nam khi quy định trợ cấp có thể được xác định một cách hợp lý và công bằng theo thông lệ quốc tế trong trường hợp nó không thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý được định danh theo quy định của pháp luật Việt Nam Đây chính là sự dự liệu của các nhà lập pháp Việt Nam nhằm hỗ trợ cho việc xác định hình thức trợ cấp mới phát sinh mà pháp luật chưa đề cập đến Đồng thời nó cũng mở ra cơ hội áp dụng pháp luật, tập quán và tiền lệ pháp liên quan đến các

vụ kiện chống trợ cấp trong thương mại quốc tế cho các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam khi áp dụng trợ cấp

Một điểm khác biệt lớn của pháp luật chống trợ cấp của Việt Nam so với pháp luật WTO là không phân các hình thức trợ cấp theo cấp độ “bóp méo thương mại” Các hình thức trợ cấp được quy định tại điều 3 Pháp lệnh 2004 thực chất là các dấu hiệu pháp lý dùng để nhận diện sự hỗ trợ tài chính của chính phủ nước xuất khẩu Như vậy, trong trường hợp có một trong các dấu hiệu pháp

lý này đều có thể được coi là trợ cấp và có thể dẫn đến hành động đối kháng từ chính phủ Việt Nam không tùy thuộc đó là loại hình trợ cấp nào như “đèn xanh”,

“đèn vàng”, “ đèn đỏ” theo cách tiếp cận của WTO

Trong khái niệm trợ cấp và các hình thức trợ cấp theo pháp lệnh chống trợ cấp 2004, cũng không nêu rõ liệu có trợ cấp gián tiếp hay không Điều này khiến nhiều người băn khoăn vì loại trợ cấp gián tiếp thường được sử dụng và chiếm tỷ

lệ cao trong tổng trợ cấp của các nước

Theo quy định của pháp lệnh về chống trợ cấp 2004, hỗ trợ tài chính phải do chính phủ hoặc cơ quan thuộc chính phủ thực hiện mới được coi là trợ cấp Coi chính phủ là chủ thể trợ cấp, điều này phù hợp với các quy định với luật pháp quốc tế Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam cơ quan của chính phủ chỉ bao gồm bộ và cơ quan ngang bộ, không bao gồm chính quyền địa phương Như vậy, đối tượng trợ cấp không bao gồm chính quyền địa phương, quy định như thế có thể bỏ qua những trường hợp hàng nhập khẩu được trợ cấp gây thiệt

Trang 31

hại cho ngành sản xuất trong nước do chính quyền địa phương thực hiện Theo quy định của SCM, thì chỉ cần xác định đó là khoản trợ giúp được tiến hành bởi chính phủ hoặc bất kỳ một cơ quan công cộng nào trên lãnh thổ của nước thành viên là đã thỏa mãn dấu hiệu chủ thể trợ cấp rồi Như vậy, phạm vi điều tra chống trợ cấp theo pháp lệnh 2004 xét về mặt chủ thể, có phần hẹp hơn so với quy định của SCM

2.1.2 Xác định trợ cấp

Xác định trợ cấp thực chất là hành động tính toán mức lợi ích mà chủ thể nhận trợ cấp được hưởng Hoạt động này đòi hỏi kỹ thuật nghiệp vụ rất cao vì nó

là một quy trình phức tạp và kết quả của việc xác định này dẫn đến nhiều quyết định quan trọng Vì vậy, SCM đã yêu cầu sự minh bạch trong việc quy định các phương pháp tính toán trợ cấp, các phương pháp tính toán này phải được quy định trong luật quốc gia hoặc phải được nêu trong văn bản hướng dẫn thi hành của thành viên liên quan và việc đó phải phù hợp với hướng dẫn tại điều 14, SCM Hơn nữa, việc vận dụng vào mỗi trường hợp cụ thể SCM cũng đòi hỏi phải minh bạch và được giải thích thỏa đáng

Theo các quy định của SCM, điều 14, pháp lệnh về chống trợ cấp 2004 đã đưa ra những chỉ dẫn pháp lý xác định trợ cấp Theo đó công việc này bao gồm các hoạt động:

Thứ nhất, xác định hàng hóa được trợ cấp nhập vào Việt Nam;

Thứ hai, xác định trợ cấp có tính riêng biệt;

Thứ ba, xác định mức độ trợ cấp mà hàng hóa đó được hưởng và tính toán

tổng giá trị trợ cấp theo các phương thức luật định, cụ thể như sau:

Trường hợp trợ cấp là một khoản cấp không hoàn lại thì giá trị trợ cấp được tính trên cơ sở giá trị trợ cấp thực tế cấp cho tổ chức, cá nhân đó;

Trường hợp trợ cấp được cấp dưới hình thức một khoản vay thì giá trị trợ cấp được tính trên cơ sở chênh lệch giữa mức lãi suất phải trả cho khoản vay đó theo

Trang 32

điều kiện thương mại bình thường và mức lãi suất mà tổ chức, cá nhân thực tế phải trả cho khoản vay đó;

Trường hợp trợ cấp được cấp dưới hình thức bảo lãnh vay thì giá trị trợ cấp được xác định trên cơ sở phần chênh lệch giữa mức lãi suất phải trả trong trường hợp không được bảo lãnh và mức lãi suất thực tế phải trả khi được bảo lãnh; Trường hợp trợ cấp được cấp dưới hình thức chuyển giao cổ phần thì giá trị trợ cấp được xác định trên cơ sở lượng vốn thực tế mà doanh nghiệp được nhận; Trường hợp trợ cấp được cấp dưới hình thức Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ mua hàng hóa, dịch vụ vào với giá cao hơn giá thị trường và bán ra với giá thấp hơn hoặc bằng giá thị trường cho tổ chức, cá nhân thì giá trị trợ cấp được xác định trên cơ sở phần chênh lệch giữa giá thị trường với giá thực tế mà Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ phải trả cho hàng hóa, dịch vụ đó hoặc phần chênh lệch giữa giá mua vào với giá bán ra của Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ cho tổ chức, cá nhân;

Giá trị trợ cấp được cấp dưới hình thức khác sẽ được tính một cách công bằng, hợp lý và không trái với thông lệ quốc tế

Từ những quy định trên chúng ta có thể rút ra những nhận xét sau đây:

Một là, muốn xác định được trợ cấp thì phải nhận diện được thế nào là hàng

hóa và xuất xứ của hàng hóa Đến nay, chưa có một định nghĩa pháp lý về hàng hóa được các nước trên thế giới thừa nhận Để xác định thế nào là hàng hóa thì các nước phải dựa vào công ước HS Bất kỳ sản phẩm nào được liệt kê, được mô

tả và được mã hóa trong danh mục HS của công ước này thì sản phẩm đó được thừa nhận là hàng hóa trong giao dịch quốc tế Công ước này có hiệu lực đối với Việt Nam từ năm 2000, pháp lệnh về chống trợ cấp năm 2004 không quy định về cách thức xác định hàng hóa nhưng theo thông lệ chung và tinh thần nghị định số 19/2006/NĐ-CP quy định chi tiết về hàng hóa và xuất xứ thì hàng hóa được hiểu

là nguyên liệu hoặc sản phẩm được kê khai trong biểu thuế xuất nhập khẩu Về xuất xứ hàng hóa, đối với hàng hóa được trợ cấp qua nước thứ ba rồi mới nhập

Trang 33

khẩu vào Việt Nam thì xác định xuất xứ hàng hóa và xác định trợ cấp như thế nào, vấn đề này trong pháp lệnh về chống trợ cấp 2004 và các văn bản hướng dẫn chưa quy định rõ

Hai là, Một số nội dung chưa được làm rõ nội hàm ví dụ như: Điều kiện

thương mại bình thường là gì? Để xác định và tính toán trợ cấp, hay giá thị trường là gì?, và giá thực tế? để tính toán phần chênh lệch được cho là trợ cấp Nếu những vấn đề này không được quy định rõ thì rất khó áp dụng trên thực tế

để tiến hành điều tra áp dụng biện pháp chống trợ cấp

Ba là, rất khó xác định mức độ đảm bảo nguyên tắc minh bạch trong các quy

định mang tính dự phòng tại khoản 3, điều 14 pháp lệnh về chống trợ cấp 2004

so với yêu cầu của SCM

Bốn là, Khác với SCM khi đề cập đến tính riêng biệt của trợ cấp, ngoài tính

pháp lý ra một yếu tố được SCM quan tâm đó là tính thực tế Theo đó một chính sách trợ cấp về mặt hình thức dành cho tất cả mọi người trong xã hội, nhưng trên thực tế chỉ một số ít các doanh nghiệp tận dụng được lợi ích từ chính sách này thì tính riêng biệt vẫn được thỏa mãn Theo giải thích tại khoản 8 điều 2, pháp lệnh chống trợ cấp 2004 yếu tố thực tế của trợ cấp không được bàn đến Theo đó, được coi là trợ cấp có tính riêng biệt khi trợ cấp chỉ áp dụng riêng cho tổ chức, cá nhân hoặc ngành nhất định hoặc trợ cấp chỉ dành cho tổ chức, cá nhân hoặc ngành sản xuất trong khu vực địa lý nhất định

2.2 Nhóm quy định về việc điều tra hành vi trợ cấp

2.2.1 Căn cứ tiến hành điều tra để áp dụng biện pháp chống trợ cấp

Việc điều tra để áp dụng các biện pháp chống trợ cấp dựa trên các căn cứ sau:

Thứ nhất, khi có hồ sơ yêu cầu áp dụng các biện pháp chống trợ cấp của tổ

chức, cá nhân đại diện cho ngành sản xuất trong nước Phần lớn các trường hợp

cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu không đương nhiên khởi xướng vụ kiện chống trợ cấp mà quyền chủ động này được trao cho ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu có quyền lợi mật thiết liên quan đến vụ kiện do chịu ảnh hưởng

Trang 34

trực tiếp từ hành động trợ cấp của nước xuất khẩu Bởi vì mục đích của việc điều tra chống trợ cấp suy cho cùng là nhằm bảo hộ ngành sản xuất trong nước trước thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại bắt nguồn từ nguyên nhân trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu Do đó, chủ thể yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp không ai hợp lý hơn là ngành sản xuất hàng hóa tương tự bị thiệt hại của nước nhập khẩu Tại điều 8, Pháp lệnh về chống trợ cấp 2004 quy định “ Việc điều tra

để áp dụng các biện pháp chống trợ cấp được thực hiện khi có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp của tổ chức, cá nhân đại diện cho ngành sản xuất trong nước”

Để được coi là ngành sản xuất trong nước, các nhà sản xuất hoặc đại diện của

họ phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu pháp lý sau đây:

Một là, phải có khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa sản xuất chiếm tỷ

lệ từ 50% trở lên trong tổng khối lượng, số lượng hoặc giá trị hàng hóa tương tự được sản xuất trong trong nước

Hai là, các nhà sản xuất này không nhập khẩu và không có mối quan hệ liên

kết trực tiếp với tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp Để được coi là không có mối liên hệ trực tiếp với tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu khi không thuộc một trong các trường hợp sau đây: Bên này trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát bên kia; tất cả đều trực tiếp hoặc gián tiếp bị kiểm soát bởi bên thứ ba; cùng trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát bên thứ ba Kiểm soát được hiểu là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của một bên khác nhằm thu được lợi ích kinh

tế từ hoạt động kinh doanh của bên khác đó Cách định nghĩa chưa rõ ràng này,

do đó cho phép cơ quan có thẩm quyền có thể xác định mối liên kết kinh tế một cách mềm dẻo và linh hoạt tùy từng vụ kiện chống trợ cấp

Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp được coi là đại diện của ngành sản xuất trong nước nếu đáp ứng đồng thời hai điều kiện: Một là khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa do họ sản xuất hoặc đại diện chiếm ít nhất 25% tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự

Ngày đăng: 29/03/2018, 15:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm